THÂN CÁT BỤI

THÂN CÁT BỤI

LM Nguyễn Minh Triệu, SJ

Mỗi dịp Mùa Chay, chúng ta lại có dịp chiêm ngắm mầu nhiệm về con người.  Con người được Thiên Chúa sáng tạo theo hình ảnh của Ngài, và với tình yêu nên con người mang nơi mình sự cao cả của tình yêu Thiên Chúa, nghĩa là con người biết yêu thương và biết đáp trả tình yêu một cách ý thức và tự do.  Tuy nhiên, khi đặt mình vào sự bao la và mênh mông của vũ trụ, con người chỉ nhỏ nhoi như một hạt bụi.  Nghĩ cho cùng, tất cả mọi người cũng chỉ là những hạt bụi hoá thân thành kiếp nhân sinh.  Vì là thân cát bụi, chúng ta sẽ trở về cát bụi.

Tại sao con người lại được ví là bụi đất?  Bụi đất là một cái gì vô giá trị!  Thậm chí nó còn tượng trưng cho cái gì dơ bẩn, là biểu hiệu của cái gì hoang tàn và chết chóc.  Nó không có hình thù cụ thể, không có khuôn mặt; thường bị người ta chà đạp dưới chân.  Nó không tự làm chủ mình, nó bay theo mọi cơn gió; nó bay khắp nơi, đâu đâu cũng là chỗ của nó nhưng nó lại không có một chỗ cư ngụ ổn định.  Bụi đất là thế, nhưng con người thì đẹp đẽ, cao quý đến thế tại sao lại được ví như bụi đất.

Thực ra, hình ảnh tro bụi xuất hiện trong Kinh Thánh nhiều lần.  Trong sách Sáng Thế, Abraham đã nhận mình là thân tro bụi, ông đã thân thưa với Chúa rằng: “Mặc dầu con chỉ là thân tro bụi, con cũng xin mạn phép thưa với Chúa…”  Còn các Thánh Vịnh gia, khi ý thức được sự yếu hèn của phận người, đã thốt lên rằng: “Người quá biết ta được nhồi nắn bằng gì, hẳn người nhớ: ta chỉ là tro bụi.”

Vì mang thân phận tro bụi, con người yếu hèn và mong manh về mọi phương diện: Yếu đuối về thể lý, tâm lý cũng như tâm linh.  Chỉ cần một cơn gió nhẹ, cũng đủ để làm con người gục ngã.  Con người cũng dễ dàng bị chao đảo, dễ dàng sa vào vòng tội lỗi và hậu quả của tội là sự chết.  Mỗi ngày chúng ta sống nhưng cũng đồng thời chúng ta đang tiến gần đến sự chết.  Dường như cái chết chính là cùng đích của con người.

Tuy ý thức về thân phận bụi đất như thế, nhưng con người không bi quan về thân phận của mình.  Đối với chúng ta là những người Công Giáo, chúng ta tin rằng, chúng ta là hạt bụi, nhưng chúng ta được hóa thân nhờ tình yêu của Thiên Chúa, và theo giống hình ảnh của Ngài nên chúng ta cũng mang nơi mình sự vĩ đại của Ngài.  Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, mặc dù không phải là người Công Giáo, nhưng khi gẫm suy thân phận của con người, ông đã không ngại ngùng để ca ngợi thân phận bụi tro của mình.  “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi trở về cát bụi…  Ôi, cát bụi tuyệt vời.”  Nó vẫn tuyệt vời ngay khi “lá úa trên cao rụng đầy,” chứ không phải chỉ tuyệt vời khi “vươn hình hài lớn dậy” mà thôi.

Vâng, dường như con người nhận ra thân phận bụi tro của mình, nhưng con người cũng cảm nhận được niềm hy vọng nơi mình.  Vì chính Ngôi hai Thiên Chúa đã nhập thể làm người, và chấp nhận sự yếu đuối của phận người, nghĩa là Người đã chấp nhận mang lấy thân phận bụi đất của chúng ta, để rồi nhờ cái chết và sự phục sinh của Ngài, bụi đất của ta sẽ được lãnh nhận hơi thở sự sống của Thiên Chúa.  Như thế, bụi tro không còn là cùng đích của chúng ta, dẫu rằng chúng ta vẫn phải trở về bụi tro nhưng tro bụi không còn là điểm tới, nhưng là khởi điểm để đưa con người vào cuộc sống vinh quang bất diệt.

Lạy Chúa,
Trong Mùa Chay này,
Xin cho chúng con nhận ra
Sự nhỏ bé của chúng con.
Chúng con là thân cát bụi
Nhưng là cát bụi tốt lành,
Là cát bụi vô tri,
Nhưng được sống động nhờ sự sống của Chúa,
Là hạt bụi nhơ nhớp,
Nhưng lại được Chúa yêu,
Xin cho chúng con biết chết đi mỗi ngày,
Dám để cho mình được tan biến,
Để cùng được sống lại trong tình yêu vinh hiển của Ngài.

LM Nguyễn Minh Triệu, SJ

Đức Giê-su trong hoang địa và chịu quỷ cám dỗ

Ngày Chúa Nhật thật mạnh mẽ và kiên cường nhé bạn.

Cha Vương

CN: 06/03/2022

TIN MỪNG: Sau khi chịu phép rửa, Đức Giê-su được đầy Thánh Thần, từ sông Gio-đan trở về. Suốt bốn mươi ngày, Người được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa và chịu quỷ cám dỗ. Trong những ngày ấy, Người không ăn gì cả, và khi hết thời gian đó, thì Người thấy đói. Bấy giờ, quỷ nói với Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa thì truyền cho hòn đá này hoá bánh đi!” Nhưng Đức Giê-su đáp lại: “Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh.”… (Lc 4:1-4)

SUY NIỆM: Chính Chúa Giê-su còn bị cám dỗ huống chi là con người. Thánh Phêrô cảnh báo: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé.” (1 Pr 5:8)

Ma quỷ chẳng nghỉ xả hơi bao giờ, luôn hăng hái “làm việc” suốt đêm ngày, bất kể nơi chốn – trong nhà, ngoài đường, nơi công sở, trong đám tiệc, giữa nhà thờ, ở tu viện, nơi chính mình nữa… Dù bạn có là ai đi nữa, bạn phải luôn cảnh giác cao độ! Thánh Angela Merici cũng nói: “Hãy nhớ rằng ma quỷ không ngủ đâu nhưng luôn tìm đủ mọi cách để huỷ hại chúng ta.” Làm sao bạn có thể dùng sự tự do lựa chọn do Chúa ban để vượt qua những cám dỗ đó? Trước tiên bạn phải tỉnh thức và cầu nguyện, hãm mình, ăn chay để xin ơn, bạn khẳng định rằng bạn không thể vượt qua cám dỗ một mình được.

Thánh Inhaxio có nói về chiến thuật của ma quỷ là “đột kích vào nơi yếu và kém phòng thủ” của đương sự. Từ điểm nhỏ này, ma quỷ sẽ len lỏi vào, rồi tấn công những điểm khác, khiến cho “tường thành đời sống thiêng liêng” của đối tượng bị suy yếu.  Vậy đâu là điểm yếu của bạn trong thời điểm này? Có thể là bạc tiền, kiêu căng, địa vị, quyền hành, danh vọng, dục vọng… Nếu biết mình đã yếu rồi mà con đùa giỡn với cám dỗ nữa thì bạn sẽ mất cả hồn lẫn xác đó. Bạn hãy noi gương các thánh đã đương đầu với cơn cám dỗ như thế nào nhé. Khi bị cám dỗ Thánh Phan-xi-cô lăn mình trên tuyết, thánh Biển Đức lao mình vào bụi gai, thánh Bê-na-đô nhảy vào ao nước lạnh. Còn bạn, bạn làm gì khi bị cám dỗ? Nhớ đừng ve vãn hoặc coi thường những mánh khoé và xảo quyệt của ma quỷ đó, nó luôn tìm cách cướp lấy và huỷ hoại linh hồn bạn không cách này thì cách khác!

LẮNG NGHE: Hãy đến gần Thiên Chúa, Người sẽ đến gần anh em. Hỡi tội nhân, hãy rửa tay cho sạch; hỡi kẻ hai lòng, hãy tẩy luyện tâm can. (Gc 4:8)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa con yếu đuối bất lực trong tất cả mọi sự, xin cho con một lòng tin yêu và trông cậy vào Chúa hãy biết quên mình và sống rất khiêm nhu để được sống với Chúa luôn mãi.

THỰC HÀNH: Học thuộc câu Thánh Vịnh này để xin ơn khi bị cám dỗ: “Lạy Chúa, lúc ngặt nghèo, xin Chúa ở kề bên [con].” (Tv 90:15b)

From: Đỗ Dzũng

Tàn Phá, Chết Chóc và Tình Yêu Trong Chiến Tranh

Bang Uong

Tàn Phá, Chết Chóc và Tình Yêu Trong Chiến Tranh

Bùi Phạm Thành

(Đặc San Lâm Viên)

Chiến tranh, theo định nghĩa thông thường là “sự xung đột vũ trang giữa những phe khác nhau”. Những phe khác nhau không nhất thiết là phải khác quốc gia, khác chủng tộc… Với một định nghĩa thật đơn giản, nhưng hậu quả của chiến tranh thì không thể tưởng tượng được. Chiến tranh đồng nghĩa với chết chóc và tàn phá. Một thí dụ điển hình, theo ghi nhận của lịch sử thì thế chiến thứ nhì (1939-1945), tổng số người chết (quân và dân) của tất cả các quốc gia tham chiến là khoảng từ 70 đến 85 triệu người. Một con số lớn ngoài sự tưởng tượng của bất cứ ai đọc về lịch sử của chiến tranh!

Trong lịch sử của nhân loại, từ thời sơ khai đến nay, thì chiến tranh đã xảy ra ở khắp nơi. Khi nền văn minh phát triển thì sự thiệt hại do chiến tranh gây nên lại càng tăng vọt. Với vũ khí thô sơ như cung tên, đao kiếm thì sự tàn phá có giới hạn, thế nhưng với nền văn minh hiện tại, con người đã chế tạo ra các loại vũ khí “giết người hàng loạt”, thế cho nên thiệt hại về nhân mạng tăng lên gấp bội. Đó là chưa kể đến các loại vũ khí nguyên tử (hạt nhân) hay vũ khí sinh học (vi trùng), có thể đưa nhân loại đến chỗ tận diệt.

Nguyên nhân của chiến tranh thì gần như thu gọn vào lòng tham của con người. Mà trên đời này thì có rất nhiều thứ khích động lòng tham, và hai thứ hàng đầu là quyền lực và tài sản. Một quốc gia có thể gây chiến với quốc gia khác để chiếm đoạt tài nguyên thiên nhiên, hoặc xâm lăng để chiếm tài sản, hay chỉ muốn phô trương sức mạnh và bành trướng lãnh thổ…

Trong lịch sử chiến tranh thì chỉ cần một kẻ hung hăng, tham lam là đủ yếu tố tạo nên chiến tranh. Hiện nay thì, không cần nêu tên, chúng ta cũng biết thế giới đang có nhiều hơn là hai kẻ với lòng tham có thể gây nên chiến tranh. Ngày 24 tháng 2 năm 2022, Vladimir Putin, tổng thống Nga, đã xua quân tấn công Ukraine, khởi đầu cho chiến tranh ở châu Âu ở đầu thế kỷ thứ 21.

Trong ngày đầu tiên của cuộc xâm lăng, hình ảnh một chiếc xe tăng của Nga bị phá huỷ và xác của một binh sĩ Nga đang bị tuyết phủ được phổ biến trên báo chí và các trang báo điện tử đã cho thấy cảnh tượng bi thảm của chiến tranh. Người lính Nga này sẽ không thể biết, trong trận chiến này, ai sẽ thắng và ai sẽ thua? Thế nhưng có điều chắc chắn là anh ta đã thua, đã thiệt mạng. Những viên đạn nào đã xé gió, gim vào thân thể để lấy đi mạng sống của anh ta. Hy vọng rằng cái chết đến với anh thật nhanh, không kịp nhận thấy đau đớn. Anh đã hoàn tất nhiệm vụ của người lính. Nhưng đau đớn thay, nghịch lý thay, đó lại là nhiệm vụ của kẻ xâm lăng! Anh đã thua! Cha mẹ, người thân, nơi quê nhà cũng sẽ mang nỗi đớn đau của kẻ thua cuộc, mất mát. Nếu anh đã có gia đình hoặc người yêu thì họ sẽ là người thua thiệt nặng nề hơn, với tương lai mờ mịt, vì người cột trụ trong gia đình đã mất…

Hình ảnh những ngôi nhà đổ nát vì bom đạn, tự nó, không mang ý nghĩa gì ngoài ý nghĩa về sự tàn phá của chiến tranh. Thế nhưng những ngôi nhà đó, mới ngày hôm qua, là ngôi nhà thân yêu, là tổ ấm gia đình, nơi mà những đứa trẻ có giấc ngủ êm đềm hằng đêm, và trở về nhà sau giờ học trong vòng tay đón chờ của người mẹ, rồi được thưởng thức bữa cơm chiều êm ấm cùng cha mẹ, bỗng chốc đã trở thành đống gạch vụn! Bút mực nào có thể diễn tả được nỗi lòng của người mẹ trước đống gạch vụn của căn nhà yêu thương, mái ấm gia đình vừa bị đạn bom tàn phá! Rồi mai này cuộc sống sẽ ra sao?

Và những trẻ em Ukraine ngày mai sẽ không đến trường, vì lớp học của các em đã bị phá vỡ bởi một trái bom hay viên đạn bắn đi từ chiếc xe tăng của kẻ xâm lăng. Ngày mai sân trường không còn tiếng trẻ nô đùa, hò reo chạy đuổi theo những trái banh trên sân cỏ xanh mướt. Hy vọng rằng những hình ảnh đổ nát này không dạy cho các em một bài học về hận thù, mà là một bài học về sự tàn phá, mất mát, đau thương do chiến tranh gây ra.

Còn hình ảnh nào bi tráng hơn cảnh người vợ bồng đứa con thơ trên tay hôn từ giã người chồng lính chiến trước khi lên đường chạy qua Ba Lan để tị nạn chiến tranh. Có thể đây là chiếc hôn cuối cùng của đôi vợ chồng trẻ này. Đứa bé thơ vẫn yên ngủ trên tay người mẹ nào biết gì về tương lai, cha của em đã quyết định ở lại để chống quân xâm lăng, bảo vệ quê hương, bảo vệ người dân, trong đó có mẹ, có em. Ngày mai nào ai biết sẽ ra sao? Đứa bé có lớn lên trong sự yêu thương của cha mẹ, hay trở thành côi cút với tấm hình của người cha mà, khi đó, em chưa đủ trí khôn để nhìn rõ mặt…

Danh từ “chiến tranh” có lẽ không chỉ được định nghĩa bằng câu văn, chữ viết, mà phải kèm theo hình ảnh, bởi vì “một bức ảnh có giá trị hơn ngàn câu văn, lời nói.”

Tổng thống Ukraine, ông Volodymyr Zelensky

Một biểu tượng oai hùng của Ukraine, hôm thứ Bảy ngày 26 tháng 2 năm 2022, toà đại sứ của Ukraine ở Anh quốc cho biết là ông Volodymyr Zelensky, tổng thống Ukraine, từ chối lời đề nghị của chính phủ Mỹ, muốn đưa ông di tản ra khỏi Kyiv, thủ đô của Ukraine, nơi mà Putin tuyên bố là quân Nga sẽ chiếm được trong vài ngày nữa. Ông nói: “Cuộc chiến đang xảy ra ở nơi đây, Tôi cần đạn dược chứ không cần phương tiện di chuyển – The fight is here; I need ammunition, not a ride.”

Phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ, ông Ned Price, hôm thứ Năm cho biết rằng theo tin tình báo thì quân Nga có ý định phá tan nền chính trị của Ukraine bằng cách giết hại người lãnh đạo; trong đó ông Volodymyr Zelensky là mục tiêu số một, và gia đình ông là mục tiêu số hai.

Trong một video được đăng vào sáng thứ Bảy với tựa đề “đừng nghe những tin giả”, ông Zelensky cho biết rằng ông vẫn đang có mặt ở Kyiv:

“Chúng tôi vẫn còn đang ở tại đây. Chúng ta không buông súng. Chúng ta sẽ bảo vệ đất nước của chúng ta, bởi vì vũ khí của chúng ta là sự thật, và sự thật của chúng ta là: đây là lãnh thổ, là quốc gia, cùng với con cái của chúng ta, và chúng ta sẽ bảo vệ những điều này cho đến cùng. Chỉ có thế. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói với toàn dân và toàn quân. Vinh quang cho Ukraine.”

Tối thứ Năm, ngày 24 tháng 2 năm 2022, trong cuộc hội đàm với các nhà lãnh đạo của Liên Minh Châu Âu, tổng thống Volodymyr Zelensky đã nói

Đây có thể là lần cuối cùng quý vị thấy tôi còn sống

This might be the last time you see me alive.

Trên trang báo điện tử The Atlantic, dưới tựa đề “Lời cầu nguyện cho Volodymyr Zelensky – A Prayer for Volodymyr Zelensky”, nhà bình luận Franklin Foer đã viết:

Khi ông Zelensky từ chối lời đề nghị lưu vong của Washington, ông ta đã đưa ra một quyết định khác với lệ thường so với những nhà lãnh đạo khác. Sau khi Đức xâm lược Pháp, Charles de Gaulle đã chạy qua London. Hoặc lấy một ví dụ gần đây hơn: Tổng thống Afghanistan, Ashraf Ghani, lên trực thăng rời Kabul ngay khi mới nghe tin đồn rằng quân Taliban đã vào thành phố. Thực ra, ai có thể đổ lỗi cho họ? Hầu hết con người đều không muốn xác của họ bị kẻ thù treo trên cọc nhọn, một tiền lệ kinh hoàng trong lịch sử, khó có thể xoá nhoà khỏi tâm trí của những nhà lãnh đạo, hay cấp chỉ huy. Trong một video quay bằng điện thoại ngay trên đường phố của thủ đô Kyiv, ông Zelensky nói với dân chúng: “Chúng tôi vẫn còn đang ở tại đây. Chúng ta không buông súng.” Tôi, Franklin Foer, và chúng ta, những người đang đọc bài viết này, chỉ biết cầu nguyện rằng điều đó vẫn đúng ở ngày mai.

Anh hùng thay lời nói của một nhà lãnh đạo trong lúc nguy khốn nhất; không bỏ binh lính, không bỏ dân chúng quả là hiếm hoi trong lịch sử. Đáng được làm gương cho hậu thế.

Kết quả của cuộc chiến Nga-Ukraine ra sao? Mạng sống của ông Zelensky sẽ thế nào? Câu trả lời sẽ được ghi vào lịch sử của Ukraine và lịch sử chiến tranh của nhân loại. “Cọp chết để da, người ta chết để tiếng,” câu nói của tổng thống Volodymyr Zelensky sẽ mãi mãi khắc ghi trong lịch sử cũng như trong lòng người dân Ukraine, sẽ in đậm nét vào tâm trí của những nhà lãnh đạo của Liên Minh Châu Âu và các quốc gia tự do, trong đó có Hoa Kỳ. Với một nhà lãnh đạo như ông Zelensky cùng với quyết tâm chống xâm lăng của quân và dân Ukraine, thì Ukraine sẽ là miếng gân gà của Putin; bỏ thì tiếc, nhưng nhai không nổi, nuốt khó trôi.

oOo

Trong đổ vỡ, giết chóc của chiến tranh, cũng có những câu chuyện tình, đẹp như bản tình ca, đem hy vọng đến cho loài người, như ánh sáng ở cuối đường hầm, như đoá sen vươn cao khỏi bùn lầy để nở rộ, toả hương thơm ngát. Đó là câu chuyện của cô Yaryna Arieva và anh Sviatoslav Fursin, đôi tình nhân Ukraine trong giờ phút nguy hiểm nhất, lúc quân Nga đang tấn công vào Ukraine.

Sviatoslav Fursin (trái) và Yaryna Arieva (phải) trong lễ thành hôn ngày 24 tháng 2 năm 2022

Đôi tình nhân trẻ, cùng 24 tuổi, gặp nhau lần đầu vào tháng Mười năm 2019, đã có dự tính cho một cuộc hôn nhân theo nghi thức truyền thống, cùng với đầy đủ cha mẹ, thân quyến và bạn hữu vào tháng Năm năm 2022. Thế nhưng quyết định của Putin xua quân xâm lăng Ukraine ngày 24 tháng 2 đã khiến họ phải thay đổi dự tính. Cô Arieva nói:

Tình hình thật nghiêm trọng. Chúng tôi phải chiến đấu để bảo vệ quê hương. Chúng tôi có thể sẽ bị chết trong cuộc chiến này, và chúng tôi chỉ muốn được ở bên nhau trước khi điều đó có thể xảy ra.

“The situation is hard. We are going to fight for our land. We maybe can die, and we just wanted to be together before all of that.”

Một câu nói có thể trở thành danh ngôn về tình yêu trong chiến tranh, trong đó bao gồm cả tình yêu nam nữ và tình yêu tổ quốc.

Bức hình ở đầu bài viết là hình ảnh của Yaryna Arieva và Sviatoslav Fursin, ngay sau lễ cưới ở giáo đường, họ cùng với rất đông người dân Ukraine trong mọi thành phần của xã hội, đã tình nguyện gia nhập “dân quân tự vệ” để được trang bị vũ khí, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương, vì quân Nga đã tiến vào Ukraine. Những cột khói, ngọn lửa, và tiếng nổ của đạn bom đang ầm vang trong thành phố, chung quanh họ.

Với sự chiến đấu anh dũng của quân và dân Ukraine cùng với chí anh hùng của tổng thống Volodymyr Zelensky, có thể đây là trận chiến sau cùng để quyết định vận mạng của Ukraine: là một quốc gia độc lập, tự quyết, hay dưới quyền kiểm soát của Nga. Hoặc một giải pháp ôn hoà nào đó có thể sẽ được đôi bên chấp thuận, để tránh cuộc chiến này trở thành cuộc kháng chiến trường kỳ chống Nga của người dân Ukraine.

Bùi Phạm Thành

(Đặc San Lâm Viên)

Ukraine, cuộc chiến của lương tâm

Ukraine, cuộc chiến của lương tâm

Bởi  AdminTD

 Thọ Nguyễn

4-3-2022

Cuộc chiến tranh xâm lược của Nga ở Ukraine khiến hàng ngàn dân thường thiệt mạng. Nguồn: Dmytro Kumaka

Cuộc xâm lăng Ukraine của Putin đã thay đổi thế giới. Mặc dù Putin coi đây là chiến dich quân sự để gìn giữ hòa bình, nhưng sự tàn bạo trong 9 ngày qua cho thấy, đây là một cuộc chiến tranh tổng lực nhằm xóa bỏ một nhà nước, vẽ lại đường biên giới, chia lại lãnh thổ.

Khác với mọi cuộc chiến tranh vũ khí thông thường (conventional weapons), đây là cuộc chiến tranh công nghệ IT đầu tiên trong lich sử. Hai bên đang tìm cách đánh vào các trung tâm dữ liệu và mạng của nhau. Trong lĩnh vực này Ukraine không thua kém Nga như tương quan về quân đội và vũ khí nặng.

Đáng sợ nhất là cuộc chiến tranh mang dấu ấn hạt nhân. Không nói đến những lời đe dọa dùng bom hạt nhân của Putin, việc quân Nga chiếm giữ khu vực nhà máy điện hạt nhân Chernobyl và đang tiến đến các nhà máy khác của Ukraine khiến cả nhân loại lo sợ. Năng lượng hạt nhân chiếm 52% tổng sản lượng điện lực của Ukraine với 16 lò phản ứng lắp đặt trong 4 nhà máy. Hôm nay nhà máy điện hạt nhân lớn nhất châu Âu ở Zaporizhzhia đã bị tấn công. Người ta không chỉ lo sợ vì Putin đang hành động như một kẻ mất trí, mà vì kẻ mất trí đó đang kiểm soát một thể chế độc tài, và không ai quanh ông ta dám hé môi khuyên can.

Mục tiêu đánh nhanh thắng nhanh của Putin càng xa vời thì viễn cảnh thảm họa hạt nhân càng trở nên nhãn tiền. Để diệt kẻ thù ở Chechnya hay Syria, Putin đã hủy diệt các thành phố Grozny, Aleppo, Holms cùng hàng trăm ngàn dân thường.

Trong cuộc điện đàm với tổng thống Pháp Macron hôm qua 03.03, Putin đe dọa: Điều tồi tệ nhất còn ở trước mắt!

Trong mọi cuộc chiến, hai bên đều phát động chiến tranh tâm lý, nhưng chiến tranh Ukraine là cuộc chiến truyền thông ở mức độ khác thường.

Tháng 8.1965 Mỹ đổ quân vào Đà Nẵng, bắt đầu trực tiếp tham chiến nhưng phải hai năm sau, phong trào phản chiến ở Mỹ mới phát triển và năm 1968, những hình ảnh của cuộc chiến thảm khốc mới tạo ra làn sóng phản đối của thanh niên toàn châu Âu. Ngày đó nhân loại chưa có khái niệm về live stream về photoshoping. Mỗi đoạn phim từ mặt trận mất vài ngày mới lên được sóng TV ở Mỹ. Người miền Bắc chờ cả mấy tháng sau mới xem được những thước phim vượt Trường Sơn.

Bom đạn của Putin vừa dội xuống các thành phố Ukraine rạng sáng 24.02, chỉ mấy phút sau cả thế giới thấy những video live từ các mặt trận. Những người lính Nga trước khi chết còn kịp nhắn tin cho mẹ ở xa hàng ngàn cây số. Trên mạng xã hội tràn ngập tin tức, thật giả lẫn lộn. Cả hai bên đều sử dụng lợi thế của Internet để tuyên truyền cho mình. (Đáng nói là Internet của Ukraine vẫn hoạt động tốt, ngay khi bom nổ gần nơi người được phỏng vấn).

Mạng xã hội Việt tràn ngập các ý kiến và tin tức về cuộc chiến này. Trong khi chính phủ Việt Nam chỉ tuyên bố ba phải, không lên án ai, không ủng hộ ai thì dân chúng và giới tinh hoa Việt chia thành hai phe đánh nhau trên mạng. Tôi không thể biết tỷ lệ trên toàn mạng, nhưng phần đông những người bạn FB của tôi đứng về phía dư luận toàn cầu, phản đối Putin xâm lược và ủng hộ nhân dân Ukraine đang bảo vệ quyền tự quyết của mình.

Ngược lại cũng có những ý kiến, chủ yếu của các bậc được học hành, thuộc tầng lớp tinh hoa đứng về phía Putin, coi việc ông ta đem quân sang Ukraine là để bảo vệ nước Nga trước đe dọa của NATO.

Tin giả và sự cường điệu tràn ngập cả hai phe. Bên này ca ngợi tinh thần chiến đấu của người dân Ukraine bằng hình ảnh của các nữ binh xinh đẹp, của các câu chuyện tình lãng mạn. Họ chế nhạo những cái chết thảm khốc của lính Nga, trong khi những thanh niên mặt còn bụ sữa này bị đẩy vào chỗ chết là nỗi đau bất tận của các bà mẹ Nga. Họ lạc quan tiên đoán thất bại nay mai của Putin bởi hình ảnh các đoàn xe tăng Nga cháy trụị.

Thực tế là sau những tổn thất của 8 ngày đầu, quân Nga đang thận trọng tiến chậm lại để đảm bảo khâu tiếp tế. Putin sẽ dần tung hết lực lượng dự trữ cho chiến dịch này đang còn nằm ở bên kia biên giới, quyết bao vây các thành phố lớn. Nếu cần, Putin sẽ đưa thêm hàng trăm ngàn quân nữa sang.

Mục tiêu hủy diệt còn ở phía trước, tiềm lực chiến tranh của Putin còn nhiều.

Phe ủng hộ Putin thì luôn tung ra lập luận: “Ukraine vì theo phương Tây mà buộc Nga phải đánh để bảo vệ an ninh của mình”. Người hung hăng thì chế nhạo Zelenskyi là thằng hề bù nhìn của Mỹ, so sánh chế độ của Ukraine với Khmer Đỏ đáng bị xóa sổ. Người mềm dẻo hơn thì phán là chiến tranh “luôn do cả hai bên”, là Zelenskyi “cũng có lỗi vì không khéo léo với Putin”.

Họ bênh vực việc Putin coi Ukraine là “đe dọa nước Nga” và quyết “phi quân sự hóa” nước này trong khi quân đội Ukraine không có nổi một cuộc phản kích nào bằng pháo binh, tên lửa hoặc không quân vào các căn cứ của Nga bên kia biên giới. Hải quân Ukraine hầu như không hoạt động. Thực tế quân đội Ukraine so với Nga chỉ là một quân đội du kích. Cho đến nay họ chống cự được với đại quân Nga chính nhờ chiến thuật du kích, bởi lòng yêu nước và tinh thần dũng cảm.

Ai đó ủng hộ Putin xóa bỏ chế độ Phát-Xít Ukraine mà không biết rằng, chỉ riêng việc “anh hề” Zelenskyi được bầu làm tổng thống trong một cuộc bầu cử đa đảng, và việc chuyển giao quyền lực một cách êm đẹp từ cựu tổng thống Poroschenko, một nhà tài phiệt, đã chứng tỏ nền dân chủ bám rễ chắc ở đó.

Trong khi đó, Putin cầm quyền từ 2000 đến nay, đã có lúc phải giả vờ làm thủ tướng để lách hiến pháp rồi thay đổi hiến pháp để có thể cầm quyền suốt đời.

Nhà sử học Mỹ Tymothy Snyder từng nói: “Bước chuyển sang chủ nghĩa chuyên quyền cực hữu có lẽ là bậc thang cuối cùng của Chủ nghĩa Cộng sản – dù mới nghe có vẻ rất quái gở” [1] Chủ nghĩa chuyên quyền cực hữu chính là chủ nghĩa Phát xít. Tập Cận Bình đã xây dựng chế độ này ở Trung Quốc nhưng chưa ra tay. Putin đã ra đòn trước.

Hành động này khiến NATO và EU đang chia rẽ bỗng đoàn kết lại. Erdogan của Thổ Nhĩ Kỳ và Orban của Hungary, vốn bị coi là hai tay trong của Putin ở NATO và EU cũng phải lên án cuộc xâm lăng. Hai phe Dân Chủ và Cộng Hòa ở Mỹ bỗng đồng thanh vỗ tay diễn văn của ông Biden về thái độ của Mỹ. Các ngân hàng Thụy Sỹ bỏ nguyên tắc trung lập từ hàng trăm năm nay để tham gia vào cuộc cấm vận các ngân hàng Nga…

Chỉ năm ngày sau khi Putin tấn công Ukraine, giới chính trị Đức, cả tả lẫn hữu cùng nhất trí rũ bỏ chiếc áo “Vì quá khứ quân phiệt nên phải hòa bình” mà họ nấp trong đó lâu nay. Đức tuyên bố cung cấp ngay vũ khí made in Germany cho Ukraine và nâng ngân sách quốc phòng lên 100 tỷ EURO (tức là 2,6% của 3800 tỷ EUR GDP). Nghị sỹ Gysi (được coi như lãnh tụ của cánh tả) xưa nay vẫn bênh vực Putin, nay đã quay sang lên án Putin. Cựu thủ tướng Schröder, bạn thân của Putin, có chân trong công ty dầu khí quốc gia ROSNEFT, đang bị dư luận Đức lên án vì không rời bỏ các chức vụ ở Nga. Câu lạc bộ bóng đá BVB Dortmund đã tước thẻ hội viên danh dự của Schröder. Liên đoàn bóng đá Đức và ngay cả đảng SPD đã ra tối hậu thư cho kẻ ngậm miệng ăn tiền này [2].

Ví dụ của Đức và muôn vàn ví dụ nữa, từ thể thao, nghệ thuật, kinh doanh… cho thấy cuộc chiến tranh Ukraine còn là cuộc chiến tranh của lương tâm, của cái thiện chống cái ác.

Các lý lẽ về dân chủ, về NATO, về lịch sử nước Nga/ Ukraine về xung đột lãnh thổ thời Liên Xô khó có thể thống nhất được, vì đó là nhận thức, là lý trí.

Con người ngoài lý trí còn có lương tâm. Người lương thiện không thể bênh vực việc dùng bom đạn tàn phá một nước không hề và cũng không bao giờ đủ sức đe dọa mình. Lương tâm trong lành không thể bênh vực các cuộc ném bom vào dân thường.

Việc một quốc gia lựa chọn thể chế cũng giống như con người ta lựa chọn lối sống. Nếu ông bố chỉ vì sợ con mình cũng bị lây thị hiếu nhạc Rock và ăn mặc diêm dúa của con nhà hàng xóm thì nên đóng cửa lại và dạy con mình trò khác, “bản sắc dân tộc” hơn. Nhưng nếu lấy cớ “Chơi với Tây là đe dọa tao” để tràn sang đốt nhà và tàn sát gia đình hàng xóm, thì đó là tội ác.

Người có lương tâm phải biết phân biệt thiện-ác.

[1] https://www.facebook.com/tho.nguyen.9231/posts/6772520612765954

[2] https://www.welt.de/politik/deutschland/article237263307/Altkanzler-Schroeder-Mit-Putin-auf-dem-Weg-in-die-Isolation.html

Hãy Cám Ơn Cuộc Sống.

GÓC SUY GẪM…

Nếu bạn sống lạc quan & một cái nhìn tích cực. Bạn sẽ giải quyết tốt nhiều sự việc không vừa ý. Đồng thời sẽ giúp tâm hồn bạn nhẹ nhàng thanh thản với từng ngày trong cuốc sống…

***

Hãy Cám Ơn Cuộc Sống.

* Nếu bạn thấy đêm nay khó ngủ – Hãy nghĩ đến những kẻ không nhà chẳng nệm ấm chăn êm.

* Nếu bạn gặp một ngày tồi tệ nơi làm việc – Hãy nghĩ đến những người đã mấy tháng nay không tìm được việc làm.

* Nếu bạn chán nản vì mối quan hệ xấu đi – Hãy nghĩ tới những kẻ không bao giờ biết hương vị của thương yêu và được người yêu thương lại.

* Nếu bạn buồn phiền vì thêm một cuối tuần vô vị trôi qua – Hãy nghĩ tới những người phụ nữ quẫn bách, quần quật cả ngày, suốt tuần không nghĩ, chỉ mong kiếm được chút tiền còm nuôi mấy miệng ăn.

* Nếu bạn hỏng xe dọc đường, phải cuốc bộ vài dặm vài mới tìm ra được người giúp đỡ – Hãy nghĩ tới những ai liệt cả đôi chân, luôn khao khát được bước đi như bạn.

* Nếu bạn cảm thấy đời mình bị mất mát và băn khoăn về ý nghĩa kiếp người – Xin bạn hãy biết ơn cuộc sống vì có nhiều người đã không được sống hết tuổi trẻ của mình để có những trải nghiệm như bạn.

* Nếu bạn cảm thấy mình là nạn nhân của những ai hay cay nghiệt, dốt nát, nhỏ nhen, nghi kỵ – Hãy nhớ rằng việc đời có khi còn tệ hại hơn thế rất nhiều.

CHẶNG THỨ 1: Chúa Giêsu bị kết án tử hình.

CHẶNG THỨ 1: Chúa Giêsu bị kết án tử hình.

Chúc mọi sự an lành đến bạn và gia đình nhé! Thiên Chúa là tình yêu. (1 Ga 4:8) Ngài không thể lặng thinh trước những nỗi thống khổ của nhân loại, đại dịch chưa hết chiến tranh ập tới. Do đó qua mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể, Thiên Chúa xuống thế làm người, Ngài mang lấy thánh giá, và chia sẻ những đau khổ của bạn. Ngài muốn biến đổi trái tim chai đá của bạn thành một trái tim bằng thịt để bạn biết rung cảm và biết chia sẻ trước sự đau khổ của người khác. Vậy trong những ngày đầu của Mùa Chay thánh này, mời bạn cùng với mình suy niệm 14 Chặng Đàng Thánh Giá mà Con Chúa đã đi qua. Ước mong bạn nhận được ơn hoán cải để trở về nguồn tình yêu bất tận của Thiên Chúa.

Cha Vương

Thư 6: 04/3/2022

CHẶNG THỨ 1: Chúa Giêsu bị kết án tử hình.

TIN MỪNG: Tổng trấn Phi-la-tô nói tiếp: “Thế còn ông Giê-su, cũng gọi là Ki-tô, ta sẽ làm gì đây?” Mọi người đồng thanh: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Mt 27:22)

 SUY NIỆM: Nhìn vào xã hội ngày nay chuyện bất công vẫn còn xảy ra dưới nhiều hình thức, người công chính thì bị cầm tù nhạo báng còn kẻ vô luân thì lại huênh hoang hoành hành. 

XÉT MÌNH: Có bao bạn tham gia hoặc cổ võ cho những việc làm bất chính trong môi trường sống của bạn hay không? (Tự xét mình và xin ơn hoán cải trong lối nghĩ, trong cách cảm nhận, và trong hành động.)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giê-su, vì yêu thương con Chúa đã chấp nhận chịu xét xử và bị kết án tử hình một cách bất công để cho con được sống dồi dào trong tình yêu của Chúa, xin cho con luôn mặc lấy trái tim của Chúa, để con biết rung động và thương xót trước nỗi cơ cực của anh chị em, ngõ hầu con biết đứng về phía sự thật để trở nên chứng nhân của lòng Chúa xót thương. Amen. 

From: Đỗ Dzũng

NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM CỘNG HOÀ: NHÂN BẢN – DÂN TỘC – KHAI PHÓNG

NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM CỘNG HOÀ:

NHÂN BẢN – DÂN TỘC – KHAI PHÓNG

Quyên Di

Bài viết này bổ túc cho bài viết đã được đăng trước: “MÔI TRƯỜNG GIẢNG DẠY CỦA GIÁO CHỨC THỜI VIỆT NAM CỘNG HOÀ.” Nguyên thuỷ, bài này do phóng viên Doan Trang (Hoa Kỳ) phỏng vấn và viết lại những điều tôi trả lời. Ở đây, tôi sửa chữa đôi chút cho đúng với cách nói của tôi. Tôi cũng lược bỏ một số đoạn có ý tưởng trùng lặp với bài “MÔI TRƯỜNG GIẢNG DẠY CỦA GIÁO CHỨC THỜI VIỆT NAM CỘNG HOÀ.”

Bài này cũng đã được đăng lại hay trích đăng ở nhiều nơi. Vị đăng lại bài có tên “THUY TIEN” đã viết trong lời mở đầu:

“Đã có nhiều bài viết nhắc lại về nền giáo dục VNCH nhưng bài viết dưới đây là của một giáo sư đang dạy tại đại học Mỹ và là người từng hưởng thụ được nền giáo dục khai phóng của miền Nam trước 1975. Nhắc lại vài chi tiết về nền giáo dục xưa không chỉ là sự hồi tưởng ký ức mà còn là một chiêm nghiệm để soi rọi thực tại…”

Tôi cám ơn tất cả những vị đã giúp phổ biến bài viết này.

Quyên Di

*

BA YẾU TỐ KIẾN TẠO NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM CỘNG HOÀ

Tôi là người Hà Nội. Gia đình di cư vào Nam năm 1954, lúc đó tôi chừng 6 tuổi. Khi vào Nam ở Sài Gòn, tôi theo học một trường Tiểu học là chi nhánh mới của trường Bàn Cờ, đó là trường “Di Chuyển Bàn Cờ” trên đường Phan Đình Phùng (bây giờ là đường Nguyễn Đình Chiểu.) Học được hai năm, sau đó tôi được chuyển qua một trường sở mới, là trường Phan Đình Phùng, đối diện với trường Di Chuyển Bàn Cờ.

Từ năm 1955, chính phủ Ngô Đình Diệm đã đặt ra tiêu chuẩn rất rõ ràng về nền giáo dục Việt Nam Cộng Hoà. Tôi được hưởng nền giáo dục ấy.

Có ba điểm để định hướng cho nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa (VNCH.) Đó là: Nhân Bản, Dân Tộc và Khai Phóng. Điều thứ nhất có nghĩa là học gì thì học, điều đầu tiên là phải là Con Người. Điều thứ hai là Dân Tộc: các triều đại thay thế, tiếp nối nhau cai trị đất nước, rồi cũng tàn thôi. Như triều đại Nhà Lê được yêu mến nhất, vài trăm năm cũng hết. Triều đại, chính quyền thay đổi nhưng dân tộc thì trường tồn (ngay cả khi không còn lãnh thổ nữa.) Điều thứ ba là Khai Phóng, nghĩa là mở rộng ra, tiếp nhận những cái mới, những tư tưởng khác nhau. Rất nhiều nhà văn, nhà thơ ở miền Bắc có những tác phẩm hay, như Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ… Họ không vào miền Nam, do hoàn cảnh này nọ, nhưng ở miền Nam, chúng tôi vẫn được học những tác phẩm của họ như thường chứ không có gì trở ngại. Những tư tưởng Âu, Á, Mỹ, chúng tôi cũng đều được học.

Hệ thống giáo dục dưới thời VHCH có trường công (chính phủ thành lập) và trường tư (tư nhân thành lập), đều được tôn trọng như nhau. Trường tư do giáo hội Công giáo thành lập được gọi là trường Đạo. Điều này cho thấy dưới chế độ VNCH, các tôn giáo lãnh trách nhiệm khá lớn về mặt giáo dục. Lý do Giáo hội Công giáo thành lập trường là vì dân số ngày càng đông, hệ thống trường công của chính phủ không đủ chỗ cho học sinh. Sau này, cũng có những trường Trung học, Đại học do hệ thống Phật giáo thành lập.

Về các cấp lớp:

* Tiểu học, tính từ thấp nhất đến cao nhất gồm có lớp Năm, lớp Tư, lớp Ba, lớp Nhì, lớp Nhất. Nếu so sánh bây giờ thì là lớp Một, lớp Hai, lớp Ba, lớp Bốn, lớp Năm.

* Trung học thì có Trung học đệ nhất cấp, gồm Đệ Thất, Đệ Lục, Đệ Ngũ, Đệ Tứ; Trung học đệ nhị cấp, gồm có Đệ Tam, Đệ Nhị, Đệ Nhất. Đệ Thất là lớp Sáu bây giờ, cứ thế mà tính lên. Đệ Nhất là lớp Mười Hai bây giờ. Ở kỳ thi Trung Học Đệ Nhất Cấp (cuối lớp Đệ Tứ) còn có thi vấn đáp, thi nhiệm ý. Học sinh đỗ hay không đỗ cũng đều được lên lớp Đệ Tam. Ai đỗ Trung học Đệ Nhất Cấp là được quyền đi dạy học trường tư bậc Tiểu học. Ngay cả đi xin việc làm cũng được, nếu có cái bằng.

Lớp Đệ Tam gọi là “lớp dưỡng lão” bởi vì không có thi cử gì hết. Đệ Tứ, Đệ Nhị và Đệ Nhất thì học xong đều phải đi thi. Học xong lớp Đệ Nhị thi Tú Tài I. Xong lớp Đệ Nhất thi Tú Tài II. Đó là các kỳ thi Toàn Quốc, rất khó. Mỗi nơi có một Hội đồng thi và có một vị là chánh chủ khảo rất nghiêm minh. Thi đỗ Tú Tài I mới được lên lớp Đệ Nhất, tức lớp cuối cùng bậc Trung học, sau đó sẽ thi Tú Tài II. Dù cùng thi đỗ, nhưng thí sinh đỗ làm nhiều bậc: Tối ưu, Ưu, Bình, Bình thứ, và Thứ. Đỗ vớt là có đỗ đấy, nhưng “với sự khoan hồng của ban giám khảo.”

Thi Tú Tài có mấy môn như: Quốc văn, Sử, Toán, Lý Hóa, Sử Địa, Công dân giáo dục, Ngoại ngữ thì được quyền chọn: Anh, Pháp, Cổ ngữ La-tinh (hoặc là Hán văn hay tiếng Phạn.) Hồi ấy bậc Trung học đệ nhị cấp chia làm bốn ban: Ban A (Lý-Hoá và Vạn vật,) Ban B (Toán,) Ban C (Văn chương,) Ban D (Cổ ngữ.) Trong cuộc thi Tú Tài II, môn Quốc văn được thay bằng môn Triết học gồm ba phần: Luận Lý học, Đạo Đức học, và Tâm Lý học. Đến 1974, cuộc thi có môn Quốc văn trở lại.

* Các trường Đại học dưới thời VNCH có Đại học Y Khoa, Dược Khoa, Kiến Trúc, Sư Phạm thì phải thi vào. Đặc biệt nếu học Sư Phạm thì sẽ có phụ cấp, nên hồi đó nhiều người đã ghi danh hay thi vào trường Đại học khác, nhưng thi thêm vào trường Sư Phạm để có phụ cấp và tương lai được làm giáo chức, nếu không chọn những ngành nghề khác. Đương nhiên có những người chỉ học một Đại học là Đại học Sư Phạm thôi.

Vào trường Luật khoa, Khoa học, Văn khoa không phải thi, tất cả sinh viên đều được ghi danh vào học y như nhau. Năm đầu tiên đại học Văn khoa, sinh viên chưa học chuyên ngành. Năm ấy gọi là năm “Dự Bị Văn Khoa,” gồm những môn Triết Đông, Triết Tây, Ngoại ngữ, Văn chương, Quốc văn, Hán văn. Qua đến năm thứ hai mới được chọn chuyên ngành, như Văn Chương Quốc Âm, Văn Chương Việt Hán, Văn Minh Việt Nam, Ngữ Học Việt Nam, Sử Địa… Luật khoa thì không có năm nhất, năm hai, năm ba… mà gọi là Cử nhân một, Cử nhân hai, Cử nhân ba. Chuyện buồn cưởi là có sinh viên thi lên lớp mãi vẫn trượt, trong lý lịch ghi là: “Cử nhân một năm thứ… ba!” Cuối năm thứ tư, thi đỗ thì là Cử nhân Luật. Tốt nghiệp rồi, sinh viên ghi tên học thêm ngành Luật, rồi mới ra Luật sư tập sự.

Hồi đó có viện Đại Học Sài Gòn (Đại học công,) viện Đại học Huế (Đại học công,) viện trưởng là Linh mục Cao Văn Luận; viện Đại học Đà Lạt (Đại học Công giáo) nhưng được chính quyền công nhận bằng cấp ngang với các đại học khác, viện trưởng là Linh mục Nguyễn Văn Lập, sau đó là Linh mục Lê Văn Lý; viện Đại học Vạn Hạnh (Đại học Phật giáo) ở Sài Gòn, viện trưởng là Thượng toạ Thích Minh Châu; viện Đại học Cần Thơ; viện Đại học Minh Đức có một chút hướng về Phương Đông (Y khoa.) Đại học Minh Đức nổi tiếng có ban Kinh Thương (Kinh Tế – Thương Mại.)

Để trở thành Cô giáo, Thầy giáo thì phải tốt nghiệp trường Sư Phạm. Đó là với trường công, còn ở trường tư thì không cần qua trường Sư Phạm, miễn có bằng cấp về chuyên môn, được Bộ Quốc gia Giáo dục và Nha Tư Thục cho phép dạy từng bậc, và được nhà trường tín nhiệm. Thầy, Cô dạy học ở bậc tiểu học được gọi là Giáo viên, dạy bậc Trung học được gọi là Giáo sư Trung học, dạy bậc Đại học là Giáo sư hoặc Giảng sư Đại học.

Trước 1975, muốn học trường công thì hơi khó, phải giỏi mới vào được, vì có thi tuyển. Ở cấp Tiểu học thì không cần thi tuyển, dù nhà ở xa hay gần trường đều được vào học, không cần theo học khu. Nhưng sau khi học xong Tiểu học, học sinh phải qua cuộc thi tuyển để vào trường công bậc Trung học. Những môn thi gồm có: Toán, Quốc văn, Địa lý, Lịch sử và một vài môn nữa được tự chọn để lấy thêm điểm, như Nữ Công Gia Chánh, Hát, Vẽ….

Sau khi xong bậc Tiểu học, tôi thi vào trường công để học Trung học, nhưng thi hai lần không đỗ, nên bố mẹ gửi vào trường Đạo. Đó là trường Nguyễn Bá Tòng. Nguyễn Bá Tòng là tên của giáo sĩ Việt Nam đầu tiên được phong chức Giám mục. Sau 1975, trường Nguyễn Bá Tòng được đổi tên là trường cấp ba Bùi Thị Xuân, toạ lạc tại quận Nhất, Sài Gòn (thời chúng tôi là quận Nhì.)

Lên Đại học, tôi học chuyên ngành Ngữ học Việt Nam, nhưng năm cuối vào vấn đáp phải đến lần thứ hai mới đỗ. Giáo sư đánh trượt tôi là Linh mục Lê Văn Lý – người đầu tiên trình luận án về Ngữ học Việt Nam ở Đại học Sorbonne, Pháp. Dù rất thân thiết với gia đình tôi, ngài vẫn không nương tay cho tôi. Bên Đại học Văn khoa có các Giáo sư Lê Trung Nhiên, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Khắc Hoạch (là ba vị khoa trưởng tôi còn nhớ tên.) Tôi còn được học với những Giáo sư Nguyễn Duy Cần (Triết Đông,) Nguyễn Văn Trung (Triết Tây,) Thanh Lãng, Nghiêm Toản, Vũ Khắc Khoan, Đông Hồ Lâm Tấn Phác (Văn Chương Quốc Âm,) Lê Văn Lý và Lê Ngọc Trụ (Ngữ học Việt Nam), Bửu Cầm (Văn Minh Việt Nam) v.v…

Thầy Đông Hồ gục chết ngay trong lớp học. Tôi được đại diện sinh viên Văn Khoa, đọc văn tế trước khi hạ huyệt Thầy, trong đó có câu:

“Thầy nằm xuống giữa lòng lớp học,

Cho chúng con tiếng khóc nghẹn ngào.”

Còn bên Đại học Luật khoa có những Giáo sư nổi tiếng như Vũ Văn Mẫu, Lê Đình Chân, Vũ Quốc Thúc…, đều là những Giáo sư giỏi nhưng chấm điểm rất gắt. Chúng tôi gọi vụng các Giáo sư đó là những “máy chém”: “máy chém Vũ Văn Mẫu,” “máy chém Lê Đình Chân,” “máy chém Vũ Quốc Thúc.” Gọi vụng các Thầy như vậy, nhưng chúng tôi rất kính trọng các Thầy.

Hồi đó, không phải dễ mà có bằng Tú tài I và Tú tài II, mà phải đậu Tú Tài II mới được ghi danh Đại học. Nhiều khi giáo sư ở Sài Gòn được gửi về miền Trung làm chánh chủ khảo để có sự thanh liêm, không thể hối lộ. Nói vậy, chứ không thể nào có sự thanh liêm tuyệt đối, vẫn có người tìm cách hối lộ này nọ, nhưng hiếm lắm. Mà nếu bị khám phá thì xấu hổ vô cùng.

Tôi tốt nghiệp năm Cử nhân 1970; khi còn dở dang, chưa hoàn tất bậc Cao học thì được mời lên làm phụ tá giám đốc ban Tu Thư Viện Đại học Đà Lạt (lo về sách giáo khoa và chương trình học) và vẫn tiếp tục dạy thêm ở bậc Trung học đệ nhị cấp. Năm 1974, tôi được đề cử dạy môn Quốc văn lớp Mười Hai, vì năm đó Bộ Quốc Gia Giáo Dục quyết định đưa môn Quốc văn lên dạy trên lớp Mười Hai, bên cạnh môn Triết học, và đó cũng là năm duy nhất cho thi Tú Tài lối trắc nghiệm, A, B, C khoanh…

*

Một chút ký ức được ghi lại. Mong rằng bài viết này góp thêm phần vào những bài viết giá trị của các tác giả khác, đã ghi lại rất chi tiết về nền giáo dục Nhân Bản – Dân Tộc – Khai Phóng thời Việt Nam Cộng Hoà.

(*) Tôi chỉ chụp hai tấm hình: bìa sách Văn học của Giáo sư Thanh Lãng và bài thực tập của tôi. Các hình khác, tôi mượn trên “internet.”

Nga đánh Ukraïna và phản ứng của các đảng Cộng sản không cầm quyền

Nga đánh Ukraïna và phản ứng của các đảng Cộng sản không cầm quyền

Bởi  AdminTD

 Đỗ Hùng

3-3-2022

Cuộc bỏ phiếu ở Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã cho thấy, phe chống Nga áp đảo phe thân Nga.

Có một phe lừng khừng ở giữa. Việt Nam chọn về phe e ấp bẽn lẽn này:

“Em bé nhỏ mong manh nên em yêu màu trắng

Anh đừng hỏi rằng em ‘yes’ hay ‘no’

Cứ hỏi hoài em hổng nói đâu

Em bé nhỏ mong manh chỉ biết yêu màu trắng”.

Như vậy, có thể thấy các nước có đảng cộng sản hoặc “đảng anh em” lãnh đạo (Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Triều Tiên, Cuba) đều hoặc ở phe Nga (Triều Tiên) hoặc ở phe “hổng nói đâu” (mấy nước còn lại).

Thế còn các đảng cộng sản không cầm quyền thì có lập trường thế nào?

Mình kiếm một hồi bèn ra một vài kết quả thú vị, lưu lại đây làm tư liệu.

Có một số phản ứng cơ bản sau:

  1. LÊN ÁN NGA KỊCH LIỆT:

ĐẢNG CỘNG SẢN NHẬT BẢN:

Đảng Cộng sản Nhật Bản có lẽ là đảng cộng sản lên án Nga mạnh mẽ nhất. Trong các ngày 12.2, 22.2 và 24.2, Chủ tịch Đảng, ông Shii Kazuo, đã ba lần lên án các hành động của Nga.

Ngày 12.2, dựa trên thông tin “Nga đưa 100.000 quân tới sát biên giới Ukraïna và tiến hành các hoạt động quân sự ở Belarus”, ông Shii Kazuo lên tiếng: “Nga cần chấm dứt các đe dọa quân sự” và “cộng đồng quốc tế cần theo đuổi giải pháp ngoại giao.” Ông cũng kêu gọi chính phủ Nhật Bản tham gia vào các nỗ lực quốc tế để giảm căng thẳng.

Trong tuyên bố ngày 24.2, khi Nga đơn phương công nhận độc lập đối với hai vùng ly khai miền Đông Ukraïna và tấn công Ukraïna, ông Shii Kazuo tuyên bố: “Đảng Cộng sản Nhật Bản cực lực phản đối hành động này” và coi đó là hành động hiếu chiến “xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Ukraïna, vi phạm Hiến chương Liên Hợp Quốc và luật pháp quốc tế”.

Đảng Cộng sản Nhật Bản yêu cầu Nga chấm dứt các chiến dịch quân sự và rút quân về nước.

  1. LÊN ÁN NGA, KÊU NGA NGƯNG ĐI, CHỬI NATO, NHÂN TIỆN CHỬI CHÍNH PHỦ NƯỚC MÌNH:

ĐẢNG CỘNG SẢN PHÁP:

Đảng Cộng sản Pháp trong tuyên bố ngày 24.2 lên án quyết định của Tổng thống Nga Putin về việc mở chiến dịch quân sự tại Ukraïna. Theo đảng này, Putin phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến.

Đảng Cộng sản Pháp cũng cho rằng Putin đang ngày một chìm sâu vào chủ nghĩa cực đoan, coi thường các cơ quan đa phương và luật pháp quốc tế.

Nhân tiện đảng này cũng chửi NATO.

ĐẢNG CỘNG SẢN ÚC:

Đảng Cộng sản Úc (ACP) đanh thép: “APC lên án cuộc tấn công do các lực lượng của Liên bang Nga thực hiện nhằm vào Ukraïna. Thế giới sửng sốt trước hành động bất chấp của phía chính quyền Putin và sự tổn thất nhân mạng cũng như những khổ đau của những người bị cuộc xung đột này tác động.”

“Ukraïna là quốc gia độc lập có thể chọn giao thương và kết đồng minh với bất kỳ ai mà họ muốn.” (Nhưng ý này là nhằm bôi trơn cho ý kế tiếp, chửi NATO).

APC, bên cạnh chửi Nga, có vẻ cũng không vui với việc chính phủ Ukraïna kết thân với phương Tây, cấm thành lập đảng cộng sản.

APC cho rằng chính quyền Ukraïna đã “chọn về phe với khối hiếu chiến và đế quốc mạnh nhất”. “Tất nhiên, Liên bang Nga có các nỗi lo chính đáng rằng điều này sẽ dẫn đến sự hiện diện của các lực lượng đối thủ và vũ khí hạt nhân gần biên giới để chuẩn bị cho một cuộc chiến về ảnh hưởng và nguồn lực.”

Tóm lại, APC lên án chính phủ Nga mạnh mẽ, chửi xéo chính phủ Ukraïna thân với đế quốc tư bản cũng như o bế bè lũ tân phát xít; nhân tiện chửi thêm Mỹ và các nước phương Tây về nhiều thứ, trong đó có việc tấn công Iraq năm 2003; rồi đá xéo chính phủ Úc.

“Công nhân Úc phải đấu tranh để lôi đất nước ra khỏi mối liên minh với Hoa Kỳ như một phần của cuộc đấu tranh tiến lên xã hội xã hội chủ nghĩa,” tuyên bố viết.

ĐẢNG CỘNG SẢN (MARXIST-LENINIST) GIẢI PHÓNG (ẤN ĐỘ)

Ở Ấn Độ có khoảng chục cái đảng cộng sản, đảng thì theo Marx, đảng theo Mao, đảng theo Lenin, đảng thì theo thập cẩm.

Có đảng cộng sản (nhỏ) này là chửi Nga mãnh liệt.

Tuyên bố của Đảng Cộng sản (Marxist-Leninist) Giải phóng (CPIML) có các điểm sau:

  1. Sát cánh cùng Ukraïna;
  2. Nga phải ngưng hành động quân sự hung hãn xâm phạm lãnh thổ Ukraïna ngay lập tức không nói nhiều;
  3. Ấn Độ cần đóng vai trò chủ động để ngăn chặn Nga xâm hại Ukraïna cũng như sự huy động quân sự của NATO;
  4. Quan ngại về sự can thiệp của Mỹ và NATO;
  5. Bằng cách tuyên bố ủng hộ độc lập hai thực thể ở miền Đông Ukraïna, Putin đã xóa bỏ di sản của Lenin về quyền dân tộc tự quyết và việc quân Nga tấn công Ukraïna không thể được coi là “gìn giữ hòa bình”.

Prasun Chaudhuri, Lãnh tụ Dipankar Bhattacharya của CPIML, đảng cộng sản lên tiếng gắt nhất trong số các đảng cộng sản ở Ấn Độ. Ảnh trên mạng

  1. QUAN NGẠI, CHỬI NATO, KHÔNG LÊN ÁN NGA:

Có một nhóm đảng cộng sản có quan điểm khá tương đồng nhau: quan ngại về chiến tranh, kêu chấm dứt chiến tranh, lên án việc NATO mở rộng đe dọa an ninh Nga; không lên án Nga.

Nhóm này gồm Đảng Cộng sản Ấn Độ (Marxist) và Đảng Cộng sản Ấn Độ (CPI, là đảng cộng sản lâu đời nhất ở Ấn Độ).

Có thể xếp Đảng Cộng sản Canada vào nhóm này. Bên cạnh kêu gọi chấm dứt chiến tranh, chửi NATO thì đảng này còn nhân tiện chửi chính phủ Canada đã chõ mũi vào làm chiến tranh nổ ra tại châu Âu.

Putin trong cơn tuyệt vọng

Putin trong cơn tuyệt vọng

Bởi  AdminTD

 Nguyễn Đức Thành

28-2-2022

Một điều hy hữu trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, là chưa đầy một tuần, hay có lẽ chính xác hơn là chưa đầy 100 giờ đồng hồ, cuộc chiến do một cường quốc quân sự (tôi xin không gọi là Nga là siêu cường quân sự nữa) phát động với một nước láng giềng nhỏ bé hơn nhiều lần, đã thấy được kết cục thảm bại nghiêng về phía quân xâm lăng.

Tôi có thể khẳng định việc chiến thắng là không thể, khi Nga đã mất toàn bộ quán tính và động năng cho cuộc chiến. Trong khi đó, toàn bộ phần phía Tây của Ukraine vẫn hoàn toàn tự do. Và đây là phần trực tiếp kết nối với lãnh thổ các nước láng giềng thân thiện. Họ đã mở toan biên giới để người tỵ nạn Ukraine di chuyển sang như không hề có đường biên giới. Đồng thời, theo chiều ngược lại, vũ khí của các nước NATO và Mỹ đi qua biên giới để vào Ukraine, với số lượng sẽ không còn giới hạn nào nữa. Điều này cho thấy hai đặc điểm quan trọng lúc này của cuộc chiến:

  1. Ukraine có một hậu phương coi như vô hạn về phía Tây, trong khi đó, phía Đông chỉ đóng vai trò như mặt trận, mà quân Nga còn chưa làm chủ được.
  2. Ukraine giờ đây không khác gì một nước quasi-NATO rồi. Tức là một nửa đã là NATO. Chỉ có người lính là người Ukraine (những người thiện chiến nhất Châu Âu), còn toàn bộ khí tài và nguồn lực cho cuộc chiến đã đồng nhất với NATO, chưa kể tới toàn bộ thế giới văn minh.

Với lý do này, Nga sẽ không còn cơ hội chiến thắng. Cứ thêm một ngày giao tranh, với chiến thuật như hiện nay, Nga sẽ mất thêm khoảng 1.000 quân và vô số khí tài quân sự. Đây là thiệt hại mà không một cường quốc hay siêu cường nào có thể chấp nhận được quá một tuần liên tục. Mà nếu chấp nhận được thì đó là sự lựa chọn hoàn toàn mất lý trí. Mà kẻ mất lý trí thì làm sao có cơ hội chiến thắng một đối thủ có lý trí?

Vấn đề của Putin bây giờ là làm sao rút được quân khỏi Ukraine, và làm sao GIẢM THIỂU thiệt hại về người và của mà thôi.

Trong cơn tuyệt vọng, Putin ra lệnh chuẩn bị sử dụng vũ khí nguyên tử. Đó thực sự là mất lý trí. Thứ nhất, cuộc chiến của Putin phát động tưng bừng ban đầu là với lý do lật đổ chính quyền “không được lòng dân”. Thế thì nhẽ ra nhân dân phải đồng lòng với Putin để lật đổ chính quyền. Cớ gì bây giờ lại phải dùng bom nguyên tử, để thảm sát nhân dân mà chưa chắc đã tiêu diệt được chính quyền đó.

Thứ hai, vũ khí hạt nhân theo quy định quốc tế là chỉ dùng để tự vệ, chứ không phải dùng để tấn công. Giả sử Putin có ngông cuồng phá vỡ quy ước này – ừ thì cũng không sao nếu muốn – thì phải đem sử dụng với những cường quốc hoặc siêu cường đối chọi chứ. Ai lại bây giờ cuồng loạn đem sử dụng với một nước nhỏ, hết sức gần gũi về lịch sử, mà lại đang được Putin “giải phóng” theo đúng như lời Putin nói.

Thôi thì nói một đằng làm một nẻo, vứt các cam kết quá khứ vào sọt rác, lừa dối nhân dân, vi phạm luật pháp quốc tế v.v… là chuyện mà chính trị gia khát máu hay cuồng điên với cuồng lực nào cũng có thể làm. Nhưng làm một cách không còn lý trí, tức là bản thân mình đã tự mất kiểm soát về ý thức, thì cá nhân ấy làm sao còn tồn tại được nữa? Nói gì đến đánh giá đúng hay sai, đạo đức hay vô đạo đức.

Thêm một lựa chọn mang tính tuyệt vọng nữa, là Putin muốn lôi kéo Belarus vào cuộc chiến với Ukraine. Một nước Nga hùng hậu về dân số và quân sự đến như vậy, và nước Belarus thì cho đến giờ có khác gì một tỉnh của Nga đâu, bảo gì nghe nấy, thì giờ đây muốn họ tuyên chiến với Ukraine thì được ích gì trên chiến trường? Có thay đổi được gì đâu nếu trên thực tế Belarus vẫn là một lãnh thổ mà Putin tùy nghi sử dụng cho các hoạt động quân sự của ông ta?

Lợi ích như vậy không khác là bao. Nhưng chi phí thì lại to lớn vô cùng. Đơn giản là nếu Tổng thống Lukashenko của Belarus, cái anh chàng to béo làm con bù nhìn cho Putin, đồng ý tuyên chiến với Ukraine, chính người dân Belarus có thể phẫn nộ mất hết giới hạn mà lật đổ ông ta. Vì bản chất ở cấp độ nhân dân, người dân Belarus, người Ukraine, người Nga, đều hòa bình, thân thiện, yêu quý nhau từ bao đời nay. Giờ đây lại đẩy họ đến đường tiêu diệt nhau, thì làm sao họ nhẫn nhịn mãi được.

Với kịch bản này, Putin có thể gặp rủi ro là mất luôn cả Belarus. Như những gì đã diễn ra vào năm 2014 ở Ukraine, khi vị tổng thống thân Nga bị người dân lật đổ (và xây dựng đất nước Ukraine mới cho tới hôm nay).

Một tính toán mà lợi ích không thêm được bao nhiêu, mà chi phí thì tăng lên đáng kể, thì không nên thực hiện. Nhưng vẫn cố thực hiện, thì không còn lý trí nữa.

Tóm lại, mọi hành động của Putin sau chưa đầy 100 giờ đồng hồ phát động cuộc chiến, cho thấy ông đã hoàn toàn tuyệt vọng và mất lý trí.

Bi kịch của những nhà độc tài hoặc bạo chúa là như vậy. Trong suốt lịch sử loài người từ khi có sử, từ Đông sang Tây, Nam chí Bắc, là tên bạo chúa đều chết một mình, vì chính sai lầm của mình. Lý do đơn giản là những người có thể nói chuyện được với họ về lý trí, luận bàn những việc đúng sai, để giúp cho tên bạo chúa một chút gì đó tốt đẹp hơn, đều đã bị hắn giết chết rồi.

Các nước dân chủ không bao giờ đánh nhau?

Các nước dân chủ không bao giờ đánh nhau? 

Luật Khoa

Tìm hiểu mối quan hệ giữa dân chủ, hòa bình và chiến tranh.

On 01/03/2022

By  VINCENTE NGUYEN

Ảnh nền: Lính Ukraine sau một đợt tấn công của lực lượng Nga tại Kyiv vào ngày 26/2/2022. Nguồn: AFP. Bìa sách: Amazon.

“Học thuyết hòa bình dân chủ” (democratic peace theory) là một trong những học thuyết quan trọng và được đánh giá cao nhất trong hệ thống nghiên cứu quan hệ quốc tế đương đại.

Không hề quá lời nếu cho rằng thuyết hòa bình dân chủ là thứ gần nhất mà khoa học chính trị có thể tạo ra để tiệm cận với cái gọi là “luật” trong việc tìm hiểu nguyên tắc, định hướng và tương lai của chiến tranh trên thế giới.

Thuyết hòa bình dân chủ không phải là một học thuyết khó hiểu, tuy nhiên, nó có rất nhiều biến thể nhánh và quan điểm học thuật khác nhau. [1] Cái gốc quan trọng nhất của học thuyết này là việc khẳng định các nền dân chủ sẽ không tham gia vào các cuộc chiến tranh chống lại nhau.

Lý do quan trọng nhất là các thiết chế dân chủ – bao gồm bầu cử cạnh tranh, đa nguyên chính trị và tự do ngôn luận – đảm bảo rằng các lãnh đạo được bầu lên sẽ theo ý của đa số dân chúng. Và vì chiến tranh ảnh hưởng tiêu cực đến phần lớn người dân, những lãnh đạo nào khơi mào chiến tranh sẽ dễ dàng bị người dân phế bỏ quyền lực qua phiếu bầu.

 

Người dân Đài Loan bỏ phiếu trong cuộc bầu cử vào tháng 1/2020. Ảnh: How Hwee Young/ EPA-EFE/ Shutterstock.

Tuy nhiên, liệu dân chủ có giúp các quốc gia này hạn chế tham chiến chống lại những quốc gia “không dân chủ”, bao gồm cả những quốc gia dân chủ phi cấp tiến (non-liberal democracy) và hoàn toàn không dân chủ (non-democratic)?

Trong bối cảnh Nga xâm lược Ukraine, nhiều nhà quan sát đã cho rằng đây là một ví dụ khá kinh điển của thuyết hòa bình dân chủ khi mà Nga, một nhà nước đang dần đi đến con đường toàn trị, đã không thể chia sẻ hay trao đổi mong muốn chính trị của mình một cách bình thường với nền dân chủ Ukraine và các nền dân chủ châu Âu.

Liệu thuyết hòa bình dân chủ có thật sự là một học thuyết khả dụng?

Để cùng tìm hiểu, người viết xin giới thiệu đến bạn đọc quyển sách có tên gọi “Puzzles of the Democratic Peace: Theory, Geopolitics and the Transformation of World Politics” của Karen A. Rasler và William R. Thompson, hai giáo sư chính trị trường Đại học Indiana, Hoa Kỳ. [2]

Đây là quyển sách cô đọng với tương đối đầy đủ thông tin, cả ủng hộ lẫn thách thức thuyết hòa bình dân chủ, để chúng ta có thể có một cái nhìn toàn cảnh về vấn đề này.

Dân chủ và hòa bình: trứng và gà cái nào có trước?

Vấn đề đầu tiên mà quyển sách đặt ra là liệu chúng ta có tiếp cận sai về mối liên hệ nhân quả giữa các nền dân chủ và hòa bình hay không. Bởi một khả năng khác là việc duy trì nền hòa bình giữa các quốc gia mới chính là yếu tố tạo điều kiện cho quá trình phát triển và thực hành dân chủ.

Hai tác giả gọi đây là “peace ↔ democratic dyads” (tạm dịch là nhị nguyên hòa bình và dân chủ) trong các thảo luận chính trị liên quan, và sẽ rất dễ rơi vào vòng luẩn quẩn ngụy biện nếu chúng ta không có nền tảng lịch sử và phương pháp luận vững chắc.

Các tác giả dẫn ra nhiều nghiên cứu định lượng lẫn định tính nhằm xác định sự thật của mối quan hệ nhị nguyên giữa hòa bình và dân chủ với các nhóm kết quả khó lòng xác định rõ khác.

Ví dụ, nhóm tác giả đồng tình với nhiều nghiên cứu rằng sự thắng thế của mô hình dân chủ trên toàn thế giới trước tiên là nhờ vào chiến tranh, mà cụ thể nhất là kết quả của hai cuộc thế chiến. Theo đó, liên minh của các nền dân chủ đánh bại liên minh của các chính thể chuyên chế và từ đó tạo nền tảng cho sự lan tỏa của mô hình dân chủ. Họ giả định, nếu liên minh dân chủ thất thủ, tầm ảnh hưởng của định chế dân chủ trên thế giới chắc chắn sẽ suy giảm trầm trọng.

Như vậy, xét theo bình diện lịch sử, chiến tranh thật ra lại tạo ra động lực cho làn sóng dân chủ.

Lính Mỹ cắm cờ tại Iwo Jima trong trận chiến với quân Nhật vào tháng 2/1945 trong Thế chiến II. Ảnh: AP Photo/ Joe Rosenthal.

Tương tự, nhóm tác giả cũng nhìn nhận rằng có nhiều nghiên cứu tìm ra được những biến/ tiêu chí khác có ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu chiến tranh của các quốc gia, và hòa bình hay không không nhất thiết chỉ phụ thuộc vào biến “dân chủ”. Các tiêu chí này bao gồm: nguồn nội lực và tài nguyên trong nước (domestic resources), vị trí địa lý và áp lực lãnh thổ từ bên ngoài (external threats), cán cân quyền lực cũng như truyền thống tập trung quyền lực của một quốc gia (traditional power concentration), v.v.

Với những thông tin tổng hợp này, hai tác giả tự tìm kiếm mô hình riêng của mình để xác định tầm ảnh hưởng thực tế của dân chủ đối với hòa bình và đưa ra được một mô hình tương đối hoàn chỉnh. Theo đó, các thứ tự ưu tiên để xây dựng một nền hòa bình chung là:

  1. Các mối nguy hại khu vực thấp (low external threat) => 
  2. Lượng tài nguyên nội địa không cao (low domestic resource) => 
  3. Lịch sử tập trung quyền lực chính trị nội địa không cao (low power concentration) => 
  4. Dân chủ hóa thành công (democratisation) => 
  5. Giảm trừ các hành vi gây hấn (less conflict behavior).

Hai nhà nghiên cứu từ đó khẳng định, thuyết hòa bình dân chủ về cơ bản là không sai. Quá trình dân chủ hóa có mối quan hệ đặc biệt quan trọng với xu hướng giảm thiểu các hành vi gây hấn, chiến tranh.

Tuy nhiên, họ cũng cho thấy là còn rất nhiều biến khác trước đó ảnh hưởng đặc biệt quan trọng đến khả năng dân chủ hình thành, bao gồm các áp lực an ninh từ bên ngoài hay tài nguyên nội địa (tài nguyên nội địa quá cao thường khó xây dựng chính quyền dân chủ).

Cách tiếp cận nhị nguyên vì vậy được cho là có vấn đề. Song rõ ràng có tồn tại sự kết nối hữu cơ giữa dân chủ và hòa bình.

Mô hình nhà nước trong bối cảnh xung đột?

Đi xa hơn những quan sát về mối liên hệ giữa dân chủ và hòa bình, hai tác giả còn tìm cách cân đo đong đếm xem liệu các mô hình chính thể khác nhau (giữa hai thái cực dân chủ và không dân chủ) có phản ứng gì khác biệt dưới áp lực xung đột hay không.

Tiếp cận với nội dung này bằng nghiên cứu định tính và nghiên cứu vụ việc thay vì định lượng, hai tác giả đưa ra những thảo luận hết sức có ý nghĩa để cân nhắc vai trò của thiết chế dân chủ và cách mà nó gây ảnh hưởng lên phương thức mà những nhà lãnh đạo đưa ra các quyết định liên quan đến chiến tranh.

Các thảo luận dẫn đến kết luận tương đối giống với phần mà chúng ta vừa phân tích ở trên, khi mà những vấn đề như áp lực quốc tế, định chế bộ máy nhà nước có hiệu quả không và công luận có những phản ứng như thế nào, v.v. đều có tác động ảnh hưởng.

Những biến này có thể rất khác nhau ngay giữa những nền dân chủ, bởi mỗi nền dân chủ tự thân nó cũng có đặc điểm lịch sử, định chế nhà nước hoàn toàn khác biệt. Yếu tố dân chủ vì vậy được xem là quá chung chung để tìm ra một kết quả đúng trong mối quan hệ nhị nguyên dân chủ – hòa bình.

Tuy nhiên, theo các tác giả, điều này cũng có thể giúp khẳng định vai trò của một nền dân chủ mạnh trong việc kiểm soát ngôn ngữ hiếu chiến và các chiến dịch tuyên truyền chiến tranh trong nội bộ các quốc gia.

*** 

Các thảo luận chất lượng, bao hàm cả định tính lẫn định lượng, giúp cho độc giả của quyển sách có một tầm nhìn bao quát hơn về thuyết hòa bình dân chủ.

Chúng ta hiểu rằng dân chủ và hòa bình chỉ là hai biến rất nhỏ trong rất nhiều những biến khác cần phải cân nhắc để có thể đưa ra nhận định phù hợp. Bản thân các nền dân chủ cũng không nhất thiết phải tương đồng với nhau về trình độ, định chế chính trị hay quan điểm dân tộc chủ nghĩa của các nhóm dân cư.

Cách tiếp cận của quyển sách cũng giúp chúng ta có những quan sát khoa học và kỹ lưỡng hơn về cuộc xâm lược mà Nga đang phát động trước Ukraine.

Ngày 24/2/2022, Nga tấn công xâm lược Ukraine. Ảnh: The Times.

Ví dụ, việc nền kinh tế Nga tiếp tục dựa dẫm vào tài nguyên và lịch sử tập quyền từ thời Sa Hoàng cho đến nay khiến Nga gặp nhiều trở ngại trong việc xây dựng một nền dân chủ lành mạnh.

Mặt khác, dù người dân Ukraine liên tục cố gắng xây dựng nền dân chủ đúng nghĩa, những rủi ro an ninh đến từ việc sống cạnh Nga luôn sản sinh ra những nhóm chuyên quyền, cực đoan (mà cụ thể các nhóm cực hữu dân tộc chủ nghĩa) để đối phó với mối lo kề cận.

Tuy không phải là một quyển sách dễ đọc, người viết cho rằng đây là một tài liệu khách quan và đầy đủ về thuyết hòa bình dân chủ và những vấn đề của nó.

Thánh Katarina Drexel, người Mỹ (1858-1955)

Thánh Katarina Drexel, người Mỹ (1858-1955)

Chúc Bạn Mùa Chay Thánh tràn đầy ân sủng của Chúa nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 03/03/2022

        Hôm nay ngày 3/3 Giáo hội mừng kính Thánh Katarina Drexel, người Mỹ (1858-1955) Là người phụ nữ con nhà giầu: Katarina Drexel sinh tại Philadelphia năm 1858. Thuộc một gia đình giàu có bậc nhất Mỹ châu. Cha cô là một chủ ngân hàng, gốc người Công giáo nước Austria. Nhà có đường xe lửa riêng. Drexel mồ côi  mẹ khi mới chào đời được năm ngày. Năm sau cha cô đã tái giá, kết hôn với một người Công giáo đạo đức, Emma Bouvier. Người mẹ kế này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đời sống đạo đức trên Drexel. Cô được giáo dục tốt đẹp, và được đi du lịch nhiều nơi trên thế giới.

            Là một thiếu nữ con nhà giàu, Cô có một tương lai thật vững chãi, nhưng sau khi săn sóc người mẹ kế, bị bệnh ung thư trong ba năm, cô nhận thấy tiền bạc cũng không tránh khỏi đau khổ và chết chóc, nên cô đã hướng cuộc đời theo một đường khác.

            Khi ông Frances Drexel qua đời đã để lại một gia tài lớn lao khoảng 14 triệu đô la thời bây giờ. Ðược nuôi dưỡng với tinh thần bác ái Công giáo, các chị em cô nghĩ đây là một cơ may dùng gia tài để làm sáng danh Chúa và giúp đỡ những kẻ thiếu may mắn.

            Sau khi đọc tác phẩm “Một thế kỷ ô nhục” (A Century of Dishonor) của Helen Hunt Jackson, Bà cảm thấy những bất công của xã hội thời bây giờ đối với dân da màu nên Bà quyết tâm giúp đỡ họ. Trong một cuộc viếng thăm  Âu châu, Bà được triều kiến Ðức Giáo Hoàng Leo 13, và Bà đã xin ngài gửi nhiều nhà truyền giáo đến bang Wyoming giúp Ðức Giám mục James O’Connor bạn thân của Bà. Ðức Thánh Cha đã trả lời: “Sao con không là một nhà truyền giáo?” Câu trả lời đã đánh động tâm hồn Bà. San sẽ tiền của với tha nhân chưa đủ, theo Chúa là hiến dâng tất cả.

            Lúc trở về, Bà đến Dakota, gặp Red Cloud, tù trưởng Bộ lạc Sioux, Bà bắt đầu công việc truyền giáo và tích cực giúp đỡ người Da Ðỏ. Năm 1889, Bà đã thổ lộ cùng Ðức Cha O’Connor, “ngày lễ thánh Giuse đã mang lại cho con ân sủng lạ lùng là hiến dâng đời con cho Chúa để làm công việc truyền giáo giúp người Da Ðỏ và Da Màu. Bà đã cùng một số phụ nữ lập Dòng Nữ Tu Thánh Thể (Sisters of the Blessed Sacrament).

            Năm 1891 bà khấn như là sơ đầu tiên của dòng này. Dòng có mục đích rao giảng Phúc âm và Thánh Thể cho người da đỏ và người da đen. Bà lấy ngôi nhà cũ ở Pensylvania làm nhà đầu tiên cho dòng mới.

            Lập Dòng và hoạt động bằng tiền túi:  Sau 3 năm rưỡi, các bà xuống Santa Fe, bang New Mexico mở trường nội trú đầu tiên. Bà chi 12 triệu đôla tiền riêng của bà vào việc truyền giáo của dòng.  Bà đã lập 50 nhà truyền giáo cho người da đỏ trong 16 tiểu bang, và 40 trung tâm truyền giáo và 25 trường miền quê cho người da đen.

            Bà chống nạn kỳ thị màu da và bất công xã hội, kêu gọi giáo hội và nhà nước quan tâm đến người nghèo. Kì thị chủng tộc đã làm trở ngại công việc của Bà, ở tiểu bang Pensylvania có vài ngôi trường của Dòng Bà đã bị đốt cháy.

            Thánh Cabrini khuyên Bà nên xin Tòa Thánh phê chuẩn Luật Dòng và thánh nhân đã được toại nguyện. Công việc tốt đẹp hơn hết là thành lập Trường Ðại học Xavier ở bang New Orleans, đó là Ðại Học đầu tiên ở Hoa Kỳ dành cho người Da Ðen.

            20 năm đau bệnh: Ðến 77 tuổi sau một cơn đau tim Bà đã phải hưu trí. Bên ngoài thì hình như thánh Katharine đang hưu dưỡng, nhưng trong 20 năm ngồi trên xe lăn trong một phòng nhỏ hướng về nhà nguyện có trưng bày Thánh Thể, Bà không ngớt cầu nguyện.

            Những lời cầu nguyện cũng như những suy ngẫm của thánh nhân được ghi lại trên những mẫu giấy nhỏ. Cha Augustus Tolton, một linh mục da đen duy nhất thời bây giờ đã viết như sau: “Trong lịch sử Giáo Hội Hoa kỳ tôi chưa tìm được một người đã cho tất cả tài sản của mình cho dân Da Ðỏ và Da Màu. Như tôi đã là một linh mục da đen duy nhất ở Hoa kỳ thì Mẹ Katharine Drexel cũng là người duy nhất đã hy sinh tất cả cho các sắc dân bị áp bức đày đọa.”

            Mẹ Katharine Drexel đã về với Chúa lúc 96 tuổi và đã được Ðức Gíao Hoàng Phaolô 2 phong thánh cho Bà năm Thánh 2000. (Nguồn: Dân Chúa)

        Mời Bạn suy niệm những câu nói của Ngài sau đây và xin Thánh Katarina Drexel cầu bầu cho chúng ta hôm nay:

1/ Sự kiên nhẫn và khiêm tốn chịu đựng vác Thánh Giá – trong mọi hoàn cảnh – là việc cao cả nhất mà chúng ta phải làm. (Thánh Katarina Drexel)

2/ Nếu chúng ta muốn phục vụ Chúa và yêu thương tha nhân, chúng ta phải thể hiện niềm vui của mình trong khi phục vụ. Hãy mở rộng con tim, lấy niềm vui làm lời mời gọi. Tiến tới và đừng sợ gì hết. (Thánh Katarina Drexel)

Câu nào đánh động bạn nhất?

From: Đỗ Dzũng

Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết lên án Nga, Việt Nam bỏ phiếu trắng

Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết lên án Nga, Việt Nam bỏ phiếu trắng

RFA
2022.03.02

Đại hội đồng LHQ bỏ phiếu thông qua nghị quyết lên án Nga hôm 2/3/2022

 AFP

Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc hôm 2/3 đã thông qua nghị quyết lên án Nga xâm lược Ukraine, đồng thời kêu gọi Nga phải rút quân ngay lập tức.

Nghị quyết được thông qua với 141 phiếu tán thành trong tổng số 193 phiếu. Việt Nam, Cuba, Venezuela, và Trung Quốc nằm trong số 35 nước bỏ phiếu trắng. Năm nước bỏ phiếu chống bao gồm Nga, Belarus, Bắc Hàn, Eritrea và Syria.

Nghị quyết mới không có tính ràng buộc của LHQ lên án với lời lẽ mạnh nhất chống lại hành động xâm lăng của Nga đối với Ukraine, yêu cầu Nga phải ngay lập tức ngưng sử dụng các lực lượng vũ trang chống lại Ukraine, ngay lập tức và vô điều kiện rút toàn bộ quân đội khỏi Ukraine.

Việc bỏ phiếu diễn ra khi Đại hội đồng LHQ tổ chức phiên họp khẩn về vấn đề Ukraine từ hôm 28/2 với việc đại diện các nước lên phát biểu bày tỏ quan điểm của mình về cuộc chiến Nga – Ukraine.

Đại sứ Việt Nam tại LHQ Đặng Hoàng Giang hôm 1/3 đã nêu lập trường chính thức của Việt Nam về cuộc chiến này. Bài phát biểu của đại diện Việt Nam có thể coi là mạnh mẽ nhất trong các phát biểu chính thức được Chính phủ Việt Nam đưa ra kể từ khi cuộc chiến bắt đầu một tuần trước đó.

Trong bài phát biểu của mình, Đại sứ Đặng Hoàng Giang dù không chỉ đích danh Nga, nước có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Việt Nam, nhưng đã lên án các cuộc chiến tranh mà ông cho rằng bắt nguồn từ “các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị, áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế”.

Đại sứ Việt Nam tại LHQ cũng nhấn mạnh đến vấn đề giải quyết tranh chấp bằng phương cách hoà bình theo luật quốc tế và tôn trọng chủ quyền của các nước liên quan. Ông nói:

“Mọi tranh chấp quốc tế cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ, bao gồm các nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền, độc lập chính trị và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Tất cả các quốc gia lớn hay nhỏ đều phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản này.”

Kể từ khi Nga tấn công Ukraine cho đến nay, Việt Nam vẫn tránh dùng từ xâm lược khi nói về cuộc chiến này. Báo chí Nhà nước Việt Nam thường gọi cuộc chiến do Nga phát động là “hoạt động quân sự đặc biệt”.

Trong khi đó một số tướng lĩnh đã về hưu của Việt Nam và dư luận viên trong nước ủng hộ hành động của Nga trước Ukraina, một quốc gia độc lập và là thành viên của LHQ.