httpv://www.youtube.com/watch?v=JUsW8VtkKDU&feature=youtu.be
P/V đặc biệt với nhà hoạt động Formosa đang bị truy nã | RFA Vietnamese News

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Tin Tức – Thế Giới , Việt Nam, Tin Hoa Kỳ
httpv://www.youtube.com/watch?v=JUsW8VtkKDU&feature=youtu.be
P/V đặc biệt với nhà hoạt động Formosa đang bị truy nã | RFA Vietnamese News
Đứa con hỏi cha rằng:
– Đất nước mình đã có chính phủ rồi, vì sao lại có thêm đảng, mà đảng lại có quyền hơn chính phủ? Quốc gia đã có một người đứng đầu là Chủ tịch nước rồi, vì sao lại có thêm một ông Tổng Bí thư đảng, mà Tổng Bí thư đảng lại quyền lực hơn ông Chủ tịch nước? Một tỉnh đã có ông Chủ tịch Ủy ban Nhân Dân tỉnh rồi, vì sao trên ông Chủ tịch này có ông Bí thư Tỉnh ủy? Trong quân đội sao cấp chỉ huy không có quyền hành mà phải thống thuộc Đảng ủy, chỉ huy chỉ biết thi hành mệnh lệnh, nhận chỉ thị, kế hoạch để điều hành đơn vị thực hiện; Đảng ủy lãnh đạo về mọi mặt, người chỉ huy chỉ có nhiệm vụ thi hành?
Về quân đội, tức là các lực lượng võ trang, để nắm chắc và giữ quyền độc tôn lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác lập cơ chế Đảng lãnh đạo quân đội ngay từ những tổ chức vũ trang đầu tiên: Tự vệ đỏ (xích vệ) trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931), các đội du kích Bắc Sơn, Nam Kỳ (1940), Cứu quốc quân (1941), Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (1944), Du kích Ba Tơ và Việt Nam Giải Phóng Quân (1945).
Tư Lệnh không có quyền, tiến thoái, đánh hay không đánh là do đảng ủy đơn vị quyết định! Cấp Sư đoàn có đảng bộ Sư đoàn gồm 15 đến 17 người chỉ huy bởi một Chính ủy.
Như vậy, để điều hành một đất nước, thay vì tiền thuế dân nuôi một công chức, nay lại phải nuôi thêm một quan chức nữa, nghĩa là cơ chế nặng gấp đôi và tốn phí cũng tăng gấp đôi. Dân nuôi đảng để đảng chỉ huy dân.
Người cha trả lời theo Hồ Chí Minh trong sách vở rằng: “Đảng ta là đảng cầm quyền, đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.” (Đầy tớ thì ở nhà lầu- cha con ông chủ gầm cầu sống chui.)
Theo lời Hồ Chí Minh thì “sau hàng chục năm lãnh đạo nhân dân làm cách mạng, chiến đấu vô cùng gian khổ, Đảng ta mới giành được chính quyền, mới trở thành Đảng cầm quyền.”
Theo lý luận ở đoạn trên thì “đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân,” như vậy đảng và dân là hai cá thể khác nhau, chiến đấu vô cùng gian khổ, nhân dân được chết, còn đảng thì cướp được chính quyền.
Tuy vậy, đảng Cộng sản có chủ trương lúc nào cũng đề cao dân, như “đảng là đầy tớ của nhân dân,” “nhân dân làm chủ,” “dễ trăm lần không dân cũng chịu- khó vạn lần dân liệu cũng xong!”
Sách vở ghi lại lời Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định dân là trên hết: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân.”
Nhưng chính quyền từ xã đến chính phủ trung ương chưa bao giờ do dân bầu ra. Chính phủ do Quốc Hội bầu ra, nhưng ứng cử viên Quốc hội là do “đảng cử dân bầu.” Tổng cộng danh sách chính thức ra tranh cử Đại biểu Quốc hội năm nay gồm 870 ứng viên, trong đó chỉ có 11 người tự ứng cử, không có người nào thuộc thành phần bất đồng chính kiến. Trong số 496 đại biểu được bầu, chỉ có 21 đại biểu là người ngoài đảng (chiếm 4,2%). Quốc hội khóa 14 có tỷ lệ đảng viên cao nhất từ trước đến nay.
18 ghế Ủy viên Bộ Chính trị và 200 ghế Ủy Uỷ Viên Trung ương đảng được chia cho các chức vụ quan trọng: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư, Phó Chủ tịch nước, Phó Thủ tướng, Phó Chủ tịch Quốc hội, Trưởng và một số Phó Trưởng ban các Ban của đảng, Bộ trưởng các bộ và chức vụ tương đương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Thứ trưởng Bộ Công an…
Đến nay, Đảng bộ Khối Các cơ quan Trung ương có 63 đảng bộ trực thuộc, trong đó có 34 đảng bộ cấp trên cơ sở, 29 đảng bộ cơ sở, với gần 5.500 chi bộ và hơn 6,5 vạn đảng viên, chưa kể con số 4,5 triệu đảng viên hiện có tại Việt Nam.
Điều 4 của Hiến pháp là “giấy phép độc quyền” cho Đảng cầm quyền lãnh đạo, không có một đảng phái nào khác được tồn tại. Ở Việt Nam, đảng Cộng Sản đứng trên cả chính phủ và Quốc hội. Lập pháp, hành pháp, tư pháp là một. Quốc hội, chính phủ, tòa án đều là công cụ của đảng. Quốc hội làm theo chỉ thị của đảng, chính phủ thi hành triệt để chính sách của đảng, tòa án xét xử người theo bản án có sẵn của đảng.
Đảng là tất cả, cấu kết với nhau thành ra một băng đảng nên đảng mới có câu: “Còn đảng, còn mình!” Quốc gia, đất nước là thứ yếu, nên thà mất nước nhưng không chịu để mất đảng!
Nguyên tắc của Cộng Sản là “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý và dân làm chủ!” Đảng lãnh đạo tức là người chỉ đường, rẽ phải rẽ trái, đi lên, chạy xuống là do đảng. Dân chỉ đi theo như con ngựa thồ kéo xe, bị bịt mắt, chỉ cho nhìn ra đằng trước. Mọi sự, tất cả vật chất, tài sản, tiền bạc đều do nhà nước quản lý, mà nhà nước là con sinh ra của đảng, Thủ tướng, Bộ trưởng, công an, quân đội… cũng là tay chân do đảng sinh ra. Chỉ còn một cái bánh vẽ nghìn đời sót lại dứ vào mồm dân, đó là cái quyền làm chủ…trên khẩu hiệu, diễn văn.
Đảng là ông Thủ trưởng chỉ đạo mọi thứ, có quyền hành. Nhà nước là anh thủ kho ôm trong tay của cải. Còn thằng dân trên danh nghĩa là chủ nhân của đất nước, không có tiền mà cũng không có quyền, lại bị bóc lột tận cùng. Ngân sách nhà nước đảng nắm. Nợ nần nhà nước dân lo, đời này trả không hết thì đến đời sau. Nếu dân phản kháng là phá hoại, là do thế lực thù địch phá hoại “thành quả” của đảng, sẽ có công bộc của dân (tức là cán bộ, công an) lập tức có mặt để đàn áp, vì công bộc của dân do đảng đẻ ra, có còng, có roi, có nhà tù, có quyền giết hay cho phép người dân ‘tự tử’ ngay trong đồn trại của mình.
Đã có trường hợp công an bắt dân xuống xe, quỳ xuống giữa đường và đánh đập, cũng như tài xế taxi bị đòn, phải quỳ gối giữa đường lạy vái công an. Nhìn lại thời nô lệ Pháp thuộc cũng chưa bao giờ có cảnh tượng như thế.
Bản báo cáo của Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam ghi nhận sự mâu thuẫn giữa Hiến pháp CSVN và sinh hoạt chính trị ở trong nước: “Hiến pháp nhà nước Việt Nam sau khi được sửa đổi, bổ sung có qui định rằng người dân có quyền tham gia quản lý nhà nước qua bầu cử và ứng cử, tự do ngôn luận, hội họp, lập hội và biểu tình. Tuy nhiên, cũng chính Điều 4 của Hiến Pháp lại khẳng định vai trò lãnh đạo tuyệt đối của đảng CSVN trong mọi sinh hoạt của đất nước.”
Chính ở sự mâu thuẫn này và ý đồ duy trì độc quyền chính trị bằng mọi giá mà tất cả những quy định về quyền chính trị được công nhận nơi Điều 20, Điều 21 trong Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Điều 21, Điều 22 trong Công ước Quốc tế về Quyền Dân Sự và Chính Trị mà Việt Nam cam kết tôn trọng đã bị triệt tiêu.
Xin hãy xem bảng vận động công dân đóng thuế treo đầy đường: “Nộp thuế để xây dựng và bảo vệ đảng!” À ra thế! Tóm lại đảng lãnh đạo, và đảng phải bám vào dân mới có cơm ăn. Dân hì hục đóng thuế để “vỗ béo” đảng. Tình đảng với dân như cá với nước. Cá không có nước thì cá chết. Nước không có cá, thì nước…khoẻ re!
Xin cầu nguyện cho một ngày Việt Nam không có đảng, như khẩu hiệu của dân oan biểu tình: “đảng Cộng Sản, chết đi!”

Dân Hà Nội mấy triệu người mà chỉ có mấy trăm đi biểu tình chống chặ̣t cây xanh.
Còn lại số đông bĩu môi, bảo «lũ rách việc, dở hơi». Một số lớn khác chửi «quân phản động».
Giờ Hà Nội nóng như thiêu đốt, nó có trừ ai không?
(FB Tan Tran)

Trang CNN vừa trích đăng tài liệu họ nói là của giới quân sự Hoa Kỳ giải mật cho thấy có bộ đội Quân Giải phóng “vừa cười vừa bắn người” trong cuộc trấn áp đêm 3 rạng sáng ngày 4/6/1989 ở Bắc Kinh.
Các tài liệu do Cục Tình báo Quân sự (DIA) ghi lại cũng mô tả bức tranh về sự dũng cảm của các bác sỹ ở bệnh viện tại thủ đô Trung Quốc đã tìm mọi cách cứu người bị thương và ngăn không cho người chết bị công an đem đi thiêu nhanh chóng.
Những bác sỹ được cho là đặc biệt dũng cảm làm việc tại Bệnh viện số 4 ở Bắc Kinh đã chụp cả hình nhiều xác chết với hy vọng giúp thân nhân nhận diện.
Các xác chết này thường bị công an Trung Quốc nhanh chóng đem vào nhà thiêu.
Con số người bị bắn chết tại Bắc Kinh đêm hôm đó được ước tính ít nhất là hàng trăm còn phe đấu tranh dân chủ Trung Quốc nói là ‘hàng nghìn’.
Xe tăng và bộ đội thuộc Quân đoàn 27 được điều vào thủ đô Trung Quốc để trấn áp và giải tán biểu tình của sinh viên, công nhân và trí thức kéo dài nhiều tuần tại Thiên An Môn.
Các tài liệu, gồm cả những gì Hoa Kỳ giải mật nhân dịp 25 năm vụ thảm sát, nói rằng bộ đội Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa đã “bắn vô tội vạ” vào người dân trên đường phố, bất kể họ là sinh viên hay không.

Những gì tình báo Hoa Kỳ ghi lại nói có “những lính Trung Quốc cười” khi nổ súng bắn người.
Vẫn trang CNN nói những gì tình báo Mỹ ghi lại có nhiều phần không chính xác vì đã thu lượm cả các tin đồn đoán trong thành phố Bắc Kinh khi đó mà sau đó hóa ra là sai như tin ‘lãnh tụ Đặng Tiểu Bình chết’.
Trên thực tế, ông Đặng chỉ qua đời vào tháng 2/1997.
Nhưng bức tranh mà các phần ghi âm của Hoa Kỳ giúp người ta dựng lại cho thấy nhiều chi tiết xảy ra sau đêm ngày 4/6 và sự hoảng sợ của ban lãnh đạo Trung Quốc.
Đó là chuyện “các lãnh đạo ở tịt trong biệt thự không ra ngoài sau nhiều ngày” vì sợ có chính biến.
Biển số xe của họ cũng được thay đổi, theo bài của phóng viên Hilary Whitemantrên trang CNN.
Ngoài ra, một chiến dịch truy bắt sinh viên ở các điểm kiểm soát quanh Bắc Kinh và cả ở sân bay quốc tế cũng được triển khai.
“Những ai trông giống sinh viên và trí thức” đều thuộc đối tượng bị xét hỏi.
Hoa Kỳ và Trung Quốc vẫn bất đồng về cách nhìn nhận vụ Thiên An Môn 25 năm về trước.
Hôm 5/6/2014, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho hay họ đã gửi lời than phiền tới Hoa Kỳ bày tỏ sự “bất bình sâu sắc” về cách Hoa Kỳ nêu quan điểm liên quan tới vụ Thiên An Môn.
Phát ngôn viên Bộ Ngoại giao TQ, ông Hồng Lỗi cho hay phía Trung Quốc đã lên tiếng một cách ‘long trọng nhất’ tới chính giới Mỹ.
Nước Mỹ trước đó đã đề nghị Trung Quốc “tính đủ số người biểu tình phản đối bị giết ở Thiên An Môn”.
Tại Trung Quốc nhân dịp kỷ niệm 25 năm vụ Thiên An Môn, đài báo chính thức không hề nói gì về vụ này.
Các cuộc tuần hành hoặc đốt nếu tưởng niệm nạn nhân Thiên An Môn chỉ được tổ chức ở Hong Kong, Đài Loan và các nơi có cộng đồng người Trung Quốc ở hải ngoại.
Còn theo biên tập viên chuyên về Trung Quốc của BBC, bà Carrie Gracie trong bài viết từ Bắc Kinh thì “sự lãng quên là cách để tồn tại” với người Trung Quốc khi động đến chủ đề Thiên An Môn
Theo bà Gracie, ngày nay nhìn lại, “Thiên An Môn là một phần của chu kỳ chính trị hy vọng và sợ hãi ở Trung Quốc,”
Tuy thế, từ sau 1989, “Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chú ý tìm hiểu dư luận” nhưng nếu phải làm điều tương tự một lần nữa như trấn áp ở Thiên An Môn, “có lẽ họ sẽ vẫn làm”, theo phóng viên BBC.
|
Chân dung Trần Trọng Kim năm 1953. Tư liệu của Trần Xuân Điền. Tính đến năm 2017, TRẦN TRỌNG KIM (1883-1953) đã từ trần được 64 năm. Ông là một học giả danh tiếng cùng thời với Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936), Phạm Quỳnh (1892-1945), cũng là một chính khách đáng kính trọng, xuất hiện trong khúc ngoặt của lịch sử dân tộc thập niên 40 thế kỷ trước. Nhưng ông đã không được văn đàn chính thống nhắc đến kể từ khi lìa trần đến nay. Vừa qua, nhà báo Huy Đức có làm một cuộc hành hương về tận quê hương Trần Trọng Kim ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh để tìm kiếm phần mộ của ông, nhân đó cho công bố trên mạng một số tài liệu quý mới sưu tầm được. Bauxite Việt Nam xin mượn lại những tài liệu này đăng lên trang nhà kèm theo những dòng Huy Đức viết, để tưởng nhớ một tài năng và một nhân cách trong lịch sử cận hiện đại Việt Nam mà chắc chắn các thế hệ sau sẽ còn nhiều dịp phải tiếp cận. Cùng chung một ý nguyện, GS Lê Xuân Khoa cư ngụ tại Hoa Kỳ có nhã ý gửi đến BVN một số trang viết về “Chính phủ Trần Trọng Kim” trích trong cuốn Việt Nam 1945-1995 của ông, công bố từ năm 2004, do báo Người Việt và Amazon mới tái bản. Được ông vui lòng cho phép, chúng tôi xin đăng trọn phần phân tích công phu, thỏa đáng kể trên vào tiếp sau những tài liệu thư tịch và ảnh mới phát hiện của Huy Đức, nhằm giúp soi tỏ lại việc đánh giá Trần Trọng Kim trong vai trò con người chính trị mà một thời vẫn bị ám ảnh bởi thành kiến sai lạc “Thủ tướng bù nhìn”. Cám ơn nhà báo Huy Đức, GS Lê Xuân Khoa và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc Bauxite Việt Nam |
Lời điếu của Quốc trưởng Bảo Đại do Đổng lí văn phòng đọc trong Tang lễ cụ Trần Trọng Kim.
Lời điếu của Quốc trưởng Bảo Đại do Đổng lí văn
phòng đọc trong Tang lễ cụ Trần Trọng Kim
QUỐC GIA VIỆT NAM
ĐỨC QUỐC TRƯỞNG
BẢO ĐẠI
Ông nguyên Thủ tướng,
Được tin Ông từ trần, lòng tôi thương cảm vô hạn. Vẫn biết tuổi Ông đã gọi là thọ; sự nghiệp văn hóa, chánh trị của Ông đã biểu dương một thân thế cao quý. Song tôi không khỏi ngậm ngùi nhớ rằng mới cách đây mấy hôm, tôi còn vui thấy Ông tinh thần vẫn tráng kiện, chí khí còn hăm hở, và tưởng rằng trong những ngày sắp tới là lúc Tổ quốc cần hết thảy những con dân tài đức như Ông, Ông tuy tuổi cao sức yếu, vẫn có thể phục vụ giang sơn như suốt cả cuộc đời tận tụy của Ông!
Lịch sử sẽ ghi thanh danh ông, thanh danh một nhà mô phạm biệt tài, một nhà văn học lỗi lạc, một nhà chí sỹ ái quốc. Và thân thế trong trắng của Ông đã làm gương cho kẻ đương thời sẽ làm gương cho lớp hậu thế.
Riêng đối với tôi, tôi không quên rằng trong những giai đoạn khó khăn của lịch sử, lúc nào Ông cũng sẵn sàng hăng hái làm người cộng sự đắc lực của tôi: nào khi Ông nhận đảm đương sứ mạng nặng nề điều khiển con thuyền quốc gia trong khi thế nước chông chênh; nào lúc tòng vong ở nơi hải ngoại khi tôi tranh đấu để mang lại cho dân tộc một hy vọng, một tin tưởng ở tương lai; nào buổi mới đây tuy tuổi đã ngoài 70 mà Ông còn hăng hái đứng lên đảm nhiệm trọng trách Chủ tịch hội nghị toàn quốc trong cuộc tường bày ý nguyện của dân tộc.
Ông thực đã xứng đáng với dân tộc. Ông quả đã xứng đáng với lòng tín cẩn của tôi.
Công trạng ấy tôi không quên.
Quốc dân cũng không quên. Lịch sử sẽ ghi công của người con ưu tú của đất nước.
Tin rằng hương hồn ông sẽ được tiêu diêu nơi cực lạc.
Bà nguyên Thủ tướng,
Tôi đề lời phân ưu cùng bà và toàn gia. Tôi mong rằng lòng tiếc thương của hết thảy quốc dân đối với cố Thủ tướng sẽ làm cho bà nhẹ bớt một phần nào nỗi đau đớn về dịp này và sự nghiệp lâu dài của cố Thủ tướng sẽ làm cho bà được cái an ủi rằng sự nghiệp ấy còn cũng như là người chí sỹ khuất núi vẫn còn!
.Viếng cụ Trần Trọng Kim
Huy Đức
Nhờ những người bạn ở Hà Tĩnh, hôm 24-5, tôi tìm đến được nơi đặt tro cốt cụ Trần Trọng Kim ở tổ đình Vĩnh Nghiêm [Sài Gòn] và hôm qua, 25-5, tôi gặp được bác Trần Xuân Điền, cháu đời thứ 3 của cụ Trần Trọng Kim ở Đan Phổ, Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
Lịch sử không có chữ NẾU. Nhưng, đôi khi tôi vẫn cứ không cầm lòng được, suy nghĩ vẩn vơ, Việt Nam sẽ ra sao, nếu từ tháng 8-1945 vẫn là “Chính phủ Trần Trọng Kim”…
Trong năm 1945, người Việt có hai tuyên bố độc lập: Ngày 11-3, Triều đình Huế tuyên bố hủy bỏ Hòa ước Patenôtre ký với Pháp năm 1884, khôi phục chủ quyền Việt Nam; Ngày 2-9, tại Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập.
Độc lập không thật sự đến với Việt Nam vào tháng 3 cũng như vào tháng 9-1945.
Chỉ có Chính phủ Hồ Chí Minh, vào lúc ấy, mới chủ trương và có khả năng kháng chiến và thắng thế của Mao Trạch Đông trong cuộc nội chiến 1949 đã giúp những người cộng sản giành chiến thắng Điện Biên Phủ, dẫn tới Hiệp định Geneva 1954, chia cắt đất nước. Cuộc chiến tranh thống nhất VN kéo dài tới năm 1975; cuộc chiến tranh người Việt chống lại Khmer Đỏ (có bàn tay Bắc Kinh đâm sau lưng) và chống lại chính quân Trung Quốc xâm lược kéo dài tới 1989.
Chính phủ Trần Trọng Kim và những người theo chủ nghĩa quốc gia như ông chỉ có thể đòi độc lập thông qua đấu tranh chính trị và chủ yếu nhờ bàn cờ chính trị thay đổi sau Thế chiến thứ II (Ở Đông Dương, người Pháp trả độc lập cho Sihanouk 1953). Chính phủ Trần Trọng Kim, nếu lãnh đạo một VN sau độc lập, sẽ rất kỹ trị và chắc chắn sẽ kế thừa những di sản (vật thể hay phi vật thể) của người Pháp.
Từ lâu, tôi vẫn muốn thắp một nén nhang viếng tác giả của Nho giáo, Việt Nam sử lược, Truyện Thúy Kiều… Theo hướng dẫn của bạn bè tôi đã về Đan Phổ và Thạch Kim, nơi có những người cháu gọi Cụ Lệ Thần bằng chú.
Tháng Tư năm nay, khi cùng anh Le Hai & Trương Duy Nhất về Đan Phổ, người làng đã dẫn ra khu mộ gia đình họ Trần và khẳng định, “Ông Thủ tướng bù nhìn nằm ở đây”, nhưng chúng tôi không tìm thấy tên Cụ. Về sau mới biết, tin nói cụ được an táng ở quê là không đúng.
Sinh ra trong một gia đình dòng dõi, cha là Trần Bá Huân (1838-1894) từng là một văn thân tham gia phong trào Cần Vương. Trần Trọng Kim mất cha năm 9 tuổi, mất mẹ năm 10 tuổi, anh ruột là Trần Bá Hoan nuôi được mấy năm, do quá túng quẫn phải đưa hai em, Trần Trọng Kim và Trần Thị Liên, cho nhà khác làm con nuôi. Hai không gian giáo dục sau đó đã đưa Kim và Liên đi theo hai con đường rất xa nhau. Người em theo phong trào cộng sản từ năm 1930, 1931, trở thành Chủ tịch Hội Phụ nữ tỉnh Nghệ An (mất năm 1964). Người anh được cha nuôi cho ăn học, trở thành một học giả, một người có tinh thần quốc gia, dân tộc.
Năm 1953, sau khi chủ trì Hội nghị Hội đồng toàn quốc, tuyên bố Việt Nam ra khỏi Liên hiệp Pháp, cụ Trần Trọng Kim được Quốc trưởng Bảo Đại mời lên Đà Lạt. Sau mấy tuần nghỉ ngơi, không hề có biểu hiện đau ốm, cụ ra đi nhẹ nhàng sau một giấc ngủ trưa vào ngày 26 tháng Mười Âm lịch. Quốc trưởng Bảo Đại cho máy bay đưa thi hài Cụ ra an táng tại nghĩa trang Cầu Giấy, Hà Nội.
Năm 1987, Luật sư Phan Anh cho mời thân nhân của cụ từ Sài Gòn, từ Pháp về. Chúng tôi chưa rõ từ đề nghị của ai mà ngay trong dịp này Cụ được cải tảng, hỏa thiêu tại chỗ và tro cốt được mang vào gửi tại chùa Vĩnh Nghiêm.
Cụ bà, Bùi Thị Tuất – em gái cụ Bùi Kỷ, sinh sống ở Sài Gòn cho tới năm 1991. Con gái của hai người, bà Trần Diệu Chương, sinh sống ở Pháp, hàng năm vẫn viết thư về cho bác Trần Xuân Điền nhưng không hiểu sao từ hai năm nay ông Điền không còn nhận được thư của bà Diệu Chương nữa (Bà cũng đã ở tuổi gần 90). Những bức thư của bà Diệu Chương không chỉ là để nối tình thân với họ hàng mà còn như muốn để lại những bằng chứng lịch sử về một nhân vật mà chắc chắn rồi đây sẽ được nhìn nhận lại.
H.Đ.
Cụ bà Bùi Thị Tuất – Phu nhân Trần Trọng Kim
Tro cốt học giả Trần Trọng Kim đang gửi tại chùa Vĩnh Nghiêm
(đặt trên giá chung như một người vô danh)
Bốn ngôi mộ trong nghĩa trang gia đình: phía sau là phần mộ song thân: cụ Trần Bá Huân (1838-1894), cụ Nguyễn Thị Nhị và phần mộ người anh Trần Bá Hoan và chị dâu, Lê Thị Vy (1884-1956).
.
Bà Trần Diệu Chương, con gái cụ Trần Trọng Kim, và người chồng Pháp.
Ông Trần Xuân Điền, cháu đời thứ 3, người đang lưu giữ nhiều tư liệu quý về cụ Trần Trọng Kim
.
Nhà báo Huy Đức và Ông Trần Xuân Điền. Tễu Blog chú thích ảnh.
Cô Ánh, cháu dâu của bác Trần Xuân Điền, công chức văn hóa xã Đan Phổ
.
Hàng năm, bà Trần Diệu Chương đều có thư về VN.
Bút tích của bà Diệu Chương gửi ông Điền
.
Những dòng chữ ghi sau bức chân dung cụ Trần Trọng Kim chụp 1953
Lê Xuân Khoa
… Đến đây cần nói thêm về vai trò của Chính phủ Trần Trọng Kim trong một giai đoạn rất ngắn nhưng đầy biến cố, đánh dấu một khúc ngoặt quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Sau ngày đảo chính Pháp trên toàn cõi Ðông Dương (9.3.45), Nhật hứa hẹn với Hoàng đế Bảo Ðại sẽ để cho Việt Nam được độc lập. Ngày 17 tháng Tư, mười ngày sau khi được Bảo Ðại yêu cầu, Trần Trọng Kim, một nhà giáo dục và học giả có uy tín, trình diện Chính phủ do ông cầm đầu gồm mười Bộ trưởng, tất cả đều là trí thức giàu lòng yêu nước nhưng thiếu kinh nghiệm chính trị. Việt minh lập tức công kích Chính phủ Trần Trọng Kim là “Chính phủ bù nhìn” và nền độc lập mà Nhật hứa hẹn là “độc lập bánh vẽ”. Quan điểm chính trị này đã được nhiều tác giả ngoại quốc mặc nhiên chấp nhận. Ðến nay, hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, giai đoạn lịch sử này cần được xem xét lại một cách bình tĩnh và khách quan hơn.
Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời trong một hoàn cảnh rất tình cờ của lịch sử, không do kết quả tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của một đảng phái hay một phong trào chính trị nào. Sau gần một thế kỷ bị Pháp đô hộ, lần đầu tiên nước Việt Nam được độc lập (dù mới chỉ một phần) mà không phải hi sinh xương máu. Sau khi nước Pháp bị Ðức chiếm đóng vào tháng Sáu 1940 và Toàn quyền Decoux phải nhường cho Nhật quyền làm chủ về quân sự ở Ðông Dương vào tháng Chín, thì uy tín và quyền thế của Pháp bị sụp đổ mau chóng đối với các xứ thuộc địa ở Ðông Dương. Các đảng phái chính trị Việt Nam bỗng thấy có động lực mới và thời cơ hoạt động để đòi lại độc lập cho đất nước. Trừ những lãnh tụ chính trị đã lưu vong ở Trung Hoa và đang hợp tác với Chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch để chống Nhật – kể cả Hồ Chí Minh – hầu hết các lãnh tụ chính trị và trí thức ở trong nước đều muốn dựa vào thế lực của Nhật để loại trừ Pháp ra khỏi Ðông Dương. Tổ chức có triển vọng nhất lúc bấy giờ là Việt Nam Phục quốc đồng minh hội do Hoàng thân Cường Ðể thành lập ở Nhật (thường được gọi là Nhóm Phục quốc) đã từng tổ chức lực lượng quân sự mang tên là Việt Nam Kiến quốc quân đi theo quân đội Thiên hoàng về đánh Pháp ở trận Lạng Sơn ngày 23.9.1940. Một số lãnh tụ, trong đó có Ngô Ðình Diệm, từ lâu đã liên lạc với Nhóm Phục quốc để mưu đồ chống Pháp, có nhiều hi vọng sẽ được Nhật ủng hộ thành lập chính quyền trong truờng hợp Pháp bị lật đổ.
Tuy nhiên, vì còn bận chiến đấu với quân đội Ðồng minh, mục đích trước mắt của Nhật là sử dụng Ðông Dương vào mục tiêu quân sự, nên Nhật đã bằng lòng để cho Pháp tiếp tục cai trị về mặt hành chánh. Năm 1944, Nhật bắt đầu nghĩ đến việc loại bỏ Pháp để phòng ngừa việc Pháp có thể làm hậu thuẫn cho liên quân Anh-Mỹ vì mặt trận đã được mở rộng sang vùng Ðông Nam Á. Mặt khác, giải phóng cho các nước Ðông Dương khỏi bị lệ thuộc vào nước Pháp cũng sẽ giúp cho Nhật củng cố được ảnh hưởng và thế lực của “khối Ðại Ðông Á” mà Nhật muốn lãnh đạo để chống lại khối Tây phương. Sau khi lật đổ chính quyền Pháp trên toàn cõi Ðông Dương (9.3.1945), Nhật duy trì Hoàng đế Bảo Ðại và hứa hẹn sẽ để cho Việt Nam được độc lập. Bảo Ðại cũng không ngờ rằng Nhật lại để ông tiếp tục làm vua thay vì đưa Hoàng thân Cường Ðể về nước cầm quyền. Ông đã hỏi Ðại sứ Marc Masayuki Yokohama về chuyện này và nói: “Tôi gắn bó với dân tộc tôi chứ không phải với ngai vàng”. Nhưng Ðại sứ Nhật đã trả lời: “Những người gieo mầm không phải là người gặt hái kết quả”. Ðiều đó cho thấy lý do Nhật không ủng hộ Cường Ðể vì không tiện lập một Chính phủ Việt Nam tuy chống Pháp nhưng thân Nhật, trong khi Bảo Ðại không phải là người của Nhật và có thể được dân chúng tin tưởng nếu ông chống lại mưu toan của Pháp trở lại Việt Nam. Người chuẩn bị cho Cường Ðể trở về thay thế Bảo Ðại và cho Ngô Ðình Diệm làm Thủ tướng là Trung tá tình báo Hayashi Hidezumi. Vào giữa năm 1944, tin đồn về chuyện này được lan truyền trong các giới chính trị khá lộ liễu đến nỗi, để tránh cho Ngô Ðình Diệm khỏi bị Mật thám Pháp lùng bắt, Nhật phải cải trang cho ông Diệm thành một sĩ quan Nhật và đưa ông từ Huế vào Sài Gòn ẩn náu trong một nhà thương quân đội Nhật. Ðến tháng Giêng 1945, hai tháng trước ngày đảo chánh, Tổng tư lệnh Nhật Tsuchihashi Yuichi quyết định không dùng lá bài Cường Ðể nữa [1].
Ðến đây cũng cần nói đến trường hợp của Phạm Quỳnh, Ngự tiền Văn phòng (tương đương với chức Thủ tướng) của Bảo Ðại. Chính phủ Nhật giữ Bảo Ðại nhưng không muốn giữ Phạm Quỳnh vì ông là người bị coi là thân Pháp. Thật ra, Phạm Quỳnh là một học giả yêu nước nhưng cũng là một nhà chính trị ôn hòa, chủ trương rằng Việt Nam thời đó không thể chống nổi Pháp nên cần phải học hỏi văn minh Tây phương qua văn hóa Pháp để dần dần đòi lại quyền tự chủ. Trong một bản phúc trình cho nhà cầm quyền Pháp ở Huế sau ngày Nhật đầu hàng Ðồng minh, Ðại sứ Yokohama thuật lại buổi yết kiến vua Bảo Ðại để báo tin việc chính phủ Nhật đảo chính Pháp ở Ðông Dương và trao trả độc lập cho Việt Nam. Phạm Quỳnh hiện diện trong buổi tiếp kiến này yêu cầu Nhật Bản thừa nhận nền độc lập của Việt Nam một cách chính thức vì Pháp đã bị tước quyền bảo hộ. Ông nhấn mạnh rằng: “Ðể chúng tôi có thể hợp tác hữu hiệu với Nhật Bản, chúng tôi cần phải có được sự ủng hộ của toàn thể nhân dân, và để đạt được điều đó, uy tín của Chính phủ chúng tôi cần phải được tăng cường bằng một hành động long trọng tuyên cáo độc lập”. Yokohama trả lời rằng việc tuyên cáo độc lập để chứng tỏ chủ quyền là hành động nội bộ mà “Ngài có tự do tuyệt đối để hành động theo sự phán xét của Chính phủ Ngài”. Tuy nhiên, Yokohama lại cho biết là vì muốn sớm vãn hồi an ninh và trật tự và “bảo vệ xứ này chống lại cuộc xâm lăng của quân địch trong tương lai”, Bộ Tư lệnh quân đội Nhật “mong muốn rằng hiện trạng chính trị và hành chánh được duy trì nhiều chừng nào hay chừng nấy” [2].
Những lý do trên cho thấy tại sao Nhật không mời Phạm Quỳnh cũng như không mời Ngô Ðình Diệm là những người có kinh nghiệm về chính quyền mà lại mời Trần Trọng Kim, một trí thức không đảng phái, tuy nhiệt tâm yêu nước nhưng không phải là một người làm cách mạng (Xem thêm chương 10 về lý do Ngô Ðình Diệm không được mời, hay được mời nhưng không nhận). Ðối với Trần Trọng Kim, đây là một chuyện rất bất ngờ mà chỉ sau khi gặp Bảo Ðại lần thứ hai, sau mười ngày trì hoãn, ông mới nhận trách nhiệm thành lập Chính phủ. Bảo Ðại thúc giục ông: “Trước kia, người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có Chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một Chính phủ để lo việc nước” [3].
Chính phủ Trần Trọng Kim thường không được nhắc nhở đến trong lịch sử tranh đấu giành độc lập cho dân tộc, hoặc nếu có thì cũng chỉ được coi như một Chính phủ chuyển tiếp trong một thời gian ngắn ngủi không có thành tích gì đáng kể. Việt minh thì dứt khoát lên án Chính phủ Kim là “bù nhìn” do Nhật tạo ra và chỉ đem lại cho Việt Nam một nền “độc lập bánh vẽ”. Nhiều nhà lãnh đạo chính trị và tác giả ngoại quốc cũng đồng ý một cách thiếu thận trọng như thế. Ðến nay, hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, giai đoạn lịch sử này cần được xem xét lại một cách khách quan về tính chất chính đáng của Chính phủ ấy.
Trần Trọng Kim thành lập Chính phủ trong tình trạng độc lập nửa vời vì chưa được trao trả trọn vẹn chủ quyền và lãnh thổ, nhưng như lời nhận định nêu trên của Bảo Ðại, đây là một cơ hội để cho Việt Nam có thể chuẩn bị đầy đủ khả năng nhận lãnh hay đòi hỏi độc lập hoàn toàn. Nếu không nắm lấy cơ hội này, Việt Nam không tránh khỏi tình trạng bị quân phiệt Nhật thay thế Pháp cai trị một cách khắt khe trong những điều kiện của chiến tranh chống quân đội Ðồng minh. Luật sư Trịnh Ðình Thảo, sau này là Chủ tịch của Liên minh Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình (LMDTDCHB) trong hệ thống Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (MTGPMN), cho biết Trần Trọng Kim “không tin ở sự thành thật của nhà cầm quyền người Nhật và lo ngại bị lôi cuốn vào những biến cố có hại cho tương lai của xứ sở”, nhưng ông Thảo đã thuyết phục được ông Kim nhận lời yêu cầu của Bảo Ðại với lý do “phải gấp rút thành lập Chính phủ Việt Nam độc lập để đặt các Lực lượng Ðồng minh, nhất là Pháp, trước một tình trạng pháp lý không thể đảo ngược bằng lời tuyên cáo hủy bỏ những hiệp ước Bảo hộ năm 1862 và 1874, tuyên cáo nước Việt Nam độc lập và thống nhất” [4].
Luật sư Thảo cũng cho biết một chuyện đáng lưu ý khác là Trần Trọng Kim đã được một chính khách Thái Lan chia sẻ kinh nghiệm “bắt cá hai tay” (jouer sur les deux tableaux) để có thể tồn tại của Thái Lan. Nhân vật này là Pridi Banomyong, cựu Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Thái Lan, vốn là bạn cùng lớp rất thân của Luật sư Dương Văn Giáo tại Ðại học Luật khoa Paris và khi làm Bộ trưởng đã mời Luật sư Giáo làm cố vấn chính trị. Khi đó Chính phủ Thái Lan do Thống chế Phibul Songram cầm đầu, bắt buộc phải thân Nhật lúc đó đang có 50,000 quân trú đóng ở Thái Lan. Pridi Banomyong khi đó phải sang Sài Gòn để hoạt động cho vai trò trung lập của Thái Lan. Trong thời gian này ông được Dương Văn Giáo giới thiệu với Trịnh Ðình Thảo. Pridi cho hay trong khi Phibul Songram đi với Nhật thì một số chính trị gia Thái ở Anh và Mỹ hợp tác với Ðồng minh để tránh cho Thái Lan bị liệt vào phe thua trận khi chiến tranh chấm dứt. Những chính khách lưu vong này thành lập một Chính phủ trừ bị để, khi cần thiết, sẵn sàng thay thế Chính phủ Phibul Songram và được Ðồng minh thừa nhận. Lời khuyên của Pridi Banomyong cho Trần Trọng Kim là “hãy nắm lấy độc lập mà không theo Nhật” [5].
Ngoài hoàn cảnh khó khăn về chính trị, đất nước lại đang gặp phải tình trạng nguy ngập về kinh tế: nạn đói đang hoành hành, các thành phố và trục lộ giao thông đường bộ, đường biển từ Nam ra Bắc bị phi cơ và hạm đội Ðồng minh oanh tạc hay thả mìn. Bộ trưởng Xã hội của Chính phủ Kim, Bác sĩ Vũ Ngọc Anh, bị thiệt mạng trong một vụ oanh tạc này. Các cơ sở chính quyền còn ở trong tình trạng giao thời, quân đội chưa thành lập, và guồng máy hành chánh do Pháp để lại chỉ là những thuộc cấp mà hầu hết là “những tham quan ô lại chỉ quen sự thi hành mệnh lệnh của người Pháp, chứ không mấy người có đủ tư cách làm người công chức một nước tự chủ” [6].
Chính phủ Trần Trọng Kim ra đời trong những điều kiện khó khăn về chính trị, an ninh và kinh tế như vậy. Trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Nội các, bên cạnh công tác khẩn cấp cứu trợ nạn đói ở miền Bắc đã làm ngót hai triệu người thiệt mạng, Chính phủ Trần Trọng Kim đã ấn định một chương trình sáu điểm:
1. Chuyển giao tất cả các cơ sở hành chánh cho các viên chức Việt Nam.
2. Thâu hồi đất Nam kỳ và các nhượng địa đã dành cho Pháp.
3. Ân xá toàn thể các phạm nhân chính trị.
4. Cho phép thành lập các đảng phái chính trị.
5. Miễn thuế cho công chức, thợ thuyền và dân nghèo.
6. Thiết lập các Uỷ ban Tư vấn Quốc gia để soạn thảo Hiến pháp và nghiên cứu cải tổ chính trị, hành chánh và giáo dục [7].
Chỉ trong thời gian ngắn ngủi bốn tháng (17.4-16.8) Chính phủ Kim đã thực hiện được gần hết chương trình này. Kết quả có thể được tóm tắt như sau:
Cứu đói: Bộ Tiếp tế do Bác sĩ Nguyễn Hữu Thi cầm đầu nỗ lực điều động việc vận tải thóc gạo từ Nam ra Bắc. Lúc này, Pháp đã mất khả năng ngăn cấm việc tiếp tế gạo và, nhờ sự can thiệp của Chính phủ Kim, giới quân phiệt Nhật cũng không còn thi hành chính sách độc đoán về sản xuất nông phẩm. Tuy nhiên, công việc chuyên chở gạo vô cùng khó khăn vì những hoạt động quân sự của Hoa Kỳ nhằm cắt đứt trục giao thông và chuyển vận của Nhật. Không quân Mỹ oanh tạc thường xuyên đường xe lửa và đường bộ trong khi hải quân phong tỏa đường biển bằng thủy lôi. Nhiều đoàn thuyền buồm còn bị nạn hải tặc chặn cướp khiến cho gạo tiếp tế bị thiếu hụt trầm trọng. Nếu không nhờ sự thành lập Tổng hội Cứu tế nạn đói để phối hợp hoạt động với những hội chẩn tế và những đoàn thanh niên cứu đói trên toàn quốc thì số người chết vì nạn đói còn cao hơn nữa.
Chủ quyền: Ðể biểu hiệu cho sự thống nhất ba miền lãnh thổ, quốc hiệu “Việt Nam” chính thức thay thế cho quốc hiệu “An Nam” đang được sử dụng. Mặc dù hứa hẹn cho Việt Nam độc lập, Nhật vẫn giữ lại ba thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Ðà Nẵng là nhượng địa dành cho Pháp, và toàn thể Nam Bộ là thuộc địa của Pháp. Ngày 3 tháng Bảy, Chính phủ Kim thâu hồi được ba thành phố nhượng địa, nhưng cuộc điều đình về vấn đề Nam Bộ không có kết quả. Ngày 1 tháng Tám, Thủ tướng Kim phải đích thân từ kinh đô Huế ra Hà Nội gặp Tổng tư lệnh Tsuchihashi Yuitsu, không những yêu cầu trả ngay phần còn lại của lãnh thổ mà còn đòi luôn các công sở thuộc về Phủ Toàn quyền Pháp khi trước. Tất cả những đòi hỏi này đều được Tsuchihashi chấp thuận, và hai bên ấn định ngày trao trả Nam Bộ là 8 tháng Tám và ngày trao trả các công sở là một tuần sau đó. Cũng trong dịp gặp Tsuchihashi, Trần Trọng Kim đã được Nhật đồng ý chuyển giao lại các binh sĩ Việt Nam, cung cấp bốn ngàn khẩu súng mới và đạn dược để tổ chức đội quân Bảo an.
Cải tổ: Vốn là một nhà giáo dục, Trần Trọng Kim rất chú trọng đến việc cải tổ hệ thống giáo dục, bắt đầu bằng việc sử dụng tiếng Việt làm ngôn ngữ giảng dạy. Hoàng Xuân Hãn, Bộ trưởng Giáo dục, không những là một nhà khoa học mà còn là một học giả uyên bác, đã hoạch định xây dựng một nền quốc học trên cơ sở dân tộc và tiến bộ, nhưng chưa kịp thi hành trong một nhiệm kỳ quá ngắn ngủi. Hệ thống và chương trình Trung học do ông soạn thảo [8] đã được các chính phủ quốc gia tiếp tục áp dụng với đôi chút sửa đổi trong nhiều năm về sau.
Về tư pháp, do đề nghị của Bộ trưởng Tư pháp Trịnh Ðình Thảo, Thủ tướng Kim ký nghị định ân xá ngày 2 tháng Năm với lệnh “Thả ngay tất cả các tù nhân chính trị” và ngày 8 tháng Năm thành lập Ủy ban Soạn thảo Hiến pháp trên căn bản thống nhất xứ sở, các quyền tự do chính trị, tôn giáo và nghiệp đoàn [9]. Ngoài ra, miễn hay giảm mười ba hạng thuế đã được thi hành dưới thời Pháp và Nhật.
Chính trị: Với chủ trương “hợp nhất tất cả các phần tử quốc dân để củng cố độc lập của quốc gia và gây mạnh cái tinh thần yêu nước trong mọi giai tầng xã hội” [10], Chính phủ Kim đã động viên được tinh thần yêu nước của toàn dân qua việc tổ chức lần đầu tiên sau thời Pháp thuộc những buổi lễ vinh danh các anh hùng dân tộc đã chiến thắng quân xâm lược và những nhà cách mạng đã hi sinh cho Tổ quốc, thay đổi tên đường phố và triệt hạ những tượng đài biểu thị nền đô hộ của Pháp. Sôi nổi nhất là phong trào Thanh niên Tiền tuyến do Bộ trưởng Phan Anh phát động và khuyến khích thanh niên sinh viên tham gia các sinh hoạt chính trị, văn hóa, xã hội. Những đoàn thể thanh niên này cũng như Tổng hội Sinh viên là những nơi được Việt minh len lỏi vào và lôi cuốn được nhiều người yêu nước đi theo. Ngoài ra, Chính phủ Kim cũng thực hiện tinh thần hoà giải và đoàn kết dân tộc, không phân biệt đảng phái, không chỉ bằng việc thả hết các chính trị phạm và kêu gọi họ hợp tác, mà còn can thiệp với Nhật để cho các thanh niên bị bắt về tội theo Việt minh chống Nhật cũng được phóng thích.
Những kết quả trên đây cho thấy Nội các Trần Trọng Kim, dù không phải là những chính trị gia có thành tích và kinh nghiệm, đều là những nhà trí thức nhiệt tình với đất nước, hết lòng phục vụ cho quyền lợi chung của dân tộc, không tham nhũng, không chia rẽ bè phái, không tham quyền cố vị. Trước tình thế rối ren của Cách mạng tháng Tám, Thủ tướng Kim được quân đội Nhật cho biết họ “còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân đội Ðồng minh đến thay” [11], nhưng ông đã từ chối yêu cầu Nhật bảo vệ Chính phủ và duy trì trật tự vì muốn tránh đổ máu và rối loạn. Trước đó, trong chuyến đi ra Hà Nội để điều đình với Tổng tư lệnh Nhật Tsuchihashi Yuitsu để lấy lại Nam Kỳ và các cơ sở chủ quyền còn lại, Trần Trọng Kim đã tìm hiểu kỹ lưỡng về Mặt trận Việt minh đang gây thanh thế ở miền Bắc. Ông nhận định rằng “Ðảng Việt minh cộng sản có tổ chức rất chu mật và theo đúng phương pháp khoa học. Trong khi ông Hồ Chí Minh ở bên Tàu để chờ đợi thời cơ, ở trong nước đâu đâu cũng có cán bộ, ngấm ngầm hành động và tuyên truyền rất khôn khéo. Họ lợi dụng lòng ái quốc của dân chúng mà tuyên truyền Việt minh không phải là đảng cộng sản, chỉ là một mặt trận gồm tất cả các đảng phái lấy lại [giành] độc lập cho nước nhà, vậy nên từ Bắc chí Nam ở đâu cũng có người theo… Ðảng viên cộng sản lại biết giữ kỷ luật rất nghiêm và rất chịu khó làm việc. Xem như Hội Truyền bá quốc ngữ khi mới lập thành ở Hà Nội là có ngay những người cộng sản vào hội rồi, và những người nhận việc đi dạy học rất chăm, không quản công lao gì cả. Một tổ chức có kỷ luật và chịu khó làm việc như thế, làm gì mà không mạnh” [12] Chín.vị Khâm sai miền Bắc là Phan Kế Toại và một số Bộ trưởng trong Chính phủ Kim cũng bắt đầu có thiện cảm với Việt minh.
So sánh một lực lượng cách mạng đã hoạt động lâu năm có ảnh hưởng trong quần chúng và đang có thời cơ với một Chính phủ trí thức yêu nước nhưng mới ra đời được bốn tháng, chưa có đủ quyền hành, chưa kịp có quân đội, Trần Trọng Kim đã quyết định đúng khi ông không nhờ quân đội Nhật can thiệp, một quân đội lúc đó đã mất hết tinh thần đang chờ bị tước khí giới và giam giữ. Ông đã thực hiện phương châm “khả hành khả chỉ” trong chính trị học Khổng giáo để biết “lúc nào nên làm, lúc nào nên thôi”. Bởi vậy, sau khi giành được chính quyền, Mặt trận Việt minh đã không những không bắt bớ hay trả thù một người nào trong Chính phủ Kim mà còn lôi cuốn được một số Bộ trưởng gia nhập mặt trận kháng chiến chống Pháp, mặc dù trước đó đã lên án Chính phủ này là “bù nhìn” và “Việt gian”. Chính phủ Kim mang tiếng là thân Nhật, nhưng thật ra chỉ là lợi dụng cơ hội Nhật đảo chánh Pháp để nắm lấy quyền cai trị nhằm dần dần phục hồi độc lập hoàn toàn cho dân tộc. Ðó là phương cách thực tế và khôn ngoan nhất mà bất cứ một chính trị gia sáng suốt nào, kể cả Hồ Chí Minh, cũng sẽ chọn lựa vào lúc đó. Khoảng tháng Sáu 1945, khi Thủ tướng Kim gặp Tổng tư lệnh Tsuchihashi để yêu cầu Nhật dứt khoát trả lại ba tỉnh Hà Nội, Hải Phòng, Ðà Nẵng và toàn bộ đất Nam kỳ cho Việt Nam, ông đã nói, “Quân đội Nhật đã đánh quân đội Pháp và công nhiên hứa hẹn trả quyền tự chủ cho nước Việt Nam. Bởi vậy tôi không quản tuổi già và sự khó khăn của hoàn cảnh mà đứng ra lập Chính phủ. Tôi làm việc một lòng giúp nước tôi, cũng như các ông lo việc giúp nước Nhật… Nếu các ông cho tôi là người làm việc cho nước Nhật, việc ấy không phải là phận sự của tôi, tôi sẵn lòng xin lui” [13]. Chỉ tiếc rằng vài tháng sau, lúc gần đạt được mục tiêu thì Chính phủ Kim phải ra đi, tiếp theo đó là một thời kỳ lịch sử đầy máu và nước mắt.
Nhiều người trách Chính phủ Trần Trọng Kim là nhu nhược, không dám đối phó với Việt minh sau ngày 19.8.1945 mặc dù nhà cầm quyền Nhật đã báo cho Thủ tướng Kim biết là “Quân đội Nhật còn trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi quân Ðồng minh đến thay” [14]. Thật ra, quyết định của Bảo Ðại và Trần Trọng Kim không nhờ Nhật can thiệp là đúng vì ba lý do chính:
1. Quân đội Nhật đã đầu hàng. Không có một lý do hay động lực nào khiến họ thấy cần phải chiến đấu để bảo vệ một Chính phủ địa phương đang thất thế. Trách nhiệm “giữ trật tự” của quân đội Nhật sẽ chỉ có hiệu lực lúc đầu và họ sẽ phải nhượng bộ hoặc xung đột với cao trào đòi độc lập của những đoàn thể thanh niên, sinh viên và dân chúng do Việt minh tổ chức. Thời gian “giữ trật tự” để chờ quân đội Ðồng minh lại rất ngắn (khoảng hai tuần lễ) và Chính phủ Trần Trọng Kim sẽ không thể chối bỏ được trách nhiệm về những cuộc đổ máu của dân Việt Nam do quân Nhật gây ra.
2. Việt minh đã thành công lớn trong chiến dịch tuyên truyền là được sự ủng hộ của Hoa Kỳ. Những lời tuyên bố của Tổng thống Roosevelt chỉ trích chế độ thực dân của Pháp, sự thành lập “bộ đội Việt-Mỹ” từ chiến khu Tân Trào với sự hiện diện của các sĩ quan OSS, và tấm hình tướng “Cọp Bay” Chennault ký tặng Hồ Chí Minh ở Côn Minh đã được Việt minh sử dụng và thuyết phục được đại đa số nhân dân ủng hộ. Luật sư Trịnh Ðình Thảo, Bộ trưởng Tư pháp trong Chính phủ Kim, còn được tin là “Đại úy Landsdale, phụ tá của Thiếu tá Archimedes Patti, Trưởng đoàn OSS ở vùng Ðông Nam Á… thay vì tiếp tế cho những nhóm quân của Pháp còn đang chiến đấu (chống Nhật) trong rừng miền biên giới, lại thả dù vũ khí và đạn dược xuống cho Việt minh để trang bị cho một Tiểu đoàn đầu tiên, và phái Aaron Bank tới huấn luyện cho bộ đội của Hồ Chí Minh” [15].
3. Việt Minh đã chiếm được các cơ sở chính quyền, Hồ Chí Minh đã thành lập Chính phủ lâm thời, Khâm sai Bắc Bộ là Phan Kế Toại đã từ chức, đoàn Thanh niên Tiền tuyến và lính Bảo an nhiều người đã đi theo Việt minh. Thư của Bảo Ðại gửi cho Truman và de Gaulle kêu gọi ủng hộ chính nghĩa quốc gia đều không được trả lời. Trong tình trạng thất thế và cô đơn và trước khí thế sôi sục của “cách mạng”, Bảo Ðại cùng hoàng gia có thể bị lâm vào số phận của Louis XVI sau Cách mạng Pháp 1789 hay Nicholas II hồi Cách mạng Nga 1917. Quyết định thoái vị của Bảo Ðại là một quyết định sáng suốt, thức thời, tránh được đổ máu vô ích của nhân dân nếu ông nhờ Nhật dẹp Việt minh.
Trong một thời gian quá ngắn phục vụ đất nước, Chính phủ Trần Trọng Kim không mắc phải sai lầm nào đáng bị chỉ trích, trái lại, đã thực hiện được nhiều thành tích đáng kể, nhất là việc lấy lại được miền Nam và ba nhượng địa quan trọng ở miền Bắc, hoàn thành việc thống nhất đất nước như đã nói ở trên. Tất cả những điều đó cho thấy Bảo Ðại và Chính phủ Trần Trọng Kim không phải là “bù nhìn” của Nhật và nền độc lập của Việt Nam, dù chưa hoàn toàn, vẫn là một thực tại chứ không phải “bánh vẽ”, nhất là so với những điều kiện của một “quốc gia tự do” và viễn tượng thống nhất mơ hồ như trong Hiệp định Sơ bộ 6 tháng Ba 1946 mà Chủ tịch Hồ Chí Minh phải ký kết với Cao ủy Bollaert.
Sai lầm chính trị, đúng ra là một nhược điểm, đáng nói đến là Trần Trọng Kim đã không thực hiện được sách lược “bắt cá hai tay” của Thái Lan mà Pridi Banomyong đã chia sẻ. Ðiều đó có nghĩa là trong khi Chính phủ Kim giữ thái độ trung lập chính trị đối với Nhật thì đáng lẽ đã phải có những nhân vật chính trị khác đi với Anh, Mỹ để chống Nhật và chuẩn bị thay thế Chính phủ Kim khi chiến tranh chấm dứt. Nhưng khác với Thái Lan, Việt Nam còn phải đối phó với Pháp, khi đó cũng là một thành phần của Ðồng minh, đang quyết tâm trở lại Ðông Dương. Công việc vận động Ðồng minh lại rất khó khăn vì Anh là một đế quốc tất nhiên ủng hộ Pháp chinh phục lại các thuộc địa cũ, trong khi mối quan tâm chính của Hoa Kỳ lúc đó là ngăn chặn ảnh hưởng của Liên Xô ở Âu châu. Dù sao, đó cũng chính là lỗi lầm của các đảng phái quốc gia nói chung, không có một tầm nhìn rộng rãi về chính trị thế giới sau Thế chiến II, không hợp tác được với nhau để có một sách lược vận động thích hợp với Hoa Kỳ và quốc tế – kể cả những cuộc đối thoại với Pháp – cho một nước Việt Nam không cộng sản, không phải chỉ trong thời gian của Chính phủ Trần Trọng Kim mà luôn cả những cơ hội về sau.
L.X.K.
[1] Marr, Vietnam 1945: the Quest for Power (California: University of California Press, 1995), 89-90.
[2] CAOM, HCI-101. Marc Masayuki Yokohama viết bản phúc trình 112 trang đánh máy cho nhà cầm quyền Pháp, nhan đề “Mémoires personnels écrits en réponse au questionnaire des autorités françaises de Hué sur les événements survenus en Indochine en Mars 1945” (Hồi ký cá nhân viết ra để trả lời bản câu hỏi của nhà chức trách Pháp ở Huế về những sự việc xảy ra ở Đông Dương vào tháng Ba 1945). Marc Yokohama có vợ Pháp tên là Jeanne A. Vicart và một con trai tên Jean-Marie Masayumi Yokohama sinh tại Paris năm 1926. Ngày 13.12.1946, vợ và con của Marc được Chính phủ Pháp cho phép hồi hương vì có công giúp đỡ kiều dân Pháp ở Hà Nội sau vụ đảo chính. Không thấy nói gì tới biện pháp đối với Marc Masayuki Yokohama.
[3] Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi (Sài-gòn: Vĩnh Sơn, 1969), 51.
[4] Trịnh Đình Khải, Décolonisation du Vietnam: Un Avocat Témoigne (Paris: L’Harmattan, 1994), 62. Tác giả cuốn hồi ký bằng Pháp văn này là Luật sư Trịnh Đình Thảo, viết sau năm 1975 và trước khi ông mất năm 1986 nhưng tới năm 1994 mới được xuất bản ở Pháp, do trưởng nam của ông là Luật sư Trịnh Đình Khải đứng tên tác giả.
[5] Ibid., 62-63.
[6] Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, 56.
[7] Trịnh Đình Khải, 63.
[8] Hữu Ngọc và Nguyễn Đức Hiền (sưu tầm), La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn (Hà Nội: Nhà Xuất bản Giáo dục, 1998), tập I, 775-850. Với sự đóng góp bài vở của 59 người quen biết cố học giả họ Hoàng, các tác phẩm của Hoàng Xuân Hãn về Khoa học và Giáo dục được in lại trong tập I này, các tác phẩm về Lịch sử được in trong tập II và về Văn học trong tập III.
[9] Đạo luật đầu tiên cho phép tổ chức nghiệp đoàn là do Chính phủ Trần Trọng Kim soạn thảo và ban hành ngày 5 tháng Bảy 1945. Tổng liên đoàn Lao động của Việt minh tới tháng Bảy 1946 mới được thành lập (Alice w. Shurcliff, “Trade Union Movement in Vietnam” trong Monthly Labor Review, U.S. Department of Labor, Washington, D.C., January 1951, 31).
[10] Trần Trọng Kim, Một cơn gió bụi, trong “Lời tuyên cáo của Nội các Trần Trọng Kim”, phần Phụ lục, 193.
[11] Ibid., 93.
[12] Ibid., 13-14.
[13] Ibid., 78-79.
[14] Ibid., 93.
Cảm phục Ls. Võ An Đôn đã nói thẳng thừng:
+ Nguyên nhân quê tôi nghèo dù không nói ra nhưng ai cũng biết, lãnh đạo tỉnh là một đám cục bộ và ngu dốt, chỉ biết đưa người thân lên làm lãnh đạo và vơ vét của cải nhân dân làm giàu.

TẠI SAO QUÊ HƯƠNG TÔI NGHÈO ?
Phú Yên quê tôi có cánh đồng lúa lớn nhất miền trung, phía nam giáp Khánh Hòa, bắc giáp Bình Định, tây giáp Gia Lai và Đắk Lắk. Có bến cảng, sân bay, đường sắt và quốc lộ 1A đi qua.
Người xứ Nẫu quê tôi rất hiền hòa, cần cù chịu khó; là tỉnh nhỏ nhưng hàng năm có tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học rất cao. Có nhiều tri thức nổi danh trong nước và nước ngoài.
Dù có lợi thế về thiên nhiên và con người, lẽ ra Phú Yên phải phát triển mạnh hơn các tỉnh lân cận, nhưng hiện nay vẫn là tỉnh nghèo nhất nước. Nguyên nhân quê tôi nghèo dù không nói ra nhưng ai cũng biết, vì lãnh đạo tỉnh là một đám cục bộ và ngu dốt, chỉ biết đưa người thân lên làm lãnh đạo và vơ vét của cải nhân dân làm giàu.
Nơi tôi sống từ nhỏ đến lớn chỉ thấy 2 gia đình thay nhau làm Chủ tịch và Bí thư xã. Trên tỉnh thì nhiệm kỳ trước có một người họ Đào làm Bí thư tỉnh đã đưa cả dòng họ lên làm quan. Người này trước khi về hưu còn muốn đưa con gái của mình lên kế ngôi cha, nhưng bị đám công thần đánh cho tơi tả.
Người họ Đào này mang danh là giai cấp nông dân nhưng chưa một ngày làm ruộng, là đại diện của giai cấp vô sản nhưng tài sản có trên chục triệu Đô La, miệng lúc nào cũng nói là chống tư bản nhưng tay đeo đồng hộ Thụy Sĩ, chân mang giày Ý, đi xe Toyota Nhật, con cái thì cho đi học nước ngoài.
Lãnh đạo tỉnh hiện tại là một người bụng to, đầu nhỏ, cân nặng khoảng 100kg. Người này xuất thân từ một gia đình đốt lò gạch, nhưng tài sản của 3 anh em người này cộng lại không dưới 100 triệu Đô La.
Quê tôi có con đường Trần Dư, dù không phải là tên chính thức nhưng nói ra ai cũng biết, con đường này hình thành từ khi tách tỉnh, lấy ruộng lúa của người dân làm nên con đường này chia cho cán bộ xây nhà. Nó mang tên Trần Dư (Nghĩa là trừ dân), vì con đường này không có nhà dân.
Đến khi nào thì quê hương tôi giàu có và bình yên như đúng tên gọi của nó ?
26 năm trước vào ngày 4/6/1989, hàng ngàn sinh viên đã bị giết chết một cách man rợ tại quảng trường Thiên An Môn bởi quân đội của ĐCSTQ bằng súng và bánh xe tăng …
Bối cảnh
Năm 1989, kinh tế Trung Quốc gặp khó khăn, lạm phát tăng cao, người dân đói khổ trong khi tham nhũng tràn lan trong hàng ngũ các quan chức ĐCS Trung Quốc. ĐCSTQ vẫn luôn đánh bóng mình với ngôn từ “Đảng là quang vinh vĩ đại”, là “không bao giờ sai” và dập tắt tất cả các tiếng nói hay nguyện vọng của giới trí thức và sinh viên thời bấy giờ. Điều này gây ra nhiều bất bình trong dân chúng.
Do đó vào tháng 4/1989, khi cố Tổng Bí thư Hồ Diệu Bang qua đời, người dân Trung Quốc xuống đường dự lễ tang và thương tiếc cho một người luôn có xu hướng cải cách, đồng thời cũng biểu tình phản đối nạn tham nhũng và độc đoán không dân chủ của chính quyền.

“Người VN chúng ta đang bị đánh thuế vô cùng tàn bạo từ cái ăn, cái mặc, cái dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho tới cái phương tiện đi lại” – trích tác giả Lê Vi.
VÀI CON SỐ…
– Một chiếc Lexus nhập từ Nhật chỉ 38.000 USD và thuế sau khi đặt tại showroom thì nó lên tới 140.000 USD.
– Ranger nhập từ Thái Lan 18.000 USD và bán ra gần 35.000 USD.
– Camry nhập về 25.000 USD bán ra 60.000-70.000 USD.
_ Nhiên liệu xăng để vận hành xe hơi nhập từ Singapore chỉ khoảng 7000 VNĐ/lít bán ra 16.000-17.0000 VNĐ/lít.
– Một kg thịt lợn hơi ở VN giá từ 45.000-55.000 VNĐ trong khi đó ở Mỹ nó chỉ có giá 80-90 cent/kg (khoảng 16.000 VNĐ).
– Gạo ngon đem xuất khẩu chỉ khoảng 7000 VNĐ/kg, trong khi đó người dân phải mua tại siêu thị tới 13.000-15.000 cho 1 kg gạo loại thường.
– Một con gà khi được đưa lên bàn ăn thì nó bị thu tới gần 20 loại phí.
– Bên cạnh giá thuốc, sữa vào loại cao nhất thế giới.
– Viện phí tăng 50%
Người VN chúng ta đang bị “đánh thuế vô cùng tàn bạo” từ cái ăn, cái mặc, cái dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho tới cái phương tiện đi lại.
– Theo thống kê thì gộp tất cả công chức, viên chức, công an, bộ đội, người nghỉ hưu, ban bệ, các đoàn thể… thì có gần 12 triệu người ăn lương từ ngân sách Nhà nước.
– Năm 2017 là năm đáo hạn vốn vay ODA, cũng từ năm 2017 thì VN chúng ta bị cắt các khoản vay ưu đãi, chính phủ các nước sẽ siết chặt vốn ODA cho VN. Không phải ngẫu nhiên mà Sabeco, Habeco, Vinamilk, FPT… những con gà biết đẻ trứng vàng hiếm hoi của nhà nước cũng bị đem bán, đơn giản chính phủ đã cạn kiệt tiền sau những năm tháng mà quan chức rất tích cực tàn phá, tích cực tham nhũng, tích cực biển thủ công quỹ làm của riêng.
Chẳng có dẫn chứng khoa học nào khiến đồng tiền mất đi cả, nó chỉ chuyển hóa từ nơi này sang nơi khác, từ túi người này sang người khác mà thôi.
Hàng vạn ngôi biệt thự, xe hơi, các vật phẩm xa xỉ, khối vàng ròng giấu trong két sắt của đảng viên chính là sự chuyển hóa ấy.
Khi nợ quốc gia chất cao như núi, tình cảnh “vỡ nợ” đang dần hiện hữu, thì không còn cách nào khác là chính phủ phải tiếp tục “bóp cổ người dân” để lấy tiền nuôi bộ máy quan chức. Theo đó thì phí BHXH, BHYT, phí cầu đường, phí đăng kí ô tô, xe máy, giá điện, nước… cứ thế mà tăng giá phi mã.
Vậy thôi, ai có sức ăn được thì cứ ăn…
Một phó giám đốc trung tâm y tế bị phát hiện xài bằng tốt nghiệp THPT của anh ruột.

Thời Chiến tranh Lạnh, Liên Xô và một số nước Đông Âu một mặt cấm công dân của họ xuất cảnh tự do, mặt khác lại tước quốc tịch và trục xuất các nhà bất đồng chính kiến, văn nghệ sỹ và người Do Thái ra khỏi xứ.
Trong số những nhân vật nổi tiếng có nhà văn Boris Pasternak (1890-1960), được giải Nobel Văn học năm 1958 nhưng không thể xuất cảnh khỏi Liên Xô để nhận.
Nhà văn khác, ông Aleksandr Solzhenitsyn (1918-2008) cũng rơi vào tình cảnh tương tự năm 1970 khi được trao Nobel Văn học.
Theo quy định của Liên Xô, một khi đã rời tổ quốc sang Stockholm nhận giải, họ sẽ không được quay về.
Sang năm 1974, ông Solzhenitsyn bị tước quyền công dân rồi trục xuất luôn khỏi Liên Xô và chỉ trở về Nga sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã.
Ở một diện rộng hơn, người dân các nước cộng hòa của Liên Xô không được quyền xuất cảnh tự do và ai đã ra đi không được phép đều bị coi là kẻ thù và không được trở về.
Một số dân tộc như Tatar bị lưu đày hàng loạt và không được phép quay trở lại quê hương bản quán.
Các hành động này gợi lại thời kỳ chế độ Adolft Hitler tước quốc tịch của công dân Đức gốc Do Thái để truy bức, trục xuất hoặc tiêu diệt họ trước và trong Thế Chiến 2.

Nhưng đến sau Chiến tranh Lạnh cũng vẫn có các vụ chính phủ trục xuất công dân nước mình.
Nhìn chung, về pháp luật, việc một chính phủ đồng ý trục xuất công dân nước mình sang nước khác chỉ xảy ra khi có thỏa thuận pháp lý về dẫn độ tội phạm, theo Katheryn Westcott trong một bài trên BBC năm 2013.
Nếu xảy ra ở diện rộng, đây là hành động mang tính thanh lọc chủng tộc như đã xảy ra ở Nam Tư cũ sau khi hệ thống cộng sản tan rã.
Trung Quốc cũng đẩy đi nhiều nhà hoạt động sau vụ đàn áp đẫm máu ở Thiên An Môn tháng 6/1989.
Gần đây hơn cả, có vụ xảy ra năm 1998 khi chính quyền Ethiopia cho vây bắt hàng nghìn dân và tống họ sang Eritrea với lý do họ thuộc nhóm sắc tộc Eritrea.
Theo Natalie S. Klein, vụ này gợi lại các vụ trục xuất người Do Thái ở nước Đức phát-xít là là hành động vi phạm mọi công ước quốc tế về nhân quyền.
Nhưng việc một chính thể từ chối không bảo vệ công dân mình mà còn truy bức họ, có thể vì lý do chính trị, chủng tộc, hoặc đơn giản là vì sự vô trách nhiệm của bộ máy, đã và đang xảy ra.
Hoa Kỳ cũng từng bị phê phán vì để hai khái niệm công dân của nhà nước (state citizenship) và công dân của quốc gia (national citizenship) không được định nghĩa rõ với người da đen.
Đây là chuyện xảy ra vào thời kỳ sơ khai của cuộc đấu tranh dân quyền (Civil Rights).
Trước khi Tu chính án 14 trong Hiến pháp công nhận quyền công dân cho mọi người sinh ra ở Mỹ, tòa án và cảnh sát hay diễn giải luật để bác bỏ quyền của người da đen giành được tự do từ chủ nô (free blacks).
Dù đã không còn là nô lệ, họ thường rơi vào cảnh nghèo túng và dễ bị cảnh sát bắt giam, trục xuất khỏi chỗ ở, nhốt vào nhà tế bần bất chấp ý kiến của mình.
Đôi khi, các bang ở Mỹ còn bắt người đưa lên phương tiện công cộng tống sang một nơi khác.
Bởi khi đó quan niệm là quyền công dân do nhà nước định đoạt chứ phải là quyền tối thượng và tự nhiên mà ai cũng có như một phần nhân phẩm và tự do của họ.

Sang thời Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ không cấm nhưng cũng trừng phạt công dân của họ tới các nước ‘thù địch’ và chuyện xóa hộ chiếu Mỹ đã xảy ra với một số nhân vật phản chiến chống lại chính sách của Mỹ ở Việt Nam.
Ví dụ ông Staughton Lynd, người theo đạo Quaker (sinh năm 1929) bị mất vị trí giảng dạy ở Đại học Yale và hủy hộ chiếu sau khi sang Hà Nội cùng Herbert Aptheker and Tom Hayden trong thời cao điểm của Cuọc chiến Việt Nam.
Ngày nay luật pháp Mỹ không cho phép tước đoạt quyền công dân, nhưng vẫn có những trường hợp đơn lẻ bộ máy hành chính “vô cảm” ở Hoa Kỳ trục xuất công dân của họ.
Hồi 2013, nhà báo William Finnegan trong bài “Bộ máy Trục xuất” (The Deportation Machine, A citizen trapped in the system), nói về Mark Lyttle, một người Mỹ ở North Carolina bị đuổi khỏi nước.
Sau một lần ông bị bắt, giới chức địa phương đã tự ý bỏ trống mục Quốc tịch, Ngôn ngữ và viết vào mục Nơi sinh (Birth Country) trên giấy tờ của Mark Lyttle là “Mexico”.
Theo Finnegan, rất có thể là vì người công chức thấy Mark Lyttle là da nâu chứ không phải da trắng và muốn tìm cách tống cổ ông ra khỏi Mỹ.
Từ đó, các giấy tờ tiếp theo ghi đương sự là “công dân Mexico” và họ đã trục xuất ông sang Mexico.
Nhưng ông không được chính quyền Mexico thừa nhận và họ tống ông sang Guatemala.
Tại đây, Mark Lyttle đã vào lãnh sự quán Hoa Kỳ thuyết phục các quan chức cấp tấm hộ chiếu tạm thời.
Ông bay về Atlanta để rồi lại bị bắt vì “nhập cảnh trái phép”, và phải mất nhiều thời gian mới phục hồi được quy chế về bản thân.

Bên cạnh các lỗi hành chính, cố ý đuổi công dân của mình đi là hành động vi phạm các luật cơ bản.
George Hicks viết trên trang The New Yorker (08/09/1993) về sự kiện nhà hoạt động Hàn Đông Phương, công dân Trung Quốc bị tống cổ khỏi Trung Quốc:
“Ở Trung Quốc, chính quyền sợ hãi chính công dân nước họ.”
Theo Hicks, các nước có luật pháp có thể bắt, xử tù, thậm chí xử tử công dân của mình nhưng chỉ các nhà nước côn đồ (rogue states) mới “xua đuổi công dân của mình ra khỏi nước, hủy hộ chiếu và biến họ thành vô tổ quốc”.
Vì điều này đi ngược lại nỗ lực của Liên Hiệp Quốc cố gắng bảo vệ những người bị tước quốc tịch.
Ở Trung Quốc, chính quyền sợ hãi chính công dân nước họ
Công ước về người vô tổ quốc và tỵ nạn năm 1954 yêu cầu các chính thể bảo vệ họ tối đa, hỗ trợ họ có giấy tờ đi lại và trợ giúp hành chính.
Công ước 1961 tiếp tục nhấn mạnh đến nhu cầu giảm đi con số người vô tổ quốc và nêu rõ cả nhóm vô tổ quốc và tỵ nạn đều có quyền rời đi khỏi nơi bị truy bức, nguy hiểm cũng như quyền trở về quê hương bản quán.
Văn bản của Công ước 1961 hạn chế tối đa các trường hợp chính quyền có thể tước quyền công dân và quốc tịch.
Tuy nhiên hiện mới chỉ có 68 quốc gia, không gồm bất cứ nước nào trong ASEAN, ký kết hoặc phê chuẩn Công ước 1961 (Convention on the Reduction of Statelessness), theo trang của Liên Hiệp Quốc tính đến 05/2017.

CHỚ COI THƯỜNG HẬU QUẢ CỦA FORMOSA!
Một người quen vừa từ bệnh viện Trung ương lớn thuộc một TP miền Trung về cho biết: nhiều người đến đây khám sức khoẻ để đi nước ngoài bị phát hiện nhiễm độc…và bị từ chối cấp chiếu khán.
Những người bị nhiễm độc sau thảm họa môi trường biển nên lên tiếng để cảnh báo mọi người không nên coi thường những thực phẩm từ biển miền Trung. Sự im lặng của họ sẽ làm tăng thêm mối nguy hiểm cho cộng đồng.
Ông Phan Xuân Dũng – Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội.Sáng 2.6, Quốc hội nghe Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Phan Xuân Dũng trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Chuyển giao công nghệ (sửa đổi). Các đại biểu bày tỏ băn khoăn về việc chưa luật hoá khái niệm công nghệ lạc hậu dễ biến Việt Nam thành “bãi thải phế liệu”, và trong thực tế chúng ta vẫn chuyển giao máy móc, thiết bị phần lớn lạc hậu 2 đến 3 thế hệ.