Chuyến hành hương tế nhị của Thủ tướng Việt Nam

Chuyến hành hương tế nhị của Thủ tướng Việt Nam

Asia Sentinel

Tác giả: David Brown

Song Phan, dịch

5-5-2022

Thủ tướng Phạm Minh Chính đang phát biểu tại một hội nghị năm 2021. Nguồn: VGP

Thách thức đối ngoại lớn nhất của Phạm Minh Chính tại thủ đô Hoa Kỳ

Thủ tướng Phạm Minh Chính sẽ dẫn đầu đoàn quan chức cấp cao tới Washington trong tuần tới. Trước khi họ tham gia “Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt châu Á” ngày 12 và 13 tháng 5 của Tổng thống Joe Biden, hậu quả trực tiếp của việc Nga xâm lược Ukraine rất có thể sẽ chi phối các cuộc tham vấn song phương với những người đồng cấp Mỹ.

Cuộc chiến của Putin đã làm lung lay giả định cơ bản về vị thế quốc phòng của Việt Nam: Việc Nga sẽ tiếp tục là nhà cung cấp đáng tin cậy cho hệ thống vũ khí mà nước này cần để ngăn chặn sự xâm lược của Trung Quốc. Nó (cuộc chiến của Putin) đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho mối quan hệ đôi bên cùng có lợi, cho cả Nga và Việt Nam.

Đó là một ràng buộc có từ thời Liên Xô, viện trợ cho chế độ cộng sản Việt Nam khi họ chiến đấu để bảo đảm nền độc lập của Việt Nam và sau đó là thống nhất đất nước dưới sự thống trị của Hà Nội. Ở Việt Nam, Nga vẫn được tôn vinh là nước chủ trì viện trợ kinh tế hào phóng trong thập niên sau chiến tranh khi Việt Nam kết thúc, vật lộn trong việc xây dựng nền kinh tế chỉ huy kiểu Liên Xô. Vài thập niên sau, giờ đây đã thành công trong việc đổi tên nền kinh tế Việt Nam thành kinh tế “thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, nhưng cảnh giác với tham vọng của Trung Quốc, lãnh đạo đất nước đã chọn dựa vào Moscow để có các hệ thống vũ khí công nghệ cao tương đối rẻ tiền, bao gồm tàu chiến, máy bay chiến đấu – ném bom, tàu ngầm tấn công, và hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển.

“Giấc mộng Trung Hoa” của Tập Cận Bình là ác mộng đối với Việt Nam, một mối đe dọa mà Hà Nội đã tìm cách chống đỡ qua việc xây dựng khả năng răn đe, tỏ lòng tôn kính và nhấn mạnh lợi ích kinh tế chung. Đó vừa là một chiến lược xưa cũ, từng cho thấy có hiệu quả khi Trung Quốc hành động phô trương, vừa là một loạt chính sách cho phép Việt Nam hiện đại duy trì mối quan hệ mang tính xây dựng có chừng mực với nước láng giềng khổng lồ.

Tuy nhiên, giờ đây, Hà Nội không thể yên tâm về việc có trong tay một bộ hệ thống vũ khí được chế tạo ở Nga. Trong tương lai gần, Việt Nam khó có thể mua vũ khí của Moscow mà không kích động cái gọi là ‘lệnh trừng phạt thứ cấp’. Hà Nội có vẻ hiểu ra điều đó. Ông Chính đã đồng ý với ông Fumio Kishida, thủ tướng mới của Nhật hôm 30 tháng 4 rằng, “ở bất kỳ khu vực nào, việc thay đổi hiện trạng bằng vũ lực là khó có thể chấp nhận được“.

Chính và các đồng sự phải nói năng cẩn thận ở Washington. Ở đó, sự chú ý vẫn được tập trung vào cuộc khủng hoảng ở Ukraine. Nhiều người vốn đang chỉ đạo cuộc đối đầu [cuộc chiến] ủy nhiệm với Nga, lại thiếu sự hiểu biết tinh tế về lợi ích của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương. Trong việc ủng hộ Ukraine, Việt Nam (dù có những lý do chính đáng) đã lỗi nhịp so với các nước bạn bè còn lại của Mỹ, và điều đó không xứng hợp với nhóm coi châu Âu là trung tâm trong việc thiết lập chính sách đối ngoại của Mỹ.

Việc thủ tướng Việt Nam có mặt tại Washington có thể làm dấy lên bình luận tiêu cực. Những người đối thoại gay gắt có thể hỏi, tại sao Mỹ không trừng phạt vụ Hà Nội mua các hệ thống vũ khí của Nga và chỉ trích việc Hà Nội không tham gia bỏ phiếu lên án cuộc chiến của Putin ở Liên Hiệp quốc.

Ông Chính được cho là có triển vọng sẽ kế vị người bảo trợ của mình, ông Nguyễn Phú Trọng, khi nào người đứng đầu đảng Cộng sản, hiện 78 tuổi, quyết định nghỉ hưu hoặc không thể tiếp tục công việc vì một cơn đột quỵ nữa. Các cuộc gặp ở Washington là sự kiểm nghiệm đối ngoại lớn nhất của Chính cho đến nay; đồng liêu lẫn đối thủ của ông sẽ chăm chú theo dõi.

‘Cẩn thận trong phát biểu” không có nghĩa là không nói gì. Sẽ là khôn ngoan nếu Chính thể hiện sự đồng cảm thật sự với Ukraine và tỏ sự thất vọng với Nga, một người bạn đáng tin cậy lâu năm của chế độ Hà Nội, đã “đi chệch hướng”. Ông nên khẳng định một cách thẳng thắn và dứt khoát rằng, Việt Nam đã dựa vào các hệ thống vũ khí mua của Moscow để bảo vệ lợi ích của mình trước những phần tử hiếu chiến ở Bắc Kinh. Ông có thể nói, đó là vấn đề mà ông hy vọng Mỹ có thể giúp giải quyết.

Chính quyền Biden tự hào về “chủ nghĩa hiện thực thực dụng”, nhưng những người đối thoại Mỹ dường như bị ám ảnh bởi lập trường giả vờ không chọn phe lâu nay của Việt Nam. Với quan hệ hợp tác song phương ngày càng sâu rộng và ngày càng lớn mạnh, nhằm mục đích làm giảm bớt tham vọng của Bắc Kinh ở biển Đông, Mỹ đã thúc ép Hà Nội nâng cấp mối quan hệ được mô tả là song phương. Họ nói, quan hệ đó phải là ‘chiến lược’, chứ không chỉ là ‘toàn diện’.

Giả định rằng, Bộ Chính trị Việt Nam đã “xử lý” (suy nghĩ kỹ về) các tác động đối với Việt Nam từ cuộc chiến của Putin ở Ukraine, thì một tuyên bố chung rằng, Việt Nam và Hoa Kỳ từ nay trở thành ‘đối tác chiến lược’ sẽ có thể là một điều dễ dàng đối với Hà Nội.

Có nhiều khả năng là Tổng thống Biden và những người khác đối thoại với phái đoàn ông Chính sẽ thúc giục Việt Nam ngừng mua sắm vũ khí do Nga cung cấp và bảo dưỡng. Đáp lại, ông Chính có thể chỉ ra điều hiển nhiên: Nếu Washington muốn Hà Nội loại bỏ vũ khí của Nga, thì cũng nên giúp Việt Nam tìm cách khác để có đủ khả năng (như Ukraine), gia tăng khả năng phòng thủ lãnh thổ và chủ quyền.

Ấn Độ cũng phụ thuộc đáng kể vào các hệ thống vũ khí mua của Nga. Có lẽ Mỹ có thể thúc đẩy hợp tác ba bên để đáp ứng nhu cầu bảo trì và giúp cả Việt Nam lẫn Ấn Độ vượt qua các thách thức mua sắm quốc phòng trong tương lai.

Nếu Washington và Hà Nội đồng ý gọi quan hệ hai bên là chiến lược cũng như toàn diện, thì cả hai đều có trách nhiệm phải hành động phù hợp trên tất cả các lĩnh vực. Việt Nam vẫn là một trong số 11 nước bị Mỹ coi là ”nền kinh tế phi thị trường”. Nhãn hiệu đó đúng 25 năm trước nhưng bây giờ quả là vô lý; Việt Nam nên được loại khỏi danh sách.

Về phía Việt Nam, có một khiếu nại thương mại cần phải điều tra khẩn cấp, về các tấm pin năng lượng mặt trời được cho là sản xuất ở Trung Quốc và sau đó, sau gia công chút ít bề ngoài ở Việt Nam hoặc ở nước nào khác của Đông Nam Á, được xuất khẩu sang Mỹ. Nếu đúng – và có vẻ đúng phần nào – các nước đã cho phép sự thông đồng này, có nguy cơ bị trừng phạt nặng nề. Ở đây, ông Chính một lần nữa nên sẵn sàng với các dữ kiện. Nếu quả thật các nhà xuất khẩu của Việt Nam nằm trong số đang giúp cho sự gian lận các linh kiện tấm pin mặt trời do Trung Quốc sản xuất, thì Việt Nam nên nhanh chóng đóng cửa các nhà xuất khẩu này.

_______

Tác giả: David Brown là một nhà ngoại giao Hoa Kỳ đã nghỉ hưu, một cộng tác viên lâu năm của Asia Sentinel. Ông Brown có nhiều bài viết về các vấn đề chính sách công ở Việt Nam. Bản dịch này đã được ông Brown chỉnh sửa, dành cho độc giả người Việt, có thể có vài chi tiết khác với bản tiếng Anh.

HAI NỀN GIÁO DỤC CHO RA HAI LOẠI NGƯỜI

HAI NỀN GIÁO DỤC CHO RA HAI LOẠI NGƯỜI:

Nếu con người được giáo dục trong tình yêu thương, lớn lên trong sự lễ, nghĩa và trưởng thành trong liêm, chính thì sẽ không thể làm điều ác, lại càng không thể trở thành kẻ ác được.

Nhưng trái lại, kẻ hoạt đầu, không biết đến điều nhân, lễ, nghĩa, không biết đến tín, trung, bỏ cả đường liêm, chính quy thuận sự vô luân, tôn thờ chủ nghĩa tam vô như:

” Yêu biết mấy nghe con tập nói / Tiếng đầu lòng con gọi Sta-lin…/

Thương cha thương mẹ thương chồng / Thương mình thương một thương ông thương mười! ” ;

” Bên kia biên giới là nhà / Bên nay biên giới cũng là quê hương / Bên ni biên giới là mình / Bên kia biên giới cũng tình quê hương” v.v…

(Tố Hữu).

Như vậy phải chăng xác nhận nước tàu được kéo dài mãi đến tận Mũi Cà Mau? Chưa biết sao, nhưng trước mắt từ cái nền giáo dục, văn hóa của ông Tố Hữu đã lồ lộ cái họa cho đời, cho đất nước, dân tộc này lắm rồi… 

Từ những con đường bị một nền giáo dục nhồi nhét đó thì ai cũng hiểu và biết rằng hậu quả đường chúng ta hôm nay sẽ đi về đâu nếu tiếp tục? (Đại cục đang lừng lững trước mắt mà ám ảnh thời kỳ Khơme đỏ năm nào)

Một con người, một dân tộc không thể trưởng thành, đứng vững nếu như không biết tự võ trang cho mình thông qua nền giáo dục những cái Dũng của thánh nhân nhờ tín ngưỡng ban cho, cái Khí Tiết của hào kiệt của ông cha ban tặng từ nguồn gien bất khuất, cái Tâm của Nhân Bản do nền giáo dục tự do, khai phóng đem đến để làm nền tảng làm Người, làm nền tảng cho một xã hội. Nền giáo dục tốt thì nhận thức sẽ mạnh mẽ, không chấp nhận nghịch cảnh bao giờ: Có thể nghèo khó, mồ côi là một định kiến, một lối mòn mà xã hội muốn thử thách ta, xem thường ta thậm chí miệt thị ta. Nhưng, như cái lò xo càng dồn nén khó khăn thì tích tụ một sức bật khủng khiếp.. Nhớ rằng:” Mọi ông chủ vĩ đại đều từng là những người làm công ở vị trí thấp nhất. Họ đều rẽ trái trong khi mọi người rẽ phải. Họ có những quyết định không theo đám đông, không cam chịu sống một cuộc đời tầm thường, nhạt nhoà rồi chết “.

Nếu không được trang bị hay tự nhận thức được như vậy thì cái Trí của con người được học mót đâu đó thay vì giúp ích cho tha nhân, lại thành kẻ vị kỷ mà gây họa cho xã hội. Bởi khi bỏ một trong Liêm, Minh, Chính là nền tảng luân lý của xã hội thì chắc chắn phải bước vào đường bạo ác, bỏ chính quy tà đem họa cho dân, cho nước.

Mấy ai dám nghĩ về một “Làng chài nhỏ bé ” không có đất, không có ruộng, không có nước” nhưng biết tạo cho mình những phẩm chất giá trị để quyến rủ các siêu cường đến với mình và không thể bỏ rơi mình, để phục vụ cho mình, để hợp tác, buôn bán làm ăn, tạo nên giàu có cho mình để trở thành một đất nước Singapore phồn thịnh, hùng cường hôm nay.

Và một đất nước khác, Israel nhỏ bé, ít dân nhưng với ý chí vượt khó và hoài bão lập nghiệp, lập thân, lập quốc, biết ý thức muốn tồn tại thì phải có sức khỏe để xây dựng nên được nền y tế cao, biến sa mạc cằn cỗi, hoang tàn, khí hậu khắc nghiệt thành một vùng đất có nền nông nghiệp trù phú năng suất cao, chất lượng cao. Họ còn ý thức muốn vươn lên thì phải có những con người mạnh mẽ, dám đương đầu với mọi nghịch cảnh hay đe dọa nên họ cũng có một nền giáo dục đặc biệt để ai ai cũng có thể làm được nhiều việc mà việc nào cũng làm tốt, dám xả thân cho Tổ quốc, cho dân tộc mình…

From: Công Trung Nguyen

Sổ tay thường dân Tưởng Năng Tiến – Nổ

Thế sự xác rồi còn đốt pháo (Tú Xương)

Nhà văn Bá Dương có cái tật xấu là hay viết những điều không tốt lành gì mấy về đồng bào mình: “Nói đến ồn ào, cái mồm người Trung Quốc thì to không ai bì kịp.”

Nhận định tiêu cực này được rất nhiều người, nhất là người Việt, nhiệt liệt tán đồng. Tác phẩm Người Trung Quốc Xấu Xí của ông được dịch giả Nguyễn Hồi Thủ chuyển sang Việt ngữ, và bán chạy như tôm tươi.

Trong số độc giả ái mộ Bá Dương, tôi đoán, chắc phải có nhà báo Ngô Nhân Dụng – tác giả của đoạn văn sau:

“Ở Việt Nam bây giờ, trong quán có mấy người cao hứng nói lớn tiếng, tranh nhau nói lấy được, không ai nhường ai, át giọng tất cả mọi người. Lúc đó, chỉ cần một người can ngăn: ‘Ông ơi, đừng nói lớn quá! Người ta tưởng bọn mình người Trung Quốc!’ Nhắc nhở vậy đủ rồi! Người đang cười nói oang oang bỗng đỏ mặt, cái miệng tự đạp thắng, hạ thấp tần số vừa đủ nghe!”

Nói nào ngay thì chả riêng gì Ngô Nhân Dụng mà chính tôi cũng thế, cũng nghĩ về người Trung Hoa với ít nhiều méo mó cùng ác cảm. Thành kiến này, của riêng tôi, chỉ vừa mới “sụp đổ” hôm qua.

Chính xác hơn là đêm qua, sau một chuyến xe đò đường dài – từ Kuala Lumpur đến Singapore – tôi mệt rã rời nên lấy phòng khách sạn xong là lăn ra ngủ say như chết. Mở mắt dậy thì đã khuya, bụng đói, tôi lò dò vào một tiệm ăn đèn đuốc vẫn còn sáng trưng. Vừa ngồi xuống ghế, đã thấy ngay bên cạnh mình là hình một tô hoành thánh mì, cùng dòng chữ song ngữ (Please Keep The Volume Down While Eating After 10:30 PM) dán ngay trên tường.


Ảnh chụp 2019

Thảo nào mà quán đông nhưng không ồn. Hoá ra không phải lúc nào người Tầu cũng tía lia và um xùm như thiên hạ vẫn tưởng. Có nơi, và có lúc, họ cũng ăn nói nhỏ nhẹ bình thường như đa phần nhân loại. Dân Việt Nam thì xem chừng hơi khác, nhất là cái dàn lãnh đạo của đất nước này. Họ nổ long trời, và nổ đều đều – ở khắp mọi nơi – trong mọi tình huống (bất kể giờ giấc) khiến cả thế giới đều bị … ù tai:

– Nguyễn Phú Trọng: “Nhìn tổng quát, đất nước có bao giờ được như thế này không?”
– Nguyễn Thị Kim Ngân: “Đất nước này được như thế này, ngẩng mặt lên nhìn với bạn bè năm châu bốn biển như thế này, vai trò vị thế như thế này đó là do chúng ta duy trì được sự ổn định chính trị và trật tự an toàn trong cả nước.”
– Nguyễn Xuân Phúc: “Đã đến lúc phải đi ra chinh phục thế giới, mang thế giới về Việt Nam.
– Nguyễn Mạnh Tiến: “Người bán trà đá tại Việt Nam có tỷ suất lợi nhuận cao nhất thế giới.”
– Nguyễn Thành Phong: “Đủ cơ sở để thành phố Hồ Chí Minh vào top 10 thành phố đẳng cấp của thế giới.”
– Nguyễn Mạnh Hùng: “Việt Nam có thể đi đầu cách mạng công nghiệp 4.0”
– Nguyễn Xuân Thắng: “Việt Nam giúp Đức ‘tìm lại những mặt ưu việt’ của CNXH hiện thực trước đây”

Thực là một tấc đến Giời. Mà đó là mới điểm sơ vài vị họ Nguyễn thôi, chớ gộp chung bá tính lại thì chắc mệt chết luôn. Giấy mực đâu ra mà ghi cho hết. Giới lãnh đạo đã lớn họng rồi mà đám truyền thông còn chuyên việc “khuếch âm” nữa nên khó tránh được những vụ nổ chát chúa (“vượt bức tường âm thanh”) như vừa xẩy ra ở báo Thanh Niên:

Việt Nam Trung Tâm Hoà Giải Quốc Tế.”

Nổ tới cỡ đó thì có lẽ ngay cả đến Chúa/Phật cũng phải nổi khùng, chớ đừng nói chi tới đám facebookers:

– Ngô Thanh Tú: “Trung tâm hoà giải quốc tế con mẹ gì, toàn là lũ thủ dâm tinh thần thôi.”
– Ngô Nhật Đăng: “Bệnh đã đến giai đoạn bốc mùi xú uế nồng nặc. Mỗi việc phải hòa giải với nhân dân mà bao nhiểu năm đảng chưa làm được.”
– Vĩnh San: “Chắc chắn TP Hồ Chí Minh sẽ có giải Nobel Y học nếu như có ai đó chữa khỏi bệnh ‘nổ’ cho các bác lãnh đạo.”
– Nguyễn Văn Đài: “Đây là chứng ‘hoang tưởng tự cao.’

Tôi vô cùng tiếc là không thể đồng tình với quan điểm của các vị thức giả thượng dẫn. Theo tôi thì đám lãnh đạo CSVN chả có ai bị bệnh tật hoang tưởng gì ráo trọi. Tất cả đều “nổ” như nhau, theo đúng truyền thống và phương châm chỉ đạo (“mồm miệng đỡ chân tay”) thôi.

Cha đẻ của chế độ hiện hành, Hồ Chí Minh, là kẻ đã khai hoả cho những phát nổ đầu tiên:

– “Từ giờ phút này trở đi các em nhận một nền giáo dục hoàn toàn Việt Nam, một nền giáo dục của một nước độc lập.”
– “Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

Sau khi “thắng giặc Mỹ,” Lê Duẩn nổ tiếp:

– “Chúng ta sẽ đuổi kịp Nhật trong 15, 20 năm và nhân dân ta sẽ đi trên thảm vàng.”

Rồi khi Lê Duẩn đã dẫn dắt “nhân dân đi trên thảm vàng” để vào ngõ cụt. Tuy thế, kẻ kế vị – Trường Chinh – vẫn không hề nao núng và vẫn lớn tiếng như thường: “Đảng ta phải cứu lấy giai cấp công nhân.”

Trường Chinh qua đời năm 1988. Hơn ba mươi năm sau, vào ngày 27 tháng 2 năm 2019, Tổ Chức Liên Kết Oxfam ái ngại cho biết: “Tại Việt Nam hiện nay, có tới 99% công nhân may không được trả lương đủ sống căn cứ trên mức sàn lương châu Á và 74% không được trả lương đủ sống căn cứ trên mức sàn của Liên minh lương đủ sống toàn cầu.”

Blogger Trân Văn nhận xét: “Kết quả cuộc khảo sát vừa kể thật ra không mới. Tình trạng công nhân lao động cật lực nhưng càng ngày càng nghèo khổ, sống triền miên trong cảnh thiếu trước hụt sau, cả tinh thần lẫn sức khỏe cùng suy sụp sau một thời gian ngắn tham gia ‘giai cấp lãnh đạo cách mạng Việt Nam’ đã kéo dài vài thập niên.”

Dù vậy – “vài thập niên” qua – các đồng chí lãnh đạo vẫn cứ thay nhau nổ ròn rã, nổ đều đều, và nổ tỉnh queo hà:

– Nguyễn Minh Triết : “Ngày nay, chúng ta ngẩng cao đầu, sánh vai cùng cường quốc…”
– Trương Tấn Sang :“Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của gần 30 năm đổi mới mà nhân dân ta đạt được khiến chúng ta hãnh diện và tự hào, bạn bè quốc tế ngưỡng mộ.”


Ảnh lấy từ FB Thanh Pham

Nói như rồng leo, làm như mèo mửa. Mồm miệng đỡ chân tay vốn là truyền thống lâu đời của chế độ hiện hành. Từ năm 1951, tại Đại Hội II, điều lệ của đảng đã ghi: “Tư tưởng Mao Trạch Đông là kim chỉ nam’ của đảng.” Bởi thế, đường lối/ chính sách (Cải Cách Ruộng Đất, Chỉnh Đốn Tổ Chức, Tam Phản, Rèn Cán Chỉnh Quân, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Hợp Tác Xã Công Nông, Phát Động Chiến Tranh Giải Phóng Miền Nam …) đều do bác Mao chỉ đạo. Bác Hồ chỉ có mỗi việc là sáng tác thơ để minh họa và để … nổ chơi thôi: Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”

Bác Duẩn – xem ra – có vẻ độc lập và độc đáo hơn chút xíu. Ông lập thuyết (Làm Chủ Tập Thể) đàng hoàng nhưng xem chừng không được hưởng ứng và tin tưởng gì cho lắm: Riêng còn chẳng có có gì chung!

Chỉ có Bác Chinh là nổi bật về trình độ học vấn và khả năng sáng tạo. Tạp Chí Cộng Sản mô tả ông là “nhà thiết kế đường lối đổi mới của Đảng ta.”

Bộ thiệt vậy sao?

Thiệt ra, thằng chả không có “thiết kế” cái con bà gì ráo mà chỉ ở vào tình thế bắt buộc phải lựa chọn một thế cờ (“đổi mới hay là chết”) do nhân dân đã sắp sẵn rồi.

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn nhận xét hoàn toàn chính xác là về “khoa ăn nói” của giới lãnh đạo CSVN: “Họ không nói được cái gì cụ thể, mà chỉ xoay quanh các khẩu hiệu quen thuộc, kiểu như ‘dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh…’

Cứ “xoay quanh các khẩu hiệu” như thế mãi thiệt là ớn chè đậu nên lâu lâu “các anh ở trên” phải nổ một phát để … kích thích lòng dân. Cũng chỉ là một chiêu “mồm miệng đỡ tay chân” thôi. Tưởng cũng không có gì đáng để bận tâm hay rầm rĩ quá!

Tưởng Năng Tiến

Việt Nam sử dụng tội danh “trốn thuế” để tấn công người bất đồng chính kiến

Việt Nam sử dụng tội danh “trốn thuế” để tấn công người bất đồng chính kiến

Asia Times

Tác giả: David Hutt

Trúc Lam, chuyển ngữ

4-5-2022

Các nhà chức trách Việt Nam gia tăng các vụ trốn thuế đối với các nhà hoạt động, nhằm làm nhẹ bớt tình hình đàn áp của họ.

Chính quyền Việt Nam có một lịch sử lâu dài trong việc dẹp tan bất đồng chính kiến. Nguồn: Facebook

Ngày 11 tháng 1, ông Mai Phan Lợi là người sáng lập và là chủ tịch của tổ chức phi lợi nhuận Trung tâm Truyền thông Giáo dục Cộng đồng, đã bị kết án bốn năm tù về tội “gian lận thuế”.

Cùng ngày, bà Ngụy Thị Khanh là người sáng lập một nhóm môi trường, cũng đã bị chính quyền Hà Nội bắt giữ, với cáo buộc tương tự về tội “trốn thuế”, có thể bị kết án lên tới bảy năm tù.

Vài ngày sau, ngày 24 tháng 1, ông Đặng Đình Bách, Giám đốc một nhóm xã hội dân sự khác là Trung tâm Nghiên cứu Pháp luật và Chính sách Phát triển Bền vững, cũng bị bỏ tù năm năm về tội “trốn thuế”.

Đàn áp [những người bất đồng chính kiến] khá phổ biến ở Việt Nam, một đất nước độc đảng, nơi Đảng Cộng sản cai trị không bị thách thức, kể từ năm 1975.

Nhưng tình hình đối với các nhà hoạt động và bất đồng chính kiến trở nên tồi tệ hơn kể từ khi ông Nguyễn Phú Trọng giành được nhiệm kỳ thứ hai với tư cách là người đứng đầu đảng hồi năm 2016, và càng tệ hơn nữa sau khi ông giành được nhiệm kỳ thứ ba chưa từng có tiền lệ hồi năm ngoái. Nhiều đồng đảng của ông có tư tưởng tự do hơn cũng đã bị gạt ra ngoài lề, mở đường cho những người bảo thủ trong đảng.

Hiện có 206 nhà hoạt động đang bị giam giữ trong tù và 334 người khác có nguy cơ bị bắt, theo Dự án 88, một nhóm độc lập giám sát tù chính trị. Phóng viên Không Biên giới cho rằng, Việt Nam là nhà tù lớn thứ ba trên thế giới của các nhà báo và blogger.

Thời hạn án tù cũng đang tăng lên. Trong số 32 người bị bỏ tù hồi năm 2021 vì “tội” chính trị, gần hai phần ba đã bị kết án năm năm tù trở lên. Năm 2020, con số này chưa tới phân nửa.

Thường thì chính quyền cộng sản đưa ra các cáo buộc khá nhạt nhẽo. Nhiều nhà hoạt động bị bỏ tù vì “làm và phổ biến tài liệu tuyên truyền chống nhà nước“, một tội danh được xác định mơ hồ đến mức nó có thể được sử dụng để chống lại bất kỳ nhà hoạt động dân chủ bất đồng chính kiến nào, hoặc người sử dụng Facebook không may có bài đăng quan trọng nào bị những người kiểm duyệt nhắm tới.

Nhưng các nhà chức trách đã tăng cường vũ khí của họ. Ngày càng cảnh giác với những lời chỉ trích từ nước ngoài trong bối cảnh xu hướng ấm lên với phương Tây, chính phủ thường thuê những tên côn đồ, sử dụng các hành vi thô bạo đối với các nhà hoạt động, thay vì bắt giữ họ. “Lạm dụng các quyền tự do dân chủ“, theo điều 331 của Bộ luật Hình sự, cũng đã được sử dụng phổ biến hơn trong những năm gần đây.

Bây giờ tội “trốn thuế” đang được thêm vào các tội để đàn áp. Có một “mô hình mới nổi và đáng lo ngại trong việc sử dụng luật thuế của Việt Nam để hình sự hóa các nhà hoạt động môi trường, và theo sau mục tiêu lớn hơn nhắm tới các nhà lãnh đạo xã hội dân sự, cũng như thu hẹp không gian xã hội dân sự“, Liên đoàn Nhân quyền Quốc tế và Ủy ban Nhân quyền Việt Nam cho biết, trong một báo cáo gần đây.

Các nhà phân tích nói rằng, các lý do tăng gấp đôi.

Đầu tiên, đó là một phương tiện rõ ràng là ít đàn áp hơn. Chính phủ nước ngoài có thể dễ dàng phàn nàn về điều kiện nhân quyền tồi tệ của Việt Nam khi một nhà hoạt động bị bỏ tù vì “tuyên truyền chống nhà nước“, một sự thừa nhận trần trụi của chế độ chuyên chế. Nhưng điều khó hiểu hơn đối với các quan sát viên nước ngoài rằng, liệu đưa chuyện thuế má ra để đàn áp một nhóm xã hội dân sự là thực thi pháp luật nặng tay hay công bằng.

Đối với người Dân Việt Nam, [sử dụng lý do thuế má để bắt bớ] cũng gây ấn tượng hơn. Ông Trọng, người đứng đầu đảng Cộng sản, đã làm cho mình nổi tiếng với công chúng qua chiến dịch chống tham nhũng “đốt lò” của ông ta, một chiến dịch chống tham nhũng hiệu quả nhất của đảng trong nhiều thập niên.  Những người giàu có và nổi tiếng, bao gồm cả các tỷ phú tư bản, đã được đưa ra như một phần của chiến dịch, trong khi vài đại án, án tử hình thậm chí đã bị kêu án.

Như vậy, các vấn đề thuế của các nhà hoạt động và các tổ chức phi chính phủ có thể được đóng khung như một phần của chiến dịch chống tham nhũng. Luật pháp địa phương hỗ trợ chính quyền vì tính hợp pháp của các tổ chức phi chính phủ hoặc các tổ chức xã hội dân sự (XHDS) không rõ ràng ở Việt Nam.

Thực tế là các tổ chức phi chính phủ này đã hoạt động trong khu vực xám, không thể tuân theo các sắc lệnh hà khắc và phi thực tế của đảng CSVN, để các ủy ban tỉnh và chính quyền địa phương chấp thuận cuối cùng về các kế hoạch xã hội dân sự“, ông Phil Robertson, phó giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, cho biết.

Ông Robertson nói thêm: “Bây giờ sự giám sát để mắt tới các khoản quyên góp và thuế má, các tổ chức phi chính phủ không có nơi nào để che giấu, đó là tất cả những gì cho thấy nỗ lực [của Đảng Cộng sản] đưa họ vào và đặt họ dưới sự kiểm soát chặt chẽ hơn. Đây là về quyền lực hơn là thuế, và buộc các tổ chức phi chính phủ phải xoa dịu đảng mà tránh các chủ đề quan trọng“.

Những người thật sự thất bại trong toàn bộ tình huống này sẽ là người dân Việt Nam, những người được hưởng lợi từ các chương trình phi chính phủ, nổi lên một phần vì đảng Cộng sản Việt Nam thiếu quan tâm và ưu tiên giải quyết các vấn đề thật sự mà người dân địa phương phải đối mặt“, ông Robertson nói thêm.

Các nhà phân tích nói, một lý do khác là chính quyền cộng sản đang chuyển tầm nhìn của họ ra khỏi những người bất đồng chính kiến, những người mà bây giờ họ đã nghiền nát một cách hiệu quả, và vào khu vực tổ chức phi chính phủ không chính thức.

Trong những năm gần đây, nhiều tổ chức đã mọc lên để vận động bảo vệ môi trường, quyền sử dụng đất và bảo vệ người lao động. Một phần, điều này là do nhiều nhà hoạt động nghĩ rằng họ sẽ an toàn hơn khi tiến hành các chiến dịch của họ thông qua một tổ chức, cho phép họ cùng làm việc với nhau và được cho là có được phần nào sự bảo vệ chống lại nhà nước.

Họ cũng được khuyến khích bởi các chính phủ nước ngoài. Khi Việt Nam ký hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu hồi năm 2019, chính phủ cộng sản tuyên bố sẽ dành nhiều không gian hơn cho các nhóm xã hội dân sự. Brussels coi đây là sự tiến bộ và nhiều nhà hoạt động Việt Nam tin rằng đó là sự cường điệu.

Hơn nữa, trong khi đàn áp qua các cáo buộc về thuế, có thể mới lạ, nhưng nó thật sự bắt nguồn từ một xu hướng lịch sử và vĩnh viễn trong cuộc chiến của đảng Cộng sản để dập tắt bất kỳ sự chống đối có ý nghĩa nào.

Năm 2006, các nhà hoạt động cùng nhau thành lập Khối 8406, một liên minh tập trung vào một tuyên ngôn kêu gọi cải cách dân chủ và được cho là phong trào ủng hộ dân chủ đầu tiên của đất nước.

Nó tồn tại chỉ trong vài tháng nhưng đại diện cho một xu hướng rộng lớn hơn: Các cá nhân và các nhóm nhỏ khác nhau đã tham gia cùng nhau để tạo thành các tổ chức phân cấp, rộng lớn hơn. Hai công đoàn độc lập đầu tiên của đất nước được thành lập cùng năm. Các nhà báo độc lập và các blogger cũng thành lập các hội nhóm.

Do vậy, hoạt động đã chuyển từ cá nhân sang cộng đồng, một vấn đề đối với nhà cầm quyền cộng sản vì họ có thể dễ dàng chọn ra các nhà hoạt động bị cô lập hơn. Nỗ lực thành lập các liên minh này đã thất bại vào năm 2006, phần lớn là do sự đàn áp. Nhưng chúng lại mọc lên nhiều năm sau đó, chẳng hạn như khi những người sáng lập Khối 8406, thành lập Hội Anh em Dân chủ vào năm 2013, một lần nữa đã bị dập tắt, nhưng đó là thông điệp bị mắc kẹt.

Ngay sau khi ông giúp thành lập Hội Anh em Dân chủ, ông Nguyễn Văn Đài, một luật sư bất đồng chính kiến hiện đang sống lưu vong, tuyên bố rằng, các phong trào ở Việt Nam “chỉ dựa trên cá nhân” và “không có sự phối hợp. Đó là lý do tại sao họ yếu“. Ông nói tiếp: “Đã đến lúc các nhà hoạt động dân chủ trong nước tập hợp lại để thảo luận và tìm ra con đường ngắn nhất cho nền dân chủ ở Việt Nam“.

Chu kỳ lặp lại. Đối với chính quyền cộng sản, các tổ chức phi chính phủ và các tổ chức XHDS mới đặt ra một mối đe dọa tương tự đối với quyền lực của họ như các liên minh dân chủ và vận động trong quá khứ: Mọi người tụ họp, trò chuyện và vận động trong những không gian mới, không rõ ràng không do Đảng Cộng sản kiểm soát.

Nhưng một lần nữa các nhà chức trách phản công lại, bằng cách sử dụng các luật không được xác định rõ ràng để giải quyết các vấn đề nghĩa vụ tài chính và thuế má của các nhóm.

Loạn tiến sĩ – Vì đâu nên nỗi?

Loạn tiến sĩ – Vì đâu nên nỗi?

Một buổi bảo vệ luận án tiến sĩ ở Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam. Ảnh Facebook.

Vài suy nghĩ lan man nhân chuyện tiến sĩ mọc ra như nấm ở Việt Nam

Mấy hôm nay, trên mạng xã hội Facebook rộ lên chuyện phong trào “tiến sĩ” nhân vụ báo chí phanh phui chuyện Viện Hàn Lâm Khoa Học và Xã Hội Việt Nam cấp bằng tiến sĩ giống như cái máy đẻ, “nghiệm thu” hàng chục đề tài nghiên cứu để sinh ra hàng chục tiến sĩ trong một ngày. Đọc tiêu đề của các luận văn tiến sĩ này khó ai khép được miệng cười, hoặc không nhịn được mà phải văng tục, chẳng hạn như luận văn “Nghiên cứu giải pháp phát triển môn cầu lông cho công chức viên chức thành phố Sơn La” của Đặng Hoàng Anh, bộ môn Giáo dục học, được giáo sư tiến sĩ Lưu Quang Hiệp và phó giáo sư tiến sĩ Đặng Văn Dũng thuộc Viện Khoa học Thể dục Thể thao hướng dẫn! Một thông tin trên báo Tuổi Trẻ ngày 5 tháng Năm cho biết luận văn tiến sĩ cầu lông của ông Anh đã “bảo vệ thành công” ngày 19 Tháng Giêng 2022 và đến nay có tới 10 luận án tiến sĩ cầu lông như của ông Anh!

Người ta còn tìm ra và đăng lên Facebook hàng chục bìa luận văn tiến sĩ của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (tên mới của Trường Đảng Nguyễn Ái Quốc trung ương, nơi đào tạo các quan chức lãnh đạo của đảng CSVN) với những đề tài giống hệt nhau, kiểu như “Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến 2015” của Lê Xuân Dũng; “Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lãnh đạo Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến 2015” của Trần Thị Vân; “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lãnh đạo hoạt động của Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh từ năm 1997 đến 2015” của Nguyễn Thị Thu Hương v.v… Trên một bài đăng của Facebooker Sơn Trần, chúng tôi đếm có hơn 30 luận văn như vậy.

***

Một trong vô số luận án tiến sĩ ở Học viện Chính trị quốc gia HCM. Ảnh Facebook

Phong trào tiến sĩ nở rộ ở Việt Nam như nấm sau mưa không phải tự dưng xuất hiện mà có chủ trương chính sách khuyến khích của nhà cầm quyền. Các bộ ngành trung ương và các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn đều đặt ra “chỉ tiêu” đào tạo, “nâng cấp” hàng ngàn tiến sĩ cho đội ngũ cán bộ công chức. Ông Nguyễn Thiện Nhân, từng là Phó thủ tướng, Bộ trưởng giáo dục, khi còn là Phó chủ tịch thành phố Sài Gòn đã yêu cầu thành phố phải đầu tư 14,000 tỷ đồng để đào tạo 20,000 tiến sĩ làm việc cho chính quyền thành phố!

Chính sách khuyến khích “phổ cập tiến sĩ” còn được hỗ trợ bởi các biện pháp vật chất khác. Người làm việc trong guồng máy nhà nước phải có bằng tiến sĩ mới có cơ may được đề bạt làm phó giáo sư, giáo sư, lên các chức vụ quản lý. Độ tuổi nghỉ hưu theo luật định là 60 tuổi với nam, 55 tuổi với nữ, nhưng nếu có bằng tiến sĩ thì nhà quản lý có thể ngồi tiếp đến năm 65 tuổi, tiếp tục hưởng bổng lộc và sau đó vẫn có thể làm tiếp nhưng không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý nữa.

Với những quyền và lợi hấp dẫn như vậy, người người chen nhau đi tìm bằng tiến sĩ và các “lò sản xuất” luận văn tiến sĩ âm thầm mọc lên, cung cấp đủ loại luận văn cho người có nhu cầu và có tiền trả, thường là luận văn cho các ngành “tào lao”, chẳng có ý nghĩa khoa học gì như ngành lịch sử Đảng, xây dựng Đảng, quản trị kinh doanh, văn hóa học; hầu như không có các luận văn thuộc các ngành khoa học tự nhiên hoặc công nghệ. Báo Asia Sentinel từng đăng một phóng sự điều tra khá sốc về tình trạng gian lận học thuật ở Việt Nam mà báo gọi là một thị trường kinh doanh lớn phục vụ chủ yếu cho giới quan chức; có thể đọc bản dịch tiếng Việt của phóng sự trên ở đây.

Không khó để nhận ra những “luận văn tiến sĩ” kể trên là sản phẩm sản xuất hàng loạt của một vài lò luận văn nào đó, lấy một bản luận văn “mẫu”, thay đổi chút về tên người, địa danh và vài số liệu là có thêm một tiến sĩ được ra lò! Rất nhiều quan chức lãnh đạo hoàn toàn không đi học, không có thời gian cho việc học nhưng chỉ sau vài năm cầm quyền thì trên danh thiếp đã có thêm dòng chữ ghi học vị tiến sĩ, giáo sư. Loại tiến sĩ đó chỉ có thể là do mua bằng, mua luận văn và đút lót các hội đồng trường mà có.

Điểm hết sức khác biệt của Việt Nam là ở các nước, luận văn tiến sĩ phải là một công trình nghiên cứu, đưa ra một giá trị mới dù nhỏ về tri thức khoa học ở một lĩnh vực nào đó, và phải trải qua một quy trình đào tạo, xét duyệt công phu của những nhà khoa học có uy tín, không hề có cái luận văn tiến sĩ nào về cầu lông, cờ tướng, lãnh đạo công tác hội, ứng xử của cán bộ, xây dựng phường xã… tào lao, vô bổ như ở Việt Nam. Ở các nước, tiến sĩ là nhà khoa học, làm việc chủ yếu ở các cơ sở nghiên cứu, thí nghiệm hoặc giảng dạy ở đại học, chẳng có bao nhiêu người làm quan chức hành chánh trong khi ở Việt Nam, hơn một nửa số tiến sĩ là quan chức đảng, lãnh đạo cơ quan chính quyền mà công việc chẳng liên can gì tới khoa học, chẳng cần nghiên cứu.

***

Chuyện trái khoáy là trào lưu coi trọng bằng tiến sĩ ở Việt Nam đi ngược lại với triết lý nền tảng của chủ nghĩa cộng sản mà đảng và nhà nước Việt Nam cổ xúy, trong đó đề cao người công nhân, nông dân như là nòng cốt của cách mạng vô sản.

Ngay từ thuở mới thành lập, năm 1930, đảng CSVN đã thù địch với trí thức, coi những người có bằng cấp, có học thức là tay sai của thực dân phong kiến, áp bức nhân dân lao động. Câu khẩu hiệu đấu tranh của đảng thời Xô Viết Nghệ Tĩnh: “Trí, phú, địa, hào – đào tận gốc, trốc tận rễ”, đặt trí thức lên hàng đầu những “đối tượng” phải tiêu diệt. Những thanh niên trí thức được đào tạo trong nhà trường của Pháp, khi đi theo cộng sản, như Trường Chinh (Đặng Xuân Khu), Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… đều phải từ chối thành phần xuất thân, phải “vô sản hóa”, phải hòa mình với công nhân, nông dân “để lãnh đạo họ”. Trong những chiến dịch thanh trừng sau khi cầm quyền, như cuộc Cải Cách Ruộng Đất, đám bần cố nông vô học làm theo sự dẫn dắt của các cố vấn Trung Cộng, thẳng tay tiêu diệt những người có của (địa chủ, tư sản) và không tha cả những người có học (thầy giáo, thầy thuốc) ở nông thôn.

Ở miền Bắc sau năm 1954 và trên cả nước sau năm 1975, để được cho đi học, cho vào làm việc trong chính quyền, cho vào đảng cộng sản, thanh niên phải có lý lịch tốt, cụ thể là phải xuất thân từ thành phần công nhân, bần nông (nông dân nghèo), cố nông (nông dân cực nghèo). Những ai xuất thân trong gia đình tư sản, địa chủ, dính dáng với chế độ Việt Nam Cộng Hòa thì sống không bằng chết, bằng cấp càng cao càng bị ngược đãi, đã được đào tạo, tu nghiệp ở các nước tư bản thì bị nghi ngờ là CIA, là gián điệp, chẳng những không được sử dụng mà còn bị an ninh theo dõi thường xuyên.

Đã có nhiều thanh niên, là con cái các gia đình cán bộ cao cấp, được theo học các trường đại học trong nước, được cho đi du học các nước Trung Quốc, Liên Xô, Đông Âu. Việc đi học đại học, đặc biệt là đi du học nước ngoài, trước tiên là nhằm tìm chỗ trú an toàn cho các con ông cháu cha, tránh phải vào lính cầm súng vào chiến trường “sinh Bắc tử Nam” – nơi dành cho con cháu thường dân hoặc gia đình cán bộ cấp thấp, không có thế lực hoặc quan hệ chính trị với quan chức. Việc chọn người đi học chỉ dựa vào lý lịch và quan hệ, không coi trọng trình độ và khả năng học vấn, nhưng vì “tình hữu nghị quốc tế vô sản” các sinh viên này sau mấy năm ở nước ngoài, vẫn được tốt nghiệp, được cấp bằng, nhiều người có bằng phó tiến sĩ (candidate). Một chính sách sau này của đảng CSVN hủy bỏ học vị phó tiến sĩ, thế là hàng ngàn phó tiến sĩ sau khi ngủ một đêm dậy đều trở thành tiến sĩ!

Chính sách đào tạo và dùng người dựa trên lý lịch, trên thành phần giai cấp, khinh thường học thức đã tạo ra một guồng máy cai trị dốt nát, tham lam và chỉ giỏi phá hoại.

***

Sau khi chiếm được miền Nam năm 1975, đảng CSVN nhận ra không thể tiếp tục lề lối dùng kẻ dốt cai trị người giỏi, cần phải “trí thức hóa” công nông cho phù hợp với thời đại. Vả lại, đất nước hòa bình tạo điều kiện thuận lợi cho các cán bộ của đảng được đi học văn hóa, việc mà họ đã bỏ qua trong những năm chiến tranh khổ cực.

Thế là các chính sách khuyến khích cán bộ đi học được ban hành, các chương trình “bổ túc văn hóa”, “chuyên tu”, “tại chức” mở ra rầm rộ. Có những người học bổ túc văn hóa một năm hai, ba lớp; có nhiều người học “tại chức”, vừa làm việc vừa đi học, nếu không thu xếp được thì nhờ đàn em học thay, thi hộ. Trong xã hội lưu truyền câu thành ngữ: “Dốt như chuyên tu, ngu như tại chức” là để chỉ hiện tượng này.

Gần đây, trào lưu học chuyên tu, tại chức để lấy bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ phát triển mạnh, đem lại một nguồn thu đáng kể về tiền bạc cho các trường đại học, các giảng viên cho nên mới có chuyện các trường tranh giành nhau, giẫm lên địa bàn của nhau để trục lợi. Nhiều trường ở Hà Nội mở lớp đào tạo tận miền Trung, miền Nam; trường ở Huế, Đà Nẵng mở lớp ở Cần Thơ, Vĩnh Long; giảng viên đi mây về gió bằng máy bay, “chạy sô” từ tỉnh này sang tỉnh khác là chuyện bình thường. Nhiều sinh viên ở Sài Gòn than thở với người viết bài này là ở trường bây giờ sinh viên chỉ được học với các thầy cô trẻ, mới tốt nghiệp đại học và được giữ lại trường, vừa thiếu kiến thức vừa không có kinh nghiệm dạy học bởi vì các thầy cô có tuổi, có kinh nghiệm đã giành nhau đi dạy chuyên tu, tại chức ở tỉnh xa, vừa có nhiều tiền vừa gầy dựng được quan hệ với quan chức địa phương, có nhiều mối lợi.

Chẳng ai quan tâm tới thiệt hại mà thế hệ sinh viên trẻ phải chịu đựng do lòng tham của các bậc cha chú.

***

Cách đây vài mươi năm, Tố Hữu – thi sĩ tuyên truyền số một của đảng – đã phán: “Những kẻ quê mùa đã thành trí thức / Tăm tối cần lao nay bỗng hóa anh hùng”. Bây giờ, nhiều cán bộ của đảng trong guồng máy chính quyền, hoặc đi ra từ rừng Trường Sơn, hoặc từ những cánh đồng chiêm trũng của đồng bằng sông Hồng, đã có bằng tiến sĩ nhưng có thành trí thức như Tố Hữu nói hay không lại là chuyện khác. Cái áo không làm nên thầy tu, mảnh bằng không làm nên người trí thức, huống hồ là những mảnh bằng giả, bằng mua. Cũng giống như những tư sản đỏ Việt Nam, nhờ chiếm đoạt đất đai mà trở nên giàu có thì giỏi lắm chỉ có thể thành trọc phú chứ chưa thể đặt chân vào giới thượng lưu.

Để thành trí thức, để có tri thức, ngoài công phu học tập, rèn luyện, nghiên cứu, người ta còn phải có một nền tảng văn hóa nhất định, từ truyền thống gia đình và môi trường văn hóa xã hội. Môi trường văn hóa xã hội ở Việt Nam hiện nay không thuận lợi cho sự vun trồng trí thức mà giỏi lắm chỉ có thể sinh ra trọc phú, cho dù có mông má, điểm trang kiểu gì đi nữa.

Vì vậy, đừng nên ngạc nhiên khi thấy các quan chức từ địa phương tới trung ương lên truyền hình, báo chí phát biểu những câu “tranh hết phần ngu của thiên hạ” dù ai cũng xưng là tiến sĩ, giáo sư! 

Còn khổ bao lâu nữa?

Còn khổ bao lâu nữa?

Văn Việt

Nguyễn Thị Tịnh Thy

5-5-2022

Nhà phê bình văn học Nguyễn Thị Tịnh Thy. Nguồn: FB nhân vật

Kính thưa quý vị!

Bài viết này, phát biểu này, tôi xin gửi đến Ban Vận động thành lập Văn đoàn độc lập (Văn Việt) cùng những ai quan tâm đến văn học và quyền tự do sáng tạo nghệ thuật của nước nhà.

Không biết trên thế gian này, trong nền văn chương Đông Tây kim cổ, đã có ai phải viết bài phát biểu này như tôi không. Bởi, đây là phát biểu XIN GIỮ GIÙM GIẢI THƯỞNG.

Đã có những người từ chối hoặc bị buộc phải từ chối giải thưởng, kể cả giải văn chương danh giá nhất hành tinh là giải Nobel vì rất nhiều lý do khác nhau. Nhưng e rằng, không mấy ai ký thác tâm nguyện nhờ giữ lại giải như tôi.

Tôi được Văn Việt trao giải thưởng thường niên năm 2022 cho hạng mục Nghiên cứu – Phê bình với cuốn sách “Dám ngoái đầu nhìn lại” (Nxb. Hội Nhà văn, 2021). Giải thưởng do Văn Việt tự chọn và trao, không phải là một cuộc thi mà tác giả phải gửi công trình dự giải. Với tôi, đây là vinh dự, là vòng nguyệt quế cho lao động bút mực của mình – một người không phải là thành viên của Văn Việt. Tuy nhiên, đây cũng là vòng nguyệt quế phủ đầy gai mà người nhận không dễ dàng sở hữu, dù nó vốn phải thế.

Tôi không từ chối giải thưởng, bởi vì đây là giải thưởng có giá trị về học thuật, như bao giải thưởng như thế trên thế giới này. Tôi cũng không thể nhận giải thưởng, bởi nếu nhận, thì sẽ chuốc lấy rất nhiều phiền phức. Xin cảm ơn Ban Xét giải đã lựa chọn trên cơ sở ghi nhận thành quả khoa học của tôi; đồng thời, cũng xin Văn Việt giữ giùm giải thưởng này. Hiện tại, tôi chưa thể nhận giải, cũng không muốn và không thể từ chối. Để giải thích cho tình trạng tiến thoái lưỡng nan này, tôi xin giãi bày với quý vị những suy nghĩ như sau:

Trước hết, xin khẳng định, tôi tôn trọng Văn Việt và giải thưởng của Văn Việt. Muốn chứng minh cho chất lượng và uy tín của giải thường này, xin quý vị hãy đọc tác phẩm cũng như phát biểu nhận giải của nhà thơ Thái Hạo. Theo tôi, bài phát biểu này là một trong những diễn từ hay nhất, xứng đáng được trích dẫn trong nhiều văn bản khác; đủ để xem là một tuyên ngôn thơ, một quan điểm sáng tác và tư duy nghệ thuật sâu sắc và đặc sắc.

Tôi gửi nhiều bài sáng tác và phê bình văn học đăng trên http//:vanviet.info của Văn Việt, bởi vì, đây là một trang báo có chất lượng chuyên môn cao, bài vở được biên tập và chọn lựa kỹ lưỡng. Những người chủ trương trang báo này là các trí thức đáng nể trọng về trí tuệ lẫn nhân cách. Bài tôi đăng trên Văn Việt, đa phần đã được đăng ở báo chí chính thống trong nước; những cuốn sách nghiên cứu của tôi đều được cấp phép bởi các nhà xuất bản uy tín. Nghĩa là, xét về phương diện khách quan lẫn chủ quan, tôi cảm thấy việc mình gửi bài ở Văn Việt, được Văn Việt trao giải thưởng là việc rất đỗi bình thường.

Vậy mà, khi biết mình được Văn Việt trao giải thưởng, tôi phải chuẩn bị để đón nhận những điều bất bình thường.

Đã có người nhận giải của Văn Việt xong, bị các cơ quan nhà nước, “người nhà nước” gây phiền nhiễu quá mức, khiến cuộc sống của họ luôn trong trạng thái bất an, bản thân họ bị người xung quanh xem như kẻ phạm tội. Đã có người bị ngăn cản trên đường đi nhận giải, buộc phải vứt vé tàu xe để quay về nhà. Gần đây nhất, nhà thơ Thái Hạo bị đánh bầm mặt trên đường ra sân bay để đến với Văn Việt. Và tôi, thông tin về giải thưởng chưa đến tai, tôi đã được người của cơ quan an ninh đề nghị không nên nhận giải. Khi tôi hỏi rằng, nếu tôi vẫn muốn nhận thì sao? Câu trả lời khá nhã nhặn, nhưng nội dung là: “Để tránh ảnh hưởng đến tình hình an ninh chung, chị không nên đi nhận giải… Cũng như Thái Hạo, cơ quan an ninh cũng đã tác động là anh không đi được đâu”; “Dẫu cách ứng xử mỗi nơi mỗi khác, nhưng dù sao đi nữa, chị cũng không nên nhận giải”; “Nếu nhận, thì không nên tổ chức trao, quay phim, chụp hình rồi công bố trên mạng xã hội để tránh những phiền phức không đáng có”. Và tiếp theo đó là những tìm hiểu tứ phương tám hướng để dò xét xem tôi sẽ tiếp xúc với người của Văn Việt ở đâu, lúc nào… để nhận giải.

Tôi là một trí thức, một nhà khoa học. Đứng về mặt chuyên môn, tôi đủ trí tuệ và kinh nghiệm để biết nên gửi bài ở đâu, của tổ chức học thuật nào. Tôi là một công dân tôn trọng pháp luật, tôi đủ hiểu biết để không làm gì phạm pháp. Việc tôi gửi bài đăng ở Văn Việt, việc tôi nhận giải thưởng của Văn Việt là không hề phạm pháp. Vậy thì, tại sao tôi (và nhiều người nữa) bị ngăn cản, thậm chí có người đã bị hành hung về thể xác và uy hiếp, hành hạ về tinh thần? Xin thưa với “người nhà nước”, nếu các anh chị đủ can đảm, đủ bản lĩnh, đủ minh bạch thì hãy đề nghị cấp trên của các anh chị ra lệnh cấm các tổ chức văn học nghệ thuật phi nhà nước đi. Nếu không dám cấm, để tỏ ra là mình vẫn dân chủ; nếu muốn chứng tỏ rằng công dân nước Việt vẫn tự do lập hội đoàn thì hãy cứ để cho các hội đoàn ấy tồn tại một cách yên ổn. Xin đừng dân chủ giả tạo, ngoài mặt không cấm nhưng bên trong thì dùng biện pháp cứng rắn để ngăn cản và trừng phạt. Xin đừng sử dụng bàn tay sắt bọc nhung, đừng vừa đấm vừa thoa, đừng giả danh lưu manh để thực thi nhiệm vụ chính trị; vì như thế là giả dối, là ném đá giấu tay trước những đối tượng chân yếu tay mềm, trói gà không chặt vốn chỉ có trái tim nghệ sĩ, tâm hồn yêu văn chương nghệ thuật và khát khao truy cầu tự do sáng tạo mà thôi.

Xin đừng đóng bộ mặt nguỵ quân tử cho chính quyền, vì như thế, chính quyền đã đích thực trở thành “nguỵ quyền” – điều mà quý vị từng không tiếc máu xương để lật đổ!

Tôi phải suy nghĩ rất nhiều trước quyết định nhờ giữ giùm giải thưởng. Bởi vì, nếu từ chối, tôi sẽ làm tổn thương giải thưởng. Đó là điều tôi trăm ngàn lần không muốn. Nếu bí mật nhận giải, bí mật cất giấu để được yên thân, lâu lâu lén lút mở ra xem, “một mình mình biết, một mình mình hay”, thì phỏng có vui gì. Làm như thế, tôi cảm thấy mình ngôn hành bất nhất, không xứng đáng với Văn Việt, không xứng đáng với chính tôi. Nếu công khai nhận giải, tôi sẽ bị cản trở, bị gây sự, bị khủng bố tinh thần, và có thể còn bị hành hung. Điều này, tôi cũng ngàn vạn lần không muốn. Tôi không hèn nhát, nhưng nếu để xảy ra điều gì không hay cho mình và cho người thân, đơn giản chỉ vì một giải thưởng, thì có đáng không?

Giải thưởng, cho dù là giải thưởng trò chơi hay giải thưởng chuyên môn, đều là niềm vui và vinh dự cho người nhận. Vậy mà, giải thưởng tôi được trao lại khiến cha mẹ âu lo, anh em phấp phỏng, cơ quan căng thẳng, đồng nghiệp ái ngại. Vinh quang cho mình, nhưng gây phiền hà cho những người xung quanh, thì có nên không? Việc nhận giải lại khiến các cán bộ an ninh vốn là đại nhân nhưng không được hành đại lộ khi phải quan tâm săn sóc một người như mình, trong khi họ cần phải dành trí tuệ, thời gian và tâm huyết để ngăn chặn tội phạm, để đối phó với kẻ thù đích thực và đáng sợ của dân tộc, để làm những việc ích nước lợi nhà hơn, thì có nên không?

Cùng dưới một gầm trời xã hội chủ nghĩa được cho là dân chủ, công bằng và văn minh này, giải thưởng của Hội Nhà văn từ trung ương đến địa phương, của Hội đồng Lý luận phê bình Văn học nghệ thuật trung ương và rất nhiều giải thưởng nhà nước khác thì luôn được tiền hô hậu ủng, muôn hồng ngàn tía, trống giong cờ mở, lên xe xuống ngựa, cơm đưa rượu rước; còn giải thưởng của Văn Việt thì bị ngăn trở, bị vùi dập, bị quấy nhiễu, bị hành hạ, bị cưỡng bức…, như thế có công bằng không? Nhà nước không nuôi Văn Việt, thì cứ để nó tự sinh tự trưởng và tự diệt nếu như nó không đủ mạnh; không hà hơi tiếp sức thì cũng xin đừng chặn hầu bóp mũi nó. Một tổ chức văn học nghệ thuật cỏn con mà được coi là liên quan đến sự an nguy của một chính thể, thì chính thể ấy phải tự xem lại thực lực của chính mình. Nếu nhà nước đánh giá quá cao tầm ảnh hưởng và độ nguy hiểm của Văn Việt như thế, thì cần phải xem lại năng lực nhận thức, năng lực nhận định và phân định bạn – thù của đội ngũ tham mưu.

Đầu thế kỷ XX, nhà văn Nguyễn Vỹ từng có câu nói đầy cay đắng: “Nhà văn An-nam khổ như chó”. Bây giờ, đã một trăm năm trôi qua với bao nhiêu cuộc cách mạng và giải phóng, nhà văn An-nam vẫn còn “khổ như chó”. Thử hỏi như vậy có ưu việt không? Có buồn không? Có đau không? Có nhục không?

“Nhà văn An-nam khổ như chó”. Đó phải chăng là lời nguyền cho văn chương Việt? Nếu không, thì tại sao ở thế kỷ XXI này, đến chó cũng không còn khổ nữa, chó ghẻ bị vứt còn được cộng đồng nháo nhác thức suốt đêm tìm về chăm sóc, cưng chiều hết mực; còn nhà văn Việt Nam lại bị săm soi, săn sóc ngược đời. Bao giờ, nhà văn mới “bước qua lời nguyền”?

Cuối tháng 3 vừa qua, gặp nhà thơ Thái Hạo ở Huế, nhìn thấy vết sẹo còn mới trên má của anh, tôi chợt nghẹn. Khi chia tay, nói lời “Bảo trọng” với Thái Hạo, tôi vội quay đi và bật khóc. Ba năm Covid-19 hoành hành, tôi đã không biết bao nhiêu lần nói hai từ “Bảo trọng” với bạn bè, với người thân, nhưng chưa bao giờ thấy uất ức và buồn tủi như lần này. Đến lúc nào và làm thế nào Văn Việt mới được yên, các nhà văn phi nhà nước mới được yên?

Tôi vẫn muốn tiếp tục viết những bài bình luận, nghiên cứu văn học và đăng trên Văn Việt. Tôi vẫn muốn “độc lập” trong nguyên nghĩa của từ này, nghĩa là đứng một mình, chấp nhận cô đơn trong sáng tạo. Tôi vẫn mơ giấc mơ Nobel cho văn chương Việt Nam một cách nghiêm túc dù văn chương vẫn còn bị tung hô nhầm, cấm đoán nhầm, hãm hại nhầm. Tôi vẫn tâm đắc câu nói của nhà văn Diêm Liên Khoa: “Đừng oán trách hoàn cảnh sáng tác hay hoàn cảnh chính trị,… điều quan trọng là bạn có năng lực và nhân cách để viết hay không. Không viết nổi một tác phẩm lớn là lỗi của nhà văn chứ không phải lỗi của thời đại, đừng lấy những danh nghĩa đẹp đẽ để che đậy trách nhiệm và năng lực của nhà văn”.

Tôi vẫn mong có ngày mình được đường đường chính chính nhận giải thưởng của Văn Việt mà không bị chấn thương, tổn thương và áp lực. Tôi vẫn hy vọng có ngày đó. Còn bây giờ, xin Văn Việt hãy giữ giùm tấm huy chương này; chờ một ngày mưa thuận gió hoà, ngày bình yên thật sự, ngày mà chính thể đủ mạnh để không còn xem những người sáng tạo độc lập là thù nghịch, tôi sẽ trân trọng đón nhận nó cho châu về hợp phố. Nhược bằng, Văn Việt chết trước khi ngày ấy đến mà không phải vì nguyên nhân tự thân, thì đó là thất bại của dân chủ và tự do sáng tạo trong nghệ thuật – học thuật nhân văn nước nhà, cũng là điều thiếu may mắn của tôi.

Mới đây, một nhà văn lớn của Việt Nam có viết: “Vô phúc cho vị nào được Hội Nhà văn đề cử tranh giải Nobel sắp tới. Bởi nó sẽ là khởi đầu vĩnh viễn cho những cuộc đàm tiếu, nhạo báng…”. Giả định này còn xa lắm.

Còn bây giờ, ở đây, tôi chắc chắn rằng, vô phúc cho vị nào được các giải thưởng văn chương phi nhà nước gọi tên, bởi họ sẽ phải trả giá rất đắt cho vinh quang này.

Và, đối với quý độc giả của bài viết này, “Phúc cho ai không thấy mà tin”!

“Nhà văn An-nam khổ như chó”, còn khổ bao lâu nữa?

Cô/ Thầy ơi! Cho em hỏi…

Một bài thơ của đọc giả gửi tới, nhưng không cho biết họ tên….

***

Cô/ Thầy ơi! Cho em hỏi…

Cô ơi! Cho em hỏi…

Sao quê mình ngộ quá vậy cô!

Bốn ngàn tuổi vẫn dậm chân tại chỗ?

Bốn ngàn tuổi đời dân vẫn còn khổ?

Bốn ngàn tuổi và vẫn còn chổ cho những kể bán linh hồn?

Cô ơi.. Cô vẫn thường dạy.

Quê hương mình đẹp lắm…

Rừng vàng, biển bạc nổi tiếng khắp năm châu..

Nhưng giờ đây, rừng vàng toàn lũ mọt?

Biển xác cá phơi, bạc trắng bởi vì đâu?

Cô ơi.. Cho em hỏi…

Sao quê mình lạ quá vậy cô!

Những tên vô học… thì có bằng đại học?

Óc quả nho, bụng chứa toàn dzun với lãi…

Chúng xem nhân tài như xác cá nổi ngoài khơi…

Cô trả lời em đi, vì sao lạ nhỉ?

Quê hương mình rồi sẽ về đâu?

Cô ơi… Cho em hỏi…

Sao quê mình buồn quá vậy cô…

Giặc Pháp đi, thì dân ta phải no ấm?

Giặc Pháp chạy rồi, giờ dân đối diện giặc quan tham…

Xưa ta muốn đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào…

Vậy mà giờ chúng lại ào ào chạy theo sau?

Cô ơi… Cho em hỏi…

Sao quê mình thương quá vậy cô.

Kẻ bán nước, mất linh hồn vẫn tồn tại?

Người dân kêu đòi công lý lại là kẻ phản quê hương?

Nay ngoại bang đang giết mòn quê tổ…

Sao chúng lại câm mồm như một lũ vô danh?

Cô vẫn thường bảo…

Quê hương mình có ngàn, ngàn tiến sĩ…

Vậy mà bây giờ tiến sĩ, thành liệt sĩ vô danh.

Xác cá chết, phơi đầy khắp ngõ…

Không một tiến sĩ nào ra ngõ để đưa ma.

Cô trả lời em đi vì sao cô nhỉ?

Hay các tượng đài ngàn tỉ, các tiến sĩ yêu hơn?

Thế thì em cũng học đua đòi làm tiến sĩ.

Thà vô liêm sĩ, có tiền tĩ, lo nghĩ gì?

Đất nước mình rồi sẽ về đâu cô?

Cô không biết, và em cũng không biết.

Hỏi người trước, thì người trước đã qúa xa.

Hỏi người sau, làm gì có ngày sau.

Hỏi bọn tham quan, vô liêm sĩ, vô tâm cô sẽ biết.

Hỏi trời xanh, mặt trời sẽ đổ lệ.

Khóc cho quê mình khi vẫn còn lũ tham quan.

TÌM BỐ CHO CON

Chau Nguyen Thi

TÌM BỐ CHO CON

Các bạn có biết đại bàng cái tìm cha cho con của nó thế nào không? Hay phết đấy! Đại bàng cái bẻ một mẩu cành cây, ngậm ở mỏ, bay lên thật cao rồi cứ lượn vòng trên ấy. Xung quanh con cái sẽ xuất hiện các đại bàng đực, khi ấy đại bàng cái sẽ nhả mẩu cành cây ra, rồi bay ở trên quan sát. Sẽ có con đại bàng đực chộp được cái mẩu que ấy trong không trung, không cho nó rơi chạm đất, rồi đem nó tới chỗ con cái, cẩn thận trao lại, từ mỏ của mình sang mỏ con cái. Đại bàng cái lại bay lên cao tít, rồi lại thả, đại bàng đực lại lao đi bắt cái qua ấy ở trên không… Nếu từng ấy lần thử thách con đực luôn bắt được, thì nó sẽ được lựa chọn để làm bạn đời. Để làm gì ư, thì đây…

Đôi “uyên ương” sẽ làm tổ ở những hốc đá tít trên cao. Tổ chim là những que cứng, nếu không có đủ chúng dùng mỏ giật lông vũ của chính mình ra, rớm máu thịt. Chim bố và chim mẹ dùng chính lông của mình để lót ổ, để trám tất cả những khe hở, sao choc him non sẽ được ấm áp, êm ái nhất có thể. Chim cais ẽ đẻ trứng vào ổ, và cả hai sẽ cùng nhau ấp nở. Chim đại bàng non (thường là hai con) được sinh ra rất nhỏ bé, lẩy bẩy yếu đuối, trần trụi… và chim mẹ, chim bố sẽ dùng chính cơ thể mình sưởi ấm cho con, che chở nắng mưa, đem đến cho chim con nước và thức ăn, chúng sẽ lớn rất nhanh. Và khi ấy chim mẹ và chim bố thấy, là đã tới lúc rồi…

Chim bố đứng cạnh tổ chim, bắt đầu đập cánh dữ dội, cả tổ chim chao đảo, rụng rời. Để làm gì ư? Để tung bay đi hết những lông chim, còn trơ lại mỗi cái khung ban đầu chính chim bố, chim mẹ làm bằng các cành cây. Chim non bên trong hoảng sợ, chúng thấy tổ chim tan tành, chúng không hiểu vì sao chim bố, chim mẹ trước kia đang yêu thương chiều chuông thế, nay lại … Chim mẹ khi đó bay đi kiếm mồi, hoặc tránh mặt đi đâu, không nỡ nhìn những chú chim con ngơ ngác. Nhưng rồi chim mẹ bắt được cá, quay về ngồi cách tô chừng 5 mét, cho các con trông thấy. Nhưng chim mẹ không mớm mồi cho con nữa, mà bắt đầu ăn cá, kệ cho lũ con kêu réo đòi ăn.

Đói thì phải lo thân thôi, chin non đành lò dò ra khỏi cái tổ bây giờ cũng chả còn ấm êm gì nữa. Chúng chưa hề làm như thế trước kia, và sẽ không làm đâu nếu vẫn được bố mẹ cho ăn. Chim non còn chưa biết gì hết về cuộc đời này, tổ chim thì nằm trên vách đá cao tít để thú săn mồi không rình rập được. Chim non trượt chân, ngã quay lơ, rồi rơi thẳng xuống dưới vực. Lúc đó chim bố (ngày xưa phải bắt cành cây do “người yêu” ném mãi rồi) sẽ phi từ trên cao xuống và đỡ chú chim con bằng lưng, chứ không đã tan xác mất rồi! Chim bố sẽ cõng chim con trên lưng, lại đưa lên cái tổ chim nay đã xác xơ, và mọi chuyện lại bắt dầu như thế. Các con thì ngã, còn bố thì đỡ và cõng lên. Không chú chim non nào ngã chết cả. Nhưng trong những cú ngã kinh người ấy chim non bắt đầu làm những động tác mà nó cũng không ngờ tới: xòe rộng đôi cánh còn lơ thơ mấy cọng lông của mình ra ngược chiều gió. Chim non bắt đầu bay! Và con nào biết bay trước thì sẽ được bố mẹ dẫn đường, cho bay tới nơi gần nhất có cá. Chứ không dùng mỏ cắp cá về mớm cho chim con nữa…

Con người cũng có thể học được nhiều điều từ đại bàng. Bắt đầu từ việc chọn cha cho những đứa con tương lai của mình….

Bonus: có 60 giống đại bàng khác nhau. Đại bàng chưa phải chim bay nhanh nhất, nhưng có thể bay được kể cả trong dông tố. Tốc độ bay đạt tới 200km/h, và lúc “bổ nhào” nó đạt vận tốc 320 km/h. Mắt nó cực tinh, nhìn một lúc được 2 vật khác nhau, khi săn mồi trên cao 3000m có thể nhìn thấy vật chỉ bằng quả trứng gà dưới đất trong phạm vi 11km2. Mắt có 2 màng bảo vệ, nhìn được góc 270 độ. Berkut là loài đại bàng lớn nhất, có thể bay lên 4500m cao để quan sát, còn đại bàng thường bay cao 700m. Đại bàng không “tái sinh” như phượng hoàng (trong cổ tích) nhưng “cải lão hoàn đồng” thì có: đến năm 40 tuổi đại bàng gặp vấn đề tuổi tác: lông ngực thưa dần đâm bay kém đi, móng bị mềm yếu, mỏ cũng lung lay… Và nó mất 5 tháng, sẽ thay mỏ, thay lông, mọc móng mới… Và nó lại “trẻ trung”, mạnh mẽ và sống thêm được tầm 40 năm nữa!

Việc nuôi dạy con xảy ra trong 3 tháng đầu đời của chim non. Đại bàng vô cùng chung thủy, chả khác gì thiên nga, chúng kết đôi với nhau cả đời. Chúng cũng không bỏ tổ chim, mà thường dùng lại cái khung cũ, chỉ “mông má” lại mà thôi. Nhiệm vụ lo đồ ăn, thức uống của chim đực, còn chim cái có nhiệm vụ rất quan trọng là trông nom bọn đại bàng con, chúng nó mới sinh ra đã có cái tính muốn hất anh em của mình ra khỏi tổ ấm rồi! Nguy hiểm đến mấy chúng cũng không bỏ chim con.

Đại bàng không bao giờ ăn thịt thiu, mà chỉ ăn mồi mình săn được. Có loài thì chỉ ăn thực vật, nhưng cũng phải tươi. Chỉ trong điều kiện bị loài người giam hãm, thì chúng đành ăn thịt hay đồ ăn thiu. Nhưng chúng sẽ không bao giờ sinh con đẻ cái nếu mất tự do!

Từ fb Trần Kim Anh

VẠN VẬT ĐỀU CÓ TÁNH LINH

Chau Nguyen Thi

VẠN VẬT ĐỀU CÓ TÁNH LINH

Tôi đã từng chứng kiến một cảnh chết rất bi tráng. Cái chết đó làm rung động cõi lòng sâu thẳm của tôi. Từ đó tôi nguyện suốt đời không làm tổn hại bất cứ một sanh mạng cho dù là bé nhỏ…

Một lần nọ đi săn linh dương, chúng tôi được chứng kiến đời sống và bản chất của chúng.

Linh dương có hình dạng giống sơn dương nhưng có khiếu nhảy rất giỏi, mỗi con trưởng thành nặng khoảng 30 kg ,tính tình thuần hậu , là loại động vật mà bọn thợ săn thích nhất. Lúc đó đội săn bắn chúng tôi bí mật bao vây khắp vùng nơi một đàn linh dương đang cư trú, áp hơn 60 con linh dương vào mõm đá trên vách núi cao, nghĩ rằng như thế sẽ làm cho chúng rơi hết xuống mà chết cho đở lãng phí cung tên.

Nhưng không ngờ, khoảng 30 phút sau, một con linh dương đực đột nhiên kêu lên một tiếng. Tất cả linh dương lập tức phân thành hai nhóm: môt nhóm già và một nhóm trẻ.Tôi nhìn rất rõ nhưng không hiểu vì sao chúng lại phân theo già trẻ như vậy. Lúc đó, một con linh dương đực từ trong nhóm già đi ra, con này lông dài xuống ngực, trên mặt có nhiều nếp nhăn ngang dọc, hai cái sừng bị mòn đi. Vừa nhìn tôi đã biết con linh dương này già lắm rồi. Nó đi ra đứng phía trước, nhìn về hướng nhóm trẻ kêu một tiếng “be”. Một con linh dương trẻ liền bước ra. Một già một trẻ của hai nhóm đi đến vách núi đoạn mệnh. Sau đó lui lại vài bước, đột nhiên con linh dương trẻ hướng về trước chạy như bay, liên tiếp linh dương già cũng chạy theo. Con trẻ chạy đến ranh giới của vách đá, rùng mình một cái, hướng về phía khe suối đối diện mà nhảy. Con già liền kế theo sau cũng từ vách núi đá mà nhảy. Cứ một trẻ một già thời gian nhảy có trước sau một chút, tư thế nhảy cũng có khác. Con già nhảy thấp hơn , có nghĩa là có trước có sau, có cao có thấp.Tôi rất kinh ngạc, lẽ nào chết cũng phải từng đôi sao? Tôi nghĩ những con linh dương này trừ khi có ráp cánh mới nhảy qua được vách núi bên kia. Đúng vậy, con trẻ vừa nhảy được khoảng 5,6 mét thì rớt xuống ,trên không trung vẽ ra một đường cong rất đáng sợ. Tôi nghĩ nhiều nhất là vài giây nó sẽ rơi vào trong sâu thẳm. Đột nhiên một việc lạ xuất hiện. Con linh dương già nhờ vào kỹ thuật thành thạo của mình, tại chổ con trẻ từ điểm cao nhất trong nháy mắt nhảy xuống và toàn thân xuất hiện ở dưới móng của con trẻ, những con linh dương trong nhóm già nắm thời gian rất chính xác, ngay lúc mà toàn thân xuất hiện ở dưới móng của con trẻ thì cũng đúng lúc thời điểm cao nhất của đường cong nhảy, giống như hai chiếc tàu vũ trụ ở trên không trung hoàn thành nhiệm vụ tiếp nhận, bốn móng chân của nhóm trẻ đạp mạnh trên lưng của những con già, giống như nhờ vào cái cầu để nhảy qua vậy, nó ở trên không trung lại nhún một lần nữa và rơi xuống đất lại một lần nữa dồng lên cao. Mà các con linh dương trong nhóm già giống như xác phế của tên lửa đã di chuyển hết chất đốt sau đó tự động rời khỏi tàu vũ trụ,thậm chí nó càng bi thảm hơn xác phế tên lửa,sức mạnh của những con linh dương trẻ đạp nhún xuống giống như đôi cánh của con chim bị gãy ngang rớt thẳng xuống đất. Nhưng sức của những con trẻ nhảy lần thứ hai không xa như lần thứ nhất Độ cao cũng chỉ bằng nửa lần trước nhưng cũng đủ để vượt qua khoảng cách hai mét cuối cùng.Trong nháy mắt chỉ thấy những con linh dương trẻ rơi xuống ngọn núi đối diện thích thú kêu lên một tiếng “be” quay qua tảng đá đằng sau khuất dạng, cú nhảy đã thành công.

Lúc gấp gáp từng đôi từng đôi từ trên cao vòi vọi nhảy xuống, vùng cao trên khe suối như vẽ ra những đường cong làm người ta rối tung, thì từng con linh dương già đã rơi xuống thịt nát xương tan.

Tôi không ngờ đến giờ phút đồng loại sắp tuyệt diệt thì đàn linh dương đã nghĩ ra biện pháp hy sinh một nửa để giành lại một nửa cơ hội sanh tồn cho đồng loại.Tôi càng không nghĩ đến những con linh dương già sao mà ung dung khoan hồng chọn lấy cái chết, cam tâm tình nguyện, bỏ thân mệnh mình mở ra một con đường sống còn cho đời sau. Do tận mắt nhìn thấy một cảnh chết vô cùng bi tráng làm rung động lòng tôi. Tôi cảm thấy rất xấu hổ. Từ đó về sau, nguyện không sát hại bất cứ một sanh mạng nào dù là rất nhỏ.

Vạn vật đều có tánh linh…

(Gia Nguyễn chia sẻ từ Thư Viện Việt Nam)

UKRRAINE VÀ NHỮNG TỪ NGỮ DẪN ĐẾN SỰ GIẾT NGƯỜI HÀNG LOẠT

Oanh Vy Lý

UKRRAINE VÀ NHỮNG TỪ NGỮ DẪN ĐẾN SỰ GIẾT NGƯỜI HÀNG LOẠT

Anne Applebaum – Tạp chí Atlantic

Vào mùa đông khủng khiếp năm 1932–33, nhiều lữ đoàn thuộc Đảng Cộng sản Liên Xô đi đến từng nhà trong vùng nông thôn Ukraine để tìm kiếm thực phẩm. Họ đến từ Moscow, Kyiv, Kharkiv, cũng như các làng bên dưới đường. Họ đào các khu vườn, đập toang các bức tường và dùng que dài chọc vào ống khói, để tìm chỗ người ta giấu ngũ cốc.

Họ tìm khói bốc ra từ ống khói nhà dân, vì điều đó nghĩa là có người đã giấu bột và đang nướng bánh mì. Họ cướp đi gia súc và tịch thu cây giống. Sau khi họ bỏ đi, nông dân Ukraine thiếu thốn lương thực, đã phải ăn chuột, ếch và cỏ luộc. Họ gặm nhấm vỏ cây và da thuộc cho đỡ đói. Nhiều người còn ăn thịt đồng loại để sống sót. Khoảng bốn triệu người chết đói thời gian này.

Khi đó những người tham gia chiến dịch không hề cảm thấy tội lỗi. Liên Xô tuyên truyền rằng những người nông dân đó là kulaks, là những chủ đất giàu có, là kẻ thù nguy hiểm của giai cấp vô sản. Thành phần kulaks nên được quét sạch, nghiền nát như ruồi muỗi, như ký sinh trùng.

Thực phẩm họ sở hữu phải được trao cho những người lao động trong thành phố, xứng đáng được nhận nó hơn họ.

Nhiều năm sau, nhiều văn sĩ Nga, những người đã tham gia vào chiến dịch cướp bóc đó, đã có dịp nhìn lại, và thấy rằng để không bị lương tâm cắn rứt, người ta che đậy sự thật vô nhân đạo khó thể chấp nhận bằng cách nhắm mắt, và đóng cửa lương tâm mình.

Họ nhớ về những từ ngữ được chính trị hóa giúp ngụy trang sự thật về những gì họ đã làm. Những từ ngữ đó làm cho họ không thấy thương cảm cho những người nông dân khốn khổ Ukraine, mà thay vào đó nhìn những người nông dân đó như một mối đe dọa cho sự thành công của chủ nghĩa xã hội. Họ lý giải cho những việc làm vô nhân đạo đó là yêu tổ quốc xã hội chủ nghĩa, giúp kế hoạch 5 năm thành công.

Các nhà văn này kể lại họ đã nghe và chính họ đã lặp đi lặp lại rằng những người nông dân Ukraine đó không phải là con người, mà chỉ là một thứ rác rưởi.

Chín thập niên đã trôi qua kể từ khi những điều khủng khiếp đó xảy ra. Liên bang Xô Viết không còn tồn tại. Sách viết ra của các nhà văn đã sáng mắt đó giờ có sẵn khắp nơi. Chúng ta đã nghĩ nếu kể ra những câu chuyện này sẽ khiến người ta không lặp lại những sai lầm đã mắc phải. Nhưng người dân Nga lại bị một thứ trở ngại khác che lấp tầm nhìn của họ. Đó là sự thờ ơ với bạo lực, sự thờ ơ vô nhân đạo đối với việc giết người hàng loạt.

Tuy dùng ít bạo lực hơn thời Stalin để trấn áp dân, chính phủ Putin có một chiêu khác: Ngày nay, truyền hình Nga, do chính phủ Nga điều hành đã mang tính giải trí hơn, phức tạp hơn, có phong cách hơn so với các chương trình trên đài phát thanh thời Stalin. Phương tiện truyền thông xã hội hiện giờ cũng gây nghiện và hấp dẫn hơn nhiều so với những tờ báo in thô thiển thời Stalin.

Những kẻ có tài châm biếm được đào tạo chuyên nghiệp và những người nổi tiếng được công chúng ủng hộ có thể định hướng sự tranh luận trên mạng xã hội, mang lại lợi ích cho Điện Kremlin mà lại ít tốn công sức hơn xưa rất nhiều.

Nhà nước Nga hiện giờ thay vì đưa ra một số viễn cảnh thiên đường cho người dân, họ lại muốn người dân trở nên hoài nghi và thụ động; dân có tin chính phủ hay không cũng không quan trọng. Mặc dù nói dối, nhưng họ cố gắng làm cho lời giả dối của họ như thật. Họ tức giận khi ai đó buộc tội họ nói dối, và họ đưa ra “bằng chứng” giả mạo để phản bác.

Ở nước Nga của Putin, chính trị gia và các nhân vật tiếng tăm trên truyền hình có một trò chơi khác, một trò chơi mà chúng ta ở Mỹ chỉ mới biết đến từ khi có các thủ đoạn chính trị của Donald Trump: Đó là nói dối liên tục, trắng trợn, rõ ràng. Nhưng nếu bị buộc tội nói dối, họ không bận tâm đưa ra lời phản bác. Cả một sự giả dối triền miên như thế dần dần làm người ta mệt mỏi, rồi trở nên thờ ơ, thay vì phẫn nộ. Vì liên tục dối trá như thế làm sao người ta có thể biết đâu là sự thật?

Thay vì ca ngợi một thiên đường Cộng sản, tuyên truyền hiện đại của Nga gần đây tập trung vào kẻ thù. Người Nga biết rất ít về những gì đang xảy ra nơi họ ở. Do đó, họ không phải thấy sự tương phản giữa thực tế và điều chính phủ rêu rao như trước đây dưới thời Liên xô. Mà họ được nghe liên tục về những nơi họ chưa biết chưa thấy như Mỹ, Pháp, Anh, Thụy Điển và Ba Lan — những nơi đầy rẫy sự suy đồi, đạo đức giả và “hội chứng bài người Nga”.

Nước Mỹ còn bị họ phác họa tồi tệ hơn. Người Mỹ sẽ rất kinh ngạc khi biết rằng truyền hình nhà nước Nga dành ra rất nhiều thời gian để nói về nền chính trị và người dân Mỹ, và cả các cuộc chiến tranh văn hóa của Mỹ. Có cả một đội ngũ lừa đảo của Putin được giao cho công việc tham gia điều khiển và thúc đẩy sự chia rẽ, phân cực ở người Mỹ,

Ukraine từ lâu đã đóng một vai trò đặc biệt trong các bản tin hàng đêm gây sợ hãi cho người dân Nga. Theo tuyên truyền của chính phủ Nga, Ukraine là một quốc gia giả tạo, không có lịch sử và không là một đất nước hợp pháp, một nơi mà theo lời của Putin, chỉ là “một mảnh đất phía tây nam” của Nga, một phần của “lịch sử, văn hóa và linh hồn Nga.”

Tệ hơn, Putin còn nói, đất nước giả tạo này đã bị các cường quốc phương Tây kiểm soát , bị vũ khí hóa, lầm lạc sai đường và sẽ hóa thân thành một tổ chức thù địch “chống Nga”. Xâm lược Ukraine là để bảo vệ Nga. Như những người kulaks trước đây, Ukraine phải bị loại bỏ không chút thương xót.

Putin nói với dân như vậy!

Con người ta có thể xúc phạm nhau, hạ nhục, thoá mạ nhau bằng từ ngữ căm thù mà không giết nhau. Nhưng khi đã quá quen thuộc với việc sử dụng ngôn ngữ diệt chủng thì hậu quả hành động của con người ta rất khó lường. Tất cả những cuộc diệt chủng trước giờ trong lịch sử đều xuất phát từ sự chuẩn bị bằng ngôn ngữ hăm dọa, căm thù, giết chóc. Sự tuyên truyền hiện giờ của nhà nước Nga đã chuẩn bị cho người Nga một sự thờ ơ, không còn chút thương cảm đối với Ukraine.

Họ đã thành công. Ngay từ những ngày đầu tiên của cuộc chiến, rõ ràng là quân đội Nga đã có kế hoạch giết hàng triệu thường dân, làm cho họ bị thương hoặc phải bỏ nhà ra đi. Chưa có thành phố nào bị tấn công trong lịch sử lại bị tàn phá chỉ vài ngày sau khi cuộc tấn công bắt đầu như vậy.

Ở Ukraine, vào tuần đầu tiên của cuộc chiến, tên lửa và pháo của Nga đã không từ một nơi nào, họ nhắm vào các khu chung cư, bệnh viện và trường học. Khi chiếm đóng, lính Nga đã sát hại cả nhân viên chính phủ Ukraine lẫn dân thường.

Khi quân đội Ukraine tái chiếm Bucha, ở phía bắc Kyiv, họ tìm thấy những xác chết bị trói tay sau lưng, nằm trên đường. Khi có mặt ở đó vào giữa tháng Tư, tôi nhìn thấy nhiều người đã bị ném vào một ngôi mộ tập thể. Chỉ trong ba tuần đầu tiên của cuộc chiến, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đã ghi lại rất nhiều các trường hợp hành quyết nhanh, hãm hiếp và cướp bóc hàng loạt tài sản của người dân.

Mariupol, một thành phố dân chúng nói tiếng Nga, rộng khoảng Miami, đã bị tàn phá gần như hoàn toàn. Trong một cuộc phỏng vấn đầy ấn tượng vào cuối tháng 3, Tổng thống Ukraine, Volodymyr Zelensky, lưu ý rằng trong các cuộc xung đột ở châu Âu trước đây, những người chiếm đóng đã không phá hủy mọi thứ, bởi vì bản thân họ cần một nơi nào đó để nấu nướng, ăn uống, giặt giũ; trong thời gian Đức Quốc xã chiếm đóng, “các rạp chiếu phim vẫn hoạt động ở Pháp.”

Nhưng Mariupol thì khác: “Mọi thứ đã cháy hết.” 90% các tòa nhà đã bị phá hủy chỉ trong vòng vài tuần. Một nhà máy luyện thép khổng lồ mà quân Nga muốn kiểm soát đã hoàn toàn bị san phẳng. Vào lúc cao điểm của cuộc giao tranh, dân thường bị mắc kẹt trong thành phố, không có thức ăn, nước uống, điện, sưởi, và thuốc men.

Đàn ông, phụ nữ, trẻ em chết vì đói khát. Những người cố gắng trốn thoát đã bị bắn theo. Những người bên ngoài cố gắng mang tiếp tế cũng bị nã súng vào. Thi thể của những người thiệt mạng, cả thường dân Ukraine và binh lính Nga, nằm trên đường phố nhiều ngày không được chôn cất.

Tuy nhiên, ngay cả khi những tội ác này được phơi bày trước toàn thế giới, chính quyền Nga đã che giấu được dân Nga thảm kịch này: bởi vì như đã xảy ra trong quá khứ, ngôn từ chính phủ dùng cho tuyên truyền bao lâu nay đã có ích cho họ. Đa số người Nga không còn lòng thương xót.

Các đoạn ghi âm cuộc nói chuyện qua điện thoại giữa binh sĩ Nga và gia đình cho thấy họ có đầy sự khinh miệt đối với người dân Ukraine. Một người lính nói với một người phụ nữ, có lẽ là vợ hoặc chị của anh ta: “Tôi đã bắn vào một chiếc xe.”

“Cứ bắn hết những đứa khốn kiếp đó đi,” cô ta đáp lại, “ Mẹ kiếp bọn chúng, cái đám nghiện ma túy và bọn phát xít chết tiệt đó!” Họ nói về việc ăn cắp tivi, uống rượu cognac, và những vụ bắn người trong các khu rừng. Họ không quan tâm đến thương vong, ngay cả thương vong về phía họ. Liên lạc vô tuyến giữa các binh sĩ Nga tấn công dân thường ở Bucha cho thấy họ lạnh lùng bất nhân.

Tổng thống Zelensky thật sự kinh hoàng trước sự thờ ơ của người Nga khi họ đề nghị gửi một số túi rác để người Ukraine bọc xác những người lính Nga: “Ngay cả khi một con chó hay một con mèo chết, người ta cũng không làm như thế,” ông nói với các nhà báo.

Tất cả những điều này – sự thờ ơ với bạo lực, sự thản nhiên vô nhân đạo trước việc giết người hàng loạt, thậm chí là sự coi thường mạng sống của những người lính Nga – là điều quen thuộc đối với bất kỳ ai biết lịch sử Liên Xô. Nhưng dân Nga và binh sĩ Nga hoặc không biết lịch sử đó hoặc không quan tâm.

Tổng thống Zelensky đã nói với tôi rằng, giống như “những người nghiện rượu không bao giờ thừa nhận họ nghiện rượu”, những người Nga này “sợ phải công nhận mình có tội”. Không có sự hối cải nào sau nạn đói ở Ukraine, hay trại tập trung Gulag, hay Đại khủng bố năm 1937–38, không khi nào thủ phạm bày tỏ chính thức sự ân hận.

Bây giờ chúng ta đã thấy. Ngoài những thiểu số hướng thiện như các nhà văn Kravchenko và Kopelev, hầu hết người Nga tin vào những điều nhà nước tẩy não họ trong quá khứ và cả hiện tại.

Kulaks không phải là con người; họ là một thứ rác rưởi, người ta đã được nhồi sọ như thế.

Và bây giờ, đa số dân Nga tin rằng dân Ukraine không phải là con người; mà là phát xít!

Thụy Mân lược dịch.

https://www.theatlantic.com/…/ukraine-mass…/629629/

THẾ NÀO LÀ TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ?-QUÂN ĐỘI NGA, SỰ MỤC NÁT TỪ BÊN TRONG

Oanh Vy Lý

THẾ NÀO LÀ TÁC CHIẾN ĐIỆN TỬ?

QUÂN ĐỘI NGA, SỰ MỤC NÁT TỪ BÊN TRONG

Trong chiến tranh hiện đại, hễ ai phát hiện kẻ địch trước thì người đó thắng.

Trong chiến tranh vùng vịnh lần thứ nhất năm 1992, Liên quân do Mỹ dẫn đầu đã đánh tan quân Saddam Hussen trong thời gian ngắn là bởi vì vũ khí Mỹ luôn phát hiện kẻ địch trước. Khi đó xe tăng M1 Abrams của Mỹ có thiết bị quan sát hiện đại hơn, tầm bắn xa hơn và chính xác hơn.

Chính vì thế xe tăng Mỹ luôn phát hiện xe tăng T72 của phía Iraq trước và biến những cỗ tăng do Nga sản xuất thành những đống lửa cháy rực trời. Trong chiến tranh mà để bị lộ trước thì ắt sẽ thua mà thôi.

Hiện nay nước Mỹ đi đầu về công nghệ tàng hình cho chiến đấu cơ, chiến hạm vv… cũng là dựa trên quan điểm, không để kẻ thù phát hiện ra ta hoặc kẻ thù phát hiện ra ta chậm hơn ta phát hiện ra chúng. Chính người Pháp khi sản xuất chiến đấu cơ lừng danh Rafale cũng thừa nhận chiến đấu cơ của họ có nhiều điểm ưu việt hơn F-35 của Mỹ, tuy nhiên họ thừa nhận họ đi sau Mỹ về công nghệ tàng hình.

Và hiện nay, Pháp đang đi khắp thế giới rao bán chiến đấu cơ Rafale nổi tiếng của mình nhưng với F-35 thì hàng loạt khách xếp hàng chờ mua. Thực tế đã chứng minh, máy bay ném bom tàng hình B2 Spirit của Mỹ chưa hề bị đối phương bắn hạ dù nó đã ra đời từ rất lâu và được tham chiến nhiều điểm nóng trên thế giới từ nhiều thập kỷ qua.

Tác chiến điện tử trong quân sự là dùng công nghệ tiên tiến và trình độ có chuyên môn cao của lực lượng vũ trang để làm chủ thế trận, khống chế làn sóng điện từ đối phương, gây nhiễu loạn thống chỉ huy đối phương, phá hủy thông tin liên lạc của địch, đánh lừa hoặc che mất tầm quan sát của địch. Nói chung, mục đích của tác chiến điện tử là biến đối phương thành kẻ mù trước quân ta và từ đó giành chiến thắng. Tác chiến điện tử nó phụ thuộc vào 2 yếu tố: công nghệ và khả năng làm chủ công nghệ.

Lý thuyết là vậy, tuy nhiên xem ra khoa học quân sự của Nga đã đuối sức trong cuộc chạy đua này. Nga không thể huấn luyện cho binh lính Nga những gì mà nước Nga không có, vậy nên, khi khoa học quân sự đã lạc hậu thì trình độ tác chiến của quân đội Nga trong lĩnh vực tác chiến điện tử cũng thấp hơn quân độ Mỹ một bậc.

Theo Rfi thì chính vì quân đội Nga tại Ucraina không có điện thoại mã hóa nên liên lạc bằng bộ đàm thông dụng, thậm chí bằng mạng di động của Ukraina nên đã dẫn đến cái chết của 10 tướng lãnh. Thời đại tác chiến điện tử quyết định thế trận mà quân Nga để xảy ra trường hợp như thế thì quá tệ rồi. Chống sao nổi trước vũ khí Mỹ và Phương Tây đây?

Khi công nghệ kém thì thì không những khí tài quân sự bị tiêu hao nhiều mà nhân mạng cũng chất thành núi. Chỉ qua 2 tháng chiến tranh mà đã có khoảng 15.000 người lính Nga ngã xuống (theo số liệu của Anh), ít nhất 1.600 xe bọc thép bị phá hủy, cùng với vài chục máy bay, soái hạm Moskva và tàu tuần tra cao tốc Raptor nổ tung vì bị quân Ucraina bắn trúng.

Chạy đua về công nghệ là chạy đua về chất xám và tài chính. Cả hai mặt này, Nga không thể cạnh tranh nổi với Mỹ. Với sự điều hành kém cỏi của độc tài Putin, nước Nga trở thành quốc gia tham nhũng cao như các quốc gia độc tài khác. Chính vì thế nguồn tiền rót vào nghiên cứu và đầu tư chế tạo bị bóp lại mặc dù Nga đầu tư cho quốc phòng rất lớn. Đến lốp bánh xe mà còn dùng hàng Tàu và thông tin liên lạc ngoài chiến trường còn dùng máy bộ đàm phổ thông do Trung Quốc sản xuất thì làm sao quân Nga có thể đối đầu vũ khí Mỹ trên chiến trường?

Giai đoạn đầu của chiến tranh Ucraina, phía Ucraina đã dùng vũ khí Nga chống lại vũ khí Nga, ấy vậy mà Putin còn không thắng nổi. Với gói viện trợ 33 tỷ đô la của Mỹ thì có thể nói quân đội Ucraina sẽ thay máu kho vũ khí cũ kỹ của họ. Lúc đó, quân Nga sẽ đối đầu với vũ khí Mỹ trên chiến trường thì cục diện sẽ khác chứ không như hiện nay.

Từ hơn 2 tháng qua, quân đội Ucraina được các nước phương tây hỗ trợ vũ khí với số lượng khiêm tốn nhưng phía Ucraina đã từ thế phòng thủ chuyển dần sang tấn công. Quân Ucraina đã đánh cháy nhiều cơ sở hậu cần của quân Nga trên lãnh thổ Nga. Đây là lời cảnh báo cho Putin. Không khéo, Nga lại mất luôn Crimea.

Cuộc chiến Ucraina là bài test hiệu quả cho vũ khí Nga. Vũ khí Nga đang thua trước vũ khí Mỹ và thực tế cho thấy, sức mạnh quân sự Nga không như thế giới đang suy nghĩ về họ. Ucraina chưa đuổi quân Nga ra khỏi lãnh thổ mà Phần Lan và Thụy Điển có đáp số cho riêng họ. Sau bao nhiêu năm không dám gia nhập NATO vì sợ Nga, nay họ đã mạnh dạn nộp đơn xin gia nhập tổ chức quân sự này. Khả năng đe dọa của Nga bị giảm đi rất nhiều. Như vậy là Nga đã thất bại rồi, sự thất bại này có công rất lớn của Putin.

Biết rằng vũ khí Nga bán rẻ và thủ tục đơn giản, Nga không đòi hỏi điều kiện khắt khe với bên mua như Mỹ. Tuy nhiên, thời buổi chiến tranh công nghệ mà ham rẻ ham nhiều thì chẳng được gì cả. Việc này sẽ gây nên thiệt hại rất lớn về người và khí tài nhưng lại mất lợi thế trên chính trường.

Việt Nam đã được Mỹ dỡ bỏ cấm vận vũ khí sát thương từ năm 2015, tuy nhiên cho đến nay ĐCS vẫn bám vũ khí Nga. Họ bám vũ khí Nga bởi vì mua loại vũ khí này họ được lại quả đậm. Đây là bước đi rất sai lầm của ĐCS Việt Nam. Sở hữu vũ khí đồng nát, và tham nhũng tràn lan trong quân đội đã là quân đội Nga suy yếu rõ rệt. Quân đội Nga thế thì quân đội Việt Nam thì cũng chẳng khác gì, chả lẽ Trung Quốc không nhìn ra? Đấy là mối nguy./.

Đỗ Ngà

TÔI LÀ NẠN NHÂN CỦA GIÁO DỤC XHCN!

Le Thanh Hoang Dan

Thảo luận về Kinh tế, Chính trị & Xã hội Việt Nam 

Bùi Toàn  

TÔI LÀ NẠN NHÂN CỦA GIÁO DỤC XHCN!

Cách đây mấy năm tôi nhận thư mời giảng dạy cho một trường cao đẳng hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ tại SG. Thầy Hiệu Trưởng là một Thạc sĩ du học từ Mỹ về vì thế thầy có tư tưởng tiến bộ.

Chính môi trường giáo dục này đã làm thay đổi hoàn toàn tư tưởng và quan điểm chính trị của tôi – hay nói cách khác tôi hoàn toàn thức tỉnh kể từ khi bước vào dạy ở đây!

Phong cách giảng dạy của tôi bao giờ cũng tự tin và tự do trong học tập, sinh viên được tự do nói lên chính kiến trong các giờ giảng của tôi, không hề có một sự ràng buộc và áp chế nào!

Trong một buổi giảng tại trường này, tôi nhớ là buổi thứ 04 gì đó, tôi có nhắc đến sự phát triển kinh tế của VN sau 1975 và có nhắc đến đảng cs và ông hồ chí minh theo kiểu tuyên truyền của cs. Ngay lập tức hơn nửa lớp giơ tay đòi phát biểu ý kiến với thái độ tức giận! Chứ không phải là bình thường như các buổi học trước đó, nhưng vốn dĩ đã có kinh nghiệm giảng dạy nhiều năm ở các chương trình cao đẳng Đh, tôi vẫn bình tĩnh xử lý tình huống bất thường này, tôi ổn định lớp trước và hứa với các bạn tôi sẽ lắng nghe hết tất cả chính kiến của các bạn! Nếu cần tôi xin nhà trường ở lại trường muộn để lắng nghe hết tất cả mọi ý kiến của các bạn. Ngày hôm đó quả là một ngày tồi tệ nhất trong cuộc đời giảng dạy của tôi – nhưng cũng là một ngày ý nghĩa thức tỉnh lương tri của tôi.

Đầu tiên là một cô bé người Việt gốc Hoa, tôi cho em phát biểu trước tiên vì em là người phản đối đầu tiên và giơ cánh tay liên tục không bỏ xuống, thái độ vừa tức giận nhưng nước mắt thì chực trào, tôi đưa khăn giấy cho em lau nước mắt và kêu em bình tĩnh kể cho tôi nghe chuyện gì đã và đang xẩy ra: rồi em nói to gia đình em là nạn nhân của cộng sản, ông bà nội của em là người gốc Hoa trước 1975 là một nhà đại tư sản có nhiều sạp vải tại Chợ Lớn SG, nhưng khi cs vào đã cướp hết của cải bao nhiêu nhà cửa, và đẩy gia đình ông bà nội lên vùng kinh tế mới, và ông bà nội đã không chịu được rừng sâu nước độc và đã chết sau đó, người anh của bạn cũng chết vì lao động quá sức và bị sốt rét….Em vừa kể vừa khóc, nhưng ánh mắt thì đầy căm phẫn….

Một bạn, hai bạn, ba bạn, bốn bạn….lần lượt những câu chuyện tương tự như vậy được kể liên tục, như một cuốn phim tài liệu tua lại lịch sử đau thương của người dân MN phải hứng chịu khi cs xâm chiếm được MN….tất cả tội ác được phơi bày trước mắt tôi….

Tất cả sự thật và tội ác được phơi bày trước mắt tôi mà mấy chục năm nay bị che dấu, tôi không hề hay biết! Lỗ tai tôi bắt đầu lùng bùng, nước mắt chực trào lúc nào không hay biết, tôi bắt đầu choáng váng, xây xẩm mặt mày, cảm giác khó thở….còn mấy em nữa muốn được kể cho tôi nghe, nhưng thật sự tôi lúc đó chỉ muốn ngã khuỵu xuống….tôi đành phải xin lỗi những bạn khác và hứa buổi học sau sẽ cho các bạn kể hết, hơn nữa cả trường đã ra về từ lâu lắm rồi!

Hôm đó tôi phải gọi taxi đi về nhà, vì tôi quá sốc và mệt không thể tự chạy xe về nhà được nữa, về đến nhà tôi vất ba lô, laptop xuống và nằm vật ra giường ôm mặt khóc nức nở….

Ngày hôm sau, khi đã ổn định tinh thần tôi bắt đầu vào google và tìm các từ khoá như “ Sự thật về HCM, sự thật về Đảng cộng sản, sự thật về đánh tư sản sau 1975, sự thật về giải phóng miền nam…”, …..tôi hoàn toàn sốc từ sự thật này đến sự thật khác và cứ thế tôi khóc….đó là những ngày tồi tệ nhất của cuộc đời tôi…nhưng nhờ nó mà tôi phản tỉnh, lương tri tôi thức tỉnh và tôi bắt đầu dạy khác đi, và đỉnh điểm năm 2018 tôi cùng nhiều SV xuống đường biểu tình chống luật đặc khu….Và cũng kể từ đó tôi bắt đầu nằm trong danh sách theo dõi của an ninh thành phố! Tôi và gia đình người thân chịu nhiều đàn áp về mặt tinh thần từ nhà cầm quyền csVN! Tôi nghỉ dạy vì tôi không chấp nhận giáo dục ngu dân trị của giáo dục xhcn VN!

Tôi là nạn nhân của giáo dục xhcn VN! Vì vậy thay vì tôi thức tỉnh sinh viên của mình, thì ngược lại tôi lại bị SV của một trường tiến bộ thức tỉnh tôi và giúp tôi thoát khỏi tư tưởng u mê, bị tẩy não và nhồi sọ suốt mấy chục năm qua! Tôi thành thật cảm ơn các em SV cũng là nạn nhân của cộng sản đã giúp tôi phản tỉnh và sống có trách nhiệm với đất nước, tổ quốc hơn!

Trần Hoan

https://m.facebook.com/story.php?story_fbid=513539233771956&id=100053476506338