Một cõi đi về …

Những người ưu tú của Việt Nam Cộng Hoà (Tú Tài 1 trở lên) đa số đều đi tù và cuối cùng đi đến các nước như Pháp, Mỹ, Úc. Có phải “chất xám” này và con cái họ của họ được hưởng Gen di truyền, đã đóng góp cho đất nước tiếp nhận họ, phải không? Những người ưu tú bị bạc đãi, bị tù đày, bị đuổi đi, có phải là sự thiệt thòi cho đất nước Việt Nam sau chiến tranh phải không? 47 năm rồi, hậu quả rất rõ ràng, tụt hậu về mọi mặt. Nếu không thì Việt Nam đâu có thua kém gì Singapore, Đại Hàn…

Van Pham

BÀI VIẾT ĐÃ CŨ NHƯNG VẪN HỢP THỜI VÌ CÁI CHẾ ĐỘ CÓ THAY ĐỔI GÌ ĐÂU?!

***

Một cõi đi về …

Mượn tựa đề của một bài hát của Trịnh Công Sơn để mô tả cảm giác của tôi về sự “qui cố hương” của Đại tá Lê Bá Hùng.

Thật ra, nói “qui cố hương” là không đúng; anh ta chỉ viếng thăm chính thức thôi. Ngày rời quê mẹ là một cậu bé 5 tuổi, ngày trở về là một đại tá, chỉ huy cả hai chiếm hạm thuộc loại hiện đại nhất của hải quân Mỹ.

Sự trở về của anh ta, một lần nữa, minh chứng cho câu nói bất hủ của ông Phạm Văn Đồng … quá bậy bạ & ngu xuẫn. Ông trả lời báo chí Tây và nói rằng những người vượt biên là “thành phần đĩ điếm, xì ke, trộm cướp chạy theo tàn dư Mỹ Nguỵ”.

Dĩ nhiên, người di tản không phải là thành phần trộm cướp, mà thời đó đa số là thành phần ưu tú của miền Nam Việt Nam. Họ là những người học hành đàng hoàng (không có bằng dỏm tràn lan như ngày nay), họ được đào tạo bài bản từ các nước tiên tiến hay ngay trong nước. Họ là những chuyên gia rất tài giỏi của chế độ VNCH.

Họ có thể không tốt, không giỏi trong việc bắn giết ngoài chiến trường, nhưng họ là những người có học nghiêm chỉnh và có lòng nhân từ bác ái. Nếu có đi tị nạn thời đó và có dịp sống trong các trại tị nạn Đông Nam Á thời đó, các bạn thấy họ là những chuyên gia thứ thiệt, nói tiếng Anh không hề thua kém, thậm chí hơn hẳn, các quan chức Thái. Khi đến Thái Lan, họ rất dễ làm việc với người Mĩ và phương Tây vì cùng “bộ lạc” và nói cùng ngôn ngữ [tiếng Anh] nên rất dễ biết nhau.

Tôi nhớ hoài một kỉ niệm khi ở chung trại với một người mà lúc đó chúng tôi chỉ gọi là “Chú Ba Trung Tá”. Chú là người Bình Định, lúc đó chắc cỡ 50 tuổi nhưng đầu bạc trắng. Chú đi tị nạn một mình, nghèo rớt mồng tơi như tôi, suốt ngày chú chỉ có cái quần short và áo thun đã ngã màu vàng.

Chú từng là trung tá không quân thời VNCH và từng đi học ở Mỹ nhiều năm, nên chú nói tiếng Anh rất giỏi, y như người Mỹ. Nhưng chú có óc hài hước vui lắm, suốt ngày kể chuyện tiếu lâm.

Lúc đó, tôi có biết tiếng Anh tiếng U gì đâu, nên nhìn thấy cách nói chú tiếng Anh rất tự tin và tự nhiên, tôi phục sát đất, và trong lòng thì lo ngại chẳng biết bao giờ mình mới nói được như chú ấy.

Một hôm, phái đoàn Cao Uỷ tị nạn Liên Hiệp Quốc ghé trại làm thủ tục cho các thuyền nhân đi nhập trại Songkhla (cách đó vài trăm cây số), và chú Ba Trung Tá là người thay mặt nhóm làm thủ tục, điền đơn. Một quan chức Thái khen chú là “Your English is very good”, chú ba nhìn đám tụi tôi lúc đó đang đứng quanh chú, rồi cười nói bằng chất giọng nẫu: “Thằng mọi này nó khen tao nói tiếng Anh giỏi. Đồ dốt, tao nói giọng nước mắm, sao giỏi được.”

Tôi nhớ chú nói như thế. Nhớ hoài. Và nhớ câu tiếng Anh giọng nước mắm từ đó. Sau này, chẳng biết chú Ba Trung Tá định cư ở bang nào bên Mĩ, vì khi lên trại Songkhla chú chọn đi Mĩ (dĩ nhiên), còn tôi thì đi Úc.

Lúc đó, người miền Nam vẫn rất tự cao, và xem các dân tộc khác trong vùng là “mọi”. Thú thật, lúc tôi mới lên bờ Thái Lan, ở một vùng xa lánh gọi là Budi (gần biên giới Mã Lai), thấy xe hơi chạy vù vù, nhà cửa đâu ra đó, đường xá ngon lành, người thì nhìn có vẻ sáng láng, tôi thấy mình mới chính là mọi, chứ họ đâu phải là mọi mà văn minh hơn mình nhiều.

Những người như chú ba là thuộc thế hệ 1. Đó là thế hệ ưu tú của VNCH, đúng như ông Lý Quang Diệu từng nhận xét. Ông Lý từng lo ngại rằng nếu những người này có một hòn đảo để định cư thì có thể trở thành đối thủ cạnh tranh với Singapore của ông ấy.

Nếu chính quyền mới đối xử với họ đàng hoàng, trong tình anh em cùng một nhà, thì tôi nghĩ rất có thể Việt Nam mình không thê thảm như thời thập niên 1980 – 1990. Đọc những hồi kí cải tạo của họ mới thấy tiếc cho Việt Nam, có một đội ngũ chuyên gia giỏi mà không biết dùng, lại còn cho họ vào tù và tống khứ khỏi quê hương!

Anh bạn vong niên, là bác sĩ quân y thời đó mà tôi quen thường hay kể chuyện rằng lúc mấy bác ngoài Bắc vào tiếp thu tuy mang danh là “bác sĩ” nhưng họ rất kém, tên thuốc và bệnh danh viết còn sai tùm lum, còn kiến thức thì … ôi thôi quá tệ. Tệ đến nỗi người ta phải dùng danh từ “bác sĩ cách mạng” để phân biệt với bác sĩ nguỵ cho chắc ăn. Còn loại đỡ hơn chút thì suốt ngày ca ngợi … xuyên tâm liên và bo bo. Hài hước đến khó tin.

Nhưng những người đó, trớ trêu thay, lại là người điều hành bệnh viện. Đọc lại những câu chuyện mà các “bác sĩ” cách mạng này đối xử với mấy thầy cô ở BV Bình Dân còn ngao ngán hơn, giống như ếch nhái lên làm sếp vậy. Phải đợi đến khi ông Tôn Thất Tùng vào thì họ (các thầy cô miền Nam) mới được dễ thở và kính trọng hơn.

Điều đáng mừng là thế hệ thứ 2 thì khá hơn thế hệ thứ nhất nhiều. Lợi thế của thế hệ thứ 2 là họ hoàn toàn học hành bên này, do đó không tốn thời gian để hội nhập như thế hệ 1. Họ cũng có cơ hội bình đẳng hơn thế hệ 1. Do đó, không ngạc nhiên, thế hệ này có nhiều “ngôi sao”. Phần lớn là ngôi sao trong khoa học và giáo dục, chứ rất ít sao trong … quân đội. Thành ra, những người như Đại tá Lê Bá Hùng, Chuẩn tướng Lương Xuân Việt, Đ/tá Phi công Elizabeth Pham, đ/tá Lý Vĩnh Thắng, v.v. là những người khá hiếm hoi trong cộng đồng người Việt ở nước ngoài.

Thử tưởng tượng một người Á châu, nhỏ con, mà vươn lên hàng tá, tướng, thậm chí phi công chiến đấu cơ trong quân đội toàn người Mỹ, thì chúng ta sẽ thấy họ xuất sắc như thế nào. Tôi thường hay nói với các bạn trẻ tuổi hơn là, người mình muốn ngang hàng với người Úc, người Mỹ thì mình phải “cao” hơn họ 2 cái đầu (nếu tiêu chuẩn là X thì được A, thì người mình phải phấn đấu có 2X) thì họ nới nể phục, chứ bằng họ thì chưa đâu. Mấy người mang hàm tá tướng này chắc chắn cũng phải hơn đồng nghiệp Mỹ “hai cái đầu”. Có thể nói không ngoa rằng họ là niềm tự hào của Việt Nam.

Dĩ nhiên, họ chỉ thành công khi ra nước ngoài làm người di tản thôi, chứ ở trong nước thì chắc gì họ được như ngày nay. Nói như Ts Võ Tá Đức là nếu còn ở Việt Nam thì có thể em cũng còn hành nghề đạp xích lô. Còn như Lê Bá Hùng nếu còn ở Việt Nam thì chắc chắn anh ta không thể vào đại học được do cái “lí lịch Nguỵ”.

Thời đó, chính quyền phân chia học sinh thành 10 (?) thành phần dựa vào lí lịch, và nếu là con “Nguỵ” thì đừng nghĩ đến chuyện vào đại học. Nghĩ lại mới thấy đúng là một chính sách ngu xuẩn và kì thị kinh khủng. Chính vì chính sách này mà nền giáo dục Việt Nam mới tệ như hiện nay, bởi vì ngay từ đầu cái hệ thống đó chỉ ưu tiên cho thành phần mà nếu thi thố tài năng một cách công minh thì họ không bao giờ được nhận vào học tại ĐH, chứ đừng nói đến giảng dạy. Nhưng mà thôi, chuyện cũ đã qua, bây giờ là lúc Việt Nam phải nhận những quả đắng do chính cái hệ thống đó gieo trồng. Không nên trách ai.

Đời người nghĩ cho cùng như một chuyến xe: ra đi rồi trở về. Trở về trong vị thế của Lê Bá Hùng là một biểu tượng quá đẹp. Nhìn hình ảnh anh ta được các đồng nghiệp hải quân Việt Nam tiếp đón tôi thấy vui trong lòng (hi vọng là các vị phía Việt Nam thật tình).

Những thành công của những người như Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh, Các Tướng Tá QĐ Mỹ như Lê Bá Hùng, Lương Xuân Việt, Elizbeth Phạm, Phạm Trần Anh Tuấn (và còn biết bao nhiêu người khác chúng ta chưa biết) là một minh chứng cho thấy người mình có thể sánh vai ngang hàng với các nước tiên tiến, ngay cả trong quân sự, nếu có điều kiện tốt và cơ hội bình đẳng.

Cái khó khăn hiện nay ở Việt Nam là làm sao tạo ra một môi trường bình đẳng và tạo cơ hội cho mọi người. Tôi e rằng đó là nhiệm vụ bất khả thi khi mà cái chủ nghĩa “con ông cháu cha” đang ngự trị trong xã hội. Nhưng những thành công của họ cũng là những sự thật sẽ còn chứng minh cho câu phát ngôn của ông Phạm Văn Đồng là mất dậy và ngu xuẩn…

Phần Lan và Thụy Điển quyết định – Ngô Nhân Dụng


Thủ Tướng Phần Lan (phải) và người đồng nhiệm Thụy Điển trong lần gặp gỡ báo chí tại Helsinki, Phần Lan, 5 tháng Ba, 2022.

Hai nước Phần Lan và Thụy Điển có thể trở thành hội viên Minh ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) trong mấy tháng tới. Chủ trương ngoại giao của ông Vladimir Putin thất bại. Đây cũng là một bài học cho ông Tập Cận Bình.

Vladimir Putin và Tập Cận Bình quan niệm rằng nước lớn có quyền ra lệnh cho các nước nhỏ. Đó là lối suy nghĩ của các vị hoàng đế ngày xưa, kể cả các “Sa hoàng” cầm đầu đế quốc Nga hay các vị “thiên tử” thay trời “bình thiên hạ.”

Trước khi đánh Ukraine Putin nêu một lý do là khối NATO đã bành trướng về phía Đông, đe dọa an ninh Nga. Trung Cộng không kết án Nga xâm lăng Ukraine vì cũng đồng ý, thông cảm với mối lo lắng này. Nếu có ngày một nước láng giềng của Trung Quốc như Việt Nam, Lào, Miến Điện hay Kyrgyzstan muốn liên minh với một khối an ninh khác, Trung Cộng có thể nói mình bị đe dọa để ra tay trước.

Thế giới phải lo có ngày các nước nhỏ bị một cường quốc nêu cùng một lý do đó để xâm lăng, như số phận Ukraine. Họ đã công khai bác bỏ chủ trương cường quyền đó. Một tuần sau khi ông Putin đánh Ukraine, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc nhắc lại chủ trương phải tôn trọng chủ quyền các quốc gia, 141 nước đã bỏ phiếu yêu cầu Nga rút quân. Chỉ có 5 phiếu chống và 35 nước không tỏ ý kiến.

Đại sứ Martin Kimani nước Kenya đã ví cuộc xâm lăng của ông Putin như một nước thực dân trở lại đánh thuộc địa cũ. Ông Kimani rút kinh nghiệm châu Phi, nơi nhiều sắc dân sống rải rác trong các quốc gia mới thành lập, biên giới dễ gây tranh tụng. Ông nhấn mạnh quy tắc chống các nước lớn bành trướng bằng vũ lực, ép nước khác phải theo mình.

Nhưng các nước đồng ý phong tỏa kinh tế Nga vì xâm lăng Ukraine chỉ chiếm một phần ba dân số thế giới; phần lớn là các nước Âu Mỹ. Một phần ba thuộc những nước ủng hộ Nga, trong đó có Trung Quốc. Một phần ba còn lại sống trong các nước không bày tỏ thái độ, đặc biệt là Ấn Độ, các nước Saudi Arabia và United Arab Emirates vốn là đồng minh của Mỹ.

Những nước nhỏ ủng hộ Nga hoặc giữ thái độ trung lập không biết rằng chính họ có thể đến ngày bị xâm lăng với những lý do dựng đứng như ông Putin đã nêu ra. Cộng sản Việt Nam, Lào, quân phiệt Miến Điện ủng hộ Nga đánh Ukraine thì đến lúc bị Trung Cộng đánh sẽ chờ được nước nào cứu giúp?

Ông Putin nói rằng chính phủ Ukraine theo chủ nghĩa Quốc Xã (Nazi) và đàn áp người nói tiếng Nga. Tổng thống Volodymyr Zelensky nói tiếng Nga từ lúc ra đời; ông gốc Do Thái, một sắc dân đã bị Đức Quốc Xã giết sáu triệu người! Nước Ukraine có hàng trăm sắc tộc thiểu số, dân Nga đông nhất. Khi bị tấn công nhiều người gốc Nga đã chống cự hoặc bỏ chạy về phía quân đội Ukraine. Các nước khác ở Âu châu cũng rất nhiều dân gốc Nga; không những trong các nước thuộc Liên bang Xô Viết cũ mà ngay nước Đức cũng có ba bốn triệu người nói tiếng Nga. Rất nhiều nước sẽ bị đe dọa nếu ông Vladimir Putin tiếp tục tham vọng.

Tham vọng của ông Putin không chỉ giới hạn trong việc đánh chiếm lãnh thổ một nước láng giềng. Đánh Ukraine chỉ là một bước đầu; nếu thắng thế, ông sẽ có cơ hội xếp đặt một “trật tự” mới ở Âu châu; dùng áp lực buộc các nước nhỏ chung quanh ký hay không được ký các hiệp ước an ninh, thương mại, ngoại giao.

Đó cũng là ước muốn của ông Tập Cận Bình. Ngoại trưởng Trung Cộng đã từng nói thẳng rằng các nước nhỏ phải biết phận mình, không thể đứng ngang hàng nước lớn. Tất cả các lãnh tụ độc tài đều muốn một “trật tự thế giới” kiểu như vậy.

Trong thế giới văn minh, loài người sống với luật lệ. Một trật tự thế giới dựa trên pháp luật, các quốc gia lớn nhỏ đều phải được tôn trọng, như vậy mới hy vọng có hòa bình. Các quốc gia tự do dân chủ vẫn có tranh chấp nhưng thường không gây chiến với nhau bao giờ. Những lãnh tụ hiếu chiến chắc sẽ không được cử tri tín nhiệm lần thứ hai.

Ông Putin gieo gió nên gặt bão. Dân Ukraine đoàn kết chiến đấu, không phải vì ông tổng thống kêu gọi mà vì trong lịch sử các bộ lạc Cossacks là một thành phần quan trọng lập nên dân tộc này. Tên Cossack gốc từ tiếng Thổ Nhĩ Kỳ “kazak” có nghĩa là “dân tự do,” gồm các nhóm dân Tartar từ châu Á qua tụ tập trong vùng sông Dnieper từ thế kỷ 15. Họ đã được các Nga hoàng công nhận quyền tự trị.

Nhưng thất bại lớn nhất của ông Putin là chỉ hai tháng sau khi đánh Ukraine, các nước trong NATO đoàn kết với nhau hơn và sắp mở rộng thêm khi Phần Lan và Thụy Điển xin gia nhập. Cả hai nước này đều bảo vệ vai trò trung lập trong cả thế kỷ trước. Trong ba nước Bắc Âu chỉ có Na Uy ký kết vào NATO.

Tháng Giêng năm 2022, Thủ tướng Phần Lan Sanna Marin còn nói rằng tham gia khối NATO là một chuyện xa vời, khó xảy ra. Ngày 13 tháng 4, Bà Marin gặp Thủ tướng Thụy Điển Magdalena Andersson; rồi tuyên bố đang xin khối NATO thu nhận. Bà Andersson cũng nói sẽ quyết định sớm.

Các chính phủ Phần Lan và Thụy Điển hành động theo ý muốn của cử tri. Năm 2019 hơn một nửa trong 5.5 triệu dân Phần Lan chống việc gia nhập NATO. Ngày 28 tháng Hai năm nay, bốn ngày sau khi Putin đánh Ukraine, tâm lý đã đảo ngược, theo báo Economist. Ngày 30 tháng Ba, 61% muốn vào, chỉ còn 16% chống, 23% không có ý kiến.

NATO là liên minh quân sự ra đời trong Chiến Tranh Lạnh gồm Mỹ và các nước Tây Âu nhằm đối phó với Liên Xô. Trong hơn nửa thế kỷ, NATO và Nga chỉ chung một đường biên giới dài 196 cây số, nơi Nga giáp với Na Uy. Sau khi Liên Xô và các chế độ cộng sản ở Đông Âu sụp đổ, nhiều nước Đông Âu đã xin vào NATO. Năm 1999, thêm Ba Lan, ranh giới giữa NATO và Nga dài thêm 428 cây số, giữa Ba Lan và vùng Kalinigrad. Năm 2004, ba nước Estonia, Latvia và Lithuania miền Baltic mới tách khỏi Liên Xô cũng xin vào NATO, đường ranh dài thêm 1,233 km. Nếu thêm Phần Lan biên giới giữa NATO và Nga sẽ dài gấp đôi, thêm 1,340 km nữa.

Khi ông Putin chính thức yêu cầu NATO phải ngưng thâu nhận các hội viên mới, các nước Âu Mỹ đã trả lời bằng quan niệm chủ quyền quốc gia: Không nước nào có thể ép buộc các nước khác gia nhập hay không gia nhập bất cứ liên minh nào.

Sau năm 1990, khi các chế độ cộng sản sụp đổ, Ba Lan, Romania, Hungary, Bulgaria ở Đông Âu lần lượt xin vào NATO. Các nước thuộc Liên Xô cũ như Moldova, Lithuania, Latvia và Estonia cũng lần lượt gia nhập.

Bây giờ, ông Putin đánh Ukraine vì muốn chặn không cho NATO mở rộng, nhưng kết quả ngược lại. Đây sẽ là một bài học cho Tập Cận Bình. Dân Ukraine chịu gian khổ, đã hy sinh giúp cả thế giới ý thức về tai họa nước lớn bắt nạt nước nhỏ. Các quốc gia nằm cạnh Trung Quốc cần phải ủng hộ dân Ukraine, vì không biết bao giờ sẽ đến lượt mình!

LẠI CHUYỆN THÁNG TƯ – Tưởng Năng Tiến

Van Pham

Phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để đổi lấy sự đểu cáng như thế thì (đ…ị…t… mẹ) không chửi thề sao được chớ

***

LẠI CHUYỆN THÁNG TƯ

Tưởng Năng Tiến

Tác giả câu thơ thượng dẫn là một chính khách rất tài tử, và vô cùng mờ nhạt. Không mấy ai nhớ rằng ông đã từng giữ những chức vụ như Thủ tướng, Phó Tổng thống, và Tổng thống trong thời Đệ II Cộng Hòa – ở miền Nam Việt Nam.

Dân chúng ở miền đất này thường chỉ nhớ đến Trần Văn Hương như một người lập dị. Ổng hay đi làm bằng xe đạp, trong thời gian là Ðô trưởng Sài Gòn, và thỉnh thoảng lại sáng tác ra những câu thơ (hơi) kỳ cục :

Ngồi buồn gãi háng, dái lăn tăn…

Ở miền Bắc phần lớn quí vị chính khách đều hành nghề cách mạng một cách bền bỉ, liên lỉ và chuyên nghiệp hơn nhiều. Họ cũng sính chuyện thơ văn hơn, và cách họ làm thơ (hoặc viết văn) cũng gây lôi thôi phiền phức nhiều hơn – cho cả đống người !

Khi ngồi buồn, họ không gãi háng. Lúc rảnh rỗi, họ cũng không chịu viết văn hay làm thơ chỉ để đọc chơi thôi. Văn thơ của họ khiến cho cả nước phải bận lòng, và không ít người phải bỏ mẹ, hay bỏ mạng ! Xin đơn cử một thí dụ, một câu thơ nổi tiếng hơn, của một chính khách tăm tiếng (và tai tiếng) hơn nhiều :

Bỗng nghe vần thắng vút lên cao…

Nói theo ngôn ngữ của binh pháp thì tác giả câu thơ vừa dẫn, ông Hồ Chí Minh, là một người cư an tư nguy. Ông Trần Văn Hương thì ngược lại. Ổng cư nguy tư an. Nói cách khác, và nói theo kiểu miền Nam, là thằng chả lè phè hết biết luôn !

Nghiêm túc, khẩn trương, hiếu chiến và hiếu thắng… không phải là quan niệm sống riêng của ông Hồ. Thi đua lập chiến công dâng Đảng, đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào, một người làm việc bằng hai, nghiêng đồng cho nước chẩy ra ngoài… là chỉ thị của “trên” đưa xuống và nửa nước bắt buộc phải (triệt để) tuân hành.

Lè phè cũng không phải là thái độ sống chỉ có nơi ông Trần Văn Hương. Ðó là cung cách chung của hầu hết người dân miền Nam. Sự khác biệt giữa ông Trần Văn Hương và dân chúng, có chăng, chỉ là mức độ.

Không mấy người dân miền Nam, lúc buồn, chịu ngồi gãi háng (suông) như ông Tổng thống. Họ thường vừa gãi háng vừa nhậu lai rai (vài xị) cho vui – nếu là đàn ông. Họ đánh tứ sắc, đi coi cải luơng, hoặc đi cầm đồ để mua sầu riêng ăn chơi cho đỡ ghiền – nếu là đàn bà, ở đô thị. Và họ đi Hồng Kông hay Nhựt Bổn để mua đồ lót và son phấn, nếu là bà lớn. Họ đi buôn lậu (không chừng) nếu là ông lớn. Và cả đám đều hân hoan chơi tạt lon, thả diều, đá banh, đá bóng, đá dế, đá cầu, đá kiện, đá cá lia thia hay lắc bầu cua cá cọp – nếu là con nít nhỏ, ở thành phố.

Chuyện đánh đấm là “chuyện riêng” của môt giới người, tụi lính. Hứng chịu bom đạn, tai ương của chiến tranh là nỗi bất hạnh riêng của một số người khác nữa – đám nông dân.

Những chiến dịch hay phong trào hoàn thành kế hoạch nhỏ, nhi đồng cứu quốc, thay trời làm mưa, quyết tâm thu hoạch vượt chỉ tiêu vụ này vụ nọ… nếu phát động ở miền Nam (e) sẽ không có người tham gia, và tác giả của chúng – chắc chắn – sẽ bị dân chúng cũng như báo chí chửi cho… tắt bếp !

Chuyện Nam – Bắc đánh nhau kết thúc ra sao, vào ngày 30 tháng tư năm 1975, mọi người đều rõ. Viết thêm nửa chữ cũng thừa.

Cuộc chiến tàn. Theo sự hứa hẹn của quí vị lãnh tụ (của phe thắng trận) thì từ đây ta sẽ xây dựng đất nước gấp muời lần hơn, ta cũng sẽ đi tắt đón đầu nhân loại, và ta sẽ chuyển đổi từ ăn no mặc ấm qua ăn sang mặc đẹp…

Chuyện dân Việt ăn mặc (sang trọng và đẹp đẽ) ra sao để từ từ rồi tính tới nhưng riêng về cách họ dùng lon, thay gáo, uống nước thì ngó bộ quá tốn công và rất… cầu kỳ – theo như ghi nhận của nhà văn Bùi Ngọc Tấn :

“Lần về phép này Bá có thêm một thứ quà đặc biệt văn minh khác : những vỏ đồ hộp nước giải khát các loại. Các mầu xanh, đỏ, hồng, da cam, vàng, lon Heineken, lon Coca Cola, Pepsi Cola, những lon Tiger, San-Miguel, những lon nước ngọt đã uống cạn mà trong những lần xuống tầu đi nước ngoài anh lượm được cho vào túi ni lông mang về…

Anh Vận chọn ra những vỏ đẹp nhất, mỗi loại một chiếc, không móp, không méo, đem ra giếng súc rửa sạch rồi bầy vào tủ. Và nhặt bốn vỏ lon khác, mỗi chiếc một mầu bảo lũ trẻ con mài trên nền xi măng trong nhà. Mấy đứa trẻ lao vào mài theo đúng hướng dẫn của anh. Tiếng sào sạo sạo sạo ghê người. Chẳng mấy chốc, cái nắp hộp rời ra. Anh xếp bốn chiếc vỏ hộp lên bàn, nở nụ cười mãn nguyện :

– Làm cốc uống nước…

Những chiếc vỏ hộp trên bàn, trong tủ, những dấu vết ấy của văn minh làm nhà anh cứ sáng trưng lên, khác hẳn mọi nhà chung quanh. Nhà anh đã có hơi hướm của một thế giới khác, một thời đại khác khi các nhà chung quanh vẫn còn đang triền miên thời làm nương, thời lúa nước.

Và đến khi lũ trẻ được thoải mái chơi nghịch những vỏ lon còn lại mới thật tưng bừng. Đúng là một ngày hội…” (Bùi Ngọc Tấn, Biển Và Chim Bói Cá, Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2008, tr 436 – 437).

Điều kiện sống, cũng như niềm vui “tưng bừng” trong “ngày hội” của dân Việt, như vừa được mô tả – dường như – có làm cho một số người cảm thấy bất an, hoặc không được hài lòng cho lắm. Tác phẩm Biển Và Chim Bói Cá (trong một buổi hội thảo, do công ty Nhã Nam tổ chức, vào ngày 20 tháng 3 năm 2009) đã được “bình” và “phê” như sau :

“…chi tiết rất quan trọng trong tiểu thuyết. Nhưng đưa quá nhiều chi tiết mà chưa được tổ chức một cách chặt chẽ như Bùi Ngọc Tấn, theo anh không hẳn đã là một thành công. Thanh Sơn cũng nhấn mạnh, sự ngồn ngộn của chi tiết khiến độc giả rất khó đọc, rất mệt để đọc đến những dòng cuối cùng”.

Có lẽ, người ta chỉ cảm thấy bớt mệt (và thở phào nhẹ nhõm) khi Hà Linh – người viết bài tường thuật thượng dẫn – cho biết thêm rằng “Biển và chim bói cá lấy bối cảnh thời bao cấp”. Thiệt là mừng hết lớn.

Đó là một thời đã qua rồi !

Lịch sử đã sang trang. Chuyện cầu cạnh, bon chen, cậy cục, vay muợn, chạy chọt cho có cơ hội được bước xuống tầu viễn dương – làm một chuyến viễn du, hay nói một cách lịch sự và lịch sử là Đông Du – đi đến những chân trời xa lạ (để mang về những cái chai và lon.. rỗng) không còn phải là đặc quyền của riêng một giới người nào nữa.

Hai muơi năm sau, kể từ lúc “Đảng dũng cảm và quyết tâm đổi mới”, vào năm 2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng còn lớn tiếng hô hào toàn dân “hãy bước ra biển lớn”. Mệnh lệnh của ông đã khiến cho dư luận (hết sức) xôn xao và (vô cùng) phấn khích – trong một thời gian rất dài – qua diễn đàn Vươn Ra Biển Lớn, trên Tuổi Trẻ Online.

Nhiều năm sau nữa, sau khi thuyền (đã) ra cửa biển, cuộc sống – xem chừng – cũng không khác trước là bao. Hãy thử đọc một đoạn văn khác, của một ngòi viết khác, về sinh hoạt của một vùng đất khác – ở Việt Nam – bây giờ :

“Cả bản xôn xao khi thấy người lạ xuất hiện. Đám trẻ con hầu hết không quần áo, hoặc trên mình chỉ mang một trong hai thứ, mặt mày chúng trông bẩn thỉu, lem luốc và chi chít vết ruồi vàng bọ chó cắn.

Tôi hỏi thăm đường đến nhà mấy giáo viên cắm bản, nhưng chẳng có ai biết nói tiếng Kinh cả. Nhìn về phía cuối bản, tôi bỗng thấy một lá cờ đỏ bay phấp phới, đoán rằng đấy chắc là khu vực lớp học, tôi lại nặng nề lê bước về phía đó. Mấy thầy cô giáo thấy tôi xuất hiện, họ không khỏi ngỡ ngàng. Với họ, sự xuất hiện của người Kinh ở bản biên giới này hình như hiếm lắm…

Có lẽ cuộc sống người dân tộc La Hủ ở Pa Ủ cũng đơn giản như chính những ngôi nhà mái tranh vách phên của họ. Đơn giản đến lo ngại như những liếp phên cứ rung lên bần bật bởi gió rừng. Ở những túp lều bé nhỏ đến chật chội vì quá đông người đó, mỗi nơi lại có một câu chuyện về hoàn cảnh và những số phận con người.

Cuộc sống của mỗi gia đình ngày hai bữa sáng, tối phải lót dạ một cách dè dặt với canh sắn, ngô đồ, còn măng và rau sắn thì dường như ngự trị bữa ăn…, để có một nồi cơm độn sắn cũng hết sức khó khăn (“Thương lắm những búp non ở trên cành”, Mạnh Hà, phóng viên TTXVN tại Lai Châu).

Thôi chết mẹ ! Vậy là khi tầu hạ thủy – vì lu bu nhiều chuyện quá – Đảng và Nhà Nuớc đã quên (hú) những người dân ở miền sâu, miền xa, miền rừng núi rồi. Đúng không ?

– Thưa không ! Cả đống còn đang đứng (lóng ngóng) trên bờ, chớ đâu có riêng chi mấy đám dân bản địa.

Trong một cuộc chất vấn dành cho những đại biểu quốc hội, Bộ trưởng Nông nghiệp Cao Đức Phát cho biết ở thôn quê “vẫn còn hàng trăm nghìn đồng bào chỉ được ăn cơm khi ngày lễ, ngày tết, khi bị ốm !”.

Như vậy là đám nông dân, ở miền xuôi, cũng bị bỏ lại luôn sao ?

– Chắc bi họ đông quá nên mang theo (e) quá tải chăng ?

– Thế còn đám công nhân ?

Xin đọc qua đôi dòng tường thuật của ký giả Nguyễn Bay :

“Một ngọn đèn dầu, cái giỏ nhựa đựng đồ nghề đấm bóp, giác hơi, chiếu cói, gối hoa trải sẵn hoặc chỉ là một tấm áo mưa. Thợ giác hơi quanh Khu công nghiệp Tân Tạo đa số là nữ với các ‘chiếu’ trên vỉa hè, ven đường, thậm chí chỉ một mô đất giữa ruộng ; hoạt động từ 18g30 đến 3-4 giờ sáng…

Gần một năm nay, các “chiếu” giác hơi ngày một dài thêm hàng cây số (đường đi Long An, An Sương). Lúp xúp trong bụi cây, bờ cỏ, chúng tôi nhận ra nhiều thợ vốn là công nhân… Những khi tan ca, họ lẫn vào dòng thợ ‘chào hàng’… Tiền công 10.000 – 15.000 đồng/lần, bằng nửa ngày công… làm thợ”.

Dẫy chiếu “ngày một dài thêm” vì vật giá mỗi lúc một tăng mà đồng lương thì không. Lương bổng công nhân Việt Nam không thể nâng cao hơn vì những người lãnh đạo ở xứ sở này đã lựa chọn một… quốc sách thấp – theo lời ông Hồ Xuân Lâm, trưởng phòng quản lý lao động các khu chế xuất – khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh :

“Chúng tôi đã có cuộc họp với Hiệp hội Doanh nghiệp Đài Loan và tư vấn cho họ hãy trả lương cao hơn để tránh đình công. Họ nói là rất muốn trả cao hơn nhưng không thể vì quy định lương của Chính phủ Việt Nam quá thấp, các đối tác nước ngoài dựa vào đó kềm giá đơn hàng nên có muốn cũng không thể tăng hơn được”.

Nói tóm lại – và vẫn nói theo kiểu miền Nam – là thuyền đã ra cửa biển… mình ên ! Nhắc đến miền Nam, tôi lại chợt nhớ đến những chuyến tầu (bay) vội vã rời khỏi Sài Gòn – vào tháng Tư, bốn muơi năm trước – năm 1975. Trên một số những con tầu này chỉ có quí ông qúi bà tai to mặt lớn (cùng với của cải, thân nhân và gia nhân của họ) mà thôi.

Bây giờ, sau khi bước ra biển lớn, kiểm điểm lại cũng chỉ thấy duới thuyền không có ai khác – ngoài những kẻ cầm quyền, cùng với hành lý, thân nhân và gia nhân của họ. Thuyền đi càng xa, khoảng cách giàu nghèo (rõ ràng) càng rộng. Ông bạn Lê Diễn Đức gọi đó là sự đểu cáng thời vươn ra biển lớn.

Phải đốt cả dẫy Trường Sơn, phải hy sinh đến cái lai quần, và hàng chục triệu mạng người – thuộc mấy thế hệ kế tiếp nhau – chỉ để đổi lấy sự đểu cáng như thế thì (đ… mẹ) không chửi thề sao được chớ.

Tưởng Năng Tiến (Sổ tay Thường dân).

Đây là bức tranh “Người Ukraine đang ngồi trong hầm tránh bom” của Kinder Album

Lê Vi

Đây là bức tranh “Người Ukraine đang ngồi trong hầm tránh bom” của Kinder Album

Kinder Album, là bút danh của một nữ nghệ sĩ sống ở miền tây Ukraine. Cô đã thề sẽ không bao giờ rời bỏ đất nước của mình. “Tôi không muốn đọc tin tức về chiến tranh,” cô nói, “Tôi cảm thấy điều quan trọng là phải ở lại và cảm nhận tất cả những sự kiện này. Tôi muốn thực sự trải nghiệm chúng. Toàn bộ bầu không khí sợ hãi, nơi trú ẩn và đe dọa, của các vụ đánh bom, đã giúp tôi tạo ra nghệ thuật của mình trong chiến tranh.

Còn tôi, một người đã trải qua chiến tranh thời còn nhỏ nhìn thấy trong bức tranh này người phụ nữ trung niên (rất giống mẹ tôi khi đó) là trung tâm của sức mạnh, bởi chắc chắn chồng và con trai lớn của chị đã ra chiến trường. Hai cánh tay dài ra che chở cho mẹ già, các con thơ và cả con chó cưng. Tất cả trái tim của họ đều bị tổn thương!

Fb Nguyễn Đình Bổn

Những người cho đi lòng thương xót cũng sẽ nhận lại được nó… từ Thiên Chúa.

Những người cho đi lòng thương xót cũng sẽ nhận lại được nó… từ Thiên Chúa.

Hôm nay Giáo Hội hoàn vũ mừng Kính Lòng Chúa Thương Xót, ước mong bạn hãy yêu thương như Chúa yêu thương bạn vậy nhé.

CN: 24/04/2022

TIN MỪNG: Hồi ấy, nhiều dấu lạ điềm thiêng được thực hiện trong dân, nhờ bàn tay các Tông Đồ… Nhiều người từ các thành chung quanh Giê-ru-sa-lem cũng lũ lượt kéo đến, đem theo những kẻ ốm đau cùng những người bị thần ô uế ám, và tất cả đều được chữa lành. (Cv 5:12a,16)

SUY NIỆM: Sứ vụ của các Tông đồ sau biến cố Phục Sinh là minh chứng cho Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Lòng Thương Xót mạnh hơn sự chết và tội lỗi của con người. Câu chuyện sau đây có thể giúp bạn hiểu được giá trị cao cả của hành động lòng Chúa xót thương:

Một buổi sáng sớm, có một ông lão bước đi trên bãi biển. Ông cúi mình xuống, nhặt những con sao biển và ném chúng trở về với lòng đại dương. Một thanh niên đi ngang qua và hỏi ông: “Này lão, lão đang làm gì đấy? ”.

Ông lão liền nói: “Những con sao biển này sẽ chết vì thiếu nước khi mặt Trời lên cao. Vì thế, ta ném chúng xuống biển để chúng có thể sống được”.

“Ha”! Chàng trai trẻ liền thốt ra những lời mỉa mai: “Có hàng triệu con sao biển trên bờ biển dài hàng dặm  này thì việc làm của lão có ý nghĩa gì chứ”.

Ông lão nhìn con sao biển trên tay mình và sau đó  ném nó trở về an toàn bên những con sóng. Ông liền nói: “Nó có ý nghĩa đối với sinh vật này”.

Điều gì bạn làm cho những người khác mới thực sự tạo ra sự khác biệt? Đó chính là những hành động của lòng xót thương. Vậy, bạn có phải là con người của lòng thương xót không? Có bao giờ bạn biện minh cho việc không thực thi lòng thương xót bằng câu nói “phớt đi” rằng: “Tôi không thể giúp đỡ tất cả mọi người”? Thiên Chúa đã đặt để bên cạnh bạn những con người mà bạn có thể giúp đỡ. Bạn có nhìn thấy những con người ấy chăng? Bạn có đồng cảm với nỗi đau khổ của họ? Bạn sẽ làm bất cứ điều gì có thể để giúp đỡ họ? Những người cho đi lòng thương xót cũng sẽ nhận lại được nó… từ Thiên Chúa.

LẮNG NGHE: Hãy tạ ơn Chúa vì Chúa nhân từ, / muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương. (Tv 117:1)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa giàu lòng xót thương, xin cho con có được một tầm nhìn nhạy bén đối với các dấu chỉ, để trong mọi hoàn cảnh cuộc sống, giữa giòng đời hôm nay và bên những người cùng sống với con, con có thể nhận ra được dấu chỉ của lòng thương xót Chúa. Xin dạy con biết cách yêu thương như Chúa. Yêu thương không chỉ là trao cho nhau những nụ cười xã giao, cũng không phải nắm lấy tay nhau để chào hỏi những câu dư thừa, hay chúc bình an cho nhau mà trong lòng vẫn còn tức tối. Nhưng yêu thương là phải thật lòng tha thứ và tận tâm giúp đỡ nhau.

THỰC HÀNH: Hôm nay bạn hãy chọn tha thứ/giúp đỡ thay vì chờ để được thứ tha/giúp đỡ.

From: Đỗ Dzũng

Sống như ngày hôm nay là ngày cuối cùng trong cuộc đời.

Phùng Văn Phụng

 Ngày hôm qua đã qua. Ngày mai chưa tới. Không nên tiếc nuối những ngày đã qua, không thể thay đổi được gì. Ngày mai nào ai biết được sẽ ra sao?

Đến tuổi này rồi, vài tháng nữa đến tuổi 80, sức khỏe dĩ nhiên không còn được như xưa nữa nhưng bù lại được sự bình tĩnh, trầm tĩnh, không còn hơn thua gì nữa, bớt giận hờn, không còn giận hờn lâu dài vì “đời người thì ngắn lắm”. Nếu ngày hôm nay mình chết, mình có còn giận hờn ai nữa không?

*Đến tuổi này rồi mới biết

Sự kiện xảy ra chỉ là một phần rất nhỏ, còn thái độ của chúng ta đối với sự kiện đó mới là quan trọng. 9 phần 10 hậu quả xấu hay tốt là do chúng ta phản ứng ra sao?

Trước những khó khăn, trở ngại trên đường đời, sự kiên nhẫn vô cùng quan trọng. Đức khiêm nhường sẽ giúp đời sống vui hơn, giúp vượt qua những khó khăn, bớt va chạm với người xung quanh.

Con người sống cần có một tấm lòng và lời nói không chưa đủ, còn phải thực hiện lời nói, tấm lòng tốt nữa.

 Tạ ơn Chúa và Đức Mẹ nâng đỡ để có một gia đình bình an, vui tươi. Không có gia đình nào sống không có cãi vã với nhau nhưng biết làm hoà, tha thứ nhau mới là quan trọng.

*Sống như ngày hôm nay là ngày cuối cùng trong cuộc đời.

Tranh đua, bươn chải, hơn thua, kiếm tiền cho thật nhiều, dùng hết khả năng, sức lực nhiều khi quá sức rồi cuối cùng cũng già và chết.

Trong trại cải tạo, đâu ai biết ngày nào, chừng nào được thả ra, được về với gia đình. Không biết mình chịu “mấy cây gậy”. Một cây gậy là ba năm. Tù không án. Sẽ ở tù 5 năm, 10 năm, 20 năm hay chung thân, đâu có biết? Ngày mai ra sao đâu có biết.

Những năm cuối cùng của cuộc đời còn lại điều gì?

Con cháu đoàn tụ, sum họp, yêu thương tìm dịp để gặp nhau, để hỏi thăm nhau, tay bắt, mặt mừng, vậy là quý lắm, hạnh phúc lắm rồi.

Đó là chuyện của gia đình.

*Còn chuyện xã hội thì sao?

Giai thoại thời vua chúa.

+Có một giai thoại, người cận vệ của nhà vua khi đến một quán ăn, nhiều người ngồi trong quán chỉ trích nhà vua, chê bai nhà vua về rất nhiều việc làm của nhà vua. Khi về triều đình người cận vệ này xin nhà vua ra lịnh bắt họ.

Nhà vua nói: “Ta rất cám ơn họ chỉ trích ta. Ngươi không cần bắt bớ họ. Ngươi nghe họ nói về ta như thế nào, về đây trình bày với ta. Nếu họ chỉ trích đúng thì ta sửa chữa, nếu học chỉ trích sai cũng là bài học cho ta. Nếu bắt bớ họ còn ai dám chỉ trích ta để ta thấy sự sai lầm mà sửa chữa.”

+Giai thoại hai:

Thời Việt Nam Công Hoà trước năm 1975 nhiều đảng phái sinh hoạt. Có một lãnh tụ đảng phái nọ kia cứ công kích, chỉ trích lảnh tụ đảng phái kia. Rồi khi vị này mất, người bị công kích có đến đám tang, khóc lớn tiếng, “Anh mất rồi còn ai chỉ trích tôi nữa, để tôi biết những sai lầm của tôi đây?”

Đa thọ, đa nhục

Trong trại cải tạo, K3 Vĩnh Phú, của cộng sản miền Bắc khoảng năm 1979-1980, khi tách vỏ đậu phọng để lấy hột. Vì đói quá anh em tù vừa làm vừa lén bỏ ăn hột đậu phọng. Khi bị “cán bộ” thấy đã chửi thậm tệ, mấy anh là sĩ quan, từng chỉ huy, các anh có bằng đại học, sao không tự trọng còn “ăn cắp” đậu phọng của trại.

Một giáo sư trung học là nghị viên Hội đồng tỉnh, khi đói quá, một người vất xương gà? xuống đất, anh nhanh nhẹn chụp ngay? Thấy nửa điếu thuốc thừa của ai đó vứt bỏ dưới đất, cũng vội vàng lượm liền, sợ người khác lượm mất.

Người ta nói nhịn nhục, khi nhịn là phải chịu nhục mà thôi.

*Đời người thật quá ngắn ngủi.

Chuyến xe đời cứ lặng lẽ trôi đi. Bạn bè tuổi nhỏ hơn, nhiều khi lại xuống ga tàu trước, nhưng rồi trên hành trình chuyến xe đời, cứ bình thường, lặng lẽ di chuyển, mình không xuống bến này thì bến sau mình lại xuống. Ga cuối đường tàu rồi (1), chắc chắn là mình sẽ xuống thôi.

Tuổi tám mươi còn tính toán gì nữa, còn mong muốn gì nữa?

Hãy vui vẻ lên, ung dung tự tại, không oán hận, không lo âu, không buồn chán, không nản lòng.

Trong nhà thờ Ngôi Lời Nhập Thể, tuần nào cũng có một hai người ra đi.

Ngày xưa tuổi 30, 40 có bao giờ nghĩ đến cái chết đâu, sao bây giờ bạn bè, người thân cứ tiếp tục ra đi, nhất là trong mùa bịnh dịch covid này.

Hôm nay, thứ bảy 23 tháng 04 năm 2022 lúc 5 P.M

Trên thế giới có 509,038,133 người bịnh Covid 19

Số người chết là: 6,241, 619 người

Riêng ở Hoa Kỳ:

Só người bịnh: 82,640,993 người

Số người chết: 1,018,196 người  

 *Chiến tranh xảy ra ở Ukraina đã gây đau thương tang tóc, người dân bị thương tật, chết quá nhiều. Cũng do kiêu ngạo của Putin mà ra.

Hai nước đang yên bình sống hoà thuận với nhau cùng nhau phát triển đời sống của hai dân tộc Nga và Ukraina bình an hạnh phúc biết bao nhiêu.

Cũng vì tham vọng của cá nhân Putin gây nên chiến tranh đau khổ tang thương khoảng 10 triệu người đã rời Ukraina lánh nạn.

Bí quyết hạnh phúc mỗi ngày:

Theo một nghiên cứu khoa học, những người sống có niềm tin thường hạnh phúc, ít bệnh tật và sống lâu hơn. Đây là 9 điều mà những người tin Chúa Trời thường thực hành để có cuộc sống sung mãn:

  1. Hãy ban phát điều gì cho một người nào đó (mà bạn không có mối quan hệ ràng buộc).
  2. Làm ơn cho ai đó (và quên nó đi).
  3. Dành ra một vài phút với người cao tuổi (kinh nghiệm của họ là một hướng dẫn tốt).
  4. Cười thường xuyên (là chất làm trơn cuộc sống).
  5. Tạ ơn Chúa Trời (ngàn lần một ngày chưa đủ, là Đấng ban cho bạn sự sống).
  6. Cầu nguyện (để Chúa hướng dẫn bạn làm điều đúng).
  7. Làm việc (với cả tiềm năng và sức sống).
  8. Lên kế hoạch như thể bạn sẽ sống mãi mãi (vì linh hồn bạn sẽ sống đời đời với Chúa trên Thiên Đàng).
  9. Sống như thể bạn sẽ chết vào ngày mai (vì cơ thể vật lý của bạn sẽ chết vào một ngày nào đó bạn không biết).                                                        (1)Tên một quyển sách của nhà văn Huy Phương

 Phùng Văn Phụng

Ngày 23 tháng 04/2022

Nguyễn Hồng Ân – Nếu chỉ còn một ngày để sống

PBN 95 Opening | Nếu Chỉ Còn Một Ngày Để Sống

Bài học từ chiến tranh Nga – Ukraine: Tham vọng lãnh thổ và kẻ xâm lược

Bài học từ chiến tranh Nga – Ukraine: Tham vọng lãnh thổ và kẻ xâm lược

Nguyễn Ngọc Chu

23-4-2022

1. DÃ TÂM XÂM CHIẾM LÃNH THỔ

Cuối cùng thì lãnh đạo LB Nga không còn úp mở về dã tâm. Tướng Nga đã tuyên bố công khai, rằng mục tiêu giai đoạn hai là chiếm toàn bộ Donbass gồm Luhansk (26.683 km²) và Donetsk (26.517 km²) cùng miền Nam Ukraine, tạo thành một dải liền gồm Donbass, Nam Ukraine, Crimea (27.000 km²) và thông với vùng Pridnestrovie (4.163 km²) của Moldova. Pridnestrovie (Transnistria) là lãnh thổ của Moldavia, nơi quân đội Nga chiếm đóng từ năm 1992, tự thành lập nước cộng hoà, và tự tuyên bố ly khai khỏi Moldova.

Miền nam Ukraine được hiểu, tối thiểu là 4 tỉnh (vùng) Zaporizhia (27.183 km²), Kherson (28.461 km²), Mykolaiv (24.598 km²), Odessa (33.314 km²), chưa nói đến các tỉnh Dnepropetrovsk (31.923 km²) và Kirovohrad (24.588 km²). Với mục tiêu giai đoạn 2, chính quyền Putin đang toan tính chiếm đoạt 32,1% lãnh thổ Ukraine, phần lãnh thổ giàu có nhất về công nghiệp và khoáng sản của Ukraine với diện tích của 7 tỉnh là 193.756 km².

Nếu khát vọng đất đai của kẻ xâm lược còn bao gồm thêm 2 tỉnh Dnepropetrovsk (31.923 km²) và Kirovohrad (24.588 km²), thì chính quyền Putin toan cướp đi 250.267 km² trên tổng số 603.548 km² lãnh thổ Ukraine, tức là 41,47%.

Cùng với mục tiêu chiếm đoạt lãnh thổ Ukraine, chia cắt lâu dài đất nước Ukraine, chính quyền Putin còn muốn kéo dài biên giới Nga tiếp nối với biên giới Moldova, đồng nghĩa với việc Moldova (33.700 km²) sẽ mất vùng đất Pridnestrovie (4.163 km²), là mất đi 12,35% lãnh thổ.

Mới hay, xâm chiếm lãnh thổ Ukraine mới là mục tiêu lớn nhất của chính quyền Putin. Trung lập, NATO, phát xít… tất cả chỉ cái cớ để phát động chiến tranh nhằm cướp đoạt đất đai, mở rộng lãnh thổ. Cuối cùng thì kẻ xâm lược tự mình lật tẩy dã tâm.

2. BAO GIỜ THÌ KẾT THÚC GIAI ĐOẠN 2?

Chiến lược ban đầu của ông Putin là tiến hành một cuộc chiến tranh chớp nhoáng, “đánh nhanh thắng nhanh”. Mục tiêu “toàn cục” của Putin là chiếm trọn Ukraine qua việc khuất phục Kyiv cùng các thành phố lớn của Ukraine trong vòng 72 giờ để thành lập chính phủ thân Nga. Nhưng chiến lược “đánh nhanh thắng nhanh” của ông Putin đã thất bại. Sau 1 tháng giao chiến khốc liệt, với tổn thất rất lớn, khoảng 25% năng lực chiến đấu của 20 vạn quân Nga, ông Putin buộc phải rút khỏi các tỉnh Kyiv, Chernihiv, Sumy cùng với tuyên bố kết thúc giai đoạn 1 để chuyển sang giai đoạn 2.

Ở giai đoạn 2 mục tiêu về lãnh thổ đã thay đổi. Từ mục tiêu “toàn cục”, quân Nga đã phải chuyển sang mục tiêu “địa phương”: Không chiếm toàn bộ Ukraine mà chiếm một phần lãnh thổ phía Đông và phía Nam của Ukraine như đã nói ở trên.

Còn về chiến lươc “đánh nhanh thắng nhanh” đã thất bại thì có lẽ tương tự như chiến dịch Điện Biên Phủ, quân Nga sẽ ở trong tình thế “đánh chắc, tiến chắc”(?). Nhưng rõ ràng là cả ông Putin lẫn các tướng lĩnh Nga đều muốn kết thúc giai đoạn 2 càng sớm càng tốt. Còn sớm như thế nào thì ông Putin và các tướng lĩnh Nga không thể tự quyết định được, vì còn phụ thuộc vào phía Ukraine. Cho nên cả ông Putin lẫn các tướng lĩnh Nga chưa công khai về thời hạn kết thúc giai đoạn 2 của chiến tranh Nga- Ukraine.

Vũ khí hạng nặng bắt đầu đến với quân đội Ukraine. Cuộc chiến ở Đông và Nam Ukraine sẽ vô cùng khốc liệt. Người Ukraine sẽ không chịu mất đi 1/3 lãnh thổ. Nếu quân Nga chiếm được vùng nào thì cũng chỉ tạm thời. Các cuộc phục kích sẽ không bao giờ chấm dứt trên vùng đất bị quân Nga chiếm đóng.

Quân đội Nga không phải là nguồn vô tận để ông Putin tiêu phí hàng vạn sinh mệnh người Nga cho mục tiêu chiếm đất. Nước Nga không thể tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược kéo dài nhiều năm.

Cuộc chiến tranh Nga – Ukraine nhất định phải kết thúc bằng một hoà ước. Hoà ước đến sớm hay muộn phụ thuộc vào tình thế trên chiến trường. Quân Nga càng tổn thất nặng, hoà ước càng đến sớm.

Có một thời hạn biết chắc là chiến tranh Nga – Ukraine phải kết thúc. Đó là lúc nước Nga không có Putin.

3. THAM VỌNG LÃNH THỔ VÀ KẺ XÂM LƯỢC

Các cuộc chiến tranh có thể không giống nhau về bản chất. Thế nào là chiến tranh xâm lược? Các định nghĩa có thể khác nhau. Nhưng có một nhân tố bất di bất dịch cho muôn đời để xác định bản chất của chiến tranh xâm lược. Đó là chiếm đất. Tiến hành chiến tranh để chiếm đoạt đất đai của nước khác thì mãi mãi là kẻ xâm lược, bất kể đội lốt dưới hình thức nào.

Trong nhiều bài học mà người Việt có được từ chiến tranh Nga – Ukraine, có bài học về tham vọng lãnh thổ và kẻ xâm lược. Kẻ xâm lược không bao giờ ngừng tham vọng lãnh thổ. Kẻ tham vọng lãnh thổ sớm muộn cũng trở thành kẻ xâm lược. Từ đó mà xác định kẻ xâm lược và kẻ sẽ trở thành xâm lược.

Tham nhũng là kẻ thù nguy hiểm nhất của quân đội Việt Nam

Tham nhũng là kẻ thù nguy hiểm nhất của quân đội Việt Nam

Lê Hồng Hiệp

Ngày 18 tháng 4 năm 2022, năm tướng lĩnh và hai sĩ quan cấp cao khác của Cảnh sát biển Việt Nam (CSBVN) đã bị Cơ quan Điều tra Hình sự Bộ Quốc phòng bắt tạm giam để điều tra về một loạt các tội danh tham nhũng, trong đó có tội tham ô tài sản. Những người bị bắt gồm có Trung tướng Nguyễn Văn Sơn (nguyên Tư lệnh CSBVN), Trung tướng Hoàng Văn Đồng (nguyên Chính ủy CSBVN), Thiếu tướng Doãn Bảo Quyết (nguyên Phó Chính ủy CSBVN), Thiếu tướng Phạm Kim Hậu (nguyên Phó Tư lệnh và Tham mưu trưởng CSBVN), và Thiếu tướng Bùi Trung Dũng (nguyên Phó Tư lệnh CSBVN).

Đây là vụ mới nhất trong một loạt các vụ bê bối tham nhũng gần đây, dẫn đến việc hàng chục sĩ quan cấp cao trong lực lượng quân đội và công an Việt Nam bị xử lý. Riêng trong quân đội, ít nhất 20 tướng lĩnh đã bị kỷ luật hoặc truy tố kể từ năm 2016. Sĩ quan cấp cao nhất bị truy tố là ông Nguyễn Văn Hiến, nguyên Tư lệnh Hải quân và Thứ trưởng Quốc phòng. Ông Hiến đã bị kết án 3 năm rưỡi tù giam vào cuối năm 2020 vì phê duyệt chuyển nhượng trái phép ba lô đất quốc phòng tại TP.HCM cho các nhà đầu tư tư nhân, gây thiệt hại cho nhà nước 939 tỉ đồng.

Vụ bắt giữ năm tướng CSBVN và kỷ luật ba tướng lĩnh tại Học viện Quân y liên quan đến vụ bê bối tham nhũng tại công ty Việt Á cách đây vài tuần giúp tăng cường uy tín chính trị cho Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, vốn từ năm 2016 đã tiến hành một chiến dịch chống tham nhũng cấp cao gây nhiều tiếng vang. Tuy nhiên, những gì được xử lý cho đến nay có thể chỉ là phần nổi của một tảng băng chìm, vì tham nhũng trong quân đội, được cho là phổ biến và cắm rễ sâu, nhìn chung rất khó phát hiện và loại bỏ.

Quân đội Việt Nam tham gia vào một loạt các hoạt động kinh tế, được tạo điều kiện thuận lợi nhờ ảnh hưởng lớn của quân đội trong nền chính trị Việt Nam. Điều này đôi khi khiến các cơ quan dân sự phải chiều theo yêu cầu của các quan chức quốc phòng, bao gồm cả việc cung cấp nguồn lực và các chế độ ưu đãi, qua đó làm nảy sinh cơ hội cho tham nhũng phát triển. Sự tồn tại của các doanh nghiệp thuộc sở hữu quân đội, cả các doanh nghiệp thực sự lẫn các công ty bình phong được thành lập để phục vụ mục đích thu thập thông tin tình báo và các hoạt động nghiệp vụ khác, cũng khiến việc trục lợi của các cá nhân tham nhũng khó bị phát hiện hơn do khó phân biệt rạch ròi giữa các hoạt động liên quan đến thương mại và quốc phòng.

Vì thông tin về các hoạt động của quân đội thường được coi là nhạy cảm hoặc bí mật, điều này cũng cung cấp một lớp bảo vệ khác cho các quan chức quân đội tham nhũng. Ví dụ, mặc dù một số thương vụ mua bán vũ khí của Việt Nam được cho là có liên quan đến tiền lại quả từ các nhà cung cấp quốc phòng, nhưng vẫn chưa có cuộc điều tra chính thức nào về những cáo buộc như vậy.

Nhiệm vụ chính của quân đội là bảo vệ tổ quốc chống lại xâm lược của ngoại bang, nhưng quân đội cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ chế độ. Điều này khiến cho việc xử lý tham nhũng trong quân đội trở thành một vấn đề nhạy cảm đối với ĐCSVN, vì đòi hỏi một sự cân bằng tinh tế giữa một bên là việc duy trì kỷ luật và liêm chính trong các lực lượng vũ trang, một bên là duy trì lòng trung thành của các lãnh đạo quân đội hàng đầu đối với Đảng. Mặc dù Đảng tuyên bố rằng không có ‘vùng cấm’ trong cuộc chiến chống tham nhũng, nhưng mong muốn duy trì lòng trung thành của các tướng lĩnh cũng có thể đã khiến Đảng không muốn giải quyết triệt để nạn tham nhũng trong quân đội, đặc biệt là trong các vụ việc liên quan tới các sĩ quan cấp cao.

Tham nhũng làm chuyển hướng nhiều nguồn lực cần thiết khỏi việc đầu tư vào các nỗ lực hiện đại hóa quân đội của Việt Nam, vốn đã chậm lại kể từ năm 2016. Tham nhũng cũng làm suy thoái tinh thần của các sĩ quan và binh sĩ, làm suy yếu khả năng sẵn sàng chiến đấu của họ. Một số hành vi tham nhũng bị cáo buộc, chẳng hạn như ăn cắp xăng dầu từ các tàu quân sự và báo cáo sai hành trình tuần tra, thậm chí khiến đất nước phải đối mặt với các mối đe dọa an ninh tiềm tàng, đặc biệt trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông ngày càng gia tăng và Trung Quốc thường xuyên xâm phạm các vùng biển Việt Nam.

Tham nhũng cũng là kẻ thù vô hình có thể tiêu diệt ngay cả những nhà lãnh đạo quân sự có kinh nghiệm và năng lực nhất, đe dọa làm suy yếu năng lực chỉ huy tổng thể của quân đội. Bình luận về vụ bắt giữ năm tướng CSBVN, một người dùng Facebook đã cay đắng nhận xét: “Ukraine tuyên bố đã tiêu diệt tám tướng Nga, và Việt Nam cũng có năm tướng bị loại khỏi vòng chiến đấu, ngay cả khi không có giao tranh nào.”

Việc truy tố năm tướng CSBVN cho thấy chiến dịch chống tham nhũng có thể sẽ tiếp tục được duy trì trong những năm tới, và người dân có thể mong đợi các vụ án tham nhũng cấp cao khác liên quan đến quan chức quân đội được phơi bày. Tuy nhiên, nếu không giải quyết các nguyên nhân gốc rễ thì tình trạng tham nhũng trong quân đội sẽ khó có khả năng thuyên giảm.

Ngoài việc cần cải thiện giám sát của chính quyền dân sự đối với chi tiêu quốc phòng, chấm dứt việc quân đội tham gia vào các hoạt động thương mại mang tính chất tìm kiếm lợi nhuận, và nâng cao thu nhập cho các quân nhân, Việt Nam cần cấp thiết phải xóa bỏ nạn ‘mua bán quyền lực’ trong quân đội. Mặc dù chưa có điều tra chính thức nào, nhưng hành vi đưa hối lộ để được thăng chức được cho là phổ biến ở cả các cơ quan dân sự lẫn các lực lượng vũ trang. Một khi đã được thăng chức, quan chức đưa hối lộ sẽ phải tìm cách “thu hồi vốn đầu tư”, do đó làm cho tình trạng tham nhũng ban đầu càng lan rộng và ăn sâu hơn. Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà tham nhũng trong quân đội dường như gia tăng kể từ năm 2006, khi số lượng các tướng lĩnh quân đội bắt đầu tăng mạnh. Năm 1975, khi Chiến tranh Việt Nam kết thúc, quân đội Việt Nam chỉ có 36 tướng, nhưng đến năm 2018, một Việt Nam thời bình lại có tới 415 sĩ quan quân đội mang quân hàm cấp tướng.

Quân đội Việt Nam tự hào vì đã đánh bại được ba cường quốc lớn. Những kỳ công này đạt được là khi nạn tham nhũng hầu như không tồn tại trong hàng ngũ của quân đội Việt Nam. Hiện nay, đối mặt với nạn tham nhũng tràn lan, khả năng của Việt Nam trong việc đối phó với các mối đe dọa an ninh và quốc phòng tiềm tàng có thể bị thách thức nghiêm trọng. Tham nhũng giờ đây đã nổi lên trở thành kẻ thù nguy hiểm nhất của quân đội Việt Nam, và một chiến thắng rõ ràng trước kẻ thù đó vẫn còn khó khăn, xa vời.

L.H.H.

Nguồn: nghiencuuquocte.org

ĐỪNG ĐƯỢC NẮNG… QUÊN MƯA! QUA CẦU …RÚT VÁN…!

 Van Pham

Ở đầu giường ông dán đầy hình ảnh con cháu làm lễ tốt nghiệp. Ông nghẹn ngào nói với tôi: “Xưa bác ép con của bác học giỏi, đứa nào bây giờ cũng có bằng cấp, có đứa làm bác sĩ đấy. Bây giờ bác ân hận lắm. Bác không cần các con bác học giỏi. Nó bán hambuger mà biết đến cha mẹ vẫn quý hơn người học cao chức trọng, mà luôn nói phải dự tiệc tùng này nọ, để đến chiều trễ tràng mới tới chúc mừng cha của mình. Nó thành tài nhưng không thành nhân, vì chúng nó bất hiếu”.

***

ĐỪNG ĐƯỢC NẮNG… QUÊN MƯA! QUA CẦU …RÚT VÁN…!

Anh là người con trai duy nhất của gia đình vượt biển tìm tự do, tưởng chết sau nhiều ngày lênh đênh trên biển dữ.

Anh tỉnh dậy và thấy mình đang nằm trên vai một người mặc chiếc áo đồng phục Hội Hồng Thập Tự. Người ấy xốc anh lên, chạy dọc theo ven biển của đảo xanh.

Sống sót, được một gia đình cư dân Mỹ nhận làm con nuôi, Steve Hòa Phạm đi học, đi làm. Dấu hiệu chữ thập đỏ trên chiếc áo ân nhân in đậm trong trí nhớ đã thúc đẩy anh lao vào công việc thiện nguyện ngoài giờ làm ở hãng, đêm đêm xách nôi hai con nhỏ đi họp thay vợ bận đi làm.

Có người bảo ra ứng cử vào hội đồng thành phố nhưng anh nói “không”. Anh thật sự hài lòng khi trở thành nhân viên Hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ năm 2005, một nghề “tiền ít, việc nhiều”. Anh hạnh phúc vì người bạn đời của anh không ngăn cản chồng ngày đêm lo lắng cho người khác, nhất là cộng đồng Việt Nam mình. Chị hiểu anh rất rõ: một người sẵn lòng sống chết với tha nhân, ngoài trách nhiệm trước hết đối với vợ con.

Xưa…

Tôi còn nhớ, vào mùa Thanksgiving, một gia đình Mỹ đến trại tị nạn mở rộng vòng tay đón tôi về nhà. Buồn cười là thấy tôi đi một mình, lúc đó tôi khoảng 19 tuổi, phái đoàn Mỹ hỏi “sao mày đi một mình?”. Một lý do thôi, tôi một mình vượt biển sau năm 1975 trong khi bố và anh ruột – những quân nhân Việt Nam Cộng Hòa – đang ở tù cải tạo.

Tôi đến Mã Lai, được phái đoàn Mỹ phỏng vấn, chấp thuận cho chuyển trại đến Phi Luật Tân rồi sang Nam California. Cám ơn đất nước này rất nhiều, cám ơn những người sẵn sàng cưu mang tôi mặc dù họ không biết tôi là ai. Tôi cám ơn thượng đế cho tôi đến được mảnh đất này, được người dân Mỹ nhân hậu mở cửa đón tôi về nuôi. Hồi đó tôi không biết tiếng Anh nên nói chuyện với mẹ và các anh chị em người Mỹ phải ra dấu nhiều hơn.

Có lần tôi đem cất quả chuối xanh, đến khi đoán đã tới độ chín vàng có thể ăn được thì không thấy đâu. Lục mãi mới nhìn thấy quả chuối trong thùng rác. Họ nói “chuối hư rồi, làm sao ăn?” Tôi nói: “Không, chuối chín vàng rục thì tôi mới ăn được”. Tập quán Mỹ – Việt khác nhau nhiều lắm. Có món tôi phải dùng đũa mới ăn được.

Tôi luôn nhủ lòng “đừng được nắng rồi quên mưa”. Tôi thường tự hỏi “nhờ đâu mình được như ngày hôm nay cho nên luôn cố gắng làm được gì cho người khác hôm nay thì ráng làm”. Mình không mang đôi dép của người ta thì sẽ không hiểu hoàn cảnh của họ. Vì vậy mà tôi không tiếc công lao giúp đỡ người khác, xem Hoa Kỳ là quê hương thứ hai của mình.

Người mẹ nuôi của tôi tên Jessica Griswold, có 4 người con. Khi chưa gặp tôi, mẹ nuôi bị hư thai. Bác sĩ nói nguyên nhân vì bà lớn tuổi và khuyên đi kiếm con nuôi. Bà âm thầm tới văn phòng xã hội, được hướng dẫn đến dò tìm con nuôi trong danh sách người tị nạn.

Bà gặp và đưa tôi về ở tại thành phố Pasadena, đặt cho tôi tên Steve – thay cho đứa con đã mất khi còn trong bụng mẹ. Sau này bà bị bệnh Parkinson, dọn về tiểu bang Virginia ở với người con gái. Tôi sống với gia đình Mỹ được mười mấy năm, đi học, đi làm, lấy vợ rồi mới tách ra. Tôi nghĩ, từ đôi bàn tay trắng nay có nhà cửa, vợ con đàng hoàng, có công ăn việc làm, còn muốn gì nữa…

Thời gian đầu, gia đình mẹ nuôi gọi tôi tên Hòa. Về sau, bà khuyên tôi nên lấy tên Mỹ cho dễ nói chuyện và bảo tôi chọn tên Steve. Khi tôi nhập tịch, Hòa là tên đệm, tên chính là Steve, nguyên tên họ là Steve Hòa Phạm.

Gia đình Mỹ cho tôi nhiều thứ trong khi nhìn quanh mình, tôi thấy có nhiều người Việt Nam có 2 – 3 căn nhà nhưng không muốn mở cửa giúp người tị nạn. Vì vậy mà tôi nghĩ mình cần phải lo toan để giúp người khác, mà nghĩ thì làm chứ không phải nghĩ rồi để đó.

Khi bị bệnh nặng lại sắp sang tiểu bang khác với người con gái, bà gọi tôi đến bên giường hỏi xem “có gì buồn lòng không”. Tôi nói “không”. Bà tâm sự rằng làm cha mẹ không bao giờ hoàn hảo, ngoài 4 đứa con ruột, 2 trai, 2 gái, bà phải săn sóc tôi và hãnh diện vì tôi là một người công dân tốt. Bà nhắc tôi nhớ ngày đầu tiên gặp tôi, mấy đứa con ruột của bà trố mắt nhìn tôi, không hiểu tại sao bà lại đón một thằng bé châu Á da vàng mũi tẹt về nhà. Bà dặn dò tôi: “Sau này có cơ hội thì giúp lại cho người khác mà không đòi hỏi điều kiện gì hết”.

Tôi quỳ xuống giường khóc và hứa với bà. Lời hứa đó là động lực thúc đẩy tôi hy sinh vì tha nhân. Tôi nhớ lời dặn dò của bà, “người mày mà mày không thương thì đừng mong dân tộc khác thương yêu dân tộc mày”.

Ở gia đình mẹ nuôi, tôi đi học, đi làm. Mỗi đứa ở riêng, tự lo giặt giũ. Nhiều tháng trong túi tôi chỉ còn vài đồng bạc. Nhiều dịp cả nhà đi coi phim với nhau theo lệ hàng tháng, tôi không có tiền mua vé, giả vờ nói “phải ở nhà làm bài”.

Một hôm bà vô phòng tôi đóng cửa lại và hỏi, “Có phải con không có tiền đi xem phim không?” Tôi ôm bà nói: “Mẹ đúng là mẹ nên mới hiểu con”. Bà nói: “Mẹ không thể cho con tiền trước mặt những đứa con khác được mà chỉ có thể cho lén lút như thế này”, và bà cho tôi tiền để sau đó tôi cùng đi xem phim với các anh chị nuôi của mình.

Tôi vẫn nhớ câu bà nói: “Mẹ giúp con mà không đòi hỏi gì hết và không cần biết con là ai”.

Tôi làm thợ tiện, sáng đi học, chiều về đi làm bằng xe bus. Bà theo đạo Tin Lành, tôi là người Công Giáo. Cuối tuần bà chở tôi đến nhà thờ của bà trước, sau đó chở tôi đến nhà thờ Công Giáo. Rồi trong khi chờ tôi dự lễ, bà chở con của bà đi shopping. Bà cũng ân cần hỏi tôi có cần đi shopping không.

Khi có gia đình, ai cũng nghĩ đến gia đình trên hết. Thật ra, tôi đến với Hội Hồng Thập Tự vì một cơ duyên. Tôi vẫn nhớ mình đã đi trên một con tàu trải qua 4 ngày đêm trên biển hết cả nước. Thuyền trưởng bảo mọi người cầu nguyện.

Tất cả đều ngất xỉu. Tôi cũng đã bất tỉnh. Chúng tôi được một chiếc tàu lạ kéo vào bờ biển Mã Lai. Khi tỉnh lại, tôi thấy có người đang xốc, vác mình trên vai. Họ vác mọi người từ tàu lên bờ, vất nằm thành một đống.

Người cứu tôi thoát chết là một nhân viên Hội Hồng Thập Tự. Tôi không quên hình ảnh đó, tới bây giờ bỗng dưng làm việc cho Hồng Thập Tự, mặc đồng phục Hồng Thập Tự đi làm, nghĩ ngộ quá. Ðúng là quả đất tròn. Tôi luôn hãnh diện về công việc của mình hiện nay.

Trong thời gian đầu, tôi làm thảo chương viên điện toán, vừa học vừa làm, suốt 17 năm. Thời gian rảnh đi làm thiện nguyện viên, săn sóc các ông bà cụ ở nhà dưỡng lão, những nơi cần được giúp đỡ.

Ðến năm 2005, Hội HTT tuyển người, cơ duyên đưa tôi vào Hội. Tôi là người nộp đơn cuối cùng và cũng là người được nhận cuối cùng.

Họ nói lương không cao. Tôi thảo luận với vợ để cô hiểu công việc này cực và tiền bạc ít, chắc chắn sẽ ảnh hưởng tới ngân khoản tài chính gia đình. Thế nhưng vợ tôi nói: “Em hiểu anh, trái tim anh luôn dành cho những người đau khổ”, và cô chấp nhận cho tôi làm việc này, bớt đi nhiều thú vui chơi.

Thu nhập ít đi, nhưng tôi thấy hạnh phúc. Sau giờ làm việc cực nhọc, tôi về nhà, lăn ra ngủ như một đứa trẻ thơ, không suy nghĩ gì hết. Có những đợt đêm nào tôi cũng làm việc tới khuya để giúp người bị cháy nhà. Về nhà lúc 2 – 3 giờ sáng, tắm rửa xong lại lăn vào giường ngủ liền, có lẽ nhờ không lo phiền, không ganh đua với ai.

Ðó là phần thưởng quý báu mà Thượng đế dành cho tôi chăng. Tôi thấy có người làm việc lắm tiền nhiều của, nhà cao cửa rộng nhưng đêm đêm nằm vắt tay lên trán.

Sau biến cố 911, đất nước cho mình đủ thứ lại gặp nhiều nạn tai, tôi ôm con đi họp đêm để hỗ trợ công tác từ thiện, có lúc phải xách con đi họp vì bà xã làm đêm. Tôi cho mỗi đứa cái bình sữa để chúng nằm yên cho mình họp.

Người Mỹ nói “no pain, no gain”, từ khổ sở mới thấy hạnh phúc của mình là quý giá.

Ba ruột của tôi sang Mỹ được một năm thì mất. Hai năm sau, mẹ ruột tôi cũng qua đời. Khi mẹ mất, tôi và các anh đưa hài cốt bà cụ về Việt Nam. Tôi chỉ về Việt Nam đúng một tuần. Hai người anh, hai người chị ruột của tôi đều đã ở bên này, thỉnh thoảng chúng tôi cũng gặp nhau.

Tôi may mắn có hai cha mẹ Việt và Mỹ. Tôi học được bài học cách giáo dục, săn sóc con cái từ người mẹ Việt Nam của mình. Lúc nào cũng phải nghĩ tới vợ con. Mình đã tạo ra nó thì mình phải có trách nhiệm với nó. Khi có vợ con thì phải lo cho gia đình. Xây dựng hạnh phúc gia đình ở đây khó lắm vì gia đình Việt phải sống hai nền văn hóa có nhiều dị biệt. Một số gia đình tan vỡ vì không thích nghi được hoàn cảnh mới.

Bố ruột tôi vẫn khuyên: “Người tốt ít lắm và người xấu không mời cũng tới”. Hồi xưa bố ruột hay đưa tôi đến trại cải huấn, muốn con nhìn gương mà tránh, học bài học từ những thiếu niên lỡ lầm. Ông khuyên tôi thấy người khác làm sai không nên coi họ là người thấp hèn để khinh chê, mà thấy để tránh đi vào con đường đó.

Sang đây tôi lại học được rất nhiều ở bà mẹ Mỹ… Lúc rỗi rảnh, bà ngồi tâm sự, kể chuyện để nhắc nhở tôi luôn về gương hy sinh cho tha nhân.

Tôi nghĩ rằng người Việt Nam mới qua thường mặc cảm đến sau, trong thời gian ngắn nên mở cửa ra ngoài để nhanh chóng hội nhập. Phải thích cuộc sống của mình ở đây trước, phải học hỏi về nền văn hóa Hoa Kỳ, rồi giúp người Mỹ học hỏi về nền văn hóa của mình.

Câu chuyện về hai gia tộc: Jukes và Edwards.

Le Tu Ngoc

Câu chuyện về hai gia tộc: Jukes và Edwards.

Vào năm 1900, Albert Edward Winship, một học giả người Mỹ đã tiến hành nghiên cứu về hai gia tộc sống cùng thời đại: Một gia tộc tin vào Kitô giáo, là Jonathan Edwards. Một gia tộc khác là của tôn sư nổi tiếng của thuyết vô thần, Jukes.

Jukes là người theo thuyết vô thần. Ông từng nói với Edwards rằng: – “Ông tin vào Giê-su, còn tôi vĩnh viễn không tin có thần thánh gì cả! “

Học giả Winship đã truy tìm sự phát triển của hai gia tộc suốt gần 200 năm và viết thành cuốn sách có tựa đề Jukes-Edwards: A Study in Education and Heredity (tạm dịch: Jukes-Edwards: Một nghiên cứu về giáo dục và di truyền). Kết quả có thể tóm lược như sau:

Gia tộc Edwards có tổng số nhân khẩu là 1.394 người. Trong đó:

100 giáo sư đại học,

14 hiệu trưởng trường đại học,

70 luật sư,

30 quan toà,

60 bác sỹ,

60 nhà văn,

300 mục sư, nhà thần học,

3 nhà lập pháp,

1 phó tổng thống.

Gia tộc vô thần Jukes: Tổng số nhân khẩu là 1.203 người. Trong đó: 310 kẻ lưu manh,

300 người chết từ bé vì thiếu sự chăm sóc và điều kiện sống cần thiết,

130 người ngồi tù 13 năm trở lên,

7 người phạm tội giết người,

100 người nghiện rượu,

60 kẻ trộm,

190 kỹ nữ,

20 thương nhân, trong đó có 10 người học kinh doanh trong tù.

Kết quả trên khiến rất nhiều người cảm thấy thật khó hiểu. Trải qua hàng trăm năm, vì sao kết quả lại khác biệt lớn như vậy?

Câu trả lời thực sự then chốt là vì gia tộc Edwards có được sức mạnh từ tín ngưỡng.

Họ đã ươm được hai hạt giống quan trọng phía sau tín ngưỡng:

– Hạt giống đầu tiên là hạt giống hướng thiện và tình yêu thương, cho nên gia tộc họ mới sinh ra nhiều bác sỹ, giáo sư và hiệu trưởng đại học như vậy.

– Hạt giống thứ hai là hạt giống biết kính sợ. Những đứa trẻ sinh ra trong gia đình này vĩnh viễn ghi nhớ rằng: “Trên đầu ba tấc có Thượng đế”.

Mọi người có để ý thấy rằng, vì sao gia tộc của Jukes lại có nhiều lưu manh, kẻ trộm và kỹ nữ như vậy không? Chính là vì trong việc giáo dục của gia đình này không có tín ngưỡng và thiếu đi sự kính sợ. Không giáo dục lòng kính sợ nên trong nội tâm họ sẽ không e dè nên họ dễ làm chuyện ác. Họ không tin vào nhân quả, cười nhạo vào lý thiện “ác hữu, ác báo”. Chặng đường cả trăm năm của hai gia tộc đã khiến chúng ta cảm nhận được năng lượng to lớn của tín ngưỡng và tình yêu thương. Cho nên có một định luật rằng: Tín ngưỡng là con đường kết nối năng lượng!

share từ FB anh Hoang Giang

ảnh: Hậu duệ của gia tộc Edwards: Đệ nhất Phu nhân Edith Roosevelt của Tổng thống Ted Roosevelt.

Siêu sao bóng rổ Mỹ dùng giày để chỉ trích CSVN về nhân quyền

Siêu sao bóng rổ Mỹ dùng giày để chỉ trích CSVN về nhân quyền

April 18, 2022

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Ít nhất hàng ngàn Facebooker ở Việt Nam đang để lại bình luận bên dưới bài và hình đăng trên trang cá nhân của cầu thủ Enes Kanter Freedom, 29 tuổi, ngôi sao bóng rổ đội Boston Celtics, khi anh dùng hình vẽ những chiếc giày thể thao trên đó viết thông điệp chỉ trích CSVN vi phạm nhân quyền.

Cầu thủ Enes Kanter chính thức đổi họ “Freedom” vào ngày 30 Tháng Mười Một năm ngoái, khi anh tuyên thệ trở thành công dân Mỹ.

Thông điệp kêu gọi nhân quyền cho Việt Nam trên chiếc giày. (Hình: Facebook Enes Kanter)

Trong bài đăng hôm 14 Tháng Tư, cầu thủ người Mỹ gốc Thổ Nhĩ Kỳ viết: “Hàng trăm nhà báo và nhà bảo vệ nhân quyền đang gặp rủi ro, bị sách nhiễu, hoặc bị đàn áp ở Việt Nam. Nơi này không có quyền tự do biểu đạt, không tự do ngôn luận và cũng không tự do báo chí. Ủng hộ nhân quyền cho Việt Nam. Nguyễn Phú Trọng và đảng CSVN phải chịu trách nhiệm!”

Freedom đăng kèm năm tấm hình những chiếc giày thể hiện thông điệp kêu gọi nhân quyền cho Việt Nam.

Enes Kanter Freedom trả lời phỏng vấn của hãng thông tấn AFP tại Văn Phòng Liên Hiệp Quốc ở Geneva hôm 5 Tháng Tư, 2022. (Hình: Fabrice Coffrini/AFP qua Getty Images)

Trong đó có tấm hình vẽ một người đang bị công an bịt miệng, bên cạnh là một chiếc laptop bị trói bằng dây xích. Một bức hình khác vẽ hình bản đồ Việt Nam đang bị khóa bằng một chiếc còng số 8.

Một bức vẽ cảnh gợi nhớ hình ảnh ông Tô Lâm, bộ trưởng Công An CSVN, đang ăn thịt bò dát vàng của “Thánh Rắc Muối.”

Đáng chú ý là một tấm hình trong số đó ghi dòng chữ: “Chỉ có thể giam cầm được thể xác chứ không cưỡng bức nỗi [nổi] tư tưởng.”

Nhân quyền ở Việt Nam bị khóa bằng một chiếc còng số 8. (Hình: Facebook Enes Kanter)

Ở phần bình luận dưới tấm hình này, Facebooker “Thị Tấm” ghi: “Chúng tôi không đồng ý bạn sử dụng hình ảnh tà áo dài Việt Nam cao quý để in lên chiếc giày, một thứ dùng để đeo vào chân và đạp dưới đất như thế. Bạn đòi nhân quyền cho chúng tôi mà lại phỉ báng văn hóa bản địa như thế sao? Chúng tôi yêu đảng Cộng Sản Việt Nam, yêu nền hòa bình mà đảng CSVN mang lại cho đất nước này nên chúng tôi không cần bạn khóc thuê đâu. Bạn chỉ là một con ếch trong cái giếng nhỏ mà thôi!”

Nhiều Facebooker khác thi nhau bắt lỗi chính tả “nỗi” thay vì “nổi” và cảm thán: “Đi đòi nhân quyền thuê mà còn sai chính tả viết cho bố mày đọc à?”

Nhiều bình luận gay gắt bằng tiếng Việt và tiếng Anh cho thấy những Facebooker này thuộc giới “dư luận viên,” có phản ứng tương tự mỗi khi Facebook Đại Sứ Quán Mỹ hay Đại Sứ Quán Anh ở Việt Nam đăng bài chỉ trích Hà Nội vi phạm nhân quyền.

Chiếc giày ghi dòng chữ “Chỉ có thể giam cầm được thể xác chứ không cưỡng bức nỗi [nổi] tư tưởng.” (Hình:Facebook Enes Kanter)

Trước khi đăng bài chỉ trích nhà cầm quyền CSVN về nhân quyền, Freedom từng đăng tải nhiều bức ảnh đôi giày thi đấu của mình với thông điệp ủng hộ nền độc lập và dân chủ của Đài Loan, tương tự việc anh đã làm khi lên tiếng bảo vệ Tân Cương cũng như những dân tộc thiểu số khác bị Trung Quốc bách hại.

Hồi Tháng Giêng, Freedom nói anh sẵn lòng nhận lời mời thăm Trung Quốc với điều kiện anh được tận mắt nhìn thấy một “Trung Quốc thật” thay vì “được tô hồng,” theo CNN.

Bức tranh gợi nhớ hình ảnh ông Tô Lâm, bộ trưởng công an CSVN, đang ăn thịt bò dát vàng. (Hình: Facebook Enes Kanter)

Trước đó, trong cuộc họp báo ở Bắc Kinh, Yao Ming, cựu ngôi sao bóng rổ Trung Quốc từng chơi ở Giải Bóng Rổ Nhà Nghề Mỹ (NBA) và nay là chủ tịch Hiệp Hội Bóng Rổ Trung Quốc (CBA), nói: “Nếu có cơ hội tôi sẽ mời anh ấy [Enes Kanter Freedom] đến thăm Trung Quốc… Lúc đó anh ấy sẽ hiểu rõ hơn về đất nước chúng tôi.”

“Tôi muốn nói với Yao Ming rằng tôi muốn được đến thăm Trung Quốc để tận mắt chứng kiến tất cả bằng chính đôi mắt của tôi. Trong chuyến đi đó, tôi muốn hỏi Yao Ming rằng tôi có được vào thăm những trại lao động đó không?,” Freedom nói với CNN.

“Tôi không cần một bài diễn thuyết về Trung Quốc, tôi không cần những lời lẽ tô hồng. Tôi thật sự muốn nhìn thấy những gì đang diễn ra và cho thế giới thấy những điều đó. Vâng, có như vậy tôi mới chấp nhận lời mời kia,” Freedom nói thêm.

Thông điệp kêu gọi nhân quyền cho Việt Nam trên chiếc giày. (Hình: Facebook Enes Kanter)

Trước đó, hồi Tháng Mười Một, 2021, Freedom được bà Thái Anh Văn, tổng thống Đài Loan, gửi lời cảm ơn vì anh có hành động ủng hộ đảo quốc này độc lập, theo báo điện tử “nextshark.com.”

“Cảm ơn Enes bênh vực Đài Loan. Chúng tôi luôn luôn bảo vệ sự tự do và nền dân chủ của Đài Loan dù khó khăn. Sự ủng hộ của anh và những người bạn khắp thế giới giúp chúng tôi mạnh mẽ hơn,” bà Thái phát biểu trong một đoạn video đăng trên Twitter. (N.H.K) [kn]

“Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”!

“Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”!

Bởi  AdminTD

Trương Nhân Tuấn

21-4-2022

Việt Nam “nợ ân tình” với Liên Xô (nay là Nga) rất nhiều. Ngoài viện trợ tiền bạc và vũ khí cho chiến tranh “đánh Mỹ cứu nước” năm 1954-1975, Liên Xô cũng giúp Việt Nam rất nhiều trong chiến tranh biên giới năm 1979 với Trung Quốc.

Thời điểm chiến tranh Việt-Trung năm 1979, Liên Xô đã huy động khoảng 2 triệu quân để gây “áp lực” với Trung Quốc trên vùng biên giới. Hải quân Liên Xô đã tăng cường trong khu vực Biển Đông (và Vịnh Bắc Việt) sẵn sàng tham chiến, nếu thấy Hà Nội bị đe dọa. Không quân Liên Xô đã giúp Việt Nam nhanh chóng chuyển quân từ Nam ra Bắc để tăng cường khả năng phản công.

Hiệp ước an ninh hỗ tương Việt-Xô tuy chưa được “kích động” nhưng Liên Xô đã sẵn sàng. Mọi tình huống xấu cho Hà Nội đều có thể khiến Liên Xô nhập cuộc.

Cuộc chiến vì vậy “hạn chế” trong không gian và thời gian. Trung Quốc cũng hạn chế việc sử dụng không quân và hải quân. Vì Đặng Tiểu Bình không thuyết phục được Tổng thống Carter tham gia (hay ủng hộ) cho cuộc chiến.

Nếu không có áp lực của Liên Xô thì quân Trung Quốc có thể sẽ tiến chiếm Hà Nội, buộc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, nhưng Trung Quốc cũng có thể chiếm đóng Việt Nam lâu dài.

Vì vậy, ta không ngạc nhiên khi thấy Việt Nam ra mặt “chọn phe”. Theo thông tin từ bộ quốc phòng hai nước thì quân đội hai bên Việt-Nga sẽ có cuộc tập trận chung. Và ta cũng sẽ không ngạc nhiên nếu sau này bộ đội Việt Nam hiện diện bên cạnh quân Nga trong chiến trường Ukraine.

Vấn đề là sau khi chiến hạm Moskva bị hỏa tiễn Neptune của Ukraine đánh chìm, truyền thông Nga đã nói tới Chiến tranh thế giới thứ Ba.

Theo tôi, thái độ “chọn phe” của Việt Nam nặng phần “tình cảm” hơn là vì lợi ích quốc gia. Đảng CSVN mang ơn Nga (và TQ). Nhờ sự trợ giúp mọi thứ, từ quân sự, tài chánh cho tới ý thức hệ chính trị của Việt Nam và Liên Xô mà CSVN thắng được Mỹ và chiếm được miền Nam.

Tuy nhiên, “đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”!

Thử tưởng tượng Việt Nam bị xếp chung với Nga trong danh sách “trừng phạt” (vì Việt Nam ủng hộ Nga trong chiến tranh xâm lược Ukraine).

Tất cả của cải, tiền bạc, nhà cửa… của cán bộ CSVN ở Mỹ đều bị “tịch thu”, hay bị “đông lạnh”. Mỹ cũng “khóa cửa” không nhập bất cứ một thứ hàng hóa nào đến từ Việt Nam. Tài phiệt Việt Nam bị xếp chung giỏ với tài phiệt Nga.

Vụ khóa cửa kinh tế thì đảng CSVN không lo. Cùng lắm là “dân ăn cỏ” như dân Bắc Hàn hay Cuba. Điều đáng lo là một bộ phận không nhỏ cán bộ CSVN có nhà cửa, có “cơ ngơi” ở Mỹ, cũng như các quốc gia “giẫy chết”.

“Nghĩ tới mà kinh” phải không bà con?