Trăn Trối & Gởi Trao của Chúa Giê Su từ trên Thánh Giá – Suy niệm Thứ Sáu Tuần Thánh – Dòng Tên SJ

Lm. GB Nguyễn ngọc Thế SJ

Mời Bạn suy niệm dưới chân thập giá trong ngày thứ sáu Tuần Thánh với bài “Di ngôn thứ ba của Chúa trên Thánh Giá”

Thưa Bà, này là con Bà.

Này là Mẹ của anh.

(Ga 19,26-27)

  • Bài Tin Mừng.
  • Bối cảnh của di ngôn thứ ba.
  • Các phụ nữ trung thành đứng dưới chân Thánh Giá.
  • Sự hiện diện của Mẹ bên Thánh Giá, cùng niềm hy vọng và lời xin vâng.
  • Cana và Thánh Giá – Tiệc cưới giữa Thiên với Trần.
  • Thưa Bà, đó là con Bà.
  • Này là Mẹ của con.
  • Mở rộng cánh cửa đón mời Mẹ.
  • Đón nhận tình yêu để biết sống yêu thương.
  • Đứng bên cây Thánh Giá.
  • Bài tập sống di ngôn thứ ba của Chúa Giê-su trên Thánh Giá.

*******

  • Bài Tin Mừng.

23 Đóng đinh Đức Giê-su vào thập giá xong, lính tráng lấy áo xống của Người chia làm bốn phần, mỗi người một phần; họ lấy cả chiếc áo dài nữa. Nhưng chiếc áo dài này không có đường khâu, dệt liền từ trên xuống dưới.24 Vậy họ nói với nhau: “Đừng xé áo ra, cứ bắt thăm xem ai được.” Thế là ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài, cũng bắt thăm luôn. Đó là những điều lính tráng đã làm.

25 Đứng gần thập giá Đức Giê-su, có thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la.26 Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giê-su nói với thân mẫu rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà.”27 Rồi Người nói với môn đệ: “Đây là mẹ của anh.” Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình.

  • Bối cảnh của di ngôn thứ ba.  

Di ngôn thứ ba của Chúa Giê-su nói từ trên Thánh Giá, theo nhiều nhà chú giải Thánh Kinh, có ý nghĩa biểu tượng… Sau khi Chúa Giê-su đã bị đóng đinh trên Thánh Giá (Ga 19,23), thì quân lính chia nhau những tấm áo của Ngài, để “ứng nghiệm lời Kinh Thánh: Áo xống tôi, chúng đem chia chác, cả áo dài, cũng bắt thăm luôn. Đó là những điều lính tráng đã làm” (Ga 19,24).

Trong bối cảnh đó, Gio-an kể lại rằng, một số phụ nữ có mặt ở gần bên Thánh Giá, đặc biệt có Mẹ Maria hiện diện. Gioan còn kể ra danh tánh của các phụ nữ: “thân mẫu Người, chị của thân mẫu, bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, cùng với bà Ma-ri-a Mác-đa-la” (Ga 19,25).

Ngoài các phụ nữ này ra, có một nam nhi duy nhất là Gio-an Tông Đồ, môn đệ yêu dấu của Chúa, và cũng là tác giả của Phúc Âm thứ IV. Khi Mẹ Maria, các phụ nữ và Gio-an hiện diện dưới chân Thánh Giá, Chúa Giê-su đã nhìn xuống thân mẫu của Ngài cùng người môn đệ yêu dấu, và Ngài đã nói lời thứ ba này.

 Các phụ nữ trung thành đứng dưới chân Thánh Giá.

Ở Mác-cô chúng ta đọc thấy rằng: “Nhưng cũng có mấy phụ nữ đứng xa xa mà nhìn, trong đó có bà Ma-ri-a Mác-đa-la, bà Ma-ri-a mẹ các ông Gia-cô-bê Thứ và Giô-xết, cùng bà Sa-lô-mê. Các bà này đã đi theo và giúp đỡ Đức Giê-su khi Người còn ở Ga-li-lê. Lại có nhiều bà khác đã cùng với Người lên Giê-ru-sa-lem, cũng có mặt tại đó” (Mc 15,40-41)…

Các bà thật can đảm, còn các môn đệ thì khiếp sợ và trốn mất. Như thế, những người yếu đuối đã tỏ ra là người mạnh mẽ. Từ biến cố này, mọi sự đã hoàn toàn thay đổi”…

Như thế có tất cả 04 phụ nữ: (1) thân mẫu Người, (2) chị của thân mẫu, (3) bà Ma-ri-a vợ ông Cơ-lô-pát, (4) bà Ma-ri-a Mác-đa-la. Theo Đức BenedictoXVI[3], ngay khi các thánh sử không kể lại gì cách trực tiếp về tâm trạng của các phụ nữ đang hiện diện dưới chân Thánh Giá, nhưng người ta có thể nhận ra được sự buồn rầu và đau đớn của họ về những việc đang xảy ra đối với Chúa Giê-su.

Hơn nữa, thánh sử Gio-an đã trích dẫn lời của tiên tri Gia-ca-ri-a ở phần cuối bài thương khó: “Họ sẽ nhìn lên Đấng họ đã đâm thâu” (Ga 19,37). Cũng chính thánh Gio-an, ở trong sách Khải Huyền, đã nhắc lại cảnh Chúa Giê-su bị đâm thâu trên Thánh Giá, nhưng ở trong viễn cảnh Chúa Giê-su đến trong ngày quang lâm: “Kìa, Người ngự đến giữa đám mây. Ai nấy sẽ thấy Người, cả những kẻ đã đâm Người. Mọi dân trên mặt đất sẽ đấm ngực than khóc khi thấy Người” (Kh 1,7).

Những người đâm thâu Chúa, và cả những phụ nữ theo Chúa từ bấy lâu nay, cũng đều nhìn lên Đấng bị đâm thâu. Nhưng mỗi nhóm người có cái nhìn khác nhau. Cái nhìn của khinh khi và ác nhân của những người kết án và hành hạ Chúa, cái nhìn cảm thông và đau xót của các phụ nữ trung thành theo chân Chúa.

Sertillanges diễn tả về các phụ nữ đứng dưới chân Thánh Giá Chúa, Các người đàn bà đạo đức này ngay từ đầu đã tận tụy với Đức Giêsu và kiên trì cho đến giây phút cuối cùng. Họ sẽ xức dầu thơm cho mộ Ngài, sẽ làm nhân chứng cho việc Ngài sống lại, sẽ có vai trò trong ngày Thánh Thần hiện xuống. Họ dâng hiến cuộc đời cho công việc cứu rỗi nhân loại, sau khi đã thờ lạy và làm vui lòng Ngôi vị Ngài. Trên ngọn đồi Calvario họ nhận lãnh chức vụ mà sau này sẽ truyền lại cho nữ giới suốt lịch sử Kitô giáo. Họ đang hiện diện dưới chân Thánh Giá. Như vậy họ đứng làm hình ảnh chính thức cho nửa phần nhân loại được thánh hiến…

Những trái tim dịu dàng này (chúng ta khoan nói đến Đức Maria) thấu hiểu tốt hơn đàn ông về tính dịu ngọt thần linh và sức mạnh siêu phàm của Đức Giêsu, Đấng Thiên sai và tử đạo. Sự vĩ đại của Ngài đã chiến thắng họ. Lòng thương xót và nhân lành của Ngài lôi kéo họ đến bên cạnh Chúa. Nó làm cho họ ngất ngây.

Về căn bản phụ nữ là người thích an ủi vỗ về. Quan điểm của họ về sự sống khiến họ dễ trở nên người trợ giúp. Bởi vì là người ban sự sống, cho nên phụ nữ ý thức rõ hơn đàn ông về tính mỏng dòn và yếu đuối của loài người… các bà mẹ hiền dịu dưới chân khổ giá, khóc cay đắng cho số phận của Thầy mình. Họ nhìn lên Thầy với chút an ủi và khích lệ. Họ mời mọc Thầy chia sẻ với họ sự yếu đuối của thân phận làm người. Quỳ lạy tuyên xưng Ngài là Thiên Chúa, là Đấng cứu độ mình, kêu cầu Ngài ban ơn xuống cho mình và con cháu.

Phần thưởng của họ là được ủy thác chôn cất xác Chúa. Nhưng chính giờ này xác Thầy đã là của họ. Một chị em đã xức thuốc thơm cho thân xác Thầy trước rồi và ít lâu nữa họ sẽ vội vã đi mua dầu thơm trước khi bình minh thứ bảy ló rạng (thứ 7 cấm đi xa), để có thể ướp xác bằng hương liệu ngọt ngào và đặt Chúa vào chiếc giường đá lạnh lẽo”.[4]

… Ở đây, chúng ta có thể đọc lại lời của tiên tri Da-ca-ria: “Chúng sẽ khóc than Đấng chúng đã đâm thâu, như người ta khóc than đứa con một. Chúng sẽ thương tiếc, như người ta thương tiếc đứa con đầu lòng” (Dcr 12,10). Trong bầu khí của bạo tàn, của sỉ nhục và ác nhân, vẫn có sự trung thành của tình yêu, sự xót thương của các phụ nữ dành cho Đấng Cứu Độ.

Trong tâm tình này, chúng ta có thể thấy được điều mà tiên tri Da-ca-ria nói: “Ngày ấy, một dòng suối sẽ vọt ra cho nhà Đa-vít và dân cư Giê-ru-sa-lem để tẩy trừ tội lỗi và ô uế” (Dcr 13,1). Tâm tình hướng nhìn lên Đấng bị thâu – Đấng Cứu Độ, lòng thương cảm và tâm tình hiệp thông chia sẻ với Ngài sẽ đưa lại một dòng suối thanh tẩy tội lỗi. Sức mạnh biến đổi của cuộc thương khó đã bắt đầu.

Như đã nói ở trên, thánh Gio-an không chỉ kể lại sự hiện diện của các phụ nữ, mà còn nhắc đến sự có mặt của môn đệ mà Chúa Giêsu thương yêu, và đặc biệt nhấn mạnh đến sự hiện diện của thân mẫu Chúa Giêsu, Mẹ Maria – người Mẹ cao quý.

  • Sự hiện diện của Mẹ bên Thánh Giá, cùng niềm hy vọng và lời xin vâng.

Nếu chúng ta chiêm ngắm Mẹ Maria đứng dưới chân Thánh Giá của Chúa Giê-su, người phụ nữ đang nhìn người con duy nhất của mình, bị những người ác nhân kết án tử và đóng đinh trên Thánh Giá, chúng ta sẽ cảm nhận được tâm trạng của Mẹ: run rẩy, đau xót về những gì Mẹ đã chứng kiến trên con đường khổ nạn của con.

Truyền thống Kitô giáo, qua việc chiêm ngắm Mẹ trong khung cảnh đó, đã nhận thấy kinh nghiệm đau khổ tột cùng của Mẹ. Nhưng Mẹ hiện diện dưới Thánh Giá không rũ rượi, khi thấy con mình đang chết đau đớn, nhưng mẹ “đứng”, trong một tư thế rất kiên vững. Thế “đứng” của Đức Mẹ đã là đề tài cho bao người chiêm ngưỡng và suy gẫm: Stabat Mater dolorosa – Mẹ sầu bi đứng dưới chân Thánh Giá! Đó là bài thơ bằng tiếng La-tinh, được viết trong thời Trung Cổ. Dưới đây là một phỏng dịch từ tiếng La-tinh:

Mẹ đứng dưới chân thánh giá con yêu,

Tâm can nát tan Mẹ chết trăm chiều,

Gần bên Chúa trong giờ tử nạn.

Mẹ diễm phúc của Con một Cha,

Đấng tạo dựng đất trời,

Buồn thương và thảm thiết biết bao!

Đức Kitô chịu hành hạ trên cao,

Bên dưới Mẹ đứng nhìn xót xa,

Thấy Con chết anh hùng, tử đạo.

Hỡi những kẻ đi đường lơ đễnh,

Hãy trông xem Hiền Mẫu chúng ta

Đau xót nào sánh bằng của Mẹ?

Trái tim ai chịu nổi được không?

Mà chẳng hề chia sớt với Mẹ

Nỗi đau tày biển rộng trời cao?

Hội Thánh áp dụng lời này cho Mẹ Sầu Bi, như khi nói về Đức Giêsu, Hội Thánh áp dụng thân phận cô gái héo hắt Si-on: ‘Này tất cả những ai qua lại, hãy nhìn kỹ mà xem, có nỗi khổ nào so sánh được với nỗi khổ Đức Chúa giáng trên tôi?’ (Ac 1,12)”.[5]

Giáo hội hô lớn với ngôn sứ Giê-rê-mia, tổ phụ của mình rằng: ‘Tai họa ngươi mắc phải lớn quá rồi, lớn tựa trùng dương ai chứa nổi?’ (Ac 2,13).

…Cuộc đời của Mẹ Maria luôn kết hợp với những nỗi khổ đau của Chúa Giê-su, con Mẹ. Có lẽ không đau khổ nào lớn hơn đau khổ của chính Đức Mẹ Thiên Chúa, Đấng mà theo lời của Thánh Gioan, “đã đứng kề bên thập tự giá Đức Chúa Giêsu” (Ga 19,25) trên đồi Canvê. Không ai hiểu con cho bằng người mẹ, và cũng không ai đau khổ hơn người mẹ khi phải chứng kiến sự đau khổ và cái chết của con mình.

Cũng nên nhắc đến bài thánh ca của linh mục Kim Long Mẹ đứng đó, “Mẹ đứng đó khi hoàng hôn tím mầu. Nhạc thương trầm buông hắt hiu. Đồi cao u hoài loang máu đào. Con Chúa đau thương treo trên Thánh Giá. Hiến thân vì nhân loại tội tình. Mẹ đứng đó tâm hồn tê tái sầu. Đồng công cùng con dấu yêu. Vì thương nhân loại bao khốn cùng. Xin dẫn đưa bao tâm hồn lạc hướng về bên Mẹ, Mẹ ơi!”

Sandro Vitalini suy niệm như sau: “Tư thế của Mẹ khi đứng cạnh Thánh Giá phải diễn tả một tâm hồn đặc biệt là ngần nào. Mẹ ý thức rằng thời điểm để hạ sinh một tân nhân loại đã điểm, và từ lòng Mẹ một niềm vui đã tuôn trào từ trái tim tan nát, đau đớn của Mẹ. Mẹ biết rằng qua cái chết rùng rợn của đầy tớ thống khổ của Gia-vê mà nhiều người được công chính hoá (x.Is 53,11), và cái chết nhân loại đã bị cái chết của Đức Giê-su tiêu huỷ đi cách vĩnh viễn (x.1Cr 15,53)”.[6]

Hồng Y Cantalamessa diễn tả thật tuyệt vời về sự đau khổ của Mẹ trên đường thương khó và ở dưới Thánh Giá: “Ðức Maria cũng đã uống cạn chén khổ nạn. Có thể nói về Người như đã nói về Nữ Tử Sion, Người “đã uống chén lôi đình từ tay Giavê, Người đã uống, đã nốc cạn ly (x.Is 51,17). Nếu bên khổ giá Ðức Giêsu, trên Núi Sọ, có Maria Mẹ Ngài, thì điều đó có nghĩa là trong những ngày đó Người có mặt tại Giê-ru-sa-lem, đã chứng kiến tất cả, đã tham dự vào tất cả cuộc khổ nạn. Người đã nghe thấy tiếng la hét: ‘Không phải hắn mà là Baraba!’; Người đã thấy Ecce homo; Người đã nhìn thấy thịt bởi thịt mình bị đòn roi, đẫm máu, bị đội vòng gai, nửa thân trần trụi trước đám đông dân chúng, Người đã chứng kiến tấm hình hài đó run rẩy, co giật bởi những cơn rùng mình của cái chết. Người đã nghe tiếng búa nện và những lời lăng nhục: ‘Nếu mày là Con Thiên Chúa’. Người đã nhìn thấy những tên lính chia nhau áo xống của Ngài, cả tấm áo trong mà chính tay Người đã dệt. Tâm tình đạo đức Kitô giáo quả đã không lầm khi áp dụng cho Ðức Maria những lời mà Nữ Tử Si-on thốt lên trong nỗi buồn sầu đau đớn: ‘Hỡi những khách qua đường, hãy trông xem: có đớn đau nào như nỗi đớn đau hành hạ thân tôi’ (Ac 1,12). Nếu Thánh Phaolô đã có thể nói: ‘Tôi mang nơi thân mình tôi những vết hằn của Ðức Giêsu’ (Ga 6, 17), thì Ðức Maria có thể nói đến thế nào nữa? Ðức Maria là người đầu tiên trong Kitô giáo được in thương tích vô hình, hằn sâu trong trái tim, như sau này sẽ xảy ra nơi các thánh nam nữ”.[7]

Tuy nhiên, thật là thiếu sót, nếu chỉ dừng lại ở sự khổ đau của Mẹ tại Thánh Giá, bởi vì từ Thánh Giá Chúa, từ chính trong khổ đau và cái chết của Chúa luôn có tia sáng hy vọng đang âm ỉ cháy. Thật vậy, ba lần Chúa Giêsu loan báo về cuộc thương khó Ngài phải chịu, thì trong cả ba lần sứ điệp Phục Sinh luôn được Ngài nhắc tới. Cantalamessa nhắc nhớ: “Hình ảnh về Ðức Maria dưới chân Thập Giá, như hình ảnh gợi hứng từ bài Stabat Mater (Mẹ đứng đó), trong đó Ðức Maria chỉ có ‘buồn và sầu khổ’ mà thôi, chỉ còn là Người Mẹ sầu khổ (Mère des douleurs), hình ảnh đó sẽ rất thiếu sót, không đầy đủ vì như thế là không lý gì đến sự kiện chính Gioan trình bày hình ảnh đó, và theo Gioan, Thánh Giá còn hàm chứa giá trị vinh quang và của chiến thắng. Trên Núi Sọ, Ðức Maria không chỉ là ‘Mẹ sầu bi’ mà còn là Người Mẹ cậy trôngMater spei, như một thánh thi của Giáo Hội đã cầu khẩn Người…

Thánh Phaolô khẳng định về Abraham trong thử thách: đó là ‘tuyệt vọng mà vẫn một niềm cậy trông, ông đã tin’ (Rm 4,18). Lời tuyên bố này áp dụng cho Ðức Maria dưới chân Thánh Giá lại càng đúng hơn: tuyệt vọng mà vẫn một niềm cậy trông, Mẹ đã tin. Tuyệt vọng mà vẫn một niềm cậy trông là gì nếu không phải là ‘chẳng còn là lý do gì để hy vọng, ở trong một tình cảnh hoàn toàn bị tước hết mọi hy vọng, xét trên bình diện nhân loại, và hoàn toàn đối nghịch với lời hứa, nhưng không vì thế mà vơi niềm cậy trông, chỉ duy còn dựa vào lời hy vọng mà Thiên Chúa đã phán vào thời của Người… Một lần nữa, chúng ta hãy nhìn về Người đã biết đứng bên Thánh Giá, tuyệt vọng mà vẫn một niềm cậy trông, hãy biết năng kêu cầu Người dưới danh hiệu ‘Mẹ cậy trông’, và nếu lúc này ta đang gặp thử thách, muốn thất vọng buông xuôi, thì hãy lấy lại bình tĩnh bằng cách lập lại cho chính mình những lời này: Quả ơn nghĩa Giavê không hết, lòng thương xót của Người không cạn, nên tôi trông cậy vào Người”.[8]

Sự hiện diện và đau khổ tột cùng của Mẹ, và niềm hy vọng vững vàng của Mẹ tại Thánh Giá, một cách nào đó diễn tả sống động quyết tâm sống lời xin vâng của Mẹ. Khi Mẹ nói lời xin vâng với Thiên Chúa qua sứ thần Gabriel, thì Mẹ đã sẵn sàng đi vào con đường mà Thiên Chúa chuẩn bị cho Mẹ. Con đường hẹp của người phụ nữ mang thai không được ngôi nhà nào đón tiếp, để có thể sinh con trong mái ấm của cuộc đời, mà cuối cùng phải sinh con trong hang bò lừa hôi hám và lạnh lẽo. Con đường của người Mẹ cùng với chồng là thánh Giuse phải đưa con mình là hài nhi Giêsu chạy trốn qua Ai-cập, thoát khỏi sự lùng sục bắt bớ với âm mưu triệt hạ hài nhi của vị vua trần thế. Con đường xin vâng của Mẹ là con đường tuân theo thánh ý Chúa, con đường hẹp nhiều chông gai. Con đường đó kéo dài cho đến cuộc tử nạn của Chúa Giêsu.

Ở đoạn cuối này, lời xin vâng của Mẹ ngày xưa vẫn không thay đổi, hay có thể nói mạnh mẽ hơn nữa. Mỗi bước chân Con của Mẹ lê bước vác Thánh Giá, đều có bước chân của Mẹ dõi theo, đồng hành và sẻ chia. Ở tại cây Thánh Giá, nơi con Mẹ đang bị treo đau đớn, lời xin vâng của Mẹ mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Thật vậy, sự hiện diện của Mẹ bên Thánh Giá cho thấy, Mẹ quyết tâm chia sẻ trọn vẹn sứ mạng và hy lễ cứu độ của Con Mẹ là Chúa Giê-su. Mẹ muốn tham dự vào tận đáy sâu thẳm những thống khổ mà Chúa Giêsu chịu. Mẹ không khước từ lưỡi gươm cụ già Si-mê-on ngày xưa tiên báo cho Mẹ: “Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35b). Mẹ luôn nói lời xin vâng với Thiên Chúa, cụ thể trong chương trình huyền nhiệm của Chúa Cha dành cho Chúa Kitô. Cantalamessa đã cảm được tâm tình xin vâng của Mẹ Maria, cụ thể qua sự thinh lặng của Mẹ dưới chân Thánh Giá: “Ngôn ngữ của Thánh Giá là thinh lặng. Thinh lặng giữ hương thơm của hy tế cho riêng Thiên Chúa mà thôi. Nó giữ cho đau khổ không bị tiêu tán, không tìm kiếm và tìm thấy phần thưởng đền bù nơi trần thế này.

Nếu Ðức Maria có chịu cám dỗ như Ðức Giêsu đã từng chịu trong sa mạc, thì phải là và nhất là dưới chân Thánh Giá: một cơn cám dỗ vào loại thâm hiểm nhất mà cũng là đau đớn nhất, bởi lẽ chính Ðức Giêsu lại là căn cớ. Người đã tin vào các lời hứa, Người tin rằng nếu Ðức Giêsu cầu xin thì hẳn Chúa Cha sẽ gởi đến cho Ngài ‘hơn mười hai cơ binh thiên thần’ (x.Mt 26,53). Thế mà Ðức Giêsu đã không làm gì cả. Nếu Ngài tự cứu mình khỏi Thánh Giá thì cũng là cứu Người khỏi nỗi đau đớn khủng khiếp. Thế nhưng Ðức Maria đã không kêu: ‘Hãy xuống khỏi Thánh Giá đi, Con hãy tự cứu mình mà cũng là cứu cả Mẹ nữa !’. Người cũng không nói: ‘Con cứu bao nhiêu người khác, thế sao bây giờ không thể tự cứu mình nữa, hở Con?’. Dù rằng một ý nghĩ, một niềm ao ước như thế tự nhiên phải nẩy lên trong tâm hồn người mẹ, đó là điều dễ hiểu, thế nhưng Người thậm chí cũng không hỏi Ðức Giêsu: ‘Này Con, tại sao Con làm thế với cha mẹ?’, như khi xưa, lúc Người tìm được Ðức Giêsu trong Ðền Thờ (x.Lc 2,48). Maria lặng thinh dự phần vào hy lễ của Con, với tấm lòng của một Người Mẹ hết tình ưng thuận hiến tế lễ vật do lòng mình sinh ra, lời của Công Ðồng Vatican II. Người đã cùng với Ðức Giêsu cử hành lễ Vượt Qua của Ngài”.[9]

Ðức Maria hiệp nhất với hy tế của Con mình, cách nhìn đó đã được diễn tả cách đúng mức, giản dị và trang trọng trong một bản văn Công Ðồng Vatican II: “Như thế, Ðức Trinh Nữ cũng tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin, trung thành hiệp nhất với Con cho đến bên Thập Giá, là nơi mà theo ý Thiên Chúa, Người đã đứng ở đó. Ðức Maria đã đau đớn chịu khổ cực với Con Một của mình và dự phần vào hy lễ của Con, với tấm lòng của một người mẹ hết tình ưng thuận hiến tế lễ vật do lòng mình sinh ra” (Lumengentium 58). Thật vậy, lời xin vâng của Mẹ đã gặp lời xin vâng của Chúa Giêsu trong hành trình sứ vụ của Ngài, ngay trong biến cố Chúa làm phép lạ đầu tiên ở Cana, và kết thúc với con đường Thánh Giá.

  • Cana và Thánh Giá – Tiệc cưới giữa Thiên với Trần.

…Trước hết, khi chiêm ngắm lại biến cố Ca-na, chúng ta có thể nhận ra Mẹ Maria là Mẹ của sự biến đổi. Thật vậy, qua Mẹ mà Chúa Giê-su con Mẹ đã biến những lu nước thành rượu ngon, cứu vãn đôi tân lang và tân nương thoát khỏi một hoàn cảnh tế nhị của việc hết rượu trong buổi tiệc cưới.

Một ý nghĩa sâu xa hơn ở tại Ca-na, là Thiên Chúa qua việc nhập thể của Chúa Giêsu đang cùng nhân loại chúng ta mừng tiệc cưới, Thiên Chúa muốn nối kết với nhân loại chúng ta, Ngài muốn ban cho chúng ta một hương vị mới, hương vị của rượu ngon, hương vị của tình yêu. Trong sách Khải Huyền có viết:

Nào ta hãy vui mừng hoan hỷ

dâng Chúa lời tôn vinh,

vì nay đã tới ngày cử hành hôn lễ Con Chiên,

và Hiền Thê của Người đã trang điểm sẵn sàng,

nàng đã được mặc áo vải gai sáng chói và tinh tuyền” (19,7-8) 

Và tôi thấy Thành Thánh là Giê-ru-sa-lem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang” (21,2).

Trong ý nghĩa này, chúng ta cảm nhận được rằng, với câu chuyện ở Cana, Chúa Giê-su đến dự tiệc cưới để chúc mừng đôi tân hôn, để chia sẻ và nâng đỡ đôi tân hôn. Nhưng không chỉ như vậy, Chúa Giê-su tham dự một hôn lễ, mà mục đích của toàn bộ công trình của Chúa là gì, nếu không phải là chuẩn bị một hôn lễ khác – hôn lễ kết hợp Thiên Chúa với nhân loại? Hơn nữa, khi dự hôn lễ ở Cana, Chúa Giêsu đã làm một phép lạ thật “tràn đầy” và phong phú với vị ngon hảo hạng của rượu từ trong chum nước. Đó là dấu lạ tuyệt vời của lòng thương xót. Lòng thương xót đã biến những giọt nước thành rượu ngon hảo hạng. Thật phong phú và dồi dào biết bao nhiêu ân sủng của Thiên Chúa.

…Tình yêu của Chúa dành cho nhân loại ở tiệc cưới Ca-na, đã tìm được sự dồi dào phong phú và hoàn tất nơi Thánh Giá của Chúa Giêsu. Như thế, cái chết của Chúa trên Thánh Giá là sự hoàn tất của tiệc cưới giữa Thiên Chúa và nhân trần.[11]

Hơn nữa, tại Thánh Giá, sự vinh hiển của Thiên Chúa tỏ hiện ở tại Ca-na đã tìm được sự hoàn tất của nó. Và tại Thánh Giá của Chúa, mọi sự, ngay cả sự chết, ngay cả tội lỗi của chúng ta cũng được đón nhận vào trong tình yêu của Thiên Chúa. Vâng, không có gì nơi nhân loại có thể vượt ra khỏi sự đụng chạm của tình yêu Thiên Chúa nơi Thánh Giá Đức Kitô. Cũng thế, tất cả mọi sự tương phản của thế giới này tìm thấy được sự hiệp nhất tại Thánh Giá của Ngài. Ở Ca-na, Mẹ Maria là cánh cửa, Chúa Giê-su qua cánh cửa đó để bước vào thế giới. Dưới Thánh Giá, Mẹ cũng là cánh cửa, qua đó Chúa Giêsu đi vào trong vinh quang của Cha mình.[12]

Hơn nữa, dưới Thánh Giá, người phụ nữ thành Na-gia-rét, cũng trở thành người Mẹ của những người tin, qua tâm tình nhắn gởi của Chúa Giê-su, Con Mẹ.

  • Thưa Bà, đó là con Bà.

Trở về lại với biến cố truyền tin, chúng ta lắng nghe sứ thần Gáp-ri-en chào Mẹ tại Na-gia-rét: “Kính chào Bà đầy ân phúc” (Lc 1,28). Lời chào này một cách nào đó cũng soi sáng cho khung cảnh của Chúa chịu đóng đinh trên đồi Sọ. Biến cố Truyền tin báo hiệu một khởi đầu, Thánh Giá diễn tả một kết thúc. Trong cảnh Truyền tin, Mẹ Maria trao ban bản tính loài người cho Con Thiên Chúa trong cung lòng Mẹ; dưới chân Thánh giá, Mẹ đón nhận toàn thể nhân loại vào tâm hồn Mẹ qua lời trao gởi của Chúa Giêsu: Thưa Bà, đó là con bà. Chúa Giê-su muốn Mẹ đón nhận thánh Gio-an là người môn đệ Chúa yêu thương, trở thành đứa con của Mẹ. Chúa muốn đem lại cho Gio-an một mái ấm mới, một quê hương mới với người Mẹ luôn yêu thương chăm sóc con mình.[13] Nói cách khác, vào lúc đầu tiên của biến cố nhập thể, thiếu nữ thành Na-gia-rét đã trở thành Mẹ Thiên Chúa, thì trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời Chúa Giêsu – Con Mẹ, Mẹ trở thành Mẹ của những người tin, Mẹ Giáo Hội, Mẹ của nhân loại.

…Về điều này, Giáo Lý Hội Thánh viết rằng, Ðức Ma-ri-a kết hợp với Chúa Kitô, đó là nền tảng vai trò của Mẹ đối với Hội Thánh. Sự liên kết giữa Mẹ và Con trong công cuộc cứu độ được tỏ rõ từ khi Ðức Maria thụ thai Chúa Kitô cách trinh khiết, cho đến lúc Chúa Kitô chết; đặc biệt trong cuộc khổ nạn (x.GLHTCG số 964).[14]

Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội (LG – Lumen Gentium) của Công Đồng Vaticannô II, cũng nói rằng: “Ðức Trinh Nữ tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin, trung thành hiệp nhất với Con cho đến bên Thánh Giá, là nơi theo ý Thiên Chúa, Mẹ đã đứng ở đó (x.Ga 19,25). Ðức Ma-ri-a chịu đau khổ kinh khủng với người Con duy nhất của mình, dự phần vào hy lễ của Con, với tâm tình của người mẹ ưng thuận hiến dâng lễ vật do lòng mình sinh ra, để cuối cùng khi hấp hối trên Thánh Giá, Chúa Giê-su Ki-tô đã trối Mẹ làm Mẹ của môn đệ: Thưa Bà, này là con Bà (Ga 19,26-27)” (số 58).[15]

Còn đối với Cantalamessa thì: “Như thế, dưới chân Thánh Giá, Ðức Maria xuất hiện như là Nữ Tử Si-on, sau khi chịu tang các con mình, đã được Thiên Chúa ban cho một dòng dõi mới, không theo xác thịt nhưng theo Thần Khí, một dòng dõi đông hơn dòng dõi ban đầu. Ðây là điều mà một thánh vịnh được phụng vụ áp dụng cho Ðức Maria nói lên: ‘Kìa xứ Philitinh, thành Tyr cùng miền Ethiopi, tại đó kẻ này người nọ đã sinh ra’. Nhưng về Si-on, người ta có thể nói: ‘Người người sinh tại đó’. Chúa ghi vào sổ bộ các dân: ‘Kẻ này người nọ đều sinh ra tại đó’ (Tv 87,2tt). Ðúng vậy: tất cả chúng ta đều sinh ra tại đó, mọi người đã sinh ra. Cả tôi, cả bạn”.[17]

Theo Cantalamessa, “ở đây chúng ta khám phá thấy một khía cạnh quan trọng trong hành trình thiêng liêng của Mẹ Thiên Chúa. Một lần nữa, ta thấy Người như khách kiều cư lữ thứ trong thế giới này, không mái ấm, không nơi ở thực sự là của mình trên trần gian. Người để cho Thiên Chúa ‘đặt định’ thời gian sinh Con, khi Lời Chúa đặt Người vào trong hoàn cảnh hoàn toàn cô đơn trước mọi người, Thiên Chúa yêu cầu Giuse đón nhận Ðức Maria: ‘Giuse, con của Ðavít, ngươi chớ sợ cưới Maria vợ ngươi về nhà’ (Mt 1,20). Tỉnh giấc, Giuse đã đem Người về nhà mình. Giờ đây, lúc Con chết, một lần nữa Người lại đơn độc trong cuộc đời. Thiên Chúa yêu cầu Gioan đem Người về nhà mình và ‘Gioan từ giờ ấy đã lãnh lấy Bà về nhà mình’. Maria quả là người phụ nữ lênh đênh, không bám vào đâu cả, từ đầu đến cuối, Người để cho Thiên Chúa quyết định cuộc đời mình. Ðối với chúng ta, Người như hiện thân của nghèo khó, Ðức Bà Nghèo Khó”.[19] Đức Bà nghèo khó là Mẹ của Chúa Giê-su và của chúng ta. Thật đẹp biết bao mẫu gương của người Mẹ có tâm hồn nghèo khó đứng dưới chân Thánh Giá.

Ở gốc cây biết lành biết dữ, Evà đã mất chức làm mẹ loài người.

Ở dưới chân Thánh giá, Đức Mẹ đón nhận chức vị làm Mẹ loài người.

…Như thế, qua hành động của Chúa Giêsu, Giáo Hội đã khám phá đôi chút về mầu nhiệm đời sống Kitô hữu. Người tín hữu là thành viên của một gia đình thiêng liêng. Cũng như một đứa trẻ cần có cha có mẹ để phát triển bình thường, thì người tín hữu cũng cần có Đức Maria và Cha trên trời.[20]

Ngoài ra, Cantalamessa cũng giúp suy niệm thêm về sự hiệp thông giữa Mẹ Maria và Chúa Giê-su qua lời Chúa nói với Mẹ: “Hỡi Bà, này là con Bà!, chắc chắn Ðức Giêsu đã quay về nhìn Mẹ, đến nỗi không cần phải gọi tên của Người. Ai có thể thấu được ánh mắt đó giữa Mẹ và Con, trong giây phút như vậy. Mọi nỗi đau khổ của con người đều hàm chứa một chiều kích ‘riêng tư’ thân thiết, và người ta chia sẻ đau khổ theo ‘gia đình’, giữa những người gắn bó với nhau bằng mối dây máu mủ ruột thịt. Niềm đau khổ của Ðức Kitô và của Ðức Maria cũng đã được chia sẻ như thế! Một niềm vui trong đau đớn tột cùng chuyển thông giữa hai người như nước trong hai bình thông nhau. Niềm vui đến từ việc, từ đây, các Ngài chẳng những không còn chống chọi lại nỗi đau đớn, mà ngay cả để cho nỗi đau đó tự do xâm nhập vào tận những gì thâm sâu nhất. Sau cuộc chiến đấu là niềm bình an. Các Ngài nên một với đau khổ và tội lỗi của toàn nhân thế. Ðức Giêsu nên một cách trực tiếp trong tư cách là ‘hy lễ đền tạ tội lỗi của thế gian’ (x.1Ga 2,2). Còn Ðức Maria thì một cách gián tiếp, qua sự kết hiệp với Con bằng cả thân xác và tâm hồn”.[21]

  • Này là Mẹ của con.

Đó là lời Chúa nhắn nhủ với Gio-an, môn đệ Chúa yêu thương. Khi đọc lời trên, chúng ta thấy rằng, trong cái nhìn đầu tiên mang tính con người, Chúa Giêsu đã diễn tả tình yêu của mình dành cho Mẹ Maria. Chúa là người con duy nhất của Mẹ, và sau khi Chúa chết, Mẹ sẽ sống lẻ loi một mình trên thế giới này. Có lẽ vì lo cho người Mẹ đang chịu nhiều đau khổ và mất mát, Chúa đã trao gởi Mẹ cho người môn đệ mà Chúa tin tưởng và thương yêu. Gio-an, tên người môn đệ đó, giờ đây trở nên người con trai của Mẹ, và Gio-an cần phải có trách nhiệm với Mẹ Maria.[22]

Chrysostom nói rằng: “Quân lính làm những điều đó với Chúa Giê-su, nhưng trong khi bị treo trên Thánh Giá, Chúa đã giao phó Mẹ của Ngài cho người môn đệ. Điều đó dạy dỗ chúng ta cũng cần chú ý chăm sóc cha mẹ của chúng ta cho đến hơi thở cuối cùng…Ở đây, Chúa đã diễn tả Chúa thương yêu Mẹ của Ngài hết mực và trao phó Mẹ cho người môn đệ mà Chúa yêu mến”.[23]

Điều Chúa Giê-su làm thật là một cử chỉ cao quý. Có lẽ thánh Giuse đã qua đời trước đó, nên Chúa không muốn Mẹ mình phải sống trong cảnh goá phụ bị lệ thuộc và cô đơn, cũng như bị người đời nguyền rủa, bởi vì trong xã hội Do-thái thời đó người phụ nữ đơn chiếc là coi như bị nguyền rủa.

Chúa không muốn người phụ nữ quá đau đớn vì mất con, và đã phải trải qua biết bao thống khổ khi đồng hành với con trên đường Thánh Giá, lại phải một mình chìm trong nỗi đau khổ tột cùng, trong những tháng ngày còn lại của bà. Cũng thật cao quý biết bao, khi Chúa Giê-su trong hoàn cảnh đau khổ của mình trên Thánh Giá, Ngài đã không nghĩ làm sao để Ngài có thể đỡ đau đớn, mà Ngài lại quên mình đi, và nghĩ tới Mẹ mình, nghĩ tới người khác đang đứng kia với một tâm hồn sầu não thảm thê. Đó là tình yêu của Chúa dành cho Mẹ. Một tình yêu không chỉ mang sắc thái của tình cảm con người, mà còn mang tinh thần quên mình đi, và luôn chú ý và chăm sóc người khác, người gần nhất cũng như người xa nhất.

Karl Rahner đã suy niệm như sau: “Đôi mắt của Chúa nhìn Mẹ lần nữa. Chúa ơi, Chúa đã không hờ hững với Mẹ. Chúa không chỉ là niềm vui của cuộc sống của Mẹ. Chúa cũng là sự đắng cay và đau khổ của cuộc sống của Mẹ. Nhưng cả hai điều này đều là hồng phúc, vì cả hai đều là tình yêu. Và vì Mẹ đều ở bên Chúa và Mẹ phục vụ Chúa trong niềm vui và trong khổ đau, nên Chúa đã yêu thương Mẹ. Trong tinh thần đó, Mẹ thật là Mẹ của Chúa…Trong sự thống khổ quằn quại, tình yêu của Chúa một lần nữa lại tỉnh táo cho sự trìu mến đang được trao gởi trong tình Mẹ Con. Vì trong chính sự chết của Chúa, những điều âu yếm trìu mến và cao quý trên trái đất này vẫn được thánh hiến. Những sự trìu mến và cao quý đó làm cho mọi trái tim mềm đi và đẹp hơn”.[24]

Dừng bước ở nơi đây, chúng ta cũng nên hỏi xem: khi chúng ta suy tư lời Chúa Giê-su nói Này là Mẹ của con, và hướng về tương quan giữa Mẹ Maria và chúng ta, thì chúng ta phải hiểu thế nào là làm con cái của Mẹ Maria? Chắc chắn chúng ta không phải là con cái Mẹ theo “chiếc cầu sinh vật học”, mà chúng ta có một “tình mẫu tử thiêng liêng” với Mẹ. Đối với Vitalini tình mẫu tử cao quý này được hiểu trong nhãn quan của Thánh Thần: “Từ ngữ ‘mẫu tử thiêng liêng’ phải được hiểu trong một ý nghĩa sâu xa hơn. Chúng ta là con cái của Mẹ, vì chúng ta là em của Đức Giê-su, được thông hiệp với Ngài do mối tình huynh đệ mạnh mẽ hơn là cái gì thuộc về xác thịt và máu huyết, vì nó tuôn trào từ Chúa Thánh Linh Đấng ban phát sự thật (Ga 3,5-8). Dĩ nhiên là chúng ta không được Đức Mẹ sinh ra bằng xác thịt, nhưng chúng ta được hưởng sự thông hiệp của Mẹ trong một cuộc sinh khác đến từ Chúa Thánh Linh”.[25]

Được là con của Mẹ Maria, thật là cao quý biết bao. Và cao quý hơn nữa, khi chúng ta được mời gọi sống ơn gọi của mình cách xứng hợp. Vitalini chia sẻ tiếp: “Tình mẫu tử của Mẹ Maria rất sâu xa và phổ quát cũng biểu lộ sự cao trọng của chúng ta: Chính trong ơn gọi của Mẹ mà người ta khám phá ra ơn gọi của con cái của người. Mối dây liên đới tận tuỵ mà chúng ta có với Mẹ chính là mối dây theo gót chân Mẹ vào lúc mà Thánh Linh được ban cho chúng ta (Ep 5,1; 1Tx 2,14; 2Tx 3,7). Các cử chỉ bên ngoài của sự tận tụy chỉ có ý nghĩa khi nó đâm rễ sâu trong một thái độ yêu mến giúp chúng ta bước theo mẫu gương đã được ban cho chúng ta. Một người mẹ được con cái ca tụng nếu con cái là một món quà, nhưng điều này chỉ trở nên mật thiết nếu món quà ấy diễn tả sự chú tâm bên trong của người con đối với ý muốn của người mẹ, khi bà muốn giáo dục con cái mình bằng lối tiệm tiến để con cái mỗi ngày nên tốt hơn. Một người mẹ được coi là hạnh phúc, nếu bà thấy con cái của mình không những giúp đỡ về phần xác, nhưng nhất là phần thiêng liêng, vì chính trong tác động ấy mà con cái kín múc được những phần tốt nhất nơi bà”.[26]

Vì thế, nếu chúng ta muốn làm con cái đích thực của Mẹ Maria, nếu chúng ta muốn làm cho Mẹ vui mừng và hài lòng, chúng ta cần cố gắng để trở nên giống Mẹ trong đời sống Đức Tin, đặc biệt với đời sống luôn “xin vâng” theo thánh ý Chúa, đời sống luôn âm thầm hướng theo Chúa Giê-su, Con của Mẹ.

Tóm lại, “hình ảnh của Đức Mẹ phải trở nên cho chúng ta một lời nhắc nhở hằng ngày để thực hiện ơn gọi của mình, đó là trở nên người con của Mẹ… Một trong những điều đầu tiên để chúng ta trở nên con cái của Mẹ, là chúng ta mở rộng cánh cửa để đón mời Mẹ.

  • Mở rộng cánh cửa đón mời Mẹ.

Khi Chúa Giêsu trao phó cho Gioan Mẹ của Người, Gioan đã phản ứng như thế nào? Đọc phần kế tiếp, ngay sau lời Chúa nói với Gioan, chúng ta thấy rằng: “Kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,27b). Trong bản văn của tiếng Hy-lạp là eis ta idia. Theo cha A. Gruen, thì có nghĩa là vào trong nội tâm của anh, vào trong trái tim của anh.[29] Còn theo Đức BenedictoXVI, thì có nghĩa theo mạch chữ là anh ta đón nhận Mẹ vào trong nơi sâu kín của anh, vào cuộc sống nội tâm của anh.[30] Theo nhà Thánh Kinh học Schnackenburg cũng vậy. Từ ngữ eis ta idia diễn tả không gian của tâm hồn.[31]

Còn Cantalamessa thì giải thích rằng: “Câu ‘và môn đồ đã lĩnh lấy Bà về nhà mình’ (els tu ídin) trong nguyên bản có thể có hai nghĩa, và tất nhiên phải bảo tồn cả hai nghĩa đó. Môn đồ đã lĩnh lấy Bà về nhà mình và môn đồ đã nhận Bà vào số những gì mình quý giá nhất. Người ta rất ít nghĩ đến tất cả sự phong phú của câu văn thật ngắn ngủi đó. Nó chứa đựng bên trong một tin có tầm quan trọng lớn lao và được bảo đảm về mặt lịch sử, bởi nó được chính người có liên quan viết ra. Ðức Maria đã sống những năm cuối đời với Gioan. Những điều chúng ta đọc thấy trong Tin Mừng thứ Tư, về Ðức Maria ở Cana xứ Ga-li-lê và dưới chân Thánh Giá, thì đã được người sống dưới cùng một mái nhà với Ðức Maria viết ra.”.[32] Gio-an đã mở rộng cánh cửa đón mời Mẹ Maria vào. Cánh cửa đó không chỉ là cánh cửa nhà của ông, mà là cánh cửa tâm hồn sâu kín của ông. Như thế, Gioan đã sống đúng điều mà Chúa Giêsu nhắn nhủ ông.

Hơn nữa, khi Chúa nói “Đây là Mẹ của con”, Chúa cũng muốn Gio-an hãy yêu thương Mẹ như Chúa đã yêu thương Mẹ. Qua di ngôn này Chúa Giê-su cũng đã đặt nền tảng cho việc yêu mến Mẹ Maria trong lòng Giáo Hội, trong lòng mỗi tín hữu.

…Công Đồng đã dạy rằng: “Phần các tín hữu hãy nhớ rằng, lòng tôn sùng chân chính không hệ tại ở tình cảm chóng qua và vô bổ, cũng không hệ tại một sự dễ tin phù phiếm, nhưng phát sinh từ một đức tin chân thật. Đức tin dẫn chúng ta đến chỗ nhìn nhận địa vị cao cả của Mẹ Thiên Chúa, và thúc đẩy chúng ta lấy tình con thảo yêu mến và noi gương các nhân đức của Mẹ chúng ta” (LG 67).[33]

Một trong những nhân đức cao quý của Mẹ là luôn thờ lạy Thiên Chúa và luôn xin vâng theo thánh ý của Ngài.  Vì thế, đi đôi với sự tôn sùng Mẹ Maria, người tín hữu luôn ý thức thờ lạy Thiên Chúa trên hết mọi sự, và thờ lạy Ngài là Thiên Chúa Duy Nhất. Đó chính là nét đặc trưng của người Công Giáo: biết đón nhận Mẹ Maria, nhưng không vì thế mà lãng quên Thiên Chúa của mình.

Khi đón nhận Mẹ Maria, người tín hữu ý thức đó là món quà vô giá mà chính Chúa Giêsu ban tặng. Thật tuyệt vời, khi người tín hữu nhận ra rằng: Vì yêu thương nhân loại quá đỗi, nên Cha trên trời đã tặng ban Người Con Duy Nhất của Ngài cho nhân loại. Giờ đây, Người Con Duy Nhất yêu thương nhân loại đến nỗi hy sinh chính bản thân mình cho nhân loại, và ban tặng thêm một món quà cao quý là chính Mẹ của Ngài.

Cantalamessa cũng chia sẻ: “Chúng ta đặt thêm câu hỏi: việc lãnh lấy Ðức Maria về nhà mình có ý nghĩa đối với chúng ta cụ thể như thế nào? Tôi thiết tưởng đây là lúc để nói về cốt lõi lành mạnh, giản dị của linh đạo Monfort về niềm tín thác vào Ðức Maria: ‘Thực hiện mọi hành động nhờ Ðức Maria, với Ðức Maria, trong Ðức Maria, ngõ hầu thực hiện chúng cách hoàn hảo hơn nhờ Ðức Giêsu, với Ðức Giêsu, trong Ðức Giêsu và vì Ðức Giêsu’. ‘Cần phải phó thác theo tinh thần của Ðức Maria để được thúc đẩy và dẫn dắt theo cách thức Người muốn. Phải tự đặt mình trong đôi tay trinh khiết của Người, như một dụng cụ trong tay người thợ, như chiếc đàn luýt (luth) trong tay người nhạc công tài tình. Phải buông mình phó thác cho Người như viên đá ném vào biển cả: điều này thực hiện cách đơn giản, trong một khoảnh khắc bằng chỉ một liếc mắt của tâm trí, một chuyển động nhỏ của ý chí hay bằng môi miệng’…

Ðức Maria là một trong những phương thế ưu việt mà Chúa Thánh Thần dùng để dẫn dắt các tâm hồn và dẫn đưa họ đến chỗ nên giống Ðức Kitô, bởi lẽ Ðức Maria là thành phần của Lời Chúa, chính bản thân Người là một lời bằng hành động (parole en action) của Thiên Chúa. Câu“ad Jesum per Mariam”, nhờ Ðức Maria tới Ðức Giêsu, phải được hiểu theo nghĩa Chúa Thánh Thần dùng Ðức Maria để dẫn đưa chúng ta tới Ðức Giêsu thì mới có thể chấp nhận được. Trung gian thụ tạo (médiation crée) của Ðức Maria, giữa Ðức Giêsu và chúng ta, sẽ tìm lại được tất cả hiệu lực của nó nếu được hiểu như là phương tiện của trung gian bất thụ tạo (médiation incrée) là Chúa Thánh Thần”.[34]

Chúng ta xin Chúa cho chúng ta biết luôn mở rộng cánh cửa nhà mình, cánh cửa tâm hồn mình ra, để như Gio-an đón Mẹ Maria vào, dọn cho Mẹ một chỗ xứng hợp. Có Chúa có Mẹ, thì đời sống người tín hữu sẽ không bao giờ lẻ loi. Có Chúa, có Mẹ người tín hữu sẽ tìm thấy được an bình và hạnh phúc đích thật. Có Chúa có Mẹ ở bên, tất cả mọi khổ đau của cuộc đời này sẽ không thể làm cho người tín hữu đánh mất chính bản thân. …

  • Đón nhận tình yêu để biết sống yêu thương.

Thánh Tê-rê-sa thành A-vi-la trong tác phẩm Đường hoàn thiện đã suy niệm: “Xin Chúa uy linh ban cho chúng ta tình yêu Chúa trước khi gọi chúng ta ra khỏi đời này! Thật là một ân huệ cao cả, khi giờ chết đến chúng ta được phán xét bởi chính Đấng mà chúng ta đã yêu mến trên hết mọi sự. Chắc chắn nợ chúng ta sẽ được trả sòng phẳng; chúng ta không đi vào miền nước xa lạ, nhưng về quê hương của chúng ta, chúng ta đi về xứ sở của Đấng mà chúng ta yêu mến dường ấy và được Ngài yêu mến”.[35]

Thật vậy, tình yêu Thiên Chúa là món quà cao quý nhất của cuộc sống làm người. Mong sao mỗi người chúng ta đón nhận được tình yêu đó, trước khi chúng được Chúa gọi về. Đi vào di ngôn, chúng ta cha A. Gruen giải thích[36], khi Chúa Giê-su trao phó Mẹ Maria cho Gio-an, người môn đệ yêu dấu của Ngài, thì Chúa muốn ban tặng tình yêu của Chúa trong Mẹ Maria cho mọi người. Người môn đệ yêu dấu của Chúa là hình ảnh biểu trưng cho mọi người. Như thế, trách nhiệm của chúng ta là đón nhận tình yêu Chúa vào trong nhà của chúng ta, vào trong tâm hồn chúng ta, vào trong nơi sâu kín nhất của cuộc đời chúng ta. Khi có tình yêu trong chúng ta, chúng ta sẽ trở thành những người có khả năng yêu thương. Chúng ta không còn phải sợ hãi nữa. Có tình yêu, có Chúa và có Mẹ trong căn nhà cuộc đời và trong sâu thẳm của tâm hồn chúng ta, thì nguồn sống và nguồn tình yêu đang ở trong chúng ta. Không có gì có thể lấy mất kho tàng vô giá đó. Qua việc suy niệm di ngôn Chúa nói với Mẹ và môn đệ yêu dấu của Ngài, chúng ta đụng tới nguồn của tình yêu đang ở trong chiều sâu tâm hồn chúng ta.

Chúng ta cũng ý thức rằng, nguồn tình yêu đó luôn bị đe dọa và nhấn chìm bởi những thế lực đến từ sự dữ, bởi những lo âu và đau khổ hằng ngày, cũng như bởi những áp lực của cuộc sống. Khi suy niệm di ngôn này, chúng ta để cho nguồn tình yêu trong sâu thẳm tâm hồn của chúng ta nổi lên, lộ rõ lên và sống động lên. Nhờ đó, chính nguồn tình yêu này bước vào trong sự ý thức của chúng ta, chảy sâu vào trong suy nghĩ của chúng ta, và hướng dẫn lời nói cùng hành động của chúng ta. Hơn nữa, nếu nguồn tình yêu này thấm nhuần những cảm giác của chúng ta, thì nó sẽ giúp chúng ta tìm được những tương quan tốt đẹp với người khác, với bạn bè, với người than, đặc biệt giúp chúng ta đi vào được tương quan với Chúa Giêsu, cụ thể giúp chúng ta ý thức luôn đứng bên Thánh Giá, như ngày xưa môn đệ yêu dấu của Chúa đã làm.

  • Đứng bên cây Thánh Giá.

… Ðứng bên khổ giá của Ðức Giêsu. Những từ đó nói cho chúng ta biết điều phải làm trước tiên và cũng là điều quan trọng nhất, không phải là đứng bên khổ giá theo nghĩa chung chung, mà là đứng bên khổ giá của Ðức Giêsu. Không phải chỉ cần đứng bên khổ giá, chịu đau khổ là đủ, ngay cả chịu đựng trong câm lặng đi nữa. Không! Nếu chỉ có như thế thì có vẻ anh hùng đấy nhưng đó chưa phải là điều quan trọng nhất, thậm chí có khi chẳng là gì cả. Ðứng bên khổ giá của Ðức Giêsu, đó mới là điều quyết định. Ðiều quan trọng không phải là thập giá của chúng ta mà là Thánh Giá của Ðức Kitô. Không phải sự kiện chịu đau khổ nhưng là lòng tin, và qua đó nhận đau khổ của Ðức Kitô làm của mình. Ðức tin mới là điều quan trọng hàng đầu. Ðiều cao cả nhất của Ðức Maria dưới chân Thánh Giá là lòng tin hơn là nỗi đau khổ của Người. Thánh Phaolô nói: lời của Thánh Giá ‘là quyền năng của Thiên Chúa và là khôn ngoan của Thiên Chúa đối với những ai được kêu gọi’. (x.1Cr 1,18.24). Ngài còn nói Tin Mừng là quyền năng của Thiên Chúa ‘đối với mọi kẻ tin’ (x.Rm 1,16).

 Ðứng bên khổ giá… Dấu hiệu và bằng chứng, là vác lấy Thánh Giá của mình và theo Ðức Giêsu (x.Mc 8,34). Dấu hiệu là thông phần vào các thống khổ của Ngài (x.Ph 3,10; Rm 8,17) là cùng chịu đóng đinh với Ngài (Ga 2,20), là lấy chính những đau khổ của mình, bù đắp những gì còn thiếu nơi các nỗi quẫn bách Ðức Kitô phải chịu (Cl 1,24). Ðời sống người Kitô hữu phải trở nên một hy tế sống động như hy tế của Ðức Kitô (x.Rm 12,1). Nhưng vấn đề không phải chỉ là nỗi đau khổ mình phải chấp nhận, phải chịu đựng, mà còn là đau khổ chủ động, tự ý tìm kiếm: “Tôi đối xử khắc nghiệt với thân xác tôi và bắt nó quỵ lụy phục tùng” (1Cr 9, 17).

Ðứng trước Thánh Giá và cuộc Khổ Nạn của Ðức Kitô, quả thật chúng ta thấy có hai thái độ khác biệt trong Giáo Hội: một thái độ đặc trưng của thần học Tin Lành, đặt nền trên đức tin và đón nhận đức tin trong tâm hồn, thái độ này dựa vào Thánh Giá Ðức Kitô và không muốn biết thứ vinh quang nào khác ngoài Thánh Giá Ðức Kitô. Thái độ thứ hai đặc biệt được khai triển, ít là trong quá khứ, trong thần học Công Giáo. Thái độ này nhấn mạnh đến việc cùng chịu đau khổ với Ðức Kitô, thông phần cuộc khổ nạn của Ngài và, như trường hợp một số vị thánh, sống lại cuộc khổ nạn của Ðức Kitô nơi bản thân mình.

Lời Chúa gợi cho thấy điều quan trọng không phải là lựa chọn giữa thái độ này hay thái độ kia, nhưng là giữ cho hai thái độ đó kết hợp với nhau và phát triển cả hai thái độ đó: thái độ tin và thái độ noi theo. Hiển nhiên vấn đề không phải là đặt công trình của Ðức Kitô và việc làm của chúng ta lên cùng một bình diện, nhưng là đón nhận lời Kinh Thánh, vì lời Kinh Thánh dạy rằng đức tin và việc làm gắn liền với nhau, nếu không thì dù là đức tin, dù là việc làm cũng ra vô ích (x.Gcb 2,14tt).

Có thể nói, vấn đề rõ ràng liên hệ đến đức tin. Niềm tin vào Thánh Giá Ðức Kitô phải trải qua đau khổ để trở thành đức tin chính thực. Thư thứ nhất Phêrô nhắc lại rằng đau khổ là ‘lò luyện’ đức tin, và đức tin cần đến đau khổ để được tinh luyện, như vàng trong lửa (x.1P 1,6-7). Nói cách khác, thập giá của chúng ta tự nó không phải là ơn cứu độ, không phải là quyền năng cũng chẳng phải là khôn ngoan, tự nó, thập giá chỉ thuần túy là việc làm của con người ngay cả là sự trừng phạt. Thập giá trở nên quyền năng và khôn ngoan của Thiên Chúa trong mức độ nó kết hợp chúng ta lại với Thánh Giá của Ðức Kitô, và điều này phải là do quyết ý của Thiên Chúa và gắn liền với đức tin.  

Trong bài thánh thi về Thánh Giá vũ trụ chúng ta đọc thấy: ‘Ðối với tôi, cây gỗ này là ơn cứu độ muôn đời. Tôi được dưỡng nuôi, được no thỏa bằng cây đó. Bởi rễ của nó mà tôi đâm rễ sâu, bởi cành của nó mà tôi vươn rộng; sương của nó làm tôi ngất say, và bởi Thần Khí của nó như làn gió tuyệt vời mà tôi thành phong nhiêu. Dưới bóng của nó tôi dựng lều và tìm được nơi ẩn náu khỏi nóng bức mùa hè. Nhờ hoa của nó mà tôi nở hoa, nhờ trái của nó mà tôi thỏa thuê vui sướng, tôi mặc sức hái ăn, bởi đó là trái dành cho tôi ngay từ thuở ban đầu. Cây gỗ đó là thức ăn cho cơn đói, nguồn suối cho cơn khát và là trang phục cho sự trần trụi của tôi. Cây gỗ đó bảo vệ tôi khi tôi e sợ Thiên Chúa, là chỗ dựa khi tôi lao đao, là phần thưởng khi tôi chiến đấu, là chiến lợi phẩm khi tôi chiến thắng khải hoàn. Với tôi, cây gỗ đó là lối nhỏ, là con đường hẹp, là chiếc thang Giacóp, là đường đi của thiên thần, trên đỉnh của nó Chúa thực sự đã tựa vào”.[38] …

  • Là một gia đình quây quần bên Thánh Giá.

Elizabeth Johnson, một nữ thần học gia Hoa Kỳ chia sẻ trong tập sách Truly our sister: A theology of Mary in the communion of saints: “Đứng dưới chân Thánh Giá, qua lời của Chúa Giêsu họ đã quay qua nhau và đã cho nhau sự chú ý và chăm nom…Cách nói ‘nhận đây’ hay “nhìn đây” diễn tả rằng, một điều chuẩn bị được tỏ bày, như Gioan Tẩy Giả đã kêu lên ‘Đây là chiên Thiên Chúa’ (Ga 1,36) và như Phi-la-tô lên tiếng ‘đây là vua các ngươi’ (Ga 19,14). Đón nhận lấy nhau trong một tương quan mới – Mẹ của Chúa Giê-su và người môn đệ được Chúa yêu mến, đã đánh dấu một ‘cuộc sinh ra’ của một gia đình mới của niềm tin, gia đình được hình thành trên hành trình theo Chúa Giê-su và Thiên Chúa giàu lòng thương xót…

Thật vậy, trong cuộc sống hôm nay, tất cả những người tin hiệp nhất với nhau làm thành một gia đình trong Thần Khí. Họ là cha mẹ, là con cái và là anh chị em của nhau. Ở dưới chân Thánh Giá, Mẹ Maria đã trở thành Mẹ của gia đình chúng ta, khi chúng ta thực sự đón nhận lời của Chúa Giêsu cách vô điều kiện. Lời nối kết với một trách nhiệm không nhỏ.

Ngoài ra, Radcliffe cũng đã nhìn thấy ý nghĩa thiêng liêng về gia đình trong bối cảnh ở dưới chân Thánh Giá. Radcliffe chia sẻ: “Chúa không gọi Maria là ‘Mẹ’, mà là ‘Bà’, vì bà chính là E-và mới. E-và cũ là Mẹ của mọi sinh linh. Ở đây chúng ta nhìn thấy E-và mới của tất cả những ai sống từ nguồn mạch của niềm tin.

… Chúa Giê-su là chính đá tảng góc tưởng, đã bị người thợ xây loại bỏ (x.Tv 118). Như James Alison viết: ‘Chúa đang hiện diện ở giữa chúng ta như người cùng khổ bị xã hội loại bỏ’. Người cùng khổ này đang ở giữa để chúng ta thờ lạy….Chúng ta, những Kitô hữu, cần phải nhận ra rằng, gia đình của chúng ta được sinh ra ở dưới chân Thánh Giá và không có ai bị loại bỏ cả.

Nếu chúng ta gọi người khác là anh chị em, thì chúng ta đang xây dựng một tương quan chắc chắn và chúng ta đang sẵn sàng hoà giải với nhau…

Hôm nay, khi chiêm ngắm và suy niệm về tâm tình này, chúng ta càng nhận ra được hình ảnh của gia đình chúng ta cách sâu sắc hơn. Một gia đình có Mẹ Maria và người anh là Chúa Giêsu, nguồn mạch của lòng thương xót. Khi Ngài sinh ra ở hang lừa Bêlem, Ngài sinh ra cho mọi người. Cũng thế, khi Ngài vì tình yêu chịu chết trên Thánh Giá Ngài chịu chết cho mọi người. Không ai bị loại ra khỏi tình yêu của Chúa Giêsu. Bạn nghèo ư? Chúa sinh ra và chết cho bạn. Bạn giàu sao? Chúa cũng sinh ra và chết cho bạn. Khi bạn có công ăn việc làm tốt và cả lúc bạn rơi vào tình trạng thất nghiệp, Chúa Giêsu sinh ra và chết cho bạn. Lúc bạn sống trong một gia đình hạnh phúc bên vợ và con ngoan, hay nếu trớ trêu thay bạn đứng trước bờ vực đổ vỡ của gia đình bạn, Chúa Giêsu sinh ra và chết cho bạn. Bạn vui mừng và sống bình an trong tinh thần đạo đức giữ luật Chúa và Giáo Hội, hay khi bạn vì cám dỗ rơi vào trong hố sâu của sự dữ với biết bao lầm lỡ và tội lỗi, Chúa Giêsu sinh ra và chết cho bạn. Ngài sinh ra và chết cho bạn, cho tôi và cho mỗi người chúng ta, dù chúng ta là ai, dù chúng ta thế nào. Đơn giản bởi vì Ngài yêu thương chúng ta, bởi vì Ngài là Emmanuen – luôn ở bên chúng ta, bởi vì Ngài là Giêsu – ban ơn cứu độ cho chúng ta, và bởi vì Ngài cho phép chúng ta được là anh chị em với Ngài, để rồi chúng ta có một Cha trên trời mà mỗi ngày chúng ta có thể kêu cầu ‘Lạy Cha chúng con’, và Ngài còn ban tặng cho chúng ta một người Mẹ yêu dấu là chính Mẹ của Ngài.

…Đức tổng Giám Mục Hélder Câmara của Recife ở bên Brasil đã có một cảm nhận rất sống động: những người nghèo nhất là anh chị em của Ngài. Một lần nọ đức tổng nghe có một người bị cảnh sát bắt, ngài đã gọi cho cảnh sát và nói: Tôi vừa nghe các anh đã bắt người anh em của tôi”. Cảnh sát liền xin lỗi đức tổng và nói: “Kính thưa đức tổng, chúng con xin lỗi, chúng con không biết đó là anh em của đức tổng. Xin Ngài hãy đến và nhận người đó về”. Khi đức tổng đến trạm cảnh sát để đón người kia về, thì một anh cảnh sát đã lên tiếng: “Kính thưa đức tổng, anh này không có cùng tên họ với đức tổng”. Đức tổng Câmara đã trả lời rằng, mỗi người nghèo khổ đều là anh em và là chị em của tôi.[41]

Bài tập sống di ngôn thứ ba của Chúa Giê-su trên Thánh Giá.

  • Đứng dưới cây Thánh Giá, trong thầm lặng xin Chúa củng cố lòng tin của chúng ta vào Chúa, và với niềm tin xin Chúa giúp chúng ta đón nhận đau khổ của Ðức Kitô làm của mình.
  • Đứng dưới cây Thánh Giá như Thánh Gioan, chúng ta nhớ đến những đau khổ trong cuộc đời của chúng ta, xin Chúa cho chúng ta biết ý thức tích cực đón nhận các khổ đau đó như là thập giá cuộc đời chúng ta. Chúng ta đón nhận sự khổ đau này trong tinh thần hiệp thông với Chúa Giêsu chịu đau khổ và chịu chết trên Thánh Giá.
  • Đứng dưới cây Thánh Giá và kế bên Đức Mẹ, chúng ta lắng nghe lại lời Chúa nói với thánh Gioan: “Này là Mẹ con”. Chúng ta nhẩm đi nhắc lời này trong lòng. Thật nhẹ nhàng và trong sâu thẳm của tâm hồn, chúng ta mở vòng tay để đón nhận Mẹ là Mẹ chúng ta, và ý thức dọn một chỗ thật đẹp cho Mẹ trong căn nhà cuộc sống của chúng ta. Và khi có Mẹ là Mẹ, chúng ta cầu xin Mẹ cho chúng ta mỗi ngày sống giống như Mẹ, là người luôn xin vâng với thánh ý Chúa, là người luôn hướng về Chúa Giê-su, Đấng là trung tâm điểm của cuộc sống.
  • Ở dưới Thánh Giá, qua lời Chúa Giêsu, một gia đình của những người tin được hình thành. Mỗi người chúng ta tự hỏi mình xem, là người tín hữu tôi có muốn ở trong gia đình này. Một gia đình có Mẹ Maria Mẹ, và mọi người là anh chị em của nhau, không loại trừ ai cả. Chúng ta mường tượng mình đang sống ở trong gia đình đó. Mỗi người chúng ta nên sống thế nào để xây dựng mái nhà gia đình này tràn ngập tinh thần của Tin Mừng, tinh thần của Đấng chịu đóng đinh và sống lại để cứu độ muôn người?

Phan Sinh Trần sưu tầm

PHÊ-RÔ TRẢI NGHIỆM LÒNG THƯƠNG XÓT

Những giọt nước mắt hổ thẹn và hối hận lăn dài trên khuôn mặt của Phê-rô, khi ông vội vã thoát khỏi sân dinh vị thượng tế, là nơi Chúa Giê-su đang bị giam giữ.  Một tiếng nói bên trong nội tâm tra khảo ông: “Làm sao ông lại chối bỏ thầy Giê-su cách công khai như vậy?”  Cách đây ít lâu, ông không bao giờ có thể tưởng tượng là mình có thể quay lưng với Chúa Giê-su một cách nhẫn tâm như vậy.  Những lời khẳng định đầy hiên ngang mà ông vừa nói với Chúa Giê-su, nay lại quay về ám ảnh ông: “Lạy Chúa, dầu có phải vào tù hay phải chết với Chúa đi nữa, con cũng sẵn sàng” (Lc 22,33).  Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau khi Chúa Giê-su tiên báo, thì đêm hôm ấy, ông đã chối Chúa đến ba lần.  Phê-rô thầm nghĩ, mọi sự xảy ra quá nhanh.  Trước hết, ông cẩn thận tìm mọi cách để đi theo Chúa vào trong sân.  Rồi khi ông thấy mình đã bị nhận diện là môn đệ của Chúa Giê-su, ông chợt nhận ra là mình đang gặp nguy hiểm.  Đó là khi người ta bắt đầu lớn tiếng cáo buộc ông: “Cả bác nữa, bác cũng đã ở với cái ông người Na-da-rét, ông Giê-su đó chứ gì?” (Mc 14,67).  Ông cảm thấy hồi hộp.  Người ta càng thúc ép ông trả lời cho câu hỏi đó, thì ông càng cương quyết phủ nhận.  Trong chốc lát, thái độ nhún vai phủ nhận đã biến thành một lời thề công khai, khi ông bắt đầu thốt lên những lời độc địa mà quả quyết rằng: “Tôi thề là không biết người ấy” (Mt 26,74).

Ngay khi ông nhớ lại một chuỗi những sự kiện xảy ra quá nhanh, thì lòng ông quặn đau như thắt vì thất bại và ông cảm thấy hết sức chán nản.  Sau này, Phê-rô nhận thức rằng khi Chúa Giê-su quay lại nhìn ông, thì chính cái nhìn ấy – một cái nhìn đầy lòng thương xót – đã lay động tâm hồn ông, để ông nhận ra điều khủng khiếp mình vừa làm, đồng thời ông cũng nhận biết là Chúa đã thông cảm và tha thứ cho ông.

Khi ông nhận ra điều đó, ông đã khóc lóc thảm thiết.  Sertillanges đã chia sẻ như sau: “Đức Giê-su hướng về Phê-rô, mặc dầu ông ở rất xa, nhưng vẫn cảm được cái nhìn của Thầy, cái nhìn làm tan biến sự yếu đuối của trái tim con người, thâm nhập sâu vào tình yêu của nó và ban sức mạnh cho sự yếu đuối ấy.  Tảng đá đã chao đảo.  Nhưng chính trên tảng đá này mà nền móng của công trình đời đời được thiết lập.  Nơi đâu mà xác thịt loài người tỏ ra yếu đuối, nơi đó quyền năng của Thượng Đế được biểu lộ rõ ràng.  Phê-rô vấp ngã, nhưng ông là người thứ nhất tin rằng Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, rằng Ngài là Đấng Thiên Sai Thượng Đế hứa”.[1]

Câu chuyện Phê-rô chối Thầy được trình thuật cả trong bốn Tin Mừng, chỉ cho thấy Giáo Hội tiên khởi đã công bố khuyết điểm của vị thủ lãnh đầu tiên của mình, chứ không che đậy.  Dù vậy, họ được thêm vững mạnh, chứ không bị vấp phạm.  Kinh nghiệm của thánh Phê-rô xác nhận với họ rằng, thất bại là điều có thể chấp nhận được, bởi vì Thiên Chúa luôn luôn sẵn sàng ban ơn tha thứ.

Rất có thể là chính thánh Phê-rô đã phổ biến câu chuyện thất bại của mình, khi người không ngừng cố gắng khích lệ anh chị em mình phấn đấu – như Chúa Giê-su đã yêu cầu Phê-rô: “Si-môn, Si-môn ơi, kìa Sa-tan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo.  Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin.  Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho anh em của anh nên vững mạnh” (Lc 22,31-32).

Như Giáo Hội tiên khởi đã xem sự sa ngã của Adam là một “tội hồng phúc”, vì nhờ đó mà xuất hiện Đấng Cứu Thế, Giáo Hội cũng xem sự trượt ngã của Phê-rô là “tội hồng phúc”, vì nhờ đó mà Giáo Hội có được một vị thủ lãnh vừa yếu đuối vừa mạnh mẽ.  Phê-rô bị bó buộc phải đối diện với bóng tối của mình, và điều đó đã làm cho ông trở nên con người khiêm nhường đầy lòng thương xót.[2]

Qua hình ảnh của thánh Phê-rô, Giáo Hội được mời gọi luôn là Giáo Hội của lòng thương xót, và cần phải là Giáo Hội của lòng thương xót hơn bao giờ hết, vì Giáo Hội chính là thân thể mầu nhiệm và sống động của chính Chúa Giê-su, Đấng là mục tử nhân lành, Đấng là nguồn mạch của lòng thương xót.  Chính Ngài luôn yêu thương con cái của Ngài, và mời gọi tất cả những ai sống trong khổ đau và bất hạnh hãy đến với Ngài: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng.  Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường.  Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28-29).  Không chỉ dừng ở nơi đó, mà trong chiều sâu của tình yêu thương, Chúa Giê-su còn trao mọi người con của Chúa cho Mẹ Maria, người Mẹ của lòng thương xót.

Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế, SJ

******

Lạy Chúa, Đấng đầy lòng thương xót.
Xin thương đoái nhìn đến những góc khuất tăm tối, những yếu đuối mỏng dòn, và những xáo động ồn ào trong con,
Xin thương đoái nhìn đến những phút giây bội thề, những yếu hèn nhát đảm, cùng những lơ đễnh thoái thác trong con.
Con không đòi Chúa ban cho con bất cứ điều gì, ngoại trừ lòng thương xót của Người.
Trong cuộc sống thế trần, mọi sự chỉ như hoa cỏ sớm nở tối tàn.
Những gì con cho là cao quý cũng chỉ là phù vân hư ảo và những gì con bận tâm lo lắng rốt cuộc cũng chẳng ý nghĩa đáng giá gì. 
Lạy Chúa, xin thương xót và dắt dìu con,
Xin biến đổi con một lần nữa để con lại khao khát sống cuộc đời thánh thiện, và trở nên người của Chúa cho dẫu trong con còn nhiều hoang mang cùng bối rối.
Con không cầu xin để biết rõ ràng và chắc chắn phải làm gì,
ngoại trừ mong mỏi một điều là được Ngài dẫn dắt theo nẻo đường tình yêu của Ngài, để có thể dõi bước và tín thác vào lòng thương xót của Ngài.
Vì được như thế, con mới tìm thấy điều con hằng khắc khoải chờ mong.

Nguyễn Thế Anh, SJ, chuyển ý

Nguồn: Thomas Merton, A Year with Thomas Merton: Daily Meditations from His Journals, (Selected and edited by Jonathan Montaldo), (New York: HarperCollins e-books, 2007), 247.

“Thật, Thầy bảo thật anh em: có một người trong anh em sẽ nộp Thầy.” (Ga 13:21)

Nguyện xin phép lành và ân sủng của Chúa ở lại trong tâm hồn bạn và gia quyến hôm nay và mãi mãi nhé.

Cha Vương

Thứ 3 Tuần Thánh: 04/04/2023

TIN MỪNG: Khi ấy, đang dùng bữa với các môn đệ, Đức Giê-su cảm thấy tâm thần xao xuyến. Người tuyên bố: “Thật, Thầy bảo thật anh em: có một người trong anh em sẽ nộp Thầy.” (Ga 13:21)

SUY NIỆM: Nhìn vào thân phận của ông Giu-đa, không phải Chúa muốn ông phạm tội, cũng không phải Chúa thờ ơ bỏ mặc hắn chìm sâu trong tội. Ngài đã nhiều lần nhiều cách đánh thức lương tâm hắn. Ngài chỉ làm được đến thế thôi vì Ngài phải tôn trọng tự do của hắn. Cách Chúa đối xử với bạn cũng thế, Ngài tôn trọng tự do của bạn đó. Bạn có sử dụng món quà tự do để đến gần với Chúa không? Bạn đang chọn Chúa hay thế gian vậy? Đừng nhìn vào tội lỗi của người khác mà kết án nhưng hãy coi đó là một tiếng còi đánh thức lương tâm của bạn: “Hãy tránh xa dịp tội và đừng phạm tội nữa!”

LẮNG NGHE: THIÊN CHÚA chẳng tha chính Con Một của Người, nhưng đã trao nộp vì hết thảy chúng ta. (Rm 8:32)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin đừng bỏ rơi con. Con xin phó thác hồn xác yếu hèn của con trong tay Chúa.

THỰC HÀNH: Đọc qua 12 hoa trái của Thánh Thần: “Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nại, nhân từ, lương thiện, hiền hòa, khoan dung, trung tín, khiêm nhu, tiết độ và thanh khiết”, mời bạn chọn một hoa và cố gắng nảy sinh ra trái tốt nhé.

From: Đỗ Dzũng

Đừng Bỏ Con Chúa Ơi – Sáng tác: Lm Nguyễn Văn Tuyên -Trình bày: Linh Nhí

BÀI HỌC PHỤC VỤ – Lm. Kiều công Tùng

Lm. Kiều công Tùng

Phục Vụ Trong Tự Hạ

Trình thuật về việc rửa chân chỉ được ghi lại duy nhất trong Tin Mừng Gio-an.  Hình ảnh Đức Giê-su cúi xuống rửa chân cho các môn đệ trước hết là một mặc khải rõ ràng về Thiên Chúa tình yêu.  Nghiêng mình xuống là cách Cựu Ước dùng để diễn tả lòng nhân hậu thương xót của Thiên Chúa.  Giờ đây, Thiên Chúa không những nghiêng mình mà còn quỳ gối, cúi xuống tận chân con người, để rồi phải ngẩng đầu lên trả lời khi Phê-rô phản đối.  Thử hỏi còn có sự hạ mình nào hơn thế?  Đấng toàn năng sáng tạo lại quỳ gối để ngước mắt nhìn lên thụ tạo của mình.

Thiên Chúa đã xóa mình đi để bước xuống, đến gần và bày tỏ lòng thương xót cho con người như thế đấy.  Cử chỉ đó mãi là một tấm gương để cho tất cả các môn đệ của Đức Giê-su không ngừng học hỏi mà đối xử với nhau: “Nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13, 14).  Một tiêu chuẩn để người môn đệ Chúa Giê-su đến với người khác và phục vụ họ: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15, 12).

Phục Vụ Bằng Tự Hiến

Câu chuyện rửa chân không đơn thuần là một tấm gương về bài học khiêm tốn phục vụ nhưng còn mang ý nghĩa biểu tượng, nói lên tất cả sứ mạng của Đức Giê-su đồng thời loan báo về sự chết và phục sinh của Người nữa.

Hình ảnh Đức Giê-su “cởi áo ngoài ra” rồi sau đó lại “mặc áo vào” khiến ta liên tưởng đến lời Người nói trước kia: “Chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình.  Tôi có quyền hy sinh và có quyền lấy lại mạng sống ấy” (Ga 10, 18).  Như thế, câu chuyện rửa chân là cách diễn tả tượng trưng cho cái chết tự nguyện của Đức Giê-su và cuộc phục sinh của Người.

Ở giữa hai hành động “cởi ra” và “mặc vào” trong trình thuật rửa chân là một cử chỉ tự hạ thẳm sâu.  Còn ở giữa hai hành động “hy sinh” và “lấy lại” lại là sự tự hiến tuyệt vời: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15, 13).  Cái chết của Đức Giê-su ở trên thập giá chính là tuyệt đỉnh của một tình yêu phục vụ: “Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10, 45).

Phục Vụ Cho Đến Cùng

Tin mừng Gio-an không nói đến việc Đức Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể, nhưng khung cảnh của bữa tiệc ly được bổ túc bằng đoạn thư thứ nhất gửi tín hữu Cô-rin-tô giúp chúng ta hiểu rằng tiếp theo hành động có tính biểu tượng nối kết sự tự hạ với tự hiến là việc Chúa ban chính thịt máu của Người làm lương thực dưỡng nuôi nhân loại cùng với lệnh truyền: “Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Thầy” (1 Cr 11, 25)

Việc Đức Giê-su thiết lập Bí Tích Thánh Thể và chức Linh mục trong bữa Tiệc Ly chứng tỏ tình yêu của Người dành cho nhân loại.  Yêu đến hiến mạng sống, yêu đến ban thân mình.  Qua hai Bí Tích đó, Người muốn thực hiện lời hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20).  Người yêu thương và yêu cho đến cùng.  Dù không còn hiện diện cách hữu hình trên dương gian này, nhưng Người luôn có đó để trợ lực, để đồng hành với nhân loại qua phép Thánh Thể, qua con người linh mục với sứ mạng mục tử.

Như thế, qua Đức Giê-su Ki-tô, mỗi người chúng ta đã dược Thiên Chúa yêu thương cách đặc biệt.  Chúng ta có bổn phận làm cho tình yêu đó triển nở và được nhân rộng trong môi trường của mình bằng việc xóa mình đi: xóa đi những thành kiến, ích kỷ, toan tính vụ lợi…  Đồng thời, mỗi người cũng phải biết mở ra với những người chung quanh.  Có như thế, tình yêu và sự sống mà chúng ta đón nhận được từ nơi Chúa Cha qua Đức Giê-su mới thực sự sinh hoa kết quả dồi dào.

Trong ngày kỷ niệm Chúa Giê-su lập Bí Tích Thánh Thể và Bí Tích Truyền chức hôm nay, ta bắt gặp một hình ảnh Chúa Ki-tô Linh Mục hoàn toàn trái ngược với hội chứng quyền bính đã được người ta nói đến: một Thiên Chúa hạ mình để phục vụ, một mục tử tự hiến cho đến cùng.  Quyền bính được trao cho Giáo Hội, chức vụ tư tế thừa tác được trao cho các linh mục ngày nay không ngoài mục đích để cho tình yêu cứu độ của Đức Ki-tô còn tiếp tục hiện diện giữa thế giới này.  Chúng ta cùng cầu xin cho các linh mục của Chúa ngày càng trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Ki-tô, vị Linh Mục đời đời.

Lm. Kiều công Tùng

From: Langthangchieutim

CHẲNG LẼ CON SAO – Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu

Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu

Các thượng tế muốn giết Đức Giêsu, nhưng không tìm được cơ hội.  Nay cơ hội đã đến với sự tiếp tay của chính người môn đệ Đức Giêsu.  Anh Giuđa đã đến gặp các thượng tế và đề nghị nộp Ngài cho họ.

Chúng ta mãi mãi không biết hết và biết rõ những động cơ nào đã thúc đẩy Giuđa làm chuyện kinh khủng ấy.  Giuđa, người được gọi, được chọn, được tuyển lựa, sau một đêm thức trắng cầu nguyện của Thầy Giêsu (Lc 6, 12).  Và anh đã đáp lại, đã bỏ gia đình, nghề nghiệp, để đi theo.

Giuđa đã rong ruổi theo Thầy ngay từ đầu, chia sẻ đói no, thành công thất bại…  Không yêu thì làm sao đi theo được lâu như thế.  Giuđa, người được tin cậy và giao giữ quỹ cho cả nhóm (Ga 12, 6).  Vì là người trong nhóm Mười Hai, thuộc nhóm môn đệ thân cận, Giuđa đã được nghe hầu hết các bài giảng hay nhất, được chứng kiến các phép lạ lớn lao nhất của Thầy Giêsu.  Giữa anh và Thầy Giêsu hẳn đã có một sự thân thiết nào đó.

Điều gì đã diễn ra nơi trái tim của Giuđa?  Điều gì đã khiến tất cả phút chốc bị đổ vỡ không sao hàn gắn?  Chắc không phải chỉ vì ba mươi đồng bạc, một số tiền.  Phải chăng vì Giuđa thất vọng và nóng ruột khi thấy Thầy Giêsu quá hiền từ, cả trong lối sống lẫn lời giảng, chẳng có vẻ gì là một Đấng Mêsia sắp giải phóng dân tộc khỏi quân Rôma?

Phải chăng khi Giuđa nộp Thầy cho các thượng tế, anh định cài Thầy vào thế phải hành động quyết liệt hơn, phải tự giải thoát mình?

Dù gì đi nữa thì chuyện Giuđa làm là không thể biện minh được.  Anh đã can dự vào cái chết của Thầy Giêsu.  Không thể phong tặng anh hùng cho Giuđa vì bảo rằng nhờ anh mà chúng ta có được ơn cứu độ.  Giuđa đã phạm tội nghiêm trọng đến nỗi Thầy Giêsu phải đau đớn nói: “Khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà kẻ đó đừng sinh ra thì hơn” (c.24).

Dầu vậy tội của Giuđa đã được Thiên Chúa dùng cho chương trình cứu độ.  Thiên Chúa là Đấng có thể biến điều dữ thành điều lành.  “Kẻ đã chấm chung một đĩa với Thầy là kẻ sẽ nộp Thầy” (c. 23).  Kẻ đồng bàn thân thiết với Thầy lại là người phản bội.

Ngay cả những môn đệ khác cũng hỏi Thầy Giêsu: “Có phải con không?”  Có phải con là người đang phản bội Thầy không?  Lúc nào chúng ta cũng có thể hỏi Chúa Giêsu cùng câu hỏi đó.  Dù mỗi ngày chúng ta cùng chia sẻ một bàn tiệc với Chúa trong Thánh Lễ, chúng ta vẫn có thể rơi vào tội của Giuđa.

*****

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con dám hành động theo những đòi hỏi khắt khe nhất của Chúa.  Xin dạy con biết theo Chúa vô điều kiện, vì xác tín rằng Chúa ngàn lần khôn ngoan hơn con, Chúa ngàn lần quảng đại hơn con, và Chúa yêu con hơn cả chính con yêu con.

Lạy Chúa Giêsu trên thập giá, xin cho con dám liều theo Chúa mà không tính toán thiệt hơn, anh hùng vượt trên mọi nỗi sợ, can đảm lướt thắng sự yếu đuối của quả tim, và ném mình trọn vẹn cho sự quan phòng của Chúa.  Ước gì khi dâng lên Chúa những hy sinh làm cho tim con rướm máu, con cảm nghiệm được niềm vui bất diệt của người một lòng theo Chúa. Amen.

Lm. Ant. Nguyễn Cao Siêu

From: Langthangchieutim

Cây lau bị giập, người không đành bẻ gẫy, / tim đèn leo lét, cũng chẳng nỡ tắt đi. (Is 42:3)

Ngày Thứ 2 Tuần Thánh gần gũi với Chúa và tha nhân nhé. Xin bạn một lời cầu nguyện cho các ACE dự tòng.

Cha Vương

Thứ 2: 03/04/2023

TIN MỪNG: Cây lau bị giập, người không đành bẻ gẫy, / tim đèn leo lét, cũng chẳng nỡ tắt đi. (Is 42:3)

SUY NIỆM: Trong cuộc sống hằng ngày bạn không còn gì lạ với cảnh “xa thương gần thường”. Có những người rất vui vẻ dễ dãi với người lạ nhưng lại khó khăn hùng hổ với người thương của họ. Thực chất, nguyên nhân là vì bên cạnh việc trân trọng các đức tính tốt, họ còn phải chịu đựng những điểm họ vốn luôn không thích của đối phương, mà khả năng chịu đựng của ai cũng có giới hạn. Chẳng hạn khi chung sống với nhau trong một thời gian dài, ai cũng sẽ khó chịu về những điểm không tốt của đối phương. Là con người, ai cũng có những điểm không hoàn hảo. Tuy nhiên với người xa lạ, do ít gặp và ít chung sống bên nhau, chính vì vậy mà họ dễ dàng bỏ qua những điểm vụn vặt. Một mối quan hệ gần gũi thì ngược lại, những thứ vụn vặt, những thói quen xấu, những điểm không hài lòng tích tụ lâu dài sẽ dần dần trở thành một sự khó chịu khi mỗi người vượt qua ngưỡng chịu đựng. Khi ấy là thời điểm “GIỌT NƯỚC TRÀN LY”, họ không còn chấp nhận được những điều đó và dẫn đến sự khó chịu trong cảm xúc rồi kéo theo những hành vi đối xử tệ bạc với nhau, chẳng hạn giận dỗi, cãi vã, mắng chửi,… Đối với những người xa lạ, vì phép lịch sự, họ phải giữ kẽ và kiềm chế hành vi không dễ dàng đối xử tệ bạc hoặc tỏ thái độ. Ngược lại, đối với người gần gũi quen thuộc họ không ngại nói thẳng, xả thẳng cảm xúc,… Chính vì thế những nỗi đau dần dần chạm vào nhau, khắc sâu vào ký ức và làm tổn thương nhiều hơn so với những niềm vui mang lại cho nhau. Đã gẫy rồi thì chặt luôn! Đó là cách xử lý của con người. Đối với Thiên Chúa thì khác, cây lau bị giập Ngài không nỡ bẻ gãy, tim đèn còn khói Ngài không nỡ dập tắt. Chúa thương bạn cả khi bạn đang lỗi lầm. Khả năng chịu đựng của Ngài không có giới hạn, lòng thương xót của Ngài bao la như biển hồ không có cảnh “GIỌT NƯỚC TRÀN LY”. Vậy bạn hãy đối xử với nhau như Chúa đối xử với bạn vậy nhé. Đừng để bản tính yếu đuối của  con người làm bạn xa tránh hoặc khinh thường những anh chị em đang lỡ lầm. Trái lại, xin Chúa cho mình biết luôn cầu nguyện, biết thông cảm và giúp đỡ anh em đứng dậy.

LẮNG NGHE: CHÚA là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, tôi còn sợ người nào? CHÚA là thành lũy bảo vệ đời tôi, tôi khiếp gì ai nữa? / Khi ác nhân xông vào, định nuốt sống thân tôi, ai ngờ chính đối phương, chính những thù địch ấy, lại lảo đảo té nhào. / Dù cả một đạo quân vây đánh, lòng tôi chẳng sợ gì. Dù có phải lâm vào chiến trận, tôi vẫn cứ cậy tin. (Tv 27-1-3)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin giúp con cải thiện và tăng thêm sức chịu đựng cho con trước những bất toàn của anh chị em. Đừng để con rơi vào cảnh hối tiếc vì cách đối xử không tốt với những người vốn xứng đáng được trân quý nhất.

THỰC HÀNH: Trong Tuần Thánh này mời bạn hãy thay đổi cách đối xử của mình với những người thân yêu của mình nhé.

From: Đỗ Dũng

Chúa Giàu Lòng Xót Thương- Trình bày: Thùy Loan 

Sinh viên đại học Harvard tìm thấy câu trả lời của mình trong Giáo Hội Công giáo

Theo TTX Công Giáo – CNA

Joe Bukuras

Boston, Mass.

Ngày 2 tháng 4 năm 2023

Giáo huấn của Giáo hội về Mẹ Maria và Bí tích Thánh Thể là hai trở ngại lớn nhất đối với LyLena Estabine, 21 tuổi, một người từng theo đạo Tin lành, trong việc chấp nhận đức tin Công giáo.

Trước Tuần Thánh và trong lúc chuẩn bị tháp nhập vào đời sống Giáo hội Công giáo, Estabine, người cũng được thánh hiến cho Đức Maria, biết là cô sẽ cảm động, thổn thức khi được lên rước lễ lần đầu. “Cuối cùng tôi cũng có thể và sẽ được đi tham dự tiệc thánh thể, điều đó rất tốt,” Estabine, sinh viên năm cuối chuyên ngành xã hội học tại Đại học Harvard ở Cambridge, Massachusetts, cho biết trong một cuộc phỏng vấn vào ngày 28 tháng 3 với thông tấn xã CNA.

Là người gốc ở Olathe, Kansas, Estabine là một trong 32 ứng cử viên và dự tòng trong chương trình OCIA (trước đây là RCIA) tại Nhà thờ Công giáo St. Paul ở Cambridge, nơi có Trung tâm Công giáo Harvard, một trung tâm giàu truyền thống trí thức Công giáo dành cho sinh viên đại học và các chuyên gia trẻ của một trong những thành phố tự do nhất của đất nước (Hoa Kỳ).

Lớp học giáo lý tân tòng bao gồm 9 sinh viên đại học Harvard, 5 sinh viên Harvard đã tốt nghiệp và 17 chuyên gia địa phương từ cộng đồng có độ tuổi trung bình là 29. Nhóm lớn này làm gợi nhớ đến lớp giáo lý năm ngoái tại trung tâm, nơi có 31 ứng viên và dự tòng.

Trung Tâm Công Giáo ở đại học Harvard.

Cha Patrick Fiorillo, tuyên úy đại học tại Trung tâm Công giáo Harvard , nói với CNA vào ngày 28 tháng 3 rằng “có một sự hoán cải sâu sắc trong nội tâm” xảy ra với nhóm sinh viên và thanh niên hiện đang chuẩn bị gia nhập Giáo hội tại Trung tâm Công giáo Harvard. Ngài nói, “Chỉ cần nhìn thấy những chuyển đổi xảy ra trong thời gian thực tại đối với rất nhiều học viên làm chúng tôi rất phấn khởi”

Cha Fiorillo nói rằng chị sinh viên Estabine không ngại đặt ra “những câu hỏi bao quát” trong khi có sự khiêm tốn lớn lao trong việc theo đuổi, tìm hiểu chân lý đức tin.

Vác thập giá của mình

Lớn lên trong đạo Tin lành ở vùng ngoại ô ngay bên ngoài Thành phố Kansas, Estabine luôn có mối quan hệ với Chúa Giê-su Christ. Hồi nhỏ, khi mẹ của Estabine thắt dây an toàn cho cô ở ghế sau ô tô, Estabine thường nhờ mẹ cô, xin bà cũng nhớ thắt dây an toàn cho cả Chúa Giê-su ở bên cạnh cô. “Nếu mẹ không làm vậy, tôi sẽ rất buồn; rồi tôi nói chuyện với Ngài đang khi chúng tôi ở trên xe” cô nói. Tuy nhiên, càng khôn lớn đức tin của Estabine càng nguội lạnh dần.

Sau khi được nhận vào Đại học Harvard, một trong những trường đại học danh tiếng nhất thế giới, Estabine bắt đầu đối mặt với chứng trầm cảm, lo lắng và ý định tự tử vào năm thứ nhất trong đại dịch COVID-19. Cô ấy đã thử mọi cách, từ ăn kiêng đến tâm lý trị liệu, nhưng không có gì giúp cô ấy thoát khỏi những suy nghĩ tiêu cực, một tình trạng mà cô ấy đã phải đối mặt từ khi còn trẻ và trở nên trầm trọng hơn khi cô vào đại học.

Đau khổ tột cùng, cô tìm đến niềm tin mà cô đã biết trước đây hồi còn nhỏ, hy vọng được chữa lành. Cô quyết định rằng hy vọng cuối cùng của mình là đào sâu vào đức tin Ki tô và trước khi đọc hết trang đầu của cuốn Kinh thánh cô mặc cả với Đức Chúa Trời trong lời cầu nguyện, “Con sẽ đọc điều này, và nếu đến lúc đọc xong mà con không tìm được lý do để ở lại đây (trong đức tin), thì con không thể làm như thế nữa.”

“Khi tôi bắt đầu đọc Lời Chúa, khi tôi bắt đầu dốc hết lòng mình cho Chúa và đặt cuộc đời mình dưới chân Ngài, Ngài đã chữa lành hoàn toàn chứng trầm c ảm v à lo lắng cho tôi . Và vì vậy tôi mang ơn Ngài đã ban ơn mầu nhiệm cho tôi,” cô nói.

Tuy nhiên, một tình thế tiến thoái lưỡng nan của cô là nỗi sợ hãi: tự hỏi liệu tất cả những kinh nghiệm trước đây của cô với Đấng Christ có xác thực không khi cô đem so sánh với niềm tin Công Giáo mà cô đang tìm hiểu…

Mãi cho đến khi cô đi du lịch đến Paris vào mùa hè năm đó, vật lộn với cùng mối quan tâm đó, thì cô mới tìm được câu trả lời trong Kinh Thánh. Cô ấy mở Kinh thánh khi cô ấy ở một mình vào một đêm và đọc Phúc âm John chương 10, câu 16:

“Tôi có những con chiên khác không thuộc đàn này. Tôi cũng phải dẫn dắt những người này, và chúng sẽ nghe tiếng tôi, và sẽ có một bầy, một mục tử.”

Estabine nói rằng điều đó xác nhận với cô ấy rằng mặc dù cô ấy “ở ngoài bầy,” nhưng cô ấy vẫn là một trong các chiên của Đức Chúa Trời, và cô ấy thực sự đã nghe thấy tiếng nói của Ngài.

“Ngài đang gọi tôi tiến vào một cái gì đó sâu sắc hơn,” cô nói.
Vì vậy, Estabine đã nhắn tin cho người bạn Công giáo của mình vào một đêm và nói: “Này, tôi thực sự không biết chuyện gì đang xảy ra, nhưng tôi thực sự nghĩ rằng mình cần xem xét vấn đề Đạo sâu hơn và tôi không nghĩ mình có thể tự tìm hiểu một mình được.” Bạn của cô đã giới thiệu cô với Cha Fiorillo, và vị linh mục đã trả lời nhiều câu hỏi của cô và giúp cô gia nhập các lớp giáo lý. Bạn của cô đã tặng cô một chuỗi Mân Côi và đưa cô đến chầu Thánh Thể. Cô bắt đầu đặt những câu hỏi sâu hơn và tìm ra câu trả lời mà cô đang thao thức. Estabine đã có lúc cảm thấy mình cần phải có tất cả các câu trả lời thỏa đáng để có thể trở thành người Công giáo.

Nhưng một hôm trong giờ chầu, cô nghe Chúa Giê-su nói với mình: “Từ bao giờ mà chìa khóa mở cửa lòng con lại ở trong trí khôn con?”

Giờ đây, cô ấy cố gắng đọc kinh Mân Côi hầu như mỗi ngày, hoàn thành việc tận hiến cho Đức Mẹ vào ngày 25 tháng 3, và rất vui mừng được rước lễ lần đầu và thêm sức trong Đêm Vọng Phục Sinh tại Nhà thờ St. Paul vào ngày 8 tháng Tư.

Và Estabine đã sẵn sàng khi Tuần Thánh đến gần. Cô nói, “Về việc lãnh nhận Bí tích Thánh Thể, tôi rất phấn khởi,” cô nói. “Chắc tôi sắp khóc mất.”

Cha Fiorillo nói, “Cô ấy thực sự cố gắng nắm bắt lấy toàn bộ giáo lý đức tin Công giáo và định hướng toàn bộ cuộc sống của cô xung quanh đức tin đó và thực sự kết hợp mọi thứ mà Giáo hội cống hiến đem thực hành trong cuộc đời mình.

Phan Sinh Trần

BƯỚC VÀO MỘT KINH NGHIỆM SỐNG MỚI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chúa ơi, Chúa ơi, sao Chúa bỏ rơi con?”.

Richard L. Evans nói, “Bi kịch của cuộc đời không phải là nó kết thúc quá sớm, mà là chúng ta chờ đợi quá lâu để bắt đầu nó!”. Một nhà giáo dục khác lại nói, “Cuộc sống là một quá trình liên tục làm quen với những điều chúng ta không ngờ tới. Mỗi ngày sống là một ngày bạn ‘bước vào một kinh nghiệm sống mới!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

Cử hành phụng vụ Tuần Thánh, chúng ta không chỉ tưởng niệm một biến cố, dâng lời tạ ơn; nhưng cùng Chúa Giêsu, chúng ta ‘bước vào một kinh nghiệm sống mới!’. Đâ
y là một câu chuyện có thật, không đơn thuần là những tình cảm tôn giáo đạo đức, ngoan nguỳ và sùng mộ.

Phụng vụ Chúa Nhật Lễ Lá cho thấy những gì Chúa Giêsu đã trải qua biểu hiện rõ nhất tình yêu bao la của Thiên Chúa dành cho mỗi người. Vì thế, bằng cách đồng hoá mình với mầu nhiệm khổ đau, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giêsu, chúng ta cảm nghiệm một sự giải thoát vĩ đại, một ‘cuộc vượt qua’ khỏi tội lỗi và sự nô lệ để ‘bước vào một kinh nghiệm sống mới’, một cuộc sống vui tươi, tự do. Phụng vụ hôm nay kết hợp cả cảm giác chiến thắng và bi kịch. Sẽ rất khó để nhận ra Vua Giêsu trong tàn dư của một con người bị hành hạ, đánh đòn, đội mão gai, đóng đinh. Tại sao Ngài chịu như thế? Trước hết, vì vấn đề chính trị, Ngài trở nên đối tượng bị ghét bỏ bởi những ai coi Ngài là mối đe doạ đối với quyền lực tôn giáo và vị thế của họ. Ngài phải bị loại bất cứ giá nào! Thứ đến, những gì đã xảy ra cho Ngài đều phù hợp với ý muốn của Chúa Cha.

Đúng thế, Chúa Cha muốn! Ngài chuốc lấy khổ đau của Người Tôi Tớ, vốn được tiên báo hàng trăm năm trước; bài đọc Isaia hôm nay cho biết, “Tôi đã đưa lưng cho kẻ đánh tôi, đã đưa má cho kẻ giật râu”; như bị Chúa Cha bỏ rơi, Thánh Vịnh đáp ca thổn thức, “Ôi Thiên Chúa! Sao Chúa đã bỏ con?”. Và Phaolô, qua thư Philipphê hôm nay, kết luận, “Ngài đã tự hạ mình mà vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá!”. Thế nhưng, từ góc độ thần thánh, những gì Chúa Giêsu gánh chịu là khởi đầu của một hành động vinh quang nhất chưa từng được biết đến! Bởi lẽ, thập giá là ‘ngai ân sủng mới’ của Ngài, và vinh quang Ngài nhận được hôm nay khi vào thành thánh sẽ được thực hiện trọn vẹn lúc Ngài chịu treo lên trên nó, để chiếm lấy Vương Quyền vĩnh cửu.

Khi làm thế, Chúa Giêsu đã đồng cảm với ý muốn của Cha, để mọi người nhận biết tình yêu vô điều kiện Chúa Cha dành cho họ. Như vậy, cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu, cuối cùng, không phải là dấu của thất bại; đó là khoảnh khắc khải hoàn của Ngài. Điều tương tự cũng có thể nói về hàng dài các vị tử
đạo và nhân chứng của Ngài thuộc mọi thời hơn 2.000 năm qua.

Anh Chị em,

“Chúa ơi, Chúa ơi, sao Chúa bỏ rơi con?”. Tham dự phụng vụ Tuần Thánh, chúng ta đừng chỉ tập trung vào sự bị bỏ rơi, hoặc những đau khổ Chúa Giêsu chịu như thể đau khổ có điều gì đó tốt đẹp; đau khổ của Chúa Giêsu chỉ có ý nghĩa vì chúng dẫn đến sự sống lại, sức sống mới và niềm vui mới. Cũng thế, đau đớn và thống khổ trong cuộc đời chúng ta không phải là sự trừng phạt của Chúa, càng không phải là sự trừng phạt của chính mình. Đau khổ, bệnh tật tự nó không được mong muốn; tuy nhiên, chúng vẫn có thể trở thành nguồn thiện ích khi nhờ đó, chúng ta trưởng thành hơn, yêu thương hơn, quan tâm hơn, cảm thông hơn. Nói cách khác, khi chúng dẫn chúng ta trở nên giống Chúa Giêsu hơn; dẫn chúng ta ‘bước vào một kinh nghiệm sống mới’ với Ngài. Từ đó, chúng dẫn chúng ta đến sự giải thoát chính mình và giải thoát người khác.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, Chúa đã trải qua giây phút bị bỏ rơi hoàn toàn để ‘nên một với con’ trong mọi sự. Cho con nhớ rằng, con không đơn độc mỗi khi thấy mình đi vào ngõ cụt, không ánh sáng và không lối thoát, khi mà dường như chính Thiên Chúa cũng lãng quên con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

Đức Thánh Cha Phanxicô chủ tế Thánh Lễ Lá ngày Chúa Nhật 4-2-2023 sau ba ngày nằm viện

Tổng hợp báo chí Hoa Kỳ

Trong chiếc áo choàng dài màu trắng với giọng nói còn bị “khàn khàn”, Đức Giáo hoàng Francis đã chủ sự Thánh lễ tại Quảng trường Thánh Peter trước hàng chục nghìn tín hữu vào Chủ nhật Lễ Lá, một ngày sau khi Ngài rời bệnh viện Gemelli ở Rome, nơi ngài được điều trị bệnh viêm phế quản .

Thời báo LA cho biết, giọng của ĐGH nghe có vẻ mạnh mẽ khi mở đầu Thánh lễ, nhưng nhanh chóng trở nên yếu và khàn. Bất chấp bị khàn tiếng, Đức Phanxicô đã đọc một bài giảng dài 15 phút trước 30.000 người dự lễ, thỉnh thoảng thêm vào những nhận xét ngẫu hứng để nhấn mạnh đồng thời diễn đạt ý tưởng đó bằng tay.

Bài giảng tập trung vào những khoảnh khắc khi mọi người cảm thấy “đau đớn tột độ, tình yêu không thành, hoặc bị từ chối hoặc phản bội.” , (và) sự cô đơn của bệnh tật.”

Đức Phanxicô nói về một người đàn ông Đức vô gia cư vừa mới chết, “một mình, bị bỏ rơi,” dưới hàng cột bao quanh Quảng trường Thánh Phêrô, nơi những người vô gia cư thường ngủ. “Tôi cũng cần Chúa Giêsu vuốt ve tôi,” Francis nói.

“Toàn bộ các dân tộc bị bóc lột và bị bỏ rơi; người nghèo sống trên đường phố của chúng tôi và chúng tôi nhìn theo cách khác; những người di cư không còn là những khuôn mặt mà là những con số; các tù nhân bị từ chối, mọi người bị coi là có vấn đề,” ĐGH Phan xi cô nói.

Chúa Nhật Lễ Lá đã mở ra một lịch trình dày đặc các nghi thức mục vụ trong Tuần Thánh dành cho đức giáo hoàng, bao gồm cả Thánh lễ Thứ Năm Tuần Thánh tại một nhà tù dành cho trẻ vị thành niên ở Rome. Tuần Thánh lên đến đỉnh điểm vào ngày 9 tháng 4 với Thánh lễ Chúa nhật Phục sinh, nhắc lại niềm tin của người Kitô giáo vào sự phục sinh của Chúa Giêsu.

ĐGH đã bị một số bệnh trong những năm gần đây, bao gồm cả chứng đau đầu gối nghiêm trọng, điều đó có nghĩa là ngài phải chống gậy và thường ngồi xe lăn khi xuất hiện trước công chúng. Những khó khăn trong việc di chuyển đã hạn chế sự tham gia của ngài vào một số sự kiện, và như đã xảy ra vào năm ngoái, một hồng y cấp cao đã cử hành Thánh lễ vào Chúa Nhật Tuần Thánh.

Thánh lễ vào Chủ nhật Phục sinh, ngày quan trọng nhất trong lịch phụng vụ của Công Giáo, trong Thánh Lễ này, theo thông lệ ĐGH sẽ công bố bài giảng “Urbi et Orbi” (cho thành phố và thế giới)

Phan Sinh Trần

Bài giảng sâu sắc của ĐTC Phan xi cô trong tuần Thánh – Lễ Lá

Đài Chân Lý Á Châu

Bài giảng của Đức Thánh cha

Trong bài giảng sau bài Thương khó, Đức Thánh cha đặc biệt diễn giải câu Chúa Giêsu thốt lên trên thập giá: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Chúa bỏ rơi con?”. Đó là lời khẩn cầu mà phụng vụ hôm nay để cho chúng ta lập lại trong thánh vịnh đáp ca (Xc Tv 22,2) và là lời duy nhất Chúa Giêsu thốt lên trên thập giá, như bài Tin mừng chúng ta đã nghe. Vì thế, đó là những lời đưa chúng ta vào trọng tâm cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, đi vào tột đỉnh những đau khổ Chúa đã chịu để cứu độ chúng ta”.

Chúa chịu đau khổ vì yêu thương chúng ta

Đức Thánh cha nói: “Những đau khổ của Chúa Giêsu thật là nhiều và mỗi lần chúng ta nghe bài Thương khó, chúng ta đi vào những đau khổ đó. Có những đau khổ thể xác: từ những cái tát cho đến những sự đánh đập, từ những roi đòn cho đến mão gai, đến sự cực hình khổ giá. Có những đau khổ trong tâm hồn: sự phản bội của Giuđa, sự chối bỏ Thầy của Phêrô, những kết án của giới lãnh đạo tôn giáo và chính quyền, sự nhạo cười của lính canh, những lăng mạ dưới chân thập giá, sự phủ nhận của bao nhiêu người, sự thất bại mọi sự, sự bỏ rơi của các môn đệ… Giờ đây, xảy ra một điều không tưởng tượng được; trước khi chết Chúa Giêsu kêu lên: “Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Chúa bỏ con?”

Đức Thánh cha cũng nói đến đau khổ xé lòng về tinh thần mà Chúa Giêsu đã chịu: “Chúa cảm thấy bị Thiên Chúa bỏ rơi. Vì yêu thương chúng ta, Chúa đi tới độ chịu đau khổ tột cùng”. Đức Thánh cha nhận xét rằng: “Động từ ‘bỏ rơi’ trong Kinh thánh thật là mạnh; đau khổ tinh thần xuất hiện trong những lúc đau đớn tột cùng: trong những thất tình, bị xua đuổi và phản bội; nơi những người con bị phủ nhận và phá thai; trong những tình trạng bi ruồng bỏ, góa bụa và mồ côi; trong những hôn phối kiệt quệ, trong những loại trừ, tước bỏ những quan hệ xã hội, trong những áp bức bất công và trong cô độc vì bệnh tật: tóm lại, trong những tan nát bi thảm nhất của các mối quan hệ. Chúa Kitô đã chịu điều đó trên thập giá, vác lấy tội lỗi của trần thế… Chúa Giêsu đã chịu tất cả những điều đó vì chúng ta, liên đới với chúng ta đến tột cùng, để ở với chúng ta đến cùng. Để không một ai trong chúng ta có thể nghĩ mình cô độc và không thể phục hồi. Chúa đã chịu sự bỏ rơi để không để chúng ta trở thành con tin của sầu khổ, để ở cạnh chúng ta mãi mãi”.

Đáp lại tình thương của Chúa

Đức Thánh cha nói thêm rằng: “Anh chị em thân mến, một tình yêu như thế, tất cả cho chúng ta, và đến độ tột cùng, có thể biến đổi những con tim chai đá của chúng ta thành những con tim bằng thịt, có khả năng thương xót, dịu dàng, cảm thương. Chúa Kitô bị bỏ rơi thúc đẩy chúng ta tìm kiếm và yêu mến Chúa nơi những người bị bỏ rơi. Lý do vì nơi họ, không những chỉ có những người túng quẫn, nhưng có chính Ngài, Chúa Giêsu bị bỏ rơi, Đấng đã cứu vớt chúng ta, khi hạ mình đến cùng trong thân phận phàm nhân của chúng ta. Vì thế, Chúa muốn chúng ta chăm sóc các anh chị em của chúng ta, những người rất giống Ngài, giống Ngài trong tình trạng đau khổ tột cùng và cô đơn. Ngày hôm nay có bao nhiêu “Kitô hữu bị bỏ rơi”. Có cả các dân tộc bị bóc lột và bỏ mặc; có những người nghèo sống ở những ngã tư đường của chúng ta, những người mà chúng ta không dám nhìn thẳng vào họ; những người di dân không còn là những khuôn mặt nhưng chỉ là những con số; các tù nhân bị phủ nhận, những người bị xếp loại như những vấn đề. Nhưng cũng có bao nhiêu Kitô hữu bị bỏ rơi vô hình, giấu kín, bị gạt bỏ bằng những găng tay trắng: đó là những hài nhi chưa sinh ra, người già bị bỏ mặc, bệnh nhân không được thăm viếng, người khuyết tật bị làm ngơ, người trẻ cảm thấy trống rỗng lớn trong tâm hồn mà không có người nào thực sự nghe tiếng kêu đau thương của họ.”

“Chúa Giêsu bị bỏ rơi xin chúng ta hãy có đôi mắt và con tim đối với những người bị bỏ rơi. Đối với chúng ta là môn đệ của Đấng bị bỏ rơi, không ai có thể bị gạt ra ngoài lề, không ai có thể bị bỏ mặc một mình; vì chúng ta hãy nhớ rằng những người bị phủ nhận và loại trừ là hình ảnh sống động của Chúa Kitô. Ngày hôm nay, chúng ta hãy cầu xin ơn này, đó là luôn biết yêu mến Chúa Giêsu bị bỏ rơi và biết yêu mến Chúa Giêsu nơi mỗi người bị bỏ rơi.”

Phan Sinh Trần