Bà Hạnh Nhơn, ân nhân của thương phế binh và quả phụ VNCH, qua đời.

 Bà Hạnh Nhơn, ân nhân của thương phế binh và quả phụ VNCH, qua đời.

Nguoi-viet.com

Bà Hạnh Nhơn (giữa) tại Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh kỳ V. (Hình: Diễn Đàn Cựu Sinh Viên Quân Y)

FOUNTAIN VALLEY, California (NV) – Cựu Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn, một người được coi là ân nhân của vô số thương phế binh và quả phụ VNCH, vừa qua đời lúc 1 giờ 43 phút sáng Thứ Ba, 18 Tháng Tư, tại bệnh viện Fountain Valley, California, hưởng thọ 90 tuổi.

Tin này được bà Trâm Lý, con gái bà Hạnh Nhơn, xác nhận với nhật báo Người Việt.

Khi biết tin, nhà báo Huy Phương, một người thân thiết và sát cánh với bà Hạnh Nhơn trong công tác giúp thương phế binh và quả phụ VNCH nhiều năm qua, thốt lên: “Xin cầu nguyện cho chị Hạnh Nhơn. Nghĩ rằng chuyện sẽ tới, nhưng khi tới, không khỏi xót xa.”

Khi hay tin, ông Trần Văn Lý, một thương phế binh VNCH, viết trên email:

Tin sét đánh ngang tai
Một tượng đài vừa đổ!

Nay chị lìa bể khổ
Để về cõi vĩnh hằng

Chúng em gạt nước mắt
Đành chúc chị bình an!

Nhà báo Huy Phương cho biết thêm: “Chúng tôi sẽ gặp gỡ các cháu trong gia đình để bàn thảo việc cáo phó theo chúc thư của chị ghi lại cho tôi. Sau đó tôi sẽ thông báo cho tất cả diễn tiến của tang lễ.”

Sở dĩ bà Hạnh Nhơn được coi là “ân nhân của vô số thương phế binh và quả phụ VNCH” vì bà là hội trưởng Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH, người đứng đầu các đại nhạc hội Cám Ơn Anh, gây quỹ giúp thương phế binh và quả phụ VNCH tại quê nhà.

Đại nhạc hội này nay đã trở thành một trong những sự kiện lớn nhất của cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại.

Mỗi năm, hội giúp hàng chục ngàn cựu chiến binh VNCH bị mất một phần thân thể, cùng những phụ nữ có chồng hy sinh, trong cuộc chiến bảo vệ miền Nam Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của bà, cùng phối hợp với các tổ chức, trung tâm ca nhạc, và cơ quan truyền thông, đại nhạc hội Cám Ơn Anh nay được luân phiên tổ chức ở Nam và Bắc California, mỗi năm thu được cả trăm hoặc cả triệu đô la, do đồng bào hải ngoại đóng góp, gởi về Việt Nam giúp rất nhiều người.

Đại nhạc hội lần thứ 10 hồi năm ngoái thu được tổng cộng $1,279,000.

Theo nhiều tài liệu, bà Hạnh Nhơn nhập ngũ năm 1950 ngành hành chánh tài chánh, với công việc là phát lương cho “đệ nhị quân khu” sau gọi là Quân Ðoàn I. Kế đến, bà là thiếu úy rồi trung úy sĩ quan tiếp liệu tại quân y viện Nguyễn Tri Phương. Sau đó bà được thuyên chuyển về Trung Tâm Huấn Luyện và Trường Nữ Quân Nhân và rồi lên lon đại úy làm việc tại văn phòng đoàn nữ quân nhân của Bộ Tổng Tham Mưu. Năm 1969, bà là thiếu tá trưởng phòng nghiên cứu. Sau đó, bà được chuyển qua Không Quân và lên trung tá năm 1972.

Sau Tháng Tư, 1975, bà bị Cộng Sản bắt đi tù nhiều nơi khác nhau, bao gồm Long Giao, Quang Trung, Hóc Môn, Z30D, Hàm Tân, và Long Thành.

Sau khi ra tù, năm 1990, bà định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO2.

Ban đầu, bà là phó chủ tịch Hội Tương Trợ Cựu Tù Nhân Chính Trị, phụ tá cho ông Nguyễn Hậu là chủ tịch thời bấy giờ. Công việc của bà là làm giấy tờ bảo lãnh cho các cựu quân nhân QLVNCH không có thân nhân bảo lãnh.

Sau đó, bà làm hội trưởng Hội H.O. Cứu Trợ Thương Phế Binh và Quả Phụ VNCH cho tới nay.

Trong một lần trả lời phỏng vấn nhật báo Người Việt hồi năm 2011, khi được hỏi lý do khiến bà hăng say trong công việc cứu trợ thương phế binh và quả phụ VNCH, bà cho biết: “Tôi cảm thấy vui khi được cùng đồng hương Việt Nam và các hội đoàn tổ chức Ðại Nhạc Hội Cám Ơn Anh Kỳ I và các lần sau này là vì tình huynh đệ chi binh. Là lính, tình cảm ấy nặng lắm.”

Bà không giấu được xúc động khi nhắc đến những giây phút làm hồ sơ cứu trợ, hoặc khi đọc những lá thư hồi báo của các thương phế binh, hay từ gia đình các quả phụ, gởi về cho hội: “Tôi tưởng tượng lúc họ vui khi nhận được tiền, con cái họ có thêm miếng cơm, có thêm tấm áo, gia đình họ ấm lòng khi đồng bào ở hải ngoại xa xôi vẫn nghĩ đến và nhớ ơn sự hy sinh của họ.” (Đ.D.)

Một cuộc đối đầu có thể trở thành cuộc chiến tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức

Một cuộc đối đầu có thể trở thành cuộc chiến tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức

Hải Âu (Danlambao) – Mỹ Đức là một huyện nằm cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 40km về phía Tây Nam, hiện có khoảng 2.572 hộ dân với dân số hơn 8.600 người.

Những diễn biến xung quanh vụ việc người dân xã Đổng Tâm, huyện Mỹ Đức cố thủ chống lại lực lượng cưỡng chế của nhà cầm quyền Hà Nội đang là đề tài nóng trên các diễn đàn, mạng xã hội trong những ngày qua. Điểm mấu chốt của vụ việc cho đến lúc này là người dân đang giam giữ 32 người gồm công an, cảnh sát cơ động, an ninh giả dạng côn đồ.

Sự việc đang diễn ra tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức được dư luận biết đến khi một số trang mạng lề Dân đăng tải, chia sẻ đoạn clip cho thấy hàng chục công an bỏ chạy khi bị người dân rượt đuổi. Liền sau đó, những thông tin, hình ảnh một nhóm cảnh sát cơ động bị người dân “giam lỏng” tại nhà văn hóa của huyện được lan tỏa nhanh chóng. Nguyên nhân dẫn đến vụ việc trên bắt nguồn từ những mâu thuẫn trong việc nhà cầm quyền dùng vũ lực cưỡng chiếm đất đai của người dân xã Đồng Tâm huyện Mỹ Đức. Đây không phải là lần đầu cộng sản Hà Nội hành xử thô bạo và trái pháp luật khi thực hiện những quyết định thu hồi đất.

Hồi đầu tháng 1/2010, cộng sản Hà Nội đã đập phá biểu tượng Thánh Giá của giáo xứ Đồng Chiêm thuộc huyện Mỹ Đức ngay trong lúc linh mục đoàn đang tĩnh tâm định kỳ tại tòa giám mục Hà Nội. Đây được xem là một vụ vi phạm tự do tôn giáo nghiêm trọng của nhà cầm quyền khi ra lệnh triệt hạ biểu tượng của người Công Giáo với lý do an ninh quốc phòng, dù rằng Thánh Giá được dựng trên phần đất thuộc quyền quản lý của giáo xứ.

Khoảng giữa năm 2013, cộng sản Hà Nội tiếp tục “giải phóng mặt bằng” sau khi ban hành quyết định thu hồi 168.456m2 của người dân xã Hương Sơn thuộc huyện Mỹ Đức. Người dân trong xã đã nhiều lần phản đối dự án xây dựng khu du lịch Hương Sơn vì cho rằng nhà cầm quyền vi phạm những qui định về việc thu hồi đất. Một số người còn mang quan tài đến khu đất nhằm ngăn cản chủ đầu tư cố tình xây dựng khi chưa giải quyết xong vấn đề tranh chấp giữa nhà cầm quyền và người dân.

Sự việc trở nên căng thẳng khi cộng sản Hà Nội tổ chức cưỡng chế khu đất. Hàng trăm công an, cảnh sát và an ninh mật vụ đã được điều động để trấn áp người dân tại đây. Không chỉ dừng lại ở việc cưỡng chiếm đất đai, một mặt nhà cầm quyền cưỡng chế, mặt khác cho an ninh giả dạng côn đồ gây hấn để lấy cớ tạo ra bạo loạn, sau đó bắt giam một số người dân bị “côn đồ” đánh đập. Công an cộng sản Hà Nội tiếp tục thể hiện thủ đoạn khốn nạn của nhà cầm quyền khi khởi tố 10 người bị bắt giam trong đợt cưỡng chế tại Hương Sơn với tội danh “chống người thi hành công vụ”.

Năm 2014, qua hai phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, 10 người dân xã Hương Sơn đều bị tuyên án tù giam với những bản án bỏ túi. Đây là một màn kịch bỉ ổi được dựng nên bởi bàn tay tà quyền cộng sản thường sử dụng sau khi cưỡng chiếm đất của người dân.

Quay trở lại vụ việc ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức hiện nay.

Tin từ người dân xã Đồng Tâm cho biết nguyên nhân vụ việc đã bắt đầu xảy ra từ năm 2012 khi nhà cầm quyền cố tình sai phạm trong quá trình đo đạc và xác định ranh giới đất nông nghiệp và đất thuộc diện quốc phòng. Hơn 47ha đất nông nghiệp được nhà cầm quyền giao cho tập đoàn Viettel làm dự án. Nhiều hộ gia đình tại đây đã bất bình trước việc làm sai trái của nhà cầm quyền nên đã nhiều lần khởi kiện. Tuy nhiên việc khởi kiện một tập đoàn được bảo kê bởi hệ thống công an dưới sự thống trị của cộng sản đảng thì thiệt thòi chắc chắn thuộc về phía người dân.

Sự việc ngày càng trở nên phức tạp khi nhà cầm quyền cố tình bác bỏ đơn kiện của các hộ dân và tiếp tục cho Viettel đầu tư xây dựng trong khi vụ việc vẫn chưa được giải quyết. Đã có những xô xát xảy ra trong quá trình tranh chấp, và dĩ nhiên những người bị đánh đập luôn là nông dân. Ngày 30/3/2017, công an cộng sản Hà Nội lại tiếp tục ra quyết định khởi tố những người thưa kiện với tội danh “gây rối trật tự công cộng”. Đến lúc này có lẽ sức chịu đựng của người dân xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức đã vượt quá khả năng chịu đựng.

Những gì phải đến đã đến trong ngày 15/4 vừa qua khi nhà cầm quyền mời một số đại diện phía người dân khiếu kiện lên làm việc sau đó cố tình bắt giữ họ một cách trái phép. Đáp trả hành động xem thường pháp luật của nhà cầm quyền Hà Nội, hàng ngàn người dân xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức đã thực hiện một cuộc phản kháng được xem là mạnh mẽ nhất trong nhiều năm trở lại đây. Một cuộc phản kháng bằng sự căm phẫn cùng tinh thần đoàn kết cửa người dân khiến những tên tay sai thuộc ngành công an cộng sản Hà Nội đã phải tan hàng ngũ, bỏ mặc đồng đội, đồng chí để tháo chạy.

Người dân bắt giữ 32 kẻ trực tiếp tham gia trấn áp trong đó có cảnh sát cơ động và an ninh giả dạng côn đồ. Điều này cho thấy người dân Mỹ Đức đã thật sự vượt qua sợ hãi trước bạo quyền của cộng sản. Hơn nữa họ tạo ra những thế trận nhiều vòng khiến nhà cầm quyền Hà Nội mất phương hướng trong cách giải quyết vấn đề nhạy cảm này. Nếu cộng sản Hà Nội quyết tâm “cứu” 32 tên tay sai của mình bằng bạo lực, chắc chắn sẽ có bạo loạn xảy ra không chỉ tại Mỹ Đức. Đây được xem là một nước cờ khó cho nhà cầm quyền.

Hình ảnh những tên cảnh sát bị vây bắt trong nhà văn hóa huyện đã tỏ ra rất “thuần phục” trước nỗi căm phẫn và lòng nhân hậu của người dân. Những kẻ dùng bạo lực để trấn áp người dân lại được người dân đối xử tử tế vì họ biết rằng những kẻ này chỉ vì nghe theo sự chỉ đạo của những tên quan chức cấp cao trong bộ máy của cộng sản đảng. Hình ảnh đó ít nhiều sẽ tác động lên những cảnh sát cơ động, công an chìm nổi nhìn vào để thấy rõ người dân không hề muốn gây thù oán với lực lượng công quyền. Nhưng nếu bị dồn vào bước đường cùng thì sự phản kháng của người dân sẽ trở thành sức mạnh không gì có thể ngăn cản nổi.

Chưa thể nói diễn biến tiếp theo của vụ việc sẽ xảy ra theo kịch bản nào, nhưng người dân xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức cần hết sức tỉnh táo trước những thủ đoạn của cộng sản. Có thể nhà cầm quyền sẽ có những nhượng bộ ban đầu nhằm giảm nhiệt sự căm phẫn của người dân. Tuy nhiên đây là một trong những thủ đoạn mà cộng sản thường sử dụng trong các vụ việc căng thẳng giữa người dân và giới chức cộng sản. Sau những bước nhượng bộ sẽ là những đòn gây chia rẽ sự đoàn kết nhằm tìm ra những hạ sách trả thù những người đại diện khiếu kiện.

“Cuộc chiến” của người dân xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức chắc chắn còn diễn ra với những tình tiết khó đoán. Hơn lúc nào hết, những người nông dân can đảm này rất cần sự hỗ trợ của nhân dân cả nước trên nhiều phương diện để đạt được kết quả có lợi trong “cuộc chiến”. Một “cuộc chiến” không hẳn chỉ đòi quyền lợi đất đai mà trên hết là cuộc chiến dành lại quyền làm người đã và đang bị cộng sản đảng tước đoạt.

18.04.2017

Hải Âu

danlambaovn.blogspot.com

Vượt biển !

From facebook: Hoang Le Thanh added 2 new photos 
Vượt biển !

Khi trường Đại học Kinh Thương (Viện ĐH Minh Đức) tổ chức lễ tốt nghiệp khóa đầu tiên, tôi đến Kỳ Đồng lôi Thắng vào một phòng riêng, hỏi nhỏ:

– Ông có giúp tôi một vài bản nhac, được chăng?
– Ở đâu ?
– Lễ tốt nghiệp khóa đầu tiên, trường Kinh Thương.
– Ồ! Rất vinh dự!
Tôi nói :
– Sinh viên tổ chức, không có tiền thù lao đâu nhé !
– Biết rồi! Thắng bảo và nói thêm: – Tôi thích hát cùng sinh viên!
– Khôn dữ hé! Tôi và Thắng cùng cười.

Vài hôm sau, tôi đến cư xá Bắc Hải đón và đưa Thắng cùng cây đàn guitar đến dự buổi lễ. Bố trí Thắng ngồi cùng dãy quan khách gồm các vị tổng trưởng, thứ trưởng, qúy Đức Cha, Linh muc và các giáo sư đại học, …

Sau nầy tôi cảm ơn Thắng bằng một chầu cà phê cóc ở chợ Kiến Thiết, gần nhà anh Ngô Mạnh Thu (dân ca), có cả anh Nguyễn Minh Nữu, Ngô Mạnh Thu, Nguyễn Đức Quang, … vài cô nữ sinh Gia Long cũng có mặt uống ké.

… tình cờ nhìn thấy bài viết của Nguyễn Quyết Thắng (nhạc sĩ). Một chút xa xưa nhớ về người bạn nhạc sĩ dễ thương, hiền hóa, thường nỡ nụ cười trên môi.

Xin giới thiệu và mời qúy bạn cùng đọc một bài viết về̀ – Kỷ niệm Tháng Tư Đen – của Nguyễn Quyết Thắng.

Xin tag đến anh Nguyễn Minh Nữu để Thắng có hỏi, nhờ Nữu nói với Thắng: Tôi gởi lời thăm!
Lê Thanh Hoang Le Thanh

***
” Nước …”

Nguyễn Quyết Thắng
Du Ca
Sau chuyến vượt biên hụt hẫng tại Nha Trang vào một buổi tối mùa thu của năm 1980, tôi không thể trở về Banmê được nữa nên chạy thẳng xuống Sài gòn. Cơ duyên hội ngộ chúng tôi 3 người bắt tay nhau để tiếp tục thực hiện ý định vượt biên luôn sẵn trong tâm trí, anh Nguyễn Thế Bang có tài ăn nói khôn khéo, uyến chuyển và nhanh trí, lo tiếp xúc với bạn bè và những người muốn tham gia vượt biên, anh “làm cái” đứng mũi chịu sào nên tôi gọi đùa là “Cái Bang”, chị Minh Tâm một người hiền hòa ăn nói nhã nhặn, khuôn mặt phúc hậu và là người con của một gia đình uy tín trước kia, vì thế những người được chị mời đến tham gia đều tin tưởng và hy vọng. Cũng từ cái duyên này mà anh Bang và chị Tâm thường xuyên gặp nhau, tình yêu nẩy nở và nên duyên vợ chồng.

Nhiệm vụ tôi phải lo trực tiếp những nhu cầu cần thiết cho chiếc thuyền, từ giấy tờ chuyên chở hàng hóa để ngụy trang, đến vật dụng cần thiết như tìm mua hải bàn, hải đồ, dầu nhớt, thuốc men v..v.. một công việc qủa khó khăn và nguy hiểm. Mặc dù sẽ có tài công lo điều khiển con tầu, nhưng tôi cũng phải nghiên cứu tìm tòi học hỏi cách lái tầu, chọn con nước, hướng gió, ôn lại ánh trăng sao, những chuyện này tôi từng quen biết nhờ sinh hoạt trong Hướng Đạo, các hội đoàn và những ngày tháng phục vụ trong quân đội. Tôi luôn có mặt trên thuyền để bảo vệ phá hoại hoặc bị đánh cắp thuyền, nó là một vật quan trọng, một ước mơ, một hy vọng của tương lai đời sống chúng tôi.

Tôi đã bán đi chiếc nhẫn cưới và sợi dây chuyền cuối cùng để mua ly tách, phin càphê, vài cái ghế đẩu chân thấp và 2 cái bàn xếp cho có lệ, thuê một quán cóc bên đường đối diện với cổng sau Sở Thú đầu cầu Thị Nghè mở quán bán càphê, dùng làm điểm hẹn hò, nơi gặp gỡ bàn bạc công việc, khách qua đường ghé uống càphê thì cũng bán bình thường như thường. Đêm về, xập mái hiên lá xuống che kín phiá trước thay cho cánh cửa, nằm trong chiếc ghế bố mượn của anh chị Kha được mở ra khi đi ngủ, nghe đêm về tịch liêu, nhớ nhà, nhớ vợ con đang còn ở trên cao nguyên Banmê, nơi chất chứa đầy kỷ niệm thời mới lớn, nay đành phải rời xa, thương cho tương lai đàn con thật mịt mờ, cuộc sống hẩm hiu thua kém chúng bạn, thiếu thốn mọi điều, ngay hạnh phúc gia đình với tình cha con cũng bị cách ngăn, không biết bao giờ mới an bình quây quần bên nhau. Thương chúng bao nhiêu, thương mình bấy nhiêu, trong bóng đêm âm thầm lặng câm, đôi dòng lệ trào dâng, ấy là niềm an ủi vô biên luôn theo sát bên tôi.

Chiếc thuyền dài 9 thước, rộng 2 thước rưỡi, đã được vài người tài công mời từ Phan Thiết đến thăm, cùng đôi người thợ máy đến viếng, đều lần lượt bỏ ra đi với nhiều lý do khác nhau, tựu chung là ” chê “, máy Zanma 2 đầu bạc với bánh trớn to tổ chảng và nặng chình chịch, xưa qúa rồi, mũi thuyền thấp qúa, không phải thuyền đi biển, phải là mũi..” Thái Lan ” mới được, anh Bang nói rằng : ” Tháng 3 bà già đi biển “, sóng êm gió lặng, loại thuyền này đi thì không sợ bị lộ, thắng là cái chắc. Điều này tôi không có ý kiến, chẳng có kinh nghiệm, mở mắt chào đời đến nay, đây là chiếc thuyền đầu tiên tôi thực sự được sờ tận tay ray tận mắt, tôi nghĩ rằng chiếc nào thì cũng tương tự như nhau, khác chăng là to hay nhỏ hơn thế thôi ! tôi là dân sống trên núi, bơi còn chưa biết nữa huống hồ…

Thế rồi ! tháng 3 năm 1981 ngày dự định đã đến, chàng cựu sĩ quan hải quân cùng người thợ máy bạn của anh ta đột nhiên biến mất, không một lý do ? May thay chị Tâm đã mời được ông Nhất từ Phan Thiết về làm tài công, ngày đi không thay đổi, chỉ có tôi và ông Nhất trên thuyền đến điểm hẹn nơi cửa biển, các “taxi” ( ghe nhỏ ) sẽ đổ người ra. Tôi cầm sổ thông hành cấp phép đi từ bến Hàm Tử Chợ lớn đến Vũng Tầu để nhận hàng về, qua trạm kiểm soát tôi phải nhẩy lên bờ trình giấy, xòe điếu thuốc Vàm Cỏ ra mời. Đường đi nước bước trên sông ngòi, tôi hoàn toàn mù tịt, chỉ lẳng lặng nghe theo lời ông Nhất, cũng chẳng hề nghi ngờ ông ta có biết đường hay không? dường như cũng có lần lạc lối vì thấy ông ta hỏi vọng qua những thuyền khác dọ hướng đi, điểm đến ở đâu đó bên cửa Thuận An !! tất cả hải bàn, hải đồ, thuốc men, thực phẩm đều giao cho người điều động đánh bãi và taxi, họ sẽ giao lại ở bãi chính, chúng tôi không được mang theo, sợ lộ.

Thuyền chạy qua bao làng xóm, tỉnh lỵ bên sông nước, những vẻ đẹp thật thơ mộng của sông rạch miền Nam tôi chưa hề được chiêm ngưỡng, những cành lá của cây dừa nước xỏa ra bên bờ lạch cùng những mái nhà tranh thấp thoáng sau vườn cây thưa nắng, yên bình như trong hình vẽ, ngồi trước mũi thuyền thở mùi nước đục, hưởng làn gió mát và tiếng nước vỗ bên mạn thuyền, tôi quên rằng mình đang trên đường trốn chạy. Ánh mây chiều đỏ thẫm, từng vệt dài chen lẫn hàng mây xanh-vàng, những khối mây đen nổi rõ từng cuộn phía trước, hoà tan dần dần, nối đến mây xám trải dài sau lưng. Giữa dòng sông rộng lớn, sóng nhấp nhô dập mũi thuyền chồm lên chúi xuống, hai bên bờ sông lui dần ra xa và bóng tối phủ xuống không còn nhìn rõ những mái nhà thấp thoáng sau rặng tre bên bờ sông đất lở. Giữa sông có chòm cù lao khá lớn, thuyền chạy đến đó, tôi nhẩy lên bờ. Cù lao trống trơn không có ngọn cỏ, toàn cát-đá-sỏi trộn lẫn bùn đất, có những con Thòi Lòi nằm dương cặp mắt tròn lo như nai tơ nhìn chúng tôi dò hỏi?… Ông Nhất nói : “mình nấu cơm ăn đi” rồi tự tay cầm nồi múc nước sông vo gạo, lấy bình nước uống đổ vào, đặt nồi cơm trên bếp dầu sau thuyền, tôi lấy loong guigoz đựng thịt kho mặn bầy ra. Cơn gió thổi lồng lộng trong khung trời rộng, không ai nói nói lời nào, tôi nhìn ông Nhất ưu tư, da xạm nắng dáng khắc khổ, râu dài hơn tóc, và hàm răng đóng nhựa thuốc lào, tôi đoán ông khoảng 60 tuổi, nhưng thực ra tuổi của ông mới ngoài 50, sóng gió và biển cả đã làm ông già đi trước tuổi.

Ăn xong chúng tôi nhổ neo đi tiếp, trong bóng đêm của sông nước miền đất lạ, thật khó nhận diện cảnh vật phía trước, ông Nhất lái thuyền thì tôi đứng trước mũi dòm chừng chỉ lối, hoặc ngược lại, chiếc đèn pha trên mui không đủ chiếu ánh sáng xa hơn chục thước phía trước, càng làm tôi mỏi mắt hơn khi phải điều tiết trong bóng đêm, bực mình hơn thế nữa là những lưới đánh cá giăng qúa nhiều giữa sông, thường thì người ta cắm 2 chiếc đèn bão ở 2 đầu cọc lưới, đêm khuya có khi 1 đèn bị tắt không biết đâu là bên phải, đâu là trái, có khi thuyên trôi vào giữa đáy lưới, làm ông Nhất phải nhẩy xuống nước gỡ lưới quấn quanh chân vịt và cả bàn lái, cũng may đó chỉ là lưới cá nhỏ dễ gỡ, phải làm thật nhanh và chạy cho lẹ, kẻo chủ lưới bắt được không những đòi bồi thường mà còn bị lộ chuyện vượt biên thì thật tai họa.

Thuyền qua nhiều khu vực tỉnh lẻ, tôi không nhớ hết địa danh mà ông Nhất đã kể…, rồi thuyền đến bến Ninh Kiều Cần Thơ, ông Nhất nói nghỉ ở đây một chút rồi thuê ghe nhỏ vào chợ, quanh đây đầy thuyền to ghe nhỏ dọc ngang qua lại, hay im lìm neo trước bến. Trên bờ đèn đuốc sáng trưng, khói nấu-nướng tỏa mù mịt một góc. Chừng nửa giờ sau ông Nhất trở về với chai rượu trắng và gói giấy trong tay, tôi đoán là đồ nhậu ! Thì ra ông Nhất thèm rượu, nói đúng ra là nghiện rượu, có rượu là ông ta vui vẻ, khoẻ mạnh hơn, tiếc cho ông ta là tôi không biết uống để làm bạn tri kỷ với ông, tuy nhiên ông ta cũng huyên thuyên kể chuyện về gia đình của ông, cũng vì thế tôi biết được vợ con ông đều đang sống ở Mỹ, qua những đợt vượt biên trước đây họ đã chở thuê cho những người ra bãi rồi nhẩy theo luôn, ông ta thì bị bắt nhốt tù, nay mãn hạn trở về, đang tìm cơ hội để ra đi lần nữa.

Rời bến Ninh Kiều, thuyền chạy dọc qua nhiều lò gốm phía bên trái, từng đống chum lọ bằng đất sứ chồng chất lên nhau, chờ ngày đem bán, bên phải là bờ đất cao hơn cả 3-4 thước, phía trên là lò nấu đường, thơm mùi khét mía cháy, vị ngọt của mạch nha, lửa đốt trong lò rực sáng hun đúc chum đường sôi sục văng vãi lung tung, những đường rãnh nước chẩy bào mòn từ trên lò chẩy xuống bờ sông nhớp nháp, có đàn chuột cống nhẩy qua, chạy lại loanh quanh, tôi nghĩ, giá có con chuột nào vô phước rớt vào chum đường đang sôi kia, chắc cũng chẳng ai biết vì khói trong nồi bốc ra khá dầy đặc. Tới ranh giới tỉnh Sóc Trăng, tôi thấy đằng xa có ngôi nhà thờ sáng rực, nhiều quầy-quán và xe bán dạo bật đèn sáng đủ mầu, bóng người thấp thoáng đông đảo. Tôi nhẩy lên bờ nhắm hướng ánh sáng đi tới, đoán là buổi chợ đêm, định đến để tìm mua thêm gói thuốc lá dằn túi, đến nơi mới biết đó là một buổi lễ cầu nguyện của giáo dân trong vùng trong ngày cuối tuần, tiếng cầu kinh vang ra từ trong giáo đường hòa lẫn tiếng nhạc của xe bán nước ngọt, caphê, mực khô vang lên ngoài đường, âm vang vui nhộn. Tôi đảo mắt tìm xe thuốc lá, nhưng chợt đổi ý, không nên đến chỗ đó, mình dễ bị phát hiện là kẻ lạ mặt và chẳng may bị bắt thì thật đáng tiếc. Nghĩ thế, tôi quay lưng trở về thuyền.

Dường như có ánh trăng nửa đêm yếu ớt ẩn mình sau tầng mây cao, thuyền trôi đến một một vùng sông rộng lớn, những cành cây lưa thưa vươn trên mặt nước khẳng khiu đơn độc, những tàn cây này đã bị nước thủy triều dâng cao nên không thấy gốc, chốc nữa nó cũng sẽ bị ngập chìm toàn diện dưới mặt nước, quay nhìn lại phía sau, tôi chợt bắt gặp một vùng lân tinh tỏa ánh sáng lung linh, nhấp nhô ánh thép bạc lan tỏa khắp mặt nước như trăm ngàn ngọn đèn lấp lánh từ đáy nước hắt lên, và từ trên cao rơi xuống, những cuộn hơi sương đục như khói trắng bốc lên, tan loãng trên mặt nước trông tựa như một giòng nước nóng đang bốc hơi giải nhiệt êm đềm, thật ngoạn mục và kỳ quái, một cảnh thần tiên tôi chưa hề thấy, lạ lùng và huyền bí như truyện thần thoại, tôi muốn vốc những ánh lân tinh mầu trắng-xanh lấp lánh trong suốt đó trong lòng tay, hay thử đập vỡ nó ra xem có gì lạ? lòng vui và kinh ngạc trộn lẫn chút lo lắng không tên, …
Trong khoang ông Nhất ngồi ngủ gục sau những ngụm rượu khề khà, tôi nghe hình như có tiếng nước chẩy lao xao phía trước, qua khung cửa kính phòng lái, tôi nhìn thấy cảnh vật mờ mờ ảo ảo phía trước, bật đèn pha trên mui ra xem, thì hỡi ôi ! cách mũi thuyền dăm bẩy thước là một đáy lưới cá khổng lồ giăng ngang bằng một dây cáp sắt cao hơn mũi thuyền, nước đổ vào đáy ào ào tạo thành một phễu nước xoáy từ miệng sông rộng gom vào túi đáy thu nhỏ phía sau, 2 đầu giây cáp được quấn chặt vào 2 cột trụ gỗ đóng sâu xuống lòng sông to bằng tay người ôm.

Tôi không còn đủ thời giờ để hét lên nữa, tay giật mạnh cần số về phía sau, bánh đưôi tôm quay ngược, con tầu rung chuyển bần bật trong tiếng rú của máy de lui mệt nhọc khó khăn, tuy đã rú ga lui hết cỡ về sau, nhưng con tầu vẫn từ từ trôi vào miệng đáy, không còn thời giờ để suy tính chọn lựa tìm cách thoát hiểm, chỉ còn phản xạ tự nhiên, thực hiện ngay những gì lý trí bảo mình làm.

Nếu tầu bị hút vào đáy, nước sẽ nhận chìm con tầu xuống nước như những chiếc lá trôi sông, như những con cá vào đáy không đủ sức vẫy vùng bơi ngược dòng trở lại, huống chi tôi lại chẳng biết bơi, và cái lưới to lớn kia sẽ cuốn hút xoay vòng trói chặt con mồi hết lối thoát.

Thấy de lui không có kết qủa và sự nguy hiểm đang cận kề, tôi gạt cần số tới, rú ga và bẻ hết cỡ về bên phải, con tầu rướn lên trôi ngang trên mặt nước cuồn cuộn, đâm xầm vào đầu cột đáy giữa sông rồi trượt qua bên kia, cái cột to bị đổ nghiêng qua một bên, và may thay con tầu đã lướt qua được phía ngoài của miệng đáy trôi tuột ra xa….. tôi nhủ thầm cám ơn Trời Phật đã độ lượng, tiếng ông Nhất vọng ra : – Chuyện gì đó ?…

Bấy giờ tôi mới nhớ có ông Nhất ngủ trong khoang.

Một giờ sau, thuyền đến một bến nước có nhiều căn nhà dựng tuốt ngoài sông, thủy triều xuống để trơ ra những cột nhà khẳng khiu mỏng manh được đóng xuống lòng sông cao lêu khêu, nhà nhà đều tối thui, ông Nhất ghé vô một căn nhà còn ánh sáng hắt ra, gọi lớn :
– Còn đồ ăn không ? ông chủ ơi ! rồi quay lại bảo tôi : – Đây là quán ăn .

Quả đúng như vậy, nhà có một cầu thang phía sau thòng xuống nước để đón khách thuyền đò ghé qua, chúng tôi leo lên, căn nhà vắng hoe…, chợt có một bà khoảng 50 tuổi bước ra hỏi :

– Cần chi ông? đồ ăn hết mất rồi…
Ông Nhất đòi hỏi :
– Có cái gì ăn cũng được !! Tô cháo gà đi ! được mà..
– !!!!… Nhà chỉ còn con gà, nhưng còn nhỏ xíu xìu hà.
– Được rồi, được !!!

Bất đắc dĩ bà chủ bắt gà làm thịt nấu cháo cho chúng tôi không một tiếng thở than, chắc cảnh này vẫn thường xẩy ra.. Tôi ngồi im chờ đợi, nhìn ra mặt sông tối đen, lo lắng, mệt mỏi, nhiều suy nghĩ đổ ra rối tung, tôi cũng chẳng biết còn bao lâu nữa thì đến điểm hẹn, đi cũng đã gần 2 ngày rồi còn gì ?. Tránh các trạm kiểm soát làm việc ban ngày và tránh để người dân nhận diện thuyền lạ, chúng tôi phải chọn đi ban đêm, ít phiền nhiễu, nhưng không ngờ lại gặp những khó khăn khác.

Ăn xong trả tiền, chúng tôi cho thuyền qua phía bên kia, sau một dẫy nhà dựng trên mặt nước neo ở đấy ngủ. Sáng hôm sau bị đánh thức bởi tiếng máy đuôi tôm gào lớn và sóng nước cuộn tới, nâng thuyền tôi lên xuống lắc lư, sóng đánh vào mạn thuyền bồm bộp, mở mắt nhìn theo thấy đó là 1 chiếc ghe tam bản dài khoảng 5-6 mét, phía sau gắn một máy đuôi tôm cần trục dài thoòng chĩa xuống nước quậy sóng, người thanh niên trẻ tuổi háo động, rồ máy ghe lượn qua lượn lại, phóng hết ga biểu diễn, khiến các ghe buôn bán hàng hóa trên mặt sông la ó bất bình. Chúng tôi ở đó nguyên ngày, chờ đến chiều tối lại nổ máy đi tiếp…

Cuối cùng cũng đã đến điểm hẹn, đợi ở đó suốt từ sáng đến chiều mới thấy một chiếc ghe nhỏ từ đâu chèo đến, một người thò đầu vào thuyền nhìn tôi cười cười hất hàm hỏi :

-Tới lâu chưa ? mệt không ?. Rồi quay qua nói với ông Nhất :- Lui thuyền lại chỗ trống kia đi bác Hai ?

Chẳng cần nghe tôi trả lời, và cũng chẳng cần biết họ có quen tôi hay không? đoán chắc chỉ là người trong ” bãi đánh ” nên ông Nhất thản nhiên nổ máy làm theo lời họ. Một lúc sau, cũng chiếc ghe đó chạy xát vào thuyền tôi và quăng qua cửa sổ một chùm bánh nếp nhân đậu đỏ, gói bằng lá dừa mầu vàng trông giống như bánh ú nho nhỏ, khoảng 50-70 cái cột với nhau thành 1 chùm, nói với theo :

– Đồ ăn đó !

Mừng qúa, buồn ngủ gặp chiếu manh, họ thật tử tế và chu đáo đã cho tôi thức ăn lót bụng, bèn mở một cái ra ăn thử. Có biết đâu rằng đó là phần thực phẩm dành của 50 người vượt biên trong bao nhiêu ngày lênh đênh trên biển đấy?… Lúc sau lại có 1 ghe khác cặp vào bên hông, một người đàn ông chui vô khoang máy nói :

– Trước khi ra biển, phải kiểm tra máy móc lần chót cho an toàn ! nhé ?

Rồi ông ta mở nắp máy xem xét, chỉnh qua chỉnh lại, vặn tới vặn lui 4 cái “Béc dầu” xong nhẩy ra ngoài biến mất. Còn người thợ máy chính thức theo chúng tôi trên đường vượt biển, sẽ đến chung với nhóm người bằng ” ghe taxi ” tối nay.

Ánh mặt trời dần tắt, tôi bồn chồn chờ đợi, thỉnh thoảng lại ghé mắt bên cửa sổ nhỏ nhìn ra ngoài, ông Nhất cũng thế ! chẳng ai muốn nói năng lời nào, và chẳng ai nghĩ đến chuyện cần phải nấu cơm ăn tối cả. Nhìn lại bao quát căn buồng máy, tất cả đã gọn gàng ngăn nắp, sàn ngồi trong khoang lót ván là chỗ ngủ của tôi bấy lâu nay có thể chứa được 35 người ngồi bó gối, phía sau buồng lái chứa khoảng 15 người, số còn lại ở trên mui, cái máy thuyền to qúa, nằm giữa khoang với cái ” bánh trớn ” to chả khác gì của “xe ủi lô”, thấy phát khiếp không ai dám ngồi gần, thùng nước bằng thiếc to thiết kế theo dạng mũi thuyền chứa được 800 lít nước và phía sau đuôi thuyền cũng có 1 thùng thiếc phía dưới chứa 800 lít dầu gasoil, thêm 4 kan lẻ để phía trên và 4 kan nhớt máy nữa. Tất cả do ông chủ nhà, nơi neo thuyền ở bến Hàm Tử lo đầy đủ và giao cho chúng tôi lúc ra đi, 2 cái “béc ” phun dầu dự phòng để trong hộc khoang phía trước cùng với sợi dây cu roa máy bơm nước, bên hông trên cao mới gắn thêm 1 máy bơm nước bằng tay, phòng trường hợp máy bơm máy không làm việc, một trục máy dài 2 mét gắn sẵn chân vịt mới dự trữ, đây là kinh nghiệm học được ở những người đi trước thưòng gặp phải trục trặc.

Chợt có tiếng người nhẩy lên thuyền làm tôi điếng người, một người đàn ông cúi mình thò đầu vào khoang nhìn dáo giác một lượt rồi hỏi :

– Xong rồi chứ ? đánh nhe, mọi người tới rồi.

Tôi chỉ kịp trả lời :- Dà. thì ông ta đã quay gót nhẩy lên bờ, lát sau thì nhiều tiếng động trước mũi thuyền, làm chiếc thuyền chao đảo không ngừng, gìa trẻ trai gái, lần lượt chui nhanh vào khoang, chỉ có tiếng xì xào to nhỏ và tiếng lục cục của chân dẫm lên bục gỗ. Em Nguyễn Hữu Chí trao cho tôi gói giấy, phía ngoài bọc bao nylon, trong đó có cái hải bàn, và tấm hải đồ mà tôi đã khó khăn dò la để mua được. Ông Nhất nói với Chí quay giúp bánh trớn, cái máy ho lên xằng xặc nổ được chốc lát rồi từ từ tắt ngấm, lại quay – rồi lại tắt. Ông Nhất bực dọc : – Thợ máy đâu rồi hè ?. Một người lên tiếng :- Tôi đây, rồi thoăn thoắt chen qua đám người ngồi chật ních đến bên máy tầu kiểm soát, tôi cũng chui đầu vào nhìn, thấy nhớt trong máy phun ra phè phè mỗi khi máy nổ, anh ta lẩm bẩm gì đó với nắp máy đã dược tháo ra, tôi hỏi :

– Có cần gì không anh ? sao vậy ?

Anh ta trả lời :
– Không sao, chạy được, nhưng uống nhớt hơi nhiều, ai căn máy gì kỳ qúa dzậy? để coi lại coi !!!

Anh ta vặn vặn xoay xoay một chặp thì máy cũng nổ được đều đặn trở lại, và chiếc thuyền rời bến nhắm thẳng cửa biển tiến tới, mọi người ngồi im lặng trong bóng tối nén tiếng thở mạnh, thế nhưng cái máy tầu cứ ho lên còng cọc vang lên và ống nước giải nhiệt trong máy thải ra ngoài phun lên phè phè. Cái khoang bé xíu vậy mà có thể chứa được hầu hết tất cả mọi người trong đó, khi nghe ông Nhất nói tôi mới để ý : – Ráng chịu khó ở trỏng một lát đi bà con, ra khỏi cửa biển là xong rồi.
Thuyền chạy được một lúc thì đến cửa biển, nước trong thuyền dâng cao ướt chỗ ngồi, ông Nhất mở máy bơm cho nước ra ngoài, sóng cuộn có phần mạnh hơn, trước mặt là biển nước mênh mông, ánh nước nhấp nhô trong bóng đen rờn rợn, tôi quay lại nhìn phía sau, không còn thấy nhánh sông vừa đi ra là ở chỗ nào nữa, chỉ thấy lờ mờ những hàng cây, bờ đất ẩn hiện thành một hàng ngang, trên cao là cột hải đăng sừng sững đang thè lưỡi liếm bóng đêm từng vòng.

Thuyền kéo ga hết cỡ đi về phía trước, tôi mừng thầm : “Chạy nhanh như vậy sẽ mau đến hải phận, giờ này nếu bị phát hiện họ đuổi theo cũng không kịp”. Nhưng mỗi khi nhìn lại ngọn đèn hải đăng, thì vẫn thấy nó nằm đó, vẫn thấy rõ mồn một chẳng cách xa được là bao nhiêu. Tôi lần mò mở bao giấy lấy hải bàn ra xem, giờ phải dùng đến nó để định hướng đi, tôi xực nhớ đến những vật dụng cần thiết khác, bèn hỏi lớn :

– Ai cầm gói thuốc tây ??… Có ai thấy cái buồm không ??… Ai giữ phao, mấy cái ruột xe hơi đó ??…

Không có tiếng trả lời, đáng nhẽ ra tôi phải nhớ hỏi ngay từ lúc mọi người lên thuyền chứ ? nhiều việc chi phối trong đầu, khiến tôi không thể nhớ được mọi thứ. Tôi hỏi lại lần nữa, hỡi ôi ! vẫn không có ai trả lời, tôi thất vọng, bực bội và nổi giận. Bịch thuốc Tây gồm thuốc tiêu chẩy, thuốc say sóng, dầu nóng, thuốc nhức đầu, những cuộn băng vết thương v.v.. tất cả tôi đã mua được của anh Trần Đại Lộc, gần chợ An Đông. Cũng không thấy 4 cái ruột bánh xe vận tải được cắt đôi ra thành 8 khúc, ép kín và bắt khoen 2 đầu, dùng để gắn 2 bên sườn thuyền thay thế phao nổi cho thuyền cân bằng, tôi đã phải khó khăn để thuê làm cho thật tốt và kín đáo với giá không rẻ, thuê xe Ba Gác chở từ Hàng Xanh về Bến Hàm Tử thật không dễ tránh né Công An kiểm soát. Còn cái buồm nữa :- Trời ơi ! cái buồm đâu rồi ?. Cái buồm được cắt ra từ một cái dù mầu trắng của lính nhẩy dù còn cả dây dù mới tinh, anh Thảo đã nhờ người nhà ngồi may suốt buổi tối. Tội nghiệp cái cột buồm còn nằm trơ kia, tôi đã phải đợi đến bến Ninh Kiều Cần Thơ mới mua được một thân cây gỗ dài 6 mét, đục đẽo làm chốt gắn sau buồng lái, để phòng khi ra khơi cần đến sẽ dựng lên. Tất cả mọi vật, anh Bang đã trao cho ông Đông ” chủ bãi ” để đem ra đây cùng với mọi người trong ngày hôm nay, tất cả đều không thấy đâu? Vì cuộc sống khó khăn, hay vì lương tâm bất nhẫn, lòng tham đã khiến người ta giữ những vật ” vô giá ” đó của chúng tôi làm của riêng, mà không cần màng đến tính mạng và thân phận của những người đang đi vào cõi tử sinh, “một đi không trở lại”, và họ nghĩ rằng, sẽ không còn gặp lại chúng tôi nữa. “Bần cùng sinh đạo tặc”, buồn cho ” thế thái nhân tình” trong cuộc sống khó khăn của xã hội mới, đã tạo cho họ những tư tưởng và hành động bất nhân như thế. Có tiếng ai la lớn trong khoang:

– Sao nước vô nhiều qúa vậy ? mở máy bơm lên.

Có tiếng ông Nhất vang lên :

– Mở rồi, chở ” khẳm ” nước dô chút đỉnh mà, lo chi.
Tiếng máy vẫn nổ cọc cọc vang động dòn tan, đẩy chiêc thuyền đi tới, trong bóng đêm mênh mông, mặt nước tương đối bình lặng, biển nước bao la không có một điểm mốc nên thấy như nó vẫn đứng nguyên một chỗ, trong khoang lặng im trong sự căng thẳng hồi hộp, tôi lo lắng nhìn về phía bờ xa sau lưng, ngọn hải đăng vẫn còn đấy, – Trời ơi, đi lâu qúa rồi mà vẫn chưa khuất ngọn hải đăng, điệu này, chắc họ nhìn thấy mình qúa. Tôi nhủ thầm, bỗng nghe ” Xầm ” một cái, chiếc thuyền nghiêng về một bên, bất động, ông Nhất la lên :

– Mắc cồn rồi !!!

Tiếng máy rú lên, hạ xuống, rồi lại rú lên, chiếc thuyền không nhúc nhích, ông Nhất nói lớn.

– Bà con làm ơn xuống bớt đi, bị mắc cạn rồi, xuống cho nhẹ bớt… xuống đẩy phụ thuyền lui lại một chút, mấy người to con đó, xuống đi, lẹ lẹ một chút đi, làm ơn mà !!!

Chẳng một ai dám xuống cả, giữa đêm đen bảo nhẩy xuống giữa biển mênh mông, làm sao có đủ can đảm. Tôi lại không biết bơi, không dám nhẩy xuống nước, thì làm sao dám hô hào kêu gọi mọi người, đang bận rộn tìm phương cách gỉải cứu chiếc thuyền ra khỏi chỗ này, nên không có hề ý tưởng thất vọng bi quan gì cả. Tiếng ông Nhất lại la lên :

– Bà con giúp một tay đi chớ, tụi nó ra bắt cả lũ bây giờ, lẹ lên.

Vài người thanh niên làu bàu văng tục nhẩy xuống nước, chắc họ không biết bơi, có người leo qua mạn thuyền trượt xuống nước, tôi hỏi :

– Nước có sâu không vậy ?
– Tới đây nè !

Người thanh niên khoác tay, quơ ngang cần cổ, tôi lần theo mạn thuyền cũng trèo xuống, thuyền chạy trên một bãi cồn cát ngay giữa cửa biển trong khi mực nước xuống thấp và chiếc thuyền chở nặng với sức trớn phóng nhanh đã đâm sâu vào giữa vùng cát nên bị mắc cạn, chúng tôi hè nhau đẩy tới, đẩy lui, tiếng máy rú lên, nhưng chiếc thuyền chỉ lắc qua lắc lại.

– Xuống hết đi bà con, nặng qúa, giúp một tay đi bà con ơi !!!

Thêm được một vài người nữa nhẩy xuống, người đẩy, người dùng chân moi cát, người lắc, làm được chuyện gì thì cứ làm. Khoảng 15 phút sau chiếc thuyền không còn nhúc nhích được nữa, nó lệch nghiêng qua một bên, lặng im như đài tưởng niệm được xây cứng bằng xi măng, mức nước xuống tới ngực, tiếng máy thuyền chậm dần hậm hực rồi tắt lịm. Tôi hỏi như một phản xạ :
– Sao vậy ?
Ông Nhất nói :
– Chạy gì nổi, chờ nước lên rồi đẩy ra chạy tiếp.

Niềm lo lắng và thất vọng bao trùm lên mọi người, tiếng lẩm bẩm, tiếng chửi, tiếng than và tiếng cầu kinh nổi rân rang trên thuyền. Mọi người đều chờ đợi, đợi con nước mau mau về tới, đợi tầu tuần tra ra cứu? hay họ ra bắt? sao cũng được, không thể làm khác hơn được, niềm lo lắng và thất vọng kéo dài từng giây phút khiến sự chấp nhận số phận đã an bài. Tôi miên man nghĩ đến những sự việc đen tối sẽ sẩy ra, tương lai rồi sẽ ra sao ? Ở nhà chắc đang mừng rỡ khi nghe ông Đông về báo tin tất cả đã ra cửa biển an toàn, hay đã được tầu buôn ngoại quốc vớt lên rồi. Bầu trời vẫn tối đen, có một chút mờ ảo của ánh trăng đã bị mây mù và hơi nước của biển che lấp không nhìn rõ những sự vật xung quanh, bộ quần áo trên người ướt sũng nhưng không thấy lạnh , vì nhiệt độ nóng bức hay bởi sự chán nản khiến chẳng ai quan tâm ? Lậy trời đừng để tôi bị bắt, nếu bị vào tù chắc chắn vợ và con tôi khổ lắm, họ đang lao đao sống ẩn núp mọi nơi, việc học của các con bị gián đoạn,

Ồ mà không sao, đâu cần đến trường học những thứ đó, ráng chịu khó một thời gian rồi sẽ được học những điều giá trị hơn, sống một cuộc sống đúng nghĩa hơn. Tội nghiệp vợ tôi phải vất vả với các con nơi vùng đất xa lạ với miếng cơm giấc ngủ hằng ngày, những người thân thích nay đã không còn ở đó nữa, họ đã đi vùng kinh tế mới, vượt biên hay trong lao tù cả rồi, bằng hữu thì phần lớn đã ra nước ngoài, phần còn lại cũng lao đao vất vả không kém gì mình, chắc rồi lại phải dắt díu nhau trở về nhà mà thôi, nơi còn có cha mẹ anh em đang hy vọng cầu mong con mình đã tìm được một chỗ an thân, trở về với đắng cay, về với khổ nhục lưu đầy, về bên những con người cùng mầu da, cùng tiếng nói nhưng luôn tìm cách đầy đọa trấn áp nhau, có còn lối nào thoát thân nữa không? Nếu như giờ này vợ con tôi cũng có mặt trên chiếc thuyền này thì sẽ ra sao ? cả nhà sẽ vào chung trong một nhà tù? lại càng đau lòng và ân hận hơn.

Tôi thở một hơi dài an ủi may chỉ có 1 mình, định mệnh đã xếp đặt tôi không thể tham lam, không thể thất hứa những hẹn ước mà ngay ban đầu đã dành cho nhau, cả nhà đều đặt ưu tiên cho tôi lên hàng đầu, phải bằng mọi cách vượt thoát càng nhanh càng tốt, phần còn lại sẽ giải quyết sau, hoàn cảnh chỉ có thế !!!

Ngồi chờ con nước lên, chờ niềm hy vọng và hạnh phúc mong manh sẽ tới. Có tiếng nước vỗ vào mạn thuyền, lúc đầu nhè nhẹ rồi mạnh dần, ông Nhất gọi lớn :

– Bà con phụ đẩy thuyền một chút đi, nước lên rồi.

Rồi kêu người quay bánh trớn cho nổ máy, vài người thanh niên nhẩy xuống, đẩy qua đẩy lại, chiếc thuyền nhúc nhích có vẻ nhẹ hơn đêm qua, rồi bất chợt chiếc ghe bật qua nằm thẳng, mấy người thanh niên vội leo nhanh lên thuyền khi nghe tiếng máy rú lên, chiếc thuyền lúc lắc vài cái và trôi tuột ra phía sau, mọi người vui mừng reo lên chuyện trò nhốn nháo, ông Nhất quay mũi thuyền tránh bãi cồn và tống ga nhắm hướng chân trời phóng tới…, phía xa trước mặt một vẫng sáng mờ lạt đang tỏ dần, báo hiệu bình minh sắp ló dạng, cái lưỡi ánh sáng của ngọn hải đăng vẫn gắng gượng quét trên đầu chúng tôi, và thật hân hoan, tôi ưỡn ngực hít sâu một luồng gió mát đầy phổi, thật sảng khóai, nhẹ nhõm…

Đợt thủy triều kéo về đất liền, tạo thành những lằn nước cuộn tròn lăn về phía chúng tôi, thuyền bơi theo dòng ngược ra khơi như những con cá hồi vượt dòng thác trở về nơi ra đời, chống chỏi mệt mỏi, mỗi lần thuyền cưỡi lên lằn sóng rướn mình qua bên kia, nó dập mũi xuống múc lên một mẻ đầy nước biển, cũng may, mặt boong thuyền đã được đóng kín và cửa vào khoang thuyền cũng có bệ cao ngăn chặn nước tràn vào. Bầu trời mỗi lúc một tỏ hơn, tôi đứng trước cửa khoang, nhìn ra ngoài mặt biển, chung quanh vẫn chỉ một mầu nước thâm đen, không một bóng thuyền nào khác ngoài tiếng động cơ máy nổ rầm rộ và tiếng ói mửa bên trong lại vang lên. Đây là lần đầu tiên tôi được đi trong một chiếc thuyền nhỏ trên biển, tận hưởng những lằn sóng ngoạn mục nhào lên lặn xuống, vậy mà tôi lại không bị say sóng không một mảy may khó chịu, ngược lại, còn có phần thích thú là đằng khác, không hề nghĩ rằng sự nguy hiểm có thể xuất hiện bất cứ lúc nào.

Niềm lo lắng đêm qua vừa tan biến, niềm vui mới chưa ngập lòng thì bỗng :

– Sao nước vô nhiều vậy nè bà con ơi, tát nước, tát nước, lẹ lên, lẹ lên.

Nhiều tiếng hốt hoảng la lên, tôi hoảng hồn nhìn vào khoang thuyền, nuớc ngập làm ướt chỗ ngồi, nhìn qua bệ gắn máy tầu, phía dưới nước dâng ngang lườn máy, chiếc motor bơm nước cũng nằm phía dưới đó, người ta nhốn nháo la ó loạn xạ :

– Tát nước, mở máy bơm nước !! bể thuyền rồi, máy bơm không chạy !!
– Máy đang bơm mà ? bơm tay nữa đi, cái bơm gắn trên tường kia kìa…

Cái máy bơm bằng điện chắc bi hư rồi, nên không làm việc được, vài người thay nhau đẩy cần bơm tay qua lại, nước phun ra ngoài, nhưng được một lúc thì ai cũng nản vì mệt mỏi, chiếc thuyền chở nặng chìm xuống mặt nước sâu hơn, và mỗI lần cưỡi sóng ngoi lên, là một lần múc đầy nước trên mui thuyền, chả khác gì con cá voi mỗi lần trồi lên là phun nước phè phè ra ngoài, đồ ói mửa như mật xanh mật vàng, lênh láng bồng bềnh trong khoang thuyền bám vào quần áo mọi người đang ngồi thu gối nước ngập ngang mông, mùi tanh hôi nồng nặc tỏa khắp căn phòng như cái hầm gỗ, mọi người cùng hít thở cái không khí vẩn đục đó, người không say sóng cũng bị ói mửa theo là vì vậy.
Bình thường nhìn qua khung cửa nhỏ trên vách thấy cảnh vật phía dưới thật xa, nhưng giờ thì thấy nước biển lấp ló phía ngoài, tựa hồ muốn trào vào trong, trong thuyền còn có một cái gầu múc nước, giờ chuyền nhau múc nước tạt ra ngoài cửa sổ, chị Nguyệt ngồi tựa lưng vào cửa sổ nhỏ bên trái, múc từng ca nước hắt ra ngoài, miệng túm tím như đang ăn trầu, khuôn mặt thản nhiên không vướng chút âu lo, bởi chị đã quen và từng sống trên sông nước lâu năm. Lê Văn Thành người có nước da ngâm đen ngồi sau lưng cửa khoang, nụ cười luôn nở trên môi, anh dùng một can nhựa 20 lít đã được cắt rộng miệng và cũng thản nhiên múc nước trong khoang đổ ra ngoài, anh nói nói cười cười kể chuyện luôn miệng nhưng tôi không nghe rõ được điều gì, một hình ảnh thể hiện tâm tánh của con người bình tĩnh, thản nhiên đối phó trước sự hiểm nguy trước mặt, thật dễ cảm mến, cũng kể từ lúc đó tôi quen biết anh.
Không ai biết được nước từ đâu vào, mọi người lần mò tìm kiếm khe hở trong lòng thuyền, từ chỗ những mảnh ván ghép vào nhau được trét kín bằng giây gai trộn Chai keo, cho đến những lỗ bắt đinh ốc dưới đáy thuyền, cũng không thấy mạch nước phun lên, lạ qúa ? chắc chắn phải có chứ !! vì tát hoài mà nước mỗi lúc một nhiều hơn. Có người đề nghị :

– Vứt đồ không cần thiết cho nhẹ bớt đi.
– Vứt bớt mấy can dầu dư kia đi.

Thật là điên, vứt dầu đi thì làm sao vượt biển được nữa, nhưng đã qúa trễ, người ta quăng tất cả những gì có thể quăng được xuống biển khi vừa nghe xong lời đề nghị. Như một quyết định có sẵn, như một mệnh lệnh vừa được ban ra, kể cả mấy can dầu lẻ nằm ngang phía sau mạn thuyền, không ai kịp ngăn cản cũng đã bồng bềnh nhấp nhô trên sóng nước trôi xa.

Một người lớn tuổi ôn tồn nói :
– Bà con thấy rồi đấy, máy bơm hư rồi và nước vô nhiều qúa, nếu tiếp tục đi nữa chắc chìm thuyền luôn không ai có sức tát nổi, mấy can dầu cũng bị vứt xuống biển rồi, làm sao đi tới nơi, bà con muốn tiếp tục đi nữa hay quay về ?
Nghe tới đây nhiều người la lên :
– Thôi dzề đi bà con ơi !!!

Tiếng la ó, tiếng chửi thề, tiếng than khóc vang lên, nhưng mọi người dường như hài lòng với đề nghị này, họ đã nhận thấy sự nguy hiểm đang đến gần, việc quay trở lại bây giờ là đúng lúc, vì thuyền không ở xa bờ là bao nhiêu. Trong trường hợp này bắt buộc ông Nhất phải chấp nhận, quay tay lái đánh một vòng ngược lại. Tôi buồn rầu cúi mặt nghĩ đến chặng đường gian nan sắp tới mà lòng đầy thất vọng, mắt chằm chằm nhìn đôi bàn tay của anh Thành vẫn nhịp nhàng múc nước trong khoang đổ ra ngoài, như một lời cảnh báo, cùng là một lời vỗ về an ủi. Thuyền nhắm thẳng ngọn hải đăng trở về, ánh vừng hồng ngại ngùng tỏa sáng sau lưng…

Cửa Thạnh An, nơi khởi hành đêm qua, giờ chẳng biết đâu nữa, từ xa nhìn vào chỉ thấy một bờ giống nhau, cứ chạy thẳng vào đấy rồi tìm nhánh sông chui vào, thâp thoáng 2 bên có bóng thuyền chạy ra biển, chắc tầu đánh cá, chẳng ai để ý đến chúng tôi cả, và cũng không thấy bóng dáng tầu tuần duyên.

Thấy được nhánh sông, ông Nhất tiến sâu vào đấy, chạy được một lúc, có một bờ đất rộng nhiều cây lớn mọc, phía xa có bóng nhà dân, ông Nhất cho thuyền ghé xát vào bờ rồi la to :
– Chạy đi bà con, chạy lẹ đi kẻo bị bắt đó.

Thế là mọi người vội vã ùa nhau nhẩy lên bờ, tiếng la của trẻ con, tiếng khóc của phụ nữ, tiếng than của đàn ông tạo thành một âm thanh ồn ào hỗn độn, mọi người tủa ra mọi phía, mạnh ai người đó chạy. Ông Nhất nhìn tôi ngầm hỏi ý, rồi quay lưng định nhẩy luôn lên bờ, tôi gọi dật lại :

– Bác Nhất ! đừng đi bác ơi ! ai lái thuyền về bây giờ đây ?
– Đem thuyền về bây giờ là bị bắt cho coi, thua rồi thì bỏ tiếc chi nữa, anh cũng chạy mau đi ?
– Bác làm ơn giúp một phen cho chót đi, lên bờ chưa chắc là thoát, tôi còn giữ giấy tờ ghe chở hàng, ráng chạy về đi, bỏ mất lấy gì đi được nữa.

Tôi năn nỉ một tràng, vừa nghe, ông Nhất vừa khom mình luồn vô buồng lái, mở máy chạy tiếp. Coi vậy mới biết ông ta là người tốt, không có ý phản bội, cũng còn có trách nhiệm và giữ lời hứa, hay tại ông ta không còn lối nào thoát, trên ghe vẫn an toàn hơn trên đất chứ ?, kinh nghiệm lần trước cho ông thấy lớ ngớ trên đất lạ, bị phát hiện vượt biên là bị bắt ngay, phải có vài chỉ vàng trong túi để hối lộ chính quyền địa phương kịp thời.

Mọi dấu tích của sự vượt biên phải được phi tang lập tức, tôi chui vào khoang thuyền kiểm soát, một cảnh hỗn độn bừa bãi bầy ra trước mắt như một bãi rác sau cuộc ăn chơi vui thú, nào giấy báo gói xôi, nào lá chuối lá dừa gói bánh, nào bao nylon gói rác, gói đồ ói mửa, quần áo dơ bẩn bám đầy dầu mỡ, dây dợ, chai lọ…tất cả lềnh bềnh dạt qua dạt lại trong khoang thuyền, mùi tanh hôi của nôn mửa vẫn còn đó làm tôi lợm giọng, khó thở. Dang rộng tay, tôi vội vã gom tất cả những thứ đó quăng nhanh ra sông, phải làm sạch sẽ càng nhanh càng tốt, thời gian thật cần thiết, lật mấy tấm ván lên để kiểm soát phần phía dưới, ở đó cũng bừa bãi chẳng khác gì phía trên. Trời ơi ! quần áo dầy dép bao bì rác rưới ở đâu mà nhiều thế ?

Ngồi chật ních bó gối một chỗ trong khoang, cho nên những thứ gì không cần dùng nữa, tiện nhất là nhét xuống phía dưới, nhét vô kẽ thuyền, hoặc chỗ dựa lưng là xong. Đầu ống tube của máy bơm nước được bao chung quanh bằng một tấm lưới sắt dùng để ngăn lọc đất cát hay rác vụn, giờ bị bít kín bởi giấy báo và bao nylon, thảm nào máy không thể bơm nước ra ngoài, may quá bơm chưa bị hư, tôi gỡ bỏ tất cả những rác bẩn đó và nước dược bơm ra ào ào ngay lập tức, chốc lát sau, trong khoang cạn khô và chẳng tìm đâu ra một chỗ hở hay vết nứt khiến nước ngập tràn như thế, tôi nói với ông Nhất :

– Kỳ qúa, không biết nước vô chỗ nào ? bây giờ thì chẳng còn giọt nước nào cả !!!

Sau này, khi nâng tầu lên bờ sửa chữa mới biết rằng, cái ống tube được gắn kín trong hầm phía sau, làm trục đõ cho cần lái thuyền qúa ngắn, bình thường thì không có chuyện gì xẩy ra, nhưng khi chở qúa nặng, thuyền chìm sâu xuống nước, sức đẩy của nước bị tống lên theo lõi ống tube phun vào trong, thuyền càng chạy nhanh, đuôi thuyền càng rị xuống thấp, sức ép của nước phun vào càng nhanh.

Thuyền đi lạc lối loanh quanh, xuyên qua nhiều lạch nhỏ, băng qua bao nhánh lớn, thỉnh thoảng gặp thuyền qua lại, ông Nhất hỏi thăm đường về SàiGòn, lần này thuyền chỉ đi vào ban ngày, ban đêm tìm chỗ neo thuyền ngủ lại, đường về ít bị để ý hơn lúc đi.

Thế nhưng vào một buổi chiều khoảng 4-5 giờ, trên một bờ đất lở, có một đám người đứng gìm súng hô gào, gọi vẫy chúng tôi cặp vào bờ. Cột thuyền vào hàng cọc đã neo sẵn vài chiếc thuyền nơi đó, tôi và ông Nhất cùng leo lên, họ hỏi thẻ Chứng Minh Nhân Dân cùng Giấy Thông Hành, họ chỉ chúng tôi ngồi chung với đám người đang ủ rũ trên cây gỗ mục nằm sát ven hàng rào, cạnh hàng cây bụi tre. Mọi người ngồi đấy đã hơn nửa tiếng đồng hồ mà chẳng nghe gọi đến tên, chẳng nghe chất vấn hay tra khảo chi cả, một nguời trong “trạm kiểm soát ” lững thững ra mé sông, nhẩy lên từng chiếc ghe – thuyền, nhìn ngó quanh quất, rồi lại trở lên.

Một ông lớn tuổi ngồi trong đám lên tiếng :

– Thôi ! góp chút đỉnh caphê thuốc lá cho nó đi, có tiền không ?

Thiệt chán qúa ! ” gia tài ” tôi chỉ còn độc nhất 20 đồng trong túi, còn phải mua đồ ăn dọc đường nữa chứ ! ông Nhất chỉ còn khoảng 15 đồng ( lương nhân viên lúc này khoảng 27 đông VN một tháng ), tôi trao 10 đồng cho người đàn ông đại diện cho cả nhóm, số còn lại dấu đi, ông Nhất cũng nộp 10 đồng, gom góp chẳng biết được bao nhiêu, chặp sau ông ta từ trong văn phòng ra nói :

– Chưa đủ, nộp thêm nữa, họ làm khó dễ qúa bà con.

Lại một vòng ” lạc quyên ” nữa, tôi đành móc hết cho xong, kẻo lỡ họ ra lục soát thấy còn dấu tiền thì…không biết nói sao đây ?

Gió chiều lồng lộng thổi, bầu trời ngả mầu xám xịt như cơn giông đang kéo đến, mặt sông gợn sóng bồng bềnh dập vào mạn thuyền, những chiếc thuyền nhẹ tâng lúc lắc, uốn éo theo làn sóng nước va dập vào nhau, gió cuộn hơi nước mát lạnh thổi ập đến chúng tôi, chưa lúc nào tôi thấy lạnh như lúc này, có lẽ vì đói, mệt và chán nản, chúng tôi phải ngồi chịu trận ở đó cả tiếng nữa, không biết lý do tại sao lại phải ngồi đây ? (cũng may là không có lý do ). Cuối cùng thì chúng tôi cũng nhận lại được giấy tờ, lục đục kéo nhau trở về thuyền. Hầu như tất cả những chiếc thuyền này đều đi chở thuê, nhưng hôm nay đều trống rỗng, không chở hàng hóa trên thuyền, cho nên bị ” phạt ” ngồi hơi lâu, bình thường nếu có hàng chuyên chở thì phải tự động vào nộp ” mãi lộ ” sẽ được đi ngay.

Đường trở về bao giờ cũng thấy ngắn hơn, tránh né tất cả những gì có thể đem lại phiền phức, lần mò hỏi thăm đường đi thường xuyên, nên chúng tôi đã về được bến Sài Gòn dễ dàng và nhanh hơn dự tính, nắp khoang thuyền cũng như mái che buồng lái, vẫn phủ mờ một lớp muối mỏng trắng xóa dưới ánh mặt trời, mặc dù thỉnh thoảng tôi đã phải múc nước sông lên dội cho muối trôi đi, cột ống khói và những đinh-ôc bằng kim loại, đều bị hoen rỉ đổ mầu vàng nâu vì muối ăn mòn. Đến bến Hàm Tử, chạy ngay về chỗ cũ, nơi ông chủ nhà đã giao kết chấp chứa cho neo thuyền sau nhà ông, đúng vào những ngày cuối năm, mọi người đang sửa soạn đón Tết Tân Dậu 1981. Chúng tôi cột thuyền xong, bước xuyên qua phòng khách băng ra đường, đón xe ôm về nhà, để lại sự kinh ngạc của ông chủ nhà, đang ngơ ngác nhìn chiếc thuyền còn phủ mờ một làn muối trắng, dấu tích của cuộc vượt biên thất bại vừa qua.

Và cũng kể từ hôm đó, tôi không còn dịp gặp lại ông Nhất nữa.

Nguyễn Quyết Thắng

Image may contain: ocean and water
Image may contain: ocean, water, outdoor and nature
 
 

Tuyên giáo Hà Nội và giọng điệu vừa ăn cướp vừa la làng

Tuyên giáo Hà Nội và giọng điệu vừa ăn cướp vừa la làng

CTV Danlambao – Đất của dân chúng vào cướp, dân bảo vệ đất sở hữu của mình thì chúng gọi là sự việc là “vụ gây rối“, “tình hình vi phạm pháp luật”. Đó là thái độ của Ban tuyên giáo Thành ủy Hà Nội với thông báo về việc nhà cầm quyền cướp đất của dân tại Đồng Tâm.

Nguyên văn từ báo lề đảng:

“Ban tuyên giáo Thành ủy Hà Nội phát đi thông tin chính thức về tình hình vi phạm pháp luật tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức… Cụ thể như sau: Trong thời gian gần đây, trên địa bàn xã Đồng Tâm (huyện Mỹ Đức) đã xảy ra tình trạng vi phạm trên đất quốc phòng.”

Ai mới thật sự là những kẻ vi phạm? Cũng từ báo Tuổi Trẻ:

“Mặc dù các cơ quan chức năng của TP đã áp dụng nhiều biện pháp như tuyên truyền, vận động, thuyết phục, đối thoại, trả lời và giải quyết nhiều kiến nghị của người dân, nhưng tình hình ngày càng trở nên nghiêm trọng.”

Nếu đọc kỹ câu trên chúng ta sẽ thấy rõ ai là kẻ cướp đất. Nếu người dân tự dưng xông vào cướp đất của Bộ Quốc phòng thì nhà cầm quyền chắc chắc sẽ bắt giam từ lâu. Chỉ khi nào nhà cầm quyền cướp đất của dân, dân không đồng ý nên mới có chuyện “tuyên truyền, vận động, thuyết phục, đối thoại, trả lời và giải quyết nhiều kiến nghị của người dân”.

Do đó, rõ ràng là nhà cầm quyền đã muốn chiếm đoạt đất đai, thương lượng để lấy trắng đất của dân không được nên mới xông vào cướp. Vậy thì ai mới là những kẻ “gây rối”, là những kẻ đã “vi phạm pháp luật”?

Thế nhưng, chính những tên tội phạm vi phạm pháp luật này đã dùng quyền hạn có được từ ngày cướp chính quyền để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với người dân về hành vi “gây rối trật tự công cộng”

Theo đám tuyên láo Hà Nội thì người dân đã không hiểu biết pháp luật nên đã có hành vi cản trở và bắt giữ những kẻ đã… xông vào cướp đất của dân.

Tuyên láo còn đưa ra giọng điệu quen thuộc là người dân “không để các đối tượng xấu lợi dụng, kích động dẫn đến vi phạm pháp luật”!

Những kẻ kích động làm cho người dân nổi giận và đứng lên phản kháng không ai khác hơn chính là những kẻ muốn cướp đất của dân! Cần gì phải có ai kích động mới có thái độ khi đất của mình bị cướp.

Tóm lại, dưới sự cai trị của đảng, mọi hành động bảo vệ đất đai của người dân đều bị xem là vi phạm luật pháp, gây rối và những kẻ ăn cướp lại là những kẻ đưa người bị cướp ra tòa.

18.04.2017

CTV Danlambao

danlambaovn.blogspot.com

Hà Nội: Cái khó trong vụ Đồng Tâm

Hà Nội: Cái khó trong vụ Đồng Tâm

Blog RFA

J.B Nguyễn Hữu Vinh

17-4-2017

Những viên CSCĐ đã bị dân Đồng Tâm bắt giam. Ảnh: Facebook

Vài ngày nay, thông tin qua mạng xã hội nóng lên bởi sự việc tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, Tp Hà Nội. Những người nông dân giữ đất đã đồng tâm bắt hàng chục chiến sĩ cảnh sát cơ động nhốt lại, đòi nhà cầm quyền thả những người và đáp ứng các yêu sách của mình.

Có lẽ trong lịch sử cầm quyền của Cộng sản tại Việt Nam, trừ thời gian chiến tranh, còn lại khi đã cướp được chính quyền và thâu tóm được quyền lực về tay mình đến nay thì đây là lần đầu tiên, người Cộng sản Việt Nam gặp phải trường hợp một đoàn công an đông đúc với đủ loại trang thiết bị bị bắt giữ bởi người dân như vụ này.

Đã gần 3 ngày trôi qua, những thông tin ít ỏi về vụ việc vẫn tạo sự nóng bỏng trên mạng xã hội. Hơn thế, việc báo chí im thin thít rồi chờ đợi để copy lại vài dòng tin từ Công an một cách sợ hãi, dè dặt… đủ nói lên sự lúng túng và sợ hãi từ nhà cầm quyền.

Tức nước vỡ bờ

Điều cần nói, là vụ việc ở xã Đồng Tâm, thuộc huyện Mỹ Đức là vụ việc vốn tồn tại cả chục năm nay và vẫn cứ im lìm chìm đi giữa muôn vụ việc khác khắp nơi trên đất nước. Chẳng mấy ai và ngay cả hệ thống mạng xã hội chú ý đến vụ việc này.

Vì trên đất nước “bình an, hạnh phúc, ổn định và đáng sống” này vẫn hàng ngày hàng giờ bị nạn cướp đất đai, tài sản của người dân hoành hành bằng công an, cưỡng chế… Cái phương châm “đất đai sở hữu toàn dân, do nhà nước thống nhất quản lý” có lẽ là một phát minh có tính lịch sử của những người cộng sản. Bởi đó là cái bùa hộ mệnh cho những hành động cướp bóc của người dân bất chấp đạo lý, bất chấp lương tâm và đơn giản là nghĩa đồng bào. Tất cả đất đai, ruộng vườn đều có thể bị cướp, dù đó là đất do chính họ hoặc cha ông họ khai khẩn từ đời nào thì cũng vậy, miễn là nhà nước nhảy vào “Quản lý”, thế là xong.

Vụ việc ở Đồng Tâm, nếu ai quan tâm chỉ cần vào Google với từ “Xã Đồng Tâm, Mỹ Đức” thì sẽ rõ. Ngay từ cách đây nhiều năm, báo chí đã nêu rõ việc chiếm cướp đất đai trắng trợn của người dân nơi đây của hệ thống Bí thư, cán bộ xã. Báo chí nhà nước kêu gào rồi cũng đành im vì chẳng ai làm gì được.

Ở Mỹ Đức, một chiêu bài được dùng để hù dọa và bịp người dân khá thành công là “Quốc phòng, an ninh”. Trong vụ Đồng Chiêm, nửa đêm nhà cầm quyền nổi hứng kéo gần ngàn quân đang đêm vào đập phá cây Thánh Giá trên Núi Thờ ở Giáo xứ Đồng Chiêm. Để lấp liếm tội ác này, nhà cầm quyền Hà Nội cho rằng cây Thánh Giá này “ảnh hưởng đến Quốc phòng, an ninh”. Một lý do rất… hài hước.

Nhưng, ở đây, sự lập lờ “Quốc phòng, an ninh” đã bị người dân bóc mẽ, họ đã không chấp nhận sự mập mờ đó. Nhưng mọi con đường kiện tụng, khiếu nại hết cửa nọ, đến cửa kia vẫn cứ quay về điểm xuất phát mới có… 10 năm.

Và người dân cứ vậy mà chấp nhận sự hà hiếp, đè nén và cướp đoạt của đám “đầy tớ nhân dân” bằng bao nhiêu trò thi thố nơi đây.

Thế rồi, bỗng dưng những thông tin và hình ảnh dồn dập làm nóng mạng xã hội về việc người dân Đồng Tâm đã tổ chức chống trả lại lực lượng đến cướp đất của họ và nhất loạt đồng lòng bảo vệ đất đai, tài sản của mình.

Thế rồi khi nhà cầm quyền giở con bài quen thuộc là dùng bạo lực để cướp đất đai, thì họ đã bắt giữ luôn cả một xe công an và cán bộ nhốt lại đòi nhà cầm quyền phải thả những người bị bắt.

Điều này làm cả xã hội sửng sốt.

Bởi điều đơn giản là ai đã từng sống trong chế độ cộng sản, thì mới hiểu được ý nghĩa của việc này như thế nào.

Với một nhà cầm quyền, mà “chính quyền sinh ra trên họng súng”, lấy bạo lực làm đầu thì đây là một việc “động trời” và ngang với những “tội tầy đình”.

Xưa nay, ở Việt Nam dưới thời Cộng sản, chỉ có việc nhà cầm quyền, công an, cán bộ muốn bắt ai là bắt, giữ ai là giữ, đánh đập ai là đánh đập, bỏ tù ai là bỏ tù chứ làm gì có ai dám bắt giữ cán bộ, công an bao giờ.

Xưa nay, nhà nước “của dân, do dân và vì dân” vốn “bình đẳng trước pháp luật” nhưng chỉ có cán bộ được bắt giữ, trấn áp người dân bằng mọi cách mà không bao giờ hề hấn gì, hoặc cùng lắm thì “cảnh cáo”, chết người thì vài ba năm tù… thế là xong. Còn người dân, những “ông chủ” nếu động vào đầy tớ của mình thì lập tức cả hệ thống vào cuộc và những tội lỗi tầy trời đã được dành sẵn, nhẹ nhất là “gây rối trật tự công cộng”, “chống người thi hành công vụ” còn nặng hơn thì “lật đổ chính quyền nhân dân”…

Tất cả đều có thể. Bởi chưng cả hệ thống từ lập pháp, tư pháp và hành pháp đều dưới một cây gậy của đảng “lãnh đạo tuyệt đối”. Và mọi hành vi đe dọa đến quyền lực của đảng, đều là “Chống lại Tổ quốc, chống lại dân tộc, và chống lại nhân dân” chứ không hề là chống đảng – Điều kỳ diệu của ngôn ngữ Việt thời đại Cộng sản là vậy.

Vậy điều gì đã thúc đẩy những người nông dân tay không nơi đây có những hành vi “động trời” “vuốt râu chó sói” này?

Có lẽ câu trả lời chỉ có thể là: Nhà cầm quyền đã đẩy họ đến cuối đường hầm bằng sự lộng hành và tàn bạo, đã mưu đồ tước đoạt nốt chút tư liệu sản xuất cuối cùng của họ, nghĩa là đẩy họ và con cháu, giống nòi họ vào chỗ chết.

Và đúng theo nguyên lý của Chủ nghĩa Mác – Lenin, thì “ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”. Hẳn nhiên, những người nông dân ở đây đã đấu tranh cả chục năm nay bằng nhiều hình thức khác nhau, đã nói lên sự áp bức ở đây dai dẳng như thế nào.

Rồi cũng đúng theo nguyên lý của Mác – Lenin, thì sức “nén càng mạnh, thì sức bật càng cao”. Chỉ có điều này mới có thể giải thích được hành động hôm nay của người nông dân xã Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội.

Cái khó

Nếu như ở những vụ việc khác, nhà cầm quyền Hà Nội sẽ giải quyết đơn giản hơn.

Thông thường là sự trấn áp bằng bạo lực một cách tàn bạo nhất có thể để đảm bảo chắc chắn phần thắng về nhà cầm quyền. Để làm được điều đó, hệ thống truyền thông được huy động vào cuộc. Bầy kền kền này được giao nhiệm vụ rỉa rói con mồi bằng mọi cách, kể cả bịa đặt, dựng chuyện, vu cáo và bóp méo… trước con mắt người dân nhằm chuẩn bị dư luận.

Và rồi một đêm đẹp trời hoặc một ngày mà tất cả mọi nẻo đường bị chặn, máy phá sóng và mọi sự liên lạc bị cắt đứt… là lúc bạo lực lên tiếng.

Hẳn nhiên, người dân tay không làm sao có thể trụ được với hệ thống lực lượng chuyên nghiệp được trang bị tận răng và nuôi nấng bằng tiền của chính những người dân này.

Và kết quả là máu, là bắt bớ, tù tội.

Thế nhưng, cũng có những lúc khi con bài bạo lực không tiện thi thố, thì con bài hòa hoãn được sử dụng. Phương cách “rút củi đáy nồi’ để hạ nhiệt đám quần chúng vốn thiếu sự hướng dẫn, lãnh đạo và nhất là thiếu đoàn kết, sau đó thì trở mặt khởi tố, đàn áp…

Nhiều vụ việc, người dân cứ tưởng những lời vàng ngọc từ những cán bộ chức cao, vọng trọng và uy thế thì sẽ được thực hiện như đinh đóng cột. Nhưng, chỉ cần người dân tin vậy rồi hạ nhiệt, rồi chia rẽ… là lúc các cán bộ lau mép, trở mặt và hệ thống nhà tù, công an, tòa án được khởi động theo lệnh của đảng.

Có lẽ, một trong những cách được sử dụng nhiều nhất, là việc đổ riệt cho một thế lực nào đó nếu có thể gán ghép được, hoặc là tôn giáo, hoặc là thế lực thù địch nước ngoài, hoặc là kẻ xấu lợi dụng… Để rồi sử dụng những biện pháp trấn áp dù bất nhân mấy thì vẫn “có lý” trước dư luận người dân.

Hay ít nhất, thì cũng như trường hợp em Nguyễn Văn Hóa ở Kỳ Anh, Hà Tĩnh vừa qua. Một thanh niên 22 tuổi được nhà nước tặng cho những “thành tích” đáng nể. Đó là đã vận động được hàng ngàn người tham gia biểu tình chống Formosa, và đó là những người dân “nhẹ dạ, cả tin”… đại khái là dốt nát không chịu tin vào đảng sáng suốt.

Thế nhưng, ở đây thì hơi khó cho nhà cầm quyền.

Bởi người dân ở đây thuần nông, họ chân chất xưa nay vốn tin lời và nghe theo đảng, đã vi đảng mà hy sinh từ tính mạng cho đến tài sản. Không hề có yếu tố tôn giáo, “thế lực thù địch” hoặc “đối tượng xấu” ở đây.

Duy nhất để kích động họ, đó là hệ thống quan chức cộng sản tham nhũng và cướp bóc của họ thành một hệ thống từ trên xuống dưới bao che nhau.

Ở đó, theo báo chí cộng sản, thì đất vàng được các quan xã ẵm hết, người dân không ruộng cày.

Ở đó, một tên bí thư Huyện ủy có thể huy động cả họ hàng hang hốc được kéo nhau ra làm quan nhằm vơ vét tài nguyên và mồ hôi nước mắt người dân. Vì thế chúng liên kết hết sức hữu cơ và rất “có hệ thống, đúng quy trình”.

Vì vậy, cái cớ để vu cáo nhằm lấy cớ đàn áp là không nhiều.

Trong khi đó, vấn đề lại là ở chỗ chính sách đất đai, đường lối cướp bóc của dân lành là nguyên nhân, thì nhà cầm quyền lại không thể gỡ được. Bởi gỡ ra lấy gì để tồn tại?

Tạm kết

Có thể rồi nhà cầm quyền Hà Nội sẽ chọn một trong mấy cách trên đây, vốn đã thành “cẩm nang” chống lại nhân dân trong những trường hợp này.

Hẳn nhiên là họ sẽ “thắng lợi” khi dập tắt được sự phản kháng tức thời của người dân. Rồi lại bài cũ với một số người không ngoan ngoãn vâng lời để chịu cướp đất là đắc tội chống lại nhà nước…

Nhưng, hậu quả thì sẽ không như ý muốn của họ, đó là điều dễ nhìn thấy.

Bởi thời nay đã khác xưa cả điều kiện lẫn nhận thức của người dân.

Khi người dân đã thể hiện sự không sợ hãi, thì đừng nên đẩy họ vào chỗ cuối đường hầm.

Thế nhưng, mấy ai đã hiểu và làm được điều đó?

Và tôi chợt thấy văng vẳng bên tai, bài ca những người Cộng sản luôn gào thét:

“Vùng lên hỡi các nô lệ ở thế gian!
Vùng lên hỡi ai cực khổ bần hàn!
Sục sôi nhiệt huyết trong tim đầy chứa rồi.
Quyết phen này sống chết mà thôi.
Chế độ xưa ta mau phá sạch tan tành…”

(Quốc tế ca)

Hà Nội, ngày 17/4/2017

J.B Nguyễn Hữu Vinh

VÌ SAO CÔNG AN THUA DÂN?

VÌ SAO CÔNG AN THUA DÂN?

Đào Hiếu

Nguyễn Trần Sâm

17-4-2017

Những CSCĐ bị dân bắt. Ảnh: FB

Như báo chí đã đưa tin, chiều 15 – 4, gần 30 người của chính quyền, trong đó có cả những viên cảnh sát cơ động, đã bị dân Đồng Tâm (Mỹ Đức, HN) bắt nhốt tại “nhà văn hóa” xã. Mục đích việc làm này của dân chúng là đòi chính quyền phải trả tự do cho những người bà con của họ đã bị chính quyền câu lưu trước đó vì hành động được gọi là “vi phạm đất đai”.

Một câu hỏi lớn được đặt ra: Vì sao những công an viên này lại để cho dân “bắt” được họ? Phải chăng vì họ không đủ năng lực và phương tiện để đè bẹp lực lượng quần chúng không có vũ khí trong tay, hay chí ít là thoát khỏi bàn tay của những người dân này?

Muốn trả lời câu hỏi này thì phải nghĩ đến những câu hỏi khác. Giả dụ viên chỉ huy của đội cảnh sát cơ động (nghe nói là trung đoàn?) ra lệnh xả súng vào đám dân hoặc không nổ súng nhưng dùng báng súng, lưỡi lê hoặc dùi cui đánh tới tấp vào đám dân dám chống lại mình, còn các chiến sỹ công an thì nhất loạt tuân lệnh, thì liệu đám dân đó có bắt nổi một công an viên nào không?

Dĩ nhiên là không! Khi đó thì đám dân kia chỉ có thịt nát xương tan hoặc ít ra là bị đau nhừ tử, chứ làm sao còn có thể bắt công an làm tù binh được nữa!

Như vậy, việc có hàng chục chiến sỹ công an thuộc “lực lượng mạnh” bị dân bắt nói lên rằng chỉ huy của họ đã không dám ra cái lệnh đó, hoặc/và các chiến sỹ cũng không dám thực thi một mệnh lệnh như vậy.

Vậy lý do để chỉ huy không dám ra lệnh và thuộc cấp không dám thực thi nếu có lệnh là gì? Câu trả lời là: Họ vẫn còn tính người và tình người. Họ không đang tâm bắn vào hoặc đánh đập tàn nhẫn những người dân tay không tấc sắt. Họ biết rõ đó là những người vô tội và nghèo khổ, đã chịu bao oan trái do những kẻ có thế lực gây ra. Nghĩa là chúng ta vẫn còn có thể hy vọng vào những con người này. Đa số vẫn còn lương tâm. Và nhiều người trong số đó cũng có bà con, anh em hoặc xóm giềng là những người dân nghèo đáng thương. Họ từng nhiều lần chứng kiến cảnh khổ của những người thân. Và họ đã nhận ra rằng chính nghĩa không ở phía họ, nếu họ ra tay đàn áp.

Xưa nay vẫn vậy. Một khi hàng ngàn người dân bị dồn đến bước đường cùng thì họ sẽ nổi dậy. Ban đầu, những nhóm lẻ tẻ sẽ bị đàn áp. Những đám dân khác sẽ sợ và im tiếng. Nhưng khi không còn gì để mất thêm thì con người sẽ hết sợ. Họ sẽ nổi dậy đông hơn. Sẽ tiếp tục có đàn áp, nhưng rồi “một người rơi, mười người tiến”, và sẽ đến lúc có hàng triệu người đứng dậy. Sẽ đến lúc lực lượng đàn áp không thể thực thi nhiệm vụ đàn áp được nữa. Dù ban đầu, những kẻ có vũ trang này chưa nhận ra được chính nghĩa, nhưng rồi trong những cuộc cọ xát, những chiến dịch đàn áp, dần dần họ sẽ nhận ra lẽ phải. Khi đó, những mệnh lệnh đàn áp sẽ không được thực thi nữa. Lực lượng đàn áp sẽ quay súng!

Đó là quy luật!

Thật không may cho nhà cầm quyền nào không nhận thức được quy luật này, một quy luật mà chính những thủy tổ của CNCS cũng từng nói đến nhiều lần.

Vào thời kỳ trước sau năm 1980, cả nước đói khổ, dân tình ca thán. Những bài vè chế giễu nhà cầm quyền xuất hiện khắp nơi. Có cả những bài như “sấm ký”. Đó là những dấu hiệu của sự suy sụp. Nhưng vào thời đó chưa có đàn áp. Dân chưa bị đánh, chưa bị quy thành “các thế lực thù địch”. Một số người nói: Chắc sắp tiêu! Nhưng tôi nói: Đã có gần đủ các dấu hiệu, nhưng còn thiếu đàn áp dân.

Còn bây giờ thì đã có! Khắp nơi, hàng ngàn người dân bị đàn áp sau khi bị dán nhãn “các thế lực thù địch”!

Và không chỉ có vậy. Giai đoạn cuối của thời kỳ đàn áp dân đã đến. Lực lượng đàn áp đã bỏ chạy. Không chỉ ở xã Đồng Tâm huyện Mỹ Đức. Việc đó cũng đã xảy ra hơn một lần ở những nơi khác, nhất là quanh Formosa Hà Tĩnh!

Giáo sư Nguyễn Ngọc Linh, người xây dựng ngôi nhà báo chí VN

Từ Thức
(Cựu Thông tín viên VTX tại Hòa đàm Ba Lê)

Giáo sư Nguyễn Ngọc Linh vừa qua đời, hưởng thọ 88 tuổi, nột năm sau ngày bào đệ Nguyễn Ngọc Bích quy tiên. Hai ông là những khuôn mặt tích cực của sinh hoạt báo chí và văn hóa, giáo dục, ở miền Nam trước 75 và sau đó, ở hải ngoại.

Ông Nguyễn Ngọc Linh là người đã mang lại tính chuyên nghiệp cho báo chí ở miền Nam, và cũng là người đặt nền tảng cho báo chí  “quốc gia” ở hải ngoại.

blank

CHUYÊN NGHIỆP HÓA NGHỀ LÀM BÁO

Trong chức vụ Tổng giám đốc Việt Tấn Xã (từ 1965), ông mở khóa huấn luyện báo chí đầu tiên ở Sai Gòn, với 30 khoá sinh trẻ, trên dưới 20 tuổi. Việt Tấn Xã  (VTX) là cơ quan truyền thông quan trọng hàng đầu của Việt Nam Cộng hòa, một quốc gia đang lâm chiến.

VTX cung cấp tin tức, phóng sự cho báo chí Việt Nam và ngoại quốc, với các ấn bản Việt ngữ, Pháp và Anh Ngữ.

Đó là giai đọan đầu tiên của lịch sử báo chí miền Nam, ký giả, phóng viên được đào tạo  để nắm vững những kỹ thuật viết tin, phóng sự theo những tiêu chuẩn của báo chí Quốc tế.

Trước đó, người ta làm báo theo kiểu rất tài tử, rất…Việt nam. Anh nào có năng khiếu hay trình độ văn hóa khả quan thì viết lách gọn ghẽ, anh nào kém hơn vẫn viết lách; viết lách theo kiểu… bình dân, lôi thôi, dài dòng, với một mớ kiến thức chuyên nghiệp rất lơ mơ.

Với hy vọng ‘’nghề dạy nghề ‘’, nhưng khi cái căn bản nó không vững, kinh nghiệm nhiều khi chỉ là cái hại. Ở một nước tân tiến, cái gì cũng phải học, từ ông kỹ sư cho tới ông sửa ống cống, ông thợ hớt tóc, anh thợ hồ, chị bán cá.

Ngược lại, ở một nước chậm tiến, không cần phương pháp. Nếu anh thấy mình muốn nấu phở, nếu bà thấy mình có khiếu làm bánh cuốn, cứ khơi khơi mở tiệm. Báo chí cũng vậy. Một sớm, một chiều, cao hứng, hay không biết làm nghề ngỗng gì, ông có thể trở thành ký giả. Chỉ cần biết đọc, biết viết. Đúng hơn, chỉ cần biết đọc, còn viết,  trong nhiều trường hợp, phải xét lạị .

Môi trường báo chí hỗn loạn như xã hội VN; Bên cạnh những nhà báo khả kính-và khả tín-có kiến thức, có lương tâm nghề nghiệp, coi nghề báo như một sứ mạng, cũng có những ông trình độ văn hóa rất mơ hồ, khả năng chuyên nghiệp rất đại khái. Cái khiếm khuyết về khả năng còn tai hại hơn nữa nếu nó đi đôi với sự vắng bóng lương tâm nghề nghiệp.

Thời  ấy, không thiếu những người coi nghề viết báo là một cơ hội để làm ăn với những người có quyền thế, có máu mặt. Đâm thuê, chém mướn bằng ngòi bút nó tệ hại hơn cả đâm thuê, chém mướn bằng dao, búa. Cái bệ rạc văn hóa nó tệ hại và bệ rạc hơn cái bệ rạc xã hội.

Khóa huấn luyện báo chí VTX  của Giáo sư, Nhà báo Nguyễn Ngọc Linh dạy viết tin, viết ký sự, làm phóng sự, bình luận thời sự, những kỹ thuật chuyên môn tối thiểu không thể thiếu của người làm báo. Khóa học cũng đặt vấn đề lương tâm, trách nhiệm của người cầm bút.

Cố nhiên, không phải qua một khoá huấn luyện, bạn trở thành một nhà báo xứng đáng với tên gọi, nhưng đó là điều kiện tối thiểu để hành nghề, điều kiện tối thiểu để đưa báo chí VN ra khỏi tình trạng tiểu công nghệ. Ra khỏi tình trạng lạc hậu của một nước chậm tiến. Nó cho bạn một gói hành lý tối cần để nếu bạn có ý chí học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu không ngừng, để, một ngày đẹp trời nào đó, trở thành một ngòi bút chuyên nghiệp, có thể trình làng một bài báo đáng gọi là bài báo.

Trong số 30 người tốt nghiệp khoá báo chí, một số làm việc cho VTX, một số cộng tác với các cơ quan báo chí khác. Một nhóm sáng lập ‘’ Việt Nam Ký Sự ‘’, cung cấp phóng sự cho báo chí miền Nam.

Khi nhận chức giám đốc Đài Phát Thanh, Đài Truyền Hình (1964), Ông Linh cũng không quên việc huấn luyện để đào tạo những người chuyên nghiệp. Đó là một bước đầu cho những phân khoa báo chí sau này ở vài Đại học, như Đại Học Đà lạt. Bước tiến ấy bị chận lại với cái đại họa 75 chụp xuống miền Nam.

Ngày nay, báo chí ‘’ lề phải ‘’ trong nước chỉ là công cụ của một chế độ độc tài do đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Ở đó không có báo chí, chỉ có những tờ truyền đơn.

Nhân dịp, xin ngả mũ chào những nhà báo độc lập, đang sẵn sàng hy sinh để nói lên tiếng nói của sự thực, của lẽ phải.

Bên cạnh sinh hoạt trong ngành truyền thông, ông Nguyễn Ngọc Linh còn tích cực trên lãnh vực giáo dục. Ông cùng bà Linh mở trường dạy Anh ngữ, cùng bào đệ Nguyễn Ngọc Bích và bà Bích mở Đại Học Cửu Long. Muốn cải tiến đất nước, không có con đường nào khẩn cấp hơn là phát triển giáo dục. Ông Linh là người thấy gần và nhìn xa. Chỉ thấy gần là người thiển cận. Chỉ nhìn xa là người sống ở trên mây.

ĐẶT NỀN TẢNG CHO BÁO CHÍ VIỆT NGỮ HẢI NGOẠI.

Sau 75, báo chí VN mở ra như nấm ở nước ngoài, đặc biệt tại Hoa Kỳ, nơi có dông người Việt tị nạn sinh sống nhiều nhất trên Thế giới. Tình trạng báo chí hải ngoại đã trải qua nhiều giai đoạn, từ giai đoạn khó khăn của những ngày chân ướt, chân ráo, tới một thời trăm hoa đua nở, và ngày nay, một giai đoạn đầy thử thách. Báo chí Việt ngữ đang sống bi quan, trong cái bi quan chung của báo chí thế giới. Số độc giả bớt đi, vì nhiều người cao niên, đọc sách báo Việt ngữ nhiều, dần dần ra đi. Những người trẻ trình độ tiếng Việt kém, có nhiều hình thức giải trí thích hợp hơn, không thấy có nhu cầu đọc sách báo Việt ngữ. Đó là một vấn đề rất đáng quan tâm.

Báo chí, hay những sinh hoạt văn hóa, là chuyện tối cần cho một công đồng. Một cái giây nối những thành phần hỗn tạp của cộng đồng lại với nhau, là cái gạch nối giữa người Việt ly hương trên khắp thế giới. Khi không còn sinh hoạt báo chí, sinh hoạt văn hóa, cộng đồng sẽ trở thành một cộng đồng chết, không cá tính, không tâm hồn . Cũng như một cá nhân không có văn hóa chỉ là một xác chết biết đi. Cố nhiên, đó là nói về báo chí theo đúng nghĩa của nó. Tạm bỏ qua những tờ báo lá cải, chỉ chuyên tung tin dựt ngân, mạ lỵ, chụp mũ, điển hình của một thời đại nhiễu nhương.

Ít người biết Ông NNL là người  đặt viên đá đầu tiên cho báo chí có khuynh hướng quốc gia ở hải ngoại. Trước đây, ở hải ngoại, nhất là ở Pháp, báo chí Việt ngữ rất lèo tèo, hầu hết đều thiên Cộng, hoặc bị CS giựt dây.

Ông Linh phụ trách báo chí, truyền thông bên cạnh Phái Đoàn VNCH tại cuộc hội đàm Paris về VN (1968). Ông thấy cần một tờ báo Việt Ngữ, loan tin và trình bầy vấn đề VN với quan điểm của VNCH, chống lại luận điệu tuyên truyền của tờ Đoàn Kết hay những tờ báo thiên Cộng, phát hành ở Paris hay các nước Âu Châu. Tuần báo TIN QUÊ HƯƠNG ra đời ít ngày sau khi cuộc hội đàm bắt đầu, phát hành đều đặn, cho tới ngày 30 tháng Tư, 75. Báo gởi tới tận nhà cho các độc giả hải ngoại ở khắp nơi. Lần đầu tiên, người Việt sống ở nước ngoài từ lâu, được đọc tin tức về VN , thấy miền Nam có khuôn mặt khác hẳn với hình ảnh do báo chí CS tô vẽ.

Trước 75, khuynh hướng thiên tả rất mạnh ở Âu Châu, nhất là ở Pháp. Trước Tin Quê Hương, đại đa số báo chí Việt Ngữ đều thiên Cộng, từ những tờ báo dành cho giới bình dân, thợ thuyền, cựu quân nhân trong quân đội Pháp, sống xa quê hương từ lâu, hoàn toàn bị đàu độc bởi tuyên truyền CS.’’ Trí thức ‘’, nghiã là giới sinh viên, khoa bảng cũng không hơn gì, bị ảnh hưởng của báo chí thiên tả Pháp, đứng đầu là tờ Le Monde. Le Monde, cẩm nang của trí thức, sinh viên du học, khi loan tin Khmer Đỏ tiến về thành phố, đã viết một cách khơi khơi là dân chúng hồ hởi đứng hai bên đường chào đón quên giải phóng.

Ký giả của Le Monde chỉ nói tới cái tốt của CS và cái xấu của VNCH . Ở thời điểm đó, là trí thức, nghĩa là thiên Cộng, thiên tả. Người ta nhắm mắt trước sự thực. Được hỏi tại sao yên lặng trước những tội ác của Goulag, Jean Paul Sartre trả lời : ‘’ Il ne faut pas désespérer Billancourt‘’ (Không nên làm Billancourt tuyệt vọng ‘’.) Boulogne-Billancourt , ở ngoại ô Paris, nơi có trụ sở của hãng xe hơi Renault, được coi là tiêu biểu cho cuộc tranh đấu của thợ thuyền Pháp, giấu sự thực ở Nga để thợ thuyền khỏi thất vọng và tiếp tục tranh đấu cho thiên đường xã hội chủ nghiã. Bất chấp sự thực, vì sự thực không có cách mạng tính, la vérité n’est pas révolutionnaire, như một câu nói nổi tiếng khác. Trong bối cảnh đó, rất nhiều sinh viên miền Nam, du học với học bổng VNCH, nhưng ‘’chống Mỹ cứu nước’’.

LÀN GIÓ NGUYỄN NGỌC LINH

Báo  Tin Quê Hương đã mang một hình ảnh khác, một cái nhìn khác về quê hương, đã hỗ trợ cho những người chống Cộng còn hiếm hoi ở hải ngoại thời ấy. Nhiều độc giả lần đầu nghe tới lúa thần nông, chính sách chiêu hồi, thảm sát Mậu Thân, tai họa kinh hoàng của Cải Cách điền địa. Nhiều người, lần đầu tiên, khám phá Võ Phiến, Nguyễn Mạnh Côn, Tô Thùy Yên…

Đó là một tiếng nói khác với gịọng lưỡi CS, ở một thời chưa có Internet, tuyên truyền là độc quyền của CS. Ngày nay, chống Cộng là chuyện đương nhiên trên báo chí Việt Nam hải ngoại.

Năm 1968, đánh dấu thảm họa Cộng Sản bao phủ Tết Mậu Thân ở miền Nam, làng báo Việt Nam đã đón nhận một luồng gío mới đến từ một nhà báo đầy sáng kiến, một người nắm vững kỹ thuật truyền thông Quốc tế  hiếm hoi ở VN, Ông Nguyễn Ngọc Linh.

Người Việt ta có thói quen trọng nể những người có bằng cấp, kể cả những tay khoa bảng, ngoài việc học gạo lấy bằng, không có khả năng gì, không làm gì ra hồn, trói gà không chặt và cũng chẳng thử vén tay trói gà, vì lười và vô trách nhiệm.
Nhiều người trong chúng ta quên rằng đất nước muốn tiến bộ, phải có những ngưòi nhìn xa, trông rộng, có sáng kiến, và sẵn sàng thực hiện những sáng kiến đó, dù nó rất mới với thời đại. Những người có khả năng và thiện chí thường muốn truyền đạt kiến thức để góp một viên gạch , xây dựng một ngôi nhà chung cho đất nước.

Những người như vậy, trong xã hội VN không đông đảo như người ta tưởng. Ông Nguyễn Ngọc Linh là một trong số những nhân vật hiếm hoi đó.-/-

Từ Thức

(Paris)

Xét xử 12 vụ án lớn trong năm nay

Xét xử 12 vụ án lớn trong năm nay

2017-04-17
 
Chi nhánh Sacombank tại thủ đô Viêng Chăn của Lào chụp hôm 16/3/2011.

Chi nhánh Sacombank tại thủ đô Viêng Chăn của Lào chụp hôm 16/3/2011.

AFP photo
Kế hoạch kết thúc điều tra, truy tố, xét xử 12 vụ án thuộc diện Ban chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo trong năm 2017 được đưa ra thảo luận và thống nhất thông qua trong cuộc họp Thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về Phòng chống Tham nhũng ngày 17 tháng 4 tại Hà Nội, dưới sự chủ trì của ông tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Ban này nêu chỉ tiêu sẽ kết thúc điều tra, truy tố, xét xử 12 vụ án lớn trong năm nay.

Thông tấn xã Việt Nam cho biết tại cuộc họp, Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương nêu ra những vấn đề còn khó khăn trong công tác phòng chống tham nhũng. Trong 12 vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, có 4 vụ xảy ra tại Ngân hàng bao gồm: Ngân hàng Thương mại cổ phần Xây dựng Việt Nam (VNCB), Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank), Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank), Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển VIệt Nam (BIDV).

Phát biểu tại cuộc họp, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đánh giá sự cố gắng hợp tác giữa các cơ quan chức năng và các nhân trong Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban chỉ đạo. Đặc biệt đề cao cố gắng việc điều tra, xử lý giai đoạn II vụ án Phạm Công Danh, nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng xây dựng VNCB, và giai đoạn II vụ án Hà Văn Thắm, Ngân hàng Oceanbank.

Tuy nhiên, do vẫn có một số công việc chưa có sự phối hợp chặt chẽ, ông Nguyễn Phú Trọng đề nghị cần phải xem xét vấn đề dựa trên cơ sở pháp luật và khách quan.

Cũng trong cuộc họp ngày 17 tháng 4, vụ án Trịnh Xuân Thanh và Tổng Công ty Cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC) và vụ án của cựu Đại biểu Quốc hội Châu Thị Thu Nga được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đặc biệt nhắc đến trong số 12 vụ án thuộc diện Ban chỉ đạo theo dõi.

Về vụ Trịnh Xuân Thanh, ông Nguyễn Phú Trọng cho biết riêng Trịnh Xuân Thanh bị khởi tố cả về hai tội và đề nghị cần phải tập trung lực lượng điều tra mở rộng vụ án để truy bắt, dẫn độ Trịnh Xuân Thanh về nước phục vụ điều tra, xử lý vụ án.

Bên cạnh đó, cuộc họp còn đưa ra ý kiến trong việc thanh tra, khởi tố những vụ án tham nhũng kinh tế có tính chất nghiêm trọng, gây chú ý dư luận xã hội tại 20 tỉnh thành ở Việt Nam.

Theo Thông tấn xã, Thường trực Ban Chỉ đạo nhất trí chọn ông Trương Hoà Bình, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ, Phó Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương phòng chống tham nhũng sẽ tham gia chỉ đạo các cơ quan chức năng trong công việc xử lý các vụ án kinh tế, tham nhũng có tính chất nghiêm trọng.

Dân làng Đồng Tâm tiếp tục đấu tranh giữ đất

Dân làng Đồng Tâm tiếp tục đấu tranh giữ đất

2017-04-17
 
 
 

Những cảnh sát cơ động được trang bị vũ khí sẵn sàng đi đàn áp dân Đồng Tâm.

Những cảnh sát cơ động được trang bị vũ khí sẵn sàng đi đàn áp dân Đồng Tâm.

Citizen photo.
 
 Căng thẳng giữa chính quyền và nông dân xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tiếp tục sang đến ngày thứ ba vẫn chưa được giải quyết.

Nguyên nhân của vụ này xuất phát từ việc người dân xã Đồng Tâm không đồng tình việc chính quyền giao đất đanh canh tác của họ cho Tập đoàn viễn thông Viettel do Quân đội quản lý.

Báo chí Việt Nam loan đi bản tin của Thông tấn xã nhà nước Việt Nam nói rằng ngày 16 tháng tư, ban tuyên giáo thành ủy Hà Nội đã ra tuyên bố chính thức về vụ này.

Theo ban tuyên giáo thành ủy Hà Nội thì ngày 15 tháng tư công an đã bắt 4 người dân của xã Đồng Tâm vì tội gây rối trật tự. Và cũng theo ban tuyên giáo thì sau đó dân xã Đồng Tâm đã bắt giữ khoảng 20 nhân viên công an trái pháp luật.

Nhà hoạt động Lã Việt Dũng, vào sáng ngày 16 tháng tư được một dân làng giúp vào được địa phương cho biết lại tình hình ở đó:

“Khi các nhân viên công an và đừng để bị kích động dẫn tới những hành vi phạm pháp luật.

Theo luật sư Trần Vũ Hải từ Hà Nội trong ngày 17 tháng tư diễn ra một tiếng đồ điện đàm giữa chủ tịch thành phố Hà Nội, ông Nguyễn Đức Chung với đại diên dân làng Đồng Tâm, cũng như gặp trực tiếp một cụ ông tên Kình bị bắt trong sáng ngày 15 tháng tư.

Tin từ luật sư Trần Vũ Hải cho biết ông chủ tịch Nguyễn Đức Chung hứa vào ngày 18 tháng tư sẽ xuống xã Đồng Tâm để đối thoại trực tiếp với người dân nhưng dân chúng yêu cầu phía chính quyền phải làm trước chứ không thể nghe lời hứa nữa.

“Bà con bảo tôi không tin ai cả vì tôi bị lừa nhiều lắm rồi. Bây giờ ông Kình với ông Chung về đây thì chúng tôi còn tin. Chúng tôi bị lừa, cướp nọ cướp kia, nên chúng tôi chiến đấu một sống một chết, bây gườ chúng tôi chả còn gì nữa.”

Các báo của nhà nước Việt Nam đều loan tin giống nhau, với ý kiến từ phía chính quyền, riêng báo mạng VnExpress có trích lời người dân bảo rằng các nhân viên công an đang bị bắt giữ được đối xử tử tế, và họ muốn chính quyền thả những người bị bắt, và giải quyết chuyện thu hồi đất đai một cách đúng qui định.

Theo các nguồn tin chúng tôi thu nhận được thì hiện nay nông dân xã Đồng Tâm đang canh gác làng của họ và không cho phép quay phim chụp ảnh.

Liên quan đến vụ việc ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, vào ngày 17 tháng tư, anh Trịnh Bá Phương, thanh niên hoạt động chống lấy đất phi pháp tại Làng Dương Nội, bị bắt đi làm việc. Đến khoảng 4 giờ chiều ngày 17 tháng tư, anh này được thả ra và cho biết lại:

“Lúc 7 giờ sáng thì họ ập vào trong nhà trong lúc tôi đang ở trên giường. Họ ép tôi lên ô tô chở lên phường Dương Nội. Khi đến thì họ bắt tôi viết kiểm điểm. Họ nói tôi kích động nhân dân Mỹ Đức, tung các clip ra kích động nhân dân chống đối chính quyền. Tôi nói với họ là lúc nào các ông liệt kê các tội ác của các ông ra tờ giấy này thì tôi mới làm việc với các ông. Hôm nay có một đoàn kiểm tra của công an thành phố Hà Nội về làm việc với công an phường Dương Nội. Tôi hô các khẩu hiệu đả đảo cộng sản, đả đảo chế độ công an trị, bắt người phi pháp. Thế rồi cách đây ít phút họ thả tôi ra không nói năng gì cả.”

Thư ký của Mao Trạch Đông: Vấn đề lớn nhất của Trung Quốc là thiếu dân chủ

Thư ký của Mao Trạch Đông: Vấn đề lớn nhất của Trung Quốc là thiếu dân chủ

Lý Duệ, cựu thư ký của Mao Trạch Đông đã tròn 100  tuổi.

Lý Duệ, cựu thư ký của Mao Trạch Đông đã tròn 100  tuổi.

Lý Duệ: Vấn đề lớn nhất của Trung Quốc là thiếu dân chủ

Theo BBC, Lý Duệ sinh ngày 13/4/1917 và ông từng đảm nhận chức vụ thư ký của Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông. Sau này, khi hình dung lại, ông thấy rằng đó là những ngày tháng hết sức đáng sợ và vô nhân đạo.

Do Lý Duệ năm đó dám lên tiếng chỉ ra sai lầm của Mao Trạch Đông, kết quả là ông đã bị khai trừ khỏi đảng, còn bị biệt giam suốt 8 năm.

Thời điểm diễn ra vụ thảm sát Thiên An Môn năm 1989, Lý Duệ một lần nữa công khai lên tiếng: “Mười người chúng tôi đã viết một bức thư gửi lên trung ương, bảo họ đừng có cấm đoán vận động chính trị, đừng có tiến hành đàn áp học sinh sinh viên.” Lý Duệ nói: “Khi nhân tính và đảng tính có sự mâu thuẫn, tôi đứng về phía nhân tính.”

Lý Duệ còn nhắc đến chuyện, khi bản thân ông bị khai trừ khỏi đảng thì “Trung ương đã phái người tới nói chuyện với tôi, các bộ ban ngành tổ chức cũng phái người tới nói chuyện với tôi, muốn tôi làm kiểm điểm, thì sẽ được ở lại đảng. Tôi không làm kiểm điểm, tôi nói rằng tôi không sai.”

Ông cũng thẳng thắn phát biểu: “Trung Quốc thực sự thiếu dân chủ, đây là vấn đề lớn nhất.”

Bài báo nêu rõ, giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) không ai thích những cuốn sách mà Lý Duệ viết, nhưng ông vẫn dồn hết sức lực để viết, và đến giờ thì ông “vẫn tiếp tục nói, vẫn tiếp tục viết, tiếp tục nổi loạn”.

Lý Duệ sinh ra ở Bắc Kinh, gốc gác ở Bình Giang, tỉnh Hồ Nam. Năm 1958, ông nhận chức thư ký cho Mao Trạch Đông. Đến năm 1959, tại Hội nghị Lư Sơn, ông bị quy vào “thành viên của nhóm phản đảng Bành Đức Hoài”, bị chụp mũ “phần tử theo chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh”, bị cách chức vị, khai trừ khỏi đảng, bị đưa đi lao động khai hoang vùng Bắc Đại. Từ năm 1967 đến 1975, Lý Duệ bị giam giữ tại nhà tù Tần Thành. Đến năm 1979, ông được minh oan. Lý Duệ còn là một nhân vật đại biểu cho phái phản đối dự án Đập Tam Hiệp trong nước, cũng từng nhiều năm lên tiếng kêu gọi Trung Quốc thực thi dân chủ hiến chính (chính phủ vận hành theo hiến pháp).

Trong ngày sinh nhật năm ngoái, Lý Duệ đã viết một bài báo có tựa đề “Nhìn lại một trăm năm” và được giới truyền thông nước ngoài chú ý. Trong bài viết của mình, ông đề cập đến “Điều tôi lo lắng nhất trên thế giới là đến khi nào chính trị dân chủ mới thực sự khai mở”, cho rằng Trung Quốc nên tuân theo “quy luật phổ biến”, “không nên tách rời với thế giới”.

Giải thể ĐCSTQ thì mới có dân chủ thực sự

Năm ngoái, giáo sư, học giả Trung Quốc Bùi Mẫn Hân tại Đại học Claremont McKenna đã viết một bài báo xuất bản trên tờ New York Times có tựa đề: “Sự hủ bại sẽ buộc Trung Quốc phải kết thúc chế độ một đảng chuyên chính”, trong đó nhấn mạnh rằng nếu Trung Quốc muốn tiến tới dân chủ hóa, thì ắt phải loại bỏ chính quyền ĐCSTQ chuyên chế.

Bùi Mẫn Hân chỉ rõ rằng, từ những kinh nghiệm lịch sử tích lũy trong quá khứ mà nhìn nhận, ước tích có khoảng 80 quốc gia đã trải qua quá trình chuyển đổi từ những hình thức xã hội thống trị chuyên chế khác nhau thành xã hội dân chủ. Khi đối mặt với suy thoái môi trường, dịch vụ công yếu kém, bất bình đẳng xã hội, tham nhũng tràn lan và hàng loạt vấn đề khác, chế độ độc đảng ở Trung Quốc đang đứng trước những thử thách rất lớn. Do đó, việc Trung Quốc thoát khỏi chế độ chuyên chế này có thể là một lựa chọn tất yếu.

Bình luận viên truyền thông Mạnh Kiệt cũng từng phát biểu: “Chính phủ của một xã hội thực sự tự do thường phải có ‘đảng chính trị luân phiên’, đảng nào làm tốt sẽ được lên cầm quyền, đảng nào không tốt thì sẽ bị hạ bệ.”

“Cho dù xã hội biến đổi như thế nào, cho dù đảng chấp chính luân phiên thay đổi ra sao, đều không thể hủy đi những giá trị cơ bản, một khi mà có đảng chính trị nào đó hủy đi những giá trị phổ quát, gây tổn hại đến tự do và nhân quyền của người dân, thì tính hợp pháp của chính phủ sẽ bị lung lay và phá hủy, người dân cũng sẽ được quyền yêu cầu hạ bệ đảng cầm quyền đó hay để cho họ tái đắc cử, thậm chí có thể dùng biện pháp ‘công dân kháng mệnh’ hay các biện pháp ngoài thể chế khác để đối đầu với chính phủ, mượn điều đó để bảo vệ quyền lợi của người dân.”

“Công dân kháng mệnh” được định nghĩa là “hành động công khai, phi bạo lực, tự giác nhưng trái pháp luật, mục đích là để cải biến pháp luật hoặc chính sách của chính phủ”

An Nhiên

Việt Nam vi phạm nhân quyền trầm trọng.

From facebook: Hoang Le Thanh added 3 new photos.
Việt Nam vi phạm nhân quyền trầm trọng.

Việt Nam là một quốc gia đang vi phạm nhân quyền trầm trọng, các nhà nước và nhiều tổ chức quốc tế kêu gọi nhà nước Việt Nam phải cải thiện hồ sơ nhân quyền yếu kém của mình sao cho phù hợp với chuẩn mực quốc tế hầu tiến tới một thể chế dân chủ và công bằng hơn.

Việt Nam, tuy đã có dấu hiệu hứa hẹn cải thiện song cũng trơ trẻn biện luận, chưa hoặc cố tình trì hoãn thi hành Bộ luật Hình sự 2015, cố tình đánh tráo khái niệm một số quy định được cho là còn cứng nhắc, quá khắt khe và làm khó cho cơ quan tiến hành tố tụng trong bộ luật Hình sự mới.

Do đó, Việt Nam không được đánh giá là tự do và công bằng.

Nhà nước Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ra đời đã 72 năm và 42 năm nắm toàn quyền cai trị đất nước. Song đến năm 2017, Việt Nam vẫn là một quốc gia toàn trị bởi một đảng duy nhất là Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Cơ quan hành pháp sử dụng công an cảnh sát lấn lướt và kiểm soát các thế lực dân sự, một chế độ độc tài, một nhà nước công an trị.

Cho dù bị phản đối, chính quyền Việt Nam vẫn vi phạm, vẫn chà đạp nhân quyền, chà đạp lên pháp luật, chà đạp lên hiến pháp do chính họ soạn thảo và ban hành.
Tuy Việt Nam có hứa hẹn cải thiện những điều lệ về bắt giữ, tạm giam, xét xử, kể cả quyền được giữ im lặng khi bị bắt. Thế nhưng, họ vẫn cố tình không thực hiện, vẫn còn rất nhiều định nghĩa mơ hồ trong Bộ Luật Hình Sự như xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm lợi ích nhà nước mà nhà cai trị dựa vào để chận đứng những hoạt động chính trị của người dân cũng như các tổ chức xã hội dân sự.

Mặt khác, Việt Nam không có tự do tôn giáo, Việt Nam vi phạm nhân quyền vì những hành động như bắt giữ công dân một cách tùy tiện, tra tấn đánh đập người bị bắt dẫn đến hàng trăm trường hợp tử vong trong đồn công an, người bị buộc tội không được xét xử bằng những phiên tòa công bằng, trong lúc hệ thống tư pháp thiếu công minh, không độc lập mà còn bị lũng đoạn.

Ngoài ra, những quyền đương nhiên người dân được hưởng như: quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin ở Việt Nam còn bị giới hạn, nhà nước sử dụng mọi biện pháp kiểm duyệt, ngăn chận và cấm đoán Internet. Những điều cấm kỵ này được áp dụng luôn cho cả các tôn giáo trong nước.

Tóm lại, siết chặt tôn giáo, kiểm soát, khủng bố, tra tấn, án tù nhiều năm, hạn chế thông tin, bắt giữ tùy tiện, đàn áp người dân đòi quyền lợi chính đáng của mình, ngụy tạo bằng chứng để buộc tội người vô tội, gây căng thẳng đời sống xã hội.

Một nhà cầm quyền cai trị đất nước theo luật man di mọi rợ, tối tăm. Một nhà nước bị khuất phục và hèn hạ tôn thờ Trung cộng, càng ngày bị lệ thuộc ̣nặng nề, sớm muộn lãnh thổ cũng bị sáp nhập vào Trung cộng.

Dân tộc sẽ bị phân tán và triệt tiêu, bản đồ thế giới sẽ không còn tên nước Việt Nam.

.No automatic alt text available.

No automatic alt text available.
No automatic alt text available.

HÌNH ẢNH BÁO TRƯỚC TƯƠNG LAI

 
 
From facebook:Hoa Kim Ngo shared Trịnh Kim Tiến‘s post.
 

Trịnh Kim Tiến : Cái gốc của bất ổn xã hội nằm ở nhà cầm quyền chứ không phải ở người dân. Đừng nghĩ rằng cứ bắt nhốt hết những người bất đồng chính kiến, đàn áp thẳng tay những cuộc nổi dậy của dân tộc thiểu số hay dân oan mất đất là có thể bảo đảm một ngày mai yên bình tồn tại. Ở đâu có bất công, ở đó có đấu tranh, quan nhất thời nhưng dân thì vạn đại, đó là đạo lý xưa nay. Một nhà nước không lấy dân làm gốc thì sẽ không bao giờ tồn tại được với thời gian, điều này đã được chứng minh bởi vòng quay của lịch sử cả ngàn năm qua.
#dongtam #myduc

 
Image may contain: 3 people, people sitting

Trịnh Kim TiếnFollow

17 hrs ·

 

HÌNH ẢNH BÁO TRƯỚC TƯƠNG LAI

Tôi mong muốn đất nước thay đổi, nhưng cũng đôi lần khi đêm xuống, trong góc khuất của ánh mặt trời tôi sợ sự đổi thay. Không phải nỗi sợ như nhiều người đang sợ, sợ sự thay đổi sẽ phá vỡ sự bình yên vốn có của bản thân mà tôi sợ, sau sự biến đổi là một đống tro tàn, một hoang cảnh hỗn độn và chết chóc bởi bạo lực và súng ống cả 2 bên.

Nỗi sợ đó không chỉ riêng tôi mà của rất nhiều người, nhất là với những người đi theo chủ nghĩa Cộng Sản, nó là một cơn ác mộng của họ trong tương lai.

Thế nhưng điều gì đến cũng sẽ phải đến, đó sẽ là viễn cảnh ngày mai của đất nước này nếu như ngày hôm nay họ lựa chọn trung thành với đảng phái thay vì tình yêu với tổ Quốc và trách nhiệm với nhân dân.

Cái gốc của bất ổn xã hội nằm ở nhà cầm quyền chứ không phải ở người dân. Đừng nghĩ rằng cứ bắt nhốt hết những người bất đồng chính kiến, đàn áp thẳng tay những cuộc nổi dậy của dân tộc thiểu số hay dân oan mất đất là có thể bảo đảm một ngày mai yên bình tồn tại. Ở đâu có bất công, ở đó có đấu tranh, quan nhất thời nhưng dân thì vạn đại, đó là đạo lý xưa nay. Một nhà nước không lấy dân làm gốc thì sẽ không bao giờ tồn tại được với thời gian, điều này đã được chứng minh bởi vòng quay của lịch sử cả ngàn năm qua.

Hình ảnh: DLB, biến cố ở Mỹ Đức, Hà Nội, dân làng Đồng Tâm nổi dậy vì bị cướp đất. Bắt giữ 20 cơ động đòi đổi 10 người dân bị nhà cầm quyền đánh đập bắt giữ trong quá trình giữ đất và yêu cầu chính quyền trung ương xuống giải quyết công bằng cho dân.

Tìm hiểu thêm sự việc tại: https://m.facebook.com/story.php…

https://m.facebook.com/story.php…