Anh chàng Tây con học được ít tiếng Việt đã huyênh hoang tự đắc nói với ông Hai là hắn thông thạo ngôn ngữ Việt.
Ông Hai hỏi hắn em có biết tiếng Việt có bao nhiêu từ là ăn không? Hắn suy nghĩ mãi chịu bí. Ông Hai nói: Tiếng Việt có rất nhiều từ là ăn: Dồi đi! Nốc đi! Tọng đi! Chớt đi! Liếm đi! Xơi cơm, đả, hốc, dùng cơm… Hắn lấy cuốn sổ tay ra ghi chép rất cẩn thận.
Ông hỏi tiếp tiếng Anh có bao nhiêu từ mầu đen?
Chỉ có một từ đen thôi anh ạ. Vậy tiếng Việt có bao nhiêu từ mầu đen?
Tiếng Việt có rất nhiều từ chỉ màu đen. Gà đen gọi là gà ác. Chó đen gọi là chó mực, mực đen gọi là mực tầu, mèo đen gọi là mèo mun, ngựa đen gọi là ngựa ô, mắt đen gọi là mắt huyền, quần đen của phụ nữ gọi là quần thâm… Nhiều không kể hết em ạ.
Từ chết ở Việt Nam có vô số từ: Nghẻo, tịch, đi rồi, về rồi, mất rồi, từ trần, tạ thế, mệnh chung, mãn phần, viên tịch… (dùng cho các nhà sư).
Ông nghĩ thầm: Đến “ông tổ” ngôn ngữ tiếng Việt là Đào Duy Anh còn chưa dịch hết mọi ngôn ngữ của truyện Kiều nữa là thằng “Mắt xanh mũi lõ”. Lúc nào cũng “dương dương tự đắc” giỏi tiếng Việt. Hôm nay “Bố” cho mày nhừ đòn.
Bây giờ em giải thích cho anh câu: “Già dái non hột”
Hắn cắm tăm dễ đến dăm phút. Miệng lẩm bẩm: Dái sinh ra cùng với người, người bao nhiêu tuổi thì dái bấy nhiêu tuổi, sao lại dái già mà hột non được? Lắc đầu chịu thua.
Ông hai bảo: Ở Việt Nam là vùng khí hậu nhiệt đới, nhất là phía Nam, nắng nóng quanh năm, các trái cây bị rám nắng, nhìn tưởng quả nó già nhưng thực ra hạt nó còn non. Câu ấy nghĩa là “Già trái non hạt” Em ạ. Tùy theo trường hợp có đôi khi còn được hiểu là thằng chết nhát!
Ông Hai cười và lẩm bẩm Mẹ bố mấy thằng Tây! Học được vài từ cứ tưởng là mình thông suốt hết ngôn ngữ Việt, Cụ mày bạc đầu còn chưa hiểu hết chữ và nghĩa. Quê tao “chiếu không có hoa thì gọi là chiếu đậu. Cháo mà không có đậu gọi là cháo hoa” thì đến Cụ tổ nhà mày cũng “bó tay” con ạ.
Úc đứng thứ 12 & Mỹ đứng thứ 16 trong bảng xếp hạng các quốc gia hạnh phúc nhất thế giới. Ukraine ở vị trí 98 và Nga ở vị trí thứ 80
Trong năm năm liền, năm nay, Phần Lan tiếp tục đứng ở vị trí dẫn đầu trong bảng xếp hạng của Báo cáo Hạnh phúc Thế giới (The World Happiness Report). Năm 2022, điểm của Phần Lan cao hơn đáng kể so với những quốc gia khác trong top 10.
Các quốc gia Bắc Âu khác đều đạt điểm rất cao. Theo sau Phần Lan là Đan Mạch và Iceland. Thụy Sĩ, Hà Lan và Luxembourg xếp thứ tư và năm, Thụy Điển và Na Uy lần lượt đứng thứ bảy và tám. Israel đứng ở vị trí thứ chín và New Zealand đứng cuối của top 10.
Các quốc gia đứng vị trí tiếp theo: Canada (15), Mỹ (16) và Vương quốc Anh (17). Ba vị trí cuối trong top 20 là Czech Republic, Bỉ và Pháp.
The World Happiness Report là ấn phẩm do Mạng lưới Giải pháp Phát triển Bền vững của Liên Hợp Quốc thực hiện, lấy số liệu từ Gallup World Poll và Lloyd’s Register Foundation. Báo cáo này xếp hạng các quốc gia dựa theo thước đo như tuổi thọ, sức khỏe, GDP bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội trong thời kỳ khó khăn, mức độ tham nhũng và lòng tin xã hội, độ rộng lượng của cộng đồng và người dân được tự do đưa ra các quyết định quan trọng trong cuộc sống.
Báo cáo năm nay phát hiện một tin tích cực trong bối cảnh những bất ổn trên toàn cầu gia tăng. Đó là lòng nhân ái giữa người với người đang được lan tỏa.
John Helliwell, một trong ba biên tập viên sáng lập báo cáo, nói với CNN rằng những hoạt động đóng góp cho tổ chức từ thiện, giúp đỡ người lạ hoặc tham gia thiện nguyện đang xuất hiện ngày càng nhiều tại tất cả khu vực trên thế giới, so với trước đại dịch và năm 2020.
Một điểm sáng khác trong báo cáo năm 2022 là chỉ số lo lắng, căng thẳng đã giảm vào năm thứ hai của đại dịch. Năm 2021, chỉ số này tăng 4% và trước đại dịch tăng 8%. “Tôi nghĩ rằng một phần là vì mọi người biết họ cần làm gì để đối phó (với dịch) trong năm thứ hai, ngay cả khi có điều gì đó ập tới một cách bất ngờ,” ông Helliwell nói.
Ukraine và Nga đều rơi vào nửa cuối của bảng xếp hạng thế giới về mức độ hạnh phúc trong báo cáo năm 2022, với Ukraine ở vị trí 98 và Nga ở vị trí thứ 80.
Ở vị trí thứ 146, Afghanistan đứng cuối bảng xếp hạng trong báo cáo năm 2022, “một lời nhắc nhở rõ ràng về thiệt hại vật chất và phi vật chất mà chiến tranh gây ra cho nhiều nạn nhân”, Jan-Emmanuel De Neve, một biên tập viên báo cáo khác, cho biết.
Cuộc chiến hiện tại đang hoành hành ở Ukraine có nghĩa là hạnh phúc ở những nơi khác trên thế giới cũng có thể suy giảm. “Có thể tưởng tượng, hình ảnh đau thương do chiến tranh gây ra, sẽ khiến nhiều người cảm thấy mình may mắn vì không bị lâm vào hoàn cảnh đó, và từ đó, tình thương yêu, lòng nhân từ sẽ nảy nở, cảm thông cho những con người bất hạnh phải sống trong cuộc chiến kia,” Helliwell nói.
Hy vọng rằng, sự gia tăng về lòng nhân từ – dưới mọi hình thức – sẽ kéo dài đến năm 2022 và lâu hơn thế nữa.
Bệnh là một hiện tượng hiển nhiên trong cuộc đời. Có mang thân người là có bệnh. Mỗi chúng ta có thể trải qua một hay nhiều lần bệnh, không lúc này thì khi khác, không nặng thì nhẹ.
Nếu người nào, đến giây phút này vẫn chưa một lần bệnh thì đó là một hạnh phúc lớn. Nhưng ít ra, người đó cũng chứng kiến người thân của mình bị bệnh và biết chắc rằng, đến một lúc nào đó, mình có thể bị bệnh.
Do đó, bệnh là một hiện tượng rất gần gũi với con người mà chúng ta ít nhiều đều có kinh nghiệm, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp. Nói đến bệnh, ai cũng có thể nghĩ đến sự đau đớn, khổ sở, khó chịu, buồn bã, âu lo, sợ hãi và vô số những tâm lý tiêu cực khác. Hễ bệnh là đau.
Điều này không ai phủ nhận. Nhưng điều quan trọng là làm thế nào, dù đau (về thân), chúng ta đừng có khổ (về tâm). Bạn có thể thắc mắc đến ngạc nhiên rằng bệnh làm sao mà không buồn không khổ?
Tôi đã từng thắc mắc như vậy sau vài lần bệnh, nhưng sau đó, thay vào các thắc mắc là các bài học tự nghiệm ra được. Ở đây, tôi xin chia sẻ với các bạn một vài phương diện tích cực khi đang bệnh hoặc phải sống chung với bệnh.
Bệnh là cơ hội để nhận biết tín hiệu cơ thể. Khi chúng ta bị một chứng bệnh nào đó, chúng ta đừng vội buồn phiền, suy sụp tinh thần, thấy sao mình bất hạnh so với nhiều người khác. Bệnh là một điều tất yếu một khi chúng ta mang thân làm người, nên việc nó đến với người này, chưa đến với người khác, chỉ là vấn đề thời gian mà thôi. Không có gì bất công đâu.
Hãy coi bệnh là cơ hội để mình nhận được tín hiệu của cơ thể báo cho mình biết có gì đó không ổn trong cơ thể của mình. Ví dụ, khi nghe tức ngực, bạn biết rằng điều này nhắc bạn cần đến bác sĩ để khám, và như thế, rất có thể bạn sẽ biết và tránh được hoặc trì hoãn chứng bệnh mạch vành của tim trước khi mọi việc trở nên quá trễ. Hầu hết các chứng bệnh tiến triển từ nhẹ đến nặng và có những triệu chứng đi kèm.
Nếu chúng ta biết cách lắng nghe cơ thể để kịp thời nhận được tín hiệu thay đổi và có phương pháp xử lý phù hợp, chúng ta đã phần nào biết giữ gìn sức khỏe tốt và đem lại hạnh phúc cho bản thân mình, cho người thân và cho xã hội. Một số bệnh hiểm nghèo, như ung thư, vẫn có khả năng chữa trị nếu được phát hiện ở thời kỳ đầu.
Các bệnh khác cũng vậy. Do đó, sẽ không có gì đáng buồn khi chúng ta ‘nghe’ cơ thể không ổn. Thay vào đó, chúng ta nên vui, nếu không vui nổi thì cũng bình tâm, vì ít ra, mình nhận được tín hiệu mà cơ thể gửi cho mình. Hơn nữa, qua một lần nhận tín hiệu như thế, chúng ta phát triển khả năng lắng nghe cơ thể thường xuyên hơn. Nhờ đó, chúng ta biết cách điều chỉnh chế độ ăn uống và sinh hoạt phù hợp hơn với cơ địa của mình.
Bệnh là dấu hiệu cho bạn biết rằng bạn cần điều chỉnh cho cuộc sống trở nên thoải mái hơn. Thông thường, khi biết mình bệnh, chúng ta thường để tâm lý tiêu cực phát sinh. Bản năng sinh tồn thôi thúc con người muốn sống, nên không bằng lòng khi bệnh đến với mình, thế là tinh thần suy sụp, sợ hãi nảy sinh. Người nào có tâm lý như thế có nghĩa là đang góp phần đáng kể vào việc hủy hoại thân thể mình và làm cho bệnh càng trầm trọng mặc dù có sự can thiệp của các phương pháp trị liệu.
Rất nhiều chứng bệnh và cơn đau phát sinh do tâm lý căng thẳng. Các bệnh về tim mạch, huyết áp, dạ dày đều có liên quan đến tình trạng rối loạn tâm lý. Tâm lý không ổn định và mất thăng bằng là một trong những nguyên nhân rất dễ đưa đến rối loạn các quá trình trao đổi chất trong cơ thể và gây nên bệnh.
Do vậy, khi chúng ta bệnh, chúng ta cần nhận ra rằng đây là cách mà cơ thể báo cho mình biết rằng tâm trí cần nghỉ ngơi nhiều hơn và học cách chuyển hóa những căng thẳng hiệu quả hơn. Làm như vậy là giúp cơ thể nhanh lành bệnh và phòng bệnh về sau một cách hiệu quả.
Khi bệnh, chúng ta thấy nhu cầu chăm sóc tâm thức và đời sống tinh thần trở nên cần thiết hơn. Lúc đang mạnh khỏe, chúng ta những tưởng mình là bất tử, nên việc chăm sóc đời sống nội tâm chưa phải là vấn đề cần thiết lắm. Khi bệnh, chúng ta mới cảm nhận được cảm giác chơi vơi, trống vắng và sợ hãi. Khi ấy, chúng ta mới nhận ra rằng cái mình thật sự thiếu là một tinh thần vững chãi, một nội tâm kiên định để có thể vững vàng trong những tình huống như vậy. Từ đó, chúng ta học được cách chăm sóc tâm mình.
Thật ra, nhu cầu chăm sóc tâm thức cần được thực hiện thường xuyên chứ không đợi đến khi bệnh, vì nó cần thiết hơn cả việc chăm sóc thân thể. Thế nhưng, thông thường, chúng ta ít để ý đến nhu cầu này nên chưa nhận ra. Do vậy, nhiều người sau khi bị bệnh, thường quay về với đời sống tâm linh nhiều hơn. Đối với bản thân tôi cũng vậy, bệnh lần đầu tiên, buồn và nản lắm. Sau đó, thấy tinh thần mình bạc nhược. Như vậy là không được. Khi bệnh mình bất an thì những người thân thêm lo lắng chứ chẳng được gì. Rồi bệnh lần sau, tôi biết cách làm cho mình cảm thấy khá hơn và bây giờ, khi mang trong người căn bệnh mãn tính, tôi học được cách sống chung với bệnh và rút ra được nhiều kinh nghiệm trong quá trình ‘chung sống’ này để cuộc sống dễ chịu hơn.
Một điều có tính quy luật tôi rút ra được là lúc nào tâm tôi bình an và ít dao động, tôi có cảm giác ít đau đớn hơn. Nghĩa là, thân bệnh thì thân ‘đau’, nhưng không vì thân đau mà tâm phải ‘khổ’. Thật ra, khi thân đau, cũng chỉ có một vài bộ phận ở một vài khu vực đau mà thôi. Sự thổi phồng nỗi đau ra toàn thân và lan đến cả tâm là một căn ‘bệnh’ khác nan giải hơn cả bệnh lâm sàng mình đang mắc phải. Khi nào chúng ta để cái khổ của tâm gắn với cái đau của thân, cái đau khổ ấy thống thiết và nhức nhối vô CÙNG.
4. Bệnh dạy cho chúng ta về vô thường. Già, bệnh, rồi đến cuối chặng đường của một kiếp người là chết. Tất cả những hiện tượng tự nhiên này diễn ra không ngừng trong con người và mọi loài mọi vật.
Các giai đoạn (ta tạm gọi như thế, chứ thật ra không có ranh giới nào) sinh ra, trưởng thành, già cỗi và hư hoại đan xen nhau trải dài trên một chiếc trục gọi là ‘cuộc sống’ mà một cực là sự sanh ra trên cuộc đời và cực kia là cái chết. Ở mức độ vi tế hơn, chúng ta cần hiểu rằng trong mỗi tích tắc, bao nhiêu tế bào trong cơ thể chết đi và bao nhiêu tế bào mới được sinh ra. Thế nhưng, để ‘thấy’ được sự thay đổi thì cần phải có những biến chuyển cụ thể, rõ ràng và lớn hơn. Một khi bệnh, chúng ta dễ dàng nhận ra rằng mình đang ‘chuyển giai đoạn’.
Ý thức được vô thường giúp chúng ta ý thức hơn về cách sử dụng và quản lý thời gian của bản thân cũng như điều chỉnh các mối quan hệ với những người xung quanh để có một cuộc sống ý nghĩa hơn. Chỉ có những người trải qua cơn bạo bệnh mới hiểu được trọn vẹn sức khỏe tốt là một thứ tài sản vô giá, để rồi sau đó, họ không phung phí tài sản ấy.
5. Bệnh làm cho chúng ta tăng trưởng tâm từ bi. Khi ta bệnh, ta thấu hiểu nỗi đau của người khác nhiều hơn, nhất là những người mắc bệnh giống mình hoặc bệnh nặng hơn mình. Người xưa nói ‘đồng bệnh tương lân’ quả không sai. Trong đau đớn, chúng ta cảm thấy mình không đơn độc chống chọi với căn bệnh này. Nghĩ đến những người cùng chịu nỗi đau giống mình hoặc hơn mình nữa, chúng ta có thể dễ dàng trải lòng thương yêu đến cả những người không quen.
Tâm đồng cảm, thấu cảm và chia sẻ với những người cùng bệnh rất lớn. Nếu chúng ta tiếp tục nuôi dưỡng tâm lành này, tức là chúng ta đang nuôi dưỡng tâm từ bi của mình. Nhờ đó, chúng ta sẽ có những động thái tích cực và thiết thực góp phần giúp người bệnh vơi nhẹ nỗi đau bằng kinh nghiệm bản thân. Thực tế, khi chứng kiến bệnh tật, thân nhân người bệnh cũng mở rộng tấm lòng và sự đồng cảm đối với những người bệnh. Các chương trình ‘Ước mơ của Thúy’, “Nụ cười của Ben’ là những ví dụ sinh động về sự chia sẻ đồng cảm của những người có người thân từng là bệnh nhân nhi ung thư đối với những em bé có cùng số phận.
Bệnh giúp chúng ta nuôi dưỡng tâm khiêm hạ và biết đủ. Khi bệnh, chúng ta mới sực nhớ ra rằng cuộc đời mình không phải là không có giới hạn. Giới hạn của con người là lẽ thường xưa nay, nhưng bình thường chúng ta không ý thức đầy đủ về những giới hạn của mình. Nếu thấy người khác bệnh, chúng ta cứ tưởng bệnh chỉ đến với người đó mà không đến với mình. Cho đến khi chính bản thân mình hay người thân bị bệnh như bao người khác, chúng ta mới kịp nhận ra, ai cũng chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên: đau, già, bệnh và chết.
Ý thức rằng mình không hơn gì người khác, ít nhất là trong quy luật tự nhiên này, giúp chúng ta bớt đi lòng kiêu hãnh và trở nên khiêm tốn hơn trong cuộc sống. Qua một lần bệnh, chúng ta có thể bớt đi lòng tham cầu một cách đáng kể. Qua một lần bệnh, chúng ta có thể biết cách tổ chức cuộc sống mình hiệu quả hơn và tốt hơn.
Bệnh giúp chúng ta có ý chí và nghị lực hơn. Ý chí và nghị lực là kỹ năng sống cần được rèn luyện trong nhiều tình huống khác nhau trong cuộc sống. Thế thì tại sao mình bỏ qua cơ hội bệnh để rèn luyện kỹ năng này? Tôi bệnh nhiều lần và tôi nghiệm ra một điều, sau mỗi lẫn bệnh, tôi trở nên mạnh mẽ hơn, nghị lực hơn và rồi các lần bệnh đến và đi cũng nhẹ nhàng hơn.
Thật ra, tôi làm được điều này cũng nhờ nghĩ đến cha tôi, một người trở về từ chiến trường chỉ còn một cánh tay và một chân không bao giờ gấp lại được vì một vết mổ, dù những năm tháng ở chiến trường, cha tôi chỉ biết cầm kim, dao mổ và ống chích chứ chưa bao giờ biết cầm súng. Với cánh tay đã mất, cha phải chịu đau đến ba lần cắt (lần đầu cắt bàn tay, lần thứ hai tháo khớp khủy tay vì nhiễm trùng, lần thứ ba lại cắt tiếp vì nhiễm trùng nữa). Thế mà cha tôi vẫn vui sống, luôn tích cực trong suy nghĩ và hành động, truyền nghị lực và sức sống còn lại cho những đứa con.
Thế nên mỗi lần đau bệnh, có khi nằm cả tháng trời, có khi đau răng nhức nhối khó chịu, lúc trật khớp chân mất cả tuần mới đi lại được và hiện tại là cơn đau dai dẳng đeo đẳng theo tôi từ mấy năm qua, tôi vẫn thấy không thấm vào đâu so với nỗi đau của cha mình. Nghĩ như thế, tôi vượt qua cơn đau dễ hơn mình tưởng. Cách nghĩ như vậy là liều thuốc giảm đau hiệu nghiệm nhất đối với bản thân mình.
Trên đây, tôi chia sẻ những ‘lợi ích’ khi mình bệnh. Nói như vậy không có nghĩa là tôi muốn bản thân mình hay các bạn, hoặc ai đó bị bệnh. Bệnh là một hiện tượng nằm ngoài ý muốn của con người. Những điều trên, đơn giản là vài phương pháp mà tôi dùng đến mỗi khi bệnh.
Đó là những phương pháp hỗ trợ các phương tiện trị liệu y khoa, làm cho bệnh mau lành và giúp người bịnh không hao tổn quá nhiều năng lượng để ‘chống chỏi’ với bệnh. Nếu thấy điều nào phù hợp với mình, các bạn cứ thử áp dụng, tôi tin là sẽ có hiệu quả.
Nguyên tắc chung để chịu đựng và sống chung với bệnh (đối với các bệnh mãn tính và những thương tật vĩnh viễn do tai nạn) là khi thân đau, đừng để tâm khổ vì cái đau của thân. Hãy xem bệnh là một ‘vị khách không mời’ và đối xử lịch sự với ‘nó’. Đừng xua đuổi vì một khi bị xua đuổi, nó sẽ kháng cự.
Việc chúng ta cần làm là tạo một môi trường thích hợp nhất để ‘nó’ tự ra đi. Hãy buông bỏ, nó sẽ tự ra đi không một lời từ biệt đó các bạn ạ.
Mục tiêu ban đầu của Nga khi đánh Ukraine là đánh nhanh, thắng nhanh, phát động quần chúng nhân dân Ukraine đứng lên phối hợp với quân đội giải phóng Nga, lật đổ “ngụy quyền” Zelensky và tiêu diệt bẽ lũ phát xít Azov, xây dựng nhà nước Ukraine hòa bình, hữu nghị, hợp tác (với Nga). Ban đầu, mọi sự tưởng như diễn ra theo kế hoạch khi cả những nhà quan sát lạc quan nhất cũng không thể nghĩ là Ukraine trụ được cho tới một tháng, chưa nói tới việc những người bi quan thì cho rằng việc Nga chiếm Kyiv, bắt giữ (hay buộc Zelensky phải đào tẩu ra nước ngoài) sẽ chỉ trong vài ngày tham chiến.
Và quả thật lúc đầu, chỉ sau hai ngày tham chiến, lính dù Nga đã chiếm giữ được một sân bay quan trọng cách thủ đổ Kyiv chừng 60km, và họ kỳ vọng sẽ dùng mũi nhọn đó để đưa quân đặc nhiệm đánh vào trong thành phố, gây hoảng loạn và bắt giữ hay ám sát các quan chức cao cấp chính quyền (khi đó Zelensky còn lên truyền hình nói rằng chưa biết chừng đây sẽ là bài phát biểu cuối cùng của tôi và tôi được đưa vào là đối tượng số 1 để quân Nga bắt cóc hay ám sát).
Nhưng người Nga không ngờ tinh thần dân tộc mãnh liệt của người Ukraine. Người Nga vẫn được nuôi dạy bằng một tinh thần sô-vanh (chauvinist) rằng Nga và Ukraine là hai dân tộc anh em nếu không nói là chỉ là một dân tộc, trong đó Ukraine là cậu em dại dột, đôi khi ương bướng cần được ông anh đưa vào khuôn phép… Và không chỉ người Nga, rất nhiều người Việt Nam cũng nghĩ như vậy. Những người này không biết rằng một quốc gia ra đời là do ý chí, nguyện vọng của người dân nước đó, và những lý do mơ hồ như cách đây 1000 năm, tổ tiên người Nga và Ukraine được xuất phát từ công quốc Kyiv Rus hoàn toàn là những thứ lý luận ngớ ngẩn, không phù hợp với lý thuyết và thực tiễn về dân tộc- quốc gia hiện đại. Nếu lấy đó làm căn cứ thì người Mỹ lẽ ra không bao giờ có thể độc lập khỏi Anh khi mà đa phần người Mỹ thời thuộc địa đều nói tiếng Anh, có nguồn gốc từ Anh…
Sức kháng cự mãnh liệt của người Ukraine, việc kiên cường bám trụ thủ đô và không di tản của Tổng thống Zelensky, cũng như sự đồng lòng trong việc hỗ trợ Ukraine và trừng phạt Nga từ phương Tây (và chấp nhận cái giá không nhỏ từ việc đó). Gần như toàn bộ châu Âu (kể cả những nước láng giềng sát biên giới Nga trừ Belorusia) đều đứng lên chống Nga. Các nước trung lập như Thụy Điển, Thụy Sĩ, hay có truyền thống tránh làm gấu Nga tức giận như Phần Lan chuyển sang ủng hộ hẳn Ukraine, viện trợ vũ khí hay tham gia trừng phạt Nga. Nếu có điều gì Putin thành công sau 30 ngày chiến tranh và khi không chiếm được thành phố lớn nào cả thì đó là làm cho tâm lý ghét Nga, sợ Nga trở thành một hiện tượng chung. The Russians are coming- như tên một bộ phim được sản xuất năm 1966 của Mỹ.
Cũng không nên quá ngạc nhiên với việc từ đây, những người Nga sẽ bị kỳ thị khi ra nước ngoài, nhất là ở phương Tây. Putin không phải là tất cả người Nga cũng như Hitler có thể không phải là đại diện cho dân tộc Đức. Nhưng tại sao sau 1945, nước Đức phải có quá trình vật vã tự nhận trách nhiệm của mình về di sản “quốc xã” như thế, trong hàng chục năm, để có thể lấy lại được hình ảnh của mình như một dân tộc văn minh, một đất nước dân chủ? Khi mà hơn 70% người Nga vẫn ủng hộ Putin, khi mà Putin được họ bầu ra làm lãnh đạo cao nhất trong hơn 20 năm qua, và để ông ta thỏa thích làm những gì tùy ý muốn tới mức ông ta giờ đây đồng nhất những gì ông ta muốn, như xâm lược, bạo lực, bành trướng, đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân… như là ý nguyện của dân tộc Nga thì người Nga cũng bắt buộc phải chịu trách nhiệm một phần về tất cả những điều đó.
Một điều nữa đáng chú ý trong cuộc chiến này là kế hoạch B của Nga, tức là dựng lên một chính quyền Ukraine thân Nga dường như đã bị vứt vào sọt rác sau các thất bại trên chiến trường và khi tỷ lệ ủng hộ Zalensky lên tới hơn 90% khi chiến tranh xảy ra. Người ta không nghe được các tuyên bố ủng hộ Tổng thống Putin từ các quan chức cao cấp, nhân sĩ, trí thức tên tuổi của Ukraine, không có một “mặt trận giải phóng”, một lực lượng vũ trang Ukraine thân Nga nào được thành lập và tham gia chiến đấu cùng quân Nga để giải phóng Tổ quốc. Ngay cả Yakunovych, người bị lật đổ trong cuộc nổi dậy Maidan 2014, và đang sống lưu vong ở Nga cũng hoàn toàn im lặng. Đảng đối lập thân Nga ở Ukraine là đảng Opposition Platform — For Life cũng lên tiếng phản đối cuộc xâm lược Ukraine. Chắc chắn dù Nga có chiếm được Ukraine (một khả năng tới giờ đang ngày càng nhỏ) thì cũng sẽ không dễ tìm ra được những gương mặt nào đủ sạch sẽ để lập ra một chính quyền bù nhìn thân Nga trong bối cảnh này.
Để làm kỷ yếu kỷ niệm về giáo sư Trần Văn Trạm theo như yêu cầu của giáo sư Nguyễn Thị Phi Phượng, xin ghi lại vài việc mà hai vợ chồng tôi đã may mắn được gặp gỡ hai lần:
1)Mùa hè năm 2001 vợ chồng tôi có duyên gặp vợ chồng anh Trạm và Phi Phượng ở Hayward, Cali lúc hai người mới qua định cư ở Mỹ.
Năm đó, hãng bảo hiểm tổ chức đi Lake Tahoe, nhân dịp đó, chúng tôi đã tìm cách đến Hayward để gặp vợ chồng Phi Phượng, là bạn của bà xã tôi lúc còn học trường trung học Châu Văn Tiếp, Bà rịa (Phước Tuy).
Rồi cuộc gặp gỡ đó cũng là cơ duyên để hai gia đình chúng tôi thường xuyên trao đổi tâm tình với nhau chuyện xưa, chuyện nay, chuyện con cái, các cháu nội ngoại.
2)Cách nay vài năm, hai vợ chồng Trần Trạm và Phi Phượng có ghé thăm Houston. Vợ chồng tôi lại được đón tiếp tại nhà khoảng một tuần lễ để có dịp đi thăm bà con, thân nhân cùng bạn hữu những người bạn mà cái thời gọi nhau rất thân mật “mày, tao” rất quý mến, dễ thương.
Nhất là đi thăm người cậu thứ tư là Giáo sư Trần Thượng Thủ, (1) cựu giáo sư trường Petrus Trương Vĩnh Ký. Giáo sư Trần Thượng Thủ là hậu duệ khoảng 5,6 đời của Tướng Trần Thượng Xuyên, tướng nhà Minh phải tị nạn sang Việt Nam cùng với Tướng Dương Ngạn Địch để trốn tránh sự truy lùng của quan quân nhà Thanh vào năm 1679. Trần Thượng Xuyên là người có công khai phá cù lao Phố Đồng Nai (Biên Hòa). (2)
Chúng tôi cũng có đến thăm vợ chồng thầy Chấn, cựu giáo sư Châu Văn Tiếp ở Sugarland.
Bà xã tôi vẫn thường nhắc nhở, nhớ lại thời còn đi học ở trường Châu Văn Tiếp khoảng trước năm 1965, khi nhà trường cho nghỉ học bất ngờ, tài xế của gia đình Phi Phượng được yêu cầu chở chúng tôi, đi Long Hải để vui chơi, tắm biển?
Qua hai lần gặp mặt anh Trạm, tôi có nhận xét anh rất hiền lành, ít nói nhưng rất gần gũi, dễ thân thiện.
Rồi bất ngờ Nguyễn Phi Phượng cho hay anh Trạm bị bịnh, không đi lại bình thường được, phải dùng “walker” khung tập đi, dành cho người tàn tật, để di chuyển. Sau một cơn “stroke”, tay chưn yếu mỗi lần đi thường hay bị té.
Mới đây cũng được tin từ bạn bè cựu học sinh trường Châu Văn Tiếp là anh Trạm đã ra đi. Rất bất ngờ vì mới đây thôi, hai vợ chồng qua Houston vẫn khoẻ mạnh đâu có triệu chứng, bịnh hoạn gì đâu, mà nay anh Trạm lại bỏ gia đình vợ con, bạn bè, rời bỏ thế gian này mà ra đi. (3)
Quả thật, không ai có thể tính toán được lúc nào, thời gian nào mình sẽ ra đi.
Cũng như đầu tháng mười năm rồi (2021) con trai tôi cũng đã ra đi lúc 48 tuổi để lại vợ và hai con 16 tuổi và 11 tuổi. Đi câu cá mà gặp tai nạn, bị nước cuốn và bị ngộp nước. Thật là sự kiện rũi ro hiếm hoi, ít gặp, khó mà tin được.
Cho nên lúc nào tôi cũng thường tự nhắc nhở rằng: “sống hôm nay như là ngày cuối cùng trong đời của mình” để lúc nào tôi cũng cố gắng sống tốt, sống tích cực, luôn cảm thấy hạnh phúc vì tôi còn sống.
Cám ơn vợ chồng anh Trạm và Phi Phượng để lại nhiều kỷ niệm mà chúng tôi không bao giờ quên được.
Người Việt Nam chúng ta cũng thường nhắc nhở với nhau rằng “sống gởi, thác về”, sống trên trần thế này chỉ là tạm bợ, ai may mắn lắm cũng chỉ được trăm năm hay hơn một chút. Và ai ai cũng phải “trúng số độc đắc một lần” đó là sự chết.
Chỉ khi chết đi rồi chúng ta mới về với ông bà tổ tiên, về với thân nhân chúng ta đã ra đi trước chúng ta theo niềm tin rằng “sẽ gặp lại nhau trong ngày sau hết” ở nước Thiên đàng Vĩnh Cửu.
Cuộc xâm lược Ukraine của Nga bắt đầu cách đây 4 tuần. Nó diễn ra khác với những gì Điện Kremlin nghĩ. Quân đội tiến công chậm chạm, nhiều vấn đề về hậu cần. Chuyên gia về Nga và quân sự, ông Gustav Gressel từ Hội đồng Quan hệ Đối ngoại Châu Âu (ECFR) giải thích tại sao lại như vậy.
Ông cũng giải thích lý do tại sao những cuộc tấn công vào dân thường ở các thành phố như Mariupol lại tàn bạo đến vậy, những gì tương đồng với cuộc chiến Syria – và tại sao ngày 1 tháng 4 lại có tầm quan trọng lớn đối với quân đội Nga.
NTV.de: Tại sao Nga hiện đang ném bom Mariupol vô cùng dữ dội?
Gustav Gressel: Trước hết, Nga đương nhiên muốn có thành phố này. Đây là trung tâm giao thông chính cuối cùng cạnh Biển Azov, cảng lớn nhất ở đó. Và thành phố nằm trên đường nối từ Crimea đến Donbass. Thứ hai, tôi nghe những người ở Moscow nói rằng cá nhân Putin rất thất vọng vì Mariupol đã không chạy sang với quân đội Nga ngay lập tức. Vì vậy mà ông ta cảm thấy cá nhân bị xúc phạm và đó là lý do tại sao thành phố này phải biến đi.
NTV.de: Tức là sự trả thù cũng đóng một vai trò trong lần hủy diệt này?
Gustav Gressel: Vâng. Mariupol là một thành phố quan trọng mang tính biểu tượng, từng nằm trong tay những người ly khai thân Nga trong một thời gian ngắn vào năm 2014 và sau đó được tái chiếm. Kể từ đó, nó đã là một thành phố tiền tuyến và là thủ phủ thay thế của Donetsk Oblast. Đã có một số khách thăm nổi tiếng kể từ năm 2014, bắt đầu với Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ John McCain. Mariupol là thành phố biểu tượng cho sự phản kháng của Ukraine. Vì vậy mà nó cũng làm khởi phát những cảm xúc phi lý trí.
NTV.de: Cuộc đàn áp cực kỳ tàn bạo nhằm vào các mục tiêu dân sự có phải là một chương mới trong cuộc chiến này không?
Gustav Gressel: Ban đầu, Nga đã cố gắng giữ cho thiệt hại dân sự ở mức tương đối thấp, ít nhất là theo tiêu chuẩn của Nga. Không bắn vào dân thường, không có cuộc không kích nhiều mạo hiểm nào được thực hiện. Cách tiếp cận này đã sụp đổ vào cuối tuần đầu tiên của cuộc chiến vì xã hội Ukraine rõ ràng là ủng hộ cuộc bảo vệ đất nước và không muốn được nước Nga “giải phóng”. Đó là lý do tại sao người ta đang cố làm cho người dân kiệt sức và phá vỡ ý chí kháng cự bằng cách cố tình ném bom vào các mục tiêu dân sự với cường độ ngày càng tăng.
Chẳng hạn, Lực lượng Không quân Nga không hề được chuẩn bị sẵn sàng để thực hiện các nhiệm vụ trên không ở tốc độ cao ngay từ đầu. Thời gian sau này đã có 300 cuộc không kích vào Ukraine mỗi ngày, có nghĩa là 300 đơn vị, mỗi đơn vị gồm hai chiếc máy bay, cất cánh mỗi ngày. Đó cũng là một tốc độ mà tôi đã dự đoán.
NTV.de: Putin đã mô tả người Ukraine như là một dân tộc anh em và chính đất nước ấy là một phần của Nga. Sự tàn bạo này không đáng để cho người ta ngạc nhiên sao?
Gustav Gressel: Tôi nghĩ có thể so sánh điều này với một mẫu hình trong tội phạm tình dục khi nạn nhân bị sát hại: Trong lúc đó kẻ hiếp dâm thấy rằng nạn nhân không hề có tình yêu với hắn ta và cũng không thể bị ép buộc yêu hắn, và để trả thù cho sự sỉ nhục đó, hắn đã giết chết nạn nhân. Đây là một mẫu hình phổ biến trong các tội phạm tình dục mà thủ phạm không còn suy nghĩ có lý trí. Tôi nghĩ hình ảnh một kẻ hiếp dâm này là phù hợp, bởi vì chính Putin đã sử dụng một cụm từ trong một cuốn phim mafia của Nga khi đề cập đến Ukraine: “Dù muốn hay không, em sẽ phải phục tùng, người đẹp của tôi ơi“.
NTV.de: Mariupol thường được xếp chung với Grozny của Chechen và Aleppo của Syria, cả hai đều đã bị phá hủy hoàn toàn. Điều đó có đúng không?
Gustav Gressel: Có những điểm tương đồng, vì quân đội Nga đã có cách thức này để chiến đấu trong thành phố kể từ Thế chiến thứ hai. Đó là dùng nhiều pháo binh để bắn nát các khả năng ẩn nấp của kẻ địch. Thành phố và những người bảo vệ nó cần phải bị phá hủy để phá vỡ sự kháng cự. Chiến thuật của người Mỹ thì ngược lại, họ tiến vào với vũ khí chính xác và cố gắng bắn đẩy kẻ thù ra bằng vũ khí nhỏ nhất có thể và bảo vệ phần còn lại của dân thường càng nhiều càng tốt. Quân đội Nga có một cách tiếp cận khác, và đó là điều xảy ra ở tất cả các thành phố cần phải xâm chiếm bằng quân sự.
NTV.de: Nhiều người, đã từng quan sát hoặc trải qua cuộc chiến ở Syria, chỉ ra nhiều tương đồng với cuộc chiến ở Ukraine, ví dụ như về cách giải quyết các hành lang sơ tán hoặc chiến lược nước đôi từ pháo kích và đàm phán. Hành vi của Nga ở Syria có phải là một mẫu mực cho cuộc chiến hiện tại?
Gustav Gressel: Tất nhiên là xã hội Ukraine khác với xã hội Syria, và quân đội Ukraine được tổ chức khác với quân nổi dậy Syria. Nhưng cũng đã có những cuộc tấn công có chủ đích của Nga, ví dụ như vào các bệnh viện và trường học ở Syria – Nga thậm chí còn cố gắng tìm ra các địa điểm chính xác từ Hội Chữ Thập đỏ. Đây là một kiểu làm nhục kẻ thù, nói với họ rằng họ không thể bảo vệ được những người cần được bảo vệ, phụ nữ và trẻ em của họ. Đã xảy ra như vậy ở Syria và bây giờ đang được lặp lại ở Ukraine.
NTV.de: Đó có phải là một phần của truyền thống quân sự Nga?
Gustav Gressel: Người Nga đã vay mượn rất nhiều từ tư duy quân sự của Mỹ mà không hiểu về nó. Trong tài liệu quân sự của Mỹ có chiến thuật “sốc và sợ”. Mục đích là tạo một cú sốc bằng một cuộc tấn công để ngăn chận đối thủ tiếp tục chống cự quân sự có tổ chức. Trong Chiến tranh vùng Vịnh, người Mỹ đã tiến quân nhanh tới mức họ không cho kẻ địch có thời gian để tái tổ chức, cho tới khi kẻ địch bị xé ra thành những lực lượng riêng lẻ và sẽ không còn có ý nghĩa gì nữa khi tiếp tục cuộc chiến và chết một cái chết vô nghĩa.
NTV.de: Người Nga đã làm điều đó như thế nào?
Gustav Gressel: Người Nga áp dụng điều này bằng cách là họ muốn phá vỡ sự phản kháng của xã hội, không phải của lực lượng vũ trang. Họ muốn phá vỡ sự ủng hộ của dân chúng đối với cuộc chiến bằng cách gây ra cú sốc thông qua các hành động nhanh chóng, tàn bạo và cố tình đưa ra con số nạn nhân thật cao. Cho đến khi người dân chống đối nói: Tôi thà có hòa bình dưới một chế độ khủng bố hơn là sự khủng bố hàng ngày của chiến tranh. Tất nhiên, đây là một cách đọc rất khác của cùng một chiến thuật.
NTV-de: Người Nga có thiếu tốc độ để sao chép người Mỹ không?
Gustav Gressel: Họ không thể sao chép người Mỹ vì họ thiếu cả tốc độ lẫn thiết bị kỹ thuật để thực hiện các hành động có chủ đích chống lại kẻ thù. Người ta có thể thấy điều đó trong vụ tấn công trung tâm mua sắm Kiev, chẳng hạn. Trong hai hoặc ba ngày đầu tiên của cuộc chiến, quân đội Ukraine đã cất giữ xe cộ ở đó như là một lực lượng dự bị cho đến khi chúng được tập trung lại ở phía bắc thành phố để phòng thủ. Có cả những bức ảnh về điều đó nữa. Nhưng trung tâm mua sắm chỉ mới bị đánh bom gần đây, và lúc đó thì các phương tiện ấy đã không còn ở đó từ nhiều tuần rồi. Chậm trễ về thời gian rất nhiều.
NTV.de: Tại sao quân đội Nga lại tiến quân chậm đến như vậy – có sai lầm chiến lược nào không?
Gustav Gressel: Có, tất nhiên. Toàn bộ cách tiến hành cuộc chiến vào lúc ban đầu về cơ bản đều dựa trên sự mơ tưởng của Putin, sự mơ tưởng của giới lãnh đạo cao nhất ở Nga và giới tinh hoa chính trị của đất nước này. Ukraine đã bị đánh giá hoàn toàn sai lầm, thực tế xã hội và việc tạo quan điểm trong xã hội hoàn toàn bị bỏ qua hoặc hiểu sai. Về cơ bản có thể thấy trước được những thất bại, nhưng tôi không thể nghĩ rằng điều này lại có tác động mạnh như vậy đến các chi tiết hành quân và chiến thuật. Người Nga không tin rằng họ sẽ thực sự gặp phải một cuộc kháng cự có tổ chức về mặt quân sự và sự thức tỉnh của họ tất nhiên là tồi tệ tương ứng.
NTV.de: Vào đầu cuộc chiến, người ta nói đến công nghệ lạc hậu của quân đội Nga, chẳng hạn như những chiếc xe tăng cũ kỹ. Bây giờ, theo thông tin của Nga, đã có hai cuộc tấn công bằng tên lửa siêu thanh. Công nghệ hiện đại chỉ bây giờ mới được sử dụng?
Gustav Gressel: Thành thật mà nói, tôi thậm chí không muốn đánh giá xem tên lửa siêu thanh đã được sử dụng ở đâu và như thế nào. Tôi vẫn đang chờ các hình ảnh vệ tinh về các điểm bị bắn. Cho đến nay chỉ có những tuyên bố của Nga. Vì vậy mà tôi rất nghi ngờ về số lượng tên lửa và loại thiệt hại. Trong trường hợp các cuộc tấn công bằng tên lửa Kalibr hoặc Iskander, có tài liệu tương đối tốt về những gì đã bị tấn công, ai đã tấn công và có bao nhiêu tên lửa đã được sử dụng. Cho đến nay, có thể nói rằng những vụ bắn tên lửa Kinzhal này là do người Nga tuyên bố trên Twitter. Có thể tên lửa siêu thanh đã thực sự được sử dụng, nhưng cũng có thể không phải như vậy.
NTV.de: Nga có yếu hơn nhiều về mặt quân sự so với giả định không?
Gustav Gressel: Tôi đã đánh giá quân đội Nga mạnh hơn hiện tại. Tôi đã xem xét cách tiến hành chiến thuật của quân đội Nga ở Syria và quân đội Ukraine ở Donbass. Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là, liệu người ta có thể đưa ra kết luận về phần còn lại của quân đội từ những gì đã được nhìn thấy hay không.
Nhìn chung, tôi phải nói rằng người Ukraine nói chung không chỉ sẵn sàng bảo vệ đất nước của họ, họ còn giỏi về mặt chiến thuật. Mặt khác, đối với người Nga, những thành công của các đội quân tinh nhuệ ở Syria lại là những trường hợp cá biệt mà họ không thể tái tạo ở quy mô lớn hơn. Với Nga, luôn tiềm ẩn nguy cơ được đánh giá cao hơn hoàn toàn hoặc bị đánh giá thấp hơn hoàn toàn. Thực tế rồi thì nằm ở đâu đó ở giữa.
NTV.de: Bây giờ ông dự đoán sẽ có một cuộc chiến tranh chiến hào, Nga có trở nên mạnh hơn, hay thậm chí sẽ có một chiến thắng cho Ukraine hay không?
Gustav Gressel: Không thể nói được tại thời điểm này. Nga đang cố gắng tiếp tục tạo thêm lực lượng. Thêm vào đó là sắp tới ngày 1 tháng 4. Đây là một thời điểm nhập ngũ quan trọng ở Nga khi thanh niên nghĩa vụ được gọi nhập ngũ. Những người lính nghĩa vụ cũ được giải ngũ – và người ta hiện đang cố sức tuyển mộ họ làm lính chuyên nghiệp càng nhiều càng tốt, những người mà sau đó có thể sẽ được gửi đến Ukraine. Điều đó sẽ cho phép Nga tiến hành một cuộc tấn công mới vào giữa tháng Tư. Cho đến lúc đó, họ sẽ cố gắng giữ vững vị trí, tái tổ chức lại và giải quyết các vấn đề hậu cần của mình.
Vì vậy, ngoài Mariupol và các hoạt động ở Donbass, tôi hy vọng rằng người Nga sẽ không khởi động bất kỳ cuộc hành quân lớn nào cho đến lúc đó. Tôi không nói rằng chiến tranh đã kết thúc hay Ukraine đang trên đường chiến thắng. Tuy nhiên, Ukraine có cơ hội chiến thắng trong cuộc chiến này bằng cách buộc Nga đi đến một nền hòa bình vì kiệt sức. Nhưng vẫn còn chưa đến đó.
NTV.de: Ở Ukraine, cái gọi là mùa sình lầy, Rasputiza, rất nổi tiếng mà trong lúc đó địa hình rất khó có thể đi qua được. Điều này có đóng vai trò gì trong tiến trình cuộc chiến hay không?
Gustav Gressel: Điều đáng chú ý là quân Nga chỉ tiến dọc theo những con đường nhựa, đặc biệt là phía đông Kyiv, điều này tạo nên những luồng nhất định cho các cuộc di chuyển của họ. Có thể nói là họ không dám bước xuống sình lầy, xuống bùn tuyết. Nhưng thật ra thì cũng có đủ đường trải nhựa, không thể so sánh với thời Đệ nhị Thế chiến. Vì vậy mà mùa sình lầy này không đóng một vai trò lớn.
NTV.de: Thế thì tại sao nhiều xe cộ lại bị mắc kẹt nằm lại?
Gustav Gressel: Đóng một vai trò lớn trong các vấn đề hậu cần là tình trạng của các loại xe cơ giới. Nhiều cơ xưởng dã chiến, những thứ lo bảo dưỡng vật tư – thay nhớt, thay dầu bôi trơn, thay mới xích và bánh xe – đã không được mang theo cùng, chúng không thuộc trong các nhóm tác chiến cấp tiểu đoàn được triển khai. Và vì một số lực lượng đã tiến hành những cuộc tập trận từ tháng 10 tại biên giới với Ukraine nên xe cộ đã hao mòn tương ứng và phải được gửi trở lại cơ xưởng.
Khi người ta nhìn vào cấu trúc mà người Nga đã bắt đầu cuộc chiến này với nó, thì những dấu hiệu kiệt quệ này là đúng thôi. Nếu họ biết điều gì đã chờ đón họ thì có lẽ họ đã hành động khác đi.
Cuối cùng thì bà Nguyễn Phương Hằng, vợ ông Huỳnh Uy Dũng, tức Dũng Lò Vôi, cũng đã bị khởi tố và bắt tạm giam. Tội mạ lỵ và phỉ báng ở các quốc gia dân chủ pháp trị, thường được coi là một tội dân sự chứ không phải là một tội hình sự, tức nguời vi phạm bị phạt tiền chứ không bị phạt tù.
Đúng là bà Phương Hằng có thể đã vi phạm tội mạ lỵ và phỉ báng ngừời khác, nhưng hai cái sai không thể làm thành một cái đúng, khi cái sai đầu tiên là CSVN dùng bà để đánh giới văn nghệ sĩ và các đối tượng thù địch khác, khi CS không thể trực tiếp điều tra và truy tố họ, do giới văn nghệ sĩ có hậu thuẫn quần chúng quá mạnh hoặc không có chứng cớ vi phạm rõ ràng.
Từ khi CSVN cầm quyền cho đến nay, họ đã nêu bật nguyên tắc làm việc của họ là “vắt chanh bỏ vỏ”. Bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long) và nhiều trường hợp khác, cũng như những người Việt kiều trở về cộng tác với họ đều có chung số phận qua nguyên tắc này. Đối với CS, một tờ giấy trắng đem nhuộm đỏ thì nó hoàn toàn đỏ, còn một tờ giấy xanh đem nhuộm đỏ thì nó còn lốm đốm xanh.
CSVN dùng bà Phương Hằng để đánh giới văn nghệ sĩ, bắt chước Tập Cận Bình ở Trung Quốc làm, đánh những đối tượng mà họ lo sợ (lo sợ là cái gene bẩm sinh của CS) vì những người này có uy tín trong quần chúng hoặc được quần chúng yểm trợ tài chính. Đây là cái sai đầu tiên và bà Phương Hằng lọt bẫy để đánh loạn cào cào là cái sai thứ hai. Như đã biết, hai cái sai không thể làm nên cái đúng. Bây giờ để sửa hai cái sai này CSVN truy tố và bắt tạm giam bà Hằng thì việc này không làm thành được một cái đúng.
Những nạn nhân của bà Phương Hằng nên kiện bà ra toà án dân sự để đòi bồi thường thiệt hại. Và nếu có một nền công lý độc lập thì toà sẽ xét xử, xem bà có phạm tội mạ lỵ và phỉ báng hay không, và số tiền bồi thường là một đồng bạc danh dự hay toàn bộ gia sản của bà, thay vì chính quyền hình sự hóa, khởi tố, bắt tạm giam bà về cái gọi là “hành vi lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích của cá nhân“, theo điều 331, Bộ luật hình sự.
Khi còn trẻ, ta thường nghĩ rằng: Biết níu giữ là khôn ngoan. Nhưng khi đã già, ta mới nhận ra rằng:Biết buông bỏ mới là trí tuệ!
Khi còn trẻ, ta thường nghĩ rằng:Người giàu có là người lấy về rất nhiều. Nhưng khi đã già, ta mới biết rằng: Người giàu có là người cho đi rất lớn!
Khi còn trẻ, ta thường nghĩ rằng: Mạnh mẽ là vượt qua người khác. Nhưng khi đã già, ta mới biết rằng:Mạnh mẽ là vượt qua chính mình!
Khi còn trẻ, ta thường nghĩ rằng:Kẻ nói nhiều là kẻ thông minh. Nhưng khi đã già, ta mới biết rằng: Người biết lắng nghe mới là người thông thái!
Khi còn trẻ, ta thường nghĩ rằng:Nếu ta thắng phải hơn người thua. Nhưng khi đã già, ta mới biết rằng: Đến nơi là mọi người cùng thắng!
Khi còn trẻ, ta thường muốn sống thật lâu.Nhưng khi đã già, ta muốn sống sao cho có ý nghĩa với cuộc đời!
Khi còn trẻ, ta thường muốn người khác chấp nhận mình.Nhưng khi đã già, ta nhận ra rằng: Chỉ cần mình chấp nhận mình là đủ!
Khi còn trẻ, ta mong muốn thay đổi cả thế giới.Nhưng khi đã già, ta mong muốn thay đổi chỉ bản thân mình mà thôi!
Khi còn trẻ, ta thường nghĩ rằng:Khi trưởng thành, ta sẽ không còn bị tổn thương. Nhưng khi đã già, ta mới biết rằng: Trưởng thành là biết điều chỉnh tiếng khóc về chế độ im lặng!
Và khi còn trẻ, ta thường nghĩ rằng: Có tiền sẽ có tình yêu, có vật chất, người ta sẽ yêu quý… Nhưng khi đã già, ta mới biết rằng: Lương thiện bạn sẽ có mọi trái tim!
MẾN YÊU HẰNG NGÀY – CHÚA KIỆN TOÀN MỌI SỰ Thứ 4, 23-03-2022 (Mt 5, 17-19)
“Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành. Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời.”
SUY NIỆM
Chúa Giê-su nói với các môn đệ: “Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn.” (Mt 5,17)
Dường như đôi lúc Thiên Chúa phản ứng rất chậm. Có lẽ hầu hết chúng ta thấy thật khó khăn khi phải kiên nhẫn chờ đợi ngày giờ định sẵn của Chúa trong đời mình. Ta thường dễ dàng nghĩ rằng chỉ cần cầu nguyện chăm chỉ, ta sẽ tác động được đến Chúa và rồi Ngài sẽ hành động, đáp ứng mọi điều ta nguyện xin. Nhưng đó không phải là cách Thiên Chúa làm việc.
Đoạn Phúc Âm trên đã gợi mở cho chúng ta cái nhìn sâu sắc về phương thức của Chúa: Chậm rãi, từ từ và hoàn mỹ. Khi Chúa Giê-su nói đến “luật Môsê và lời các ngôn sứ”, Ngài khẳng định mình đến không để bãi bỏ mà kiện toàn chúng. Đó là sự thật và thật đáng giá để chứng kiến cách Chúa Giê-su thực hiện. Chương trình hoàn hảo của Thiên Chúa đã diễn ra hàng ngàn năm trước và mất rất nhiều thời gian để được tỏ lộ. Dự định ấy được mạc khải trong từng thời điểm và theo cách riêng của chính Chúa. Có lẽ tất cả mọi người trong thời Cựu Ước đã khắc khoải mong chờ Đấng Mêsia đến và kiện toàn mọi việc. Nhưng rồi các ngôn sứ cứ lần lượt đến và đi, họ lặp lại lời tiên đoán về viễn cảnh tương lai với sự xuất hiện của Đấng Mêsia. Chính quá trình chậm chạp này đã hình thành quy tắc, khiến dân Israel phải thực thi, thấu hiểu và dần chấp nhận sống trong đợi chờ.
Thậm chí khi Đấng Mêsia cuối cùng cũng xuất hiện, rất nhiều người, với lòng sốt sắng và phấn khởi, đã mong mỏi Chúa Giê-su kiện toàn mọi điều luật lúc đó. Họ khao khát vương quốc dưới đất của họ được thiết lập và mong muốn Đấng Mêsia vừa được tìm thấy cai trị vương quốc này.
Nhưng kế hoạch của Thiên Chúa khác xa so với sự khôn ngoan và tính toán của con người. Dự định của Ngài xa xăm và vĩ đại hơn nhiều so với dự định của loài người. Chúa Giê-su đã kiện toàn mỗi mọi phần của lề luật cũ nhưng không theo cách mà loài người mong đợi.
Đoạn Phúc Âm trên dạy chúng ta học cách kiên nhẫn, phục tùng, tin tưởng và hy vọng. Nếu chúng ta muốn cầu nguyện liên lỉ và thành tâm, chúng ta cần cầu nguyện đúng cách, tức cầu nguyện liên tục rằng “Thy will be done!” – “Ý cha được thể hiện!”. Có thể sẽ rất khó khi thực thi vào những lần đầu, nhưng dần dần sẽ dễ dàng hơn khi chúng ta thấu hiểu và tin tưởng rằng Thiên Chúa luôn sắp đặt kế hoạch hoàn mỹ cho cuộc đời chúng ta, cho mỗi cuộc đấu tranh và hoàn cảnh trong hành trình chúng ta tìm kiếm chính bản thân mình.
Hãy nhìn lại bản thân, mỗi người chúng ta nên kiên nhẫn và tin tưởng vào công trình của Thiên Chúa đang thực hiện nơi đời sống mỗi người chúng ta. Ngài luôn có kế hoạch hoàn hảo cho mỗi người, dù kế hoạch ấy có thể khác biệt với dự định của bản thân ta. Nhưng đừng vì thế mà nôn nóng, hãy phục tùng Ngài và để sự thánh thiện nơi Ngài dẫn hướng ta trong mọi sự.
Lạy Chúa, con giao phó cuộc đời con cho Chúa. Con tin rằng Ngài đã sắp đặt mọi điều hoàn hảo cho con và cho anh chị em của con. Xin ban cho con lòng kiên nhẫn để đợi chờ Ngài và để Thần Khí của Ngài lấp đầy cuộc đời con. Lạy Chúa Giê-su, con tín thác vào Chúa.
Ở thời niên thiếu, chúng tôi đã được xem một cuốn phim tình cảm đen trắng do Ý sản xuất trong một rạp chiếu bóng ở một tỉnh nhỏ miền Trung. Cuốn phim mang tên “Ngày Mai Đã Muộn Rồi,” (Demain c’est trop tard!) liên quan đến việc giáo dục giới tính phù hợp cho giới trẻ. Cuốn phim nêu ra chuyện nếu hôm nay không được chỉnh sửa hay là được làm đúng, ngày mai đã quá trễ, muộn màng.
Tuổi ấy, chúng tôi không hiểu nhiều về tình tiết của câu chuyện, và luận đề cuốn phim đưa ra, nhưng sau này, rất thích lập lại tên của cuốn phim trong nhiều tình huống của cuộc sống. Phải chăng, đừng để đến ngày mai mà muộn màng, những gì làm được hôm nay thì hãy làm.
Bây giờ bước vào tuổi già, bạn đã có bao điều hối hận: phải chi ngày trước mình biết cách yêu thương, định hướng cho bản thân và nỗ lực hơn, biết trân quý bạn đời hơn, biết giáo dục con cái hơn…
Trước khi biết mình qua đời, người sắp chết cũng có bao nhiêu điều phải hối tiếc. Bước qua một năm mới, chúng ta cũng có những điều tự hỏi vì sao đã bỏ phí trong năm qua. Và rồi qua một ngày, có bao giờ bạn thấy hối hận đã không làm việc ấy ngay hôm nay không?
Thời gian cứ trôi đi và chẳng bao giờ dừng lại để chờ đợi ai, cũng chẳng chờ cho chúng ta làm xong việc này hay kết thúc một việc khác. Một ngày qua đi và một ngày không trở lại, và công việc ấy chúng ta không làm hôm nay, sẽ không bao giờ chúng ta có cơ hội thực hiện nữa. Không phải là cứ một đời người, hay một năm, mà một ngày cũng đã là quá muộn!
Bạn tôi đang nằm trong bệnh viện, vừa qua một cuộc giải phẫu khá quan trọng. Tôi có dự định đi thăm người bạn ấy hôm nay, nhưng quen thói lần lữa, giải đãi, lòng hẹn lòng đợi một này nào đó, thật rỗi rảnh sẽ đi thăm bạn. Nhưng cái ngày đó không bao giờ đến, vì chỉ vài ngày sau đó, bạn tôi đã từ giã cuộc đời này, mà tôi thì vẫn chưa thực hiện được cuộc viếng thăm đơn giản ấy, nên lòng ân hận mãi.
Thân bằng quyến thuộc của chúng ta không thiếu gì những người già, đang nằm trong bệnh viện, nhà dưỡng lão, như ngọn đèn cạn dầu trước gió, cần một lần thăm viếng, một cái cầm tay hay một lời nói thân tình. Những người này không còn thời gian để đợi chúng ta, mà chúng ta thì cứ mãi “lòng hẹn lòng!”
Có bao nhiêu bậc cha mẹ già, trên ngưỡng cửa ngôi nhà xưa, ngóng chờ những đứa con trở về một lần thăm viếng. Nhưng rồi thì vì thời gian bận rộn vì công việc làm ăn, cuối tuần còn đưa con đi chơi thể thao, học đàn, học võ; kẹt một chuyến du lịch xa, hay bận rộn vì con chó con mèo, con cá lia thia trong chậu, sợ bỏ đói, không ai chăm sóc.
Thật lòng không biết có ai hối hận không, nhưng đừng để bao giờ phải hối hận.
Giá mà ta làm việc ấy hôm nay, hay tự đặt cho mình một mệnh lệnh: “Hãy làm việc ấy hôm nay!” Ngày không thể không đi và đêm không đến vì việc ấy ta làm chưa xong!
Suốt đời, chúng ta đã bỏ bao nhiêu cơ hội, để làm một việc hay để nói một lời.
Không phải đến bây giờ người ta mới nhắc nhở “Nếu có yêu tôi thì hãy yêu tôi bây giờ. Đừng để ngày mai đến lúc tôi xa người… (*) mà ngày xưa, tình duyên đôi lứa đã một lần muộn màng, vì người con trai đã bỏ đi cơ hội nghìn vàng, để ngậm ngùi suốt đời.
“Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay!
Ba đồng một mớ trầu cay
Sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng như cá cắn câu
Cá cắn câu biết bao giờ gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra?”
Có người hối hận để mất một cuộc tình, nhưng cũng có người đánh lỡ mất cả cuộc đời, để rồi than thở:
“Đến nay tôi hiểu thì tôi đã
Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi!” (TTKh.)
Richard Templar là một tác giả người Anh, người đã viết nhiều cuốn sách về con đường thành công trong cuộc sống. Ông chia sẻ “con đường dẫn đến thành công” của mình trong một loạt sách, trong đó 100 quy tắc đơn giản được trình bày để đạt được thành công, trong kinh doanh, tiền bạc hoặc cuộc sống nói chung. Và “quy tắc của cuộc sống” của Richard Templar là “đừng để qua ngày mai!”
Người ta thường hẹn trong ngày mai sẽ làm công việc dự định hôm nay, nhưng đối với nhà thơ Norma Cornett Marek lại khác: “Ngày Mai Không Bao Giờ Đến!” đó cũng là tựa đề bài thơ của bà. “Nếu ta đang chờ ngày mai đến thì tại sao lại không làm điều đó ngày hôm nay? Vì nếu ngày mai không bao giờ đến, thì chắc chắn ta sẽ hối tiếc suốt phần đời còn lại của mình!”
Không ai biết đây là lần gặp gỡ cuối cùng, một lời nói giã biệt, vì không một ai, trong chúng ta, trẻ hay già, đoan chắc rằng, họ sẽ sống qua hôm nay, để ngày mai thấy mặt trời lên! Trên trái đất này, đêm nay có những người cũng lên giường như chúng ta, nhưng ngày mai, họ không còn thức trở dậy!
Đó chính là ân huệ của cuộc đời chứ không phải là một chuyện đương nhiên: “Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương!
Xin đừng để quá trễ, hãy nói với ai đó một lời yêu thương hôm nay. Hãy nói một lời xin lỗi. Hãy nói một lời cám ơn. Nếu ai cũng nghĩ rằng hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc sống để hành động, để yêu thương, để dịu dàng với nhau…thì cuộc đời này đẹp biết bao nhiêu!
Xin hãy làm điều đó hôm nay. Ngày mai đã muộn rồi!
Hòa giải là lời mời gọi khẩn thiết của Mùa Chay. Hòa giải với Chúa và hòa giải với anh chị em mình. Tuy vậy, hòa giải với Chúa là việc dễ dàng, trong khi hòa giải với anh em là một làm hết sức khó khăn. Trong cuộc sống trần gian, con người “đầu đội trời, chân đạp đất.” Họ vừa có tương quan với đất và tương quan với trời. Họ cũng không là những ốc đảo tách biệt cô đơn, nhưng sống chung với nhau và cần đến nhau. Hòa giải với anh chị em sẽ giúp chúng ta xây dựng cuộc sống lý tưởng, làm thành một gia đình trong tình huynh đệ thân thương.
Câu chuyện “Người cha nhân hậu” là một trong những áng văn chương tuyệt vời nhất của Kinh Thánh. Câu chuyện ấy nhấn mạnh tới lòng nhân hậu của Thiên Chúa, mà nhân vật người cha là biểu tượng. Người cha tôn trọng tự do của người con thứ, sẵn sàng để nó ra đi. Người cha ấy cũng luôn mong ngóng đợi chờ và vẫn tin chắc có ngày nó trở lại. Sự trở về của người con là niềm vui lớn lao của người cha, đến nỗi ông mở tiệc tưng bừng để đón con trở về. Bởi lẽ, như ông nói, con ông đã mất mà nay lại tìm thấy, đã chết mà nay đã sống lại. Còn niềm vui nào lớn hơn là tìm thấy của cải đã mất và gặp lại người thân đã chết? Vì thế mà niềm vui hội ngộ càng tưng bừng lớn lao.
Tuy vậy, nếu Thiên Chúa là cha bao dung nhân hậu, sẵn sàng tha thứ mọi tội lỗi của con người, thì con người lại hà khắc và cứng nhắc đối với nhau. Mỗi người trong chúng ta đều đã có lần cảm nhận điều đó nơi chính bản thân và nơi những người xung quanh. Có ba nhân vật trong câu chuyện Chúa Giêsu kể, cả ba nhân vật đều là nam giới. Người con cả, từ lúc ban đầu xem ra là người tử tế, vì khi người con thứ đòi chia gia tài và bỏ nhà ra đi, thì anh vẫn ở lại với cha mình. Tuy vậy, những gì anh nói với Cha, xem ra là những uất ức được dồn nén trong nhiều năm: “Cha coi, con ở với cha bao nhiêu năm….” Người cha giật mình nhận ra, mặc dù thân xác đứa con cả vẫn ở với cha mình, mà tâm hồn nó lại xa vời vợi. Nó phủ nhận tình huynh đệ máu mủ khi gọi em mình là “thằng con của cha kia.” Người cha đau khổ nhận ra rằng, ông đã mất cả hai đứa con, mỗi đứa một cách khác nhau.
Nhân vật người con cả giúp chúng ta liên tưởng đến mối tương quan với tha nhân. Nhiều người trong chúng ta có khuynh hướng giống như người con cả, luôn cố chấp, ích kỷ và ôm mối hận thù. Hình ảnh người con cả cho thấy một thái độ chủ quan tự tin, nghĩ rằng mình là người ngay thẳng và là người đạo đức, coi mình là tiêu chuẩn để đánh giá và phê phán người khác. Cả ba nhân vật trong câu chuyện đều nhắn gửi đến chúng ta những thông điệp quan trọng: Thiên Chúa là Cha yêu thương. Ngài nhân hậu bao dung và rộng lòng tha thứ. Người con thứ tượng trưng cho người lầm lạc tội lỗi, nay quyết tâm chỗi dậy trở về để sống trong tình yêu thương của cha mình. Người con cả là những người cố chấp và khó hòa đồng với những người xung quanh, thậm chí ngăn cản họ, không cho về với Chúa. Cả người con thứ và người con cả đều cần phải trở về. Cả hai đều phải tự vấn lương tâm về đời sống quá khứ của mình, đồng thời nhận ra Chúa nhân hậu bao dung, từ đó cố gắng sống tốt như người cha hằng mong muốn.
Tôi muốn ra đi, trở về với cha tôi và thưa người rằng: “Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con không đáng được gọi là con cha nữa.”Đó là điều người con thứ đã chuẩn bị sẵn để khi gặp cha sẽ nói. Tuy vậy, người cha không để cho con nói hết những gì nó đã chuẩn bị. Tình thương của Thiên Chúa mênh mông vời vợi, không cần những công thức, nhưng chan hòa như đại dương, phủ lấp những yếu đuối của phận người.
Chúng ta đã đi đến nửa chặng đường của Mùa Chay. Lời mời gọi hòa giải lại vang lên, nhắc chúng ta lên đường trở về. Thánh Phaolô năn nỉ chúng ta: “Vì Đức Kitô, chúng tôi van nài anh em hãy giao hòa với Thiên Chúa” (Bài đọc II). Hòa giải với Ngài sẽ đem cho chúng ta hạnh phúc và bình an, đồng thời tạo nên một cuộc sống trần thế an bình. Niềm vui của hòa giải, được phụng vụ so sánh như niềm vui của người Do Thái đến đất hứa sau 40 năm hành trình sa mạc. Họ không còn lang thang phiêu bạt nữa, nhưng được định cư ở miền đất Chúa hứa cho cha ông họ và được hưởng những thổ sản của địa phương. Họ được chứng kiến những gì trước đây chỉ là lời hứa, nay thành hiện thực ngay trước mắt. Họ như người con thứ trong Tin Mừng, được trở về nhà của mình, không còn là khách lạ (Bài đọc I). Mỗi chúng ta cũng vậy, khi thành tâm sám hối, chúng ta được nối lại mối tình cha con đối với Chúa và mối tình huynh đệ đối với anh chị em mình.
Hãy sám hối! Hãy trở về! Lời gọi ấy đang vang lên trong đời sống và trong tâm hồn mỗi chúng ta. Trở về với Chúa và trở về với anh chị em, đó chính là thông điệp được nhấn mạnh của Phụng vụ hôm nay. Hiệu quả của Mùa Chay tùy thuộc vào thiện chí hòa giải đối với anh chị em mình.
Marta Albertini là cháu gọi đại văn hào Leo Tolstoï (1828-1910) bằng ông cố ngoại. Bà năm nay 85 tuổi và sống tại bang Valais (Thuỵ Sĩ).
Bà vừa mới quyết định dành một trong những căn nhà của bà để đón nhận 2 gia đình người Ukraine tị nạn chiến tranh.
Martin Albertini là con của bà Tania Albertini (1905-1996) và là cháu ngoại của Tatiana Lvovna Soukhotine (1864-1950), con gái của Leo Tolstoï.
Tác giả của hai tác phẩm văn học kinh điển là “Chiến tranh và Hoà bình” và “Anna Karénine”, Leo Tolstoï không chỉ là một đại văn hào, ông còn là một nhà đấu tranh bất bạo động chống lại Nga hoàng.
Chắt của ông, bà Marta Albertini tâm sự muốn tiếp nối tấm lòng nhân văn của Tolstoï khi dang tay đón tiếp những người Ukraine, nạn nhân của cuộc xâm lược do Putin khởi xướng.
Một trong những cuốn tiểu thuyết vĩ đại nhất của ông, “Chiến tranh và Hòa bình” (1865-1869), Leo Tolstoï đã phát hoạ một cuộc chiến tranh hoành tráng nhưng bi quan như một định mệnh bi thảm. Một điều nghịch lý là cuốn sách nổi tiếng này thậm chí còn được Stalin sử dụng để khuyến khích binh lính của mình trong cuộc kháng chiến vũ trang.
Chỉ cần đọc lại những trang sử thế giới, chúng ta có thể hiểu được cái xu hướng của các quân vương và bạo chúa là giải thích lịch sử sao cho phù hợp với cái nhìn của họ. Vladimir Putin, một tên tội phạm chiến tranh, là kẻ “thượng thừa” trong tất cả các loại thao túng và bóp méo lịch sử. Nó thể hiện bằng sự khinh thường của ông ta đối với sự tồn tại lâu đời của Ukraine. Đó còn là sự thiếu tôn trọng của ông ta đối với chủ quyền của các dân tộc và hiến pháp dân chủ của họ.
Hành động “diễn giải” lịch sử sao cho có lợi cho chính mình khiến chúng ta nhớ việc Stalin đã xóa Trotsky trên các bức ảnh chính thức của Liên Xô.
Putin được mô tả là một kẻ hoang tưởng (theo Tổng thống Pháp, Macron) và là một thành viên kém cỏi, thất bại của KGB (theo Sergueï Jirnov, cựu nhân viên tình báo KGB). Putin nay trở thành một dạng Nga hoàng, thâu tóm mọi quyền lực tối cao và đang điên cuồng tìm lại cái quá khứ huy hoàng của Liên Xô ngày xưa. Không chỉ cái quá khứ của một Liên bang đẫm máu mà đó còn chính là sự trả thù cho chính cá nhân Putin để bằng mọi cách tạc tên mình trong lịch sử nhân loại.
Nếu tinh ý, chúng ta không khó thấy được bóng dáng của Stalin và của cả Hitler trong con người cô độc, lạnh lùng và tàn bạo của Putin Đại đế. Đó là điều khiến chúng ta không khỏi rùng mình lo lắng khi hồi tưởng lại những tội ác diệt chủng của hai nhà độc tài trên. Putin phần nào giống như Tướng Koutouzov trong tiểu thuyết của Leo Tolstoï.
Nước Nga thánh thiện của những tên tuổi lớn như Pouchkine, Dostoïevski, Gogol và Leo Tolstoï chẳng dính dáng gì đến nước Nga độc tài và tàn bạo của Stalin hay của Putin. Khi nuôi mộng tái lập biên giới rộng lớn của Đế chế Xô viết, thậm chí bằng xương máu của những binh lính Nga trẻ tuổi, bằng cái chết thảm thương của hàng ngàn người dân Ukraine vô tội hay cả một đất nước Ukraine bị tàn phá, huỷ diệt bởi bom đạn, hoả tiễn, Putin đã bộc lộ rõ bộ mặt thật: kẻ thù của nền dân chủ!
Nước Nga trong “Chiến tranh và Hoà bình” là một nước Nga dũng cảm, hào hùng và đoàn kết chống quân xâm lược. Leo Tolstoï còn gởi gắm hình ảnh của một nước Nga nhân ái có nhiệm vụ bảo vệ thế giới.
Nhưng nước Nga của Putin lại là một hình ảnh nhạt nhoà của một phiên bản Liên Xô đẫm máu và hung tàn. Nước Nga của Putin đang tự đưa mình vào thế giới của cái Ác, của những quốc gia chà đạp nhân quyền và những giá trị dân chủ.
Nước Nga của Putin là sự ám ảnh về quyền lực tối cao và bằng mọi giá phải áp đặt sự kiểm soát chính trị lên những quốc gia có chủ quyền dân tộc, qua đó tước đoạt chính quyền tự quyết thiêng liêng của người dân.
Cũng như các bạo chúa độc tài và khát máu Stalin và Hitler, đến lúc nào đó Putin cũng sẽ bị quật đổ. Chỉ khi ấy, nhân loại mới có thể thật sự chứng kiến sự ra đời của nền dân chủ Nga với tất cả những phẩm chất và giá trị tốt đẹp của nó.
Bản thiên hùng ca “Chiến tranh và Hoà bình” gióng lên hồi chuông cảnh báo định mệnh bi thảm của một nước Nga đang bị Putin bôi nhọ và huỷ diệt một cách tàn nhẫn và ích kỷ.
Leo Tolstoï có viết “Vua là nô lệ của Lịch sử”. Putin còn hơn cả vua. Putin là một bạo chúa muốn bằng mọi giá để lại danh tiếng trong lịch sử. Ông chính là nô lệ của Lịch sử đẫm máu và diệt chủng.