MỘT TRẢI NGHIỆM ĐÁNG AO ƯỚC-Lm Minh Anh, Tgp Huế

MỘT TRẢI NGHIỆM ĐÁNG AO ƯỚC

“Các bà vội ra khỏi mồ, vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng”.

Cha William thăm một cô gái sắp mổ mắt. Nỗi sợ phải mù loà ám ảnh cô! Quay về phía cha xứ, cô nói, “Ôi, Chúa đang lấy đi thị giác của con!”. Cha William nghiêng mình thì thầm, “Đừng để Ngài lấy nó! Con hãy dâng nó cho Ngài!”. Khuôn mặt cô gái rạng rỡ, “Con ước ao được như vậy!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Nỗi sợ hãi xen chút vui mừng, dẫu ít ỏi, nơi cô gái trẻ đưa chúng ta về câu chuyện Tin Mừng hôm nay. Hai phụ nữ ra khỏi mồ Chúa Giêsu, “vừa sợ” lại vừa “hớn hở vui mừng”. Thật thú vị, hai trạng thái tâm lý đan xen! Làm sao một người “vừa sợ” lại vừa “hớn hở vui mừng?”. Không phải sợ hãi xói mòn niềm vui sao? Không phải niềm vui chẳng triệt tiêu được sợ hãi sao? Đặt mình vào tâm trạng của hai cô vốn đã có ‘một trải nghiệm đáng ao ước’, chúng ta sẽ có câu trả lời!

Làm sao có thể không sợ khi một thi hài nát bươm của một người đã chết nay hiện ra sừng sững trước mặt họ? Làm sao có thể không sợ khi một ‘thây ma’ trong mồ nay lên tiếng chào họ? Ấy thế, nỗi sợ tự nhiên đã được thế chỗ bởi niềm vui của ân sủng! “Chào các bà!” tiếng Latin là “Exsultet”, có nghĩa là “Mừng vui lên!”. Đây cũng là lời Gabriel nói với Đức Mẹ trong ngày truyền tin, “Mừng vui lên, đấng đầy ân sủng!”. Giờ đây, không phải là lời của sứ thần nhưng là lời của ‘Chúa các sứ thần’. “Mừng vui lên!”, lời Đấng Phục Sinh nói cho cả nhân loại biết rằng, nó đang được đầy ân sủng!

Đây không phải là một nỗi sợ thông thường; đúng hơn, một nỗi sợ đầy tôn kính, kinh ngạc và choáng ngợp. Họ kinh ngạc tột độ, một kinh ngạc gây sốc thánh thiện; và cùng lúc, ngập tràn niềm vui. Bỗng nhiên, một sự hiểu biết chợt đến khiến họ đầy ắp hy vọng rằng, Thầy đã sống lại, ra khỏi mồ! ‘Trải nghiệm đáng ao ước’ này cho phép họ tin chắc một điều gì đó rất phi thường vừa mới xảy ra.

Đây còn là ‘một trải nghiệm đáng ao ước’ nơi bạn và tôi! Ngày Phục Sinh, ‘ngày Chúa biến đổi tôi’, ‘ngày Chúa đã làm ra’, ngày mà tôi sẽ hoan hỷ mừng kính trong tám ngày liên tiếp và cao điểm là Chúa Nhật Lòng Thương Xót Chúa. Vì thế, trong tám ngày tiếp theo, chúng ta sẽ cố gắng ‘cùng trải nghiệm một kinh nghiệm’ mà các phụ nữ thánh thiện ấy đã trải qua. Rằng, Chúa Giêsu không còn trong mộ và tôi cũng đã ‘ra khỏi mộ’ với Ngài. Hãy chìm sâu vào mầu nhiệm Phục Sinh; học biết nó đúng như ý nghĩa tràn đầy của nó! Chúa Phục Sinh đã tiêu diệt hậu quả của tội lỗi; Ngài huỷ diệt cái chết, sự ác; đồng thời, đang huỷ diệt tội lỗi của tôi, ban cho tôi sự sống mới trong sức mạnh Phục Sinh của Ngài. ‘Tác động Phục Sinh’ mời gọi tôi tham gia vào sự sống mới mẻ ‘hôm nay và lúc này’. Đó là ‘một trải nghiệm đáng ao ước’ sinh ích nhất, cấp bách nhất. Không thể tuyệt vời hơn!

Anh Chị em,

“Họ vừa sợ lại vừa hớn hở vui mừng”. Chúa Phục Sinh ước ao bạn và tôi có được trải nghiệm ấy mỗi ngày trong Lời Chúa, trong Thánh Thể, trong những con người, trong các biến cố lớn nhỏ. Ngài ‘đón đường’ từng người chúng ta, nói với chúng ta, “Mừng vui lên!” vì cả vũ trụ này đang được đổi mới; và nhất là, ‘Con đang được đổi mới!’. Nhưng hãy cam kết một điều, như các cô, bạn và tôi phải ra khỏi nhà, ‘ra khỏi mồ’, ra khỏi những gì thuộc tầm thấp, ra khỏi những ước muốn thế tục; nhờ đó, có thể nhận ra ‘Đấng đón đường’ đầy yêu thương, quyền năng. Được như thế, chúng ta mới thật sự có được ‘một trải nghiệm đáng ao ước’ mà Đấng Phục Sinh mang lại, cũng là Đấng sai đi.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết dìm mình sâu hơn trong mầu nhiệm Phục Sinh vào những ngày hôm nay; nhờ đó, con có được ‘một trải nghiệm đáng ao ước’; con được biến đổi và được sai đi!”, Amen.

Lm Minh Anh, Tgp Huế

Chúa Giêsu có chết thật không? Hay Người chỉ “làm bộ chết” để còn sống lại?-Cha Vương

Alleluia! Chúc bạn ngày thứ 2 tuần Bát Nhật Phục Sinh thật mạnh mẽ trong đức tin nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 10/04/2023

GIÁO LÝ: Chúa Giêsu có chết thật không? Hay Người chỉ “làm bộ chết” để còn sống lại? Chúa Giêsu thực sự đã chết trên Thánh giá. Xác Người đã được chôn táng. Tất cả các tài liệu gốc viết về Người đều chứng minh điều này. (YouCat, số 103)

SUY NIỆM: Theo Gioan 19,33, quân lính nhận thấy rõ ràng Chúa Giêsu đã chết. Một lưỡi đòng đâm thủng cạnh sườn Chúa và họ thấy nước cùng máu chảy ra. Cần phải nói thêm là người ta đã đánh dập ống chân của hai người khác bị đóng đinh, đây là biện pháp để làm cho họ chết mau hơn – nhưng điều này không cần thiết đối với Chúa Giêsu vì Người đã chết. (YouCat, số 103 t.t.)

❦ Tấm khăn liệm xác Chúa, được giữ tại Turin là một tấm khăn vải lanh ở thế kỷ I. Năm 1898 tấm khăn được chụp hình lần đầu bởi một người ở Turin. Nhìn âm bản của phim, người ta thấy in trên vải sợi lanh một hình ảnh bí nhiệm của một người bị tử hình thời cổ.

LẮNG NGHE: Trước hết, tôi đã truyền lại cho anh em điều mà chính tôi đã lãnh nhận, đó là: Đức Ki-tô đã chết vì tội lỗi chúng ta, đúng như lời Kinh Thánh, rồi Người đã được mai táng, và ngày thứ ba đã trỗi dậy, đúng như lời Kinh Thánh. (1 Cr 15:3-4)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa đã đánh bại thần chết để khai đường mở lối cho con vào cuộc sống muôn đời, xin giúp con biết từ bỏ những quyến rũ gian tà của Satan để sống một cuộc đời tràn ngập ánh sáng Đấng Phục Sinh.

THỰC HÀNH: Đọc 3 Kinh Kính Mừng và một Kinh Vực Sâu cầu nguyện cho linh hồn ông bà nội ngoại và những người thân thương của bạn hôm nay nhé, xin cho họ được nghỉ ngơi muôn đời trong Chúa Phục Sinh.

Liên Khúc Thánh Ca Phục Sinh-Khải Hoàn Ca, Hoan ca Phục Sinh-Kiều Oanh Nguyễn

From: Đỗ Dzũng

Có bao giờ bạn cảm thấy trống vắng trong lòng chưa?-Cha Vương

Mừng Lễ Phục Sinh đến bạn và gia đình nhé! Chúc bạn mùa Phục Sinh tràn đầy niềm tin, tình yêu và niềm hy vọng trong cuộc khải hoàn của Chúa Kitô. Alleluia!!!

Cha Vương

CN: 09/04/2023

TIN MỪNG: Chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại. Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Người là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết. (Cv 10:41a-42)

SUY NIỆM: Có bao giờ bạn cảm thấy trống vắng trong lòng chưa? Trên thực tế, sự trống vắng bên trong tâm hồn cho thấy bạn đang thiếu một thứ gì đó, nhưng thứ đó thì không nằm ở bên ngoài bản thân bạn.

Có nhiều người dành rất nhiều thời gian để đi du lịch, hết nơi này đến chỗ nọ, họ thích ăn ngon, mặc đẹp, rượu, bia, ma túy, sex, cờ bạc, hoặc dùng các phương tiện giải trí điện tử…  nhưng họ vẫn cảm thấy trống rỗng trong lòng bởi vì họ đã quên đi một điều là chỉ có những giá trị thiêng liêng cao cả mới có thể lấp đầy những khát khao của lòng người mà thôi.

Chính vì vậy thánh Augustine đã có một lần thốt lên trong lời tự thú, ngài nói: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, nên tâm hồn con mãi khắc khoải băn khoăn, cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa”.

Biến cố Phục Sinh cũng để lại trong lòng các môn đệ một sự trống vắng. Tại sao vậy? Nói chung, bởi vì phản ứng của các Tông đồ và các môn đệ của Chúa Giêsu là không tin, không hiểu và vì thế không mấy quan tâm và để ý đến các lời loan báo trước đó. Có lần Chúa đã nhắc khéo các môn đệ rằng: “Thật, tôi bảo thật các ông, các ông đi tìm tôi không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. (Ga 6:26) Nhưng, một khi họ đã nhớ lại được và hiểu được những lời loan báo trước đó, cùng với sự “gặp gỡ được chính Đức Giêsu Phục sinh”, niềm tin, tình yêu và niềm hy vọng sẽ tràn ngập cõi lòng họ, và có khả năng thay đổi hoàn toàn con người của họ: đó chính là Thần Khí Tình Yêu của Đức Giêsu-Kitô Phục sinh đang hiện diện trong con người của họ…

Hành trình đức tin của bạn không thể dừng lại ở ngôi mộ trống được, như các môn đệ, bạn gặp được chính Đức Giêsu Phục sinh trong Bí tích Thánh Thể, không những bạn gặp và còn hơn thế nữa bạn  được rước Chúa vào lòng; vậy tâm hồn bạn có thay đổi hay không? Vậy trong những ngày đại hồng phúc của mùa Phục Sinh này, ước mong bạn đừng tìm những mảnh vụn hạnh phúc trên thế gian này, nhưng hãy tìm đến nguồn mạch hạnh phúc thật đó là Chính Chúa Phục Sinh đang hiện diện và đồng hành với bạn trong mọi biến cố của cuộc đời này.

LẮNG NGHE: Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới. (Cl 3:2)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su, xin lấp đầy tim con bằng hơi ấm của ngọn lửa Phục Sinh để con hiểu, sống và truyền đi sứ điệp: Chúa Giêsu Kitô đã sống lại. Ngài đã chiến thắng sự chết. Sự sống lại của Ngài xóa tan bóng tối sự dữ tội lỗi. Ánh sáng mạnh hơn bóng tối.

THỰC HÀNH: Hôm nay, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào bạn hãy hát Alleluia đi! Alleluia có nghĩa là “hãy ngợi khen Chúa”.

From: Đỗ Dzũng

Hồng Phúc Phục Sinh – Nguyễn Hồng Ân-St: Phạm Đức Huyến

TIN MỪNG TỪ NGHĨA ĐỊA

Tác giả: J. Braaten, www.sermons.faithlife.com

Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung

Lễ Phục Sinh chính là thời điểm tốt lành để vỗ tay nồng nhiệt trong nhà thờ. Đó là một ngày để các Kitô hữu vui vẻ ăn mừng chiến thắng của Chúa Kitô trước cái chết. Rõ ràng tâm trạng chủ đạo trong buổi lễ của chúng ta sáng nay là niềm vui. Đó là một ngày để ban nhạc nổ ra, vỗ tay và hát vang lên: “Hallelujah! Hallelujah!”

Nhưng nếu bạn từng đọc các trình thuật Tin Mừng về sự phục sinh, bạn sẽ khám phá ra một điều khác thường; 

Phản ứng đầu tiên của những người đàn ông và phụ nữ đến mộ Chúa Giêsu không phải là vui mừng – mà là hoang mang và sợ  hãi! Tác động tức thời của sự sống lại đối với những người theo Chúa Giêsu là sự hoang mang và lo sợ. Maria Mađalêna đã bị chấn động và các môn đệ rõ ràng là rất bối rối. Rốt cuộc, họ đã đi ra khỏi ngôi mộ đó và tự nhốt mình trong một căn phòng bí mật.

Trong bất cứ những gì mà những người theo Chúa Giêsu có thể hình dung ra được sau cuộc đóng đinh, và trong bất cứ những gì mà họ có thể mong đợi, họ đều không nghĩ đến sự sống lại. Việc phát hiện ra ngôi mộ trống khiến họ bối rối, do dự và sợ hãi.

Nếu chúng ta muốn hiểu sức mạnh ẩn chứa trong chính tâm điểm của Lễ Phục Sinh, chúng ta cần phải chấp nhận phản ứng lạ lùng của các môn đệ là hoang mang và sợ hãi. Điều đó khó thực hiện vì lễ Phục Sinh không có gì ngạc nhiên đối với chúng ta. Chúng ta đã chờ đợi lễ Phục Sinh suốt cả Mùa Chay. Chúng ta lên kế hoạch cho ngày Lễ. Và bởi vì chúng ta mong đợi ngày đó,  chúng ta có khuynh hướng đánh mất cảm giác sững sờ và ngạc nhiên.

Nhưng các môn đệ lại hoàn toàn ngạc nhiên. Một người đã chết được ba ngày không thể đứng dậy và bắt đầu sống lại; điều đó sẽ vi phạm tất cả các quy luật tự nhiên ai cũng biết.Họ là những người thông minh; họ biết điều đó.

Vì vậy, khi Maria Mađalêna, Phêrô và Gioan gặp Chúa Giêsu Phục Sinh, họ đã không nắm tay nhau bước đi trong ánh hừng đông và hân hoan hát vang: “Chúa nay thực đã Phục Sinh. Halleluia! Halleluia!”Trái lại! Họ vô cùng sợ hãi. Và chúng ta sẽ cần phải hiểu tại sao họ lại sợ hãi như vậy nếu chúng ta thăm dò những chiều sâu của sự phục sinh và nắm bắt lại trạng thái ngây ngất trong lễ Phục Sinh.

Những người theo Chúa Giêsu bối rối và chán nản trước cái chết của Ngài. Họ đã khóc ở thập giá. Họ khóc trướcmộ. Nhưng họ đành chấp nhận việc đó. Chúng ta đọc thấy rằng những người phụ nữ đến sớm, trong khi trời vẫn còn tối, có lẽ là để xức dầu thơm cho cơ thể của Chúa Giêsu. Họ đã chấp nhận sự thật rằng Ngài đã chết.Họ cam chịu điều đó; Rốt cuộc, rồi ra tất cả chúng ta đều chết. Họ đã sẵn sàng quay lại cuộc sống bình thường của mình sau những ngày họ đã quên mất cuộc sống đó khi Chúa Giêsu qua đời.

Nhiều người trong số chúng ta ở đây hôm nay đã học cáchchấp nhận đau buồn. Chúng ta cũng đã chấp nhận thực tếnghiệt ngã của cái chết.  Chúng ta học cách tiếp tục sống. Chúng ta phải vậy thôi. Nhưng đối với những người đầu tiên theo Chúa Giêsu, một phần của sự ngạc nhiên lớn lao đó là việc nhận ra rằng Thiên Chúa hành động qua đau khổ và cái chết. Bi kịch khủng khiếp xảy ra trên đồi Sọ đều nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa! 

Chắc chắn rằng những môn đệ đầu tiên đó tin rằng có một cuộc sống chan chứa ở kiếp sau; Chúa Giêsu đã nói về điều đó nhiều lần rồi. Nhưng họ không nghĩ đến sự việc rằng mục đích cao cả của ân huệ Thiên Chúa sẽ được hoàn thành qua những điều như đau khổ và sự chết. Đương đầu với những thực tế khắc nghiệt như cái chết và sự vỡ mộng, sống với chúng, chấp nhận chúng là một chuyện nhưng đối mặt với thực tế rằng đây là cách Thiên Chúa chọn để hành động trong thế giới này lại là một chuyện hoàn toàn khác. Đây là những phương pháp mà qua đó các mục đích của Thiên Chúa được thực hiện. Bây giờ họ đã biết. Thiên Chúa không cứu chúng ta khỏi đau khổ và sự chết, nhưng Thiên Chúa cứu chúng ta qua đau khổ và sự chết. Thế giới tội lỗi, sa ngã này đã được đưa trở lại vòng tay yêu thương của Thiên Chúa qua những đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu, Con của Thiên Chúa.

Chúng ta tự hỏi, “Điều này có nghĩa là gì?” Sau đó, chúng ta nhớ lại rằng khi chúng ta chịu phép rửa tội, dấu thánh giá được in trên chúng ta như một dấu hiệu cho thấy chúng ta không chỉ chia sẻ quyền năng phục sinh của Chúa Giêsu, mà chúng ta còn biết thông phần với những đau khổ của Ngài. Dân Chúa được mời gọi chia sẻ những đau khổ của Chúa Giêsu Kitô.

Ở dạng nhẹ nhàng hơn, điều đó có thể có nghĩa là chúng ta được kêu gọi từ bỏ các biểu tượng địa vị xã hội mà người khác cho là rất quan trọng. Ở mức độ sâu xa hơn, chúng ta có thể được yêu cầu phải có những lập trường không như người khác, dẫn đến việc mất bạn bè hoặc gia đình xa lánh.

Có một khía cạnh khác dẫn đến sự hoang mang và sợ hãi của những người theo Chúa Giêsu mà chúng ta không được bỏ qua. Trước khi những người đàn ông và phụ nữ đầu tiên đó có thể trải nghiệm vinh quang choáng ngợp của Lễ Phục Sinh, họ phải chấp nhận sự thật rằng sự sống lại của Chúa Giêsu kéo theo sự phán xét sắp xảy ra. Khi tin tức về sự phục sinh của Chúa Giêsu được truyền đi từ tín đồ hoài nghi này sang tín đồ khác, nỗi sợ hãi bao trùm lấy họ! Họ sợ vì giờ đây người mà họ tưởng đã chết lại sống lại. Cùng với Ngài tất cả những thứ khác cũng trở lại. Đối với người ta, tất cả các môn đệ đã phản bội và chối bỏ Chúa của họ. Họ phải gặp mặt đối mặt Đấng mà họ đã phản bội, báng bổ và ruồng bỏ. Sẽ không có chuyện quên đi hay thoát khỏi những ký ức về những gì họ đã làm. Thảo nào các môn đệ sợ hãi. Thay vì có thể quên, họ buộc phải sống lại nỗi ô nhục của họ.

Có lẽ đó là lý do tại sao các trình thuật Tin Mừng thường nói từ đầu tiên không phải là “hãy vui lên”. Mà đúng hơn là “Đừng sợ”. Đừng sợ. Vì Đấng làm cho mọi sự sống lại chính là Đấng yêu thương bạn và phó chính mình vì bạn. Ngài không cho phép trốn thoát, không thể lãng quên, ngay cả khi chết, Ngài vẫn nhớ và u bạn. Tất nhiên không ai xứng đáng với tình yêu đó, những người đầu tiên theo Chúa đã không xứng đáng và chúng ta cũng vậy; Đó không phải là vấn đề. Vấn đề là Thiên Chúa yêu bạn và lễ Phục Sinh công bố thông điệp này to tiếng và rõ ràng. Thiên Chúa yêu thương bạn. Tạ ơn Chúa vì không có lối thoát khỏi tình yêu đó. Không có lối thoát, ngay cả trong cái chết!

Đó là kinh nghiệm của Maria Mađalêna. Cuộc gặp gỡ của cô với Chúa Giêsu đã nói rõ điều đó. Khi Chúa Giêsu cất tiếng nói, tình yêu thương và sự chấp nhận tỏa ra từ lời của Ngài làm cho cô ấy vui mừng đến nỗi cô chạy đến bên Ngài để được Ngài ôm lấy. Chúa Giêsu đã tìm kiếm cô trong tình yêu và lòng trắc ẩn;  Ngài đến với các môn đệ cũng như vậy, không phải để phán xét, nhưng với tình yêu … và Ngài vẫn đến với bạn, với bạn và tôi, một cách trìu mến, đầy trắc ẩn.

Điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với chúng ta vì nó có nghĩa là chúng ta không phải chạy trốn khỏi Chúa nữa. Chúng ta không cần phải cố che giấu. Chúng ta không cần phải giả vờ, với Chúa, với người khác, hay với chính mình. Có nghĩa là Chúa Giêsu trở lại, không phải trong sự kết án, không phải trong sự phán xét, nhưng trong ân sủng và bình an. Chúa chúng ta trở lại để phục sinh chúng ta, để chúng ta, là những kẻ đã chết trong những vi phạm và tội lỗi của mình, không còn phải sống trong mặc cảm tội lỗi nữa, chúng ta không phải sợ hãi Thiên Chúa hay sự phán xét. Tất cả sự phán xét của Thiên  Chúa đổ trên Chúa Kitô. Khi viên đá chặn cửa mồ được lăn ra khỏi ngôi mộ của Ngài, trong sự phục sinh của Ngài, chúng ta được công chính hóa, được tuyên bố vô tội trước mặt Cha Trên Trời. 

Lễ Phục Sinh và sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô, tuyên bố rằng tất cả những cánh cửa đóng chặt chúng ta – sợ hãi, tội lỗi, lo lắng, bất an – tất cả đều đã bị vượt qua và chúng ta thoát khỏi chúng và những cánh cửa giờ đây đã được mở ra. Chúa Kitô mở những cánh cửa đó và ban cho bạn sự tự do. Ngài cũng mở cho chúng ta cánh cửa cuối cùng, cánh cửa của sự chết. Một số người tin rằng khi họ chết họ sẽ chết mãi mãi, nhưng điều đó không đúng. Bạn không xin được sinh ra, nhưng bạn được sinh ra. Bạn không chọn lựa khi nào bạn được sinh ra, nhưng bạn đã được sinh ra. Bạn đã không quyết định thức dậy sáng nay, nhưng bạn đã thức dậy. Vì vậy, bạn sẽ không yêu cầu được trỗi dậy từ cõi chết, nhưng bạn sẽ được trỗi dậy. Vì Chúa Kitô sẽ gọi bạn và bạn sẽ trỗi dậy và Ngài sẽ ban sự sống cho bạn. Những ai tin vào Ngài, vào sự tha thứ mà Ngài ban cho vì cái chết của Ngài, sẽ được sống lại từ cõi chết để bước vào đời sống mới trong Chúa Kitô.

Trong bài Tin Mừng của chúng ta, Thiên thần hỏi: “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết?” (Lc 24: 5). Chắc chắn thiên thần ngụ ý rằng Chúa Giêsu không còn chết nữa và Ngài đã sống lại. Nhưng, có lẽ chúng ta có thể nhìn câu hỏi đó dưới một ánh sáng khác… dưới ánh sáng của sự phục sinh. Trước khi Chúa phục sinh, nghĩa địa thực sự là nơi chết chóc, vé một chiều. Giờ đây, những ngôi mộ của chúng ta có thể được coi là cánh cửa mà tất cả chúng ta phải bước qua, không phải dẫn đến cái chết, mà là dẫn đến cuộc sống vĩnh cửu. Bây giờ, trong hy vọng và đức tin, chúng ta có thể tìm kiếm người sống giữa những người chết.

Thật kỳ lạ làm sao khi sự sống có thể chảy ra từ nấm mồ. Nhưng sau đó, lại giống như Thiên Chúa. Ra khỏi các phiên tòa xét xử chiến tranh ở Nuremberg ở Đức sau Thế chiến thứ hai, có sự chứng kiến của một người đàn ông. Trong cuộc chiến gần Willma, Ba Lan, một nhóm người Do Thái thoát chết trong phòng hơi ngạt đã trú ẩn tại một nghĩa trang. Họ sống ở đó, túm tụm và ẩn mình dưới đáy những ngôi mộ đào sẵn. Một bé trai được sinh ra vào một buổi tối tại một trong những ngôi mộ đó. Người đào mộ, một người Do Thái chính thống, già dặn, nghiêm khắc, mặc đồ tang bằng vải lanh, đỡ đẻ. Khi đứa trẻ sơ sinh cất tiếng khóc đầu tiên, người đào mộ già kêu lên: “Lạy Thiên Chúa vĩ đại, cuối cùng có phải Ngài đã gửi Đấng Cứu Thế đến cho chúng tôi không? Vì ai khác ngoài Đấng Cứu Thế sẽ được sinh ra trong một ngôi mộ?” Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Chúa Giêsu, Đấng Mêsia, là người đầu tiên được sinh ra từ kẻ chết: “Ngài là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Ngài đứng hàng đầu. Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Ngài, cũng như muốn nhờ Ngài mà làm cho muôn vật được hoà giải với mình. Nhờ máu Ngài đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời. (Col 1:18)

Sinh ra trong một ngôi mộ. Đó là chúng ta. Cuộc sống của chúng ta thực sự bước ra từ một ngôi mộ, ngôi mộ của Chúa Kitô! Làm thế nào giống như Thiên Chúa để làm một điều gì đó như thế. Sinh ra trong một ngôi mộ. Sinh ra để ăn mừng. Sinh ra để nhảy mừng, để sống trong niềm mong đợi vì quyền năng phục sinh của Thiên Chúa đã được trải ra trên thế giới này.

Đó là Tin Mừng từ nghĩa địa: Chúa Giêsu Kitô đã sống lại từ cõi chết để bạn và tôi có thể sống trong niềm tin chắc rằng cánh cửa sự sống đã mở ra cho chúng ta. Đó là cuộc chinh phục của thập giá, là chiến thắng của Sự Phục Sinh.

Vì vậy, chúng ta được mời gọi mở cánh cửa và bước vào cuộc sống với sứ điệp Phục Sinh kỳ diệu: Chúa Kitô không chỉ sống, mà còn ban sự sống, biến đổi sự sống, phục sinh sự sống.

Sự thật đó thật choáng ngợp, vượt xa khả năng diễn đạt hoặc hiểu biết của chúng ta. Hãy tin và để sự thật đó nắm giữ bạn. Tôi mời bạn ra khỏi nơi này, cầu xin Thiên Chúa cho bạn sống cuộc đời của bạn với niềm vui và sự công chính thảnh thơi, là điều phù hợp với một người đã nhận được rất nhiều ơn phúc nhờ Chúa Giêsu Kitô, Chúa Phục Sinh của chúng ta. Xin Chúa chúc lành cho bạn trong lễ Phục Sinh này và trong lễ mừng quyền năng kỳ diệu của Chúa Kitô trong cuộc đời bạn. Amen.

Phêrô Phạm Văn Trung

Hẹn gặp lại

CÙNG MẸ, MỘT NGÀY LẶNG YÊN

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ngài không có ở đây!”.

Tại các Giáo Phận, phần lớn giáo dân các họ đạo truyền thống có thói quen ngắm Mười Lăm Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu vào Mùa Chay. Riêng Tổng Giáo Phận Huế, kinh nguyện quý báu này được ngắm vào Tuần Thánh; đặc biệt, sáng thứ Năm, thứ Sáu và thứ Bảy. Nó được gọi là Kinh Lễ Đèn, vì có đến 15 ngọn nến hoặc đèn, được đốt lên trên cùng một giá. Cách thức đọc Kinh Lễ Đèn được hướng dẫn đến từng chi tiết; cách chung, ngắm một chặng, tắt một ngọn nến, đọc 1 kinh Lạy Cha, 10 Kinh Kính Mừng. Tuy nhiên, ở Lễ Đèn 3, tức sáng thứ Bảy, ngọn nến 15 sẽ không được tắt! Thật thú vị, nó được đem vào phòng thánh một chốc, đang khi cộng đoàn quỳ gối ngắm “Thánh Mẫu Thống Khổ Kinh”. Sau đó, ngọn nến này được đem tr
ở lại, đặt trên bàn thờ; ngọn nến đó tượng trưng cho Chúa Giêsu! Ngài đã chết, nhưng thực ra, cái chết của Ngài chỉ như một sự nghỉ ngơi trong mồ. Vì thế, thứ Bảy Tuần Thánh được coi như ngày mà Kitô hữu ‘cùng Mẹ, một ngày lặng yên’ đợi ngày Con Chúa phục sinh!

Kính thưa Anh Chị em,

Thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo Hội không có một nghi lễ nào, mãi cho đến buổi cử hành long trọng Đêm Vọng Phục Sinh. Hôm nay, Giáo Hội trầm tư suy gẫm chậm rãi với Đức Maria, Mẹ mình. Nắm lấy tay Mẹ, mỗi tín hữu tìm đến một ‘nơi vắng vẻ’, chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu; và nhất là, ‘cùng Mẹ, một ngày lặng yên’ để trải nghiệm các mầu nhiệm!

Phụng vụ của những ngày qua đầy cảm xúc với nhiều nghi lễ; thế nhưng, thứ Bảy Tuần Thánh lại trôi qua một cách lặng lẽ, thanh thản. Đó là một ngày để tận hưởng tất cả những tình cảm đan xen giữa trầm buồn lẫn hy vọng! Đừng để thứ Bảy Tuần Thánh trôi qua như bao ngày khác, hay chỉ là một ngày giữa thứ Sáu Tuần Thánh và Chúa Nhật Phục Sinh. Đó là một ngày mà tất cả chúng ta cùng Mẹ Maria và Mẹ Hội Thánh nữa, tĩnh lặng, chiêm ngắm và tôn thờ.

Chỉ trong sự suy gẫm thầm lặng này, các tông đồ, và cả chúng ta mới có thể nhìn thấy mọi sự đã xảy ra phù hợp và trùng khít với nhau thế nào. Chúa Giêsu đã nói với các tông đồ những gì sẽ xảy ra với Ngài, kể cả sự phục sinh; Ngài đã nói với họ, nhưng tâm trí họ chưa chuẩn bị đủ để hiểu. Chỉ trong sự im ắng của ngày thứ Bảy, và nhờ có một ngày lặng yên với Mẹ Chúa Giêsu, họ mới có thể hiểu được những gì Thầy đã nói. Cũng thế, với chúng ta; cùng Mẹ Maria, chúng ta ghi nhớ những lời của Chúa Giêsu. Nhiều lần, chúng ta nghĩ, chúng ta biết Ngài là ai, dạy chúng ta điều gì, nhưng thực ra, những điều đó chưa đi vào trái tim chúng ta; bằng chứng là cuộc sống của bạn và tôi chưa biến đổi! Phải lắng nghe, cẩn thận suy gẫm những gì Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng, chúng ta mới hiểu được sâu sắc để áp dụng vào cuộc sống mình!

Anh Chị em,

“Ngài không có ở đây!”. Sự im lặng của ngày hôm nay không phải là một sự i
m lặng của thoái chí và tuyệt vọng, nhưng là ‘im lặng thánh’, một sự im lặng của niềm mong đợi lớn lao sẵn sàng bùng lên trong niềm vui ngập tràn của Đêm Vọng Phục Sinh. Chúng ta sẽ ‘đến mộ’ Chúa cùng với các thánh nữ, không phải để xức dầu cho một xác chết, nhưng để vui mừng với các thiên thần khi nghe họ tuyên bố, “Ngài không có ở đây. Ngài đã sống lại!”; “Tại sao các bà lại tìm người sống nơi những kẻ chết?”. Và như thế, nhờ có một ngày lặng yên với Mẹ, chúng ta mới có thể vui mừng nói cùng Mẹ, “Lạy Nữ Vương Thiên Đàng, hãy vui mừng, Halleluia!”, và với Mẹ, chúng ta hát khúc khải hoàn ca, “Chúa Đã Sống Lại, Halleluia!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Nữ Vương Thiên Đàng, xin dạy con biết chờ đợi Chúa như Mẹ. Không chỉ hôm nay, nhưng mỗi ngày, từng ngày, và ‘một đời với Mẹ’, con chờ đợi Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

RẤT ĐỖI VUI MỪNG

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Vào thời Đức Giêsu, phụ nữ không được coi trọng.  Với truyền thống văn hóa của người Do-thái thời đó, Đức Giêsu không thể gọi một nhóm phụ nữ đi theo mình khắp nơi để làm môn đệ.  Tuy nhiên, vẫn có một nhóm phụ nữ vùng Galilê mộ mến và chịu ơn Thầy Giêsu, nên đã đi theo Thầy.

Họ đã có mặt bên Thầy trong những ngày cuối.  Họ đã theo Thầy trên suốt chặng Đàng Thánh Giá, trong khi các môn đệ nam bỏ trốn vì sợ liên lụy, các bà đã đứng xa nhìn Thầy chịu đóng đinh.  Họ đã chăm chú xem ông Giô-xếp tẩn liệm Thầy trong ngôi mộ mới, đục sâu vào núi đá, và họ đã ngồi ngắm nhìn ngôi mộ (Mt 27,55-61).

Biến cố Thầy chịu đóng đinh là một biến cố kinh hoàng, vượt sức chịu đựng của các phụ nữ.  Họ đã trải qua một đêm thứ sáu và thứ bảy thật dài, mong ngóng mau hết ngày sa-bát để ra thăm mộ.  Ngôi mộ là nơi tập trung tất cả tình thương của họ.  Người ta đã giết Thầy rồi, xác Thầy là điều duy nhất họ còn giữ được.

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, hai bà Maria là những phụ nữ đầu tiên ra viếng mộ.  Đơn giản họ muốn được gần xác Thầy, để khóc than, để nhớ thương, tiếc nuối…  Họ vẫn chưa hết bàng hoàng về chuyện đã xảy ra.  Cái chết của Thầy làm đức tin họ bị xao động.

Tại sao Thiên Chúa lại để cho xảy ra chuyện đó?  Khi đến mộ, các bà chẳng ngờ những gì sẽ xảy ra ở đây.  Đây không còn là ngôi mộ, với phiến đá to chắn ở cửa, vì bỗng nhiên mặt đất rung chuyển dữ dội, và phiến đá bị một vị thiên sứ lăn qua một bên.  Cửa mộ mở tung, cho thấy rõ những gì trong mộ.

Vị thiên sứ mang dáng vẻ của người thuộc thiên giới.  Cả khuôn mặt lẫn y phục đều bừng sáng trắng tinh.  Vị này khuyên các bà đừng sợ.  Thiên sứ tỏ ra hiểu biết lý do khiến các bà đến mộ: “Tôi biết các bà tìm Đức Giêsu, Đấng chịu đóng đinh.”  Thiên sứ giải thích tại sao ngôi mộ lại không còn xác Thầy: “Người không có ở đây, vì Người đã được phục sinh.”  Thiên sứ còn mời các bà lại gần chỗ đã đặt xác: “Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm.”  Nhưng quan trọng nhất là câu nói sau của vị thiên sứ: “Rồi các bà hãy đi cho nhanh, và nói với các môn đệ: Người đã được phục sinh từ cõi chết.”

Đây là Tin Mừng cho các bà còn đứng đó phân vân.  Thầy Giêsu đã sống lại thật rồi, đã ra khỏi mộ rồi.  Các bà có bổn phận báo cho các môn đệ biết tin đó.  Họ trở thành những sứ giả đầu tiên đi loan báo Tin Mừng.  Họ cũng phải nhắc lại cái hẹn của Thầy Giêsu với môn đệ: “Người đến Galilê trước các ông, ở đó các ông sẽ gặp Người.”

Các phụ nữ thành cầu nối để Thầy phục sinh gặp lại trò cũ.  Vừa sợ, vừa vui, nhưng vui thì lớn hơn sợ nhiều lần, các bà nhanh chóng rời khỏi ngôi mộ mà họ quyến luyến.  Họ có một sứ mạng lớn lao và khẩn trương, khiến họ phải chạy nhanh cho kịp.  Chẳng ai ngờ trên đường đến với các môn đệ thì họ lại gặp chính Thầy Giêsu phục sinh, hay đúng hơn, chính Thầy đón gặp họ trên đường.

Thầy là người mở lời chào: “Chị em hãy vui lên!”  Có vẻ các bà nhận ra Thầy ngay, vị Thầy mà họ thấy chết trên thập giá đã ba ngày rồi, đã được chôn, và họ đã không thấy xác nằm ở mộ nữa.  Bây giờ vị Thầy ấy đang đứng trước mặt họ.  Lòng họ đầy nỗi sợ hãi cùng với niềm vui khôn tả.  Nhưng họ không thể cưỡng được chuyện lại gần Thầy, bái lạy Thầy và ôm lấy chân.

Thầy đã phục sinh thật rồi, đúng như lời thiên sứ nói.  Đây không phải là một thị kiến, hay một giấc mơ.  Thầy không phải là một bóng ma hay ảo ảnh.  Chẳng những họ được thấy mà còn được chạm vào Thầy.  Thầy lại nhắc họ đi báo Tin Mừng Thầy được phục sinh cho các môn đệ, mà Ngài gọi là “anh em của Thầy.”

Đức Giêsu không nhắc đến những vấp ngã của các ông.  Ngài muốn làm hòa với họ và nối lại mối dây thân thiết.  Bài Tin Mừng trong lễ Vọng Phục sinh thật là vui.  Hai phụ nữ đã trải qua bao kinh nghiệm thiêng liêng, bao cung bậc của tình cảm, từ sợ hãi đến vui mừng, và cuối cùng là niềm hạnh phúc ngây ngất vì gặp Chúa.

Họ đi tìm xác Thầy, nhưng lại gặp Thầy đang sống.  Nước mắt đớn đau từ hai ngày qua được Thầy lau khô.  Hôm nay, Chúa phục sinh cũng đón chúng ta trên đường, khi chúng ta đang tìm kiếm, khổ đau, mất mát, thất vọng.  Chỉ cần nghe tiếng chào của Ngài là con tim sẽ vui trở lại.  Chỉ cần lại gần Ngài, chúng ta sẽ nói được: Ha-lê-lui-ya.

******

Lạy Chúa Giêsu phục sinhChúa đã sống đến cùng cuộc Vượt qua của Chúa, xin cho con biết sống cuộc Vượt qua mỗi ngày của con.  Vượt qua sự nhỏ mọn và ích kỷ.  Vượt qua những đam mê đang kéo ghì con xuống.  Vượt qua nỗi sợ khổ đau và nhục nhã.  Vượt qua đêm tăm tối cô đơn của Vườn Dầu.  Vượt qua những khắc khoải của niềm tin.  Vượt qua những thành kiến con có về người khác…  Chính vì Chúa đã phục sinh nên con vui sướng và can đảm vượt qua, dù phải chịu mất mát và thua thiệt.  Ước gì con biết noi gương Chúa phục sinh gieo rắc khắp nơi bình an và hy vọng, tin tưởng và niềm vui.  Ước gì ai gặp con cũng gặp thấy sự sống mãnh liệt của Chúa.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Năm 2023

ĐÓNG ĐINH MỘT VỊ THẦN-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thứ Sáu Tuần Thánh, TƯỞNG NIỆM CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chính Tôi đây!”.

Heywood Broun nói, “Không ai luôn nói về Chúa cho bằng những người cho rằng, ‘Không có Ngài!’”. Một nhà tu đức khác thì nói, “Không ai biết Đức Giêsu là Chúa mà lại đóng đinh Ngài! Nhưng, với ai tin Giêsu, mỗi lần phạm tội trọng, là họ đóng đinh Ngài; ‘đóng đinh một vị Thần!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

Ghi lại Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, chỉ một mình Gioan có được lời khẳng định tuyệt vời của Ngài, “Chính Tôi đây!”. Khẳng định này đưa chúng ta về với một sự thật vô cùng quan trọng. Rằng, Ngài là Thiên Chúa! Vì thế, đóng đinh Giêsu, nhân loại ‘đóng đinh một vị Thần!’.

“Chính Tôi đây!”, “Chính là Ta!”, “Tôi Là!”, hay “Tôi Hằng Hữu!” là những ‘danh xưng’ chỉ dành cho Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa đã sử dụng danh hiệu này để mặc khải chính Ngài cho Môisen trên núi Sinai. Kitô giáo sử dụng nó để nói về Đấng tạo dựng muôn loài, nghĩa là tất cả mọi vật hiện hữu. Tuyệt vời thay, “Chính Tôi đây!” cũng là lời mà Chúa Giêsu công khai tuyên bố trước quân dữ. Như vậy, chẳng vô tình chút nào, Ngài muốn công khai thần tính của Ngài! Vì lý do đó, Gioan viết, “Nghe thế, họ giật lùi lại và ngã xuống đất!”. Suy gẫm cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, chúng ta đừng bao giờ quên thần tính của Ngài; Ngài là một Thiên Chúa bị đóng đinh, cũng là Đấng Cứu Độ Thế Giới, một thế giới trong đó con người ‘đóng đinh một vị Thần!’.

Thú vị thay! Cũng trong bối cảnh này, Phêrô tuyên bố một lời ngược lại hoàn toàn, một lời ‘không thể phàm nhân hơn’: “Không phải tôi!”. Đó là lời nói dối của ông trước một cô gái. Mỉa mai thay, không phải trước một bà hoàng, nhưng trước một đầy tớ! “Không phải tôi” là ‘nội hàm’ cho tất cả yếu đuối và mỏng giòn nhất của con người; Phêrô là đại diện cho mỗi người chúng ta. Khi làm vậy, Phêrô xác nhận sự yếu hèn của bản thân cũng như nhu cầu của mình đối với ân sủng và lòng thương xót của Thiên Chúa. Về điểm này, bạn và tôi nên đồng ý với Phêrô!

Bối cảnh thương khó của Chúa Giêsu đặt liền kề việc chối Thầy của Phêrô và bản án thập giá của Ngài. Mặc dù cái chết của Chúa Giêsu vẫn sẽ xảy ra nếu không có sự chối Thầy của Phêrô; nhưng ảnh hưởng của nó vẫn tác động đến ông. Ngài đã chết thay cho Phêrô và tất cả mọi người; qua đó, Ngài cứu cả nhân loại khỏi mọi tội lỗi. Sự thiếu đức tin và tình yêu  Phêrô không thay đổi được điều đó; nhưng một khi Phêrô quay trở lại và tin, ông nhận ra rằng, Chúa Giêsu đã làm tất cả cho ông. Từ đó, Phêrô loan báo chân lý này thật xa và thật rộng! Rằng, “Anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ mà đóng đinh Ngài vào thập giá” khác nào ‘đóng đinh một vị Thần’. Nhưng “Thiên Chúa đã làm cho Ngài sống lại; đặt Ngài làm Đức Chúa và làm Đấng Kitô!”. Tác phẩm “Thập Giá Chiến Thắng” của Janice Alexander đã vẽ Ngài vui mừng, như một vị Vua đang dang tay ôm lấy cả nhân loại.

Anh Chị em,

“Chính Tôi đây!”. Khẳng định của Chúa Giêsu nói lên tất cả! Ngài là Thiên Chúa, Ngôi Lời làm người, sống dưới chế độ lề luật của con người, và chết bởi lề luật của nó. Ngài chấp nhận bản án, chấp nhận cho nó ‘đóng đinh một vị Thần’. Thế nhưng, chính nhờ sự chết và những đau khổ Ngài chịu, nhân loại nhận được công chính hoá. Đó là đường lối khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa. Ngài là vị Thiên Sai mà Chúa Cha đã phán, “Tôi tớ công chính của Ta sẽ công chính hoá nhiều người, sẽ gánh lấy mọi tội ác của họ” như Isaia tiên báo qua bài đọc hôm nay; cũng là Đấng mà tác giả thư Do Thái hôm nay tuyên xưng, “Con Thiên Chúa trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những kẻ tùng phục Ngài”; hoặc đó còn là Đấng gọi Thiên Chúa là Cha như Thánh Vịnh đáp ca diễn tả, “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, mỗi lần phạm tội, con đóng đinh Chúa, ‘đóng đinh một vị Thần!’. Như Phêrô, xin giúp con kiên trì xây dựng lại bản chất thứ hai; đó là khả năng thống hối và quay trở lại!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Suy niệm thứ sáu tuần thánh-Cha Vương

Nguyện chúc bạn ngày thứ 6 Tuần Thánh thật sốt sắng và tốt lành. Đừng quên ăn chay kiêng thịt hôm nay và nhớ cầu nguyện cho nhau, nhất là cho những người đau khổ về phần hồn lẫn phần xác nhé.

Cha Vương

Thứ 6 Tuần Thánh: 07/04/2023

TIN MỪNG: Sự thật, chính người đã mang lấy những bệnh tật của chúng ta, đã gánh chịu những đau khổ của chúng ta, còn chúng ta, chúng ta lại tưởng người bị phạt, bị Thiên Chúa giáng hoạ, phải nhục nhã ê chề. Chính người đã bị đâm vì chúng ta phạm tội, bị nghiền nát vì chúng ta lỗi lầm; người đã chịu sửa trị để chúng ta được bình an, đã phải mang thương tích cho chúng ta được chữa lành. Tất cả chúng ta lạc lõng như chiên cừu, lang thang mỗi người một ngả. Nhưng Đức Chúa đã đổ trên đầu người tội lỗi của tất cả chúng ta. (Is 53:4-6)

SUY NIỆM: Nếu bạn cảm thấy lương tâm bạn bị dằn vặt vì mặc cảm tội lỗi khi nghe bài Thương Khó Đức Giê-su Ki-tô hay nhìn lên thập giá, điều đó là tốt. Nó có nghĩa là lương tâm của bạn chưa bị chết hay bị bóp nghẹt. Bạn đang sống trong bối cảnh thế giới tục hóa, con người không chỉ hăng say đi tìm của cải vật chất, hư danh trần thế mà còn tôn thờ chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa tiền bạc, chủ nghĩa khoái lạc và coi nhẹ những đòi hỏi của lương tâm, như: trung thực, công bằng, bác ái… Từ đó, nó gây ra rất nhiều tội lỗi cho bản thân, gia đình và xã hội. Đặc biệt, đối với giới trẻ ngày nay, lương tâm là điều gì rất xa lạ. Lạ hơn nữa, dường như họ không muốn nghe tiếng nói của lương tâm chân chính, họ quả quyết điều họ làm là đúng tuy rằng nó rất là sai với giới răn của Chúa. Ước mong sự chay tịnh của ngày thứ 6 Tuần Thánh hôm nay hướng bạn về Thánh Giá, biểu tượng của đau khổ và của sự chết. Nó nhắc nhở bạn hãy thực sự xem xét lại cuộc sống và chú tâm lắng nghe tiếng gọi lương tâm của mình mà ăn năn hoán cải để cảm nghiệm được tình yêu vô biên của con Thiên Chúa dành cho bạn và cho toàn nhân loại.

LẮNG NGHE: Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha. (Lc 23:46)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin lấy lòng từ bi nhìn đến đại gia đình nhân loại. Chính vì gia đình này mà Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng con, không ngần ngại phó mình trong tay kẻ dữ và cam chịu khổ hình thập giá. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hợp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. (Kinh Sáng, Thứ 6 Tuần Thánh)

THỰC HÀNH: Dành ít thời gian hôm nay để cầu nguyện và suy niệm trước tượng Chúa Chịu Nạn. Chúa đang nói với bạn điều gì vậy?

Con Đường Chúa Đã Đi Qua – Lệ Hằng

From: Đỗ Dzũng

TRẦM TƯ DƯỚI CHÂN THÁNH GIÁ

Lạy Chúa Giê-su Ki-tô Cứu Thế, con quỳ trước Thánh giá hồng phúc của Chúa đây.  Xin cho trí lòng con chăm chú nghĩ tới cuộc Khổ nạn.  Xin Thánh giá Chúa dựng thẳng trước tâm hồn nghèo nàn của con, để giúp con hiểu hơn và ghi nhớ Chúa đã hoàn tất những gì, gánh chịu những gì và gánh chịu vì ai.

Xin ơn Chúa đến giúp con, xin cho lòng con bớt dửng dưng và đần độn; xin cho con quên đi, dù chỉ trong nửa giờ, sự tầm thường của những ngày sống, để đặt bên Chúa mối chân tình, lòng thống hối, niềm cảm tạ của con . Ôi Vua của mọi tâm hồn, xin ôm lấy quả tim yếu đuối, nghèo nàn, sầu khổ và nhọc mệt của con trong tình yêu bị đóng đinh của Chúa.  Xin làm cho nó cảm thấy hướng về Chúa tự bên trong.  Xin khơi dậy trong con những gì còn thiếu là lòng trung tín và niềm thương cảm, để suy ngắm cuộc Khổ nạn và cái Chết đáng tôn thờ của Chúa.

Con sẽ suy ngắm bảy lời của Chúa trên Thánh giá, bảy lời sau hết Chúa đã thốt lên trước khi cái chết bắt buộc Chúa –Ngôi Lời vĩnh cửu của Chúa Cha – phải im lặng mãi mãi trên chốn dương gian này.  Chúa đã thốt lên những lời phát xuất tự đáy con tim đó trong lúc tâm hồn lai láng đau khổ và đôi môi khát nước cằn khô.  Chúa nói với hết mọi người, nói cho chính con nữa.  Xin cho quả tim con đi sâu, đi thật sâu vào đó, để con thấu hiểu trọn vẹn . Đừng để những lời ấy xóa mờ trong quên lãng, nhưng sống mãi và hữu hiệu trong tâm hồn không sinh khí của con.  Chúa hãy đích thân thốt lên những lời ấy cho con đi, để con nghe được âm thanh của Chúa.

Một ngày kia, vào lúc con chết và sau lúc con chết, Chúa lại sẽ nói với con, và những lời ấy sẽ là tiếng đầu mở màn hạnh phúc vĩnh cửu hay tiếng cuối khởi sự nỗi khổ không cùng.  Lạy Chúa, ước mong giờ con chết, con được nghe miệng Chúa thốt ra những lời nhân thứ yêu thương; đừng để con lỡ dịp.  Vậy giờ đây, xin cho lòng con ngoan ngoãn đón nghe những lời sau hết của Chúa trên Thánh giá.

LỜI THỨ NHẤT: “CHA ƠI, XIN THA CHO HỌ, VÌ HỌ KHÔNG BIẾT VIỆC HỌ LÀM” (LC 23,34).

Chúa bị treo trên Thánh giá, nơi họ đã đóng đinh Chúa vào; Chúa chẳng còn cách nào thoát khỏi trụ đài dựng đứng giữa trời và đất như thế nữa.  Vết thương thiêu đốt toàn thân, mão gai xâu xé da đầu, đôi mắt đầm đìa máu thắm, tay và chân bị xuyên thâu như bởi một thanh sắt nung đỏ, tâm hồn Chúa là cả một đại dương sầu khổ và thất vọng.

Những kẻ trách nhiệm còn đó, dưới chân Thánh giá; họ chưa chịu đi khuất để ít nhất bỏ Chúa chết một mình.  Không, họ cứ đứng đó, cười đùa, tin chắc mình có lẽ phải.  Cảnh tượng trước mắt không là một bằng chứng sờ sờ đó sao, không chứng minh rằng thái độ của họ đối với Chúa hoàn toàn phù hợp với công lý, khiến họ có quyền hãnh diện như là đã tôn vinh Thiên Chúa đó sao?  Họ cười nói, đùa giỡn, xúc phạm; và ác tâm đó gây cho Chúa một nỗi thất vọng còn ghê gớm hơn mọi đau đớn trong thân mình.  Làm sao có người lại đê tiện đến thế?  Giữa Chúa và họ còn một chút liên hệ nào nữa không?  Có ai lại đi làm khổ một người cho đến chết như vậy không?  Làm khổ cho đến chết bằng sự dối trá, giả hình, điêu ngoa, bội phản, đê tiện, rồi còn mặc lấy cái vẻ của lẽ phải, tạo ra cái dáng của ngây thơ, khoác lên bộ diện của ông quan tòa liêm chính!  Thiên Chúa lại để cho xảy ra cái đó trong vũ trụ của Người được sao?  Tràng cười khinh mạn của các kẻ thù lại có thể vang lên cách mồn một và đắc thắng trong thế giới tạo vật của Thiên Chúa được sao?  A! Lạy Chúa, nếu là chúng con thì sẽ giận dữ thất vọng đến mức nào!  Nếu là chúng con thì sẽ nguyền rủa kẻ thù, nguyền rủa cả Thiên Chúa.  Nếu là chúng con thì sẽ hét to lên, sẽ phát điên lên mà bứt tung bàn tay khỏi đinh thập giá để tống cho một quả vào mặt!

Thế nhưng Chúa lại nói: “Cha ơi, xin tha cho họ, họ không biết mà!”  Thực hết hiểu nổi Chúa!  Trong tâm hồn xâu xé, đớn đau tột độ của Chúa, còn có chỗ cho một lời như vậy ư?  Thực hết hiểu nổi Chúa! Chúa yêu mến kẻ thù Chúa, gởi gắm họ cho Chúa Cha, cầu xin cho họ.  A!  Lạy Chúa, con xin lỗi nói phạm đến Chúa: Chúa còn bày đặt cho họ một lời chữa tội vô lý nhất, khó tin nhất: họ không biết việc họ làm!  Họ biết hết đó chứ!  Họ chỉ giả vờ không biết thôi; mà giả vờ không biết tức là càng biết rõ.  Đây là uẩn khúc sâu kín nhất của tâm hồn!  Nhưng người ta ghét uẩn khúc đó, chẳng muốn cho nó ra ngoài ánh sáng ý thức.  Thế mà Chúa lại bảo họ không biết việc họ làm!  Họ chỉ không biết một điều thôi, đó là tình yêu của Chúa đối với họ, một tình yêu chẳng ai có thể biết nếu không đích thân yêu mến Chúa, vì chỉ tình yêu mới giúp hiểu Ân huệ Tình yêu.

Chớ gì tình yêu không hiểu nổi của Chúa cũng thốt ra trên tội con lời tha thứ đó.  Xin Chúa hãy nói với Chúa Cha cho con nữa: “Cha ơi, xin tha cho nó, nó không biết việc nó làm!”  Ồ, con biết chứ, con biết hết, con chỉ không biết tình yêu của Chúa thôi!

Xin cho con nhớ lại lời thứ nhất này của Chúa trên Thánh giá mỗi khi đọc kinh Lạy Cha, con nói cách máy móc thuộc lòng lời thứ tha cho những ai xúc phạm.  Ôi lạy Chúa, không biết đã có lần nào con thực sự bị xúc phạm mà có thể tha thứ từ trên thập giá của tình yêu hay không?  Nhưng dù sao, con cần sức mạnh của Chúa để tha thứ, tha thứ tận đáy lòng, cho những ai mà tính kiêu căng và ích kỷ của con coi như những thù địch.

LỜI THỨ HAI: “TÔI BẢO THẬT ANH, HÔM NAY ANH SẼ ĐƯỢC Ở VỚI TÔI TRÊN THIÊN ĐÀNG” (LC 23,43).

Chúa đang hấp hối, thế mà trong tâm hồn lai láng đau khổ của Chúa vẫn còn có chỗ cho nỗi khổ của tha nhân.  Chúa sắp chết, thế mà Chúa vẫn băn khoăn về một tên tử tội vừa xưng thú là cuộc đời khốn nạn của hắn chỉ xứng với khổ hình ghê rợn hắn đang phải lãnh.  Chúa trông thấy Mẹ yêu dấu, thế mà Chúa lại ngỏ lời trước với đứa con hư hỏng.  Sự câm nín như bỏ rơi của Thiên Chúa làm ngẹn họng, thế mà Chúa lại nói đến Thiên đàng.  Bóng tử thần lởn vởn trước mắt, thế mà Chúa vẫn nhận ra được ánh sáng vĩnh cửu.  Khi hấp hối, chẳng phải con người chỉ còn biết nghĩ đến mình cô đơn và bị ruồng bỏ đó sao?  Thế mà Chúa lại quan tâm đến những linh hồn sắp cùng Chúa bước qua ngưỡng cửa Vương quốc.  Ôi tấm lòng từ ái!  Ôi tấm lòng hào hiệp quảng đại!  Một tên tử tội khốn khiếp tìm cách ép Chúa một tí mà Chúa lại hứa cho hắn trọn cả Thiên đàng.  Phải chăng mọi sự đều đổi mới nhờ cái chết của Chúa?  Phải chăng một đời bê tha tội lỗi được biến đổi ngay khi Chúa đến kề bên?  Chúa thốt ra trên một đời người những lời khuynh đảo, và đó là lời tha lỗi, tha cả cuộc sống xấu xa đê tiện.  Trước một biến đổi như thế, chả còn gì ngăn cản nó đi vào chốn thánh của Cha.

Tuy nhiên, Chúa nghĩ xem, cùng lắm là ta sẽ lưu tâm đến dấu thiện chí của tên vô lại ấy để giúp hắn tí cơ may thoát hiểm.  Nhưng còn những thói hư, tật xấu, hung ác, dơ bẩn, đê tiện… chẳng lẽ chỉ cần một xúc cảm tốt và một tia sáng hối hận lờ mờ trên thập giá là đủ hủy diệt hết ư?  Chẳng lẽ hạng người như thế lại được nước Thiên đàng mau lẹ như những tâm hồn sám hối, lâu năm thanh tẩy, như những thánh nhân dành cả cuộc đời thánh hóa xác hồn để xứng đáng với Thiên Chúa ba lần thánh ư?  Thật không thể chấp nhận nổi ! Thế nhưng Chúa, Chúa lại đưa ra phán quyết vô điều kiện, và hồng ân ấy đi sâu vào tâm can tên trộm, biến ngọn lửa hỏa ngục của cơn hấp hối thành ngọn lửa ngời sáng tình yêu thiên linh.  Tất cả những gì là công trình của Chúa Cha còn sót lại nơi hắn thì tình yêu ấy đã rọi sáng tức khắc; tất cả những gì xấu xa ghê tởm, chống lại Thiên Chúa trong cuộc đời hắn thì tình yêu ấy đã mau chóng tiêu diệt; và tên trộm cùng Chúa tay trong tay bước vào nhà Cha.

Xin Chúa cũng ban cho con ơn không bao giờ ngã lòng, nhưng dám chờ đợi tất cả, và nói mạnh hơn, dám đòi hỏi tất cả nơi lòng tốt của Chúa.  Ơn được can đảm thưa với Chúa: “Lạy Chúa, xin nhớ đến con khi Chúa vào trong Nước của Ngài,” dầu con là đứa tội lỗi tệ mạt.

Ôi lạy Chúa, chớ gì Thánh giá của Chúa cũng dựng thẳng bên chân giường chết của con.  Chớ gì miệng Chúa cũng hứa với con: “Quả thật, Ta bảo con, hôm nay con sẽ ở với Ta trên Thiên đàng!”  Chớ gì lời ấy khiến con nên xứng đáng đi với Chúa và trong Chúa vào Nước của Cha, với xác hồn hoàn toàn được cái chết của Chúa thánh hóa và xá giải.

LỜI THỨ BA: “THƯA BÀ, ĐÂY LÀ CON BÀ – HỠI CON, NÀY LÀ MẸ CON” (GA 19,26).

Nay đã đến giờ Mẹ Chúa lại phải đứng kề bên Chúa lần nữa… để chứng kiến Chúa hấp hối.  Người mà Chúa đã phán với tại Ca-na: “Thưa bà, giữa tôi với bà nào có việc gì.  Giờ tôi chưa đến” (Ga 2,4), người ấy nay không còn nài xin phép lạ nữa, nhưng vẫn phải có mặt.  Đây là giờ liên kết Con với Mẹ nhưng cũng là giờ chia ly, giờ của cái chết, giờ rứt khỏi tay từ mẫu, khỏi tay sương phụ đứa con trai độc nhất của mình.

Chúa đăm đăm nhìn Mẹ lần cuối.  Chúa đã không trừ cho bà mẹ đó một điều gì cả.  Chúa đã chẳng muốn là nguồn vui cho cuộc sống Người, trái lại chỉ là cớ đắng cay và sầu khổ.  Tuy nhiên, đấy bao giờ cũng là ân sủng, vì đấy bao giờ cũng là tình yêu của Chúa.  Và sở dĩ Chúa yêu Mẹ, ấy là bởi Mẹ đã nâng đỡ, phục vụ Chúa trong nỗi vui mừng cũng như trong sự đắng cay; vì chính như thế mà Người đã trở nên Mẹ Chúa trọn vẹn.  Ai là mẹ, là anh em, là chị em của Chúa, nếu chẳng phải là kẻ thực hiện thánh ý Cha trên trời?  Mặc dù đớn đau như cắt, tình yêu của Chúa cũng rung lên nét âu yếm mà trên thế gian này, vẫn thường nối kết đứa con với bà mẹ.  Cái chết của Chúa còn thánh hiến, thánh hóa những giá trị cao quý và dịu dàng đó nữa, những giá trị khiến rung cảm tâm hồn và làm đẹp trần gian.  Không, cái đó không thể chết trong con tim Chúa, dù con tim ấy bị tử thần nghiến nát ra trăm mảnh; Chúa muốn cứu nó để đưa lên trời.  Và bởi lúc ấy Chúa cũng đã yêu mến trái đất, nên rồi đây sẽ có một đất trời mới; vì khi chết để ban cho chúng con ơn rỗi vĩnh cửu, Chúa đã cảm xúc trước những giọt nước mắt của một bà mẹ, đã băn khoăn về phận số của một sương phụ còn ở lại dương gian, đến nỗi đã ban cho bà mẹ ấy một đứa con và ban cho đứa con ấy một bà mẹ.

Nhưng dưới chân Thánh giá, Mẹ không chỉ cảm thấy nỗi đớn đau của một bà mẹ có con bị người ta làm khổ.  Mẹ đứng đó nhân danh chúng con, như bà mẹ của mọi kẻ sống, hiến tế Quý Tử cho chúng con.  Nhân danh chúng con, Mẹ đã thốt lên lời xin vâng trước cái chết của Chúa.  Dưới chân Thánh giá, Mẹ là Giáo hội, là dòng dõi E-va, đang tham gia vào trận chiến bao la giữa con rắn và Con của người nữ.  Nên khi ban bà mẹ ấy cho môn đệ dấu yêu, là Chúa ban Mẹ Chúa cho chúng con tất cả.  Vì Chúa cũng muốn nói với con: “Con ơi, đây là Mẹ của con!”

Ôi lời đem lại cho chúng con một ân huệ vĩnh cửu!  Lạy Chúa Giê-su, dưới chân Thánh giá, kẻ xứng danh môn đệ dấu yêu của Chúa là kẻ từ lúc ấy đem Mẹ Chúa về nhà mình, người mẹ mà đôi tay trinh trong hiền mẫu từ nay sẽ phát ban mọi ân huệ do cái chết của Chúa trào tuôn.  Xin cho con ơn biết yêu mến và kính tôn Mẹ Chúa.  Xin cũng nhìn con hèn yếu mà nói với Mẹ: “Mẹ ơi, con của Mẹ đây này!”

Vì một tấm lòng trung trinh và thanh khiết như Mẹ Chúa hẳn sẽ nhân danh vũ trụ mà chấp thuận đám cưới giữa Chiên Con với Hiền thê Hội thánh, với nhân loại đã được máu Chúa cứu chuộc và thanh tẩy.  Sở dĩ con nghe Chúa phó mình cho trái tim từ mẫu của Mẹ, là vì Chúa đã không chết vô ích cho con; con sẽ có mặt vào lúc mở đầu tiệc cưới vĩnh cửu của Chúa, khi toàn thể nhân loại được biến đổi mãi mãi và kết hiệp với Chúa không cùng.

LỜI THỨ TƯ: “LẠY THIÊN CHÚA CON, LẠY THIÊN CHÚA CON, NHÂN SAO NGÀI BỎ CON?” (MT 27,46).

Cái chết đang lại gần, không phải là cái chết thể lý vốn đem đến giải thoát và bình an, nhưng là cái chết tượng trưng vực thẳm, tận diệt, tuyệt vọng.  Cái chết đang lại gần, cái chết nói lên sự bất lực khủng khiếp, cô đơn nặng nề, tước bỏ trọn vẹn, lúc mà tất cả sụp đổ, chạy trốn, chỉ còn sót lại một  sự ruồng bỏ chua xót, đau thương.  Và trong đêm tối của tinh thần, của giác quan ấy, trong sự trống rỗng con tim ấy, linh hồn Chúa vẫn kiên trì cầu nguyện; nỗi cô độc gớm ghê của con tim ngập tràn đau khổ ấy đã trở nên nơi Chúa một tiếng kêu van lạ lùng.  Ôi lời cầu nguyện của đau khổ, lời cầu nguyện của cảnh bị bỏ rơi, lời cầu nguyện của bất lực vô bờ bến, ngươi quả đáng ca tụng.  Lạy Chúa Giê-su, nếu Chúa đã biết cầu xin trong một nỗi khốn cùng như vậy, thì còn hoàn cảnh bi đát nào mà con người không thể kêu lên với Chúa Cha?  Còn nỗi thất vọng nào mà không thể trở nên lời cầu nguyện khi tìm đến ẩn thân trong cảnh bị bỏ rơi của Chúa?  Còn sự câm nín lớn lao nào mà lại quyết tâm không muốn biết rằng một tiếng kêu im lặng như thế vẫn có thể đạt được niềm vui thiên quốc?

Để nói lên nỗi khốn cùng của Chúa, để biến cảnh cô đơn hoàn toàn của Chúa nên một lời kinh, Chúa đã xướng lên câu đầu tiên của một Thánh vịnh (Tv 22).  Quả vậy, những lời Chúa nói: “Lạy Thiên Chúa con, lạy Thiên Chúa con, nhân sao Ngài bỏ con?” là câu đầu tiên của khúc ai ca cổ xưa ấy, khúc ai ca mà chính Thánh Thần Chúa đã đặt trên môi, trên lòng vị hiền nhân Cựu Ước, như một tiếng kêu cứu tuyệt vọng.  Thành ra ngay cả Chúa, con dám nói thế, trên đỉnh cao sầu khổ, đã không muốn một lời cầu nguyện nào khác ngoài lời cầu nguyện muôn người trước Chúa đã thốt trên môi; và có thể nói là khi cử hành cuộc hy tế trang nghiêm mà mình là hy lễ, Chúa đã dùng những công thức sẵn mang tính cách phụng vụ, để qua đó nói lên trọn vẹn nỗi lòng.

Xin cho con biết cầu nguyện với lời của Giáo hội Chúa, để những lời đó trở nên cách diễn tả của lòng con.

LỜI THỨ NĂM: “TÔI KHÁT” (GA 19,28).

Về lời ấy, Gioan thánh sử chú thích như sau: “Bấy giờ Đức Giê-su biết mọi sự đã hoàn tất, thì Người kêu to: “Tôi khát” để Thánh kinh nên trọn.”

Chúa lại xác minh một lời Thánh kinh nữa, một lời Thánh vịnh được Thánh Thần linh ứng từ lâu trước cuộc Khổ nạn Chúa.  Quả thế, trong Tv 22 câu 16, đã có nói đến Chúa thế này: “Cổ họng con khô ran như ngói, lưỡi với hàm dính lại cùng nhau.”  Và trong Tv 69 câu 22: “Thay vì đồ ăn, chúng trao mật đắng.  Con khát nước, lại cho uống dấm chua.”

Ôi người nô lệ của Chúa Cha, đã vâng lời cho đến chết, chết trên thập giá đau khổ.  Bên kia những gì xảy ra cho Chúa, Chúa thấy cái mình phải tìm cách đạt được; bên kia những hành vi của Chúa, Chúa thấy cái mình phải hoàn thành; bên kia những chướng ngại tràn lan, Chúa thấy rõ ràng bổn phận.  Ngay trong cơn hấp hối, giữa lúc nửa tỉnh nửa mê, Chúa vẫn lo sao để mọi chi tiết đời mình đều phù hợp với hình ảnh vĩnh cửu mà tâm trí Cha đã cưu mang.

Nên thực chẳng phải vì nghĩ đến cơn khát không tên đang dày vò tấm thân đẫm máu của Chúa, tấm thân phủ đầy vết thương và trần phơi dưới ánh nắng gay gắt của mặt trời chính ngọ, nhưng vì vâng phục đến cùng thánh ý Cha mà Chúa như muốn nói với một sự khiêm tốn thẳm sâu lạ lùng: “Vâng, điều thánh ý Cha đã tiên báo về tôi qua miệng các ngôn sứ, chính điều đó đang thực hiện.  Vâng, tôi khát!”  Ôi tâm hồn cao quý, vương giả, coi việc chịu khổ hình ghê gớm nơi thân xác chỉ là vấn đề tuân phục lệnh trên!  Mà Chúa đã hiểu tất cả sự ghê tởm của cuộc Khổ nạn như thế: như một sứ mạng phải chu toàn chứ không là một đòn mù quáng của định mệnh, như thánh ý Chúa Cha chứ không phải tâm can độc dữ của con người, như tình yêu cứu chuộc chứ không là âm mưu của kẻ tội lỗi.  Chúa đã gục xuống để chúng con được cứu thoát, Chúa đã chết để chúng con được sống, Chúa đã khát để chúng con được uống nơi nguồn nước mà Chúa mới mạc khải hôm nào đây, trong lễ Lều Trại: “Ai khát hãy đến với Ta, và hãy uống kẻ tin vào Ta; vì như lời Thánh kinh, tự lòng Người có những sông nước sống tuôn chảy” (Ga 7,37-38).

Chúa đã khát vì con, Chúa đã khát tình con, ơn cứu rỗi con; nên như nai khát nước nguồn, Chúa ơi, hồn con cũng khát Chúa!

LỜI THỨ SÁU: “MỌI SỰ ĐÃ HOÀN TẤT” (GA 19,30)

Thực ra, Chúa đã nói: “Chấm dứt rồi!”  Vâng, lạy Chúa, giây phút chấm dứt của Chúa đã đến rồi: chấm dứt cuộc đời, chấm dứt danh dự, chấm dứt hy vọng nhân loại, chấm dứt chiến đấu và những công trình đã thực hiện lâu nay.  Tất cả thực đã chấm dứt; tất cả đều trống rỗng và cuộc sống Chúa sắp tan biến.  Bất lực! Tuyệt vọng!…  Nhưng chính sự chấm dứt này lại hoàn thành đời Chúa, vì chấm dứt trong tình yêu và trung tín là một kết thúc rực rỡ.  Thất bại của Chúa là một chiến thắng oai hùng.

Ôi lạy Chúa, chừng nào con mới hiểu được quy luật này của đời Chúa, mà cũng là quy luật của đời con: chết là sống, từ bỏ là chiếm lại, khó nghèo là sung túc, khổ đau là ân sủng?  Khi nào con mới hiểu: chấm dứt có nghĩa là được hoàn thành?

Vâng, Chúa đã hoàn thành: hoàn thành sứ mạng Cha trao, nốc cạn một hơi chén đắng, gánh trọn cái chết kinh khủng, xong xuôi việc cứu rỗi đời.  Chúa đã chiến thắng tử thần, đập tan tội lỗi, chinh phục ma vương, mở cửa sự sống, cho con cái Thiên Chúa được hoàn lại tự do!  Cơn lốc Thánh Thần từ nay có thể mạnh thổi.  Và thế giới âm u dần cháy lên với ngọn lửa tình yêu Chúa, vũ trụ sầu khổ phực thiêu trong hỏa lò thần tính Chúa, địa cầu chìm trong biển lửa hạnh phúc của sự sống Chúa!  Mọi sự đã hoàn tất!

Chúa là Đấng hoàn thành vũ trụ, xin cho con nên hoàn thiện trong tinh thần của Chúa, lạy Ngôi Lời của Cha, Đấng đã hoàn tất hết thảy trong thể xác và trong cái chết đớn đau của mình.

Ước gì một ngày kia, lúc hoàng hôn cuộc sống, con cũng có thể nói: “Mọi sự đã hoàn tất.  Con đã chu toàn sứ mạng Chúa giao cho con.”  Ước gì con cũng có thể lặp lại theo Chúa lời kinh tế hiến, khi tử thần lảng vảng quanh con: “Cha ơi, giờ đã đến…  Con đã tôn vinh Cha trên trần gian, khi hoàn tất công việc Cha giao con thực hiện.  Thì giờ đây, xin hãy tôn vinh con bên Cha” (Ga 17,1-5).

Ôi Giê-su, dù sứ mạng Chúa Cha trao cho con là lớn hay nhỏ, quan trọng hay tầm thường, êm ái hay cay đắng, thì xin vẫn ban cho con ơn hoàn thành theo gương Chúa, Đấng đã hoàn thành hết thảy, ngay cả cuộc đời con, để con sống đời con cho tốt đẹp.

LỜI THỨ BẢY: “CHA ƠI, CON TRAO LẠI HỒN CON TRONG TAY CHA” (LC 23,46)

Ôi Giê-su, kẻ bị bỏ rơi nhất trong loài người, ôi trái tim tan nát vì đau đớn, Chúa đã kiệt lực.  Đây là lúc cùng tận, lúc mà hết thảy đều bị tước bỏ, ngay cả linh hồn, ngay cả tự do chọn lựa giữa ưng thuận hay từ chối, lúc mà ta không còn thuộc về ta.  Bóng thần chết đã lấp ló đứng chờ.  Nhưng ai tước bỏ như thế?  Cái gì tước bỏ như thế?  Hư vô ư?  Định mệnh mù quáng ư?  Thiên nhiên tàn nhẫn ư?  Không!

Chính là Cha, chính là vị Thiên Chúa khôn ngoan và lân mẫn.  Do đó Chúa đã phó mình.  Hoàn toàn tin tưởng, Chúa trao mình lại trong đôi tay vô hình hiền dịu của Cha, đôi tay mà chúng con, vì không tin, vì quá bám víu lấy mình, tưởng là thòng lọng gớm ghê của định mệnh mù quáng và của thần chết.  Chúa biết đấy là tay Cha, và đôi mắt Chúa, tối mờ vì thần chết, vẫn còn nhận ra Cha, vẫn còn đặt trong ánh mắt an bình đầy tình hiền phụ của Cha, và miệng Chúa thốt lên lời cuối cùng đời Chúa: “Cha ơi, con trao lại hồn con trong tay Cha.”

Chúa trao tất cả vào tay Đấng đã ban cho mình tất cả.  Chúa đặt hết vào tay Cha, không đòi bảo chứng, không chút giới hạn.  A!  Nhiều lắm, nhưng cũng nặng trĩu và cay đắng biết bao!  Cái làm nên gánh nặng đời Chúa: loài người, thô bạo, sứ mạng, thập giá, thất bại, cái chết, Chúa đã phải gánh lấy một mình.  Nhưng bây giờ, chẳng còn gì phải gánh nữa, và Chúa có thể trao lại tất cả và chính mình trong tay Cha.  Tất cả!  Tay Cha mang rất tốt, rất dịu dàng.  Đôi tay của người mẹ!  Đôi tay đó úp lên hồn Chúa, như người ta ấp ủ một cánh chim non trong lòng bàn tay với cả ý tứ mến thương.  Bây giờ chẳng còn gì nặng nữa.  Tất cả đều nhẹ, đều là ánh sáng, ân sủng, an toàn dưới bóng con tim Cha.  Nơi đây người ta có thể khóc hết nước mắt và được Cha lau khô bằng cái hôn hiền phụ.

Ôi Giê-su, một ngày kia Chúa cũng trao linh hồn hèn hạ và thân xác khốn khổ của con vào trong tay Cha chứ?  Lúc ấy, xin Chúa hãy đặt khối nặng đời con, khối nặng tội lỗi con đừng trên đĩa cân công lý nhưng trong tay Cha.  Chạy trốn đâu, ẩn khuất đâu ngoài bên Chúa, người anh em đã cay đắng chịu mọi khổ hình vì tội con.  Hôm nay, con đến với Chúa, quỳ trước Thánh giá Chúa, hôn đôi chân đã chảy máu vì im lặng bước theo con trên quãng đường quanh quéo của đời con.  Con ôm lấy Thánh giá Chúa, ôi Bạn Tình vĩnh cửu, Lòng của muôn lòng, Trái Tim bị đâm thủng, trái tim hết sức kiên nhẫn, trái tim vô cùng quảng đại.  Xin thương xót con.  Xin đem con vào tình yêu Chúa.  Và khi cuộc đời lữ thứ của con sắp chấm dứt, khi ngày đã gần tàn, khi bóng tử thần vây bọc lấy con, thì xin Chúa cũng thốt lên lời sau hết của Chúa: “Cha ơi, con trao lại hồn con trong tay Cha”, ôi Giê-su từ ái!  A-men.

Karl Rahner S.J.

Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi

 trích dịch từ Spiritualité pascale, phần Documents et Prières. Paris, DDB, 1957. Trang 275-278. 

“Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy.” (Ga 13:8b

Chúc bạn và gia đình ngày Thứ 5 Tuần Thánh tràn đầy ân sủng và bình an của Chúa nhé.

Cha Vương

 Thứ 5 Tuần Thánh: 06/04/2023

TIN MỪNG: Đức Giê-su đáp: “Nếu Thầy không rửa cho anh, anh sẽ chẳng được chung phần với Thầy.” (Ga 13:8b)

SUY NIỆM: Đối với những người trong nghề nails, việc làm chân tay nước cũng không còn gì xa lạ gì nữa. Đây là nghề phục vụ, đòi hỏi sự tận tuỵ ở một mức độ cao. Hôm nay Thứ 5 Tuần Thánh Giáo Hội tưởng niệm Bữa Tiệc Ly, trong đó Chúa Giêsu đã rửa chân cho các tông đồ và thiết lập Bí Tích Thánh Thể. Hai cử chỉ này là bài học cụ thể về sự khiêm nhường và hy sinh phục vụ. Bạn thử hình dung ra hai tay (của Đức Kitô) đã khéo léo lau chân Phêrô với chiếc khăn ở thắt lưng. Cử chỉ này cũng thấy gần gũi với người thợ làm chân tay nước đó hả? Đức Giê-su đã hạ giáng, đã bước xuống chỗ thấp nhất, Đấng là “Chúa và Thầy” mà ăn mặc như một nô lệ để phục vụ dưới chân các môn đệ! Ngài lấy việc làm này để lập ra một quy luật cho các môn đệ, cho bạn và mình: “Thầy đã nêu gương cho anh em, để theo như Thầy đã làm như thế nào thì anh em cũng làm y như vậy” (13:15). Thiên Chúa đã hạ mình đến mức đó. Vậy hôm nay bạn hãy tự hạ mình, vì yêu thương nhau hãy đưa cái bản ngã của mình xuống chỗ thấp nhất để phục vụ những người chung quanh của mình nhé.

LẮNG NGHE: CHÚA nói: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em.” (Ga 13:34)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, thất bại lớn nhất của đời người là tự cao tự đại, xin giúp con hiểu được bài học khiêm nhường mà Chúa dạy: “Các con cũng phải rửa chân cho nhau” để sống tinh thần hiệp nhất với anh em chung quanh con hôm nay.

THỰC HÀNH: Hôm nay bạn thử tập rửa chân cho những thành viên trong gia đình rồi chia sẻ với nhau cảm nghiệm của bạn.

From: Đỗ Dzũng

ĐÂU CÓ TÌNH YÊU THƯƠNG – HOÀNG OANH