Nguyên nhân sinh ra giòi là cái hũ mắm độc tài…

NHÂN DÂN NGU ?
KHÔNG
NHÂN DÂN THỜ Ơ ?
KHÔNG

Sinh mạng mình mà sao thờ ơ

Ô nhiễm không khí : ráng làm kiếm tiền mua khẩu trang, rồi khẩu trang tốt hơn, rồi khẩu trang tốt nhất.

Ô nhiễm thực phẩm, nước uống : ráng làm kiếm tiền mua thực phẩm có nguồn gốc, rồi thực phẩm sạch, rồi tự trồng, rồi…

Trường học giáo dục kém thì ráng kiếm tiền cho con học thêm, ráng chạy vô trường chuyên, trường quốc tế, trường ngoại quốc

Đất bị cướp, nhà bị đập … ráng đi kiện cho đến khi nào lết không nổi.
Ngập nước vô nhà ráng tát, ngập nước trên đường ráng đẩy bộ về nhà, ngập nước đến trên núi ráng … bơi.

Biển bị xâm lược thì ráng hè nhau la của Việt Nam. China get out. Trong khi người có trách nhiệm thì câm tịt.

Thế thôi. Họ còn làm sao được nữa.

Há mồm ra kêu là bị cả xã hội giả lơ, là bị giơ súng chẹn ngang họng : nói xấu đảng nhà nước hả, phản động hả , xách động dân chúng âm mưu lật đổ hả … nhốt vô tù , xét xử chiếu lệ.

Chỉ còn bước đường cùng thí mạng.

Từng người một. Bị bẻ gẫy như từng chiếc đũa.

Các nhà báo VN cũng rất thương. Họ cũng chạy đi khắp nơi viết bài khẩn báo, kêu gọi, đánh động. Báo không đăng thì đăng fb… Họ cũng bị áp bức bị tù oan, bị đánh , bị dọa dù có cả một đội ngũ truyền thông chuyên nghiệp lẫn lực lượng nào đó trong bộ máy công quyền trợ lực.

Nhưng họ thấy giòi bọ đâu thì chạy theo bắt đấy. Đây con giòi đây nhé. Đây ô nhiễm nhé. Đây nhũng nhiễu nhé.. . Đây đạo đức kém nhé.

Còn nguyên nhân sinh ra giòi là cái hũ mắm độc tài , bóp nghẹt tự do thì hầu hết họ vẫn cảm giác thoải mái trong ấy.

Và … với hàng ngàn like trong 1 stt, họ bảo : một chiếc lá rơi cô cũng bảo tại nhà nước sao ???

Và họ tránh xa đám dân phản động, mặc định thây kệ họ, chưa hề có ai trong số họ biết đến, cứ như đó không phải là dân chúng, trong khi vẫn gào dân chúng sao thờ ơ. Một công dân như nick Vượng Nguyễn ở Lạc Lâm, Lâm Đồng vừa bị bắt có nhà báo nào quan tâm không? Hoàn toàn không.

Cứ quan nhà nước bắt thì họ , chính họ, các nhà báo mặc định luôn là phạm tội.
Một nick khác là anh Phạm Thế Lực cũng đang kêu trong vô vọng. Các fber nữa bao nhiêu người quan tâm like, share tin tức về họ ?

Thật khốn khổ.

Tự do báo chí là gì ? Tự do chính kiến là gi ?Toàn dân chưa biết.

Tự do bầu cử là gì ?

Toàn dân chưa biết.

Image may contain: outdoor, water and nature
Image may contain: one or more people and water
Image may contain: one or more people, outdoor and water
Image may contain: 1 person, smiling, outdoor
Image may contain: 1 person, sitting and text

THÀNH QUẢ CÁCH MẠNG!

Ngo Thu

THÀNH QUẢ CÁCH MẠNG!

Tôi mệt, rất là mệt với những người đem mộ phần của ông tổng thống Pháp – Jacques Chirac ra so bì với mộ phần của ông chủ tịch Trần Đại Quang, hay lăng chủ tịch Hồ chí Minh. Họ rằng, tổng thống Pháp cũng chôn chung với các thường dân, và mộ ông ấy cũng 5m2 như bao người khác. Trong khi đó, phần đất mộ ông Trần Đại Quang to gấp 11.000 lần ông Jacques Chirac, hay khuôn viên lăng ông Hồ cũng to gấp hàng nghìn lần ông ấy. Hâydza!!

Mệt quá! Các người đã hiểu “thành quả cách mạng” là gì chưa mà dám so bì như thế? Những người đi làm cách mạng như ông Hồ, ông Quang….họ “chiến đấu giành thắng lợi” thì phải được hưởng thành quả cách mạng chứ? Ví dụ như ông Quang, trong thời gian làm bộ trưởng công an, ông cho đám lính lác dưới quyền đi cưỡng chế, ăn cướp hàng trăm ngàn ha đất của dân, thì nay ông chết, ông chỉ lấy có 5,5 ha xây mộ mà mấy người cũng la làng? Hoặc như ông Hồ, trong thời gian làm chủ tịch nước, ông tổ chức chiến dịch CCRĐ, tịch thu được hàng triệu mẫu đất của địa chủ, phú nông. Vậy nhà nước bỏ ra vài chục mẫu xây lăng cho ông thì có gì đâu mà quý vị so bì nào? Thử hỏi, suốt nhiệm kỳ làm tổng thống từ năm 1995 đến 2002 ông Jacques Chirac có cưỡng chế được m2 đất nào của dân Pháp không mà đòi mộ phần hoành tráng?

Vậy đấy, người cộng sản đi làm cách mạng thì họ hưởng thành quả cách mạng. Không những kẻ chết mà người chưa chết cũng thâu tóm ít nhất 5-7 lô đất vàng mặt tiền đó chứ. Mà làm cách mạng là làm gì quý vị biết không? Cách mạng, nó nằm trong cụm từ “cách cựu – mạng tân”. Có nghĩa là xóa bỏ cái cũ, thay vào cái mới đấy ạ.

Từ xa xưa, ông bà ta làm ăn theo kiểu cá thể. Ai thích làm gì thì làm (miễn là không phạm pháp luật hiện hành), ai muốn làm bao nhiêu thì làm, và ai làm nấy ăn. Đến khi người cộng sản đi làm cách mạng, họ xóa bỏ phương pháp làm ăn cá thể, thay vào đó bằng phương pháp kinh tế tập trung. Nghĩa là, người dân phải làm theo hướng dẫn và phân bổ của đảng, sản phẩm làm ra nhà nước thu hết rồi phân bổ một phần lại cho dân lao động. Dân muốn làm nhiều cũng không được, làm ít cũng không xong.Trống đánh, mới được đi làm. Trống tan chầu, phải về. Người thành phố biết buôn bán thì đưa lên rừng phát rẫy, kẻ thất học thì đưa vào bán hàng mậu dịch quốc doanh…. Thực hiện phương pháp đó chừng mươi năm thì dân đói rả họng, nhà nước kiệt quệ ngân sách. Đảng lại phải làm cách mạng tiếp, nghĩa là bỏ phương án kinh tế tập trung, cho người dân về tự làm kinh tế tư nhân. Ha ha!!! Đổi mới mà!

Giáo dục cũng cách mạng, cũng đổi mới, cũng cải cách. Năm này cải cách không ra gì thì sang năm cải cách cách cải cách của năm trước. Vẫn chẳng ra cái quần què gì thì lại cải cách cách cải cách của cải cách năm vừa rồi. Cứ thế, họ cải cách, họ đổi mới, họ cách mạng để rồi giáo dục càng ngày càng te tua….

Đấy! người cộng sản đi làm cách mạng lần xà quầng như thế đấy! Hậu quả cách mạng của họ để lại đến đời cháu con chúng ta vẫn chưa gỡ nỗi. Nhưng, thành quả thì họ lập tức hưởng vô biên. Mấy chục ngàn mét vuông đất nghĩa địa có là gì đâu mà quý vị càm ràm mãi hè?

Mệt!https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=2233177573459543&id=100003019675969

Image may contain: outdoor

QUAN CHỨC VIỆT VÀ “LÝ ÔNG MÈO” (I)

Le Tu Ngoc
QUAN CHỨC VIỆT VÀ “LÝ ÔNG MÈO” (I)

H’mông là một dân tộc có lịch sử lâu đời, có sức sống mãnh liệt, và cá tính độc đáo. Trên thế giới, người H’mông luôn được biết đến như một trong những cộng đồng vừa thượng võ/cương cường, vừa lãng mạn/hào hoa. Tổ tiên của họ từng làm chủ một vùng đất rộng lớn nằm kẹp giữa vùng hạ du Hoàng Hà và Trường Giang. Từ sau khi Hạng Võ bại trận dưới tay Lưu Bang, tiền nhân của tộc H’mông bắt đầu cuộc sống mới với những xu thế khác nhau: đa số trong đó bị Hán hóa hoàn toàn, được người Hán gọi là “Thục Miêu” (ngụ ý rằng, họ là những người đã được giáo hóa); thiểu số còn lại không chịu khuất phục, bắt đầu cuộc sống tha hương, vừa bảo tồn văn hóa truyền thống của cha ông, vừa sáng tạo nên các truyền thống mới. Bộ phận này bị người Hán miệt thị gọi là “Sinh Miêu” (ngụ ý họ là những kẻ sống sít/man rợ). Họ có mặt trên nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Ở Thailand thì tôi không biết, riêng ở Việt Nam và Lào, tất cả những người H’mông đều có một điểm chung: thù giặc Hán đến tận xương tủy. Điều này được ghi lại trong tất cả các bài “khúa kê” (bài cúng tiễn hồn người chết về đất gốc Dương Châu) của các dòng họ H’mông.

Mặc dù mới chỉ có mặt tại lãnh thổ Việt Nam trên dưới 300 năm, người H’mông đã có những đóng góp không nhỏ trong việc bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Là những người đến sau, tất cả các thung lũng chân núi đều đã có chủ. Vì thế, ở phía Bắc Việt Nam, người H’mông luôn sinh sống trên các vùng núi cao nhất. Tại các vùng biên giới với Trung Quốc, vô hình trung, mỗi thôn làng H’mông đều trở thành một pháo đài/điểm tựa. Trong cuộc chiến tranh chống bè lũ bành trướng Bắc Kinh xâm lược tháng 2/1979, không có bất cứ một người dân H’mông nào khuất thân làm tay sai dẫn đường cho giặc. Ngược lại, họ còn là lực lượng quan trọng, vừa tham gia trực tiếp chiến đấu, vừa hỗ trợ hậu cần cho các lực lượng quân sự của Chính phủ.

Để ca ngợi tộc H’mông thần thánh, chắc phải mất rất nhiều thời gian cũng như giấy mực. Chỉ tiếc rằng, bên cạnh những ưu điểm vượt trội, những người anh em thiện lành H’mông của tôi lại “sáng tạo” nên một thuật ngữ có phần hơi củ chuối: “Lý ông Mèo”.

Vậy “Lý ông Mèo” là gì? Một thời gian, nhiều người đã từng đặt câu hỏi như vậy và đã có rất nhiều câu trả lời khác nhau: người thì ca ngợi, người thì dè bỉu chê bai. Nhưng bản chất của nó thì chưa ai thực sự chỉ ra được.

Năm 1991, tôi đi xe ôm từ Lùng Phình về thị trấn Bắc Hà. Cung đường Bắc Hà-Lùng Phình dài 12km, lúc lên toàn leo, lúc về toàn xuống dốc. Lái xe chở tôi là một “tì lầu” (anh) người H’mông đẹp trai (như rất nhiều trai H’mông khác) và luôn có nụ cười thường trực với một chiếc răng bọc vàng rất duyên. Xe đổ đèo, anh ta tắt máy thả trôi vù vù. Bất chợt, anh ta tránh một con trâu từ trong rừng lao ra, đâm phải chiếc xe đạp dựng lề đường phía bên kia. Vành trước của chiếc xe đạp cong veo. Ông nhóc, chủ nhân của chiếc xe đạp – cũng là người H’mông, đang lấy củi gần đó, nhảy ra bắt đền. Hai người cãi nhau bằng tiếng H’mông, dùng dằng mãi chả ai chịu ai. Tôi không hiểu gì hết. Nhưng thấy mãi không đi được, mới hỏi vì sao? Ông nhóc xe đạp bảo “Xe tôi dựng bên đường, tì lầu đâm hỏng mà không chịu đền tiền cho tôi sửa”. Tài xế xe ôm bảo “nó không để xe ở đấy, thì làm sao tôi đâm vào được. Là tại nó chứ, sao tôi phải đền?” Thấy vậy, tôi hỏi “cái xe này nếu sửa thì hết bao nhiêu?” Ông nhóc xe đạp nói “Ha mưa nghì” (hai mươi nghìn). Tôi bảo tì lầu xe ôm, “thôi, trả cho người ta nhanh rồi còn đi.” Người anh em thiện lành cười duyên “Ô, mài phải trả chứ sao lại tôi?” Tôi cáu “Ơ, anh chạy xe chứ có phải tôi đâu?” Người anh em lại cười rất duyên “Ơ, mài không thuê tôi chở về thì làm sao tôi đâm vào xe nó được?” Tôi đành móc 20k trả cho chú nhóc. Thấy vậy, tì lầu xe ôm lắc đầu “chưa đủ đâu. Mài phải trả thê (thêm) cho nó năng nghì (năm nghìn) công nó vác xe từ đây về nhà nữa chứ”. He he, thua! Về đến thị trấn Bắc Hà, nhận tiền xong, tì lầu xe ôm dặn “lần sau lên Lùng Phình, nhớ phải vào nhà tôi hẩu chớ (uống rượu) đấy. Cứ hỏi nhà vợ chầng (chồng) Páo Dín là đến thôi. Vợ tôi làm món dưa cải xào thịt treo ngoong lắng (ngon lắm). Ăng (ăn) thấy ngoong thì mua hộ một ít. Nhé.” He he, yêu!

(Rút trong tập bản thảo “Muôn nẻo đường làng Việt” – còn nữa).
#GOTA chia sẻ từ fb Mai Thanh Sơn

Image may contain: 2 people, people smiling, hat, child, selfie, closeup and outdoor

KHÔNG ĐƯỢC LÃNG PHÍ TIỀN THUẾ CỦA DÂN

Hoang Le Thanh
“NGỤY” TIÊU TIỀN CỦA NGƯỜI DÂN NHƯ THẾ NẦY !!!

*

KHÔNG ĐƯỢC LÃNG PHÍ TIỀN THUẾ CỦA DÂN

Đăng trên báo Văn Nghệ Cuộc sống
Thứ ba – 01/10/2019 19:38

Năm 1960, phi trường Tân Sơn Nhứt được nâng cấp đường băng hạng A dài 3.000 mét để tiếp nhận phi cơ phản lực.

Dự án do Mỹ tài trợ 4,5 triệu USD, Việt Nam Cộng Hòa bỏ 70 triệu đồng từ ngân sách.

Việc bỏ thầu tại Washington. Mỹ đề nghị VN cử đoàn giám sát. Sau nhiều thảo luận giữa Bộ Công chánh – Giao thông và Nha Hàng không Dân sự, cuối cùng chỉ hai người được cử đi là kỹ sư Tạ Huyến và kỹ sư Nguyễn Xuân Hiếu. Cả hai đều du học bên Pháp trở về và tu nghiệp thêm chuyên môn tại Mỹ, trực tiếp tham gia từ giai đoạn nghiên cứu tiền dự án.

Thời gian đi 3 tuần, phụ cấp 20 USD mỗi ngày và 3.000 USD giao tế phí.

Danh sách hai người đi được Tổng trưởng Công chánh – Giao thông và Tổng trưởng Ngoại giao đồng ý, chuyển trình Phủ Tổng thống xem xét.

Đích thân ông Ngô Đình Diệm đọc công thư và bút phê ba điểm:

– Chỉ cho đi một kỹ sư, bởi việc giám sát không cần phải hai người. Nếu cần thêm gì, thì đại sứ VN tại Mỹ giúp đỡ.

– Chỉ cho đi 2 tuần, không được đi 3 tuần, vì việc bỏ thầu chỉ diễn ra trong vài ngày.

– Cắt bỏ hết 3.000 USD giao tế phí, vì kỹ sư giám sát không cần giao tế gì lớn.

Cuối cùng, Tổng thống Ngô Đình Diệm yêu cầu các thiểm bộ liên quan Công chánh, Ngoại giao và Nha Hàng Không Dân sự phải nghiêm khắc thực hiện tiếc kiệm chi phí quốc gia ở bất cứ mọi lúc, mọi lãnh vực.

Tình hình quốc gia đang khó khăn, không được lãng phí tiền đóng thuế của Quốc dân Đồng bào!

“NGỤY” xử dụng tiền của nhân dân là như thế!

Cách tiêu tiền dân của “NGỤY” là thế đấy !

So với cộng sản, lũ “ngụy” quá khờ !

Ảnh 1: Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Ảnh 2: Clip Tân Sơn Nhất trước 1975
https://youtu.be/iAUzRb85Y50

Ảnh 3,4,5,6: Phi cảng Tân Sơn Nhất – SÀI GÒN.

(P.v Theo báo mạng)

Image may contain: 1 person, standing and suit
Image may contain: text
No photo description available.
No photo description available.
Image may contain: sky and outdoor

CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT QUA LỜI KỂ CỦA NHÀ THƠ HỮU LOAN

CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT QUA LỜI KỂ CỦA NHÀ THƠ HỮU LOAN

“Lúc đó còn là chính trị viên của tiểu đoàn, tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học, lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng.

Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần 500 mẫu tư điền.
Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn, nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chỗ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông.

Thế rồi, một hôm, Tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại 2 cái đầu đó, cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.

Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ, nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.

Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi ; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.

Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ.
Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó, bữa đói bữa no … Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con – 6 trai, 4 gái – và cháu nội ngoại hơn 30 đứa…”

Ảnh nhà thơ Hữu Loan và bà Phạm Thị Nhu năm 2009.

– Nghiên cứu Lịch sử

Image may contain: 2 people, people sitting

Dự án Cát Linh – Hà Đông: Tổng thầu Trung Quốc “ngang bướng”, thiếu trách nhiệm

Thanh Duong Le and Đài Á Châu Tự Do shared a link.

Dự án Cát Linh – Hà Đông: Tổng thầu Trung Quốc “ngang bướng”, thiếu trách nhiệm

RFA
2019-10-01

Phó thủ tướng Việt Nam Trịnh Đình Dũng đã đi kiểm tra, thị sát công trường dự án và đi thử tàu điện Cát Linh – Hà Đông với chặng đường gần 10km từ ga Cát Linh đến ga Văn Quán và ngược lại.

 Dự án Cát Linh – Hà Đông: Tổng thầu Trung Quốc “ngang bướng”, thiếu trách nhiệm

04:35/07:12

Trước buổi làm việc với Bộ Giao thông vận tải, UBND TP Hà Nội và các bên liên quan vào ngày 1/10 về dự án đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông, Phó thủ tướng Việt Nam Trịnh Đình Dũng đã đi kiểm tra, thị sát công trường dự án và đi thử tàu điện Cát Linh – Hà Đông với chặng đường gần 10km từ ga Cát Linh đến ga Văn Quán và ngược lại.

Lấp liếm, chối trách nhiệm

Theo truyền thông trong nước, tại buổi thị sát dự án Cát Linh – Hà Đông, Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã chất vấn ông Đường Hồng, đại diện tổng thầu Công ty hữu hạn tập đoàn cục 6 Đường sắt Trung Quốc, giám đốc Dự án đường sắt Cát Linh – Hà Đông, về thời hạn thực hiện dự án và kế hoạch đưa tuyến đường đi vào vận hành, khai thác.

Trả lời Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng, Giám đốc tổng thầu Đường Hồng cho biết dự án đang gặp vướng mắc: “Còn việc bao giờ đưa đường sắt Cát Linh-Hà Đông vào vận hành, khai thác chính thức thì không phải do nhà thầu chúng tôi quyết định mà do chủ đầu tư quyết định.”(!?)

Tôi nghĩ cách trả lời của Tổng thầu Trung Quốc là không hợp lý và không có căn cứ. Bởi vì khi anh đứng ra nhận thầu thì toàn bộ hồ sơ của anh phải luôn sẵn sàng, còn người giám sát thì có thể giám sát từ đầu hay giám sát lúc cuối cùng.
-Tiến sĩ Lê Đăng Doanh

Giám đốc tổng thầu Đường Hồng cho biết thêm, dự án đang gặp vướng mắc vì đơn vị đánh giá an toàn hệ thống tàu vào dự án muộn. Ông Đường Hồng cho rằng theo quy định, đơn vị đánh giá phải vào ngay từ khi xây dựng dự án, nhưng tư vấn vào dự án năm 2016 và lúc này tất cả các hạng mục dự án đã cơ bản hoàn thành.(!?)

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, nguyên Viện Trưởng Viện Quản Lý Kinh Tế Trung Ương, khi trả lời RFA từ Hà Nội hôm 1/10 không đồng tình với cách trả lời này của Tổng thầu Trung Quốc:

“Tôi nghĩ cách trả lời của Tổng thầu Trung Quốc là không hợp lý và không có căn cứ. Bởi vì khi anh đứng ra nhận thầu thì toàn bộ hồ sơ của anh phải luôn sẵn sàng, còn người giám sát thì có thể giám sát từ đầu hay giám sát lúc cuối cùng. Thậm chí sau khi hoàn thành cũng có thể giám sát tiếp để phát hiện những sai sót. Cách trả lời của nhà thầu Trung Quốc như vậy là không thể chấp nhận được.”

Theo vị đại diện tổng thầu Trung Quốc, khi bên tư vấn vào dự án và yêu cầu phía nhà thầu TQ cung cấp một số hồ sơ, thì có những hồ sơ thời gian đã qua lâu rồi nên nhà thầu TQ không bổ sung được.(!?)

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói thêm:

“Tôi không biết phía Việt Nam sẽ làm gì để nhà thầu Trung Quốc chịu đưa ra các tài liệu và các hồ sơ, chứ còn việc nói là bây giờ gần kết thúc rồi mới đến để giám sát, hỏi hồ sơ tài liệu không có, thì đấy là câu trả lời vô trách nhiệm. Không thể nói là câu trả lời trẻ con mà là một câu trả lời hoàn toàn không phù hợp đối với một nhà thầu quốc tế. Đối với một nhà thầu quốc tế thì anh phải luôn sẵn sàng các hồ sơ. ”

Đường sắt Cát Linh – Hà Đông AFP

Cũng tại buổi làm việc với Tổng thầu TQ, Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng đã nói với phía nhà thầu rằng: “Chúng tôi đã chờ đợi kiên trì và bây giờ đã quá mức kiên trì chờ đợi rồi. Phải nhanh, phải đảm bảo an toàn tuyệt đối. Muốn vậy thì phải làm, không lý sự nhiều!”

Đây được cho là lần đầu tiên một lãnh đạo cấp cao “thúc” ép mạnh như vậy với Tổng thầu TQ. Tuy nhiên Tiến sĩ Lê Đăng Doanh vẫn cho rằng chủ đầu tư phải làm việc một cách nghiêm túc hơn đối với tổng thầu Trung Quốc:

“Tôi nghĩ phía chủ đầu tư phải làm việc một cách rất nghiêm túc đối với tổng thầu Trung Quốc, bởi vì một cách trả lời và hành xử như vậy là hoàn toàn thiếu trách nhiệm, chứng tỏ nhà thầu Trung Quốc không tôn trọng chủ đầu tư. Tôi nghĩ phía chủ đầu tư cần chủ động đưa ra hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Công khai việc phía chủ đầu tư đã ký với phía nhận thầu như thế nào, để mà nhà thầu bây giờ có thể đưa ra các câu trả lời ngang bướng và hoàn toàn không đáp ứng tiêu chuẩn giao dịch quốc tế như thế này.”

Hệ lụy khó lường

Ban đầu, dự án tuyến đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông, dài khoảng 13km, dự kiến thực hiện từ năm 2008 và hoàn thành vào tháng 11/2013. Nhưng sau đó, dự án được lùi lại đến năm 2010 mới khởi công và dự kiến hoàn thành vào tháng 6/2014. Tuy vậy đến nay, sau khoảng 10 lần chậm tiến độ thực hiện, dự án này vẫn chưa thể đi vào vận hành.

Phó Thủ tướng Trịnh Đình Dũng được truyền thông trong nước trích lời tại buổi làm việc hôm 1/10, yêu cầu Bộ Giao thông vận tải, tổng thầu tập trung đẩy nhanh tiến độ để đưa dự án vào khai thác trong năm 2019.

Theo báo cáo của Bộ GTVT, tổng vốn đầu tư ban đầu của dự án là 419 triệu USD, sau khi điều chỉnh phải tăng thêm 250 triệu USD. Nhưng vào năm 2011, đã đội vốn thành 552 triệu USD. Và đến năm 2019 đã thành 886 triệu USD.

Phía chủ đầu tư cần chủ động đưa ra hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Công khai việc phía chủ đầu tư đã ký với phía nhận thầu như thế nào, để mà nhà thầu bây giờ có thể đưa ra các câu trả lời ngang bướng và hoàn toàn không đáp ứng tiêu chuẩn giao dịch quốc tế.
-Tiến sĩ Lê Đăng Doanh

Khi trả lời RFA từ Hà Nội, Phó giáo sư, Tiến sĩ Đinh Trọng Thịnh thuộc Học viện tài chính Việt Nam, nhận định:

“Bây giờ nếu mà giở ra thì cuối cùng nhiều nguyên nhân lắm, bắt đền ai, làm thế nào để xử lý được, quả tình là rất khó. Nói để bạn biết, thực tế khối lượng công việc của dự án Cát Linh – Hà Đông chỉ còn mỗi 1%, chứ không nhiều nhặn gì, thế nhưng 1% này cực kỳ nghiệm trọng và không thể nào đưa dự án vào hoạt động được. Lý do là vì 1%, nhưng lại ảnh hưởng an ninh chạy tàu, các quy trình chạy tàu, các điều kiện đảm bảo an toàn chạy tàu, đều không có nên làm sao chạy? Phía Việt Nam không làm cách nào để chạy được dù chỉ còn 1% và không có cách nào để bắt Trung Quốc đưa phía VN chạy tàu được cả.”

Luật sư Nguyễn Văn Hậu khi trả lời RFA trước đây cho rằng, nếu bây giờ mà khởi kiện tổng thầu Trung Quốc thì phải căn cứ theo hợp đồng, mà hợp đồng của phía Việt Nam và Trung Quốc bản chất là một hợp đồng thương mại, trách nhiệm chính là do nhà thầu. Mặc dù hợp đồng không rõ ràng, tuy nhiên theo Luật sư Hậu, Việt Nam cứ nên khởi kiện:

“Tôi thấy mình cứ khởi kiện thôi, có thể là trọng tài hoặc tòa án, xử lý chuyện này từ một dự án được kỳ vọng mà sau 11 năm phê duyệt, 8 năm thi công, mà 10 lần lùi tiến độ, đội vốn 40%, đến giờ vẫn chưa xong.”

Trong khi đó, theo ông Mai Đức Chung, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội cho biết thì Hà Nội đã làm thủ tục vay để chuẩn bị cho công tác vận hành, quản lý, bảo trì, bảo dưỡng và tuyển dụng, đào tạo khoảng 1.000 người từ năm 2017. Đến nay đã 2 năm, và từ năm 2018, mỗi năm thành phố đã phải trả lãi số tiền lên đến gần 300 tỉ đồng. Theo vậy, nếu nhà thầu TQ tiếp tục trì hoãn việc vận hành tuyến đường sắt này thì chính phủ Hà Nội tiếp tục nợ chồng nợ!

VIỆN ĐẠI HỌC MINH ĐỨC

VIỆN ĐẠI HỌC MINH ĐỨC

Trường Đại học Kinh Thương

Lm. Lê Ngọc Thanh
(@Lm An Thanh)

Đại học Công giáo trước 1975

VIỆN ĐẠI HỌC MINH ĐỨC

[*Thông tin chưa hoàn chỉnh, cần bổ sung]

Viện Đại học Minh Đức là công trình của Liên hiệp các Dòng Tu Công giáo tại Việt Nam. Tôn chỉ của Viện Đại học Minh Đức là Dân tộc, Hiện đại, và Thực dụng.

Tên của Viện Đại học Minh Đức được rút từ câu đầu trong sách Đại Học (một trong bốn sách gọi là Tứ thư của Nho giáo): Đại học chi đạo tại minh minh đức… (大學之道在明明德…), nghĩa là: Con đường Đại học cốt ở làm sáng đức sáng.

Ý nghĩa của tôn chỉ Viện Đại học Minh Đức là Dân Tộc – Hiện Đại – Thực Dụng

1. Với tôn chỉ Dân Tộc, Viện đào tạo Sinh viên trên căn bản tinh thần dân tộc với chương trình giảng dạy cũng như nghiên cứu đều hướng về các sinh hoạt và phát triển trong khung cảnh Việt Nam.

2. Với tôn chỉ Hiện Đại, Viện nghiên cứu và phối hợp các kiến thức về phát triển các ngành học, phát triển Quốc Gia, các kỹ thuật tân tiến của thế giới với giá trị dân tộc và khung cảnh Việt Nam để truyền bá cho Sinh viên và cống hiến cho cộng đồng.

3. Với tôn chỉ Thực Dụng, Viện không áp dụng lối học từ chương khoa cử mà giảng dạy những vấn đề thực dụng, cần ích cho Sinh viên ra đời làm việc và đóng góp.

Viện Đại học Minh Đức thành lập từ tháng 9 năm 1970 với năm phân khoa:

– Kỹ thuật canh nông,
– Khoa học thực dụng,
– Kinh tế thương mại,
– Triết học, và
– Y khoa.

Vị viện trưởng đầu tiên được Liên hiệp các bề trên thượng cấp Việt Nam trao cho cha Thiên Phong Bửu Dưỡng là Giáo sư Triết học của Viện Đại học Sài Gòn, thuộc Dòng Đa Minh, cha Gioan Nguyễn Văn Thính, DCCT đảm nhiệm vai trò Viện Phó. Sau đó vì nhiều lý do, các Dòng tu rút dần sự tham gia trực tiếp, nên gánh nặng trách nhiệm trao sang cha Henry Bạch văn Lộc, Dòng Chúa Cứu Thế, Tiến sĩ Giáo luật làm Viện Trưởng.

Đây là viện đại học tư thục đầu tiên của Việt Nam có dạy 2 ngành Y khoa và Kỹ thuật, trong đó chương trình học Y khoa được kết hợp cả Đông Tây y. Đến tháng 12 năm 1972 thì trường chính thức nhận được giấy phép hoạt động dưới tên Viện Đại học Minh Đức. Trường tọa lạc ở số 6 đường Hoàng Hoa Thám, Gia Định. Năm phân khoa đại học trước được tách ra thành 5 trường:

*Trường Đại học Kỹ thuật Canh nông

*Trường Đại học Khoa học Kỹ thuật (phân khoa Khoa học thực dụng cũ)

*Trường Đại học Kinh thương: 179-181 đường Trần Quốc Toản (sau 1975 là đường 3 Tháng Hai)

*Trường Đại học Nhân văn Nghệ thuật (phân khoa Triết học cũ)

*Trường Đại học Y khoa, số 2 đường Trần Hoàng Quân (tức đường Nguyễn Chí Thanh sau năm 1975)

Theo ông Phạm Quang Hải (sinh viên Khóa 3) cho biết:
Trường Đại Học Kinh Thương Minh Đức được thành lập từ niên khóa 1970-1971 dưới danh hiệu Phân Khoa Kinh Tế Thương Mại. Từ đầu niên khóa 1973-1974, chính thức mang tên là Trường Đại Học Kinh Thương và đặt trụ sở riêng biệt tại số 179-181 Trần Quốc Toản, quận 10, Saigon.

Trường khởi sự với một sĩ số khiêm tốn là 175 Sinh viên Cử Nhân I. Trong bốn năm hoạt động, Trường đã phải tận lực vượt những trở ngại nội bộ cũng như hoàn cảnh, từ sự thiếu thốn phương tiện của một đại học tân lập đến ảnh hưởng của những đợt nhập ngũ liên tiếp trong các năm 1971 và 1972. Tuy nhiên, với ý chí cương quyết, tài quản trị điều hành của Trường, sự nâng đỡ tuyệt đối của Tòa Viện Trưởng và sự kiên nhẫn của tập thể Sinh viên, Đại Học Kinh Thương Minh Đức đã bước những bước tiến rất nhanh nhưng vẫn chắc chắn.

Vào niên khóa 1973-1974, sĩ số Trường Kinh Thương đã lên đến 1.000 Sinh viên. Trường hãnh diện và bận rộn sửa soạn tốt nghiệp cho Khóa I Kinh Thương với 70 Sinh viên tốt nghiệp văn bằng Cử Nhân vào hè 1974. Những phương pháp giảng dạy mới, những chương trình thực tập tại các Xí nghiệp công và tư, những cuộc du khảo, điều nghiên, chương trình tìm việc cho sinh viên tốt nghiệp v.v… đã đem đến những nhận xét đầy khích lệ của giới chức hữu quyền, phụ huynh sinh viên và của cộng đồng đại học dành cho Đại Học Kinh Thương: “Một đại học tiến bộ và vững mạnh nhất”.

Màu xanh trời nhẹ nhàng đã trở thành quen thuộc với mọi người dưới một tên mới “Màu xanh Kinh Thương”. Cảm tình của cộng đồng dành cho sinh viên Kinh Thương cũng như niềm tin của các em vào sự dìu dắt của Trường đã đưa đến một kết luận chung là 75% Sinh viên cảm thấy “hãnh diện” hay “tự tin” khi có người biết mình là Sinh viên Minh Đức (Kết quả điều tra lấy ý kiến của toàn thể Sinh viên). Bước vào niên khóa 1974-1975, Trường Kinh Thương sẽ chứng kiến một năm phát triển nhất với các chương trình Cao Học, chương trính Cao Đẳng Chuyên Nghiệp mới, việc thiết lập Võ Đường Kinh Thương (Thái Cực Đạo), Tập San Kinh Thương, Tủ Sách Kinh Thương v.v…

Mục đích giáo dục của Trường Đại Học Kinh Thương là đào tạo một lớp chuyên viên vừa giỏi về kỹ thuật, vừa có một tinh thần phục vụ cao độ và lòng yêu nước thiết tha. Sinh viên tốt nghiệp Đại Học Kinh Thương sẽ là những con người toàn diện, vừa nắm vững chuyên môn vừa bảo đảm về đạo đức.

Song song với mục đích giáo dục, Trường Đại Học Kinh Thương cũng cố gắng thực hiện các công cuộc nghiên cứu về các vấn đề kinh tế, doanh thương và quản trị tại Việt Nam, đồng thời tìm hiểu những diễn biến liên hệ trên địa hạt quốc tế. Kết quả các công trình nghiên cứu này được phổ biến rộng rãi để đóng góp thực sự không chỉ trong phạm vi học đường mà còn cho quảng đại quần chúng. Như vậy, nghiên cứu chính là một gạch nối giữa đại học và cộng đồng.

Đường lối giáo dục của Đại Học Kinh Thương là Hội Nhập, Thực Tế và Khai Phóng

1. Với đường lối Hội Nhập, Trường Đại Học Kinh Thương đặt nặng đường lối giáo dục trên khía cạnh chuyên môn nhưng không tách rời chuyên môn ra khỏi bối cảnh lịch sử, văn hóa, xã hội và chính trị quốc gia. Phương pháp xuyên khoa (Multidisciplinary Approach) là cơ hội để thực thi chủ trương hội nhập.

2. Với dường lối Thực Tế, Trường Đại Học Kinh Thương hướng dẫn Sinh viên tìm hiểu những vấn đề thực tế qua các nỗ lực quan sát, nghiên cứu, điều tra, phỏng vấn, hội luận để thâu thập dữ kiện và xử dụng các phương pháp phân tích khoa học để đi đến các kết luận, đề nghị hay biện pháp chính xác, khả thi.

3. Với dường lối Khai Phóng, Trường Đại Học Kinh Thương mở rộng cửa đón mọi ý kiến, luôn luôn thích nghi để tiến bộ. Sinh viên được khuyến khích đặt vấn đề và thảo luận dưới sự hướng dẫn của Giáo sư để các Sinh viên có thể đóng góp tối đa trong việc học tập. “Tinh thần Tham dự” là phương châm để rèn luyện Sinh viên Kinh Thương trong lãnh vực học vấn cũng như sinh hoạt cộng đồng.

Một số giáo sư của các Trường thuộc Viện Đại học Minh Đức ngày xưa:

1. Thầy Tiến Lộc, cựu Giáo sư Khoa Nhân Văn Nghệ Thuật
2. Thầy Nguyễn Minh Triết, cựu GS Khoa Y
3. Thầy Nguyễn Hải Bình, cựu Khoa Trưởng Khoa Kinh Thương
4. Thầy Bùi Duy Tâm, cựu Khoa Trưởng Khoa Y
5. Cô Bùi Thị Lạng, cựu GS Khoa Y
6. Thầy Lê Viết Tòa, cựu GS Khoa KHKT
7. Thầy Nguyễn Kim Trang, cựu GS Khoa Canh nông
8. Thầy Nguyễn Hữu Phương, cựu GS Khoa Y và Khoa KHKT
9. Thầy Lê Dân, cựu GS Khoa NVNT
10.Thầy Lê Mộng Hoàng, cựu GS Khoa NVNT
12.Thầy Trương Thìn, cựu GS Khoa Y
13. Thầy Lê Dân, cựu Giáo sư Khoa Nhân Văn Nghệ Thuật
14. Thầy Lê Viết Tòa, cựu Giáo sư Khoa Khoa Học Kỹ Thuật

——————

Hình 1: Trường Đại học Kinh Thương.
Hình 2: Cha Bửu Dưỡng, OP
Các hình 3,4,5: Cha Henry Bạch Văn Lộc, CSsR

Nguồn: Lm. Lê Ngọc Thanh

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=173691217016190&id=100031259394131

No photo description available.
Image may contain: 4 people, people smiling, people standing
Image may contain: one or more people, people standing and wedding
Image may contain: 15 people, people smiling, indoor
Image may contain: 3 people

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ếch & Bò

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ếch & Bò

(RFA)

 

Ảnh của tuongnangtien

Trung Quốc đã làm rất tốt về việc xây dựng mạng xã hội của riêng họ. Vì vậy, Việt Nam cũng nên xây dựng mạng xã hội của mình.

T.T Nguyễn Xuân Phúc

La grenouille qui veut se faire aussi grosse que le boeuf.

Jean De La Fontaine

Trong lịch sử loài người, dường như, không xứ sở nào lại có một tầng lớp lãnh đạo “sính” chuyện viết lách như ở VN:

  • TBT Trường Chinh, làm thơ với bút hiệu Sóng Hồng.
  • TBT Nguyễn Văn Linh, viết báo với tên NVL.
  • TBT Nông Đức Mạnh, người suốt đời chỉ quan tâm đến lâm nghiệp và nông nghiệp (trồng cây gì? nuôi con gì?) cũng vừa làm công luận vô cùng kinh ngạc về bộ Tuyển Tập dầy cộm của ông, do nhà xuất bản Sự Thực xuất bản năm 2018.

Nói chung thì tất cả các đồng chí lãnh đạo đều có tác phẩm để đời ráo trọi:

Riêng Chủ Tịch Đầu Tiên của nước VNDCCH, kiêm Chủ Tịch Đảng, đã để lại cho hậu thế Hồ Chí Minh Toàn Tập (trọn bộ) tới 15 cuốn lận. Người còn làm thơ (tiếng Tầu) viết kịch (tiếng Tây) và đặc biệt nổi bật trong thể loại tự truyện – autobiography – với những bút danh xa lạ: Trần Dân Tiên hoặc Th. Lan. Ngay  cho đến nay, bài viết (“Địa Chủ Ác Ghê”) của Bác – xuất bản năm 1953, với bút hiệu CB – vẫn còn được dư luận rất quan tâm và vô cùng … ái ngại!

T. S Mạc Văn Trang nhận xét: “Cái này là mốt của những nhà cộng sản, bất kỳ ai làm Tổng Bí thư đều có sách, từ xưa đến giờ: ông Lê Duẩn có rất nhiều sách, ông Trường Chinh, ông Nguyễn Văn Linh, ông Đỗ Mười cũng rất nhiều sách.”

Đến như cỡ ông Đỗ Mười mà “cũng rất nhiều sách” thì đủ biết là giới lãnh đạo CSVN thích “trước tác” đến cỡ nào. Có điều ít ai để ý là ngoài việc chăm chỉ viết lách, họ còn vô cùng nhiệt tình … đốt sách nữa cơ. Họ đốt từ Hà Nội đến Sài Gòn. Một người dân ở lại miền Bắc sau năm 1954, ông Tự Do, cho biết:

“Tôi phải học năm cuối cùng, tú tài 2, cùng một số ‘lớp chín hậu phương,’ năm sau sẽ sát nhập thành ‘hệ mười năm.’ Số học sinh ‘lớp chín’ này vào lớp không phải để học, mà là ‘tổ chức hiệu đoàn,’ nhận ‘chỉ thị của thành đoàn’ rồi ‘phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!’ Họ truy lùng…đốt sách!

Hai mươi mốt năm sau, tình trạng này lại tái diễn:

  • Trần Bích San: “Sau khi dùng bạo lực cưỡng chiếm miền Nam, Cộng Sản thực hiện cấp thời, qui mô chính sách tieu diệt toàn bộ văn hóa phẩm Việt Nam Cộng Hoà. Khoảng hơn 180,000,000 quyển sách đủ loại bị tịch thu, thiêu hủy.” (Trần Bích San. Văn Học Việt Nam. New Orleans, LA: Cảo Thơm, 2018).
  • T. Vấn: “Đó là những ngày tháng tủi hổ nhất cho lịch sử Việt nam, khi hàng ngàn thanh niên sinh viên học sinh của bên thua trận bị chính quyền mới ra lệnh vào tận những nhà sách, nhà xuất bản, cả những kệ sách tư nhân, tịch thu tòan bộ sách báo, ấn phẩm, tất cả những gì được in ấn, phát hành ở miền Nam trước tháng 4 năm 1975 đem ra đốt.”
  • Nguyễn Ngọc Chính: “Không có con số thống kê chính thức nhưng người ta ước đoán có đến vài trăm ngàn sách báo và băng, đĩa nhạc bị thiêu đốt trong chiến dịch truy quét văn hóa phẩm đồi trụy-phản động tại Sài Gòn. Sách báo trên kệ sách trong nhà của tư nhân bị các thanh niên đeo băng đỏ lôi ra hỏa thiêu không thương tiếc.”

Thời gian, may thay, không đứng về phe những kẻ phần thư. Những tác phẩm bị thiêu hủy đều có thể được tái tạo, dưới hình thức khác (gọn gàng, nhẹ nhàng, và dễ tiếp cận hơn nhiều) trong thời đại mới. Internet là một phát kiến ngoài dự đoán của Geroge Orwell nên nhà tiên tri của thế kỷ XX đã bị thời đại vượt qua. Trong tác phẩm Nineteen Eighty-Four (1984) ông viết: “Who controls the past controls the future: who controls the present controls the past. Ai kiểm soát được hiện tại, kiểm soát được quá khứ. Ai kiểm soát được quá khứ, kiểm soát được tương lai.”

Những phương tiện truyền thông đại chúng hiện nay khiến cho chế độ toàn trị mất ráo mọi thứ quyền “kiểm soát.” Hơn chục năm trước, báo Công An Nhân Dân (số ra ngày 05/10/2007) đã than thở rằng “blog như là một thứ hệ lụy và quản lý blog là … chuyện buộc cẳng chim trời.” Đến nay thì tình hình đã có phần (hơi) đổi khác: buộc chỉ chân voi. Vậy thì đành phải theo thời thôi!

Thế là Đảng và Nhà Nước CSVN cho ra đời hằng trăm trang mạng. Tất cả đều tưng bừng khai trương và âm thầm đóng cửa – theo nhận định của Vnexpress, đọc được vào hôm 18/09/2019: “Rất ít mạng xã hội của Việt Nam tồn tại được quá một năm. 9 năm trước, mạng xã hội Go.vn ra đời kèm theo tuyên bố chắc nịch từ lãnh đạo của dự án này là: Soán ngôi Facebook sau 6 tháng với 5 triệu người dùng. Đơn vị này cũng đặt mục tiêu chiếm 40–50% lưu lượng truy cập mạng xã hội tại Việt Nam vào năm 2015. Nhưng rồi dự án mau chóng thất bại, chuyển thành một trang tin tức tổng hợp. Tương tự Go.vn, còn nhiều cái tên mạng xã hội cũng ra mắt đình đám nhưng sớm ‘chết yểu’ như Zingme, Tamtay.vn, Yume.vn…”

Tất cả mọi người đầu biết những sự kiện này, trừ mỗi ông tân Bộ Trưởng (TT & TT) Nguyễn Mạnh Hùng. Tại lễ ra mắt mạng xã hội Lotus, nhân vật này tuyên bố rằng: “Người Việt có thể làm ra những thứ mà thế giới chưa từng làm.” Nói vậy (chắc) chưa đã miệng nên đương sự còn thêm: “Thành công của Lotus sẽ góp phần để đến 2020, người dùng các mạng xã hội Việt Nam sẽ tương đương người Việt Nam dùng các mạng của nước ngoài.”

Ông Nguyễn Thế Tân, Tổng Giám Đốc Công Ty Cổ Phần VCCorp (đơn vị phát triển mạng xã hội Lotus) cũng hùng hổ, và hùng hồn, không kém: “Kỳ vọng sẽ đạt mốc 4 triệu người dùng mỗi ngày, sau đó sẽ tăng lên 20 triệu, thậm chí 50 triệu người dùng.”

Hai ông Trời con này khiến tôi nhớ đến mấy câu thơ ngụ ngôn của Thái Bá Tân:

Con Ếch ngu ngốc ấy/Nổ đánh bùm thật to/Thế là hết con Ếch/Muốn to bằng con Bò.

Còn công luận thì nhận xét ra sao?

  • TS Nguyễn Đức AnTrên thực tế, họ ra mắt rầm rộ nhưng có lẽ là hơi vội vì hiện vẫn chưa có giao diện trên web, chỉ là một ứng dụng trên thiết bị di động … nội dung thì có vẻ rất nhiều thứ vô thưởng vô phạt, với lượng tin bài gái xinh-trai đẹp và những chuyện cướp-giết -hiếp chiếm tỉ trọng lớn.
  • Chuyên gia Lê Ngọc Sơn (Đại Học Công Nghệ Ilmenau): Họ nói là mạng xã hội dựa trên nội dung, nhưng nội dung kiểu gì mà khi vào thì toàn nội dung rẻ tiền.
  • L.S Nguyễn Văn ĐàiMạng xã hội Việt chỉ lãng phí tiền và người.
  • Báo Lao ĐộngMạng xã hội 1.200 tỉ: Chỉ toàn hot girl vậy sao?
  • BBCPhát triển mạng xã hội của Việt Nam có đang đi sai hướng?

Câu trả lời xin được nhường cho một nhân vật có thẩm quyền, ông Trần Anh Dũng – CEO & Founder của công ty cổ phần MOG: “Việc phát triển một sản phẩm công nghệ là luôn đổi mới, không dừng lại nên nếu số vốn đầu tư không đủ lớn, mô hình không đủ tốt thì sẽ ‘đốt’ tiền rất nhanh. Và khi đó, trào lưu phát triển mạng xã hội sẽ lại gặp thực trạng như vài năm trước là chết như ngả rạ.” 

Hai cựu bộ trưởng TT& TT Nguyễn Bắc Son và Trương Minh Tuấn (trái) khai nhận tổng cộng là 3,2 triệu đôla hối lộ từ ông Phạm Nhật Vũ. Ảnh chú thích: BBC

Cái gì chứ “đốt tiền” thì giới quan chức Việt Nam đều có năng khiếu cả. Hai vị bộ trưởng tiền nhiệmđã thể hiện khả năng thiên phú của họ một cách vô cùng ngoạn mục. Nay thì đến lượt ông Nguyễn Mạnh Hùng. Tiền đến tay ai thì người ấy cất thôi. Good luck, sir!

Việt Nam nguy cấp!

Việt Nam nguy cấp!

Nguyễn Ngọc Già
2019-10-01

Hình minh họa. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gặp Chủ tịch Tập Cận Bình ở Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh hôm 25/4/2019

Hình minh họa. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gặp Chủ tịch Tập Cận Bình ở Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh hôm 25/4/2019

 AFP

Tình trạng Việt Nam hiện rất nguy nan, đặt trong bối cảnh phức tạp của thế giới, đặc biệt cuộc thương chiến Mỹ – Hoa, cho đến nay đủ căn cứ để khẳng định: Không có một thỏa thuận tốt đẹp nào diễn ra cả. Nhất là tình hình Hong Kong đang “mất dần và mất hẳn” “tài sản Tự Do” vốn dĩ họ thụ hưởng cả trăm năm qua, cho thấy rất cao với sự quyết liệt của nhà cầm quyền Bắc Kinh.

Những “đám mây mù” vẫn bao quanh lịch sử mối bang giao Việt Nam – Trung Quốc

Công Hàm 1958 do ông Phạm Văn Đồng ký công nhận Hoàng Sa – Trường Sa thuộc về Trung Quốc cũng như Hội nghị Thành Đô “thành công” vào năm 1990 do ông Nguyễn Văn Linh đứng đầu phái đoàn Việt Nam cho đến nay vẫn chưa tỏ tường.

Những khoản gọi là “viện trợ” của Trung Quốc dành cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa để cưỡng chiếm miền Nam trước 1975 cũng như những khoản tiền khác mà người dân Việt Nam không tài nào hay biết, khi đôi bên “cho và nhận” có kèm theo những điều kiện gì.

Theo BBC [1] “1964 – 1975: Trung Quốc ‘viện trợ Hà Nội nhưng không thể chỉ huy”, bài báo cho hay, số viện trợ của Trung Quốc dành cho Bắc Việt đạt đỉnh cao năm 1965, 1967, 1972, và 1974.

Bài báo nhận định viện trợ của Trung Quốc chỉ nhằm phục vụ lợi ích riêng của nước này.  Đồng thời, cho biết số liệu chính thức của Trung Quốc thống kê từ thập niên 1950 cho đến 1975, Trung Quốc đã viện trợ cho Bắc Việt tổng cộng hơn 20 tỉ nhân dân tệ. Trong đó, 1,4 tỉ là cho vay không lãi suất.

Về “tình hữu nghị Việt – Trung”, ông Dương Danh Dy nói [2]: “Chúng ta có một số điều hứa. Tôi biết rất rõ những điều hứa này của ta. Ta có những điều hứa trong vấn đề Biển Đông. Cái hứa của chúng ta lúc đó thì có những nguyên nhân là do chúng ta bênh Trung Quốc, có những nguyên nhân do chúng ta dốt, chúng ta không hiểu gì cả…”

Hình minh họa. Khách du lịch Trung Quốc đi bè ở thác Bản Giốc ở biên giới phía bắc tỉnh Cao Bằng hôm 16/1/2009
Hình minh họa. Khách du lịch Trung Quốc đi bè ở thác Bản Giốc ở biên giới phía bắc tỉnh Cao Bằng hôm 16/1/2009 AFP

Trong khi ông Nguyễn Trọng Vĩnh từng cho hay [3]: “Trong đàm phán biên giới trên bộ, Trung Quốc gian xảo lấn của ta một nửa thác Bản Giốc, 100m từ ải Nam Quan xuống đến Tân Thanh vốn là điểm nối đường ray trước đây để tàu Trung Q uốc đưa hàng hóa vào đất ta, cộng với lấn chiếm những nơi khác, họ lấn của ta một diện tích bằng tỉnh Thái Bình”.

Tuy vậy, ông Nguyễn Trọng Vĩnh cho biết thêm [3]: “Dù sao, sự nhường cơn xẻ áo của nhân dân Trung Quốc giúp chúng ta khá lớn trong hai cuộc kháng chiến, nhân dân ta, Nhà nước ta rất biết ơn, coi như mắc một món nợ. Nhưng tháng giêng năm 1974, nhà cầm quyền Trung Quốc đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam đương thuộc sự quản lý của Việt Nam Cộng hòa; năm 1975, trang bị cho lực lượng vũ trang Pôn-pốt đánh phá phía Tây nam nước ta; tháng 2/1979, Đặng Tiểu Bình huy động 60 vạn quân xâm lăng, tàn phá triệt để các tỉnh biên giới nước ta, giết hại đồng bào ta thì tự họ đã xóa hết nợ nần, ơn nghĩa trước đây. Ngược lại họ lại mắc nợ máu với nhân dân biên giới nước ta”.

Cả thế giới không còn xa lạ với bản chất của người CSVN. Vì vậy, năm xưa Đặng Tiểu Bình “dạy cho Việt Nam một bài học” để gây ra 2 cuộc chiến thảm khốc tại biên giới phía Bắc và Tây Nam, không đáng ngạc nhiên đối với quốc tế.

Vào ngày 14/12/2012, đài BBC đưa tin ông Trương Tấn Sang trong tư cách Chủ tịch Nước khẳng định [4]: “Đảng, Nhà nước ta không bao giờ bán nước cho các thế lực bên ngoài như những kẻ xấu vu cáo. Hành động bán nước hay những việc làm tương tự sẽ chịu sự nguyền rủa, oán hận của các thế hệ sau này, cũng như chúng ta đã từng phê phán nghiêm khắc những nhân vật và những chế độ như thế trong lịch sử”.

Đường Lưỡi Bò – vì đâu nên nỗi?!

Đường Lưỡi Bò do nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa đơn phương tuyên bố chủ quyền vào năm 1953, nhưng chưa bao giờ họ đưa ra giải thích đảm bảo tính khoa học về nó.

Năm 1953 cũng là năm khởi sự chính thức “chiến dịch Điện Biên Phủ” sau nhiều năm chuẩn bị để dẫn đến:

Chín năm làm một Điện Biên

Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng

(Hoan hô chiến sĩ Điện Biên – Tố Hữu)

Đến nay thật tỏ tường, Điện Biên Phủ không thể “lẫy lừng chiến thắng” nếu không có viện trợ từ Trung Quốc. Và phải chăng “thời điểm 1953” là cột mốc cho thấy, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã tận dụng quá tốt cơ hội để đưa ra “Đường Chín Đoạn”, lúc mà nhà cầm quyền Hà Nội không cần phải quan tâm, vì buộc phải tập trung mọi nguồn lực, đặc biệt rất cần “viện trợ quân sự” để đối phó với người Pháp?!

Bản vẽ đường lưỡi bò của Trung Quốc ở Biển Đông
Bản vẽ đường lưỡi bò của Trung Quốc ở Biển Đông AFP

Khi con bạc đang khát dữ dội cho “mộng ước” làm nên “trang sử oai hùng và chói lọi”, quả thật quá dễ để cho nhà cầm quyền Hà Nội nhanh chóng nhận lấy tất cả những gì mà phía Trung Quốc trao cho. Bẫy đã được đặt xong! Từ rất lâu như thế!

Bên cạnh đó, nhà cầm quyền Bắc Kinh luôn nhắc đến thuật ngữ “quyền lịch sử” – để khẳng định gần hết Biển Đông là của họ – dù vô cùng mơ hồ đối với thế giới nhưng họ thật tự tin mà không cần phải lý giải! Tại sao như vậy?

Chính Bắc Kinh biết quá rõ, những “món viện trợ” cho Hà Nội “thật bất nhân và vô cùng bất nghĩa” đối với người mà họ luôn “trìu mến” gọi là “đồng chí“. Ngược lại, Hà Nội cũng thật rành tâm địa của Bắc Kinh, nhưng lại không muốn “bánh ít trao đi bánh quy trao lại”.

“Tình hữu nghị thắm thiết” của đôi bên được tụng ca thật “lãng mạn” và “nghĩa tình” vào ngay năm 1956, khi “men say chiến thắng Điện Biên” vẫn còn… “nồng nặc”:

Bên ni biên giới là mình.

Bên kia biên giới cũng tình quê hương

(Đường sang nước bạn – Tố Hữu)

Bãi Tư Chính và vấn đề kiện

Báo Thanh Niên ra ngày 18/8/2019, có bài [5] “Trung Quốc xâm phạm vùng biển Việt Nam: Hiểm họa cho toàn khu vực”.

Khi người CSVN, đứng đầu là Hồ Chí Minh, phát hành Công hàm 1958 do Phạm Văn Đồng ký, đã công nhận Hoàng Sa – Trường Sa là của Trung Quốc, lúc bấy giờ – người CSVN có hiểu – đó cũng là bước khởi đầu gây đại thảm họa cho toàn khu vực ngày nay không (?).

Nhà cầm quyền Hà Nội kêu gọi quốc tế ủng hộ về tình hình “Bãi Tư Chính”, trong khi người dân trong nước không còn mấy ai tin tưởng vào “hành động thực tế” của họ.

“Kiện” – chữ được bắt gặp rất nhiều, từ khi Bãi Tư Chính bị xâm phạm.

Các nhà chuyên môn về Biển Đông cùng các nhà báo có nhiều đồng thuận về việc “kiện” với bằng chứng “chắc chắn thắng” thông qua thành công của Philippines năm 2016 và nhiều căn cứ pháp luật quốc tế khác, không thể chối bỏ.

Philippines kiện “Đường Lưỡi Bò” mà Trung Quốc khẳng định “tài sản riêng” của họ, trong khi Bãi Tư Chính nằm trong vùng EEZ của Việt Nam. Nói cách khác, Philippines kiện “cái chung”, còn Việt Nam kiện “cái riêng” – Một phạm trù của Triết Học, rất đáng để cho người CSVN bóp trán suy ngẫm. Chính vì vậy, nhà cầm quyền Hà Nội rất cần ủng hộ của toàn dân, khối Asean và quốc tế. Cho đến nay “chiến lược này” hoàn toàn thất bại, bởi ngay cả ông Phạm Bình Minh trong phát biểu ngày 28/9/2019 tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc, dù mất tới mười lăm phút đồng hồ, nhưng không dám nhắc tên “khách thể – Trung Quốc”. Điều này có nghĩa, không thể tiến hành khởi kiện “một quốc gia vô danh”.  Đó là khác biệt thứ nhất.

Chính phủ Philippines, cho tới nay, chưa hề cho thấy có bất kỳ “ân oán tình thù” nào kèm với những “món nợ bất minh và bất chính”  đối với Bắc Kinh. Đó là khác biệt thứ nhì.

Philippines là quốc gia đa đảng. Đó là khác biệt thứ ba.

Ông Lê Mã Lương và ông Trương Giang Long – 2 người Công Sản cấp cao – đã chỉ ra nhiều nhân vật cao cấp khác trong ĐCSVN luôn luôn “toàn tâm toàn ý” với nhà cầm quyền Bắc Kinh. Đó là khác biệt thứ tư.

Kết luận

Một nguyên tắc đối ngoại của thế giới, cho đến nay vẫn sừng sững, không thể chối bỏ: Không một quốc gia nào can thiệp vào một quốc gia khác, một khi quốc gia cần giúp đỡ không lên tiếng.

Chính sách “vừa hợp tác vừa đấu tranh” biến tướng từ chính sách “đi dây” hàng chục năm qua của nhà cầm quyền Hà Nội – Nó cần phải được loại bỏ bởi tính phản khoa học trong tình hình Việt Nam nguy cấp hiện nay.

_______________________

Nguyễn Ngọc Già

[1] https://www.bbc.com/vietnamese/world-48051722

[2] https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/Vietnam-China-a-long-standing-grievances-historical-MLam-07022009133546.html

[3] http://trannhuong.net/tin-tuc-17298/lao-tuong-nguyen-trong-vinh-huu-nghi-hay-muu-do-thon-tinh–.vhtm

[4] https://www.bbc.com/vietnamese/mobile/vietnam/2012/12/121214_sang_army.shtml

[5] https://thanhnien.vn/…/trung-quoc-xam-pham-vung-bien-viet-n…