CÁC TỔNG THỐNG MỸ KHÔNG XÂY LĂNG TẨM, CHỈ XÂY THƯ VIỆN

Nguyễn Xuân Diện 

CÁC TỔNG THỐNG MỸ KHÔNG XÂY LĂNG TẨM, CHỈ XÂY THƯ VIỆN

Nguyễn Thị Bích Hậu

Sau khi chết đi, các TT Mỹ phần lớn đều có những mộ phần khiêm tốn và bé nhỏ. Nhưng hiện nay có 13 ông TT Mỹ (kể cả mấy ông còn sống) đã có mỗi ông một công trình to lớn và rộng rãi cho hậu thế. Đó là thư viện tổng thống.

Các thư viện tổng thống Mỹ, mang tên từng ông, bắt đầu từ Thư viện TT Franklin Delano Roosevelt vào năm 1939 và gần đây nhất là George W. Bush (Bush con). Các thư viện này sẽ chứa đựng sách vở, tài liệu, tư liệu, các hiện vật có liên quan tới từng tổng thống cho người dân có thể tham quan, học hỏi, nghỉ ngơi.

Tất cả hiện vật do TT hiến tặng. Đất xây thư viện có thể của chính TT tặng luôn hay của các tư nhân tặng. Và tiền xây thì do tiền của các ông từ việc viết sách, thuyết trình cùng người dân và các tư nhân tự quyên góp. Diện tích của các thư viện này có thể rộng từ vài ha hoặc vài chục ha.

Điều rất hay là sau khi xây dựng xong, các tổ chức tư nhân đứng ra làm thư viện sẽ chuyển giao toàn bộ thư viện cho NARA là Cơ quan lưu trữ hồ sơ quốc gia Mỹ vận hành và bảo trì. Túm lại là dân quý ông TT nào thì cùng ổng quyên góp tiền làm thư viện cho ổng. Xong rồi thì sung công.

Các thư viện này không chỉ là nơi tham quan, học hỏi cho người dân, mà còn là địa điểm du lịch nổi tiếng trong vùng. Vì nó xây ở quê của các TT Mỹ, thành thử nên xây một cái thư viện TT xong rồi mà dân vùng đó có cơ kiếm tiền từ du khách.

Thư viện Tổng thống Bill Clinton tại thành phố Little Rock, tiểu bang Ankansas, đã tạo nên một làn sóng đầu tư phát triển khu vực xung quanh, với hàng loạt cửa hàng, nhà hàng, chợ, các dự án đầu tư mới trị giá hàng tỉ USD phục vụ nhu cầu của du khách đến tham quan thư viện. Thư viện của ông rất to, rộng vài chục ha, có cả công viên sinh thái với sông nước, ao hồ, rừng cây rất đẹp, du khách rất ưa thích.

Phần nhiều các TT dân sự sẽ đặt mộ phần của mình trong khuôn viên thư viện vì là muốn về quê. (Vì các TT xuất thân quân nhân sẽ có mộ phần trong Nghĩa trang quốc gia Arlington). Nhưng dù ở đâu thì công thức vẫn là một cái bia đá be bé trong một diện tích nhỏ tí chừng vài m2. Nhưng được cái là dân chúng sau khi đi chơi và thăm thú thư viện, du ngoạn thả cửa thì tới nghiêng mình chào các cụ chút xíu, gọi là con cháu cám ơn vì đã cho thưởng thức một nơi hay ho.

Các thư viện này cũng có nguyên tắc là rất trung thành với sự thật. Ví dụ thư viện của TT Nixon có khu trưng bày ấn tượng về vụ tai tiếng Watergate, thư viện của TT Clinton có trưng bày và tư liệu rõ ràng về vụ bê bối tình dục Monica Lewinsky. Nói chung ra khá vui.

Thư viện của các TT Mỹ là bằng chứng cho thấy sau khi rời tột đỉnh quyền lực, các TT minh bạch mọi thông tin, mọi công việc các ông từng làm để hậu thế học hỏi, đánh giá, rút kinh nghiệm, và đem lại nguồn lợi lộc cho dân về du lịch, về kinh tế. Vì thế tên tuổi của họ sẽ được nhớ tới mãi mãi.

Những gì văn minh ta nên học hỏi và làm theo để dân ta có lợi các bạn ạ.

24-9-2018

Ảnh: Một thư viện tổng thống.

May be an image of outdoors and tree

SÁCH GIÁO KHOA NGÀY XƯA

Lương Văn Can

SÁCH GIÁO KHOA NGÀY XƯA

– Vũ Đức Sao Biển –

‘Ngày xưa’ ở đây có nghĩa là thời tôi còn dạy trung học, cách đây đã gần nửa thế kỷ. Tôi viết chỉ nhằm giới thiệu một cách làm sách giáo khoa ở bậc trung học của một môn: môn triết học lớp đệ nhất.

Mục đích của bài này chỉ là để các nhà làm giáo dục, các nhà giáo, các em học sinh và phụ huynh tham khảo một cách làm và sử dụng sách giáo khoa mà thôi.

Phân phối chương trình trung học ngày xưa mô phỏng chương trình giáo dục của người Pháp. Người ta nghĩ rằng học sinh ở Pháp học thế nào thì học sinh VN cùng lứa tuổi và cùng cấp học cũng nên học như vậy. Vì vậy, học sinh VN sau 11 năm học đã thi đậu tấm bằng tú tài 1 (baccalauréat 1) thì bắt buộc phải chốt lại toàn bộ kiến thức về các khoa học đã được học trước đó để dọn mình lên lớp đệ nhất, học thi tú tài 2 (baccalauréat 2). Lớp đệ nhất (tương đương lớp 12 ngày nay) không học môn văn nữa mà phải học môn triết. Triết học được định nghĩa là khoa học của các khoa học (La philosophie est science des sciences).

Giáo trình triết học lớp đệ nhất gồm 3 hoặc 4 môn tùy theo phân ban. Môn tâm lý học học về thế giới tâm lý, nội quan, ngoại quan, ý thức, vô thức, tâm phân học, cảm xúc, đam mê, liên tưởng, tập quán, tưởng tượng… nhằm giúp cho học sinh “vệ sinh tinh thần” tâm hồn mình. Môn đạo đức học học về hành vi đạo đức, ý thức đạo đức, công bằng, bác ái, bổn phận, trách nhiệm… nhằm giúp học sinh biết thương yêu, biết chịu trách nhiệm về những hành vi của mình. Môn luận lý học học về các nguyên tắc căn bản của lý trí, các phương pháp tổng hợp, phân tích, diễn dịch, triết lý toán học, triết lý khoa học tự nhiên… Nó nhằm giúp cho học sinh đắc thủ phương pháp lý luận thuần lý. Ba môn này dạy ở các ban A (vạn vật, lý, hóa), B (toán, lý, hóa), C (triết học, Anh, Pháp) và D (triết học, ngoại ngữ, cổ ngữ Latin). Riêng hai ban C và D học thêm 12 tiết siêu hình học; nội dung gồm thuyết tiến hóa, vấn đề linh hồn, tôn giáo, đa thần giáo… Bất cứ vấn đề nào của bốn môn trên, học sinh cũng phải học cách lý luận đi từ chính đề (thèse), qua phản đề (antithèse) rồi đi tới hợp đề (synthèse).

Bộ Giáo dục chế độ cũ không in sách giáo khoa. Mỗi nhà giáo ra trường phải biết mình dạy môn gì, cấp lớp nào, môn ấy gồm những nội dung nào, phương pháp soạn bài ra sao. Phần viết sách giáo khoa được giao cho các nhà giáo đang thực sự dạy trung học, chỉ yêu cầu sách giáo khoa phải có tính phổ quát, bám sát các nội dung cần giảng dạy. Thí dụ sách giáo khoa triết lớp đệ nhất phải bám sát các nội dung mà chúng tôi vừa giới thiệu và câu định nghĩa “Triết học là khoa học của các khoa học”. Tác giả nào viết sách giáo khoa không hay, khó hiểu, dài dòng thì tự bị thị trường đào thải. Sách giáo khoa nào xem ra có vẻ đắt tiền mà kiến thức không có gì mới (so với sách khác) thì thị trường cũng tự nhiên đào thải. Chính cái tinh thần tự do sáng tạo ấy đã khuyến khích công việc viết sách giáo khoa phát triển.

Bản thảo những quyển sách giáo khoa sẽ được nộp lên cho Nha Tu thư duyệt, xem có phù hợp với lứa tuổi, cấp học, đầy đủ nội dung theo yêu cầu không. Nếu không có vấn đề gì, họ đồng ý cho nhà xuất bản hoặc tác giả in và in bao nhiêu bản cũng được. Tất cả sách giáo khoa chỉ được phép bán cho học sinh theo hệ thống thị trường; nghiêm cấm tình trạng gửi sách của mình qua trường khác, tỉnh khác nhờ bạn đồng nghiệp bán giúp. Đó là nguyên tắc “ai mua sách cứ ra hiệu sách”. Ngày ấy, không có tình trạng lu bu đưa sách vào trường bán; mua sách của người này, không mua sách của người kia. Nhà giáo viết sách giáo khoa chỉ có một cạnh tranh duy nhất là cạnh tranh về chất lượng.

Học sinh nào thông minh, chăm chỉ có quyền không mua sách giáo khoa, chỉ học theo bài thầy giảng trên lớp. Sách tham khảo cho học sinh chỉ tập trung trong ba môn toán, lý và hóa; chủ yếu nhắm vào các lớp thi. Đó là những đề toán, lý, hóa ra trong các kỳ thi tú tài 2 ở Pháp và các nước thuộc khối Pháp ngữ.

Ngày ấy, giáo sư triết (tên gọi của nền giáo dục cũ) rất hiếm và thiếu. Từ năm 1970, các trường đại học sư phạm không đào tạo giáo sư triết nữa. Đại khái, những thành phố lớn như Sài Gòn, Cần Thơ, Đà Nẵng, Huế… có hai, ba hoặc bốn vị. Mỗi tỉnh còn lại chỉ có một người. Người ấy phải tốt nghiệp chuyên ngành triết; có nhiệm vụ dạy môn triết chính ở trường công lập (ăn lương); ngoài ra còn có nghĩa vụ phải đi thỉnh giảng ở các trường tư thục, Bồ Đề, bán công trong tỉnh (hưởng tiền thỉnh giảng). Ai không làm tròn nhiệm vụ dạy chính và nghĩa vụ thỉnh giảng phải chịu kỷ luật. Thí dụ tỉnh Bạc Liêu chỉ có một mình tôi, dạy ở trung học công lập 6 lớp (24 giờ); thỉnh giảng trường bán công 2 lớp (8 giờ), trường Bồ Đề 2 lớp (8 giờ). Cộng lại, mỗi tuần tôi dạy 40 giờ, “quần thảo” cả sáng, chiều và tối.

Nhà giáo nào không có nhã hứng viết sách giáo khoa triết, có thể bảo học sinh ra hiệu sách chọn mua sách của các tác giả khác về học. Từ năm 1970, các nhà giáo viết sách giáo khoa triết cho bậc trung học có thể kể đến: linh mục Cao Văn Luận (Huế), ông Trần Văn Hiến Minh (Huế), ông Nguyên Sa (nhà thơ Trần Bích Lan – Văn Hiến, Sài Gòn), ông Vĩnh Đễ (Gia Long – Sài Gòn), tôi – Vũ Đức Sao Biển (Trung học Bạc Liêu) … Học sinh có toàn quyền chọn mua sách giáo khoa triết của bất cứ ai; miễn là phải học, phải hiểu và… thi đậu. Nhà giáo không được đứng ra bán sách của mình và không được buộc học sinh phải mua sách của mình.

Bộ sách giáo khoa của tôi viết năm 1972 tại Bạc Liêu có tên là Triết học toàn thư, gồm 3 quyển tâm lý học, đạo đức học và luận lý học. Học sinh tỉnh Bạc Liêu và vài tỉnh lân cận cũng thường dùng quyển sách này. 39 năm sau (2011), Nhà xuất bản Trẻ đã cho dọn lại bộ sách này ngắn gọn hơn, dễ hiểu hơn và in ra với cái tựa đề mới Hướng đến chân thiện mỹ – triết lý dành cho tuổi thanh niên. Quyển sách được các bạn thanh niên mua đọc và thích bởi nội dung của nó rất mềm mại, chẳng có gì là “cứng” như sách giáo khoa cả. Có thể gọi quyển sách giáo khoa này là quyển sách đầu tay của đời tôi.

Bạn hỏi, một quyển sách giáo khoa hình thành từ những cơ sở nào? Thứ nhất, nó là một sự hiện thực hóa những cái “toa căn bản” mà người sinh viên sư phạm đã được học trong trường đại học sư phạm. Thứ hai, nó là một sự phong phú hóa những nội dung cứng mà Nha Tu thư yêu cầu nhà giáo phải giảng dạy trong từng cấp lớp, từng lứa tuổi. Thứ ba – mà điều này rất quan trọng – nó phải tích lũy được những kinh nghiệm của nhà giáo khi lập thang điểm và chấm thi bộ môn cấp quốc gia của nhà giáo. Ngày ấy, toàn bộ bài thi của văn bằng tú tài 1 và tú tài 2 từ Quảng Trị tới Cà Mau phải tập trung về Sài Gòn chấm. Tất cả bài thi đều cắt phách; nhà giáo không biết mình chấm bài của thí sinh trường nào, tỉnh nào.

Nhà giáo dạy môn nào thì chấm thi môn ấy. Trong quá trình lập thang điểm và chấm thi, các nhà giáo cùng bộ môn trao đổi, học hỏi lẫn nhau về kinh nghiệm để điều chỉnh cách dạy và cách viết sách giáo khoa của mình. Ai dạy hay dở ra sao; ai viết sách giáo khoa hay dở ra sao đều có thể tự đo lại năng lực của mình khi ráp phách lên mâm điểm cho thí sinh. Chuyện điều chỉnh là tự nhà giáo lo. Ngành giáo dục không tập trung nhà giáo bộ môn lại để tập huấn hay học chuyên môn gì cả.

Đối với học sinh, động cơ mục đích học rất rõ ràng. Họ phải học và thi đậu bằng tú tài 2 mới mong vào đại học, tiếp tục con đường học tập. Em nào có hoàn cảnh ngặt nghèo, đậu tú tài 2 có thể xin việc làm, kể cả làm nhà giáo dạy từ lớp đệ tứ trở xuống ở các trường tư thục. Nữ sinh rớt tú tài 2 cũng chưa sao nhưng nam sinh rớt thì thật khốn đốn bởi sẽ bị bắt lính ngay. Đậu tú tài 1 có thể đi Thủ Đức ra chuẩn úy nhưng rớt thì phải đi trung sĩ! Có thơ làm chứng như vầy “Rớt tú tài, anh đi trung sĩ/Em về nhà lấy Mỹ nuôi con/Khi nào yên chuyện nước non/Anh về, anh có Mỹ con anh bồng”. Người thanh niên nào không muốn… bồng nhầm Mỹ con thì phải ra sức học.

Chuyện học triết, dạy triết và viết sách giáo khoa triết trở thành một vốn liếng quý giá đối với riêng tôi. Tôi thẩm thấu được nhiều thứ khoa học trên đời. Tôi tự rèn luyện những kỹ năng lý luận thuần lý. Tôi đã dùng các thứ đắc thủ được để sau này làm một nhà báo. Chưa được học một giờ nào về nghiệp vụ báo chí, tôi chỉ nhờ có “nội công” đa dạng và “chiêu thức” khinh linh để viết báo mà thôi.

– Vũ Đức Sao Biển –

Nợ Một Lời Xin Lỗi

Van Pham

BÀI VIẾT CỦA TÁC GIẢ BÙI BẢO TRÚC TUY ĐÃ CŨ NHƯNG VẪN RẤT HỢP THỜI ĐỂ NHẮC NHỞ CHÚNG TA MỘT THỜI SỐNG NHƯ CON VẬT BỞI LŨ THÚ KÉO RA TỪ RỪNG SÂU, HANG THẲM…

***

Nợ Một Lời Xin Lỗi

Bùi Bảo Trúc

Tháng các Đẳng Linh Hồn / Xin mời suy gẫm:

“xem mình có nợ ai, Một lời Xin Lỗi”

Trước khi ” đã muộn màng!

Tính tới nay, bốn mươi hai năm đã qua. Gần một nửa thế kỷ, thời gian đủ dài để nhìn lại những sai sót, những lầm lẫn, những chuyện không hay đã xẩy ra để tránh lập lại, và ít nhất là nhận lỗi, để đưa ra một lời xin lỗi. Mặc dù lời xin lỗi đó có muộn màng, có quá muộn màng đi chăng nữa. Tôi rất thích cách nói này của tiếng Anh: tôi nợ anh một lời xin lỗi, I owe you an apology. Khi mắc hay thiếu nợ thì phải trả, không có chuyện bỏ qua được.

*****

Ngay sau khi những chiếc T-54 chạy vào thành phố Sài Gòn, ủi sập một cánh cổng và cầy nát thảm cỏ của dinh Độc Lập (một cách không cần thiết), thì cái việc không hay đó cũng bắt đầu.

Trong cuốn Giải Phóng (1976) của Tiziano Terzani, một nhà báo người Ý, viết về ngày 30 tháng Tư năm 1975, có một bức ảnh đen trắng chụp một nữ du kích đứng tại góc đường Tự Do và Lê Lợi, có thể là trong ngày đầu tiên khi quân đội miền Bắc tiến vào kiểm soát thủ đô miền Nam. Người nữ du kích mặc quần áo đen, khăn rằn, mặt mũi vẩu viu, vẫn chưa hoàn hồn, vẻ kinh ngạc còn nguyên trong ánh mắt. Cảnh Sài Gòn đã tạo ra nét hoảng hốt đó.

Người Sài Gòn sau những kinh hoàng đầu tiên, đã kéo nhau ra đường tung hô những thay đổi, ngây thơ tưởng như làm như thế, họ sẽ được những bánh sắt xe tăng đối xử tử tế, nhẹ nhàng hơn. Những hình ảnh chụp cảnh đốt sách báo ở ngoài đường, hay cảnh tham dự cuộc diễn hành của quân “giải phóng” người ta thấy nhiều phụ nữ mặc những chiếc áo dài đẹp để mừng đoàn quân chiến thắng”.

Nhưng chỉ vài ba ngày sau đó, cái ngây thơ đó đã bị dội cho những chậu nước lạnh buốt và tàn nhẫn. Nói là tàn nhẫn thì cũng vẫn còn là nhẹ. Phe chiến thắng quay lại đưa ra những đối xử tàn bạo ngay sau đó. Những kiểu ăn mặc của người Sài Gòn bị chiếu cố lập tức. Ở đầu đường, góc phố, các thanh niên bị chặn lại, những mái tóc bị những nhát kéo nham nhở làm cho ngắn đi, những chiếc quần ống hơi chật bị cắt cho rộng ra để có thể lọt một cái chai.

Thời trang cách mạng, bưng biền không chấp nhận kiểu ăn mặc như thế. Những chiếc quần jeans biến mất vào trong những góc tủ quần áo hay chạy ra chợ trời cùng với những kiểu quần áo “đồi trụy” tàn dư của Mỹ Ngụy phản động.

Về phía phụ nữ thì những chiếc áo dài cũng ngừng xuất hiện. Những chiếc không hoa lá, mầu mè sặc sỡ thì với mấy nhát kéo để làm cho mất đi những nét thời trang bay bướm của những ngày trước khi bưng biền tiến vào. Hai chục năm Hà Nội nhem nhuốc áo cánh, quần vải thô không thể chốc lát điều chỉnh để có lại được cảm quan nghệ thuật trong lãnh vực ăn mặc. Cách ăn mặc của phụ nữ Sài Gòn chắc chắn làm cho những người như cô nữ du kích vừa từ bưng vào thành phố không vui.

Thế nên phải dẹp cái thứ thời trang không thích hợp với lối ăn mặc của cách mạng. Kiểu ăn mặc đó là kiểu đồi trụy. Cái đẹp cách mạng không có lối ăn mặc như thế. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, những chiếc áo dài mini của tuổi trẻ Sài Gòn, những kiểu áo đẹp thầm kín chững chạc hơn, vai raglan, không eo cũng biến mất …

Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều

Cánh tay tà áo sát vòng eo…

Guốc cao gót nhỏ mây vào gót

Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ… (Nguyên Sa)

Nhưng rồi cũng không lâu sau đó, những chiếc áo dài “đồi trụy” thấy dần dần xuất hiện trở lại. Chúng được mua ở chợ trời của những người chủ của chúng để giải quyết những cơn túng quẫn của trận phá sản kinh tế diễn ra ở miền Nam.

Những chiếc áo ấy được đem ra Bắc, được đem ướm vào những hính hài thô kệch, và bỗng biến những nét thô kệch ấy giảm đi ít nhiều. Những chiếc áo đó được đem ra mặc, và từ từ xuất hiện nhiều hơn khi người ta thấy chúng giúp làm bớt đi những nét quê kệch của người mặc. Chúng được dùng làm kiểu mẫu để đo may và cắt những chiếc áo mới.

Những chiếc áo dài từ đó dần dần không còn bị coi là đồi trụy nữa. Cán bộ nhà nước quay sang mặc chúng trong các dịp lễ lạc, tiếp tân và vợ của các lãnh tụ cũng diện chúng trong những chuyến xuất ngoại với chồng. Hết vợ Trương Tấn Sang lại đến vợ Ba Ếch… mụ nào cũng lôi những chiếc áo may theo kiểu áo dài của thời “đồi trụy Mỹ Ngụy”, nhưng không thấy một con khỉ đột nào đòi cắt hai vạt trước sau như hồi năm 1975 nữa.

Những cuộc trình diễn thời trang ở trong nước cũng đem trình diễn toàn những chiếc áo dài từng có lúc bị coi là đồi trụy và thiếu cách mạng tính, không tượng trưng cho nét đẹp bưng biền, giải phóng… Bọn ngợm từng xúc phạm, mạ lị, bôi bẩn những chiếc áo dài phải xin lỗi những chiếc áo dài mới phải.

Nhưng có lẽ cũng chẳng cần tới lời xin lỗi của một bọn quen trò nhổ rồi lại liếm nữa. Cứ lôi những chiếc áo dài đồi trụy ra mặc cũng đã là tự chúng nó chửi cha chúng nó lên rồi.

Những chiếc áo dài đều biết điều đó!

Ta tìm gì trong cuộc sống?

Ta tìm gì trong cuộc sống?

Lm. Anmai, CSsR

Câu hỏi xem chừng chả có gì hay và cũng có thể gọi là câu hỏi vô duyên !

Tìm gì ư ? Tìm cơm áo gạo tiền. Thế mà cũng hỏi.

Thật vậy ! Trừ những đứa trẻ hay những học sinh – sinh viên, người lớn hay gọi là người trưởng thành lao đầu vào tìm tiền. Đơn giản có tiền mới trang trải cho cuộc sống cũng như đáp ứng nhu cầu cho cá nhân, cho gia đình.

Và rồi trong cuộc sống, người nghèo thì tìm sao cho đủ ăn đủ mặc. Người quá nghèo thì chắc có lẽ chỉ cần có cái ăn còn cái mặc thì ai cho gì mặc đó. Còn người giàu có thì lại muốn tìm thêm để sắm cái này, mua cái kia sao cho bằng chị bằng em.

Người giàu xem chừng ít ai biết đủ khi họ lao vào “cuộc chơi”. Có khi bất chấp sức khỏe, có khi không giành cho thời gian nghỉ mà lao đầu vào tìm tiền. Có những người tìm tiền bất cứ giá nào và bất chấp mọi thủ đoạn.

Trong cuộc sống, như định mệnh : người giàu kẻ nghèo ! Người giàu ở nhà cao cửa rộng, có xe và những thứ đắt tiền. Người nghèo thì chắc chỉ cần 4 bức vách và mái nhà để che thân.

Tất cả cùng lớn lên, cùng sống, cùng phát triển. Kèm theo sự tăng trưởng trong cuộc sống thì thời gian như cuốn lại, tuổi tác như già ra và cái chết như cận kề vì bệnh tật hay tuổi cao sức kém.

Cuối cùng, tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, màu da, địa vị, sắc đẹp, giàu sang phú quý hay nghèo hèn … tất cả đều phải chết.

Tôi vẫn có thói quen thăm mộ Mẹ, phòng hài cốt có tro bụi của Cha. Mỗi lần đến đó, hình ảnh thân thương lại tràn về. Những người nằm quanh đó cũng như cha mẹ. Những nhà giàu thì mộ được xây to hơn người khác nhưng bên dưới cũng chỉ là xác đất vật hèn mà thôi.

Nhìn những nấm mộ ở nghĩa trang, nhìn những chiếc hủ cốt tại phòng Chờ Phục Sinh … ta thấy được điều gì ? Xin thưa ta thấy được dúm tro tàn hay bộ xương khô của những người nằm đó. Và thử hỏi, cuối đời họ mang theo được gì khi đến trước mộ phần.

Trước mộ phần, người thân ta đó chứ ! Trước mộ phần, người quen ta đó chứ ! Trước mộ phần, bè bạn ta đó chứ ! Trong những người đó, khi sinh thời có khi là một giám mục, một linh mục, một doanh nhân giàu có, một đại gia thành đạt … nhưng giờ còn nữa đâu. Phần ta, ngày sau ta cũng như họ không hơn không kém. Ta cũng được vùi sâu trong lòng đất hay được thiêu đốt thành dúm tro tàn.

Cuộc đời là vậy đó để rồi ta tìm gì nữa ?

Vẫn là con người, lệ thuộc trong định luật của con người để rồi con người tìm kế sinh nhai. Thế nhưng rồi chả lẽ con người cũng như con chim con chiện đi tìm kế sinh nhai xong rồi chết hay sao ? Con người đâu như con vật kia rằng thì là chết là hết. Với những người có đạo, với những người có tín ngưỡng vào xác loài người sẽ sống lại e rằng không dừng lại ở cái chuyện tìm kế sinh nhai nhưng lại là đi tìm cái cửa đàng sau cửa chết.

Kinh nghiệm còn đó và có đó nhưng dường như ít ai thuộc cho lắm để rồi con người ta lao đầu vào tìm đủ mọi cách sao cho mình được giàu sang phú quý và có những người không ngần ngại tranh giành với cha, với mẹ và với anh chị em mình để thừa hưởng vài đồng bạc lẻ hay mảnh đất hay cùng lắm là căn nhà. Và rồi họ quên rằng sau khi họ tranh giành như vậy liệu rằng cuộc đời của họ có bình an hay như là những của cải đó mang theo đến mộ phần cùng với họ. Khi chợp mắt khép mi rồi thì tất cả danh vọng, tiền tài, lụa là gấm vóc đều để lại.

Tôi vẫn hình dung tương lai ở phía trước trong phần mộ hay trong nhà hài cốt. Bon chen cho lắm, cày cho thật sâu và thật lâu nhưng cuối cùng chỉ là dúm tro tàn mà thôi.

Ý thức như vậy cùng với suy nghĩ có thể ngày hôm nay là ngày cuối cùng cho sự sống để lòng được thanh thản hơn. Kèm theo đó là câu mà mình tự hỏi rằng cả cuộc đời mình đi tìm cái gì để cho dễ sống.

Nếu như ai nào đó nghĩ và tin rằng cuộc đời này là mãi mãi, trần gian này là vinh phúc thì cứ mãi đi tìm theo tự do của họ. Còn nếu ai xác tín và chân nhận rằng cuộc đời này chỉ là cõi tạm hay là kiếp phù du thì ta sẽ có con đường sống thanh tao nhàn nhã với những vật lộn kiếp sống.

Cứ mỗi lần đi vào thăm làng đồng bào thiểu số là mỗi một lần ta tự hỏi cũng như trả lời cho thái độ sống của ta. Người trong buôn họ nghèo lắm, họ khó khăn lắm nhưng sao lòng của họ thật bình an. Đơn giản vì rằng họ không có nhu cầu cao trong cuộc sống cũng như họ thấy đủ nên lòng cứ bình an.

Nói như thế không phải ta thụ động hay buông xuôi. Nghĩ như thế không phải là ta để cho đời trôi như cánh bèo nhưng là để ta ý thức về cái cùng đích của đời ta cũng như ta mang theo gì được đến với mộ phần.

Ngày mỗi ngày, ta lại xin Chúa cho ta ơn bình an trong cuộc sống. Ngày lại ngày ta xin Chúa cho ta luôn ý thức rằng ta đủ trong mọi hoàn cảnh để ta được mãi bình an.

Lm. Anmai, CSsR

Cuối cùng rồi ai cũng phải chết

Cuối cùng rồi ai cũng phải chết

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Vậy mà chỉ những người lớn tuổi mới để ý tới cái chết chứ những người dưới 50 tuổi ít có ai để ý tới cái chết vì cảm thấy nó, cái chết, còn lâu lắm mới tới. Thật ra cái chết xảy ra bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, và bất cứ tuổi nào.

Dĩ nhiên người già thì thời gian đến gần cái chết rõ ràng hơn, ngắn hơn, gần hơn.

Trước cái chết, ai cũng lo sợ, nhưng làm sao, cách nào bình tĩnh được trước cái chết.

Làm thế nào cuộc sống có ý nghĩa và có hạnh phúc?

*Đặt ra công việc để làm.

Đặt cho mình mục đích sống. Sống để làm gì? Có phải mục đích sống của mình chỉ là để kiếm thật nhiều tiền không? Dĩ nhiên phải làm việc để có tiền mà sống, nhưng chỉ duy nhất để kiếm tiền không mà thôi là chưa đủ. Cần xem làm việc là một niềm vui. Còn hơi thở, còn sức khỏe là còn phải làm việc. Dĩ nhiên mình làm việc nào mình thấy thích.

Về hưu rồi, tôi đặt ra công việc để làm, dĩ nhiên là công việc không kiếm được tiền. Viết bài, gởi gấm tâm tư tình cảm cho bạn bè, cho thế hệ sau. Đọc tin tức, gởi E.mail cho bạn bè. Thành lập, chủ biên: website keditim.net. Mỗi ngày đều có bài vở hay và hữu ích cho website này (mời các bạn vào đọc).

*Giữ gìn sức khỏe: Lee Kim Hee (1) chủ tịch tập đoàn Samsung đã nhắc nhở chúng ta là cần phải tập thể dục thường xuyên để giữ cho thân thể khỏe mạnh. Dầu giàu có cỡ nào con người “không thể vượt qua cơn bạo bệnh và phải chịu kết thúc thất bại”vì khi bệnh tật đến không chừa một ai.

+Steve Jobs (2) chủ tịch và cựu giám đốc điều hành của Apple qua đời ở tuổi 56 (sinh 24-02-1955 mất 5-10-2011) vì ung thư tuyến tụy tạng. Ông nhắc nhở chúng ta rằng “cái giường bệnh” là đắc giá nhất.

+Bác sĩ Richard Teo (1972-2012) (3) bác sĩ thẩm mỹ, triệu phú ở Singapore qua đời ở tuổi 40 vì ung thư phổi.

Ông viết: “Nhưng trớ trêu là mọi thứ mà tôi có – thành công, cúp chiến thắng, những chiếc xe, ngôi nhà – là do tôi đã mua chúng để mang về niềm hạnh phúc. Nhưng giờ đây tôi chẳng mỉm cười được nữa. Nghĩ về việc sở hữu của cải, tôi chẳng có một chút niềm vui nào. Các bạn ạ, tôi chẳng thể ôm chiếc Ferrari vào giấc ngủ. Nó chẳng khiến tôi thoải mái hơn trong những ngày tháng cuối cùng.

Vậy điều gì đã và sẽ làm tôi hạnh phúc ở khoảng thời gian này? Đó là thời gian với mọi người – những người tôi yêu, bạn bè, những ai thật lòng lo cho mình, cùng khóc cùng cười, cùng đau khổ và chấp nhận mọi chuyện. Điều ấy đem lại cho tôi niềm hạnh phúc”. (1)

*Làm thế nào để sống vui vẻ và hạnh phúc.

Hạnh phúc của con người là một hành trình chứ không phải là đã đạt mục đích.

Như vậy, hạnh phúc đơn giản chỉ là một cảm giác. Hạnh phúc không hiện hữu trong bóng hình quá khứ hay niềm mong mỏi nơi tương lại, hạnh phúc là hạnh phúc trong thực tại nếu bạn biết nắm bắt nó.

Vậy bí quyết của hạnh phúc là: sống trong phút hiện tại, biết yêu thương và tha thứ.

Người hạnh phúc nhất là người đem đến hạnh phúc cho nhiều người nhất.

Trong trại tù tôi bị bỏ đói triền miên từ năm này sang năm khác, chỉ được ăn bo bo, bắp trái, ăn rau rừng đỡ đói. Khi Tết nguyên đán, trại tù phát cơm trắng. Lúc đó, ăn cơm trắng với muối tưởng chừng như ăn cơm với đường. Hạnh phúc ngay lúc đó.

* Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc (Biết đủ thì đủ, đợi đủ bao giờ đủ) trong bài thơ Chữ Nhàn của Nguyễn Công Trứ.

Con người thường tham lam, không bao giờ biết đủ. Khi làm ăn phát đạt, kiếm được nhiều tiền ai ai cũng muốn kiếm thêm nhiều hơn nữa chứ đâu biết dừng lại.

Sự giàu có, tiền bạc không biết bao nhiêu là đủ. Cái khó là biết dừng lại, biết đủ.

Đặc biệt ở nước Mỹ có người Amish, họ sống biệt lập ở tiểu bang Ohio, Pennsylvania và cũng có một số ở Canada nữa. Họ không xài điện thoại cầm tay, không dùng xe hơi (ô tô), TV các loại máy móc, bài trừ sự ly dị… họ bài trừ lối sống hiện đại ở nước Mỹ.

Người Amish sống đơn giản không có những nhu cầu hiện đại như chúng ta.

Như vậy,

Cách sống khác nhau, kết quả khác nhau

Nếu cuộc sống của bạn lấy tiền làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất khổ cực.

Nếu cuộc sống của bạn lấy phụ nữ làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất mệt mỏi.

Nếu cuộc sống của bạn lấy ái tình làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất đau thương.

Nếu cuộc sống của bạn lấy leo cao làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất phiền muộn.

Nếu cuộc sống của bạn lấy khoan dung làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất hạnh phúc.

Nếu cuộc sống của bạn lấy tri túc làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất vui vẻ.

Nếu cuộc sống của bạn lấy cảm ơn làm trung tâm, thì bạn sẽ sống rất thiện lương.

Người đi tìm sự khiếm khuyết của mình mới có được sự hài lòng.

Người nhận biết hạnh phúc mới có được hạnh phúc.

Vui để đợi chết

Trước khi chết thường chịu cảnh bịnh hoạn, đau đớn, buồn khổ, cô đơn. Làm sao trong tâm hồn mình có “Vui để đợi chết”.

Lúc cuối đời nếu tâm hồn mình thanh thản, bình an thì sự bình an đó kéo theo cho đến lúc lâm chung, còn ngược lại nếu ta chứa đựng nhiều uẩn khúc đau thương, uất hận; sự buồn sầu này sẽ kéo dài theo lúc chết.

Cho nên làm sao vui để được chết đó là điều rất khó, khó nhưng không phải không làm được?

Tạ ơn Trời mỗi sớm mai thức dậy

Cho con còn ngày nữa để yêu thương.

Xem thêm:

(1) Thư từ Chủ tịch Lee Kun-hee

(2) Steve Jobs chủ tịch và cựu giám đốc điều hành của Apple

(3) Bác sĩ Richard Teo (1972-2012)(3) bác sĩ thẩm mỹ, Lời trăn trối của bác sĩ triêu phú mắc bệnh ung thư

Xem: Tưởng niệm 4 năm Bác Sĩ Richard Teo

Phùng Văn Phụng

Ngày 02-11-2020

(Lễ cầu hồn)

Dối trá là gốc

Dối trá là gốc

Bởi  AdminTD

 Nguyễn Đình Cống

31-10-2021

Sinh hoạt câu lạc bộ của mấy ông bà già, các cụ than thở, làm sao mà bây giờ xã hội dối trá nhiều quá.

Trước đây có khẩu hiệu: Người người thi đua, nhà nhà thi đua, ngành ngành thi đua. Bây giờ tuy không ai hô hoặc viết khẩu hiệu nhưng đã thành phong trào nói dối. Người người nói dối, ngành ngành nói dối, mọi cấp nói dối, dối từ trên xuống, dối từ dưới lên.

Tôi nói với các cụ rằng, xin đừng than thở vì dối trá là cơ sở của cuộc sống. Biết mà ngăn ngừa, mà hạn chế, mà vạch trần ra thì tốt, còn cứ để bình thường thì nó tự do nảy nở, phát triển tràn lan. Mà xã hội ta bây giờ, lãnh đạo ấy, dân ấy đang là môi trường tốt cho dối trá. Phải dối trá mới có thành tích dỏm để được khen thưởng trong phong trào thi đua, có dối trá mới lừa được người ta đi theo.

Một cụ phê phán tôi là bịa đặt, căn cứ vào đâu mà nói dối trá là cơ sở cuộc sống. Tôi nói rằng, đây là phát hiện của người Anh đã nhiều ngàn năm. Nước Anh có thời đã thống trị gần khắp thế giới với câu “Mặt trời không bao giờ lặn trên nước Anh”. Ngày nay tiếng Anh là thông dụng nhất. Trong tiếng Anh, dối trá được viết là LIE. Hay các chữ tương tự như LIFE là đời sống, LIVE: phát âm [liv] động từ, là sống; còn LIVE: phát âm [laiv] nghĩa là trực tiếp, như live-stream.

Một cụ nghe xong, bổ sung, rằng LIE còn có từ tương tự là LIKE và LINE. Like: động từ, nghĩa là thích, còn tính từ nghĩa là giống nhau. Người ta giống nhau ở chỗ hay nói dối. Line là vạch đường chỉ lối. Trong việc vạch đường cho người khác đã có sự dối trá.

Các cụ biết tiếng Anh cười khà khà, khen hay hay. Các cụ không biết nói: Thế à, thế à. Một cụ đề nghị rằng, chúng ta đều đã sức cùng lực kiệt rồi, không đủ năng lực để cải tạo xã hội, chỉ còn tự xét lại mình, xem trong đời có tránh khỏi nói dối hay không. Cụ nào cũng nhận là không tránh khỏi, trong đời không nhiều thì ít cũng đã từng nói dối, và người được nghe các cụ nói dối nhiều nhất, không ai khác ngoài “bạn đời thân yêu, nằm cùng giường, đắp cùng chăn”.

Nhiều cụ hứa sẽ thành tâm sám hối để được thanh thản khi trút hơi thở cuối cùng. Hy vọng được như vậy. Sẽ tốt hơn khi các cụ gọi con cháu lại, tự kiểm điểm trước mặt chúng là đã phạm những dối trá nào để lại hậu quả cho chúng nó. Tốt hơn nữa khi lãnh đạo đất nước biết nhận ra sự dối trá, thành tâm sám hối, tự thú trước Bàn thờ Tổ quốc và nhân dân.

Vì sao có quá nhiều lãnh đạo đảng Cộng hòa cố giấu giếm mọi dữ kiện liên quan đến ngày 6/1?

Vì sao có quá nhiều lãnh đạo đảng Cộng hòa cố giấu giếm mọi dữ kiện liên quan đến ngày 6/1?

Bởi  AdminTD

CNN

Reality Check của John Avlon

Bùi K. Nguyên, dịch

1-11-2021

Lịch sử thường được viết lại bởi những người cộng sản hoặc những kẻ tội phạm, nhưng chúng ta đang chứng kiến một nỗ lực viết lại lịch sử xảy ra trong ngày 6/1.

Hiện vụ này xảy ra hết sức trắng trợn – trắng trợn hơn cả sự dối trá kinh niên của Trump. Như phim tài liệu của Tucker Carlson trên đài Fox Nation, cho thấy cuộc bạo loạn ngày 6/1 chỉ là một sự dàn dựng giả tạo, hoặc như một dân biểu “cuồng Trump” giả bộ cho rằng, những kẻ tấn công Điện Capitol là du khách và goi họ là “những tù nhân chính trị”. Hoặc qua vài câu trả lời “đần độn” của Sean Spicer (cựu Thư ký Báo chí và là Giám đốc Truyền thông Tòa Bạch Ốc thời Trump cầm quyền) trong show “Real Time with Bill Maher” như sau:

Bill Maher: “Trump thắng cử hay thất cử trong cuộc bầu cử tổng thống?”

Sean Spicer: “Tôi không biết”.

Bill Maher: “Đó thấy chưa? Vì cả thế giới đều biết”.

Sean Spicer: “Vì đây là một vấn đề, nếu anh…”.

Thật ra, viết lại lịch sử đôi khi hiện ra dưới một hình thức mờ ảo, không dễ nhận ra ngay. Như câu nói của Mike Pence (mà đám đông bạo loạn ở Điện Capitol muốn treo cổ) lải nhải như con vẹt: “Đã đến lúc chúng ta nên bắt đầu lại”. Giống như quyết định của Mitch McConnel lúc đầu không ủng hộ Ủy ban điều tra ngày 6/1. Hoặc như 200 dân biểu đảng Cộng hòa đã bỏ phiếu không buộc tội Steve Bannon về vụ “khinh thường Quốc hội”, vì họ sợ những tên điên rồ trong đảng Cộng hòa, theo lời một dân biểu. Hay là “cách chơi” của Glenn Youngkin ở tiểu bang Virginia, đánh trống lảng về lời nói dối trắng trợn của Trump, chỉ thừa nhận Biden thắng cử sau khi ông ta chính thức trở thành ứng cử viên Thống đốc sau cuộc bầu cử sơ bộ. Và ngay cả lúc đó, Youngkin cũng từ chối xác định rằng ông ta có chịu chứng nhận kết quả bầu cử tổng thống hay không.

Hiện nay, trong Đảng Cộng hòa dường như có hai cách chính để đối phó với nỗ lực đảo chính của Trump: Đưa thông tin sai lệch và xem nhẹ vụ tấn công. Cả hai cách đều không được chấp nhận vì mỗi ngày chúng ta càng có thêm thông tin về việc tranh đấu cho sự thật quan trọng như thế nào.

Một đơn kiện nộp cho tòa cuối tuần qua nói rằng: Trump đang cố tình ngăn chặn vụ công bố khoảng 750 trang tài liệu từ Viện Lưu trữ Quốc gia. Số tài liệu này gồm những hồ sơ ở Tòa Bạch Ốc và sổ ghi các cuộc điên thoại về ngày 6/1, cũng như các bản thảo diễn văn, emails, và các cuộc nói chuyện liên quan đến nỗ lực lật ngược kết quả bầu cử của ông ta.

Trước hết, hồ sơ chính quyền thuôc về dân chúng Hoa Kỳ – không thuộc về vị cựu tổng thống. Kế đến, chuyện Trump đang cố tình ngăn chặn việc công bố các tài liệu này liên quan rất ít đến đặc quyền hành pháp, nhưng đủ cho chúng ta thấy ông ta đang cố che giấu các bằng chứng.

Trump biết rằng, sự thật sẽ không giải thoát tội lỗi của ông ta vì những chi tiết vừa được tiết lộ đã vẽ lên một sự kết án rõ ràng. Chủ nhật 31/10 vừa qua, báo Washington Post đăng phần đầu của một phóng sự điều tra về cuôc bạo loạn ngày 6/1. Bài báo cung cấp thêm các bằng chứng mới: Cuộc tấn công không phải do tự phát, mà nó đã bị thúc đẩy bởi những lời dối trá của Trump. Những lời dối trá này đã kích động các thành phần ủng hộ cực đoan, âm mưu tấn công bạo lực vào Điện Capitol với các mối đe dọa trên mạng đã được đưa ra nhiều ngày, trước ngày 6/1.

Đây là âm mưu đảo chính dựa trên sự dối trá của một cựu tổng thống, và là chuyện hết sức nghiêm trọng. Và hầu hết các thành viên đảng Cộng hòa đã dung túng cho sự gian dối này để trở thành đồng lõa, bởi vì không có chuyện lưng chừng ở đây, hoặc là chúng ta quan tâm đến nền dân chủ, hoặc là không.

Nhưng Bộ Tư pháp của ông Biden có thể vô tình làm mọi việc không rõ ràng, như Thẩm phán Beryl Howell nhận định cuối tuần qua, về vụ xử 650 người bị bắt vì hành đông của họ trong ngày 6/1. Bà nói: “Hèn chi một số người dân Mỹ đang lẫn lộn, rối rắm về những gì đã xảy ra vào ngày 6/1 tại Điện Capitol: Đó chỉ đơn giản là một sự vi phạm nhỏ, xâm lấn tài sản công, gây mất trật tự, hay một hành vi phạm tội, là mối đe dọa nghiêm trọng đối với các chuẩn mực dân chủ của chúng ta?

Vị thẩm phán nói: “Để tôi nói cho quý vị hiểu: Những kẻ làm loạn không phải là những người chỉ đi biểu tình”.

Thẩm phán Howell nói đúng. Sự phản quốc phải được coi là ghê tởm, là đáng ghét, như Andrew Jackson nói trong thời kỳ nội chiến. Và hình phạt phải tương xứng với tội lỗi mà những kẻ phản quốc đã gây ra: Không chỉ “xâm phạm tài sản và phá rối cuộc họp của Quốc hội”, mà ít nhất trong một số trường hợp, phải là “âm mưu thực hiện cuộc nổi dậy”.

Phải tìm ra sự thật trước khi có thể hòa giải. Và sự hòa giải này sẽ vững mạnh hơn qua việc sửa đổi “Luật Kiểm Phiếu Đại Cử Tri” (Electoral Count Act) để bảo đảm rằng những âm mưu tương tự sẽ không bao giờ xảy ra.

Viết lại lịch sử để bảo vệ những kẻ phạm tội, đó là tội ác. Cũng như sự bao che, dung túng cho việc “viết lại” này, chẳng qua vì sợ hãi hoặc theo đuổi, hay trục lợi về chính trị trong ngắn hạn. Và đó là tình trạng chúng ta thấy hiện nay.

Cơn sốt của lời nói dối trắng trợn này chỉ chấm dứt khi các đảng viên Cộng hòa nhận ra rằng, đó là thỏa hiệp với ma quỷ, điều này sẽ dẫn đến sự thất bại về chính trị.

Lễ Cầu Hồn

5 PHÚT LỜI CHÚA

02.11.21 THỨ BA TUẦN 31 TN


Lễ Cầu Hồn

TIN MỪNG GIOAN 6,37-40

“CHÍNH LÚC CHẾT ĐI, LÀ KHI VUI SỐNG MUÔN ĐỜI”

“Tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời.” (Ga 6,40)

Suy niệm: Chúng ta thường nói “sinh ký tử quy”: sống ở đời này chỉ là “tạm trú”, chết là về cõi vĩnh hằng. Nhưng cõi vĩnh hằng là gì, đó mới là điều quan trọng.

Chắc một điều là không ai mong chết rồi phải đi về một “cõi âm” im lìm lạnh lẽo, cõi mà “cô hồn các đẳng” sống vật vờ vất vưởng.

Chúa Giêsu dạy chúng ta cõi vĩnh hằng ấy là cõi sống hạnh phúc tròn đầy và vĩnh viễn dành cho những ai tin vào Ngài, là Đấng đã chết để đền bù tội lỗi chúng ta và đã sống lại để dẫn đưa chúng ta vào sự sống đó.

Chính vì tin như thế mà thánh Phanxicô Átxidi đã ca lên rằng: “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.

Mời Bạn CHIA SẺ: Giáo Hội dành cả tháng 11 hằng năm để cầu nguyện cho “các đẳng linh hồn” trong đó có ông bà tổ tiên, thân bằng quyến thuộc chúng ta đã qua đời đang phải chịu thanh luyện chưa được hưởng hạnh phúc tròn đầy ở cõi vĩnh hằng.

Chúng ta còn đang sống ở chốn dương thế này, nhờ lòng tin vào Chúa Giêsu Kitô và nhờ tham dự thánh lễ, cầu nguyện, làm việc bác ái hy sinh, có thể chuyển cầu cho các vị sớm được hưởng

Nhiều người lương dân vẫn quan niệm rằng “đi đạo Công giáo là bỏ ông bỏ bà.” Việc kính nhớ, cầu nguyện cho ông bà tổ tiên trong Tháng Các Đẳng này có thể giúp xoá đi sự hiểu lầm đó không? Bằng cách nào?

Sống Lời Chúa: Viếng nhà thờ hoặc nghĩa trang cầu nguyện theo ý Giáo hội để chuyển cầu cho các đẳng linh hồn.

Cầu nguyện: Đọc một Kinh Vực Sâu cầu cho các đẳng linh hồn.

GPLONGXUYEN 

RA ĐI CŨNG LÀ TRỞ VỀ

 RA ĐI CŨNG LÀ TRỞ VỀ

Legio Mariae - Đạo Binh Đức Mẹ

01/11/2021 Lm. Inhaxiô Trần Ngà

Đối với những ai không tin có sự sống đời sau thì cái chết là thảm hoạ khủng khiếp nhất trên đời, vì khi chết đến, nó sẽ cướp đi tất cả, không những là tất cả tài sản, của cải tiền bạc, công danh sự nghiệp của một đời người, mà còn cướp luôn mạng sống của họ.

Tuy nhiên, đối với các Ki-tô hữu, cái chết không còn bi đát hãi hùng, không phải là một mất mát, nhưng là một sự trở về: chết là về nhà Cha.

Xin mượn câu chuyện sau đây để minh họa cho chân lý nầy :

Năm người con đưa tiễn người mẹ yêu quý xuống tàu vượt biển đến một bến bờ xa cách vạn dặm nằm bên kia bờ đại dương bát ngát.

Tàu rời bến, họ vẫy tay tiễn biệt mẹ mà lòng tê tái buồn đau. Họ đứng lặng trên bờ, đăm đăm nhìn con tàu rẽ sóng đưa mẹ ra khơi cho đến khi con tàu chỉ còn là một đốm trắng li ti và mất hút ở cuối chân trời. Mắt mỗi người đều ngấn lệ vì mẹ đã đi xa, tưởng như không bao giờ trở lại.

Mấy ngày sau đó, ở bờ bên kia của đại dương, ông bà ngoại, cậu, dì và nhiều người thân yêu đang tụ tập trên bến chờ đón mẹ về. Và khi thấy thấp thoáng từ xa con tàu buồm trắng mà họ tin là có mẹ trên đó, thì họ cảm thấy tâm hồn nao nức mừng vui. Đến khi mẹ vừa ra khỏi tàu, thì ông bà ngoại, cậu dì chạy ra ôm choàng lấy mẹ, mọi người rất vui mừng hân hoan vì đã chờ đợi mẹ rất lâu mà mãi tới hôm nay mới có ngày sum họp.

Thế là việc ra đi của mẹ ở bờ bên nầy lại là sự trở về của mẹ ở bờ bên kia. Sự vĩnh biệt đau thương bên nầy được tiếp nối với cuộc đoàn tụ hân hoan hạnh phúc ở bờ bến khác.

Chúa Giê-su dạy ta biết sự chết như là con tàu buồm trắng trong câu chuyện trên đây, đưa người ta rời khỏi bến nầy để đưa họ sang bờ bến khác, giúp con người từ giã thế giới tạm bợ đời nầy để bước vào thế giới vĩnh cửu, để được đoàn tụ với Thiên Chúa, với ông bà tổ tiên và thân nhân đã lìa đời trên thiên quốc.

Chính vì thế, qua trích đoạn Lời Chúa trong Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su an ủi những ai còn ở bờ bên nầy, nghĩa là những người còn sống trên dương gian rằng: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14,1-3).

Như thế, ngày chết mà người ta gọi là ngày đại hoạ, ngày kinh hoàng, thì đối với người tin Chúa, đó lại là ngày đoàn tụ sum vầy. Ngày đó, chúng ta sẽ được “đồng hưởng sự sống đời cùng với Đức Trinh nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa; Thánh Giu-se bạn trăm năm Đức Trinh nữ; các Thánh Tông đồ và toàn thể các Thánh đã sống đẹp lòng Chúa qua mọi thời đại[1]”, nếu hôm nay ta sống theo Lời Chúa dạy.

Lạy Chúa Giê-su,

Chúa đi trước để dọn chỗ cho đoàn con và mai đây Chúa sẽ trở lại để đưa đoàn con về với Chúa.

Xin cho anh chị em tín hữu đã ly trần nhưng còn đang được thanh luyện, sớm thoát khỏi chốn luyện hình để đến nơi Chúa đã dọn sẵn cho họ trên thiên quốc và được đồng hưởng hạnh phúc cùng với ba ngôi Thiên Chúa và triều thần thánh đến muôn đời. Amen.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Tin mừng: Gioan 14, 1-4

1 Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy.2 Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em.3 Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.4 Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.” (Ga 14,1)

NGUỒN NƯỚC MẮT

NGUỒN NƯỚC MẮT

 ĐGM Gioan B. Bùi Tuần

Trí nhớ của tôi lưu giữ nhiều hình ảnh.  Trong số đó, có một thứ hình ảnh rất thầm lặng, nhưng thường gây trong tôi nhiều cảm xúc và suy nghĩ.  Thứ hình ảnh đó là các nghĩa trang.

Tôi đã viếng nhiều nghĩa trang.  Tại Việt Nam, tại Ý, tại Đức, tại Pháp, tại Nga, tại Vaticăng.

Tôi đến viếng các nghĩa trang, chủ ý để suy gẫm, cầu nguyện, và cũng để tìm cảm nghiệm.  Có thứ cảm nghiệm chỉ tìm được ở nghĩa trang.  Tôi đã nghĩ như vậy và đã làm như vậy, khi tôi viết luận án: “Đau khổ của tình yêu.”

Đã có những cảm nghiệm độc đáo in rất sâu vào lòng tôi từ các nghĩa trang.  Đặc biệt là từ những dòng nước mắt ở nghĩa trang.

Có những nước mắt của tình yêu dạt dào.

Có những nước mắt của nỗi buồn, nhung nhớ.

Có những nước mắt của lòng hối hận khôn nguôi.

Có những nước mắt của tấm lòng tha thứ muộn màng.

Có những nước mắt của ân tình, hiếu nghĩa.

Có những nước mắt của niềm tin sâu sắc mong chờ.

Khi đi sâu hơn một chút giữa các dòng nước mắt, tôi có thể cảm nghiệm được một số khám phá quan trọng:

Khám phá ra những chân lý nhân sinh.

Khám phá ra những hy vọng ứu độ.

Khám phá ra chính mình.

Khám phá ra chân lý

 Những nước mắt ở nghĩa trang là những tiễn biệt thân thiết.  Tiễn biệt người đã chết, người vĩnh viễn ra đi.  Sự chết là một sự thật không cần bàn tới.  Nhưng đó lại là một chân lý cực kỳ quan trọng.

Bất cứ ai, rồi cũng phải chết.  Cái chết đáng sợ.  Nhưng đáng sợ hơn lại là cái gì đàng sau cái chết. Đáng sợ, vì nó quá bất ngờ.  Biết đâu, trong số mồ mả, cũng có những hồn vì thế mà đang khóc ròng rã đêm ngày.

Ở đây, tôi chỉ xin trích dẫn một đoạn Phúc Âm: “Có một ông nhà giàu nọ, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình.  Lại có một người nghèo khó tên là Ladarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu đó.  Anh thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rơi xuống mà ăn cho đỡ đói.  Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta.

Thế rồi, người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Apraham.

Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn.  Dưới địa ngục, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Apraham ở trên đàng xa, và thấy Ladarô trong lòng tổ phụ.  Bấy giờ ông ta kêu lên: Lạy tổ phụ Apraham, xin thương xót con, xin sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát, vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm.

Ông Apraham đáp: Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con đã nhận phần phước của con rồi.  Còn Ladarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh.  Bây giờ Ladarô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ.  Hơn nữa, giữa chúng ta đây và con đã có một vực thẳm quá lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được” (Lc 16,19-26).

Với dụ ngôn trên, Chúa dạy ta những chân lý quan trọng.  Ai cũng phải chết.  Nhưng sự Chúa đánh giá từng người sau khi chết thường vượt quá sự con người suy nghĩ.  Người phú hộ đó sống đời này được đầy đủ, sung sướng, an nhàn, xét mình chẳng thấy gì là xúc phạm Chúa, chẳng thấy gì là làm hại ai.  Nhưng người phú hộ đó đã bị rơi vào hoả ngục.  Chỉ vì sống thiếu thương cảm, thiếu liên đới, thiếu chia sẻ, thiếu xót thương.  Trái lại, người ăn mày kia đã được lên thiên đàng.  Vì dù bị chìm trong cảnh khổ, anh đã sống nêu gương về đức khiêm nhường, hiền lành và chân thật.  Không được người dư dật chia sẻ, anh phải sống đói khổ, nhưng anh vẫn chia sẻ với mấy con chó đói ăn.

Nhờ ơn Chúa, những sự thực như trên đã được nhiều người nhận ra một cách sâu sắc trong những dòng nước mắt tại nghĩa trang.  Những chân lý đó đã thay đổi đời họ.

Ngoài ra, biết bao người nằm trong nghĩa trang và khóc tại nghĩa trang cũng đã tìm được hy vọng cuộc đời qua một ngả khác.

Khám phá ra hy vọng

 Không thiếu trường hợp, tôi đã chứng kiến những cuộc trở về.  Họ đã trở về từ những dòng nước mắt của một người nào đó.  Người đó cầu nguyện cho họ.  Người đó khóc với họ thay vì nói với họ.

Một lúc bất ngờ, lời Chúa Giêsu phán xưa trở thành chuyện đời họ.  Chúa an ủi họ rằng: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc.  Người đau ốm mới cần.  Hãy về học biết ý nghĩa của câu này: Cha muốn lòng nhân, chứ đâu cần của lễ.  Vì Cha đến, không để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,12-13).

Những lời dịu dàng đó đã đi sâu vào lòng họ.  Cõi lòng vốn đóng kín, khoá chặt, chất chứa những u uất, thất vọng, nay mở ra để hy vọng tràn vào.

Họ cảm thấy mình được xót thương, được yêu thương.  Họ sám hối.  Họ cảm thấy mình được tha thứ.  Và chính họ cũng dễ dàng tha thứ.  Một sự bình an lạ lùng trùm phủ tâm hồn họ.  Họ ra đi bình an trong sự tin tưởng phó thác tuyệt đối ở Chúa giàu lòng thương xót.  Họ khóc vì xúc động, đây là những dòng nước mắt đầy tình cảm tạ.

Những người chứng kiến cũng không cầm được nước mắt.  Những dòng nước mắt ấy không nói nên lời, nhưng ngọt ngào niềm hy vọng cứu độ.

 Khám phá ra chính mình

 Tại những nghĩa trang, thấy người ta khóc, nhất là khi chính mình khóc, tôi như nghe được tiếng Chúa Giêsu nói: Cha thương con, Cha thương mọi người.  Cùng với lời Chúa trao ban tình yêu, tôi khám phá ra chính mình tôi, với những vết thương, với những tang tóc đau buồn.  Khám phá ra chính mình trong sự thực trần trụi.

Khám phá để giúp trút bỏ những cái nhìn ảo.  Nhìn ảo về mình.  Nhìn ảo về những công việc của mình.  Nhìn ảo về người khác.  Nhìn ảo về cuộc đời.

Để cũng nhận ra rằng: dù với những yếu đuối, tội lỗi, mong manh, tôi vẫn được Chúa gọi với tình xót thương:

Gọi hãy cảm thương.

Gọi hãy chia sẻ.

Gọi hãy trở về.

Gọi hãy hiến dâng.

Gọi hãy cầu nguyện và đền tạ.

Gọi hãy sám hối và tín thác.

Gọi hãy vượt qua sự chết và mọi nghĩa trang, để bay vào cõi phúc đời đời.

Ơn gọi đó sẽ thực hiện được, miễn là tôi biết nhờ ơn Chúa, ở lại trong tình Chúa yêu thương.  Như lời Chúa kêu gọi: “Hãy ở lại trong Cha, như Cha ở lại trong các con” (Ga 15,4).

ĐGM Gioan B. Bùi Tuần

From: Langthangchieutim

Tương lai của lăng tẩm và mồ mả các lãnh đạo CS

Tương lai của lăng tẩm và mồ mả các lãnh đạo CS

   

Trần Trung Đạo

Như người viết phân tích trong bài “Tác Dụng Của Tầm Nhìn Chính Trị”, nhìn xa là một đặc điểm cần thiết của những người lãnh đạo đất nước. Các lãnh đạo cộng sản cũng biết nhìn xa, nhưng không phải nhìn xa cho đất nước mà nhìn xa cho phần hậu sự của chính bản thân họ.

Võ Nguyên Giáp nghĩ tới hậu sự khi chọn một nơi hoang sơ, hẩm hiu, phải vượt suối băng đèo mới tới được là Vũng Chùa, thôn Thọ Sơn, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình để làm nơi chôn xác mình. Được biết Vũng Chùa kín đáo đến nỗi gió cũng không thể lọt vào được nên mới được gọi là vũng.

Trường hợp của Võ Nguyên Giáp khá rõ. Ngay cả khi còn sống Võ Nguyên Giáp biết mình đã chết từ nhiều năm trước. Ngày chết ghi trong giấy tờ của Võ Nguyên Giáp là ngày 18 tháng 4 năm 1984 chứ không phải 4 tháng 10 năm 2013.

Giấy khai tử của Võ Nguyên Giáp do thủ tướng CS Phạm Văn Đồng ký trong quyết định 58/HĐBT. Theo nội dung quyết định, Võ Nguyên Giáp không phải là Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng (đã lọt vào tay Văn Tiến Dũng), không phải Bí Thư Quân Ủy Trung Ương (đã lọt vào tay Lê Duẩn) mà là Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Dân số và Sinh đẻ Có Kế hoạch, một chức vụ dân sự, không liên quan trực tiếp hay gián tiếp gì với quân đội hay hiểu biết của Võ Nguyên Giáp.

Lê Duẩn và Lê Đức Thọ thay vì đặt để họ Võ vào những chức vụ dễ nghe, không phải cúi gầm mặt xuống khi được xướng danh, đã cố tình hạ nhục bằng việc giao cho ông ta lo bộ phận sinh đẻ. Việc sinh đẻ là quan trọng nhưng đó là công việc của các nhà nhân loại học, dân số học, xã hội học chứ không phải của Võ Nguyên Giáp với toàn bộ quá trình hoạt động không có một chữ nào bà con xa gần với sinh đẻ.

Bộ máy tẩy não của CS nặn ra những con vẹt có cảm xúc rất giống người qua những cảnh quỳ khóc khi xe tang Võ Nguyên Giáp đi qua hay ôm cột nhà khóc khi nghe tin Võ Nguyên Giáp qua đời. Những người đó không biết rằng, nếu Võ Nguyên Giáp chết trong thời kỳ Lê Duẩn làm tổng bí thư thì ngay cả những người làm nghề khóc mướn cũng không dám nhận khóc.

Hai năm trước, Chủ tịch nhà nước CS Trần Đại Quang nhìn xa khi chọn một nơi an táng riêng thay vì nghĩa trang Mai Dịch, nơi chôn các lãnh đạo CSVN như Trường Chinh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Lê Khả Phiêu v.v…

Mới đây, Phùng Quang Thanh cũng biết nhìn xa cho bản thân mình khi chọn nơi chôn cất tại nghĩa trang dòng họ Phùng. Khi còn sống họ đoàn kết nhau để giữ chiếc ghế quyền lực nhưng khi sắp chết họ muốn tránh nhau càng xa càng tốt.

Trần Đại Quang và Phùng Quang Thanh muốn một mình một cõi nguy nga như lãnh chúa. Nhưng cả hai quên rằng dù chôn trong vũng như Võ Nguyên Giáp hay chôn trong đất riêng, tội ác vẫn là tội ác.

Lăng mộ Hoàng Cao Khải là một công trình đồ sộ với kiến trúc tân kỳ của thời đó và vẫn còn được duy trì nhưng hoang phế vì không ai muốn đến nhìn dấu tích của một kẻ phản quốc. Trong khi đó, khu Lăng mộ Phan Đình Phùng tại Hà Tĩnh đông đảo người thăm viếng dù chỉ là khu tưởng niệm hơn là một ngôi mộ. Thân xác ông đã bị Nguyễn Thân ra lịnh đốt thành tro nhưng ngày nào dân tộc Việt Nam còn có mặt trên trái đất này, trong tim của từng người Việt vẫn có một ngôi mộ mang tên Phan Đình Phùng.

Những sự kiện lăng mộ các lãnh đạo CS bị dời đi, lăng bị san bằng hay xác bị đào lên lấy sọ không phải là chuyện thời phong kiến hay quân chủ chuyên chế mà vừa xảy ra cách đây không lâu tại nhiều nước CS trên thế giới.

Chuyện dời xác Stalin đã được nói đến nhiều nhưng chuyện giật sập lăng Georgi Dimitrov, tổng bí thư CS Bulgary hay chuyện đào mả lấy xương sọ của Janos Kadar, tổng bí thư CS Hungary, chắc ít người biết.

Chuyện giật sập lăng Georgi Dimitrov

Dimitrov là lãnh tụ đảng CS Bulgaria và là nhà hoạt động CS Châu Âu nổi tiếng. Ông ta là cộng sự viên đắc lực của Stalin sau khi bị trục xuất từ Đức sang Nga năm 1934. Trong thời điểm này, Stalin cử Dimitrov vào chức vụ Tổng Bí Thư của Đệ Tam Quốc Tế CS (Comintern).

Dimitrov chết bất ngờ tại Liên Xô ngày 2 tháng 7, 1949. Thi hài được đưa từ Liên Xô về Bulgary để ướp và trưng bày trong Lăng Georgi Dimitrov ở Prince Alexander of Battenberg Square, giống như Ba Đình của Việt Nam, tại thủ đô Sofia.

Tháng 8, 1999, khi Bulgary trở thành một nước theo chế độ cộng hòa, thi hài của Dimitrov bị đưa ra khỏi lăng và hỏa thiêu. Tro của Dimitrov thay vì được đem rắc đâu đó lại được đem về chôn ở nghĩa trang Sofia. Việc đưa xác của Dimitrov ra khỏi lăng để đi thiêu phải thực hiện một cách kín đáo lúc nửa đêm để tránh dân chúng từng là nạn nhân của chế độ CS đến đòi nợ máu xương.

Chôn cất Dimitrov là một quyết định không quá khó nhưng san bằng lăng Dimitrov là một công việc nặng nề. Các chuyên viên cho nổ ba loạt mìn có sức công phá mạnh nhưng vẫn không giật sập hết lăng. Lần thứ tư họ vừa dùng mìn vừa dùng xe xúc lớn mới giật sập được lăng màu trắng của cựu Tổng Bí Thư Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản.

Chuyện đào mả Janos Kadar

Janos Kadar, nguyên tổng bí thư đảng CS Hungary và là một kẻ phản quốc theo Liên Xô để tàn sát đồng bào mình sau cuộc Nổi Dậy Hungary 1956. Sau 1960, Janos Kadar thay đổi đường lối cai trị bằng các chính sách ôn hòa hơn nhưng tội ác do y gây ra không vì thế mà được quên đi.

Janos Kadar chết ngày 6 tháng Bảy, 1989, ba tháng trước khi chế độ CS tại Hungary sụp đổ.

Ngày 2 tháng Năm, 2007, mộ của Kadar đã bị đào lên, nhiều xương cốt kể cả xương sọ của ông ta bị lấy đi và một dòng chữ trích từ một bản nhạc Rock như một bản án được để lại bên cạnh mộ: “Những kẻ sát nhân và phản bội không được yên nghỉ trong vùng đất thánh 1956-2006” (Murderers and traitors may not rest in holy ground 1956–2006).

Tờ The Guardian tường thuật trong số báo ngày 3 tháng 5, 2007: “Hôm qua, cảnh sát Budapest cho biết sọ và một số bộ xương khác của lãnh đạo CS Hungary Janos Kadar và chiếc bình đựng tro cốt của vợ ông đã bị đánh cắp khỏi mộ của ông.”

Người viết không có ý nguyền rủa hay trù ẻo gì ai và cũng không tiên đoán những gì sẽ xảy ra cho lăng tẩm hay phần mộ các lãnh đạo CSVN. Những sự kiện vừa nêu vẫn còn mang tính thời sự chứ không cần ai tiên đoán. Ngày nào trái đất còn xoay, sự thật sẽ còn cơ hội được soi sáng và lịch sử sẽ phán xét một cách công bằng.

Trong mỗi khoảnh khắc đi qua trong cuộc đời, chính chúng ta chứ không ai khác gieo một nhân cho tương lai mình. Tương lai có thể là ngay trong phút tới, giờ tới, ngày mai, sang năm hay nhiều năm nữa nhưng nếu gieo nhân ác sẽ phải gặt quả ác dưới hình thức này hay hình thức khác. Tuy nhiên, một điều mà ai cũng nên biết là không bao giờ quá trễ cho một người để thay đổi tương lai.

Nhóm chuyên gia của Liên Hiệp Quốc bác bỏ chứng cứ buộc tội Phạm Đoan Trang

Nhóm chuyên gia của Liên Hiệp Quốc bác bỏ chứng cứ buộc tội Phạm Đoan Trang

Posted by BVN1

Nguyên Sa

Không thể dùng các báo cáo nhân quyền để truy tố một nhà hoạt động. Cũng không thể làm một việc rất xấu hổ cho LHQ là bầu những nhà nước giỏi xoen xoét đầu lưỡi mấy chữ “nhân quyền” vào Hội đồng Nhân quyền.

Bauxite Việt Nam

Phạm Đoan Trang. Ảnh: Adam Bemma/ Al Jazeera. Cáo trạng: Facebook Phạm Đoan Trang. Bìa sách: Green Trees.

Ngày 29/10/2021, nhóm chuyên gia nhân quyền độc lập của Liên Hiệp Quốc (LHQ) lên tiếng bác bỏ chứng cứ mà chính quyền Việt Nam dùng để buộc tội Phạm Đoan Trang “tuyên truyền chống nhà nước” [1].

Nhóm chuyên gia nhận định gì?

  • Nhóm chuyên gia phản đối việc chính quyền Việt Nam dùng các báo cáo tư liệu về tình hình nhân quyền để truy tố một nhà hoạt động.
  • Họ đề cập cụ thể đến ba bản báo cáo được nhắc đến trong cáo trạng vụ ánPhạm Đoan Trang, gồm: (1) báo cáo về thảm họa môi trường biển năm 2016, (2) báo cáo về luật tôn giáo năm 2016 và (3) báo cáo chung về tình hình nhân quyền Việt Nam [2].
  • Họ khẳng định rằng chia sẻ báo cáo và cung cấp lời chứng là phương thức liên lạc thông thường với LHQ, và là một trong những cách mà các chuyên gia nhân quyền thu thập dữ kiện.
  • Theo các chuyên gia, việc làm của chính quyền Việt Nam sẽ “gia tăng không khí sợ hãi ở Việt Nam, dẫn tới tình trạng tự kiểm duyệt và cản trở những người khác hợp tác với Liên Hiệp Quốc”.

Nhóm chuyên gia nhân quyền này là ai?

Nhóm này gồm có tám người là chuyên gia độc lập và báo cáo viên đặc biệt của LHQ:

  • Bà Irene Khan, Báo cáo viên Đặc biệt về quyền tự do quan điểm và biểu đạt;
  • Bà Mary Lawlor, Báo cáo viên Đặc biệt về tình trạng của những người bảo vệ nhân quyền;
  • Bà Tlaleng Mofokeng, Báo cáo viên Đặc biệt về quyền được đảm bảo sức khỏe thể chất và tinh thần.
  • Năm thành viên của Nhóm Công tác về Bắt giữ Tùy tiện: Bà Elina Steinerte (Trưởng Nhóm công tác), TS. Miriam Estrada-Castillo (Phó Trưởng Nhóm công tác), bà Leigh Toomey, ông Mumba Malila và bà Priya Gopalan.

Họ còn nói gì khác nữa?

  • Nhóm chuyên gia tái khẳng định sự phản đối của họ đối với điều 88 của Bộ Luật Hình sự 1999 (điều 117 của Bộ Luật Hình sự 2015) về tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Họ nói rằng điều luật này “được định nghĩa một cách mơ hồ và vi phạm các chuẩn mực nhân quyền quốc tế”.
  • Nhóm chuyên gia nhấn mạnh việc Phạm Đoan Trang đã bị bắt giữ tùy tiện, không được gặp luật sư và gia đình, cũng không được chăm sóc y tế trong suốt hơn một năm trong trại tạm giam.
  • Họ thúc giục chính quyền trả tự do cho Đoan Trang ngay lập tức và vô điều kiện, đồng thời cung cấp cho cô các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cần thiết.

Bối cảnh:

  • Tuyên bố trên của nhóm chuyên gia được đưa ra bốn ngày sau khi Nhóm Công tác về Giam giữ Tùy tiện của Hội đồng Nhân quyền kết luận rằng việc chính quyền bắt giữ Phạm Đoan Trang là tùy tiện và vi phạm nhân quyền. Đọc tóm tắt quan điểm chính thức của Nhóm Công táctại đâyvà bài giải thích tầm quan trọng của tuyên bố này tại đây. [3] [4]
  • Phạm Đoan Trang bị bắt ngày 7/10/2020 và bị giam giữ từ đó đến nay. Phiên tòa xử cô dự kiến diễn ra ngày 4/11/2021, nhưng hồi tuần trước, Tòa án Nhân dân TP. Hà Nội bất ngờ thông báo hoãn phiên tòa vì lý do các kiểm sát viên tham gia vụ án có tiếp xúc với người nghi nhiễm COVID-19. Thời điểm tổ chức lại phiên tòa chưa được công bố.

Cùng thời điểm này, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Minh Chính có chuyến làm việc quan trọng tại châu Âu. Theo lịch trình, ông sẽ tham dự Hội nghị COP26 của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu, đồng thời thăm và làm việc tại Anh và Pháp. [5]

Chú thích:

  1. OHCHR | Viet Nam: release writer held on “propaganda” charges – UN experts. (2021, October 29). OHCHR. https://www.ohchr.org/EN/NewsEvents/Pages/DisplayNews.aspx?NewsID=27734&LangID=E
  2. Trịnh Hữu Long. (2021, October 18). Tóm tắt cáo trạng vụ án Phạm Đoan Trang. Luật Khoa Tạp Chí. https://www.luatkhoa.org/2021/10/toan-van-cao-trang-vu-an-pham-doan-trang/
  3. Yên Khắc Chính. (2021, October 28). Nhóm làm việc của Liên Hiệp Quốc: Cần trả tự do ngay lập tức cho Phạm Đoan Trang. Luật Khoa Tạp Chí. https://www.luatkhoa.org/2021/10/nhom-lam-viec-cua-lien-hiep-quoc-can-tra-tu-do-ngay-lap-tuc-cho-pham-doan-trang/
  4. Nguyễn Quốc Tấn Trung. (2021, October 29). Vụ bắt nhà báo Phạm Đoan Trang: “Phán quyết” của Nhóm Công tác Liên Hiệp Quốc có giá trị gì?Luật Khoa Tạp Chí. https://www.luatkhoa.org/2021/10/vu-bat-nha-bao-pham-doan-trang-phan-quyet-cua-nhom-cong-tac-lien-hiep-quoc-co-gia-tri-gi/
  5. Thủ tướng Phạm Minh Chính lên đường tham dự Hội nghị COP26 và thăm làm việc tại Anh, Pháp. (2021, October 31). Tuổi Trẻ Online. https://tuoitre.vn/thu-tuong-pham-minh-chinh-len-duong-tham-du-hoi-nghi-cop26-va-tham-lam-viec-tai-anh-phap-20211031080805008.htm

N.S.

Nguồn: Luật Khoa