CHIẾC ÁO RÁCH VÔ GIÁ

 Quốc Văn Giáo Khoa Thư thời nay.

CHIẾC ÁO RÁCH VÔ GIÁ

Đang đi chầm chậm trên đường ρhố, một ρhụ nữ giàu có bất ngờ bị tông xe. Maγ mắn là vụ va chạm không mạnh nên cô chỉ bị xâγ xước qua loa.

Sau khi mang xe đi sửa, Cô gáι mới chợt nhớ ra nhà bố mẹ mình ngaγ gần đó. Lâu lắm rồi, cô chưa về nhà thăm họ. Nghĩ vậγ, cô liền cuốc bộ về nhà và quγết định ở lại với bố mẹ một đêm.

Sáng hôm sau, lúc cô chuẩn bị đi, cô nhận được chiếc áo từ mẹ và ρhát hiện vết rách trên taγ đã được mẹ vá lại, những mũi kim thật dàγ.

Thoáng chút cảm động nhưng cô cũng cảm thấγ việc làm của mẹ có chút thừa – “mình là người có tiền, chiếc áo nàγ sau khi về mình sẽ bỏ đi, chẳng mặc lại làm gì”, cô gáι nghĩ trong đầu.

Nhưng vì công việc quá bận rộn, trên đường trở về, cô đã quên mất sự việc nàγ nên cứ thế mặc chiếc áo vá chằng chịt đi khắρ nơi, thậm chí còn đàm ρhán xong xuôi một ρhi vụ làm ăn lớn kéo dài từ rất lâu.

Đến tối muộn, cô mới sực nhớ ra mình đang mặc chiếc áo rách. Cô nhanh chóng cởi chiếc áo, ném vào thùng rác.

Sáng ngàγ hôm sau, thỏa thuận làm ăn đàm ρhán từ hôm trước chính thức được ký kết. Khách hàng hỏi cô:

“Hôm naγ không thấγ cô mặc lại chiếc áo hôm qua?”

“Tôi giặt rồi”, Hải Yến ngại ngùng tìm lý do trả lời câu hỏi của đối tác.

Vị đối tác tiếρ tục nói:

“Có thể cô không biết nhưng chúng tôi quγết định ký hợρ đồng với cô là vì thấγ cô mặc chiếc áo vá. Từ đường kim mũi chỉ có thể thấγ cô là một người chất ρhác, đã trải qua nhiều gian khổ.

Mà một người như thế, chúng tôi ᵭάпҺ giá rất cao, cô chính là đối tác tốt nhất của chúng tôi”.

Trở về nhà, cô gáι vội mở thùng rác lôi chiếc áo vá ra, giặt lại sạch sẽ và treo vào góc trong cùng của tủ áo, nghĩ rằng có thể sẽ có lúc dùng đến.

Một tuần trôi qua, vào một buổi sáng khi người ρhụ nữ giàu có nàγ vừa chuẩn bị đi làm, bỗng nhiên có hai viên cảnh sάϮ ghé qua nhà cô. Thì ra vào một buổi tối tuần trước, có một ρhụ nữ giàu có đã bị Ьắt cóc nhưng nghi ρhạm đã bị Ьắt giữ sau đó không lâu.

Khi thẩm vấn, chúng đều khai nhận rằng ban đầu, ᵭốι Ϯượпg mà chúng nhắm tới là cô nên cảnh sάϮ mới qua nhắc nhở cô.

Người ρhụ nữ vô cùng kinh ngạc, hỏi cảnh sάϮ rằng:

“Vậγ tại sao cuối cùng chúng không Ьắt tôi?”

– Vì hôm đó cô mặc chiếc áo vá.

Thì ra hôm đó, những ké Ьắt cóc vì nhìn thấγ cô mặc áo vá, cho rằng những người có tiền chẳng bao giờ mặc áo vá và cô chẳng giàu như tin đồn nên đã từ bỏ ý định.

Cô gáι không khỏi thảng thốt, không ngờ miếng vá đã cứu cô một mạпg. Sau khi cảnh sάϮ rời đi, người ρhụ nữ mở tủ, lấγ chiếc áo ra, taγ vân vê trên những đường chỉ dàγ chằng chịt, khóc như một đứa trẻ.

Nửa Cuốn Sách Cuội – Tràm Cà Mau

Nửa Cuốn Sách Cuội – Tràm Cà Mau

Họ cũng không ngờ, cái viên gạch là sinh mạng họ, đem ra để xây nhà tù, giam hãm, nhốt những kẻ hiền lương vào trong đó.

  1. Đi tìm lý tưởng

Cầm tờ lịch ghi ngày 5 tháng 5 năm 1960 trong tay, An nhìn Tâm và hỏi:

“Hôm nay bạn đúng mười chín tuổi, con đường học vấn của tương lai còn xa hun hút. Bạn muốn kê vai chống đỡ trời. Phải tự liệu sức mình trước, rồi mới dự phóng cho mộng tưởng mai sau. Bạn thử tự nhìn lại mà xem. Thân thể bạn xanh xao yếu đuối, xem bộ trói gà không chặt. Lá gan bạn cũng không lớn bao nhiêu, cứ thấy con gái là run sợ xanh mặt, ăn nói lắp bắp, bọn chúng có ăn thịt bạn đâu mà sợ đến thế? Hiểu biết và sức học của bạn, thì cũng mới qua khỏi trung học, chưa ra cơm ra khoai gì cả. Thế mà bạn cứ tự dằn vặt tâm trí làm chi. Bạn chưa làm được việc gì to tát, thì cũng bình thường mà thôi. Bạn mơ mộng chuyện đội đá vá trời, muốn thay đổi cục diện cả thế giới? Khổ chưa?”

Tâm liếc qua An, rồi ấp úng nói:

“Xưa nay các bậc anh hùng, ban đầu có ai ra gì đâu? Cả cái ông Hitler đã chọc trời khuấy động địa cầu, ban đầu cũng chỉ là một gã thợ sơn quèn, ốm yếu, đi lính thì mới có là hạ sĩ quan, học hành cũng chẳng là bao. Vua Tàu dựng nên nhà Minh ngày xưa, là một kẻ chăn trâu thất học. Và ông Mao Trạch Đông ngày nay, thời gian học hành gom lại cũng chỉ được mấy năm lẻ mà thôi…”

An cắt ngang lới bạn:

“Bởi thế nên gây khổ đau cho nhân loại, làm chết chóc hàng trăm triệu người, và cả nhiều tỉ người quằn quại trong gông cùm áp bức. Bạn muốn gì? Muốn tên tuổi bạn được lừng lẫy, không lý gì đến khổ đau của người khác?”

Tâm đỏ mặt trả lời:

“Không, không phải. Tôi chỉ muốn xây dựng một xã hội tốt đẹp. công bằng tuyệt đối . Không có người bóc lột người. Ai ai cũng đều được sung sướng, ấm no, hạnh phúc.”

An cười đáp lời bạn:

“Tuyệt đối công bằng? Ngay cả trên thiên đường cũng chưa có. Thượng Đế thì ngồi chểm chệ thoải mái trên ngai vàng, tiên nữ mặt đẹp như ngọc cũng ôm ống nhổ đứng hầu cho rã lưng ra. Ông thánh còn phải làm nghề gác cửa. Mình ở trong thế gian nầy, thì phải chấp nhận cái tương đối để vui sống. Đòi hỏi cái tuyệt đối chỉ tổ làm khổ bản thân, bất mãn. Thời nào cũng có nhiều kẽ nghĩ là họ sinh lầm thế kỷ. Làm chi có tuyệt đối trên cõi đời trần tục khốn khổ nầy. Bạn có biết không, khi một người Ả Rập dệt được một tấm thảm mà không có một sơ sót nào, thì họ dùng dao cắt một sợi chỉ trên thảm, để cho nó mất cái hoàn hảo, vì sợ đụng chạm đến Thượng Đế, vì chưa chắc ngài đã được hoàn hảo. Bây giờ, giả sử bạn được nắm hết quyền hành trên toàn cõi đất nước nầy, liệu bạn có thực hiện được bao nhiêu phần trăm những điều bạn mơ ước cho xã hội?”

Tâm tần ngần ấp úng:

“Ít nhất cũng xóa bỏ được tất cả mọi bất công hiện tại. Bạn thử nhìn qua bên kia vĩ truyến 17, ở miền Bắc họ xây dựng một xã hội tốt đẹp, công bằng và no ấm hơn. Không có áp bức, khủng bố.”

An nóng cả mặt, nói lớn:

“Ai bảo với bạn như thế? Bạn đã sống trong xã hội đó chưa mà cho là công bằng, no ấm hạnh phúc? Bạn có nghe và biết những đấu tố giết người oan uổng trong cuộc cải cách ruộng đất, đàn áp và khủng bố nhóm nhân văn giai phẩm …”

Tâm khoát tay và cắt ngang lời nói của An:

“Toàn cả những tuyên truyền ấu trỉ, lếu láo, trẻ con nghe cũng không tin được. Trên đời nầy, làm chi có chuyện con cái đấu tố cha mẹ, văn nghệ sĩ bị đàn áp vì vài ba bài văn, bài thơ.”

Tâm rút trong hộc bàn mấy cuốn sách viết về lý thuyết cộng sản đưa cho An xem. Tâm gật gù:

“Tôi cho bạn mượn về đọc. Bạn sẽ thấy, càng nghiền ngẫm, càng thấm thía và muốn dấn thân ngay. Tôi ước mơ được đem tâm huyết, đem tuồi trẻ hiến dâng cho lý tưởng cao đẹp, phục vụ cho công bằng, bác ái. Xây dựng cho đất nước mau chóng được rạng rỡ hơn.”

An biết không thuyết phục được bạn, và hiểu rằng, khi tuổi trẻ say mê lý tưởng, thì còn hơn say mê tình yêu. Yêu là mù quáng, không mù quáng thì không yêu. Kẻ say mê lý tưởng, còn mù quáng gấp nhiều lần hơn. Nếu được chết cho lý tưởng, họ cũng sẵn sàng và cam lòng. An nói:

“Tôi có đọc sơ về lý thuyết cộng sản. Thấy mê lắm. Nhưng thực tế thì khác hẳn. Tôi có một người bà con, nay cụ đã hơn 95 tuổi. Cụ từng học hành, lớn lên và sinh sống tại nước Nga từ thời Nga Hoàng, thời cách mạng 1917, và cả thời trước sau đệ nhị thế chiến. Cụ biết rõ ràng cái thiên đường mơ ước của bạn. Nếu bạn muốn, tôi sẽ dẫn bạn đi thăm và thỉnh ý cụ. Sau đó, may ra bạn được sáng suốt hơn trong việc đi tìm lý tưởng cho tương lai.”

An và Tâm lặn lội đi tìm thăm cụ Long. Từ miền Trung lấy xe lửa về Nam, chuyển xe đò xuống miệt Long Xuyên, rồi chèo ghe nhỏ qua sông lạch, vào đến quận lỵ xa xôi vắng vẻ, đi bộ thêm vài cây số đường thì đến nhà ông cụ.

Tâm được dẫn vào bái kiến cụ Long, một ông già gầy gò, ngồi co ro nửa thức nữa ngủ. Râu cụ lưa thưa, tóc có nhiều cộng còn đen, hai hàm răng phía trước gần như nguyên vẹn, đóng bợn nâu vàng. Nhìn thấy dáng dấp bên ngoài của cụ, không có vẻ gì là tiên phong đạo cốt như Tâm đã vẽ vời trong trí, Tâm cũng hơi thất vọng trong lòng. Tự nhiên, niềm trân trọng trong lòng cũng hao hớt rất nhiều. Cái náo nức đi tìm lời khuyên dạy vàng ngọc cũng nguội bớt .

Trong một buổi mạn đàm uống trà, ăn bánh ngọt. Tâm do dự thưa:

“Cháu nghe nói nói cụ đã từng mòn gót chân phiêu lảng khắp năm châu bốn biển. Đã từng gặp gỡ và là bằng hữu của những nhân vật làm nên lịch sử hiện đại. Xin cụ vui lòng cho cháu biết cơ duyên nào đưa đẩy bước chân của cụ đi xa quê hương vạn dặm, đi ra xứ người trong một thời gian dài như vậy không?”

Cụ già Long khoát tay, lắc đầu nói:

“Thôi, thôi, đừng nhắc những chuyện xa xôi đó nữa, không ích lợi gì, thêm bận lòng già. Nay ta cũng đã 95 tuổi, thời gian còn thấy bóng mặt trời không lâu nữa. Ta muốn vùi chôn quá khứ. Nhiều lúc ta cũng mãi ân hận không nguôi, có lẽ ta cũng đã góp phần không ít, làm đau khổ di lụy đến hàng trăm triệu sinh linh trên thế giới nầy.”

Tâm nghĩ là ông già đã lẫn, nói chuyện mê sảng trong khi thức. Con người tầm thường như ông, làm sao mà di lụy đến hàng trăm triệu sinh linh được. Tâm nói:

“Thưa cụ, làm sao mà cụ lại lưu lạc trôi dạt qua tận nước Nga xa xôi lạnh lẽo đó. Khi ra khỏi nước, cụ đã bao nhiêu tuổi? Ở bên Nga, cụ đã làm gì?”

  1. Tâm sự tuổi già

Cụ Long nhìn Tâm với ánh mắt thương xót mà nói:

“Tôi nghe cháu An nói anh đang đi tìm lý tưởng, và muốn chết cho lý tưởng anh đang tôn thờ. Đáng ra tôi im lặng, nhưng phải nói để anh biết, và sáng suốt hơn, khỏi đi lạc đường, nguy hiểm lắm. Tôi ra khỏi nước do một sự tình cờ. Nguyên ông cụ thân sinh tôi làm quan võ dưới triều vua Tự Đức, bị hàm oan phải bỏ xứ ra đi. Khi đó tôi vừa 15 tuổi, nhưng đã làu thông kinh sử, đang chuẩn bị về kinh đô tham dự kỳ thi hội. Sợ bị bắt tội, ông cụ tôi hốt cả kho đụn công khố, lấy tiền vàng trả cho chủ tàu Hòa Lan, đem vợ con đi ra khỏi xứ, khi đó chưa biết đi đến đâu. Trên tàu, nhờ có võ nghệ, ông cụ tôi đã khóa tay, và giựt được con dao của một người say rượu, cứu mạng và bảo vệ cho một thương gia người Nga khỏi bị thương tích. Ông nầy có cơ sở kinh doanh tại thành phố Saint Petersburg. Vị thương gia người Nga nầy đề nghị cho cụ tôi hợp tác kinh doanh, trông nom một cửa hàng tạp hóa tại thành phố ông ở. Nhờ có đem theo nhiều vàng ngọc, của cải nên chẳng bao lâu, ông cụ tôi đã làm chủ riêng được một cơ sở kinh doanh tại Kazan. Cụ làm ăn rất mau phát đạt nhờ cần cù, chăm chỉ, lương thiện, nên có được uy tín. Sau đó, bắt chước đám Do Thái, mở thêm tiệm cho vay, cầm đồ. Dân nghèo địa phương kháo nhau về nơi cho vay không cắt cổ quá đáng, không bóc lột như các nơi khác.”

Cụ Long ho một hồi dài, nước bọt phun ra bay trong nắng. Cụ tiếp:

“Chính nơi đây, nhiều nhà cách mạng Nga khi còn long đong, hàn vi đói rách, đã là thân chủ trung thành của tiệm cầm đồ. Có khi vay non tiền lương để vợ con bớt nheo nhóc đói khát, dài cổ trông chờ bánh mì hẩm nguội. Cũng tại đây, mà tôi quen ông Vladimir Ulianov, tức ông Lê Nin. Một hôm ông đến cầm đồ, và nhận ra tôi là bạn chung trường tại đại học Kazan, tôi học trên ông hai lớp ở phân khoa Luật học. Dạo đó vào khoảng năm 1887, khi đó tôi đã 22 tuổi, và ở nước Nga đã được bảy năm. Khi đã nhận ra bạn chung trường, chung khoa, tôi thường cho ông nầy mượn chút tiền lẽ, mà ít khi thấy ông thanh toán lại sòng phẳng. Nhưng tôi không cần đòi nợ, vì tiền do cha mẹ làm ra, không phải là mồ hôi nước mắt của riêng mình nên không tiếc. Giao tình giữa tôi và ông ấy từ đó mà thân thiết hơn.”

Cụ Long mơ màng, đưa tay vuốt mặt, rồi nói:

“Bẵng đi một thời gian chừng hơn một năm, tôi mới gặp lại ông Vladimir nầy, trông bộ gầy gò xơ xác. Đói. Ông cho biết đã bị đuổi học, và bị phát lưu đến miền Kokushino. Ông hỏi mượn tiền, và đưa một cuốn sách cũ nát làm của thế chấp. Được biết cuốn sách nầy là vật gia bảo truyền đời từ hơn nhiều ngàn năm. Không biết ông nầy có thấy tôi là người sang nên bắt quàng làm họ hay không. Ông nói rằng, tổ tiên bốn đời trước của ông cũng là người Việt, họ phò tá một vị vua mất ngôi chạy sang Tàu. Mưu sự không thành, rồi trôi dạt lên miền Ngoại Mông, Tây Bá Lợi Á, cuối cùng qua Nga lập nghiệp, lấy vợ bản xứ, sinh con đẻ cái. Ông Vladimir cho biết tên Việt của ông là Lê Ninh. Tổ tiên nguyên họ khác, nhưng vì có công giúp vua Lê Lợi khởi nghĩa, nên được đặc ân đổi thành họ Lê. Tôi nghĩ là ông nầy túng bấn, muốn mượn tiền, nên bày đặt câu chuyện làm quà mua vui. Nhưng có điều khó hiểu, là làm sao ông nầy biết được một phần của lịch sử nước Việt mình mà nói như thật. Khi mở lớp da bao bên ngoài cuốn sách, thì tôi giật mình vì thấy mấy giòng chữ Nôm ghi:

“Đừng mở và đọc tập sách nầy, vì có thể gây đại họa cho bách tính.” Sách đã cháy xém nhiều nơi. Bên trên cuốn sách, cũng có một câu phiên dịch bằng tiếng Nga, với ý nghĩa tương tự. Sau nầy truy cứu, tôi mới biết đây là nửa cuốn sách còn lại của ông Cuội trong truyện cổ tích, khi bà vợ Cuội đem sách nói dối ra đốt. Ông Cuội về kịp dập tắt, còn lại nửa cuốn.”

Tâm nháy mắt nhìn An, nghi ngờ lời nói của cụ Long là chuyện tếu của ông già lẩm cẩm. Cụ Long vẫn bình tỉnh kể tiếp:

“Tôi bằng lòng cho ông Vladimir mượn tiền, nhưng không giữ cuốn sách lại. Thấy tôi đọc được phần chữ Nôm bên ngoài, ông Vladimir hớn hở muốn biết nội dung của cuốn sách gia bảo truyền đời. Tôi cũng tò mò, dở ra xem, thì thấy sách nguyên thủy viết bằng loại chữ loăng quăng như dun bò, loại chữ viết của dân Việt trước thời kỳ Bắc thuộc, nay đã bị bỏ quên. Nhưng bên cạnh có chua bằng chữ Nôm, chữ li ti rất nhỏ. Có nơi nét đã nhòe, nếu không vững về Hán tự, thì khó mà đọc được. Tôi phiên dịch cho ông nghe vài đoạn, ông thích thú la hoảng lên như bắt được vàng. Thế là từ đó, ông cứ quấy rầy tôi mãi, đến nhờ tôi phiên dịch từng trang, và cẩn thận, trân trọng ghi chú vào cuốn sách riêng của ông. Tôi cũng khá bực mình, vì nội dung cuốn sách toàn những mánh khóe nói dối, lừa gạt, gian xảo. Thế mà ông Lê Ninh mê say như tìm được chân lý chói lòa. Bây giờ tôi cứ gọi ông Lê cho tiện, không Vladimir, Vladi-miếc gì nữa. Tôi cũng tức cười vì cái câu ghi ngoài cuốn sách, mánh khóe nói dối bịp thiên hạ, thì làm sao mà gây đại họa cho bách tính được?”

Tâm ngắt lời cụ Long:

“Thưa cụ, cụ kể chuyện đùa cho vui, hay là chuyện thật?”

Cụ Long nhíu mày nói:

“Anh nói gì? Đùa hay thật? Các anh biết, trên đời nầy, có những chuyện thật như đùa, và có những chuyện đùa như thật. Cái ông Lê nầy khá thông minh và láu lỉnh, là một người đầy tham vọng, mưu mô. Vì bị đuổi học, nên ông mượn tôi mớ sách vở, tài liệu cũ của trường Luật mà tự học, và nhờ tôi cho đề thi cũ, nhiều đề đã làm sẵn như bài tủ, mà thi đậu như thí sinh tự do. Khi tôi chuyển về Saint Petersburg làm việc cho một văn phòng luật sư, thì ông Lê xin đi theo. Tôi cho ông làm trợ tá pháp lý. Chuyên thu thập tài liệu, tin tức lặt vặt, như đánh ghen, tranh chấp hàng rào, đất đai, của cải nho nhỏ, mà ngày nay báo chí thường gọi là tin xe cán chó.”

Cụ Long im lặng một hồi, nhấp ngụm trà, cười ranh mảnh mà nói:

“Sau nầy các anh có gia đình, đừng có lăng nhăng, léng phéng thêm bà nầy, cô kia mà khổ. Chúng nó đeo dai như đỉa, gỡ không ra đâu. Dạo ấy, tôi có một người bạn gái đeo riết, đó là nàng Na-Đê. Cô ta hiền lành, dễ thương và rất lý tưởng. Dù tôi đã có vợ và hai con, nhưng cũng không gỡ ra được mối oan tình nầy. May mắn cho tôi, ông Lê thầm yêu cô nầy mê mệt. Chúng tôi ba bốn người thường cùng uống cà phê bên vỉa hè và kháo chuyện trời đất. Tôi tìm cách gán cô Na Đê qua cho ông Lê, và hai người dính nhau. Tôi thường mời cả hai đi ăn chung, và giúp đỡ tiền bạc, vật chất cho họ. Thoát ra khỏi sức bám của cô nầy, tôi mừng lắm. Khoảng cuối năm 1895 ông Lê lại bị bắt, và sau đó bị đưa đi đày tận miền đông bắc buốt giá của nước Nga. Sau ba năm đi đày về, ông Lê viết được nhiều cuốn sách, đem cho tôi xem thử. Đọc xong, tôi ngẩn ngơ, vì nội dung sách ông viết, đậm đặc ý tưởng trong nửa cuốn sách Cuội mà tôi đã dịch cho ông ghi lại. Tôi bảo ông nên đem đốt hết đi, đừng nên phổ biến những tư tưởng dóc lác nầy, làm hư cái chân thiện của loài người. Ông không giận tôi, mà còn cười, cái cười đểu lắm. Bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in cái nụ cười đểu giả đó.”

Xoa hai tay vào nhau cho nóng, rồi cụ Long vuốt mặt, trầm giọng xuống, cụ nói:

“Tôi vẫn ngấm ngầm giúp đỡ tài chánh cho hai vợ chồng ông. Dù sao, bà Lê cũng là bạn cũ thân thiết của tôi. Sau nầy, ông Lê viết thêm được nhiều tập sách khác nữa. Nội dung cũng không ra ngoài nữa cuốn sách Cuội mà ông có. Nghĩa là bịp, bịp bợm. Ông uốn nắn cái duy vật biện chứng của ông Mác, một thứ triết lý không tưởng, ác độc, và nhuần nhuyển kết hợp với tư tưởng ông Cuội để làm căn bản cho những sách của ông viết, và những điều ông nói. Phần tôi, làm ăn càng ngày càng khấm khá. Còn ông Lê cứ bị truy lùng, và phiêu dạt nay đây, mai đó, khi ra ngoại quốc, khi lẻn về nước Nga. Tôi thường an ủi bà Na-Đê, vợ ông, vì số phận bà hẩm hiu. Đừng nghĩ là tôi có tò te với bà nầy vì tình cũ không rũ cũng tới. Nhưng tôi đã nhiễm luân lý Khổng Mạnh, nên không làm điều thất thố với vợ bạn được. Thế giới chiến tranh lần thứ nhất bùng nổ, tình hình nước Nga dạo ấy rối ren khủng khiếp. Thực phẩm khan hiếm, đã lạnh mà còn đói nữa, khổ lắm. Lòng dân như một nồi nước sôi bí hơi căng cứng, chờ dịp bùng nổ. Ông Lê biết vậy, và nói với tôi: “Cứ la toáng lên, hứa hẹn đại rằng, sẽ có công ăn việc làm, có bánh mì ăn, áo mặc, công bằng, hạnh phúc, sung sướng. Sẽ có đủ thứ, thì thợ thuyền, dân nghèo ùn ùn chạy theo. Thanh niên mới lớn, lòng đầy lý tưởng bác ái, nhân đạo, nghe được những điều đó, thì mê tơi củ kiệu. Có chết cho lý tưởng, cũng hãnh diện, cam lòng”. Nhiều người cho tôi biết rằng, nước Đức đã tài trợ, cung cấp phương tiện, đưa ông Lê về để quấy động làm suy yếu nước Nga. Ông Lê cũng biết vậy, nhưng cơ hội đến, thì cứ nắm bắt và lợi dụng. Ông Lê cũng cất dấu bớt một số tiền lớn làm của riêng, nên sau nầy tôi cũng không cần giúp đở thêm cho bà Na-Đê nữa.”

An rót thêm trà vào chén cho cụ Long, cụ tiếp:

“Thỉnh thoảng ông Lê cũng có mời tôi tham gia các buổi họp kín trong nội bộ của đảng ông. Ông muốn quyến dụ tôi. Tôi đi họp vì tò mò, chứ tôi vốn không ưa chuyện chính trị. Có lẽ vì tôi chịu chi tiền, mua bánh trái, trà nước cho các buổi họp thêm phần hấp dẫn, và có lẽ nhờ có ăn uống chút chút, mà thu hút được đông đảo các đồng chí của ông hơn. Sau buổi họp, tôi thường đi uống cà phê với họ. Do đó mà tôi quen biết nhiều với các tay gộc trong nhóm cầm quyền nước Nga sau nầy. Các tay gộc nầy, sau khi nắm được chính quyền, xâu xé tranh dành nhau dữ dội. Đa số bị giết chết vì nội bộ thanh toán, một số nhỏ chạy thoát ra ngoại quốc ẩn mình, thế mà cũng bị truy lùng tận diệt. Sau khi hoàng gia Nga bị xử bắn, ông Lê nắm được chính quyền và lên làm lãnh tụ, ông cho thanh toán và khủng bố dữ dội. Nước Nga bao trùm trong sợ hãi. Tịch thu tài sản của người giàu. Nhà cửa bị sung công cho dân nghèo chia nhau trú ngụ. Bọn đồ điếu tha hồ tung hoành, tác oai tác quái. Trí thức bị trù dập, bắt bớ, tù đày. Nạn đói còn khủng khiếp hơn trước thời chiến tranh. Sau đó, lương thực được phân phối theo khẩu phần, thành ra ai cũng đói cả.”

Ngưng nói, cụ Long nhìn về phía xa xăm thở dài:

“Trong lúc cả nước đều khốn khó, vì đói khát, khủng bố, lo lắng, bắt bớ, tù đày, thì gia đình tôi vẫn sung túc, nguyên vẹn, nhà cửa không bị tịch thu, trưng dụng, của cải không hề bị đụng chạm mảy may. Bởi tôi đã có quen biết, ân nghĩa nhiều với các Ủy Viên trong toàn Bộ Chính Trị đang cầm quyền. Có mấy ông đảng ủy địa phương không biết cái thế của tôi, đòi tịch thu nhà cửa, của cải, tài sản. Mấy ông nầy đều bị bắt, và đưa đi đày ở miền Tây Bá Lợi Á cả. Tôi không biết họ bị đi đày, tưởng đâu họ chỉ bị chuyển công tác qua vùng khác mà thôi.”

Tâm ngần ngại hỏi:

“Thế thì trong chế độ đó, cũng còn có thế thần, quen biết nữa sao?”

Cụ Long cười:

“Đâu mà không có thế thần. Trong chế độ nầy, bè phái và thế thần còn hơn ở xứ nào cả. Khi nước Nga chìm đắm trong sợ hãi, ngột ngạt, khủng bố trắng, khủng bố đen, một hôm tôi hẹn gặp ông Lê, hai người nằm chung giường, gác chân lên nhau mà tâm sự chuyện đời đến khuya. Tôi nói cho ông biết tình hình thực sự trong xã hội, vì e rằng, ông ở chức vụ cao, nghe báo cáo sai không đi sát thực tế. Thì ra ông biết rõ hết. Tôi hỏi ông: “Tại sao không đoàn kết toàn xã hội mà xây dựng đất nước, bày ra làm chi phân chia và đấu tranh giai cấp, lấy thợ thuyền làm chủ và lảnh đạo”. Ông cười và bảo rằng: “Anh mới biết một, mà không biết hai. Vì thợ thuyền đa số đều ngu dốt, cho một chút quyền hành, thỏa mãn cái thèm khát thấp hèn trong lòng họ, thì bảo gì, cũng nghe theo, nói gì cũng tin tưởng. Hăng hái làm theo mệnh lệnh. Có thế mới củng cố được địa vị của tôi và đảng tôi.”

Tôi hỏi ông:

“Chính sách khủng bố, thanh toán, có nên chấm dứt sớm, để cho nhân dân bớt sợ hãi, bớt lo lắng mà yên lòng làm ăn không?”

Ông cười lớn, vỗ vai tôi, nói rằng:

“Thế thì anh chưa hiểu được cái ý nghĩa của mấy chữ ‘bạo lực cách mạng’ do tôi bày ra. Phải khủng bố, và khủng bố nhiều hơn nữa, càng nhiều càng tốt, khủng bố cho đến khi dân chúng sợ hãi cực độ, hoàn toàn mềm nhủn ra, không còn một sức đối kháng nào, thì đảng, và chính quyền cùng địa vị của tôi thêm bền vững, chắc chắn.”

Tôi hỏi thêm:

“Liệu các chính sách kinh tế, xã hội của ông có cơ may nào đem no ấm hạnh phúc cho dân chúng như ông đã từng hứa hẹn, lặp đi lặp lại thường ngày hay không?”

Ông đáp:

“Hứa hẹn thì cứ hứa hẹn, dân chúng có ấm no hạnh phúc hay không thì mặc họ. Dân càng đói, càng dễ trị. Cứ nắm chặt cái bao tử dân, cho ăn lưng lửng bụng, thì mọi người đều khuất phục, vì họ sợ mất cái phần ăn ít oi kia đi, khổ lắm. Mình cứ hứa hẹn tương lai cho họ nghe sướng lỗ tai là đủ. Chứ cho dân ăn no, thì cũng dễ sinh ra loạn lạc.”

Tôi nghe mà buồn và thở dài. Ông nói rằng:

“Lòng dạ anh còn yếu đuối như đàn bà.” Tôi hỏi thêm: “Tại sao nhiểu người bị thanh toán, bị đi đày oan ức tội nghiệp”.

Ông cười:

“Muốn được yên ổn, thì hy sinh chừng bấy nhiêu triệu người, cũng chẳng đáng là bao”.

Tôi đem điều lo lắng nhất trong lòng ra tâm sự cùng ông:

“Nhiều năm qua, nhân tâm suy đồi lắm. Con người cứ lấy dối trá ra mà cư xử nhau, nhà nước cũng nói toàn điều không thật. Đó là điều nguy hại cho nhiều thế hệ mai sau.”

Ông Lê vùng dậy bật đèn lên, lấy cuốn sổ tay cũ kỹ trên kệ, phất phất trước mặt tôi, và hỏi có nhớ cuốn nầy không? Ông cười toe toét thỏa mãn lắm. Tôi nhận ra đó là cuốn sách ghi lời dịch của tôi từ nửa cuốn sách Cuội. Ông Lê nói lớn thêm rằng:

“Tôi sẽ thống trị thế giới nhờ cuốn sổ tay nầy.”

Ngừng lại một lúc, cụ Long lom khom đi ra vườn sau, vạch quần vung vãi nước vào bụi chuối. Cụ trở lại và nói tiếp:

“Mấy năm sau, ông Lê bị tai biến mạch máu não, nửa người tê liệt, nằm trên ghế dựa, méo mồm, tay chân co quắp, thế mà vẫn hung hăng con bọ xít. Bà Nê-Đa vợ ông, tận tâm, không quản ngại mệt nhọc, chăm sóc ngày đêm. Ông vẫn đưa mệnh lệnh, vẫn thanh toán người nầy, cất nhắc người kia qua trung gian của ông Stalin. Đáng ra trong tình trạng bệnh hoạn đó, con người phải biết cái lẽ sai đúng của trời đất mà tỉnh ngộ, thôi làm điều ác. Tôi có đến thăm ông Lê mấy lần, miệng ông chảy dãi lòng thòng, nói ngọng, khó khăn, thế mà vẫn còn nhắc đến chuyện ngày xưa những khi cùng đi đến chỗ yêu hoa mua dục. Khi đó, mắt ông ấy rực sáng lên khoái trá.”

Thở một hơi dài, cụ Long nói:

“Người ta xầm xì rằng, hôm đó bà vợ ông Lê có công chuyện đi vắng. Ông Stalin vào trình báo công việc, thấy ông Lê đang há hốc miệng nằm ngáy, cuốn sổ tay rơi nằm trên sàn nhà. Ông Stalin mở sổ ra xem, càng xem ông càng hớn hở. Rồi động tâm cơ, ông Stalin dấu cuốn sổ vào túi áo vét, và lấy chiếc gối đè ghịt lên mặt ông Lê. Ông Lê vùng vẫy yếu ớt, giẫy giẫy chân tay, vãi phân, vãi tiểu ra cả quần mà băng hà. Đồng chí gái phục vụ thấy được, nhưng không dám nói ra vì sợ mất mạng. Dạo đó vào mùa xuân năm 1924, ông Lê được 54 tuổi, và tôi xấp xỉ tuổi sáu mươi. Ông Stalin chớp được bản dịch sơ lược nửa cuốn sách Cuội từ ông Lê, và đem ra thi hành triệt để. Quyền hành càng vững chắc hơn bao giờ cả. Ông phát huy tối đa lý thuyết Cuội, và đem truyền bá đi khắp năm châu bốn biển. Nhiều tỉ người mê sảng trong dối gian, láo khoét mà rất nhiều khi chính ngay bản thân họ, cũng không biết là họ đang nói dối hay nói thật.”

Mặt Tâm nhăn nhó khó chịu khi nghe đến đây, Tâm mím môi lắc đầu, không muốn tin. Cụ Long tiếp:

“Bạn bè cũ của tôi trong Bộ Chính Trị, thuộc giới cầm quyền, bị thanh toán, bị hành quyết dần dần, ông nào trước khi chết cũng có bản tự khai, thú tội là phản cách mạng, là tay sai tư bản đế quốc. Dù tôi cũng có quen biết, có chút ân tình với ông Stalin, vì đã che dấu, cho ông trú ngụ, cơm ăn, áo mặc vào thời kỳ ông vừa vượt ngục trốn trại tù khổ sai từ Silberia về. Và cả về sau, khi ông còn vất vưởng không nhà, thỉnh thoảng cũng dúi cho một ít tiền còm mua bánh mì ăn qua bữa. Nhưng tôi cũng ngán và sợ tiếp xúc với ông. Ông nầy như con thú ác hiểm. Những người có ân nghĩa với ông trước đây đều bị thanh toán, dứt đẹp. Ngay cả những vị trong Chính Trị Bộ được ông mời ăn cơm thân mật, buổi tối khi ra về, cũng hồi hộp không biết sẽ được về đâu, ra nghĩa địa hay đi đày Silberia, hay được thực sự về nhà với vợ con. Chỉ khi đóng cửa nhà, mới hú hồn mừng rỡ. Đó, tôi không ngại sao được. Tôi nghĩ, càng thu mình lại, càng lu mờ càng tốt. Thời gian nầy, tôi rất muốn di cư ra khỏi nước Nga, mà sợ, không dám xin đi.”

An châm thuốc cho cụ Long hút, phà khói trắng, cụ nói:

“Một lần tình cờ gặp ông Stalin, tôi hỏi:

“Bao giờ thì nước Mỹ trở thành cộng sản?”

Ông lắc đầu nói:

“Không bao giờ cả, bởi Mỹ mà thành cộng sản thì ai bán lúa mì cho chúng ta ăn. Vì khi đó thì Mỹ cũng đói dài dài, đói rã họng, đói cả nước.”

Có lần gặp một ủy viên trong bộ chính trị, tôi dò ý, muốn nhờ ông nầy vận động cho tôi được đi ra khỏi nước Nga. Tôi thăm dò và hỏi ông:

“Tại sao có nhiều người muốn đi ra khỏi xứ nầy, và làm sao mà họ xin đi được, ai là cấp thẩm quyền chấp thuận cho họ được ra đi?”

Ông trả lời rằng:

“Những người không muốn sống trong xã hội chủ nghĩa nữa, thì cần gởi họ đi lao động ở miền Silberia cho họ biết giá trị của đời sống hiện nay. Trong xã hội chủ nghĩa có bảy điều siêu việt, mà các xứ tư bản không thể có được. Thứ nhất, tất cả mọi công dân đều có công ăn việc làm. Thứ hai là có công việc làm, nhưng ai cũng không cần làm việc chi cả. Thứ ba, dù không ai làm việc cả, nhưng tất cả mọi kế hoạch đều đạt được chỉ tiêu mỹ mãn. Thứ tư, dù mọi chỉ tiêu đều đạt, nhưng hàng hóa tiêu dùng vẫn thiếu hụt. Thứ năm, dù hàng hóa thiếu hụt nhưng mọi người vẫn có đủ mọi thứ. Thứ sáu, dù đã có đủ mọi thứ, mà tất cả mọi người đều cứ ‘thuổng’ thêm của công. Thứ bảy, dù mọi người đều ‘thuổng’ của công, nhưng không có báo cáo bị mất gì cả.”

Ông ấy tiếp lời:

“Nếu không là xã hội chủ nghĩa, thì làm sao có được những điều ưu việt như thế”(*). Nghe được vậy, tôi cũng lặng người mà thôi. Tôi cũng có gặp gỡ một số người Việt Nam đi qua Nga Sô để huấn luyện nghề cộng sản. Tôi gọi là nghề, vì theo cộng sản là một cách kiếm ăn mà khỏi lao động cực nhọc. Những người nầy, họ có nghe đến tôi, và tìm gặp. Họ là những người như ông Phú, ông Thành, cô Khai, tôi đều có đãi ăn vài ba lần, và lâu lâu cũng có giúp đỡ một ít tiền bạc, hoặc một cái vé xe lửa đi đường xa. Tôi cũng có khuyên họ rằng, sau nầy nếu có thành công trong việc tranh đoạt chính quyền, cũng nên lấy nhân ái làm gốc, đừng khủng bố, áp bức kềm kẹp nhân dân trong gọng kềm chuyên chính, đừng làm suy đồi xã hội bởi lý thuyết dối trá ông Cuội. Than ôi, lời khuyên của tôi cũng chẳng khác chi nước xối đầu vịt. Nhưng tôi phải nói, phải dặn dò, dù biết trước mười mươi rằng, sau nầy họ không nghe, không làm theo.”

Cụ Long ngáp dài lia lịa, lắc đầu và nói:

“Tôi cũng có gặp và quen biết nhiều cả với ông Lưu Thiếu Kỳ, chủ tịch nhà nước Trung Hoa khi qua Nga học nghề cộng sản. Những khi cho ông ăn, tôi cũng có nhắn nhủ ông nầy nhiều lần về đạo làm người, lòng nhân ái. Bên ngoài, thì ông nầy lể phép, dễ thương, nhưng làm sao mà đọc được lòng người.”

Tâm và An đưa mắt nhìn nhau và mĩm cười. Cụ Long không để ý, tiếp lời:

“Sau khi thế giới đại chiến lần thứ hai chấm dứt, nhiều quốc gia Âu Châu trở thành cộng sản, và sống trong tai họa tầy đình của sự hà khắc, áp bức ngu xuẩn đó. Và về sau, ở bên Trung Hoa, ông Mao, ông Lưu, cũng vớ được vài trang bản sao sách Cuội học được từ đàn anh Liên Xô, mà nắm được chính quyền trong tay vào năm 1949. Cả gần một nửa nhân loại trên hành tinh nầy chịu áp bức, đày đọa, hăm dọa ngày đêm, từ tinh thần đến vật chất. Tôi cảm thấy có phần trách nhiệm, tội lỗi đã gây ra khi dịch nửa cuốn sách Cuội cho ông Lê ghi chép lại. Bởi thế cho nên tôi sợ chết, vì chết sẽ bị về địa ngục hành hình. Tôi rán sống, rán kéo dài ngày đi đền tội ác đã gây ra. Tội của tôi, tuy gián tiếp, nhưng cũng có thể nặng hơn tội các ông lãnh tụ trực tiếp vấy máu trên tay. Nhiều năm tôi ân hận, mất ngủ, và thương xót nhiều ngàn triệu người đang bị chủ thuyết Cuội xéo dày.”

  1. Đoạn kết

Cụ Long nghỉ một lát, chiêu thêm hớp trà , rồi từ tốn nói tiếp:

“Này anh bạn. Khi tuổi còn trẻ, thì có một lý tưởng là tốt. Không có lý tưởng thì như con thuyền không lái, lênh đênh, bơ vơ không biết về bến bờ nào. Cứ mơ mộng đi, mộng to, mộng nhỏ, mộng nào cũng tốt cả. Có lý tưởng, để đem mộng vào thực, và đem thực vào mộng. Nhưng đa số những người nuôi mộng, phải cố gắng, đấu tranh cực lực với ngoại cảnh, với bản thân, và sau khi mộng đã thành, thì họ cảm thấy hụt hẩng, như không có gì cả, như phí phạm cả một đời để được cái ‘không’, mà phải hy sinh toàn thể năng lực, xương máu, và thời gian sống của đời người. Bởi vậy, có nhiều kẻ xem những người trẻ có lý tưởng là một lũ ngu ngơ, dại khờ. Và vì ngu ngơ, khờ dại nên rất dễ bị lợi dụng, bị cho ăn phân gà mà cứ vênh mặt lên hãnh diện. Đã có rất nhiều người trẻ chết cho lý tưởng, chết vì lý tưởng, và sung sướng đem mạng mình ra để làm một viên gạch xây dựng lý tưởng. Họ cũng không ngờ, cái viên gạch là sinh mạng họ, đem ra để xây nhà tù, giam hãm, nhốt những kẻ hiền lương vào trong đó. Hoặc cái lý tưởng đó, quay lại gây nên khổ đau cho nhân quần xã hội. Người lớn tuổi mà còn hăng say lý tưởng, thì có thể xem như một kẻ gàn, cứng đầu, khó thỏa hiệp. Không có chi khủng khiếp và đau buồn hơn khi người ta biết đã chọn lầm lý tưởng.”

Nghe cụ Long kể chuyện, Tâm chán nản trong lòng, nghĩ rằng, có lẽ ông già đã hóa khùng, lẩm cẩm, kể chuyện hoang đường, không tưởng.

Mấy năm sau, chiến tranh lan tràn khắp đất nước, bom đạn, chết chóc. Tâm được “tổ chức” giao phó trách nhiệm làm công tác trí vận tại tại nội thành Sài Gòn. Tâm hăng say hoạt động trong bí mật, không quản ngại nguy hiểm khó khăn, mơ một ngày tươi sáng, toàn dân được sống trong công bằng, no ấm và hạnh phúc hơn.

Năm 1975, chiến tranh chấm dứt. Tâm được cử đi thăm trái tim tổ quốc Hà Nội. Được sống trong thiên đàng xã hội chủ nghĩa mà bao năm nay anh hằng mơ ước. Tâm đã thấy rõ sự thực, anh tìm về mộ cụ Long, thắp hương và nước mắt dầm dề, lòng tràn đầy ân hận. Mấy năm sau, Tâm đã cùng An ra khơi đi tìm tự do. Trước khi nhắm mắt lìa đời vì đói và khát trên biển, Tâm đã nói cùng An:

“Tôi tưởng Nữa Cuốn Sách Cuội là chuyện hoang đường, không ngờ có thật.”

Bữa tiệc đầu tiên

Bữa tiệc đầu tiên

Bởi  AdminTD

Thái Hạo

5-11-2021

Từ vụ “rắc muối”, nhớ đến một chuyện xưa cũ, đó là năm thứ nhất đại học. Sau buổi đại hội, tôi “được” các bạn bầu làm bí thư của lớp. Đại hội, tất nhiên rồi, thành công tốt đẹp.

Chúng tôi được dắt đến một nhà hàng. Tôi từ nông thôn lên thành phố đi học, cái nhà hàng và bữa tiệc như thế khá xa lạ với tôi. Tôi áng chừng, với đồ ăn, bia bọt… như thế bữa tiệc này có thể bằng mấy tháng tiền cha mẹ chu cấp cho mình ở thời điểm đó. Lúc ấy, tôi ngồi cạnh một anh năm 4 là bí thư liên chi đoàn. Tôi hỏi anh “Mình đi nhậu thế này, là tiền ai?”, anh ấy trả lời “Tiền quỹ đoàn”.

Sau này, vì cứ thắc mắc mãi trong lòng, tôi mang chuyện này hỏi thầy tôi, rằng tại sao “cán bộ” đi nhậu mà lại dùng tiền quỹ của đoàn viên đóng góp, tiền ấy đáng ra phải được sử dụng vào những việc công và hữu ích chứ…”. Thầy tôi nói một câu dường như rất lạc đề: “Em là người chưa tha hóa”.

Lúc ấy tôi không hiểu, mãi về sau mới dần dần cảm nhận được ẩn ý của thầy khi đã nhìn thấy, đọc thấy, nghe thấy đủ nhiều. Chính cái “bữa tiệc đầu tiên ấy” đã ở lại mãi trong tâm trí tôi, nó khiến tôi nhìn và luôn nhìn vào cái cách tổ chức, cách vận hành và cách xài tiền công, về cả căn bệnh “vua tập thể”, nó dẫn tôi đến ngó sâu hơn vào cả nạn tham nhũng, tệ mua quan bán tước, ăn trên ngồi trước… Viết đến đây bỗng nhớ bài thơ “Sở kiến hành” (Những điều trông thấy lúc đi đường) của Nguyễn Du, miêu tả hai hình ảnh trái ngược của quan và dân:

“Thức ăn thừa đổ đi
Chó no ngấy món ngon,
Biết đâu bên đường quan,
Có mẹ con cực khổ!”

Đến nay, những hình ảnh như thế dường như càng được tô đậm hơn bởi những bất công oan nghiệt giữa thế kỷ 21 này.

Tiêu tiền của người khác dĩ nhiên là không thể chấp nhận được rồi, điều ấy không cần phải bàn nữa; nhưng hoang phí tiền bạc của chính mình cũng vẫn là một điều tệ hại. Tôi không khuyến khích sự khổ hạnh, nhưng có những giá trị phổ quát mà cả nhân loại thừa nhận và nỗ lực giữ gìn, xiển dương, như là đức khiêm cung, là sự tiết độ. Xã hội chỉ lành mạnh khi con người sống lành mạnh và giàu có về tâm hồn.

Từ những bữa tiệc cò con ở cấp thôn xã lên tiệc sang của cấp huyện tỉnh, rồi đại yến… Nó không phải chỉ đơn thuần là câu chuyện lãng phí hay tiêu tiền chùa. Sự hưởng thụ vật chất vô độ chỉ chứng tỏ một tinh thần nghèo nàn thảm hại. Sự trống rỗng của cái đầu và trái tim phải được bù đắp bằng sự đầy ắp của cái bụng và cái đít.

Hoang phí bằng lối sống xa hoa phè phỡn là biểu hiện của sự tha hóa nhân tính. Đối với một triều đại thì đó là dấu hiệu của suy tàn và diệt vong.

Tận cùng bất lương, tận cùng giả dối

 Tận cùng bất lương, tận cùng giả dối

Bởi  AdminTD

Phạm Đình Trọng

5-11-2021

Năm 2016, người đứng đầu nước Mỹ giầu nhất thế giới, tổng thống Barack Obama thăm chính thức Việt Nam. Sau những lễ nghi và thăm viếng ngoại giao ở Hà Nội, đến bữa, Tổng thống Mỹ ra quán bún chả bình dân phố Huế ăn trưa cùng dân thường Hà Nội. Một bát nước chấm, chả nướng. Một đĩa bún. Một đĩa rau sống. Một chai bia Hà Nội. Bữa ăn của Tổng thống Mỹ khi công cán ở Hà Nội chỉ vài chục ngàn đồng tiền Việt, chỉ hai, ba đô la Mỹ.

Tổng thống Mỹ ăn bữa trưa bình dị cùng người dân thường Việt Nam không những là hình ảnh đẹp của con người Barack Obama mà còn là hình ảnh đẹp của nước Mỹ, hình ảnh lung linh của một chính quyền dân chủ, chính quyền từ dân mà ra, gần dân, chan hoà với dân, không có gì cách biệt với dân.

Đoàn Chính phủ nhà nước cộng sản Việt Nam thăm vương quốc Anh với những thành viên như Bộ trưởng bộ Công an Tô Lâm đầy tai tiếng. Tai tiếng ở trong nước đàn áp, bắn giết dân. Đàn áp quyền biểu tình, đàn áp quyền tự do ngôn luận của dân. Xông vào tận giường ngủ bắn giết dân ở Đồng Tâm, Mỹ Đức, Hà Nội. Tai tiếng cả trên thế giới đến mức trở thành tội phạm quốc tế khi đưa cả thê đội mật vụ với hai tướng chỉ huy đột nhập phi pháp vào nước Đức, đạp lên luật pháp nước Đức bắt cóc Trịnh Xuân Thanh đưa về Việt Nam.

Đoàn Chính phủ của đất nước tận cùng nghèo mạt. Người dân phải lang bạt, vật vờ khắp thế giới kiếm sống. Đàn ông bán sức lao động làm thuê. Không có việc làm thuê thì làm tội phạm. Buôn ma tuý. Buôn người. Làm băng đảng cướp của giết người. Làm kẻ cắp vặt ở siêu thị. Đàn bà bán thân làm nô lệ tình dục.

Đầy tai tiếng cả về nhân cách con người và tai tiếng cả về danh dự, thể diện quốc gia, trong đoàn Chính phủ nhà nước cộng sản Việt Nam thăm nước Anh, Bộ trưởng Tô Lâm lại một lần nữa lộ ra nhân cách thấp hèn, chỉ biết có miếng ăn, không biết đến nhân dân khốn khó, không biết đến thể diện quốc gia.

Tổng thống Mỹ đến Việt Nam đi ăn bữa trưa bún chả, chỉ, hai, ba đô la. Bộ trưởng Tô Lâm đi ăn bữa tối thịt bò dát vàng. Giá miếng thịt bò dát vàng trong miệng Bộ trưởng Tô Lâm cả ngàn đô la. Tổng thống Mỹ tự cầm chai bia, ngửa cổ lên tu như mọi người dân lao động bình thường. Bộ trưởng Tô Lâm không cần động tay, chỉ việc há miệng. Hai vành môi banh ra như mỏ con chim non chờ chim mẹ mớm mồi. Tô Lâm há mồm chờ người hầu đút miếng thịt bò dát vàng vào miệng. Một hình ảnh rất kệch cỡm, chướng mắt, thiếu thẩm mĩ và vô chính trị.

Nơi Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng bộ Công an Tô Lâm cong môi chờ người hầu đút miếng thịt bò dát vàng triệu đô la vào miệng chính là nơi mới năm trước ba mươi chín người Việt Nam nghèo đói, trên đường trốn chui trốn lủi phi pháp vào nước Anh kiếm miếng ăn đã chết ngạt, chết lạnh cứng trong thùng xe đông lạnh.

Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng bộ Công an Tô Lâm nuốt miếng thịt bò dát vàng triệu đô vào cái dạ dày tham lam ở ngay chính nơi ba mươi chín người Việt Nam nghèo đói chết thê thảm trên đường trốn chui trốn lủi vào nước Anh kiếm miếng ăn. Càng thấy sự tận cùng bất lương, tận cùng mất tính người ở ông Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng bộ Công an.

Vì có những người Việt Nam sung sướng giơ ngón tay cái lên tỏ ra hãnh diện khi nuốt miếng thịt bò dát vàng triệu đô mới có ba mươi chín người Việt Nam nghèo đói đi kiếm miếng ăn phải chết cóng trong thùng xe đông lạnh.

Ở ngay nơi ba mươi chín người Việt Nam nghèo đói đi kiếm miếng ăn chết thảm, Ông Uỷ viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng bộ Công an nuốt miếng thịt bò dát vàng triệu đô rồi mau mắn, hăm hở đến thành kính dâng hoa tri ân ông thuỷ tổ cộng sản thế giới Karl Marx và ông thuỷ tổ cộng sản Việt Nam Hồ Chính Minh, bày tỏ tấm lòng trung thành với lí tưởng đấu tranh chống bất công, nghèo đói, mang lại ấm no hạnh phúc cho giai cấp vô sản. Không phải chỉ tận cùng bất lương, ông Uỷ viên Bộ Chính trị đảng cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng bộ Công an còn tận cùng giả dối.

Có phải người cộng sản là như vậy: Tận cùng bất lương. Tận cùng giả dối?

Điều gì khó chịu nhất ở Việt Nam?

Điều gì khó chịu nhất ở Việt Nam?

Bởi  AdminTD

 Nguyễn Thọ

5-11-2021

Nhiều người nước ngoài đã đến Việt Nam thường bày tỏ những cảm xúc khác nhau về đất nước, con người xứ này.

Trang Quora.com có đăng ý kiến của Michael Gailey, người Mỹ đã sống 12 năm ở VN. [1] Dù rất thích sống ở Việt Nam, lấy vợ Việt, anh vẫn kể ra một loạt các vấn đề khiến anh khó chịu. Nào là các cây cột điện chằng chịt dây, nào là sự rối loạn trong giao thông, rắc rối trong việc quản lý tiền tệ, ngoại hối. Rồi bụi, ồn, ô nhiễm, v.v. và v.v.

Tất cả những chuyện đó người Việt đều biết, đều khó chịu và rồi đều cùng chung tay làm cho không khí thêm bụi, nước thêm ô nhiễm, tiếng ồn càng tăng, cột điện càng chằng chịt, biển số nhà càng rối loạn, giao thông càng ùn tắc… Ai cũng chặc lưỡi chấp nhận một nền hành chính quan liêu, từ nhà bank đến đăng ký tạm trú, khai báo covid…

Nhiều người Việt coi nguồn gốc của mọi vấn nạn ở chỗ nhà nước yếu kém, ở chế độ chính trị lạc hậu. Điều đó đúng 100%, xét về phía nhà nước. Nhưng còn 100% của vế kia, của người dân thì ít ai nhắc đến.

Người Tây vào Việt Nam thì lại ít kể về nhà nước pháp quyền, về tự do ngôn luận, về quyền con người. Vì họ biết là họ đang ở đâu. Họ thường chú ý đến cách hành xử của con người, đến cái cột điện, cái quán nhậu để đánh giá văn hóa của chủ nhà.

Có một số người Tây khó chịu khi thấy quán cà phê, quán nhậu lúc nào cũng đông và đặc biệt thường là người trẻ tuổi ngồi. Các bạn trẻ đó có thể ngồi cả ngày, trong khi họ là những người có năng lực lao động nhất trong gia đình, xã hội.

Đã thế người Việt lại có thói quen khoe ảnh lúc ăn nhậu. Tôi dị ứng nhất khi nhìn thấy các bức ảnh kiểu này, bất kể khi cả bọn quần đùi bệ rạc ngồi bệt trên chiếu, bát đũa lôi thôi, hay các đại gia ngồi bên cỗ bàn đắt tiền, rượu bạc triệu. Kèm theo đó là những nụ cười mãn nguyện, hả hê trước miếng ăn, mâm cỗ.

Đó là lỗ hổng văn hóa!

Như vậy thì hình ảnh cái cột điện chằng chịt, cái biển số nhà dài lê thê, cảnh ngã tư ùn tắc hay những nụ cười hả hê bên mâm nhậu đều cùng một nguồn gốc.

[1] https://www.quora.com/What-do-you-not-like-in-Vietnam

Tâm ta thế nào thì nhìn ra thế ấy

Tâm ta thế nào thì nhìn ra thế ấy

Một hôm Tô Đông Pha đến chơi chùa, cùng ngồi thiền với nhà sư, trong khi ngồi thiền thấy an lạc xuất hiện. Xả thiền xong, Tô rất vui vẻ hỏi nhà sư:

– Ngài thấy tôi ngồi thiền như thế giống cái gì?

– Trông ngài giống như Đức Phật.

Tô nghe thế vui lắm. Thiền sư hỏi lại:

– Thế ngài thấy tôi ngồi thiền giống cái gì?

Tô đáp:

– Trông ngài ngồi thiền giống một đống phân bò.

Thiền sư nghe thế cũng hứng chí lắm.

Tô Đông Pha cười suốt dọc đường về, nghĩ bụng hôm nay ta đã thắng lão hòa thượng đó một phen rồi. Bị ta nói là đống phân bò mà không bẻ lại được câu nào cả. 

Tô về khoe với em gái Tô tiểu muội:

– Hôm nay anh đã qua mặt được lão sư già đó rồi.

Tô tiểu muội hỏi chuyện gì, Tô Đông Pha hào hứng kể lại. Tô tiểu muội cười ầm lên, Tô Đông Pha càng hào hứng. 

Tiểu muội nói:

– Muội cười là cười huynh đó, huynh lại thua lão hòa thượng ấy rồi.

Tô ngạc nhiên hỏi thế nào. Tiểu muội đáp:

– Tâm lão hòa thượng là tâm bồ tát, nên thấy huynh cũng giống như Bồ tát. Còn tâm của huynh thì toàn phân bò nên huynh thấy hòa thượng như đống phân bò thôi. Tâm huynh như thế làm sao mà bằng được tâm lão hòa thượng.

Tô đỏ mặt tía tai, xấu hổ với em gái quá.

Trong tâm thức của con người chứa đựng rất nhiều hạt giống. Nếu mình để cho những hạt giống của giận hờn, ganh tỵ, ích kỷ, hơn thua… có cơ hội phát sinh thì mình nhìn đâu cũng thấy “phân bò” hết. 

Ngược lại, nếu mình biết nuôi dưỡng và phát triển những hạt giống từ bi, hỷ xả, biết ơn, cảm thông, tha thứ… thì nhìn ai cũng thấy yêu thương.

 (ST)

Từ câu chuyện này ta thấy rằng những người tự xưng là tín đồ của bất cứ tôn giáo nào mà lên tiếng chê bai nói xấu các tôn giáo khác thì chúng ta biết rằng họ chẳng phải là người tâm linh công chính,thuần thành

Bí quyết thành công trên đời về cả 2 mặt vật chất và tinh thần là : LÚC NÀO CŨNG NHÌN VÀO MẶT TỐT ĐẸP CỦA MỖI NGƯỜI , BỔ SUNG CHO ĐIỀU TỐT CỦA CHÍNH MÌNH ĐỂ 2 BÊN ĐỀU CÓ LỢI.

TẠI SAO VẬY: VÌ NHÀ AI CŨNG CÓ RÁC,  RÁC CỦA MÌNH ĐỔ ĐI CHƯA HẾT, MÀ MANG RÁC CỦA NGƯỜI KHÁC VÀO NHÀ CỦA MÌNH THÌ CÓ BỊ HÔI THỐI RÁNG MÀ CHỊU, KHÔNG NÊN TRÁCH MÓC AI CẢ.

NÀNG TRĂNG CỦA TA 

From: TU-PHUNG

Người già : càng cao tuổi càng cần ăn ngon – BS Lương Lễ Hoàng

Người già : càng cao tuổi càng cần ăn ngon – BS Lương Lễ Hoàng

 Các nhà nghiên cứu ở Hoa Kỳ vừa chứng minh hẳn hòi là, người cao tuổi nếu có da có thịt một chút, nghĩa là dư cân, ít bị bệnh và sống thọ hơn bạn đồng niên mình hạc xương mai. Lượng mỡ dưới da, tất nhiên không nhiều, chính là kho dự trữ dưỡng chất để đáp ứng cho nhu cầu phục hồi cơ thể đã cao tuổi mỗi lần ngã bệnh. Chúng ta sống đến tuổi nầy là may mắn lắm rồi ! Nên ăn những gì chúng ta thích, đừng hà tiện nữa ! Để dành tiền cho con cháu biết bao nhiêu cho đủ ? Hơn nữa, chúng nó có bằng cấp, có công việc tốt, chúng nó hẵn nhiên là giàu có hơn mình! Thì tại sao mình lại hà tiện, chắt chiu để dành cho chúng? Biết bao nhiêu cho đủ ? (còn ăn thì cứ ăn cho thỏa thích. Một mai răng rụng hết chỉ còn nhìn mà hít hà thôi !)

***

Tuy không hẳn vì bất hiếu nhưng do định kiến là người cao tuổi không cần ăn nhiều nên có nhiều người già bị rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng một cách oan uổng ! Thêm vào đó là nhiều người lớn tuổi phải kiêng cữ, thường khi thái quá do con cháu ép buộc, vì bệnh tiểu đường, cao huyết áp, tăng mỡ trong máu…

Vấn đề chưa dừng lại ở điểm cơ thể người cao niên vì thế mà thiếu dưỡng chất. Nguy hơn nhiều là vì lý do đó mà sức đề kháng bị xói mòn, khiến cho bệnh bội nhiễm cũng như bệnh do thoái hóa cơ khớp trở thành mối đe dọa thường xuyên cho cơ thể vốn vừa nhạy cảm, vừa dễ thiếu nước khi tuổi đời chồng chất. Nếu xét về mặt dược lý, bữa ăn của người cao tuổi thậm chí còn quan trọng không kém viên thuốc đặc hiệu nữa !

Quan điểm cho rằng, người cao tuổi cần phải e dè với từng miếng ăn, là một sai lầm nghiêm trọng. Nhiều công trình nghiên cứu trong thời gian gần đây cho thấy hình thức ăn uống dồi dào với rau cải tươi, nhiều cá biển, và nhất là thấy ngon miệng, là phương pháp dinh dưỡng lý tưởng cho người già. Bằng chứng là người cao tuổi ở Địa Trung Hải ít bị nhồi máu cơ tim nhờ khẩu phần đa dạng với thực phẩm “xanh” chiếm tối thiểu 60% tổng số lượng khẩu phần ăn hàng ngày. Bằng chứng là người Nhật có tuổi thọ cao nhất thế giới nhờ thực đơn hầu như không bao giờ thiếu cá biển và đậu nành.

Ngược lại, người cao tuổi trong các nhà dưỡng lão ở Hoa Kỳ, nơi cách ăn uống kiêng cữ được đặt lên hàng đầu, lại có tỷ lệ tai biến mạch máu não và tử vong vì nhồi máu cơ tim vượt xa các quốc gia khác !

Từ nhận thức đó, thay vì tiếp tục đề cao cách ăn uống kiêng khem, đa số chuyên gia dinh dưỡng ở khắp nơi đã đồng lòng tán dương phương pháp dinh dưỡng mang nhiều nét “đổi mới” cho người già dựa trên các nguyên tắc như sau :

  • Người cao tuổi nên ăn tất cả những món ưa thích và ngon miệng, miễn là với số lượng không gây trở ngại cho vấn đề tiêu hóa.
  • Khẩu phần hàng ngày càng đa dạng càng tốt, càng ít thực phẩm “ăn liền” (fast food) càng hay.
  • Chắc chắn cần uống đủ nước trong ngày bằng cách chú trọng các món cung cấp nước như rau trái, món canh…, thay vì uống nước vì có nhiều người già thường chỉ uống khi thấy khát.
  • Đừng nấu cho người cao tuổi các món ăn tuy bổ dưỡng về thành phần nhưng với khẩu vị nuốt không vô ! Đừng quên cảm giác ngon miệng là đòn bẩy cho sức kháng bệnh.
  • Không nhất thiết phải cữ muối, tuyệt đối nếu không có chỉ dẩn của bác sĩ trong giai đoạn bệnh tim mạch cấp tính.
  • Không nên thiếu món ngọt nếu thực khách chưa bị bệnh tiểu đường.
  • Luôn luôn có rau quả tươi trong khẩu phần.
  • Nên có nhiều bữa ăn nhỏ thay vì ngày ba bữa đúng giờ.
  • Một ly rượu vang cho mỗi bữa ăn là điều nên làm.
  • Chỉ tránh các món ăn gây dị ứng, món chiên xào nếu đã có bệnh trên đường tiêu hóa như viêm đại trường mãn, viêm ruột dị ứng, trĩ…
  • Có bữa cơm gia đình cùng con cháu thay vì ăn riêng trong buồn tẻ như người bệnh nặng.
  • Vận động nhẹ trước và sau bữa ăn.

Con cháu nếu biết thương ông bà, đừng quên là các nhà nghiên cứu ở Hoa Kỳ vừa chứng minh hẳn hòi là : người cao tuổi nếu có da có thịt một chút, nghĩa là dư cân, ít bị bệnh và sống thọ hơn bạn đồng niên mình hạc xương mai. Lượng mỡ dưới da, tất nhiên không nhiều, chính là kho dự trữ dưỡng chất để đáp ứng cho nhu cầu phục hồi cơ thể đã cao tuổi mỗi lần ngã bệnh.

Không cho người già ăn no bụng và ngon miệng là một điều đáng trách cả về lý lẫn về tình

B/s Lương Lễ Hoàng

Phái đoàn nghị sĩ châu Âu : Nền dân chủ Đài Loan là “kho báu” cần bảo vệ

Trong Thanh

Nghị sĩ Pháp Raphaël Glucksmann, trưởng đoàn nghị sĩ EU:

Nền Dân chủ ĐÀI LOAN là “KHO BÁU”

***

Nghị sĩ Pháp Raphaël Glucksmann, dẫn đầu phái đoàn Nghị Viện Châu Âu thăm Đài Bắc, hôm nay 04/11/2021 tuyên bố nền dân chủ Đài Loan là « một kho báu » cần phải được bảo vệ, hứa sẽ tiếp tục ủng hộ hòn đảo trong lúc áp lực từ Trung Quốc vẫn nặng nề.

Trong cuộc gặp với tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn, nghị sĩ Raphaël Glucksmann nhận định nền dân chủ Đài Loan là một gia tài mà « tất cả các nền dân chủ trên thế giới cần phải trân trọng và bảo vệ ». Ông khẳng định : « Chúng tôi đến đây với một thông điệp đơn giản và rõ ràng : Các bạn không đơn độc. Châu Âu đứng bên cạnh các bạn để bảo vệ tự do, nhà nước pháp quyền và nhân phẩm ».

Cũng theo ông Glucksmann, Liên Hiệp Châu Âu (EU) sắp tới cần có chương trình cụ thể về các cuộc họp cấp cao, và những biện pháp để cùng xây dựng quan hệ đối tác EU-Đài Loan mạnh mẽ hơn.

Đây là phái đoàn « chính thức » đầu tiên của Nghị Viện Châu Âu thăm Đài Loan. AFP cho biết trước đó, đại diện Trung Quốc ở Bruxelles đã cảnh cáo chuyến thăm của các nghị sĩ châu Âu « gây phương hại đến lợi ích căn bản của Trung Quốc, ảnh hưởng đến việc phát triển lành mạnh quan hệ giữa Trung Quốc và EU ».

Hòn đảo 23 triệu dân có chính phủ, quân đội và tiền tệ riêng, từng là thành viên Liên Hiệp Quốc trước khi bị Trung Quốc giành lấy chiếc ghế năm 1971, vẫn bị Bắc Kinh coi là một tỉnh của Trung Quốc và sẽ được thống nhất với Hoa lục, bằng vũ lực nếu cần. Bộ trưởng Quốc Phòng Đài Loan báo động áp lực quân sự của Trung Quốc đã lên đến mức cao nhất kể từ 40 năm qua, với hàng loạt chiến đấu cơ xâm nhập vùng nhận diện phòng không (ADIZ) của Đài Loan trong tháng 10.

Về phía Washington, tổng tham mưu trưởng quân đội Mỹ Mark Milley hôm qua, 03/11/2021, khẳng định Hoa Kỳ « hoàn toàn có khả năng » bảo vệ Đài Loan đối phó với Trung Quốc nếu cần thiết. Trong một hội thảo của Aspen Security Forum, khi được hỏi về nguy cơ Trung Quốc tấn công Đài Loan, vị tướng cao cấp nhất của Mỹ cho rằng kịch bản khó có thể xảy ra trong vòng hai năm tới. Ông nói thêm Hoa Kỳ luôn mong muốn « một giải pháp hòa bình » cho vấn đề Đài Loan, và nhận định sức mạnh đang lên của Trung Quốc là nhân tố gây bất ổn cho hành tinh.

Trong khi đó Reuters dẫn nguồn tin quốc phòng cho biết Đài Loan sẽ tăng cường huấn luyện lực lượng quân dự bị trong năm tới, tăng gấp đôi các cuộc thực tập chiến đấu.

Phụ nữ thông minh khó lấy chồng, đúng không?

Van Pham

Phụ nữ thông minh khó lấy chồng, đúng không?

Đơn Dương

Đàn ông thích một nửa của mình không cần sử dụng trí tuệ vào các công việc quan trọng, không cần “xông pha” mà chỉ là “hậu phương vững chắc” cho họ là đủ rồi. Bạn thấy điều này đúng không?

Sara và John gặp nhau trên mạng. John nhanh chóng bị Sara “hớp hồn” qua cách “chat” với lời lẽ thông minh, dí dỏm. Sara cũng mến anh chàng với vẻ điển trai (qua ảnh), khá thông minh, chu đáo và thú vị. Mọi thứ diễn ra suôn sẻ, cho đến khi họ hẹn gặp nhau ở quán cà phê vào một buổi chiều, sau giờ tan sở.

Qua cuộc chuyện trò, cả hai thấy có nhiều điểm chung, nhưng tất cả chỉ diễn trong vòng chưa đầy một tiếng, thì John nhìn đồng hồ và nói anh phải đi. John không đề cập đến việc gặp lại nhau lần tới. Họ chấm dứt mối quan hệ từ đây. Nhưng Sara đã rất khó khăn để bỏ qua chuyện này. Cô muốn biết liệu mình đã làm gì sai chứ!

Vậy, chuyện gì đã xảy ra?

Khi được hỏi vì sao lại “dứt điểm” sớm vậy? John nói, đơn giản là Sara chẳng có gì lối cuốn anh, không hề thú vị như thông tin trên trang cá nhân của cô. Nhưng có một yếu tố quan trọng, khiến anh không có ý định tiến tới, là Sara quá thông minh.

“Anh ấy biết rõ tôi làm gì để kiếm sống, vì tôi đã liệt kê hết trên trang cá nhân của mình. Rồi anh ấy nhận xét về vài điều liên quan đến lĩnh vực của tôi, và tôi phản hồi bằng một số thông tin, từ một bài báo nghiên cứu mà tôi vừa xuất bản. Nghe xong, anh ấy đứng lên và nói là phải đi,” Sara kể lại.

Sara là nhà khoa học với một số bằng cấp cao. Cô quen với việc chia sẻ ý tưởng với những người trong phòng thí nghiệm. Khi còn trẻ, cô quen với việc các chàng trai từ chối cô làm bạn gái vì họ cho rằng cô quá nghiêm túc, quá uyên bác hoặc quá thông minh.

Nhiều năm trước, mẹ của Sara đã nói với cô ấy rằng: “Nếu con muốn tìm một người chồng, thì đừng quá thông minh.” Sara không nghĩ đó là lời khuyên đúng, thậm chí… lỗi thời và không bảo vệ nữ quyền. Người bạn trai lâu năm trước đây của cô không những không có vẻ gì là bận tâm bởi sự thông minh của cô. Thậm chí anh ấy còn hãnh diện về điều đó. Nhưng rồi anh bạn cũng từ từ… giãn ra, và Sara vẫn lẻ loi. Bây giờ Sara đang hẹn hò. Sau cuộc gặp với John, cô nghĩ lại lời khuyên của mẹ.

Mẹ của Sara có đúng không?

Lora Park, nhà tâm lý học xã hội tại Đại học Buffalo, cùng với các đồng nghiệp của bà là Ariana Young và Paul Eastwick, đã nghiên cứu phản ứng của đàn ông đối với những phụ nữ thông minh hơn họ. Trong ba nghiên cứu riêng biệt, các nhà tâm lý phát hiện ra rằng đàn ông bị thu hút bởi những phụ nữ thông minh ở khoảng cách xa, nhưng khi tiếp xúc gần thì họ lại trở nên kém hấp dẫn, cả về thể xác lẫn tâm lý tình cảm.

Trong một nghiên cứu, sinh viên nam được yêu cầu đọc về một tình huống giả định, một sinh viên nữ trong lớp học tốt hơn họ hoặc kém họ môn toán hoặc tiếng Anh, và sau đó để họ suy nghĩ, cảm nhận như thế nào và ứng xử trong tình huống như vậy. Sau đó, họ được yêu cầu tưởng tượng rồi đánh giá người nữ cả về sự ấm áp và thân thiện, cũng như về mức độ mong muốn cô bạn học giỏi ấy sẽ là “đối tác lãng mạn” lâu dài. Cho dù môn học là toán hay tiếng Anh, phái nam đánh giá người nữ giới giỏi hơn họ là “niềm mơ ước”.

Trong một nghiên cứu khác, các nhà nghiên cứu đưa nam sinh viên đại học vào phòng để làm bài kiểm tra chung với một cô gái – là sinh viên học giỏi, khá xinh xắn. Cuối buổi kiểm tra, các nam sinh viên được hỏi cảm nhận về cô sinh viên trẻ kia có hấp dẫn và các chàng trai này có hứng thú hẹn hò với cô ấy không. Kết quả của tình huống này, các nam sinh viên tin bản thân mình được đánh giá cao hơn, và cho rằng cô bạn kia kém hấp dẫn, họ không muốn trao đổi thông tin cá nhân, cũng không muốn lên kế hoạch hẹn hò với cô ấy.

Một nhóm thí nghiệm thứ ba cũng cho thấy nhiều điều tương tự, với một số giải thích về lý do tại sao điều này xảy ra. Trong các bài kiểm tra đó, những người tham gia là nam giới được yêu cầu đánh giá “cảm giác đàn ông” của họ trong các tình huống mà họ bị lép vế hoặc vượt trội hơn trước một người phụ nữ thông minh, giỏi giang, xem có muốn trở thành “đối tác tiềm năng” của cô ấy không. Kết quả là đấng mày râu tỏ vẻ thích thú khi ở khoảng cách xa, còn khi đến gần, đấng mày râu lại có cảm giác rằng người phụ nữ thông minh kia là “mối đe dọa” đối với họ.

Nhiều nghiên cứu khoa học đưa ra kết quả là đàn ông thường có cảm giác không thoải mái khi hẹn hò với những cô gái thông minh.

Một nghiên cứu mới của nhóm ba nhà tâm lý học ở Đại học Texas cho thấy nhiều phụ nữ thông minh vẫn độc thân dù đã cố gắng hẹn hò.

Theo Atlantic, đàn ông có chút thành công thường lựa chọn hẹn hò với những phụ nữ kém giỏi giang. Lựa chọn này đơn thuần là để tìm một người phụ nữ quan tâm đến họ. Theo lý giải này, đàn ông không muốn một người phụ nữ sử dụng trí tuệ của mình vào các công việc quan trọng, mà là “hậu phương vững chắc” cho họ là đủ rồi.

Trở lại câu chuyện của Sara, cuối cùng cô nàng cũng gặp được một người đàn ông “trong mộng”, nghĩa là giỏi giang và thông minh hơn cô, khiến cô phải chịu… nhường một bước, bớt… thông minh hơn một tí. Họ đã chung sống với nhau được vài năm và đang lên kế hoạch tổ chức đám cưới.

Bạn nghĩ sao về câu chuyện trên, hãy chia sẻ suy nghĩ, kinh nghiệm và ý tưởng của riêng bạn về chuyện này nhé.

Theo Psychologytoday, The Atlantic

***

– Mọi thứ diễn ra suôn sẻ, cho đến khi họ hẹn gặp nhau ở quán cà phê vào một buổi chiều. Minh họa: Unsplash.

– Mẹ của Sara đã nói với cô ấy rằng: “Nếu con muốn tìm một người chồng, thì đừng quá thông minh.” Minh họa: Unsplash

– Một số đàn ông cho rằng phụ nữ thông minh là “mối đe dọa” đối với họ. Minh họa: Unsplash.

 NIỀM VUI KHI TRAO TẶNG

 NIỀM VUI KHI TRAO TẶNG

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Thời nào cũng thế, người ta có thói quen nhận xét và đánh giá một người ở sự giàu có phong lưu, thể hiện qua phong cách chưng diện và đồ dùng.  Cũng vậy, trong thời đại hôm nay, khi mà nhiều người lấy kim ngân làm thước đo cho mọi giá trị, những nhận định về một người lại càng lầm lẫn hơn.  Người ta chú trọng đến sự giàu có bề ngoài mà ít để ý đến giá trị đích thực của một con người.  Lời Chúa hôm nay muốn giúp chúng ta nhìn rõ hơn, để rồi trong mối tương quan thường ngày, chúng ta trân trọng những giá trị cao cả, mà lại ở dưới một vỏ bọc xem ra là rất bình dị đơn sơ.

Lời Chúa hôm nay nói đến hai người phụ nữ góa bụa.  Một người ở thành Sarepta thời ngôn sứ Elia, một người thời Chúa Giêsu.  Mỗi người một cách, cả hai đều quảng đại và chân thành.  Trong truyền thống Do Thái thời xưa, người phụ nữ góa bụa bị coi như đồ bị chúc dữ (x. Tb 3,7-9).  Họ phải chấp nhận rất nhiều thiệt thòi trong đời sống hằng ngày và trong những sinh hoạt cộng đồng.  Góa bụa đã là điều đau khổ và bất hạnh, người đàn bà góa trong Tin Mừng còn được diễn tả là người nghèo.  Cái nghèo của bà được thể hiện qua cách bà len lén đến gần hòm tiền công đức của Đền Thờ.  Cái nghèo cũng thể hiện qua số tiền mà bà đã bỏ vào đó, chỉ có hai đồng tiền kẽm, trị giá bằng một phần tư đồng xu Rôma.  Tuy vậy, theo cái nhìn của Chúa Giêsu, số tiền nhỏ mọn bà này dâng, lại là số tiền có giá trị lớn hơn cả.  Chúa Giêsu đã giải thích: vì bà này đã rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào hòm tiền công đức tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.  Chúng ta chú ý tới câu nhấn mạnh của Chúa ở chữ “tất cả” mà chúng ta vừa nghe.  Người đời vẫn nói: của cho không bằng cách cho.  Với hai đồng kẽm, người đàn bà góa nghèo đã dâng vào Đền thờ cả tấm lòng, kèm theo đức thờ phượng và tâm tình yêu mến.

Các nhân vật được nêu trong Bài đọc I và bài Tin Mừng thuộc hai thái cực đối lập, khi xét theo địa vị xã hội.  Một bên là những người biệt phái và những kinh sư, bên kia là những người đàn bà góa bụa nghèo khổ.  Biệt phái và kinh sư là những người uyên bác về trí tuệ, hoàn hảo trong tư cách thể hiện; những bà góa mang thân phận hẩm hiu, vừa nghèo về tiền bạc, lại không có chỗ trong các buổi hội họp và sinh hoạt cộng đồng.  Ấy vậy mà những người uyên bác lại bị Chúa trách mắng nghiêm khắc, và những người góa bụa bị mọi người quên lãng thì lại được Chúa khen.  Kinh Thánh Cựu ước cũng như Tân ước đều diễn tả Thiên Chúa là Đấng yêu thương bênh vực những người góa bụa, cô nhi và kẻ cô thân cô thế.  Ngài là chỗ dựa cho họ.  Các ngôn sứ và các tác giả thánh vịnh còn khẳng định rõ: ai đối xử bất công với những người thiệt thòi này sẽ bị Thiên Chúa báo oán.  Người phụ nữ quê ở Sarépta đã quảng đại với ngôn sứ Elia, đến nỗi chỉ còn một chút bột cuối cùng cũng dành cho vị ngôn sứ.  Lòng quảng đại của bà đã được Chúa thưởng công tức khắc.  Khi nhắc lại cách công đức của bà góa nghèo, Chúa Giêsu khẳng định: cùng với tặng vật, người cho cần có một tấm lòng.  Người muốn chúng ta nhìn nhận một người không dựa vào những gì là bề ngoài, nhưng nơi tấm lòng của họ.  Trong cuộc sống của chúng ta hôm nay cũng thế, có những trái tim nhân hậu, những tấm lòng quả cảm và những nhân cách cao thượng được ẩn giấu nơi những bề ngoài đơn sơ chất phác và khiêm tốn bình dân.  Mọi người đều đáng tôn trọng quý mến, vì trước mặt Chúa, hết thảy đều bình đẳng.  Mọi người đều được dựng nên giống hình ảnh của Chúa.  Ai cũng được mời gọi sống thánh thiện, và sống thánh thiện tức là nên giống Chúa, vì Chúa là Đấng Chí thánh và là nguồn mạch của sự thánh thiện.

Lời Chúa hôm nay vừa lưu ý chúng ta hãy thay đổi cách nhận định về một con người hay một sự việc, vừa nhắc bảo chúng ta, nghĩa cử chia sẻ luôn có giá trị trước mặt Chúa và giúp bản thân chúng ta nên hoàn thiện.  Chính lúc cho đi là khi được nhận lãnh.  Chúa dạy chúng ta: cho thì có phúc hơn nhận.  Những gì chúng ta giúp đỡ người bất hạnh, sẽ đem lại cho chúng ta niềm vui và sự bình an thanh thản trong tâm hồn.  Nghĩa cử chia sẻ của chúng ta giống như lửa, càng cho đi, càng lan rộng mà không hề mất đi.  Niềm vui của những tấm lòng rộng rãi sẽ luôn tồn tại và được nhân lên mãi.

Tác giả thư Do Thái mời gọi chúng ta hãy chiêm ngưỡng Đức Giêsu Thượng tế.  Người đã hy sinh vì tội lỗi nhân loại.  Người đã mang trên thân mình tất cả những đau khổ đáng lẽ chúng ta phải chịu, để nhờ đau khổ của Người mà chúng ta được hạnh phúc và bình an.  Noi gương Chúa, chúng ta hãy hy sinh, chia sẻ, cho đi chính sức lực, thời gian, tinh thần, vật chất, để đem lại cho cuộc sống này nhiều niềm vui.

Kính thưa anh chị em, chúng ta đã bước sang tháng Mười một dương lịch, là tháng cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục.  Thiên Chúa là Đấng Chí thánh.  Con người muốn đến gần Chúa thì phải được thanh tẩy khỏi những gì bất xứng.  Những ai khi kết thúc cuộc đời trần thế, mà còn vương vấn tội nhơ, thì cần được thanh tẩy.  Luyện ngục cũng là bằng chứng về lòng thương xót của Chúa.  Ngài không nỡ trừng phạt các tội nhân, nhưng thanh tẩy họ để họ nên tinh tuyền, xứng đáng vào hưởng hạnh phúc vinh quang của Ngài.  Cầu nguyện cho những người đã khuất, chúng ta cũng được mời gọi nhận ra sự mong manh của kiếp người.  Dù sang trọng giàu có hay nghèo hèn lận đận, cuộc sống cũng chỉ như một hơi thở thoáng qua, như một đoá hoa vô thường.  Con người chỉ sống một lần.  Nếu cuộc sống là một cuộc hành trình, thì hành trình nào cũng có đích điểm, tức là có hồi kết thúc.  Cầu nguyện và suy tư bên mộ những người thân, mỗi chúng ta hãy lắng nghe lời nhắn nhủ của những người đã khuất bóng.  Cuộc đời của họ có biết bao điều muốn nói với chúng ta.  Tiền nhân đã dạy: “Hổ chết để lại da, người ta chết để lại tiếng.”  Có những người sau cuộc sống trần gian, tên tuổi của họ được lưu mãi đến thiên thu.  Có những người khi sống độc ác gian hùng, tên họ cũng được nhắc lại, nhưng như một nỗi kinh hoàng ám ảnh.  Người tín hữu Công giáo tin rằng, những ai sống ngay chính thánh thiện, danh thơm của họ không chỉ lưu lại cho hậu thế, mà còn được Thiên Chúa khắc ghi vào sổ Sự Sống.  Tháng Mười một vừa là tháng thể hiện lòng hiếu thảo tri ân, cũng là lúc chúng ta suy tư về ý nghĩa cuộc đời.  Thông điệp của những nấm mộ, là lời mời gọi sống thánh thiện chân thành, trân quý mọi giá trị của cuộc sống và luôn sẵn sàng cho cuộc lên đường về với Vĩnh Cửu.

Một tác giả đã viết:  Khi một người chết đi, anh ta nắm trong tay chỉ những gì mình đã cho đi khi còn sống.  When a man dies he clutches in his hands only that which he has given away during his life time (Sưu tầm).

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn nhớ: kiếp sống con người chỉ như làn gió thoảng qua.  Duy chỉ những đức hạnh và những việc thiện hảo là vĩnh cửu vững bền.  Xin cho chúng con luôn biết cậy dựa vào Chúa là lý tưởng và cùng đích của cuộc đời, để chúng con chiến thắng những cám dỗ, vượt qua mọi rào cản và trọn đời theo Chúa.  Amen.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From:Langthangchieutim

ĐẠO HIẾU CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO VÀ NHỮNG HIỂU LẦM

Nguyễn Ngọc Thương 

ĐẠO HIẾU CỦA NGƯỜI CÔNG GIÁO VÀ NHỮNG HIỂU LẦM

Tôi còn nhớ hồi nhỏ một bạn học đã nói với tôi: “Bọn bây theo đạo là bỏ ông bà”. Thực sự lúc đó tôi chẳng hiểu tại sao đứa bạn lại nói như vậy, nó lấy ở đâu ra câu nói mà tôi, và hình như cả nó, cũng không hiểu hết ý nghĩa. Lúc đó tôi chẳng biết phải trả lời bạn như thế nào.

Khi lớn lên tôi lại nhiều lần gặp câu tương tự trong sách vở hay trong một số người quen không cùng tôn giáo. Ngay đến bây giờ, khi đã là một linh mục quản xứ, thỉnh thoảng tôi lại gặp câu nói đó. Một anh lương dân và một chị theo Công Giáo muốn kết hôn với nhau đến gặp để tiến hành các nghi thức kết hôn theo quy định của Công Giáo, anh tâm sự: Tôi cũng muốn theo đạo để vợ chồng cùng tôn giáo, để sống hạnh phúc và để nuôi dạy con cái trong môi trường tôn giáo, nhưng tôi là con trai trưởng, tôi theo đạo thì bỏ ông bà tổ tiên, sợ mang tiếng bất hiếu!…

Như vậy theo Công Giáo là bỏ tổ tiên thật sao? Là bất hiếu thật sao?

Xin thưa: Điều đó không đúng! Đó là một hiểu lầm mang tính lịch sử, nó đã được tuyên truyền từ nhiều đời nay.

Công Giáo chúng tôi hiếu kính với tổ tiên nhưng theo một cách khác. Chúng tôi tôn thờ Chúa và cậy dựa vào Ngài, là Đấng có thể cứu rỗi chúng tôi và ông bà tổ tiên chúng tôi.

Trong 10 Điều Răn Chúa dạy, 3 điều đầu dạy về tương quan giữa tín hữu với Chúa, 7 điều sau dạy về tương quan giữa người với nhau. Trong đó, điều Thứ Bốn, tức là đứng đầu trong 7 điều, dạy rằng: “Ngươi phải thảo kính cha mẹ”. Như vậy, vi phạm đạo hiếu là một trọng tội đối với người Công Giáo.

Chúng tôi vẫn xây lăng mộ, vẫn niệm hương và cầu nguyện cho ông bà vào các ngày dỗ, lễ Tết. Chúng tôi cầu nguyện cho tổ tiên trong Thánh lễ hằng ngày. Ngày Mồng Hai Tết, chúng tôi dâng lễ để kính nhớ cho ông bà tổ tiên. Mỗi năm cả Giáo Hội dành riêng tháng 11 để cầu nguyện và nhớ về ông bà tổ tiên cũng như những người đã qua đời. Trong tháng này, chúng tôi thường viếng phần mộ ông bà, niệm hương và chăm sóc mộ phần. Chúng tôi được khuyến khích làm việc lành, việc bác ái, giúp đỡ người khó nghèo… trong tháng 11 này để tích đức góp công dâng cho tổ tiên ông bà.

Khi có người qua đời, chúng tôi tập trung cầu nguyện, dâng lễ và tổ chức đưa tiễn về nơi an nghỉ. Người Công Giáo chúng tôi tôn trọng thân xác, dù nó đã chết, vì chúng tôi tin nó sẽ được phục sinh. Bạn có thể đến thăm một nghĩa trang của người Công Giáo để biết đạo hiếu đã được thể hiện sống động như thế nào.

Tôi không có ý so sánh hơn thua khi mô tả những cách thực hành của chúng tôi để báo hiếu với tổ tiên. Tôi muốn khẳng định rằng: Nói theo đạo bỏ tổ tiên là không đúng. Người Công Giáo vẫn rất coi trọng đạo hiếu nhưng cách thực hành có khác mà thôi.

(LM Anthanh Linhgiang)

Ảnh: internet

Lễ vật cao quý  

Lễ vật cao quý

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà  

(Suy niệm Tin mừng Mác-cô (12, 41-44) trích đọc vào Chúa nhật 32 thường niên)

Một ông lão nghèo bước vào nhà một người quyền quý gõ cửa xin ăn. Chủ nhà nhìn ông với vẻ mặt khinh khỉnh, miễn cưỡng rút túi lấy 100.000 đồng, ném vào ông và nói: “Tiền nè!” rồi bực bội quay vào nhà.

Dù đây là một số tiền đáng kể đối với lão ăn xin, nhưng nhìn thái độ hách dịch của người cho, ông cảm thấy cay đắng và oán hận. Ông quay mặt ra đi không thèm lấy.

Ông sang nhà bên cạnh, một căn nhà đơn sơ nghèo nàn, có một bé gái chạy ra, cầm 1.000 đồng với cả hai tay, miệng tươi cười vui vẻ, thưa với ông: “Cháu không có gì nhiều, xin ông nhận lấy thảo.”

Ông lão nhận lấy món quà nhỏ bé của cô gái nhỏ với tấm lòng hân hoan. Ông chưa bao giờ nhận được món quà quý báu đến thế, một món quà nhỏ nhưng được gói ghém với rất nhiều yêu thương.

Của cho không lớn, nhưng cho với tấm lòng yêu thương trìu mến, với thái độ trân trọng, thì giá trị của nó tăng lên cả trăm lần.

Khi Chúa Giê-su quan sát những người bỏ tiền dâng cúng cho đền thờ, Ngài thấy có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền, cũng có một bà goá nghèo bỏ vào hòm tiền hai đồng xu nhỏ, nhưng đó là tất cả những gì bà có để nuôi thân.

Lễ vật của bà tuy bé mọn nhưng gói ghém rất nhiều tình yêu. Chính vì thế, Chúa Giê-su cho rằng bà goá nầy đã dâng cho Thiên Chúa nhiều hơn tất cả những người khác.

Thiên Chúa là Đấng vô cùng giàu có, Ngài chẳng thiếu của gì. Điều Ngài chờ đợi nơi chúng ta là tấm lòng yêu mến. Vì thế, chúng ta hãy dâng cho Ngài những công việc nhỏ bé hằng ngày, được thực hiện với nhiều yêu thương.

Làm việc nhỏ với một tình yêu lớn  

Mẹ thánh Tê-rê-xa Calcutta không chủ trương làm những công việc to lớn, nhưng thường xuyên làm những việc nhỏ với tình yêu lớn. Mẹ nói: “Chúng ta không thể làm những việc lớn lao, nhưng chúng ta có thể làm những việc nhỏ với tình yêu lớn lao.”

Trong bức thư gửi cho đấng đáng kính là cố Hồng y Fx. Nguyễn Văn Thuận, mẹ Tê-rê-xa viết: “Điều đáng kể không phải là số lượng công việc ta làm, nhưng là mức độ yêu thương mà ta đặt vào trong mỗi công việc.”

Đúng thế, dù làm được cả chục việc lớn để mưu cầu danh lợi… cũng không bằng làm một việc nhỏ bé chỉ vì lòng mến Chúa yêu người.

Thánh Phao-lô dạy: “Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (I Cr 13, 3).

Cảm hứng từ bức thư trên đây của mẹ Tê-rê-xa Calcutta, đấng đáng kính Fx Nguyễn Văn Thuận quyết tâm “thực hiện từng công việc nhỏ bé hằng ngày, từng cuộc tiếp xúc hằng ngày với tình yêu lớn” và biến những phút sống hiện tại thành những giây phút đẹp nhất cuộc đời. Ngài viết: “Tôi quyết sống từng giây phút hiện tại và đong đầy tình thương vào đó” (Trích: “Năm chiếc bánh và hai con cá”).

Lạy Chúa Giê-su,

Chúng con biết lấy gì dâng lại cho Chúa, để đền đáp muôn vàn ân huệ Chúa thương ban? Không lẽ chúng con liên tiếp nhận ơn Chúa ban mà không biết báo đền?

Xin cho chúng con mỗi ngày dâng cho Chúa một hy sinh nhỏ bé, nhưng được thực hiện với nhiều yêu thương; đó là lễ vật cao đẹp làm vui lòng Chúa hơn hết. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà  

(Nếu muốn đọc những bài suy niệm khác, vui lòng vào website:  https://nguonvui.net    )

TIN MỪNG Mác-cô 12, 41-44

Đức Giê-su ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rô-ma. Đức Giê-su liền gọi các môn đệ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.”

From: ngocnga_12& NguyenNThu