Việt Mỹ, tình trong như đã mặt ngoài còn e

Việt Mỹ, tình trong như đã mặt ngoài còn e

Kính Hòa RFA
2019-03-28

Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng (giữa) bắt tay tiễn Tổng thống Donald Trump sau hội đàm tại Phủ Chủ tịch, Hà Nội, 27/2/2019.

Chủ tịch Nguyễn Phú Trọng (giữa) bắt tay tiễn Tổng thống Donald Trump sau hội đàm tại Phủ Chủ tịch, Hà Nội, 27/2/2019.

 AFP

Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức tái lập quan hệ ngoại giao vào năm 1995, hai mươi năm sau cuộc chiến Việt Nam kết thúc. Trong vòng hai mươi năm đó cũng có các cố gắng tái lập bang giao giữa hai bên nhưng đều không thành.

Tuy nhiên quan hệ hai nước lại có vẻ tăng tốc trong ba, bốn năm gần đây với hàng loạt các chuyến thăm qua lại cấp cao của các nhà lãnh đạo hai nước: Trương Tấn Sang, Obama, Nguyễn Xuân Phúc, Trump, Nguyễn Phú Trọng,… Đó là chưa kể đến các cấp bộ trưởng bên dưới.

Trong tiến trình tăng tốc ngoại giao đó, người ta thấy một cuộc hội thảo mang chủ đề Khắc phục hậu quả chiến tranh: Chặng đường hòa giải và hợp tác tương lai giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, được tổ chức tại Viện Hòa Bình Hoa Kỳ, thủ đô Washington DC, do hai Bộ quốc phòng hai nước đồng tổ chức, vào ngày 26/3/2019.

Nơi diễn ra hội thảo chỉ cách bức tường đen ghi tên 58 ngàn binh sĩ Mỹ chết trận chỉ vài phút lái xe.

Trong đoàn Việt Nam có Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ quốc phòng.

Phía Mỹ có ông Joseph Felter, trợ lý Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách khu vực Đông Nam Á.

Đây là một cuộc hội thảo rất hữu nghị kéo dài trọn ngày. Hai bên bày tỏ ý nguyện hợp tác với nhau giải quyết các vấn đề hậu quả chiến tranh như là rà phá bom mìn và khử chất độc da cam tại Việt Nam, tìm kiếm các quân nhân Mỹ, Việt bị mất tích trong chiến tranh. Và hai bên đều đồng ý rằng việc hợp tác đó sẽ thúc đẩy quan hệ ngoại giao giữa hai nước, một quan hệ mà nhiều người nói rằng phát triển rất ngoạn mục, rất đặc biệt, từ thù thành bạn.

Tuy vậy có một vấn đề mà hai bên đề cập đến khác nhau.

Đó là Trung Quốc.

Một diễn giả Mỹ đã nói trong buổi hội thảo rằng đây là một con voi trong phòng, ý nói rằng nó hiện ra một cách hiển nhiên nhưng người ta lại tránh nói tới.

Nhưng thực ra người Mỹ không tránh nói tới. Những diễn giả và người đặt câu hỏi người Mỹ đã đề cập đến Trung Quốc 5 lần, thậm chí nói đến việc Trung Quốc đang bành trướng lãnh thổ.

Đáp lại phía Việt Nam chỉ có đề cập đến Trung Quốc 1 lần, trong câu trả lời của Đại sứ Hà Kim Ngọc:

Việt Nam tránh đưa ra những bình luận về Trung Quốc ở chổ công khai.
-Ông Hoàng Việt.

“Nhiều người trong chúng ta đề cập đến Trung Quốc, nhưng tôi nghĩ rằng chúng ta còn nhiều chuyện nữa để làm.”

Người Mỹ không chỉ đề cập đến Trung Quốc, mà còn đề cập tới một khái niệm gọi là Ấn Độ Thái Bình Dương, được xem như một chiến lược mới của Mỹ, nhằm liên kết các quốc gia trong vùng là Nhật Bản, Ấn Độ, Úc, để kềm chế Trung Quốc.

Khái niệm này được người Nhật đưa ra từ lâu, nhưng mới được dùng trở lại như một chiến lược toàn cầu của Washington trong hai năm gần đây.

Các diễn giả Mỹ đề cập đến Ấn Độ Thái Bình Dương 12 lần, trong đó có cả những người làm việc cho cơ quan chuyên về phát triển là USAID.

Người Mỹ cho rằng Việt Nam nằm ở trọng tâm việc phát triển chiến lược Ấn Độ Thái Bình Dương của họ.

Phía Việt Nam không một lần nào đề cập đến.

Dường như phía Mỹ mong muốn có một sự đáp trả tích cực hơn từ phía Việt Nam cho chiến lược toàn cầu của họ.

Ông Hoàng Việt, một chuyên viên nghiên cứu về Biển Đông tại Việt Nam bình luận về sự khác biệt này với RFA:

“Nói cho cùng thì Trung Quốc cũng là một cường quốc. Việt Nam mà phát biểu những câu chuyện liên quan tới Trung Quốc thì chắc chắn là sẽ khó khăn cho những người trong chính phủ Việt Nam sau này phải làm việc với Trung Quốc. Vì thế Việt Nam tránh đưa ra những bình luận về Trung Quốc ở chổ công khai.”

Phía Mỹ thâm chí đề cập đến cả công ty viễn thông Hoa Vi của Trung Quốc đang bị cáo buộc làm gián điệp tại phương Tây. Công ty này đang hy vọng đạt được những gói thầu lớn về thiết bị Viễn thông tại Việt Nam. Đại sứ Hà Kim Ngọc trả lời về sự quan ngại của các diễn giả Mỹ về Hoa Vi rằng Việt Nam lúc nào cũng buộc các đối tác tôn trọng chủ quyền của Việt Nam.

Ông Hà Hoàng Hợp, một nhà nghiên cứu làm việc tại Singapore nói với RFA:

“Việt Nam ủng hộ Ấn Độ Thái Bình Dương đấy, nhưng chưa có một hành động cụ thể nào cả. cho nên họ không muốn nói nhiều đến. Cái thứ hai là cái Ấn Độ Thái Bình Dương ấy thuộc quyền nghiên cứu của một nhóm của tướng Vịnh. Nhưng họ đi Mỹ lần này là chỉ nói về quan hệ Việt Mỹ, chứ thực ra họ không bỏ qua cái Ấn Độ Thái Bình Dương.”

Về mặt chính thức, cố Chủ tịch nước Việt Nam, ông Trần Đại Quang cũng từng lên tiếng ủng hộ Ấn Độ Thái Bình Dương, trong chuyến thăm Ấn Độ của ông vào tháng 3/2018. Trong cùng phát biểu đó, ông Trần Đại Quang cũng có đề cập đến đại dự án Vành đai con đường của Trung Quốc, ông ca ngợi tất cả các sáng kiến hợp tác, dù là của Mỹ hay Trung Quốc, hay Nhật Bản.

Họ đi Mỹ lần này là chỉ nói về quan hệ Việt Mỹ, chứ thực ra họ không bỏ qua cái Ấn Độ Thái Bình Dương.
-Ông Hà Hoàng Hợp.

Sáng kiến Vành đai con đường của Trung Quốc được xem như một đại dự án phát triển thế lực và ảnh hưởng của Bắc Kinh ra toàn thế giới mà các quốc gia phương Tây, trong đó có Mỹ không ít lần lên tiếng chỉ trích.

Qua những phát biểu chính thức trong vài năm gần đây, Việt Nam lên tiếng tham gia tất cả các định chế do phương Tây hay Trung Quốc đề ra, từ dự án hơp tác phát triển xuyên Thái Bình Dương, gồm 11 quốc gia không có Trung Quốc, cho đến Ngân hàng phát triển cơ sở hạ tầng do Trung Quốc sáng lập.

Những hành động ngoại giao của Việt Nam trong các quan hệ với Mỹ và Trung Quốc được giới quan sát xem là một hành động đu giây giữa hai siêu cường để tránh sự xung đột.

Trong năm 2019 này, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng lại có một chuyến thăm nước Mỹ, người ta đang trông chờ một chuyến đi của ông hay một viên chức cao cấp nào đó đến Bắc Kinh trước, hay sau chuyến đi Mỹ.

Ông Hà Hoàng Hợp nói thêm rằng Việt Nam sẽ tận dụng mọi cái mà các nước lớn đưa ra để giải quyết tốt việc tranh chấp trên Biển Đông.

Biển Đông là vấn đề rất quan trọng đối với người dân Việt Nam với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền, trong đó Hoàng Sa đã bị Trung Quốc chiếm đóng hơn 40 năm nay.

Xung đột với Trung Quốc trên Biển Đông, nơi Bắc Kinh cho rằng có 90% diện tích là của mình, luôn là vấn đề người Việt Nam quan tâm đến. Có thể nói Biển Đông là lợi ích sống còn của người Việt Nam.

Biển Đông cũng được xem là nơi Mỹ rất cần có sự hiện diện để bảo vệ con đường lưu thông Đông Tây của mình và các đồng minh. Vào năm 2010, bà Ngoại trưởng Mỹ lúc đó là Hillary Clinton tuyên bố rằng Hoa Kỳ có lợi ích tại Biển Đông. Và trong ba năm trở lại đây Hoa Kỳ liên tục tổ chức tuần tra trong Biển Đông, thách thức sự đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc.

Theo ông Hà Hoàng Hợp, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh là người phụ trách đối ngoại của quân đội Việt Nam, và người ta thấy rằng cuộc hội thảo tại Viện Hòa bình không phải là lần đầu tiên ông xuất hiện trên đất Mỹ.

Dù không nói đến Trung Quốc, không nói đến Ấn Độ Thái Bình Dương, nhưng tướng Vịnh có hai lần nhấn mạnh rằng Việt Nam và Hoa Kỳ có những lợi ích quốc gia chung.

 Đảng Cộng Sản buôn thần bán thánh

 Đảng Cộng Sản buôn thần bán thánh

Ngô Nhân Dụng

March 26, 2019

Chùa Ba Vàng ở thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. (Hình: Chuabavang)

Vụ chùa Ba Vàng bị vỡ lở vì làm tiền bằng cách gieo rắc mê tín dị đoan không phải chỉ là một hành động lẻ loi của một ông sư đảng viên quá tham lam. Cũng không phải chỉ là cuộc tranh chấp giữa một ông sư tỉnh lẻ với một ông sư ở trung ương được báo chí nhà nước hỗ trợ. Nhìn kỹ, thì đây là một “hiện tượng” nổi lên trên mặt nước mà dưới đáy lâu là “bản chất,” một chế độ độc tài toàn trị muốn kiểm soát cả các hoạt động tôn giáo.

Ông sư chùa Ba Vàng, Vũ Minh Hiếu, 52 tuổi, là một đảng viên Cộng Sản. Ông ta mới cạo đầu năm 1999 sau khi xin vào chùa thực tập năm trước. Ông đã chọn tới xin học tại một thiền viện ở miền Nam do một vị hòa thượng được mọi người kính trọng sáng lập. Chính vị hòa thượng lớn tuổi chắc cũng không biết ông là người thế nào khi ông được xuất gia; nhưng ông sư trẻ 40 thì được hưởng lây uy tín.

Năm 2001, Vũ Minh Hiếu, hiệu là Thái Minh, trở lại miền Bắc, từ năm 2007 được giao cho coi ngôi chùa Ba Vàng thuộc thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh; lúc đó chỉ là một chùa rất nhỏ. Ông đã làm tiền rất giỏi, trong bảy năm xây nên một ngôi chùa với chánh điện được mô tả là lớn nhất Đông Nam Á!

Nhưng hoạt động kinh doanh của ông đã đi quá đà khi lợi dụng lòng mê tín của người dân một cách quá lộ liễu. Và ông thành công rầm rộ đến nỗi “cấp trên” trong tổ chức tôn giáo của đảng Cộng Sản phải ganh tức. Báo chí được khuyến khích đi phanh phui, tố cáo những hoạt động mê tín làm ra tiền này.

Vũ Minh Hiếu đã tổ chức các lễ “thỉnh vong, giải oan gia trái chủ,” được một bà đệ tử góp công vận động qua những bài thuyết giảng, video và tổ chức việc kinh doanh. Họ thỉnh vong, theo phong tục “gọi hồn,” khi một người muốn tiếp xúc với vong linh người đã chết. Họ có thể mời vong hồn nhập vào một người, giống như khi “lên đồng.” Khi đó “bà đồng” sẽ chữa bệnh và “phán số kiếp” của người đến xin. “Vong” sẽ bắt người thân của mình phải “trả nợ” để chính họ được thoát nợ những tội lỗi đã làm từ kiếp trước. Số tiền gọi là “tiền giải nghiệp,” lớn từ vài triệu đến vài chục triệu đồng Việt Nam.

Vũ Minh Hiếu đã bị mất chức, nhưng chưa thấy nói có mất thẻ đảng hay không. Nhưng qua vụ này người ta thấy bản chất của việc lũng đoạn các tổ chức tôn giáo của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Bản chất của Cộng Sản là độc tài toàn trị. Họ muốn kiểm soát tất cả các hoạt động trong xã hội, qua các đoàn thể phụ thuộc, từ các hội nhà văn, công đoàn, cho tới Hội Chữ Thập Đỏ. Họ không thể kiểm soát được Giáo Hội Công Giáo, nhưng đã nắm Phật Giáo trong tay qua tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, mà người dân gọi là Giáo Hội Phật Giáo Quốc Doanh.

Từ mấy ngàn năm nay, Phật Giáo vốn không có một tổ chức cai quản tất cả các người đi tu và các tu viện, chùa chiền. Thời xưa ở nước ta, các ông vua, họ có thể phong chức “tăng thống” nhưng vị tăng thống chỉ là một người đạo hạnh cao để làm gương chứ không phải là người quản trị, điều hành các chùa hoặc tu viện. Và ông vua không có quyền hành gì trên vị tăng thống, cũng như các chùa chiền.

Tại những nước Nam Tông mà đạo Phật được coi là quốc giáo, vẫn luôn luôn có các vị sư sống độc lập, có khi sống một mình trong rừng. Các Phật tử kính mộ có thể mời vị sư vào một ngôi chùa, mà không cần chỉ thị nào từ trên ban xuống. Miền Nam Việt Nam trước đây vẫn sống trong truyền thống như thế, cho nên mới có những danh tăng nổi tiếng. Phật Thầy Tây An, Ông Sư Vãi Bán Khoai, đều là những người tự do hành đạo xây dựng những đạo tràng trong thế kỷ 19. Đức Huỳnh Giáo Chủ đã xây dựng cả một tông phái Phật Giáo mới vào đầu thế kỷ trước.

Hiện nay tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam hoàn toàn nằm trong vòng tay kiểm soát của đảng Cộng Sản; đặc biệt tại miền Bắc. Không ai được “tu độc lập, tự do.”

Như chúng ta thấy, ông sư Vũ Minh Hiếu đã bị Ban Thường Trực Hội Đồng Trị Sự của khu vực miền Bắc họp bàn và cách chức. Nhưng trong hội nghị của họ, “có mời đại diện Cục An Ninh Nội Địa và Ban Tôn Giáo Chính Phủ cùng tham dự.” Chỉ cách chức ông sư tại một ngôi chùa, mà cũng phải mời cả hai ngành của guồng máy nhà nước chứng giám! Chính những người cầm đầu “giáo hội” chịu cúi đầu khuất phục dưới chế độ độc tài!

Ban Tôn Giáo Chính Phủ, mà báo Lao Động gọi là “cơ quan có nhiệm vụ theo dõi hoạt động tôn giáo,” là một tổ chức vừa lo kiểm soát vừa làm kinh tài của đảng Cộng Sản. Họ “chỉ đạo” cho những người cầm đầu “Giáo Hội Phật Giáo.” Không ai được phép trụ trì một ngôi chùa nếu không được đảng cho phép, dù đông đảo Phật tử có kính mộ. Các chùa thu được nhiều tiền sẽ được hỏi thăm.

Cuối cùng, các chùa chiền thuộc Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam bị biến thành guồng máy kinh tài cho đảng Cộng Sản. Không khác gì các doanh nghiệp nhà nước làm kinh tài cho các bộ công nghệ, bộ canh nông hoặc thương mại.

Một điều đặc biệt là tổ chức kinh doanh tôn giáo này không bị ràng buộc như các “xí nghiệp” khác.

Luật Sư Phùng Thanh Sơn ở Sài Gòn viết trên Facebook cá nhân cho thấy “Kinh doanh thần thánh là ngành nghề được ưu đãi và an toàn nhất Việt Nam.”

Nghề này được ưu đãi “vì được miễn tiền sử dụng đất, không đóng thuế thu nhập, không bị thanh tra, kiểm tra thuế, không bị nhà nước kiểm toán, không bị xử lý nếu sử dụng tiền (cúng dường) sai mục đích.”

Ngoài ra, Luật Sư Phùng Thanh Sơn còn nhận thấy “những người có chức sắc không bị xử lý hình sự nếu lấy tiền công đức (tức là thu nhập của công ty) làm của riêng.” Trong khi đó, giám đốc các xí nghiệp quốc doanh có thể bị hỏi tội này nếu phe đảng của họ đổ.

Khi một một vụ tham nhũng ở công ty quốc doanh bị khui ra, các chức sắc sẽ bị đưa ra tòa. Còn khi vụ kinh doanh mê tín của Vũ Minh Hiếu bị đổ bể, ông ta mất chức ở chùa, nhưng không biết có bị đưa ra tòa án ngoài đời hay không!

Các ông cựu giám đốc doanh nghiệp nhà nước đang ra tòa có thể khiếu nại: Tại sao, cùng là đảng viên nhận nhiệm vụ do đảng giao phó, mà chúng tôi bị bạc đãi còn các cán bộ đầu trọc được hưởng đủ thứ ưu tiên như vậy?

Tất cả những tệ nạn mê tín, buôn thần bán thánh như trên, đều là hậu quả của tình trạng đảng Cộng Sản kiểm soát tôn giáo, đặc biệt là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam.

Đảng Cộng Sản không thao túng được tất cả các chùa chiền và các tăng ni. Rất nhiều chùa bị bắt buộc phải gia nhập tổ chức này, nhưng tăng ni vẫn sống trong thanh quy, giới luật. Họ vẫn giúp các Phật tử tìm về chánh đạo nhờ gìn giữ hạnh tu. Họ không bị đảng Cộng Sản sách nhiễu nếu không tỏ ra chống đối nhà nước. Nhờ những người đó mà đạo Phật vẫn còn tương lai; nhất là khi các tăng ni tu học theo các pháp môn mới, đáp lại nhu cầu tu tập của thế hệ trẻ và có học.

Nhưng không ai tin rằng những người cầm đầu Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam có thể cải thiện các chùa dưới quyền họ để giảm bớt nạn kinh doanh lợi dụng óc mê tín như ở chùa Ba Vàng. Bởi vì mỗi quyết định của “Giáo Hội,” ở trung ương và nhất là địa phương, đều phải được các bí thư và đảng ủy phê chuẩn. Một ngôi chùa “phát tài” là một nguồn lợi lớn và an toàn cho các ông bà quan này. Lớn và an toàn hơn các doanh nghiệp nhà nước trong địa phương của họ. Ai muốn giết những con gà đẻ trứng vàng như thế?

Đại nạn của Phật Giáo Việt Nam hiện nay là phải sống dưới một chế độ độc tài toàn trị. Khi nào chế độ đó tan rã, mới có thể xây dựng lại xã hội, xây dựng lại đạo ý, và trùng hưng Phật Giáo. (Ngô Nhân Dụng)

‘Sư đảng viên’ Ba Vàng từng gom tiền xây chùa Quảng Nam rồi ‘biến’

‘Sư đảng viên’ Ba Vàng từng gom tiền xây chùa Quảng Nam rồi ‘biến’

Động thổ xây dựng khu du lịch năm 2016, có mặt ‘Sư đảng viên’ Thích Trúc Thái Minh, đứng giữa, đeo kính trắng. (Hình: Tuổi Trẻ)

QUẢNG NAM, Việt Nam (NV) – Trụ trì chùa Ba Vàng đã từng mượn đất cho động thổ xây dựng dự án Khu Du Lịch Tâm Linh Thiền Trúc Lâm – Quảng Nam, hay còn gọi là chùa Ba Vàng Quảng Nam, ở huyện Phú Ninh hồi năm 2016, gom tiền các Mạnh Thường Quân quyên góp rồi…“biệt tăm”.

Theo báo Tuổi Trẻ ngày 28 Tháng Ba, 2019, cho biết  hồi ngày 26 Tháng Năm, 2016, tại khu vực rừng phòng hộ Phú Ninh, xã Tam Đại, huyện Phú Ninh, Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Ba Vàng Quảng Nam tổ chức lễ động thổ khởi công xây dựng dự án Khu Du Lịch Tâm Linh Thiền Trúc Lâm – Quảng Nam (chùa Ba Vàng Quảng Nam) rất “hoành tráng”.

Đồ án khu du lịch tâm linh thiền Trúc Lâm Quảng Nam. (Hình: Tuổi Trẻ)

Tại lễ khởi công, chủ đầu tư cho hay việc xây dựng chùa Ba Vàng Quảng Nam nhằm “thúc đẩy phát triển du lịch, bảo đảm an sinh xã hội, xây dựng đạo đức con người đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, đời sống tâm linh của người dân,” làm nhiều người dân ở đây phấn khởi vì sắp có một dự án du lịch tâm linh lớn.

Cũng tại buổi động thổ khởi công này, nhiều nhà hảo tâm, tập thể, cá nhân đã ủng hộ hàng tỷ đồng và nhiều hiện vật có giá trị để góp phần xây dựng chùa.

Trong đó, có những nhà hảo tâm đưa tận tay hàng trăm triệu đồng tiền mặt cho đại diện nhà đầu tư, một số trao bảng tượng trưng với số tiền rất lớn, có người tặng 1 tỷ đồng. Đáng chú ý, người trực tiếp đứng ra nhận số tiền và hiện vật trên chính là “sư đảng viên” Thích Trúc Thái Minh, trụ trì chùa Ba Vàng Quảng Ninh, ngôi chùa mà những ngày qua đang gây xôn xao dư luận bởi việc gọi vong, nhập hồn thông qua hình thức công đức.

Thế nhưng, sau lễ khởi công thì chủ đầu tư thông báo, báo cáo tỉnh Quảng Nam dừng thực hiện dự án do “gặp một số khó khăn, vướng mắc.”

Theo báo Tuổi Trẻ, cho đến hiện tại, khoảnh đất mà chủ đầu tư đã làm lễ động thổ nằm bên cạnh hồ Phú Ninh vẫn để trống, người dân thả bò trên phần đất ấy và trồng keo con.

Ông Nguyễn Xuân Phước,  giám đốc Ban Quản Lý Rừng Phòng Hộ Phú Ninh, cho biết phần đất mà chủ đầu tư làm lễ động thổ và toàn bộ diện tích dự kiến xây chùa vẫn là đất rừng phòng hộ, chưa được chuyển đổi mục đích sử dụng từ rừng phòng hộ sang đất xây dựng chùa chiền.

“Họ xin mượn địa điểm là khoảnh đất trống ở rừng phòng hộ để làm lễ khởi công thôi chứ chẳng có văn bản gì hết, mình cũng thấy không ảnh hưởng gì nên để họ làm. Và từ khi làm lễ khởi công xong họ cũng chẳng làm gì hết, chưa tác động đến rừng phòng hộ khu vực này,” ông Phước nói.

‘Sư đảng viên’ Thích Trúc Thái Minh nhận văn bản tiền ủng hộ xây chùa. (Hình: Tuổi Trẻ)

Trước việc dự án xây chùa trên dừng thực hiện, rất nhiều người dân và chính quyền địa phương bất ngờ. Do vậy từ năm 2017, Ban Thường Vụ Tỉnh ủy Quảng Nam và Ban Chỉ Đạo Công Tác Tôn Giáo đã có ý kiến đề nghị Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Nam phúc trình cho biết rõ nguyên nhân dự án dừng triển khai.

Đến Tháng Tám, 2017, Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Quảng Nam có phúc trình giải đáp cho biết, trong quá trình khai triển dự án, chủ đầu tư gặp một số khó khăn, vướng mắc, như thủ tục pháp lý chuyển đổi mục đích sử dụng đất, bồi thường, giải tỏa mặt bằng, công tác bảo vệ môi trường, đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ khai triển dự án, nguồn vốn thực hiện. Trong đó, khó khăn lớn nhất là “không bảo đảm năng lực tài chính” nên chủ đầu tư báo cáo Ủy Ban Nhân Dân tỉnh không tiếp tục khai triển, dừng thực hiện dự án…

Điều đáng chú ý là sau khi chủ đầu tư dừng dự án này, dư luận cho rằng chủ đầu tư đã “vẽ” ra dự án để động thổ, khởi công rồi nhận tiền ủng hộ xây chùa của các nhà hảo tâm, bây giờ số tiền ấy đi đâu? Và đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. (Tr.N)

Vì sao Phật giáo Việt Nam ra nông nỗi này?

Vì sao Phật giáo Việt Nam ra nông nỗi này?

Nam Nguyen Hoang Dao

27-3-2019

Các chân tu đã bị cộng sản tiêu diệt hay giam cầm hết rồi, thì là lúc ma tăng xuất hiện. Vụ việc lừa đảo ở chùa Ba Vàng là những gì phải đến sau những gì mà cộng sản đã làm hại Phật giáo chính thống ở VN.

Năm 1994, Hoà thượng Thích Quảng Độ bị bắt khi dẫn phái đoàn Viện Hoá Đạo đi cứu trợ nạn bão lụt ở đồng bằng sông Cửu Long, bị kết án 5 năm tù. Chỉ vì thầy không tu theo kiểu cộng sản muốn, không muốn giáo hội Phật giáo là cánh tay nối dài của tổ chức Mặt trận Tổ quốc. Việc cứu trợ của thầy không thông qua 3 tổ chức dưới quyền đảng trong đó có MTTQ theo như luật của cộng sản đặt ra làm họ rất khó chịu.

Cộng sản còn lo sợ việc cứu tế của thầy sẽ thu phục được nhân tâm của dân chúng, khiến dân chúng đứng về phía thầy, phản đối lại cộng sản, nên phải bắt bỏ tù thầy ngay lập tức bằng cáo buộc “phá hoại chính sách đoàn kết và lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước”.

Hòa thượng Thích Quảng Độ (trái) bị bắt và đưa ra tòa Cộng sản. Ảnh trên mạng

Trong ảnh, ngoài cùng bên trái là hòa thượng Thích Quảng Độ. Một chư tăng đi cứu trợ giúp dân chân chính như vậy mà bị bắt giam, còn kẻ lừa đảo có tổ chức quy mô lớn ở Ba Vàng lại nhởn nhơ, hỏi sao không mạt pháp

Đó chỉ là 1 trong nhiều vụ án mà đảng cộng sản đã tiến hành thực hiện trong toàn bộ công cuộc phá nát Phật giáo miền nam sau 1975, để tạo dựng nên một hệ thống Phật giáo mới, nằm dưới quyền kiểm soát của đảng, mà ngày nay còn bị gọi là Phật giáo quốc doanh.

Kể từ tháng 9 năm 75, cuộc đàn áp Gíao hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bắt đầu theo Chỉ thị số 20 của Đảng do ông Lê Duẩn ký năm 1960, phát động cho quần chúng và bộ đội, công an đập phá các tượng Phật lộ thiên. Cuối tháng 9 năm 75, Hoà thượng Thích Huyền Quang nhân danh Viện Hoá Đạo, đã có văn thư phản đối Chủ tịch Cách Mạng Lâm thời về việc này.

Nhiều hiện tượng khác, như bắt treo hình Hồ Chí Minh trên bàn thờ tổ tiên, áp lực chư Tăng hoàn tục, hoặc đưa sang chiến trường Kampuchia, cấm treo cờ Phật giáo trong các chùa viện, cưỡng chiếm các cơ sở văn hoá, giáo dục, từ thiện Phật giáo, như Cô nhi viện Quách Thị Trang, Viện Đại học Vạn Hạnh, v.v… hàng chục nghìn Tăng Ni, Phật tử bị đưa vào trại cải tạo.

Trong lịch sử Việt Nam, chưa có thời đại nào mà số lượng Tăng Ni, Phật tử bị cầm tù đông đảo như dưới triều đại Hồ Chí Minh.

Tình trạng áp bức thiết khiến 12 Tăng Ni tự thiêu tập thể ngày 2-11 năm 75 tại Thiền viện Dược Sư, tỉnh Cần Thơ, dưới hàng biểu ngữ “Chết vinh hơn sống nhục“. Đáng buồn, lúc đó toàn đất nước đã nằm trong tay cộng sản, mà cộng sản nắm quyền toàn bộ thì làm gì có sự xuất hiện của những phóng viên tự do để đăng tải những sự thật khủng khiếp này. Tất cả những việc tàn ác như vậy được các chư tăng bị trục xuất hay trốn ra nước ngoài sau này kể lại.

*Chú thích: Phật giáo miền nam trước năm 1975 có danh xưng là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHVNTN) ra đời năm 1964 tại Sài Gòn. Khác với Phật giáo quốc doanh ngày nay là cánh tay nối dài của Mặt trận Tổ quốc, có danh xưng Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) ra đời năm 1981 tại chùa Quán Sứ – Hà Nội.

Chùa Liên Trì ở Thủ Thiêm bị giải tỏa cách đây mấy năm chính là chùa cuối cùng thuộc GHPGVNTN, tính riêng khu vực Sài Gòn – Gia Định cũ.

Bạn đọc có thể kiểm chứng qua lời thu âm lại của thượng tọa Thích Thiện Minh từng bị giam 26 năm trong nhà tù cộng sản:

Hay nghe từ phút thứ 6, đệ tam tăng thống Thích Đôn Hậu tố cáo:

Và tìm đọc “Hồ sơ Thống nhất Phật giáo” của Đỗ Trung Hiếu – cán bộ tôn giáo vận, góp tay thực hiện thống nhất Phật giáo dưới sự kiểm soát của Mặt trận Tổ quốc, sau này hối hận ông tiết lộ tất cả sự thật:

https://phatgiaokhongcongsan.blogspot.com/2011/05/ho-so-thong-nhat-phat-giao-o-trung-hieu.html

Ghi chú: Tựa đề do Tiếng Dân đặt

“SỰ THẬT CAY ĐẮNG VỀ CHÍNH QUYỀN!

 

Image may contain: 1 person, smiling, outdoor
Nguyễn Thị HoàngHải

Nhặt trên fb Oanh Bùi một bài hay của nhà báo Nguyễn Như Phong:

“SỰ THẬT CAY ĐẮNG VỀ CHÍNH QUYỀN!

Chiều nay, tôi gặp một doanh nhân rất nổi tiếng, từng là đại biểu quốc hội. Anh cũng vừa nghiên cứu và đưa vào ứng dụng thành công về phương pháp xử lý nước thải từ các khu công nghiệp rất thành công, và cực kỳ độc đáo, nếu như chưa muốn nói là thế giới cũng chưa có. Từ nước thải công nghiệp, nhiễm kim loại nặng, qua tay anh xử lý, hàm lượng kim loại chỉ còn 0.03 ( thấp hơn 10 lần tiêu chuẩn cho phép)… Hồ nước thải của anh , cá Koi của Nhật lội tung tăng… và nước đó, thừa tiểu chuẩn dùng làm nước sinh hoạt ( tắm, giặt, vệ sinh, nấu cơm…) chỉ không uống trực tiếp được thôi.
Tôi bảo : ” Anh mang công nghệ này áp dụng cho mấy thánh phố lớn như HN, TP HCM…”

Anh nói ngay : ” Không bao giờ tôi làm gì dính với Nhà nước. Một xu, một cắc cũng không?”

Rồi anh quay sang nói với một nhân viên : ” Có mấy khu công nghiệp thuê mình xử lý nước thải, các cô phải kiểm tra là trong số đó có doanh nghiệp Nhà nước không? Nếu có doanh nghiệp Nhà nước,dù họ chỉ chiểm 25-30% cổ phần cũng không được làm. Cái gì dính đến chữ Nhà nước là không làm. Dứt khoát không.”

Tôi ngạc nhiên, hỏi : ” Tại sao lại thế”

Anh nói dứt khoát: ” Ký làm ăn với ông Nhà nước, hôm nay bảo đúng, ngày mai ông khác lên, bảo sai, lôi doanh nghiệp ra chém…Thế thì có mà bỏ mẹ. Cho nên từ lâu rồi, tôi là không chơi với Nhà nước. Đó là chưa kể muốn làm ăn với doanh nghiệp Nhà nước, với chính quyền mà sử dụng tiền ngân sách, không có ăn thì họ gây đủ thứ khó dễ, mặc dù biết việc làm đó là có lợi cho dân, cho xã hội…”

Nghe ông nói mà thấy choáng. Nhưng đúng thế thật! Nhỡn tiền là vừa rồi, ông muốn làm tặng cho một thành phố một khu xử lý nước thải ( làm tặng nhé), vậy mà chính quyền ” củ chuối” gây khó dễ, ông cho rút hết máy móc về luôn, và ” Chào thân ái và Quyết Thắng”

Người vô hình ở trại T16

Từ Thức
Từ ngày bị bắt, Trương Duy Nhất trở thành người vô hình, không ai biết tại sao ông bị bắt, không ai được gặp, kể cả gia đình, kể cả luật sư. Nhà nước biến người thành một bóng ma, trong nhà tù có thực, và dã man nhất, chính vì nó nằm trong bóng tối, như nơi giam cầm, tra tấn kẻ thù của những băng đảng đen.

Bài báo dưới đây của Luật Khoa Tạp Chí viết: biến người thành một bóng ma là tước đoạt ‘’ thể nhân ‘’, cái căn cước làm người của một công dân , một vi phạm nhân quyền man rợ nhất.

Bằng một cái búng tay, người cầm quyền quyết định bạn không hiện hữu nữa.

Chuyện biến người thành một bóng ma không mới lạ trong Goulag, trong những nhà tù VN hay bất cứ chế độ Cộng Sản nào.

Rất nhiều người bị giam giữ hành hạ cho đến chết không biết mình bị kết án về tội gì. Không có hồ sơ minh bạch hay hồ sơ thất lạc, chính người tra tấn cũng không biết mình hành hạ tù nhân về tội gì. Và bởi vì quên không biết tù nhân là ai, người ta nhốt cho tới chết.

Đó là chuyện cũ, xưa như lịch sử chế độ CS. Vấn đề là nó vẫn tiếp tục một cách thô bạo mặc dù VN đã ký kết hầu hết những thoả ước quốc tế về nhân quyền.

Trong thời đại Internet, Trương Duy Nhất sẽ không bị quên, một ngày nào đó sẽ xuất hiện trở lại, từ một bóng ma trở thành ”người tự nguyện nhập trại T16”

 

LUATKHOA.ORG
Sau gần hai tháng im lặng trước sự mất tích của ông Trương Duy Nhất, tối ngày 25/3, các cơ quan truyền thông nhà nước đồng loạt loan tin về việc điều tra nhân vật

ĐỐI THOẠI VỚI VONG

Trần Bang

ĐỐI THOẠI VỚI VONG

(Chuyện thật 100% trong giấc mơ, không hư cấu)

Đêm qua vừa viết xong bài “Hủy hoại Phật giáo hay hủy hoại Chủ nghĩa Marx”, tôi nằm suy nghĩ thêm về lịch sử phát triển Phật giáo để đi đến mặc nhiên thừa nhận, rằng nhờ sự chuyển hóa từ vô thần luận sang hữu thần luận mà Phật giáo phát triển đại chúng. Thậm chí, ở Việt Nam hiện nay, Phật còn chuyển hóa thành Ma mới có thể quyến rũ, mê hoặc được hàng triệu triệu người. Khi Phật hóa thành Ma thì nhà tu hiện đại tự biến mình thành Thầy Mo thời nguyên thủy để làm mọi việc: giáo dục, tế lễ và trị bách bệnh thay cho khoa học, văn hóa giáo dục và y học hiện đại.

Đang nghĩ đến đó trong trạng thái mơ màng, lim dim thì một cái bóng hiện ra. Đó là một lão già với bộ râu tóc dị thường. Tôi bật dậy và ngồi trong tư thế kiết già. Tôi hỏi:

– Tôi biết ông không là Phật, cũng chẳng là Ma. Vậy ông là ai?

Ông ta cười :

– Ta là Vong của tất cả các vong…

Tôi nhìn ông ta với hai tay cầm hai thứ như cầm bửu bối. Ông ta đưa thứ đang cầm bên tay phải ra hỏi tôi:

– Ngươi biết đây là cái gì không?

– Chủ nghĩa Marx. – Tôi trả lời.

– Còn đây là gì? – Ông ta đưa món cầm bên tay trái và hỏi tiếp.

– Bùa của bọn thầy mo thời nguyên thủy. Vậy đích thị ông là Thầy Mo? – Tôi trả lời và hỏi lại ông.

Ông ta cười ngạo nghễ như thể nhổ vào mặt tôi:

– Ngươi thông minh, nhưng còn lâu mới hiểu được bí mật của ta.

Tôi hỏi:

– Ông dùng hai thứ đó khác nhau như nước với lửa, không sợ tẩu hỏa nhập ma sao?

Ông ta cười khùng khục và nói:

– Hiển nhiên hai thứ đó khác nhau như nước với lửa, nhưng đố ngươi chúng giống nhau chỗ nào?

Tôi nhắm mắt cố suy nghĩ vẫn không trả lời được. Ông ta trả lời:

– Ta có khả năng biến nước thành lửa và lửa thành nước.

Nói đoạn, ông ta châm lửa đốt cả hai và cho vào nước. Tôi nhìn thứ nước đen sì đang bốc khói và nghe ông nói tiếp:

– Giống nhau ở chỗ, cả hai đều là Bùa ai cũng có thể uống được. Ta dùng Chủ nghĩa Marx để mê hoặc người có trí. Còn tấm bùa nguyên thủy kia dùng để mê hoặc đám đông mất trí.

Tôi bật mí mắt ra và quát lên:

– Ngươi chơi trò tăm tối khốn nạn đó là đầu độc, sát hại cả dân tộc này. Ngươi có tin ta sẽ vạch trần ngươi ra ánh sáng không?

Nói đoạn, tôi bật công tắt đèn lên. Ánh điện 220V lóa lên bừng sáng cả gian phòng và cái “vong của các vong” kia biến mất. Tôi thở dài, chỉ vì dân mê lú trong tăm tối mà bị vong ám hết đời này đến đời khác. Nhưng tôi cũng hiểu ra bằng tất cả niềm vui, rằng dù là “Vong của các vong” thì cũng đều rất sợ Ánh sáng. Ánh sáng đó chính là Trí tuệ của sự Tự do, Khai phóng. Trí tuệ đích thực không bị thứ bùa mê thuốc lú nào mê hoặc…

Chu Mộng Long

Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.

Image may contain: one or more people, people sitting, outdoor and nature
Image may contain: one or more people and outdoor

Phan Thị Hồng is with Hoang Le Thanh.

March 26, 2018

Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.

Thu nhập trung bình của người Việt Nam vẫn còn khoảng cách rất xa so với các nước trong ASEAN và Trung Quốc, dù đổi mới và mở cửa cách đây hơn 30 năm (1986).

Ảnh 1& 2: Một góc vùng quê Bạc Liêu

Trong khi đó, cơ hội để Việt Nam đuổi kịp Trung Quốc và các nền kinh tế ASEAN sẽ vẫn là viễn cảnh xa vời, nếu thiếu đi những động lực cải cách hơn nữa.

Đây là cảnh báo của một đề tài khoa học cấp nhà nước mang tên “Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020: từ nhận thức với hành động” do ĐH Kinh tế Quốc dân thực hiện.

Báo cáo này, thực hiện theo yêu cầu của Uỷ ban Kinh tế của Quốc hội, trích dẫn số liệu về thu nhập của Việt Nam và các quốc gia khu vực do Quỹ Tiền tệ Quốc tế thực hiện.

Bên cạnh đó, so với các quốc gia ASEAN khác, dù thu nhập của người Việt Nam đã dần được thu hẹp trong 20 năm qua, khoảng cách vẫn còn rất lớn ở vào thời điểm hiện tại.

Tiến sĩ Phạm Hồng Chương và các đồng sự ở ĐH Kinh tế Quốc dân cho biết, GDP bình quân đầu người của Việt Nam theo PPP chưa bằng 1/2 của Philippines, hay Indonesia, khoảng 1/5 của Thái Lan, 1/10 của Malaysia năm 1991.

Tiến sĩ Phạm Hồng Chương nhận xét: “Đây là những chỉ số còn thấp xa so với mức bình quân chung của khu vực, của châu Á và thế giới”.

Thu nhập của người Việt Nam bị bỏ lại quá xa bởi các nước trong khu vực không phải là vấn đề mới.

Theo Báo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore.

Theo Tiến sĩ Phạm Hồng Chương, xét về nhiều mặt: Việt Nam chưa thể hiện rõ quyết tâm tăng trưởng kinh tế và khó thoát khỏi nguy cơ tụt hậu phát triển. Trong vài năm gần đây, nền kinh tế còn bộc lộ nhiều rủi ro tiềm ẩn về tính bền vững của quá trình tăng trưởng.

Báo cáo kết luận “thực tế là Việt Nam sẽ phải rất lâu mới theo kịp được”.

Theo Thời báo Kinh tế Sài Gòn

S.T.T.D Tưởng Năng Tiế́n – Những Bãi Phân Giữa Thời Mạt Pháp

S.T.T.D Tưởng Năng Tiế́n – Những Bãi Phân Giữa Thời Mạt Pháp

Ảnh cá»§a tuongnangtien 

tuongnangtien

Quỷ Lộng Chùa Hoang

Thành ngữ Việt

Bố mẹ tôi đều gốc gác nông dân, và đều là những phật tử thuần thành. Cũng như bao nhiêu người dân Việt chân chất khác, ngoài việc cặm cụi mưu sinh, đời sống (văn hoá, tinh thần, tâm linh) của ông bà – dường như – chỉ xoay quanh việc kinh kệ, chùa chiền, lễ bái, cúng dường …

Thưở ấu thơ (khi còn “lon xon như con với mẹ”) vào những lễ tết, tôi vẫn lon ton  theo chân thân mẫu đến chùa. Vì đây là đất Phật nên bà yên tâm để tôi tha thẩn khắp nơi, suốt buổi, trong khi bận rộn làm công quả.

Cho đến lúc có thể đi đây, đi đó một mình thì tôi (thôi) không bao giờ lai vãng đến chùa chiền gì nữa. Không gian tâm linh của nơi thờ phượng tĩnh lặng và trang nghiêm quá, xem ra, không hợp lắm với cái “tạng” hiếu động của tôi!

Càng lớn tôi càng xa bố mẹ, xa chùa, và xa Phật Pháp Tăng. Mãi cho đến khi đời ngả về chiều – tóc đã điểm sương, song thân đà khuất núi – tôi mới lờ mờ cảm thấy rằng (hình như) mình đang xích lại gần, và cũng hơi để ý, đến chuyện tôn giáo hơn … chút xíu!

Hóa ra, chùa chiền ở Việt Nam không phải nơi đâu cũng đều “tĩnh lặng và trang nghiêm” như trong ký ức tuổi thơ an lành và êm ả của tôi. Không ít chỗ không gian tâm linh truyền thống của cả dân tộc đã bị quấy động … cho tới bến luôn:

 “Tại nhà thờ thánh, tượng Khổng Tử lăn long lóc như người ăn mày tha hương chết đường chết chợ, bị trẻ con ném cứt vào mặt. Tại ngôi chùa Trang Hà, hàng chục pho tượng đổ ngổn ngang, bị lũ mục đồng ném bùn lấm láp nước sơn. Cái giếng hình bán nguyệt trước cổng chùa đẹp thế mà cũng bị phá phách cày xới để trồng lúa. Mấy tấm đá ghép cầu bị bê làm hố tiêu. Mấy chiếc bia lớn nhà thờ chánh tổng, cái thì bị đem bắc cầu, cái thì bị bọn mục đồng khiêng đi làm trò chơi rồi ỉa đái vung vãi trên mặt bia…

Ở làng tôi, đền chùa miếu mạo, nhà thờ họ, mộ cổ, rừng cổ, cây cổ thụ đã bị phá trụi, không còn gì để phục hồi nữa. (Võ Văn Trực. Chuyện Làng Ngày Ấy. NXB Tạp Chí Văn Học: California, 2006).

Đó là chuyện xẩy ra ở miền Trung, vào giữa thế kỷ XX, trong Giai Đoạn Phóng Tay Phát Động Quần Chúng của những người CSVN. Sau khi đất nước thống nhất thì pháp nạn lan đến miền Nam:.

  • Năm 1977 Hoà Thượng Quảng Độ bị bắt giam, bắt đầu cho một cuộc sống tù đầy và lưu đầy cho mãi đến bây giờ.
  • Năm 1988 Thượng Tọa Tuệ Sĩ và Trí Siêu bị tuyên án tử hình, sau được giảm án xuống 20 năm cấm cố. Hai ông, cuối cùng, được phóng thích ngày 31 tháng 8 năm 1998, sau 14 năm giam cầm.

Những bậc chân tù đều bị cầm tù hay phát vãng thì chùa chiền bỏ lại cho ai?

Nhật ký của nhà phê bình văn học & xã hội Vương Trí Nhàn, ghi ngày 4 tháng 5 năm 79, có đoạn:

“Ngày Phật đản. Những người tu hành vẫn có nét mặt hệt như mặt người ngoài đời mà tôi vẫn gặp. Sao ở giữa cảnh đèn nhang nghi ngút của chùa Quán Sứ, giữa bao nhiêu cụ bà thành tâm cúng vái, lại thấy một vị sư tuổi còn thanh niên, có nét mặt trông như một trung đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng nào đó, mà tôi từng thấy ở các mặt trận.”

Cùng với những vị “sư ông” trông cứ như một sĩ quan tác chiến, chùa chiền VN còn có qúi vị “sư nữ mắt long sòng sọc … miệng rít lên” (cứ như loài rắn tiếng rắn) theo cách mô tả của nhà văn Dương Thu Hương:

“Trưa hôm đó, tôi qua cổng chùa đi vào ngôi nhà ngang. Vừa đặt chân lên bậc tam cấp tôi chứng kiến một cảnh tượng không tương hợp chút nào với chốn từ bi: Trên tấm phản gỗ mốc, sư cụ bà ốm nằm còng queo, bát cháo ăn dở ở một góc phản khô đét lại. Nhà “sư nữ” ngoại tam tuần mắt long sòng sọc, tay nắm cổ người bệnh lắc, miệng rít lên:

– Mày chết đi, mày chết ngay đi cho người ta nhờ!…

Sư cụ đã quá yếu không động cựa nổi, cái đầu lắc lư ngật ngưỡng như quả bưởi trong tay người đàn bà trẻ hung hãn:

– Mày chết đi…

Cụ không mở mắt nổi và giọng nói đã đứt quãng nhưng hoàn toàn minh mẫn. Ðó là người đã xuống tóc từ thời chính quyền 1945 chưa thiết lập, đã duy trì và tu tạo ngôi chùa này qua mọi thăng trầm của thời gian. Nhưng cụ không có mảy may quyền hành để lưu giữ các chân tu ở lại, thay cụ chủ trì. ‘Nhân sự’ do ‘bên trên’” đưa xuống.”

Vậy cái gì là ‘bên trên’ ? Quyền lực nào áp chế những người tu hành và thả lũ lợn bẩn thỉu vào khắp chùa chiền xứ sở?… Chẳng có gì bí mật cả, ‘bên trên’ là A 25 Cục bảo vệ văn hóa thuộc Tổng cục 1 Bộ Nội Vụ. A 25 có nhiệm vụ đào tạo sư sãi để ‘yểm’ Hội Phật Giáo Việt Nam, để trấn giữ hệ thống chùa toàn quốc.”

Ảnh: FB

Chắc không mấy ai có thể biết chính xác con số “heo lợn bẩn thỉu” mà A25 đã thả ra “để yểm” chùa chiền nhưng mọi người đều phát hoảng khi cứt đái của lũ súc vật này không chỉ làm ô uế cửa thiền mà còn tràn lan ra đến tận bên ngoài. Bản tin của trang Tiếng Dân, đọc được vào hôm 22 tháng 3 năm 2019, có tiểu mục “Buôn thần bán thánh” ở chùa Ba Vàng:  – Gọi vong, thu hàng trăm tỷ: Trụ trì thừa nhận sự việc xảy ra ở chùa Ba Vàng (GT). – Chùa Ba Vàng cho rằng có thể chữa bách bệnh bằng việc đuổi tà ma, tiễn vong (TN). – Gọi vong, thu hàng trăm tỷ: Chùa Ba Vàng quy tụ nghìn phật tử nhằm minh oan (GT). – Chùa Ba Vàng thu tiền gọi vong: Vừa công đức, vừa “do vong yêu cầu”? (LĐ). – Người phụ nữ tên “Phạm Thị Yến” tuyên truyền luận điệu “làm nhục” nữ sinh giao gà Điện Biên ở chùa Ba Vàng là ai? (TGT). – Truyền bá chuyện vong báo oán, chùa Ba Vàng mỗi năm thu trăm tỉ (Zing).

FB Nguyễn Ngọc Chu  đặt câu hỏi: CÓ BAO NHIÊU CHÙA BA VÀNG?

Rồi, ông trả lời ên: “Trên Đất Nước ta có hàng trăm chùa ‘Ba Vàng’. Có nhiều chùa ‘Ba Vàng mới’ khủng hơn chùa Ba Vàng Uông Bí. Đó là các chùa ở Bãi Đính, ở Tam Chúc…”

Tôi thì trộm nghĩ khác: đó chả phải là chùa chiền gì cả mà chỉ là những bãi phân giữa thời mạt pháp. Ngày nào mà chế độ hiện hành vẫn còn hoành hành thì sẽ còn nhiều bãi cứt tương tự xuất hiện ở mọi nơi. Và phân gio của Bộ Nội Vụ VN, thực ra, cũng đã vương vãi cùng khắp – miếu đền, thánh thất, giáo đường – chớ đâu có riêng chi ở chốn thiền môn.