Đường xa vạn dặm

Đường xa vạn dặm

Nguyễn Thùy Dương

11-5-2022

Hôm nay, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc vào tiếp xúc cử tri TP. Thủ Đức, dân mất đất Thủ Thiêm trông ngóng gặp Chủ tịch nước giãi bày tâm tư, nguyện vọng. Nỗi lòng của dân khoắc khoải bồn chồn của dân trước một trong những con người nắm giữ vị trí quan trọng của quốc gia như một lẽ thường tình.

Cán bộ TP. Thủ Đức cho hay, hội trường nhỏ chỉ có sức chứa 200 người. Mỗi phường 5 cử tri, TP. Thủ Đức mới lập có tới 34 phường, cộng thêm cán bộ là hết 200 ghế. Cử tri tự do không còn chỗ. Vậy sao hội trường Nhà thiếu nhi quận 2 cũ lớn hơn lại không dùng? Tôi cũng không hiểu cách sắp xếp của chính quyền bởi tôi có phải là chính quyền đâu?

Dân Thủ Thiêm đã tìm mọi cách để được phát biểu, được tiếp xúc cùng ông Phúc. Giải quyết được hay không chưa biết, nhưng rõ ràng dân mất nhà như kẻ chết đuối mong với được cái bẹp dừa hay mảnh gỗ giữa dòng, gặp đi, nói lên được cái oan, cái đau đớn đi, rồi quỳ rồi khóc, rồi cầu xin. Chỉ một lời hứa khả, dân như thắp nên một ánh sáng hi vọng lớn lao.

Đáp lại là gì? Là hàng rào kỹ thuật, là những người đàn ông mặc thường phục kè sát dân Thủ Thiêm, là những kẻ bịt mặt trấn lột áo có in chữ Thủ Thiêm và bản đồ của mấy bà má Thủ Thiêm, là xe cứu thương giăng lối sẵn sàng, là những kẻ canh me chụp giật điện thoại.

Hội trường trong kia, dân ngoài này cách nhau đâu có bao xa. Vậy mà, vạn lý quan san cách trở trùng trùng, quan đó dân đây như hai bức tranh đối lập. Khoảng cách xa nhất giữa các tầng lớp không phải khoảng cách cự ly mà là khoảng cách của tình người.

Thôi thì chúc Chủ tịch nước có buổi tiếp xúc cử tri thành công khi không có dịp gặp được những cử tri bần cùng làm bẩn mắt ngài.

Chẳng phải lỗi của ai cả, tất cả đều hợp lý. Lỗi là lỗi số phận thôi ha!

30 THÁNG TƯ – Tiểu Tử

(Chế độ man rợ đã thắng một nền văn minh.

nhà văn Dương Thu Hương)

(Một sự rủi ro của lịch sử, đau lòng, buồn cho số phận của dân tộc Việt Nam)

Chau Nguyen Thi

30 THÁNG TƯ

Tiểu Tử

Tháng 3, rồi tháng 4 năm 1975, thiên hạ chạy di tản rần rần từ miền trung vào trong nam, rồi từ đất liền “chạy” ra biển, nhốn nháo hỗn loạn chẳng biết “trời trăng” gì hết, chỉ có một ý nghĩ rõ rệt ở trong đầu là “Ở lại với tụi nó là chết!”. Vậy rồi giai đoạn di tản đó chấm dứt vào ngày 30 tháng 4…

… Giữa tháng 4, một thằng bạn gọi điện thoại cho tôi, nói: “Mầy đừng đi di tản. Ở lại đi! Không có sao hết ! Tao bảo đảm”.

Thằng nầy làm lớn trong “Tổng Nha”, nó nói “chắc như bắp”! Lại một thằng bạn khác – thằng này người Pháp, làm việc ở sứ quán Pháp – nói trong điện thoại, giọng rất bình thản: “Mầy đừng đi đâu hết! Mọi việc đều đã thoả thuận trước rồi! Yên tâm! “.

Riêng tôi, tôi nghĩ: “Mình làm việc cho hãng dầu ngoại quốc trực thuộc hãng quốc tế SIPC (Shell International Petroleum Company – Anh Quốc) chắc không sao!”. Vậy là tôi quyết định ở lại…

… Ngày 30 tháng tư năm 1975! Việt cộng vào “đớp” hết, công tư gì cũng đớp hết, thượng vàng hạ cám gì cũng đớp hết. Họ gọi hành động đó bằng một danh từ nghe cũng… văn chương: “Tiếp Quản”. Không biết hai thằng bạn tôi kể ở trên có… tức hộc máu hay không khi thấy mình bị gạt dễ dàng như con nít? Riêng tôi, tôi thấy như tôi từ trên trời rơi xuống, thấy những gì xưa nay mình học, mình hỏi, mình hiểu biết, mình suy luận v.v… đều sai bét đối với “cái gọi là cách mạng”!

Hãng dầu tôi làm việc bị tiếp thu bởi… “ê-kíp” có bí số K7. Những người nầy mặc đồ đen đội mũ tai bèo đen. Mấy tay có vẻ “xếp” mang túi dết ngang hông và bao súng lục nằm… sau đít ! Họ chiếm kho dầu Nhà Bè và văn phòng trung ương ở đường Thống Nhứt. Hai hôm sau, có tin bộ đội vào kho Nhà Bè “vít” K7 ra ngoài, vì kho dầu không thuộc quyền quản lý của mấy cha K7. Vậy là trong cái tổ chức rất là… “cách mạng” nầy, cái “đầu não” của công ty không còn dính với cái thân mình là kho dầu nữa! Phải nói thiệt: tôi làm việc cho hãng dầu hơn 19 năm, đã đi thăm viếng nhiều hãng dầu ở các quốc gia khác, nhưng chưa thấy một tổ chức hãng dầu nào… khùng như vậy!

Qua sáng ngày thứ ba, tôi được chở xuống kho Nhà Bè để hướng dẫn một ông tướng VC đi viếng kho (Có lẽ mấy tên “nằm vùng” đã cho bọn “cách mạng” biết rằng tôi… rành kho dầu này lắm!) Đến kho, tôi được “ông” bộ đội xếp kho cho biết ông tướng là “xếp” cục hậu cần. Tôi tưởng tượng sẽ gặp lão ta với bộ quân phục thẳng nếp và một ngực mề đai như thường thấy ở mấy tướng các nước cộng sản!

… Xe ông tướng đến. Bước xuống là một người cao lớn mặc bộ đồ “xá xẩu” tàu bằng lụa màu ngà, đội nón Panama trắng, miệng ngậm ống đót có điếu thuốc đang cháy dở. Được giới thiệu, ông ta không bắt tay tôi, chỉ gật nhẹ đầu, nói: “Ta đi thôi!”. Tôi lưu ý ông ta đừng hút thuốc trước khi vào kho. Ổng gạt bỏ mẫu thuốc nhưng vẫn ngậm ống đót trên môi…

Kho Nhà Bè lớn lắm. Ngoài bốn cầu tàu chiếm hết mặt sông, trên bờ có khu bồn chứa và các khu nhà máy trộn nhớt, trộn hoá chất, sản xuất thùng thiếc 20 lít đựng dầu hôi, châm dầu vào thùng 200 lít, nhà máy nhựa đường.v.v…

“Phái đoàn” đi viếng gồm có ông tướng, hai người hộ vệ và xếp kho. Vì kho dầu không làm việc nên tôi chỉ đưa họ đi… phớt phớt vòng ngoài các khu nhà máy. Tôi có ý đợi họ đặt câu hỏi, nhưng không nghe cha nào nói một tiếng. Sau nầy, tôi mới biết rằng ngoài bắc không có những gì chúng tôi có ở trong nam, cho nên họ không biết… khỉ gì để mà hỏi!

Đến khu bồn chứa, bỗng ông tướng chỉ một cái bồn, hỏi:

“Cái bể nầy bao nhiêu khối?”.

Tôi trả lời:

“Mười lăm ngàn m3”.

Hỏi:

“Mỹ nó làm cho các anh đấy à?”.

Trả lời:

“Không có thằng Mỹ nào vô đây hết! Toàn là dân Việt Nam thực hiện”.

Nghe vậy, lão ta cười khẫy:

“Làm gì có ! Ở ngoài ta, trên 2000 khối là phải ông Liên Xô hay ông Trung Quốc thực hiện cơ!”.

Cái cách thằng chả nghi ngờ lời tôi nói đã chạm mạnh tự ái của tôi, đồng thời cũng cho tôi thấy rằng miền bắc của mấy chả nó dở ẹc hà! Tôi nhấn mạnh:

“Tất cả ba mươi mấy cái bồn nầy, lớn nhỏ gì cũng do nhà thầu thực hiện với thầy thợ hoàn toàn người Việt.

Tôi đưa mấy người đến xem cái bồn mới làm xong cách đây mươi hôm. Đó là cái bồn lớn nhứt kho Nhà Bè, 30000 m3, do nhà thầu Việt Nam EVS thực hiện, nó lớn bằng nửa cái sân banh! Từ đó, mấy chả làm thinh luôn cho đến về văn phòng để họp với mấy anh em cấp chỉ huy cũ theo ý muốn của ông tướng!

Sau khi nghe mấy anh em lần lượt trình bày lý lịch, cấp bậc, phần việc và lương bổng của mình, ông tướng nói:

“Các anh yên tâm! Đảng và Nhà Nước sẽ trả lương các anh y như cũ. Cứ yên chí phục vụ!”.

Nghe giọng ông ta rất tin tưởng vào những gì ổng nói, mình cũng thấy tin tưởng theo…

… Thời gian sau, hãng dầu đường Thống Nhứt được mang tên “Công Ty Xăng Dầu Khu Vực Hai”. Hỏi “Khu Vực Một” ở đâu thì được trả lời “Chưa có, nhưng đã có Tổng Công Ty ở Hà Nội”! Cách mạng có khác!

Rồi là “xếp thang lương”, nghĩa là mỗi ngành mỗi nghề đều được xếp cấp bậc trên từng thang lương, từ đó lãnh lương mỗi tháng 2 kỳ, mỗi kỳ nửa lương. Tôi được xếp “kỹ sư bậc 2 trên 6”, nghe… khoẻ re. Thang lương có 6 bậc mà mình nằm gần trên đĩnh rồi, họ cũng biết… chấm điểm đó chớ ! Ai dè khi lãnh lương mới… té ngửa: mấy chả xếp thang lương ngược, hạng nhứt là bậc 6 nằm trên hết, rồi tuột lần xuống dưới chót là hạng một. Tôi bậc 2 trên 6, là hạng… áp chót! Mẹ!…

Tôi lãnh 80 đồng tiền mới (Vậy là thằng cha tướng Tổng Cục Hậu Cần đã nói láo!) Bực mình, chạy đi gặp thủ trưởng, ảnh nói:

“Trời đất ! Bác Hồ chủ tịch nước mà chỉ lãnh có 200 đồng. Còn anh, anh lãnh tới 80 đồng còn muốn gì nữa?”.

Thấy thằng chả đem “Bác Hồ” ra… làm chứng, tôi biết có cãi cũng vô ích.

Rồi tôi nhớ ra là anh tài xế cũ của tôi bây giờ lãnh 90 đồng, tôi… đánh đòn chót:

“Vậy thôi anh cho tôi làm tài xế, đi!”. Thằng chả cười, thấy như tôi sao quá khùng, nên vừa lắc đầu vừa trả lời:

“Đâu được! Anh là Kỹ Sư đâu làm tài xế được!”.

Tôi làm thinh, bước ra khỏi văn phòng thủ trưởng mà thấy như mình từ trên trời rơi xuống!

⚘⚘⚘⚘

…Tôi “chịu trận” với cái gọi là “cách mạng” hết ba năm.

Vượt biên thất bại hết ba lần, qua lần thứ tư đi thoát..

Để bây giờ – hơn bốn mươi mấy năm sau – ngồi viết mấy dòng nầy nhân ngày 30 tháng tư … mà thấy không phải tôi đã từ trên trời rơi xuống..mà…chính mấy thằng cha “cách mạng” mới là từ trên trời rơi xuống !

 Tiểu Tử.

30/4 – SUY NGẪM VỀ MỘT CÂU CHUYÊN KỂ CỦA MỘT NGƯỜI “CHIẾN THẮNG” KHI VÀO NAM

K75 LƯƠNG VĂN CAN

TRANG VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM  · 

Hoàng Đip 

30/4 – SUY NGẪM VỀ MỘT CÂU CHUYÊN KỂ CỦA MỘT NGƯỜI “CHIẾN THẮNG” KHI VÀO NAM

Chỉ những người trí thức mới biết mình bị LỪA, và họ bắt đầu sống trong ân hận hối tiếc cho đến cuối đời.

Tôi đã có dịp ngồi nói chuyện với một anh Giáo sư dạy Toán người Hà Nội. Sau khi anh vào Nam để tiếp quản trường học. Gặp nhóm sinh viên chúng tôi anh cười buồn

” Tôi thật ngỡ ngàng không biết phải dạy các em điều gì nữa? ” …

Sau này anh không dạy học mà cùng vợ bán tại một cửa hàng vải nhỏ.

Gặp tôi anh chỉ nói

“Một lầm lẫn tai hại cả một thế hệ ” …

Mấy mươi năm rồi họ vẫn không chiếm được trái tim của người miền Nam và họ ngược lại mất đi khá nhiều trái tim của người miền Bắc.

…………………..

Xe vừa vào địa giới miền Nam,

chúng tôi đã bấm tay nhau nhìn khung cảnh mới.

Nhà cửa người dân cùng các công trình đô thị như cầu, đường gần các trục lộ giao thông trông đẹp và văn minh hơn hẳn miền Bắc.

Đi rồi nghỉ ngơi rồi đi tiếp cho đến khi đoàn xe đến được khu công nghiệp Biên Hoà.

Có quá nhiều nhà máy tại đây.

Đoàn 18 người chúng tôi nhìn ngang nhìn dọc từng dãy nhà máy trong khu vực này và tuy không ai nói với ai nhưng đều trầm trồ trước công nghiệp miền Nam.

Rồi chúng tôi được phân công vào công tác trong một nhà máy có cái tên VICACO.

Một nhà máy sản xuất chất Sút (NaOH) từ muối biển và cả Acid Chlohidric (HCL) nữa.

Một nhà máy bề ngoài trông rất nhỏ mà không ngờ bên trong lại lắp đặt các máy móc tối tân, sản xuất được các hóa chất với sản lượng,

hàm lượng rất cao gấp nhiều lần so với công nghệ tại miền Bắc.

Chúng tôi ngạc nhiên và ngầm thán phục trong bụng.

Nhìn những công nhân miền Nam đang làm việc tại đây rồi sau đó làm việc chung với họ, tôi mới thấy người dân miền Nam khác xa người dân miền Bắc.

Kiến thức chuyên môn và xã hội của họ hơn hẳn chúng tôi.

Kỹ sư hơn hẳn kỹ sư ở miền Bắc và công nhân cũng vậy.

Một sự rụt rè, cẩn thận tự nhiên nẩy sinh trong đoàn tiếp quản chúng tôi. Ai cũng sợ người trong nhà máy tại miền Nam này biết trình độ thực sự của cả đám chúng tôi.

Sợ họ cười, nỗi lo chính trong lòng vì dầu gì mình cũng thuộc phía chiến thắng.

Về nằm nghỉ trong căn phòng mà được biết trước đây là các phòng dành cho công nhân ngủ qua đêm nếu phải ở lại tăng ca, tôi suy nghĩ xã hội miền Nam không hề lạc hậu về công nghệ về con người… như lời nói trước giờ vẫn được nghe.

Ngay cả trong buổi họp khi chọn người xung phong vào tiếp quản,

cán bộ ngành từ trung ương cũng đã nói như vậy khi động viên cán bộ công nhân viên.

Những dãy nhà nghỉ đầy đủ tiện nghi từ các trang bị như bàn ghế,

giường ngủ, quạt trần, phòng vệ sinh, đèn chiếu…

Ở đây, trong khu vực khép kín của khu công nghệ còn được như vậy thì trong thành phố Sài gòn chắc chắn phải rất đẹp.

Tôi cũng chưa nghĩ sẽ ra sao khi tìm gặp được hai cô em gái tôi.

Rồi một ngày tôi theo đoàn vào làm các thủ tục công tác trong một toà nhà Tổng Cục Hoá Chất vừa tiếp quản nay trở thành trụ sở của Công Ty Hóa Chất Cơ Bản miền Nam nằm gần chợ Bến Thành.

Lần đầu tiên trong đời tôi biết đến thang máy khi lên một phòng tuốt trên tầng thượng.

Sau khi làm xong các giấy tờ và thụ tục, chúng tôi được thoải mái đi thăm phố xá.

Ngay từ lúc còn ngồi trên xe buýt nhìn cảnh vật dọc theo đường và khu phố dẫn vào Sài gòn tôi đã thấy vượt trội nhiều lần so với thủ đô Hà Nội. Một vẻ bề ngoài sáng sủa, văn minh lộ ra từ cách phục sức, sinh hoạt của người dân miền Nam.

Giờ đây đi bộ trên các con đường trong khu trung tâm thành phố mới thấy bản thân tôi, một người dân miền Bắc quá sức lạc hậu,

nghèo nàn… từ bộ cánh (quần áo) trên người.

Tôi rõ ràng xa lạ với các tiện nghi đang được người dân trong thành phố này sử dụng.

Bên vệ đường và trong các cửa hiệu sang trọng đầy ắp hàng hoá thật đẹp và mới lạ lần đầu chúng tôi được thấy.

Có tiền cứ việc vào mua thoải mái khác hẳn với cảnh chen chúc để chờ được tới lượt mua số hàng ít ỏi như cảnh thường thấy ở các khu phố ngoài miền Bắc.

Phố xá thì thôi, những tòa nhà to đẹp thấp thoáng sau dòng xe gắn máy chạy hối hả trên đường.

Khung cảnh y như ở nước ngoài,

một người trong đoàn chúng tôi nói nhỏ cho nhau cùng nghe.

Tôi bối rối ngắm nhìn các cô gái miền Nam nói chính xác là cô gái Sài gòn đang dạo bước trên đường.

Họ đẹp quá sức, như tiên… từ dáng điệu, mái tóc, y phục mặc trên người và nhất là khuôn mặt của họ lộ rõ vẻ sung túc đài các so với những nữ cán bộ trẻ trong đoàn chúng tôi.

Tôi mỉm cười, nghĩ thầm hai cô em gái tôi trong này cũng vậy.

Tôi âm thầm tách ra khỏi đoàn để tự mình đi theo ý muốn.

Tôi đi rảo qua nhiều con phố Sài Gòn rồi thấy mỏi chân, tôi lấy can đảm bước vào một hàng nước thật đẹp gần một giao lộ lớn, có tên là Cafe Minirex.

Chọn một bàn sát khung cửa kính trong suốt có thể nhìn rõ người đi bên ngoài, tôi quan sát chung quanh. Bàn ghế, các bình hoa, quầy thu ngân, khách cùng vách tường trang trí cảnh một rừng cây thật đẹp…

thật không khác một tiệm ở nước ngoài trong phim ảnh.

Chợt một người hầu bàn bước đến, gật đầu chào tôi rồi hỏi :

– Thưa ông, ông dùng chi ?

Trời ơi ! Người hầu bàn này quá lịch sự khi tiếp xúc với khách hàng thật khác hẳn với cung cách của Mậu dịch viên trong các tiệm ăn ngoài miền Bắc.

Tôi lại nghĩ, hay ông ta biết tôi là cán bộ chế độ mới qua quần áo mặc trên người nên xưng hô như vậy?

Tôi gọi nước uống và ngầm để ý xem sao.

Nhưng không, bất cứ có khách nào vào quán, người hầu bàn này cũng một cách tiếp đón như vậy.

Rất tự nhiên, lịch sự mà không khúm núm hoặc hách dịch.

Một thay đổi đã đến trong lòng tôi mà tôi biết điều này cũng sẽ đến với bất kỳ người nào từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa khi đặt chân vào miền Nam ở thời kỳ đó.

Sài Gòn hay nói rộng ra cả miền Nam không phải là một xã hội lạc hậu, nghèo nàn, đói khổ, đầy rẫy cảnh người bóc lột người như bao lâu nay người dân miền Bắc được (hay bị) báo chí, đài phát thanh Hà Nội… mô tả về con người và xã hội của chế độ Ngụy quyền tay sai đế quốc Mỹ.

Đây là mô hình của một xã hội văn minh và người nào được sống trong xã hội này quả thật may mắn hơn sống ở xã hội xã hội chủ nghĩa tại miền Bắc.

Tiếc thay ! Một xã hội như vậy lại vừa bị cướp mất đi.

Trương Minh

Nguồn: Facebook của Thầy Sam Nguyen)

CON CỦA SỰ KHÍCH LỆ

CON CỦA SỰ KHÍCH LỆ

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tôi ban cho chúng sự sống đời đời.”

William Arthur Ward nói, “Hãy tâng bốc tôi, và tôi có thể không tin bạn!  Hãy chỉ trích tôi, và tôi có thể không thích bạn!  Hãy quên bẵng tôi, và tôi có thể KHÔNG tha thứ cho bạn!  Và hãy khích lệ tôi, tôi sẽ không bao giờ quên bạn!”

Kính thưa Anh Chị em,

“Hãy khích lệ tôi, tôi sẽ không bao giờ quên bạn!”  Thú vị thay!  Các nhân vật của Lời Chúa hôm nay là những con người mà Hội Thánh và thế giới sẽ không bao giờ quên.  Đó là Barnaba, một người được mệnh danh là ‘Con của sự khích lệ’ và Giêsu, một ‘Thiên Chúa của sự khích lệ!’

     Barnaba, xuất hiện trong bài đọc Công Vụ Tông Đồ hôm nay, là một trong những nhân vật hấp dẫn nhất của Tân Ước.  Barnaba theo tiếng Hy Lạp có nghĩa là “Con của sự khích lệ.”  Barnaba có tiếng là đã khích lệ mọi người ông gặp gỡ; điều này được thể hiện rất rõ qua trình thuật hôm nay.  Một điều gì đó vừa xảy ra trong thành Antiôkia, khi những người ngoại giáo tuyên xưng niềm tin vào Chúa Giêsu.  Từ Giêrusalem, Barnaba được cử xuống để xem xét sự việc.  Ông vui mừng với những gì mắt thấy và đã dành cho các anh em tân tòng một sự khích lệ lớn lao, giục giã họ tin yêu Chúa.  Sau đó, Barnaba lập tức đến Taxô tìm Phaolô, một người mới tin Chúa; Barnaba khuyến khích Phaolô đi Antiôkia để hỗ trợ cho Hội Thánh non trẻ này.  Từ đó, Phaolô trở thành trụ cột hàng đầu của Antiôkia; và “Chính tại Antiôkia, lần đầu tiên, các môn đệ được gọi là Kitô hữu.”  Hội Thánh được khích lệ, mừng vui; Thánh Vịnh đáp ca diễn tả, “Muôn nước hỡi, nào ca ngợi Chúa!”  Thật không sai, Barnaba được gọi là ‘Con của sự khích lệ!’

Với bài Tin Mừng, chúng ta, đoàn chiên Chúa gặp được một sự khích lệ lớn lao nơi Giêsu Mục Tử, “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong; không ai cướp được chúng khỏi tay Tôi.”  Thật an ủi khi biết Chúa Giêsu hết lòng vì chúng ta; Ngài quan tâm đặc biệt đến hạnh phúc tối thượng là “sự sống đời đời” của chúng ta.  Tuy nhiên, chúng ta không chỉ là những con chiên thụ động vì “Chiên của Tôi thì nghe tiếng Tôi”; nghĩa là, chúng ta vẫn có một vai trò nhất định trong mối quan hệ của mình với Thiên Chúa!  Chúa sẽ làm tất cả những gì có thể để gìn giữ chúng ta, nhưng mỗi người cũng có phần của mình trong ‘cuộc chơi!’  Chúng ta phải im ắng đủ để lắng nghe Ngài, qua Phúc Âm, toàn bộ Thánh Kinh, qua từng biến cố, qua từng con người.  Bởi lẽ, ngày nay, có nhiều tiếng nói đang cạnh tranh sự chú ý của chúng ta, chúng ta phải nghe cho được sự khích lệ của Ngài, hầu làm theo Ngài, với niềm tin rằng, sự khích lệ tận tâm của Ngài cho hạnh phúc của chúng ta là vô điều kiện.

Anh Chị em,

Noi gương Chúa Giêsu, ‘Thiên Chúa của sự khích lệ’; bắt chước Barnaba, ‘Con của sự khích lệ’, chúng ta sống một phần của ơn gọi của mình như những người con ‘được gọi để khích lệ.’  Chúng ta khuyến khích nhau trong đức tin, giúp nhau phát triển trong mối tương quan với Chúa, giúp nhau trung thành với ơn gọi làm con Chúa.  Cha mẹ khuyến khích con cái, con cái khuyến khích cha mẹ; anh chị em, bạn bè khuyến khích nhau… cùng nhau hiệp hành trên con đường mang tên Giêsu mà tiến về nhà Cha!  Ước gì chúng ta có một trái tim lặng thinh đủ để nghe rõ ‘tiếng của lòng’ Thiên Chúa và ‘tiếng của lòng’ con người!  Từ đó, dám hy sinh, dám dấn thân, trở nên những người ‘con của sự khích lệ’ cho những ai đang bủn rủn, và đầu gối rã rời!  Như vậy, trong mọi lĩnh vực, ‘mục vụ khuyến khích’ vẫn đóng một vai trò quan trọng, không chỉ ở các Hội Thánh non trẻ, mà cả với Hội Thánh trưởng thành và thế giới hiện đại ngày nay!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho lửa yêu mến Chúa luôn nung đốt lòng con; để ai gặp con, họ gặp được sự khích lệ… để “không bao giờ quên” Chúa, nhưng muốn đến gần Ngài!” Amen!

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Từ xã hội đến giáo dục, không thể sửa

Van Pham

Từ xã hội đến giáo dục, không thể sửa

Đỗ Ngà,

Ngày 4/5 hai thanh niên đã thực hiện hành vi bẻ khóa xe máy, một bác sĩ ngăn cản hành vi ăn cắp này thì bị hung thủ đâm chết. Sau đó công an đã treo giá 100 triệu cho ai cung cấp thông tin bắt hung hung thủ.

Thật là đau xót cho một trí thức phải mất mạng một cách vô ích vì một xã hội xấu xa. Giáo dục khó khăn lắm mới tạo ra con người có trình độ nhưng bị cái xã hội này nó phá đi rất dễ dàng.

Tại Thái Lan, người dân vẫn để ô tô, xe máy ngoài đường ngay cả khi họ đóng cửa ngủ trong nhà vẫn không bị mất cắp. Nếu so sánh xã hội Việt Nam và xã hội Thái Lan, thì đất nước đã không phải mất đi một bác sĩ và tiền của dân cũng không phải mất 100 triệu để tìm ra hung thủ.

Tạo ra một tên đạo chích rất dễ, tạo ra một bác sĩ khó hơn nhiều, ấy vậy mà bác sĩ bị đạo chích giết chết một cách dễ dàng. Vậy ai đã tạo ra một xã hội đầy bất an như vậy? Đảng!

Nói đến giáo dục XHCN là nói đến mặt bằng chung của nền giáo dục này. Xã hội chính là kết quả của một nền giáo dục. Xã hội Việt Nam là một xã hội độc hại và đầy bất an, con người trí thức sống trong xã hội này dốc hết trí lực đối phó với sự bất an của xã hội thì còn đâu thời gian mà suy nghĩ ra điều có ích?

Không ai hiểu nền giáo dục này bằng CS, không ai hiểu sự bất an của xã hội này bằng cộng sản, vì vậy mà để con cái phát triển tốt hơn, quan chức cho con du học, để sống an toàn hơn họ xây biệt phủ kín cổng cao tường và lắp hệ thống an ninh hiện đại. Hành động đưa con đi học nước ngoài là hành động tị nạn, hành động xây biệt phủ với tường rào kiên cố hệ thống an ninh hiện đại là hành động cố thủ trước cái xấu của xã hội tấn công.

XHCN được Đảng Cộng sản áp dụng cho đất nước này thực sự là một chủ nghĩa độc hại. Giáo dục vốn không độc hại, nó chỉ độc hại khi nó mọc lên trên cái nền đất nhiễm độc XHCN. Như vậy nếu cải cách giáo dục mà vẫn kiên trì XHCN thì làm thế nào để nền giáo dục tốt hơn được đây? Vô phương.

Năm 2012, giáo sự Hoàng Tụy đã nói “Giáo dục Việt Nam không chỉ lạc hậu mà đang… lạc lối”. Vậy lối nào đã làm giáo dục XHCN bị lạc? Đó chính là cái định hướng XHCN trong giáo dục.

*******

Ngày 6/5, trên báo VnEconomy có bài viết “Thủ tướng: ‘Ngành giáo dục phải đổi mới tư duy, tự lực vươn lên, không chờ ai làm thay’.”

Bài viết cho thấy, ông Phạm Minh Chính đang định hướng cải cách giáo dục dựa trên quan điểm là giáo dục “lạc hậu” chứ không phải là “lạc lối”. Thực tế lạc lối mới là nguyên nhân chính làm cho mọi cải cách trong nhiều năm qua thất bại.

Qua nhiều đời thủ tướng, nhiều đời bộ trưởng bộ giáo dục thì nền giáo dục Việt Nam vẫn cứ cải tiến cải lùi như gà mắc tóc. Nguyên nhân thất bại của những người tiền nhiệm ông Phạm Minh Chính không nhận ra thì cuối cùng ông cũng khó tránh khỏi câu chuyện “hết cải tiến, đến cải lùi” và cứ loay hoay như gà mắc tóc như bao năm qua mà thôi.

“Đừng nghe những gì CS nói, hãy xem những gì CS làm”, không cần biết ông Phạm Minh Chính nói gì, chỉ cần thấy quan chức CS mà không đưa con đi Tây du học nữa, thì cải cách giáo dục thành công, và quan chức không phải xây biệt phủ tường cao nữa thì xã hội yên bình.

Quan chức CS mà làm được những điều đó là điều không tưởng, bởi không ai hiểu giáo dục XHCN cho bằng CS, không ai hiểu xã hội này cho bằng CS, nó không thể thay đổi mà chỉ có thể vứt đi.

Sau ‘phiên quyết đấu’ hôm nay, Tổng Trọng có chịu rời ghế?

Sau ‘phiên quyết đấu’ hôm nay, Tổng Trọng có chịu rời ghế?

Blog VOA

Hoàng Trường

9-5-2022

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ. Nguồn: TTXVN via VTV

Việc ông Trọng phải “địa phương hóa”, “phân quyền” và “tản quyền” mạng lưới Ban Chỉ đạo (BCĐ) phòng chống tham nhũng, tiêu cực xuống 63 tỉnh thành có nghĩa là ông Trọng đã công nhận sự thất bại của BCĐ ở cấp Trung ương.

“Phiên quyết đấu” rơi vào thời gian cuối của Hội nghị Trung ương 5 đang vào hồi kịch tính – giữa một bên là Tổng bí thư (TBT) Nguyễn Phú Trọng quyết bám ghế và bên kia, “Bộ Tam” quyết ép ông ra khỏi ghế. Sau ngày 10/5, kỳ họp căng thẳng này sẽ kết thúc như thế nào, hay còn cần một “hiệp phụ” nữa – một phiên họp bổ sung của Bộ Chính trị (BCT) – mới ngã ngũ? Liệu “phép mầu” có xuất hiện sau phiên họp cuối cùng này của TW5?

Lý do để ông Trọng ở lại?

“Phép mầu” ở đây là TBT Nguyễn Phú Trọng, 78 tuổi, có chịu từ bỏ tham vọng giữ chức vụ Đảng trưởng của mình cho đến năm 2026, vào lần tiếp theo khi Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) lại nhóm họp để chọn TBT tại Đại hội XIV? Nếu sống cho được đến khi đó, ông Trọng sẽ 81 tuổi, và nếu điều này thành hiện thực, ông sẽ trở thành người đứng đầu ĐCSVN cao niên nhất trong lịch sử. Cố TBT Lê Duẩn, Đảng trưởng qua nhiều cuộc chiến tranh suốt hơn ba thập kỷ, khi qua đời năm 1986, chỉ thọ 79 tuổi.

Liệu Tổng Trọng có giữ được ghế cho đến năm 2026? Cho đến khi bài báo này lên trang, chắc chắn chưa có phe nào trong “phiên quyết đấu” hôm nay (ngày 9/5/2022) có được câu trả lời khả tín. Cũng phải thôi, bởi vì trước mắt, các bên đều đang cố giấu “tuyệt chiêu” trong phiên quyết đấu (duel session) cuối cùng này.

Đại diện chính quyền, các nhành hành pháp do Thủ tướng Phạm Minh Chính và Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc làm chủ công đang lựa thế, với sự chống lưng của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ. Tổng Trọng với đội ngũ cố vấn lọc lõi, dù không còn “trùm cuối Hồ Mẫu Ngoạt” ủ mưu, vẫn đang ra sức thao túng, gạt mọi “mũi tên hòn đạn” đang tới tấp “bay” về phía mình.

Điều trớ trêu là, cả hai phe đều giương cao cùng một ngọn cờ tả tơi – trên danh nghĩa họ đều tự nhận là đại diện cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là những lớp người đang sống lay lắt dưới đáy xã hội kim tiền và chẳng liên can gì đến cuộc đấu đá liên tục hiện nay. Hẳn nhiên, “Bộ Tam Chính – Phúc – Huệ”, sau chiến thắng tạm thời nếu “hạ” được Tổng Trọng, sẽ tiếp tục một cuộc chiến đấu khác. Lần này sẽ giữa họ với nhau, xem ai đáng mặt anh hào ngồi vào cái ghế TBT đang ngày càng trở nên nóng bỏng ấy? (1)

Tước mắt, “Bộ Tam” đang phải đối phó với các lập luận nghe khá bùi tai của phe Đảng trưởng, nhưng lại không mấy thuyết phục những người trong cuộc. Cánh “chống lưng” cho Tổng Trọng đang trưng ra 4 lập luận để Trung ương chưa thay TBT vào lúc này. Phát biểu với truyền thông quốc tế ngày 6/5, bỉnh bút về chính trị Việt Nam (từ Mỹ) David Brown cho biết, các nguồn tin Hà Nội tiết lộ với ông, trước đây, TBT Nguyễn Phú Trọng loan báo dự định nghỉ hưu tại Hội nghị TW5, nhưng giờ đây có vẻ ông Trọng sẽ còn ở lại. Chuyến đi của ông ấy ngày 6/4 tới Cung Trúc Lâm Yên Tử dường như nhằm chứng tỏ là ông vẫn khỏe để di chuyển trong nước với khoảng cách xa 150 cây số.

Trước đó, hôm 22/3, ông Trọng cũng có chuyến thăm tỉnh Hòa Bình. David Brown nói nguồn tin đưa ra bốn lý do để ông Trọng tiếp tục giữ cương vị đứng đầu ĐCSVN: Thứ nhất, thời điểm chưa phù hợp. Thứ hai, trong Đảng chưa có thống nhất về việc ai có thể kế nhiệm TBT. Thứ ba, “nhân dân” không muốn ông Trọng ngừng đốt lò. Thứ tư, ông Trọng muốn tìm một người kế nhiệm “trung kiên” về ý thức hệ và mạnh mẽ như chính bản thân ông vậy. (2)

Ý thức hệ là Quyền, Tiền và Trung Quốc

Cả bốn lý do kể trên chẳng có một chút cơ sở thực tiễn nào cả. Về thời điểm: Từ Đại hội ĐCSVN lần thứ 13 vào tháng 1/2021, dư luận từng râm ran cho rằng ông Trọng sẽ từ chức, vì ông đã có 10 năm tại vị và Điều lệ đảng hạn chế các lãnh đạo cấp cao nhất kéo dài quá hai nhiệm kỳ 5 năm. Ấy vậy mà ông Trọng vẫn giành được nhiệm kỳ thứ ba, gần như chưa từng có tiền lệ. Vậy, thời điểm chỉ là cái cớ thô ráp.

Về người kế nhiệm: Hiện có từ 6 đến 8/18 ủy viên BCT có thể lọt vào danh sách “thi đấu” ghế TBT, nghĩa là có dư số người thay thế. Về chuyện đốt lò: Điểm này chính là sự thất bại “toàn tập” của Tổng Trọng, chỉ có nhân dân chưa nhìn thấu hết mà thôi. Còn về ý thức hệ: Xin lỗi ngài TBT, ý thức hệ ngày này là Quyền, Tiền và Trung Quốc (chống lưng của Trung Quốc).

Đặc biệt là Tiền! Tiền là yếu tố kết dính duy nhất hiện nay giữa các đồng chí với nhau, bất luận là ở dưới các địa phương, trên trung ương, kể cả ở thượng tầng “Tứ Trụ”. Ngoài ra, sự bảo trợ từ Bắc Kinh, nhất là đối với người kế nhiệm TBT, vẫn là một nhân tố không thể thiếu cho bất cứ candidate nào dự “thi đấu”.

Việc ông Trọng phải “địa phương hóa”, “phân quyền” và “tản quyền” mạng lưới Ban Chỉ đạo (BCĐ) phòng chống tham nhũng, tiêu cực xuống 63 tỉnh thành, có nghĩa là ông Trọng đã công nhận sự thất bại của BCĐ ở cấp Trung ương. Nay mai, nếu còn ngồi lại, không rõ ông Trọng còn có kế hoạch xây dựng BCĐ cấp huyện, xã nữa chăng?

Bằng cách “địa phương hóa – phi tập trung hóa” như vậy thì các ông quan đầu tỉnh, từ Bí thư, Chủ tịch đến các Thành ủy viên, tha hồ tự tung tự tác. Khi quyền lực thuộc về lãnh đạo, các đồng chí sẽ bảo kê cho nhau, liên kết với nhau, hoàn thiện dây chuyền biến quyền thành tiền và ngược lại, để thực thi “văn hóa tham nhũng”. Thay vì chống tham nhũng như TBT vẫn hô hào, Đảng và Nhà nước đang tạo ra vỏ bọc cho tham nhũng.

Các ông thừa biết rằng, nếu không trông vào cơ hội tham nhũng, thì cả hệ thống quyền lực “còn Đảng còn mình” của các ông sớm muộn cũng sẽ “cuốn theo chiều gió”. Làm việc chỉ để nhận mấy đồng lương chết đói, cả hệ thống quyền lực ở tất cả các cấp của các ông không tồn tại nổi một ngày… Đồng thời, với chính sách vừa mị dân, vừa kềm kẹp dân như hiện nay, Đảng đã thành công “mỹ mãn” trong việc biến dân thành đàn cừu, không dám có phản ứng, cho dù bộ phận lớn trong dân chúng vẫn nhận ra được những “bí mật công khai” ấy.

Nhà văn Phùng Tuyết Phong vào thập niên 30 đến thăm Mao Trạch Đông ở chiến khu Thụy Kim có kể cho Mao nghe: “Một người Nhật nói, cả Trung Quốc chỉ có ‘hai người rưỡi’ hiểu được người Trung Quốc. Một là văn hào Lỗ Tấn, hai là Tưởng Giới Thạch, nửa người kia là Mao Trạch Đông”. Nghe xong, Mao cười ngất: ‘Hảo, hảo, cái tay Nhật Bản ấy nói đúng lắm!’ Hai thập niên sau, Mao lại nói: Lỗ Tấn mới là đệ nhất thánh nhân của Trung Quốc, còn tôi (tức là Mao) chỉ là “hiền nhân”.

Ở Việt Nam ta có nhà thơ Tản Đà từ đầu thế kỷ 20, chỉ dùng hai câu thơ đủ nói lên tính cách dân tộc mình: “Dân hai nhăm triệu ai người lớn/ Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con” (3). Một trăm sau khi thi sĩ Tản Đà hạ bút viết hai câu thơ như một tiếng thở dài đầy ai oán trước sự yếu ớt non bấy của quốc gia dân tộc này, không hồ nghi gì nữa, Việt Nam đang trở lại chính cái vạch xuất phát ấy. Mặc dầu, bây giờ dân số nước ta ngót nghét một trăm triệu mà vẫn cứ trẻ con, Đảng và Nhà nước phán gì nghe nấy.

Câu chuyện về vườn hay ngồi lại của TBT Nguyễn Phú Trọng thật ra chỉ liên quan đến nội bộ đảng ở thượng tầng, tại đó, các phe nhóm chính trị tranh chức, tranh quyền. Trước thềm TW5, trong hai ngày 28 và 29/4 khi Vương Đình Huệ thăm Trà Vinh, Vĩnh Long, thì Phạm Minh Chính cũng làm việc ở Sóc Trăng. Hình như cả hai nhân vật ứng viên sáng giá kế vị chiếc ghế TBT tranh thủ lấy lòng các đồng chí Nam Bộ.

Trong khi đó, những cuộc “so găng” để hạ bệ lẫn nhau đã thành truyền thống trong đảng. Chỉ cần tung bằng chứng một trong ba yếu tố: Có vấn đề về lý lịch và lập trường, sai phạm trong đạo đức và lối sống, tham nhũng và bảo kê, thì lập tức một chính trị gia sẽ nhanh chóng trở thành tội đồ của đảng (4).

Tuy nhiên, trong quá trình “thi đấu”, khi cần các đồng chí cũng biết cách thỏa hiệp. Bởi vì cuộc đấu “phe nhóm” này khác với cuộc chiến “mèo vờn chuột”. Đây là cuộc đấu để chia phần “cái bánh” lợi ích, chứ không nhất thiết lúc nào cũng phải triệt tiêu đối thủ.

_________

Chú thích:

(1) https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-61361786

(2) https://asiatimes.com/2022/05/early-exit-for-vietnams-communist-boss-trong/

(3) https://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/cau_tho_tan_da_nhu_sam.html

(4) https://baotiengdan.com/2022/05/02/hoi-nghi-trung-uong-5-va-noi-tinh-cua-dang/

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Trần Vàng Sao

 S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Trần Vàng Sao

Cách đây chưa lâu, Tần Hoài Dạ Vũ và Nguyễn Đông Nhật đã cho xuất bản cuốn Phác Hoạ Chân Dung Một Thế Hệ. Theo báo chí nhà nước đây là “một hồi ký đậm chất văn chương của hai con người đã từng sống, từng viết và từng tranh đấu trong các đô thị miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ” và tác phẩm đã “đưa ‘giấc mơ đẹp’ của một thế hệ đến những thế hệ tiếp nối.”

“Giấc mơ đẹp” này của hai nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ và Nguyễn Đông Nhật, chả may, lại là ác mộng của một thi nhân khác – cùng thời:

… mả cha cuộc đời quá vô hậu
cơm không có mà ăn
ngó lui ngó tới không biết thù ai
những thằng có thịt ăn thì chẳng bao giờ ỉa vất

lâu ngày tôi thấy quen đi
như quen thân thể của mình
tiếng ho gà nửa đêm của những đứa bé chưa đầy hai tuổi
buổi chiều không có cơm ăn
những con ruồi ăn nước mũi khô trên má…
hai mắt tôi mở to
đầu tôi cúi thấp
miệng tôi há ra
những lá khoai nhám và rít mắc vài hột cơm
dồn cứng chật cuống họng

(Trần Vàng Sao – Người Đàn Ông 43 Tuổi Nói Về Mình)

Toàn bản bài thơ thượng dẫn đã được đăng lại trên trang Quà Tặng Xứ Mưa, với đôi lời giới thiệu (rất buồn) về tác giả:

“Nhà thơ Trần Vàng Sao (tên thật là Nguyễn Đính) ở Đường Tuy Lý Vương, Phường Vỹ Dạ, Huế là nhà thơ nổi tiếng với bài thơ ‘Bài Thơ Người Yêu Nước Mình’. Giữa lúc phong trào ‘xuống đường’ ở Huế những năm 1965-1968 đang rầm rộ mà dám lấy bút danh ‘Trần Vàng Sao’ là rất ghê gớm. Thế mà, năm 1988, ông có bài thơ ‘Người Đàn Ông 43 Tuổi Nói Về Mình’ in ở Tạp chí Sông Hương đã gây nên cuộc cãi vã náo loạn ở Huế. Cán bộ chính trị, các ‘nhà văn đỏ’ đua nhau suy diễn chính trị, phán xét. Đài phát thanh, báo đảng địa phương đăng nhiều bài viết chửi rủa nhà thơ, họ ‘phỏng vấn’ cả các bà tiểu thương chợ Đông Ba để tố cáo nhà thơ. Trên diễn đàn họ gọi Trần Vàng Sao, Tô Nhuận Vỹ (Tổng biên tập TC Sông Hương) là “bọn tay sai của địch…”

Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia cho biết chi tiết hơn:

“Trần Vàng Sao sinh ở Thừa Thiên – Huế, năm 1961 ông thi đỗ tú tài rồi vào Đại Học Huế, tham gia các phong trào đấu tranh của sinh viên cùng thế hệ với Hoàng Phủ Ngọc TườngTrần Quang LongNgô Kha. Từ 1965 đến 1970, ông lên chiến khu và công tác tại Ban Tuyên Huấn Thành Uỷ Huế, viết báo với các bút danh Nguyễn Thiết, Lê Văn Sắc, Trần Sao. Năm 1970 ông được đưa ra miền Bắc an dưỡng, chữa bệnh. Ở nơi đây, ông có viết nhật ký gồm những suy nghĩ của ông về cái gọi là ‘hậu phương xã hội chủ nghĩa’ đó và sau đó bị tố cáo, đấu tố và cô lập đến nỗi ông có cảm giác ông không còn được coi là con người mà đã thành ‘một con vật, một con chó’- theo như hồi ký ‘Tôi Bị Bắt (Nhớ lại những năm tháng tôi bị bắt rồi được thả ra và sống như tù)’ sau này của ông.”

Tập hồi ký này có thể đọc được ở diễn đàn talawas. Xin trích dẫn lại vài đoạn ngắn:

Thứ Ba, ngày 31.10.1978

Mong có một bữa cơm không, ăn với cá, cá vụn, với muối và một chút ớt.

Thứ Hai, 22.07.1979
Nhà cứ không có gạo hoài. Có nửa lon, một lon dành cho Bồ Câu. Phải bới sắn non, nhưng chỉ vài ba bữa, còn thì quá non. Hay chưa có được gạo. Giấy trả về làm việc từ 1.6. Chúng mày không có gạo thì chúng mày đói chứ tao có đói đâu …

Và không ai dám nói ra những suy nghĩ của mình về chế độ, thậm chí những suy nghĩ của mình về một người thứ ba cho một người thứ hai nghe. Người ta phải nói láo hoặc nói nhỏ. Kinh khủng thật. Thành ra có một không khí chính trị giả dối trong dân chúng. Nhưng mà chưa ai chết ngay cho. Có người nói: không chết tươi ngay mà chỉ chết mòn, chết dần…

Phần đời (“vô hậu”) này của Nguyễn Đính gần giống như hoàn cảnh sống cơ cực của Nguyễn Hữu Đang, sau 15 năm tù, qua cảm nhận của Phùng CungGót nhọc men về thung cũ/ Quì dưới chân quê/ Trăm sự cúi đầu/ Xin quê rộng lượng/ Chút thổ phần bò xéo cuối thôn.

Cớ sao mà “cách mạng” lại “chiếu cố” Nguyễn Hữu Đang tận tình (và tuyệt tình) như thế? Một trong những nguyên do – có thể nhìn thấy được – là vì ông đã không chịu chấp nhận sự “xộc xệch” trong hiến pháp của nước VNDCCH:

“Do pháp trị thiếu sót mà Cải Cách Ruộng Đất hỏng to đến thế. Do pháp trị thiếu sót mà quân đội chưa có chế độ binh dịch hợp lý, công an hỏi giấy giá thú đôi vợ chồng ngồi ngắm cảnh trăng lên ở bờ hồ, hộ khẩu rình bên cửa sổ khiến người ta mất ăn, mất ngủ, cán bộ thuế tự tiện vào khám nhà người kinh doanh, ở khu phố có chuyện đuổi nhà lung tung hoặc ép buộc người ở rộng phải nhường lại một phần nhà cho cán bộ hay cơ quan ở. Do pháp trị thiếu sót mà nhiều cơ quan bóc xem thư của nhân viên và một ngành rất quan trọng nọ đòi thông qua những bài báo nói đến mình, làm như một bộ phận của Nhà nước lại có quyền phục hồi chế độ kiểm duyệt mà chính Nhà nước đã bãi bỏ. Do pháp trị thiếu sót, người ta đã làm những việc vu cáo và đe doạ chính trị trắng trợn…”(Nhân Văn số 4, phát hành ngày 5.11.1956).

Sáu năm sau, vào năm 1961, “người ta đã trắng trợn vu cáo” Nguyễn Hữu Đang là gián điệp. Mười hai năm sau nữa thì đến lượt Nguyễn Đính bị vu cáo là CIA – theo như ghi nhận của chính nhà thơ, qua cuốn hồi ký thượng dẫn:

“Khi ra Bắc, ai giao nhiệm vụ cho anh? Nhiệm vụ đó là nhiệm vụ gì? Anh đã gặp ai, ở đâu, bao giờ? Anh đã tổ chức họ như thế nào? Công việc của anh hiện nay đã tiến hành đến đâu? Anh phải nói thật, nói hết, không được giấu giếm. Sinh mạng của anh là do nơi sự thành khẩn của anh quyết định đó…”

Nguyễn Hữu Đang và Nguyễn Đính đều đã trải qua nhiều năm tháng não nề, ê chề, và cay đắng. Họ bị chôn sống nhưng nhất định không chịu chết. Hai ông, nói nào ngay, chỉ là hai nạn nhân tiêu biểu – của hai thế hệ kế tiếp nhau – đã dấn thân vào cuộc cách mạng vô sản (và vô hậu) ở Việt Nam.

Nguyễn Hữu Đang, Thụy An, Đào Duy Anh, Nguyễn Bính, Hoàng Cầm, Phùng Cung, Trần Dần, Trần Duy, Phan Khôi, Dương Bích Liên, Hữu Loan, Phùng Quán, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu… đều không còn nữa nhưng tâm cảm trân trọng và quí mến của mọi người dành cho họ chắc chắn sẽ còn lâu. Thế hệ của Nguyễn Đính (e) khó có mà nhận được tình cảm tương tự.

Sự nông nổi, ồn ào và lố bịch của nhiều người trong bọn họ khiến cho thiên hạ cảm thấy khó gần! Dù vở kịch cách mạng đã hạ màn từ lâu, lắm kẻ vẫn làm bộ như không có chuyện gì đáng tiếc xảy ra, vẫn cứ xưng xưng coi đó như Một Thời Để Nhớ, vẫn kịch cỡm viết sách tự phác hoạ Chân Dung của thế hệ mình và xem là tác phẩm đã “đưa ‘giấc mơ đẹp’ của một thế hệ đến những thế hệ tiếp nối.”

Họ cố tình quên rằng chính hiến pháp của hai chế độ đệ I và đệ II Cộng Hòa của miền Nam Việt Nam, tuy non trẻ và yếu ớt, vẫn là đồ thật (chớ) không phải đồ sơn. Nó đã bảo vệ cho họ được sống như những con người, với những quyền tự do tối thiểu, để có được “những hình ảnh khí phách” và “những tháng ngày sục sôi” – thay vì bị đạp vào mặt chỉ vì đi tuần hành biểu lộ lòng yêu nước. Họ đã được chế độ hiện hành choàng vào người những vòng hoa (giả) nhưng cứ thế mà đeo mãi cho đến cuối đời.

Tội!

Em còn nhớ hay đã quên? (RFA)

Em còn nhớ hay đã quên?

Thứ Bảy, 05/07/2022 –  tuankhanh

Ảnh của tuankhanh

tuankhanh

Suốt nhiều ngày, giới bình dân lẫn trí thức đều bàn tán về chuyện các tiến sĩ hạng lông đang xuất hiện khắp nơi trên đất nước. Những tấm bằng trọng vọng, phủ lên trên những dự án hết sức ngớ ngẩn đang được tìm thấy với sự mỉa mai, rằng “đất nước ta có bao giờ được như thế này đâu”.

Theo con số ước tính, Việt Nam đang có hơn 24.000 danh vị tiến sĩ (thống kê từ năm 2016), nhưng vào năm 2020, theo báo Tuổi Trẻ, thì Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Việt Nam cho biết những năm gần đây, cứ mỗi năm có hơn 1500 tiến sĩ lấy bằng. Nhưng khả năng và ứng dụng thực tế của các vị tiến sĩ đó thì chưa được công bố. Chưa kể là còn liên tiếp các vụ tố nhau đạo văn, kể cả quan chức chính phủ.

Một người bạn làm nghề kinh doanh, phải đi gặp rất nhiều khách hàng, anh kể là đến đâu nhận danh thiếp của giám đốc, trưởng phòng… đều thấy đề danh vị là tiến sĩ, thấp thì cũng là thạc sĩ. Người Việt Nam hôm nay trí thức rất toàn phần. Nói như một nhà báo về hưu non ví von “Vừa bỏ súng xuống, họ lại cầm bút. Nhưng không biết súng đã bắn vào đâu và bút đã viết những gì”.

Nạn lạm phát tiến sĩ, thạc sĩ, chức danh nổ như pháo hiện nay, phải nói đến công của thời Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Thiện Nhân. Năm học 2007 – 2008, ông Nhân ra khẩu hiệu “năm không”, trong đó có “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích”. Nhưng chính ông ta lại mâu thuẫn với mình khi vào lúc nhận chức Phó Thủ tướng, ông phát động chiến dịch trang trí toàn cõi Việt Nam bằng các loại bằng cấp, qua đề án do chính ông ký tên ban hành là mục tiêu đào tạo 20.000 tiến sĩ giai đoạn 2010 – 2020.

Tiến sĩ cầu lông, hay các loại tiến sĩ đã và đang bị dòm ngó về nội dung luận án, có nằm trong chiếc lồng ấp 20.000 tiến sĩ của ông Nhân không? Và họ đã làm gì với mảnh bằng chói lòa số lượng ấy?

Nhưng mảnh bằng tiến sĩ trong nước giờ đã kém sang, nhiều nhân vật quan chức nay săn tìm bằng cấp nước ngoài để có vẻ “phương Tây” hơn, và cũng khó truy nguyên hơn. Việt Nam là nước mua bằng giả từ các công ty ma tại Mỹ nhiều đến mức mà năm 2019, tiến sĩ Mark A. Ashwill, Giám đốc Viện Giáo dục quốc tế Mỹ tại Việt Nam đã phải gửi đến giới báo chí, xin giúp công khai danh sách 21 trường đại học Mỹ đang có mặt tại Việt Nam nhưng không được cơ quan có thẩm quyền công nhận ngay tại Mỹ. Dĩ nhiên, vô số các tấm bằng giả đã bị phát hiện, và được xử lý nội bộ.

Một trong những vụ bị phanh phui – do đến lúc – là trường hợp ông Nguyễn Xuân Anh, cựu bí thư Đà Nẵng, nhận bằng tiến sĩ của Trường Southern California University for Professional Studies (SCUPS) mà thời gian tu học đòi hỏi từ 4-7 năm, nhưng chỉ hơn 1 năm, ông Anh đã hoàn tất.

Đến lúc, tức bị đào thải ra khỏi hệ thống vì lý do gì đó, và bằng cấp chỉ là một trong những lý do để vin vào. Ví dụ cho chuyện này, nặm 2021, Đại Học Đông Đô ở Hà Nội  bị phát hiện đã cấp bằng giả cho gần 450 quan chức. Nhưng chỉ có hơn chục người bị tiết lộ danh tính, còn lại thì vẫn bí mật, vì là vấn đề an ninh quốc gia. Quan chức sống trên bằng cấp giả, lừa mị nhân dân bằng học thức giả, là một hiện thực mà cả nước Việt Nam lâu nay “ai cũng biết, mà không ai nói”.

Nói về đề án bốc lửa, tạo ra 20.000 tiến sĩ của ông Nguyễn Thiện Nhân, đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc có gửi góp ý sau khi mọi thứ vỡ lỡ là thất bại thảm hại “Tiêu đồng tiền của dân thì phải thận trọng”. Còn Ông Đỗ Văn Dũng, Hiệu trưởng Trường Đại học sư phạm kỹ thuật TPHCM thì tiết lộ rằng mọi nơi trong ngành giáo dục rùng rùng chạy theo niềm cảm hứng của ông Nhân, bất kể hiện thực. “Các cơ quan cử người đi du học (lấy bằng tiến sĩ) thì đa phần trình độ tiếng Anh rất là yếu, rồi ngay cả việc bồi dưỡng tiếng Anh đủ chuẩn để đi du học cũng yếu, cho nên rất nhiều em qua học 4 năm không thể làm gì được”, ông Dũng kể về giai đoạn sôi sục với chỉ tiêu ấp cho được 20.000 tiến sĩ của ông Nhân.

Được biết đề án đó (có tên là Đề án 911), dự trù kinh phí 14.000 tỷ đồng, không biết thất bại bao nhiêu, nhưng sau đó Kiểm toán Nhà nước kiến nghị khắp nơi phải thu hồi nộp trả lại phần có thể, cho ngân sách nhà nước hơn 50 tỷ đồng.

Điểm lại cuộc chiến tranh nhân dân mà Hà Nội đã khởi đi từ năm 1954, trong nội dung đó, trí thức và các loại bằng cấp thường không được xem trọng. Đặc biệt sau Tháng Tư 1975, cuộc cải tạo tư tưởng khổng lồ với hàng triệu người miền Nam Việt Nam, bao gồm luôn cả các thành phần trí thức đã biến giới có học trở thành hạng người bị coi là hư hỏng, nhiễm độc bởi tư tưởng sai lầm của phương Tây. Cụ thể là chuyện Giáo sư Nguyễn Duy Xuân, Tổng trưởng Văn hóa – Giáo dục – Thanh niên thời Việt Nam Cộng Hòa. Ông là người phát triển tri thức cho toàn bộ vùng miền Tây Việt Nam, và là người phát hiện nhà nông nghiệp học Võ Tòng Xuân về Việt Nam làm việc vào năm 1972. Ông bị đi “học tập” và chết năm 1986 vì đau yếu, thiếu thốn trong tù Ba Sao, Nam Hà.

Thật khác với những ngày khai lý lịch ở miền Nam sau 1975, người ta thì thào với nhau rằng trong mục học vấn, tốt nhất là nên để nguồn gốc bần cố công, hoặc chỉ học đến lớp 12… như vậy thì mới yên phận. Thỉnh thoảng ai đó bị phát hiện là có bậc đại học hoặc trên mức đó mà che giấu, đều bị tra vấn như tội phạm.

Nhớ ông thầy dạy Anh Văn, bị đi “học tập cải tạo” mấy năm do là viên chức hành chánh chế độ. Ông kể có lần phái đoàn quốc tế đến thăm trại, cán bộ vào căn dặn mọi người là không được nói chuyện trực tiếp, mà phải qua phiên dịch của nhà nước. Và nếu có được hỏi là có nói được ngoại ngữ không thì phải từ chối. Chẳng may, dáng vẻ trí thức lụm cụm của ông làm thành viên phái đoàn quốc tế chú ý. Họ đi đến gần và hỏi ông có nói được tiếng Anh không, ông lắc đầu và chỉ trả lời qua phiên dịch. Cuối cùng, có một thành viên Phái đoàn hỏi ông là trước năm 1975 làm nghề gì. Ông nói “làm thầy giáo”. Người phiên dịch chuyển lời ngay. Thành viên phái đoàn quốc tế lại gặng “ông dạy môn gì?”. Ông thầy trả lời giọng nhỏ “dạy Anh văn”. Người phiên dịch cũng chuyển lời ngay, nhưng nửa câu thì hắn giật mình, im lặng. Nhưng cũng đã trễ. Các thành viên Phái đoàn quốc tế lúc đó gồm những người Pháp, Thụy Điển, Đức… nhìn nhau, cười và vỗ vai ông thầy.

Sau buổi đó, ông thầy bị tịch thu hết sách vở ngoại ngữ cất ở chỗ nằm, bị phạt hết một tuần vì dám nói chuyện liên quan đến tiếng ngoại quốc và cố lý lừa cán bộ. Giờ thì ông mất rồi. Ông không còn dịp để thấy chuyện thỉnh thoảng ông Nhân hay ông Đam bập bẹ nói vài câu xã giao tiếng Anh trên đường phố với Tây du lịch, báo chí đã rần rần tung hô như là tiến sĩ.

“Mười người đi Mỹ, hết chín người rưỡi muốn về Việt Nam”?!(RFA)

“Mười người đi Mỹ, hết chín người rưỡi muốn về Việt Nam”?!

nguyenngocgia

Sự sụp đổ của quốc gia Việt Nam Cộng Hòa – dù đã gần nửa thế kỷ trôi đi – vẫn còn nguyên đó, bởi nó là Lịch Sử.

Một ngày cuối tháng Tư năm 1975, chị tôi – một nữ y sĩ của nhà thương Tân Định – nay gọi là Bệnh Viện Quận I, đóng tại đường Hai Bà Trưng – Quận Nhứt TP.HCM – trở về nhà sớm và nói với má tôi: Ông bác sĩ trưởng vội vã ra sân bay trên chiếc xe hơi riêng, nói với những người xung quanh “có ai đi không thì lên đi với tôi luôn”. Con nghĩ, hòa bình rồi, về nhà chứ đi đâu làm gì!”. Nghe vậy, má tôi cười hiền và đôi mắt bà ánh lên vẻ hy vọng mang dáng mùa Xuân. Lâu lắm rồi, tôi mới thấy má mình cười như vậy. Tôi biết, má đang chờ anh trai cả của tôi từ Côn Đảo trở về…

Lần đầu tiên, sau những năm tù tội của ba và anh tôi, cả nhà được quây quần với một cái tết ấm cúng tuy đơn sơ – đó là cái tết năm 1976. Tuy vậy, không lâu sau, tôi biết, đó chỉ là mùa Xuân tạm bợ, bởi ngày 30 tháng Tư năm 1975 không mang lại cái kết thúc có hậu cho gia đình tôi, dám nào nói đến những thường dân Việt Nam Cộng Hòa vô tội, vốn không hề dính dáng gì, trong khi phải trả giá tàn khốc cho cuộc chiến tranh đó. Nói điều này, để tránh tranh cãi về những gì liên quan đến chánh trị – Một khái niệm mà mãi hơn 20 năm về trước, tôi mới bắt đầu có cơ hội (nhờ internet) tự đọc, tự tìm hiểu, tự dạy cho mình, những gì thuộc về Lịch Sử Việt Nam thời hiện đại.

Không phải đợi đến khi ba tôi và người anh “Việt Cộng nằm vùng” bị chính đồng chí của họ vùi dập đến tận cùng, mà bởi cái đói cùng bóng tối phủ trùm trên xứ sở Đô thành Sài Gòn, đã giúp tôi nhận ra sớm hơn nhiều người biết từ câu hát cay đắng “Bao năm giải phóng như thế này phải không anh?!” của cố nhạc sĩ Lam Phương, cho ra đời vào năm 1984 tại Paris.

Cùng với sự sụp đổ của nhà nước Việt Nam Cộng Hòa, công dân của xứ sở đó cũng tan đàn xẻ nghé, theo mọi nẻo đường mà họ có thể tìm ra, theo các cách khác nhau. Một trong các cách mà thế giới đã gọi tên riêng cho nó – Boat People – Thuyền Nhân.

Lịch Sử Thuyền Nhân Việt Nam kéo dài ngót nghét 2 thập niên, gần bằng thời gian của cuộc chiến tranh dưới cái tên mỹ miều “huynh đệ tương tàn”, với kết thúc vào ngày 30 tháng Tư năm 1975…

Dòng người lặng lẽ và âm thầm mà vội vã và rón rén tìm cách chạy trốn, vẫn làm dấy lên nỗi kinh hoàng, từ những câu chuyện kể lại, sau khi may mắn đến được các trại tị nạn ở: Indonesia, Philippines, Thái Lan.

Một trong những lời trao gởi cho nhau vào lúc bấy giờ mà người ta kể lại: “Một là con nuôi má. Hai là má nuôi con. Ba là con nuôi cá”. Điều này có nghĩa: Một là con sống và tới được bến bờ tự do để ráng làm lụng và gởi “Một Chút Quà Cho Quê Hương” như cố nhạc sĩ Việt Dzũng đã hát thay cho hàng triệu người vong quốc. Hai là con ở tù. Ba là con bỏ xác trên biển.

Những Thuyền Nhân dạo đó, họ đào thoát đúng với ý nghĩa đi tìm Tự Do. Họ chấp nhận đánh đổi mạng sống, kể cả những tài sản của mình. Họ biết rõ lằn ranh Sống – Chết mà họ phải đương đầu, trước thực tại vô cùng khốc liệt và khắc nghiệt. Họ cũng biết rõ, dù có thành công, con đường trở về quê hương là điều quá viển vông. Bởi thời điểm đó, sự trả thù vô cớ tràn ngập, bằng những chính sách bạo tàn: đổi tiền, đánh tư sản, kinh tế mới, học tập cải tạo và nhứt là nạn đói, vốn không thể cho phép các Boat People nghĩ những điều sáng sủa hơn. Tóm lại, họ dứt áo ra đi với một tâm trạng xung đột dữ dội giữa hy vọng và tuyệt vọng đan xen lẫn nhau…

*****

Thời gian thấm thoát thoi đưa

Sóng đời biển động trời mưa không ngừng

Những ngày cuối tháng Tư năm nay, thời tiết ngay thủ phủ đã xa lắc lơ và nhạt nhòa dần trong tâm trí nhiều người – với tên gọi Hòn Ngọc Viễn Đông- bỗng trở nên chướng lạ như báo chí đưa tin gần đây [1].

Sống gần cả đời người tại đây; chứng kiến kiếp người buồn quá nhiều vui rất ít suốt 47 năm, để càng ngạc nhiên với hiện tượng mưa đá, vốn dĩ hoàn toàn xa lạ với thời tiết “chợt nắng chợt mưa” của Sài Gòn hoa lệ ngày xưa, từng đi vào thơ ca từ lâu lắm rồi! Không biết ông Trời “muốn gì đây”?!

Với lý lịch thật ngang trái và cay đắng của mình, tôi chưa bao giờ nghĩ đến, một ngày nào đó, được đi ra nước ngoài. “Một Chút Quà Cho Quê Hương” tôi cũng chưa bao giờ được nhận để tạm qua cơn đói nghèo chốc lát, dù bà con thân thuộc và bạn bè lũ lượt … vượt biên, sau 1975…

Vậy rồi, dịp may cũng đến với tôi, sau khi Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận và lập lại bang giao với nhà cầm quyền CSVN, cách đây hơn 25 năm.

Từ những chuyến ngoại du qua Hoa Kỳ, một số nước Âu châu, một vài nước Á châu, có cả Cuba, tôi càng hiểu thêm điều giản dị. Đi công tác, du lịch hay chữa bịnh, học hành hoàn toàn khác hẳn – khác quá xa, so với việc “một đi không trở lại” của những Thuyền Nhân ngày xưa…

*****

Ngày 8 tháng Sáu năm 2020, Thủ tướng vào lúc bấy giờ là ông Nguyễn Xuân Phúc – hào hứng pha lẫn hả hê, trước đại dịch gọi là Covid 19 chưa “xâm lấn” đủ dữ dội và làm tan nát xứ thiên đàng – đã phát ngôn: “nếu cột điện ở Mỹ biết đi nó sẽ về Việt Nam”. Ý tưởng nhân cách hóa cột điện – rơi đúng vào dịp tròn 45 năm ngày “toàn thắng” của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam – đã được RFA gọi tên “ảo tưởng của thủ tướng” [2].

Trả lời phỏng vấn VTC vào ngày 28 tháng Hai năm 2021, nghệ sĩ Quốc Thảo nói [3]: “Sau khi học xong 4 năm ở Mỹ, đáng lẽ tôi phải về liền. Tôi cứ tìm cách len lỏi để tìm cơ hội nhưng đành chịu thua. 10 nghệ sĩ Việt Nam ở Mỹ thì có 9 người rưỡi muốn về rồi. Ngay cả những người tuyên bố không về nhưng bây giờ đã có mặt tại quê hương. Tôi nói 10 người sẽ chính xác hơn nhưng chừa lại 0,5 cho một trường hợp nào đó”.

Mới đây, báo Thanh Niên, vào ngày 2 tháng Năm năm 2022 đã lặp lại ý kiến của nghệ sĩ Quốc Thảo nhưng… ngắt mất hai chữ “nghệ sĩ”, khi đặt câu hỏi với nghệ sĩ Bảo Quốc [4].

Thế hệ Boat People đã lùi xa hơn 40 năm. Bối cảnh xã hội và hoàn cảnh xã hội Việt Nam vào lúc bấy giờ, khác quá xa so với ngữ cảnh “Mười người đi Mỹ, hết chín người rưỡi muốn về Việt Nam” như cách phóng viên Minh Hy đặt câu hỏi là một sự “láu cá”, không nên có ở những nhà báo chuyên nghiệp. Việc “ngắt mất” nghề nghiệp “nghệ sĩ” để khái quát hóa toàn bộ tâm trạng người Mỹ (Úc, Pháp, Canada v.v…) gốc Việt như vậy, không làm cho cộng đồng này khao khát trở về nguồn cội mà chỉ làm tăng thêm sự cợt nhã vang lên từ bên kia bờ tự do.

Các nghệ sĩ: Quốc Thảo, Bảo Quốc, Quang Minh, Hồng Đào, Quang Dũng,Thanh Thảo v.v… chắc chắn đến Mỹ bằng con đường rất an toàn. Họ hoàn toàn không buộc phải đương đầu với tất cả những rủi ro rình rập và chết chóc đe dọa chực chờ hiện ra ngay trước mắt của những Thuyền Nhân năm xưa.

Vì vậy, lấy tâm trạng của một số nghệ sĩ đến Mỹ bằng những bước chân thong thả đặt lên cầu thang máy bay, để áp đặt cho toàn bộ người gốc Việt là việc làm quá sức hồ đồ, lẽ ra không đáng có, trong kế hoạch thu phục nhân tâm, vốn chưa bao giờ thành công suốt 47 năm qua của nhà cầm quyền CSVN.

_________________

[1] https://nld.com.vn/thoi-su/nam-bo-lien-tuc-co-mua-nhung-ngay-toi-canh-ba…

[2] https://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/vietnamese-people-in-the-us-have-no-intention-of-settling-down-in-vn-dt-06092020140437.html

[3] https://vtc.vn/10-nghe-si-viet-sang-my-9-nguoi-muon-ve-ar598511.html

[4] https://thanhnien.vn/nsut-bao-quoc-noi-gi-ve-quan-diem-10-nguoi-di-my-het-9-5-nguoi-muon-ve-post1453933.html

SỢI THỜI GIAN

SỢI THỜI GIAN

Mẹ của tôi vừa bước qua 90 tuổi. Nhưng nếu có ai hỏi, mẹ tôi ngờ ngợ nói rằng đã 92 tuổi! (Hình: Facebook Diep Nong)Kim Chi

Mẹ của tôi vừa bước qua 90 tuổi, nhưng nếu có ai hỏi, mẹ tôi ngờ ngợ nói rằng đã 92 tuổi!

Tôi phải nhắc nhỏ mẹ:

– Mẹ! Mẹ chỉ 90 tuổi thôi mẹ ạ!

Một chút ít ngơ ngác, rồi mẹ tôi chùng giọng:

– Vậy sao con? 90 hay 91, 92 tuổi cũng đâu khác nhau mấy! Chắc chỉ năm nay là mẹ đi gặp ba con rồi đó…

Tôi lặng im, chua xót nhìn vào đôi mắt đen láy tinh anh ngày nào của mẹ mình, giờ đã đổi qua màu xám đục. Bước chân mẹ tôi càng ngày càng khó khăn và chậm chạp hơn xưa. Tay mẹ đã không cầm khéo léo đôi đủa, cái ly nước được nữa. Mẹ lại bắt đầu nhớ-nhớ quên-quên càng lúc càng nhiều…

Là một member trong Hội Cao Niên ở thành phố Canberra (thủ đô của nước Úc) với khoảng chừng trên dưới 50 hội viên, mẹ tôi là… trưởng Ban Văn Nghệ của hội đấy chứ! Mỗi tháng, hội có một buổi họp mặt định kỳ, từ 10 giờ sáng đến 12 giờ trưa Thứ Bảy, mà với mẹ, ngày ấy chắc phải là một ngày quan trọng lắm. Từ tháng trước đó, mẹ đã hỏi đi hỏi lại tôi cả chục lần những câu hỏi:

– Tháng tới này là sinh nhật của mẹ, con có chở mẹ đi Hội Cao Niên được không con?

– Mẹ không biết hôm ấy trời có ấm không? Mẹ định sẽ mặc chiếc áo dài màu vàng… Còn nếu trời mà lạnh, mẹ sẽ mặc bộ quần Tây màu navy con mua cho mẹ đó, được không con?!

– Không biết mẹ sẽ hát bài gì hôm ấy đây nữa! Bài Đêm Đông hay bài Cô Láng Giềng hả con? Con có đệm đàn cho mẹ hát hôm ấy được không con?

Bình thường, tôi từ Melbourne đi Canberra thăm mẹ và gia đình mỗi tháng. Những lần ngồi quây quần quanh mẹ, chúng tôi cười đùa hay nhắc lại những chuyện vui buồn thuở xưa. Mẹ tôi hớn hở vui cười suốt buổi với đám con đàn cháu đống. Nụ cười của mẹ những lúc ấy thật rạng rỡ. Rồi thỉnh thoảng, đôi mắt như đám mây xám bàng bạc của mẹ tôi chợt đăm chiêu, long lanh vài ngấn lệ khi nhắc đến ba tôi, nhắc đến cậu em út vắn số đang gửi xác đâu đó dưới lòng biển đen ác nghiệt…

Chắc chỉ năm nay là mẹ đi gặp ba con rồi đó… (Hình: Facebook Diep Nong)

Khoảng 5 giờ sáng nay, tôi đã nghe mẹ cất giọng thánh thót hát nho nhỏ những bài nhạc Pháp rất nhẹ nhàng và yêu đời từ trong phòng ngủ của mẹ. Mấy ngày trước, mẹ cũng đã chuẩn bị thật kỹ lưỡng, phone hẹn người hair dresser quen thuộc để đi cắt và uốn lại tóc! Nhà người chủ tiệm tóc này chỉ cách nhà mẹ tôi vài trăm mét thôi. Đã mấy năm nay, vợ chồng anh chủ tiệm cứ mỗi đôi ba tháng, họ lại đến tận nhà đón mẹ tôi để chở ra tiệm làm tóc. Khi xong, họ lại còn chở mẹ về tận nhà mà chỉ lấy giá làm tóc rất tượng trưng.

Sáng nay, tôi chở mẹ ra tiệm tóc sớm trước khi đi Hội Cao Niên. Là Thứ Bảy nên khách vô ra liên tục, chủ và thợ trong tiệm bận tíu tít. Tôi chợt muốn phụ vợ chồng anh chị chủ tiệm thật tốt này, bằng cách chính tay tôi cuốn tóc cho mẹ mình (dù tôi không phải là hair dresser). Anh chủ tiệm vui vẻ bảo tôi cứ tự nhiên.

Cầm cây lược chải nhè nhẹ, ít sợi tóc trắng xám quay quắt rơi rụng, cố bám lấy chiếc khăn choàng trên vai mẹ đến giờ phút cuối cùng, gắng hít sâu hương thơm của trần đời tựa khói sương…

Mẹ tôi chăm chú theo dõi trong gương không chớp mắt, mắt ngời sáng một niềm vui hạnh phúc. (Hinh: Facebook Diep Nong)

Mẹ tôi chăm chú theo dõi trong gương không chớp mắt, mắt ngời sáng một niềm vui hạnh phúc. Giọng mẹ vui vẻ nói với cô chủ đang cắt tóc cho người khách ngồi ghế kề bên:

– Đây là con gái thứ năm của bác sống ở Melbourne đó. Bác có bốn cô con gái mà cả bốn chị em của nó đều “học chung” với… bác cả! Học ở trường Gia Long đó cháu…

Tôi bật cười phì. Cả vợ chồng người chủ tiệm cũng cười ha hả nhìn mẹ tôi say mê nói chuyện “đời xưa!” Họ còn hỏi ngược lại để chọc mẹ:

– Sao các con của bác lại được… đi học “chung” với bác hay vậy? Thích quá héng bác…

Và tôi cũng hỏi mẹ mình:

– Con “học chung” với mẹ lớp mấy vậy mẹ? Hihihi…

Mẹ tôi trợn mắt “rầy” tôi ngay:

– Cái con nhỏ này! Sao con mau quên quá! Con còn trẻ mà đã quên dữ lắm rồi à nghen!… Con học chung với mẹ mấy năm lận mà…

Mẹ tôi chớp chớp mắt suy nghĩ vài giây để “nhớ” lại chuyện “đời xưa” ấy, chậm rãi giải thích:

– Hồi đó mẹ thi vào Gia Long đậu hạng thứ 89 trong danh sách 300 học sinh (chuyện này thì mẹ tôi nhớ đúng thật!). Mà con thì học rất giỏi, con đậu thủ khoa đó à nghen! Ai biểu con đi biểu tình với trò Ơn làm chi, cho nên con bị… đuổi học, con phải học trường tư mấy năm cuối đó, con nhớ hôn?

Tôi rất ham chơi hồi nhỏ, nhưng trời Phật phù hộ tôi thế nào mà khi thi vào đệ thất, tôi làm bài vở trót lọt thật dễ dàng, rồi đậu thủ khoa một trong hai trường công lập nổi tiếng của tỉnh Bình Dương (còn được thưởng ba nghìn đồng nữa chứ!).

Gia đình tôi có bốn chị em gái, mà bà ngoại tôi cũng sanh bốn cô con gái. Mẹ và các dì đều học ở trường Gia Long từ thời áo bà ba màu tím. Trên mẹ là dì Ba, dì Tư, dưới là dì Bảy, đều học rất giỏi, và dì Bảy là người đã đậu thủ khoa khi thi vào lớp đệ thất Gia Long. Song, tuy dì Bảy nhỏ tuổi nhất nhà, mà chí lớn, rất hoạt động! Dì Bảy tôi suốt ngày trốn học để đi biểu tình chống Pháp thật hăng say, nên bị đuổi khỏi Gia long. Thời điểm ấy, tôi chưa sanh ra đời, làm sao mà đi học “chung” với mẹ mình được?! Mẹ tôi đã nhầm lẫn tôi với dì Bảy đấy thôi!

Con đã thấy ra, nỗi nhớ nhớ quên quên kia đã chứng minh cái tuổi đời của mẹ, (Hình: Facebook Diep Nong)

Những dây tóc thưa và mỏng, ngoan ngoãn nằm trong tay của tôi, dịu dàng chìu chuộng tôi. Rồi chúng oằn oại cong theo ống cuốn tóc, trân người chịu đựng cơn gió nóng rát như sa mạc từ cái máy sấy tóc hành hạ…

Mẹ tôi vẫn huyên thuyên kể chuyện đảo chánh, kể chuyện “trò Ơn” mà cả bốn chị em tôi “cùng học chung” lúc ấy với mẹ.

Những câu chuyện rất “lạ” của mẹ làm mọi người thật vui, cười ngặt nghẽo. Tôi cũng phì cười và gắng “thuyết minh” cho mọi người hiểu những thước phim xưa trong trí nhớ của một bà cụ đã trên đường đến tuổi hạc. Rồi bỗng tôi chợt buốt cả lòng, như có mũi kim ai đó đã đâm sâu vào người tôi…

Ôi! Mẹ ơi… Con đã thấy ra, nỗi nhớ nhớ quên quên kia đã chứng minh cái tuổi đời của mẹ, như những sợi tóc trắng xám này, như những chiếc lá vàng hiu hắt trơ mình phơi màu thời gian, cô quạnh, đang đong đưa trước gió… 

Tản Mạn Về Phi Nhung!

Tản Mạn Về Phi Nhung!

Như hàng triệu hàng triệu người Việt khắp nơi nơi đang đổ nhiều giọt nước mắt tiếc thương cho siêu sao Phi Nhung vừa chợt tắt trên nền trời ca nhạc, kịch nghệ, cải lương và từ thiện. Tiện hạ là một trong đó bao gồm cả những người trước kia ít quan tâm đến Phi Nhung, nhưng nay đã thực tình yêu mến cô, khi nhìn lại chặng đường khổ ải mà cô đã đi qua khi đạt tới đỉnh cao danh vọng, không giữ lại cho riêng mình, mà là một con người sống giữa đời thường, lại có được cốt cách của một “thánh nhân” vì đã có được bản lãnh phi thường “tình riêng bỏ chợ mà tình người đa đoan”.

Cảm ơn Trời, đội ơn đời đã thắp sáng cho nhân gian một tấm gương thật đẹp, đẹp lung linh hấp dẫn mọi người, xuyên qua những chặng đường cô đã đi qua. Phi Nhung đã sống chết với ba nguyện ước từ thuở mồ côi 5,7 tuổi khi sống với ông bà ngoại. Tự ti mặc cảm vì mình là con lai nên bị những người chung quanh coi thường, bạc đãi, cô đã sống khép kín trong thế giới riêng. Có những lúc cô bị dồn nén, uất ức quá, theo lời cô kể lại trong show “Weekly Style”do Thái Nguyên của đài VFTV phỏng vấn, cô thường chạy đến thùng phi hứng nước mưa trước nhà ông bà ngoại, dùng hết sức la lớn lên:

“Muốn thành một thợ may,

Muốn thành một ca sĩ nổi tiếng,

Muốn thành một ni cô thông minh.”

Ba điều ước muốn thuở thiếu thời đầy nước mắt đó, cô đã từng bước từng bước thực hiện cho bằng được, bất kể những gian khổ đắng cay nghiệt ngã đã dành cho cô, và cô đạt được địa vị cao quí nhất giữa lòng dân tộc. Người Việt yêu mến cô, một tư chất quả cảm và bản lãnh, nhưng lại khiêm tốn và đơn sơ lạ lùng khi nói về chính mình, lại rất say mê khi đề cập đến 23 người con nuôi. Cô không phải là Thượng tọa hay Ni cô, lại càng không phải là Linh mục hay Nữ tu, vậy mà cô đã xả thân quên mình, lo cho đám cô nhi cùng khổ, không màng đến tình riêng của chính mình, một nhu cầu thâm thiết tự bản năng, nhưng cô đã làm được như câu nói của Thánh Phan Sinh:

“Tìm yêu mến người, hơn được người mến yêu.

Tìm hiểu biết người, hơn được người hiểu biết!”

Nhìn hình ảnh của cô, nhìn hình của Nữ tu Thiên sa Hài đồng Giê su (Therese of the Child Jesus}, tiện hạ thấy dường như có một số điểm hao hao tương đồng trong khuôn mặt, với hành trình tâm linh của hai người. Hai khuôn mặt tương tự đã đành, nhưng về sự yêu mến Phật, yêu mến Chúa, lại rất gần gũi với nhau. Con đường đi vào lòng người, vào lòng khán thính giả của Phi Nhung là một con đường đơn sơ đầy xả kỉ hi sinh. Dù chỉ là một người thường, nhưng đã có được bản lãnh của một “Ni cô thông minh” xin lập lại “thông minh”. Nếu cô là một Ni cô thực thụ, qui y thí phát ở trong chùa, chắc gì cô có thể thực hiện mộng ước “Ni cô thông minh” của mình? Giáo hội nào, hay chùa nào, qui luật nào có thể giúp cho cô thực hiện tư chất thông mình của mình? Tương tự như thế, Giáo hội Công giáo hay Dòng kín Cát Minh cũng không cho phép Thiên Sa thực hiện tư chất thông minh của mình? Cũng nhờ đó bí kíp “Con Đường Thơ Ấu Thiêng Liêng” được hình thành. Hành trình tâm linh này, mặc dù Thiên Sa tối ngày sáng đêm chỉ ở trong khuôn viên tu viện kín, Thiên Sa đã khám phá ra một con đường nên thánh tòng nhân, tự mình do mình, mà không cần phải đi tu, không cần phải trở thành Linh mục hay Nữ tu, mà chỉ cần đến ngọn lửa yêu mến nồng cháy trong tim, thì cũng đủ nên thánh trong bất cứ cảnh ngộ hay vai trò nào mà Thượng Đế trao phó theo ơn gọi từ trời cao!

Giã biệt Phi Nhung, một trái tim Bồ Tát thật dễ thương, đã lưu lại dấu ấn của một con người “giác ngộ”:

“Trần gian cõi tạm rong chơi,

Tìm về bến giác cõi trời vô ưu!”

Tuệ Ngữ NĐK

Richmond TX

Oct 8, 2021

Peter Nguyễn gởi

Chuyến hành hương tế nhị của Thủ tướng Việt Nam

Chuyến hành hương tế nhị của Thủ tướng Việt Nam

Asia Sentinel

Tác giả: David Brown

Song Phan, dịch

5-5-2022

Thủ tướng Phạm Minh Chính đang phát biểu tại một hội nghị năm 2021. Nguồn: VGP

Thách thức đối ngoại lớn nhất của Phạm Minh Chính tại thủ đô Hoa Kỳ

Thủ tướng Phạm Minh Chính sẽ dẫn đầu đoàn quan chức cấp cao tới Washington trong tuần tới. Trước khi họ tham gia “Hội nghị thượng đỉnh đặc biệt châu Á” ngày 12 và 13 tháng 5 của Tổng thống Joe Biden, hậu quả trực tiếp của việc Nga xâm lược Ukraine rất có thể sẽ chi phối các cuộc tham vấn song phương với những người đồng cấp Mỹ.

Cuộc chiến của Putin đã làm lung lay giả định cơ bản về vị thế quốc phòng của Việt Nam: Việc Nga sẽ tiếp tục là nhà cung cấp đáng tin cậy cho hệ thống vũ khí mà nước này cần để ngăn chặn sự xâm lược của Trung Quốc. Nó (cuộc chiến của Putin) đã gây thiệt hại nghiêm trọng cho mối quan hệ đôi bên cùng có lợi, cho cả Nga và Việt Nam.

Đó là một ràng buộc có từ thời Liên Xô, viện trợ cho chế độ cộng sản Việt Nam khi họ chiến đấu để bảo đảm nền độc lập của Việt Nam và sau đó là thống nhất đất nước dưới sự thống trị của Hà Nội. Ở Việt Nam, Nga vẫn được tôn vinh là nước chủ trì viện trợ kinh tế hào phóng trong thập niên sau chiến tranh khi Việt Nam kết thúc, vật lộn trong việc xây dựng nền kinh tế chỉ huy kiểu Liên Xô. Vài thập niên sau, giờ đây đã thành công trong việc đổi tên nền kinh tế Việt Nam thành kinh tế “thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”, nhưng cảnh giác với tham vọng của Trung Quốc, lãnh đạo đất nước đã chọn dựa vào Moscow để có các hệ thống vũ khí công nghệ cao tương đối rẻ tiền, bao gồm tàu chiến, máy bay chiến đấu – ném bom, tàu ngầm tấn công, và hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển.

“Giấc mộng Trung Hoa” của Tập Cận Bình là ác mộng đối với Việt Nam, một mối đe dọa mà Hà Nội đã tìm cách chống đỡ qua việc xây dựng khả năng răn đe, tỏ lòng tôn kính và nhấn mạnh lợi ích kinh tế chung. Đó vừa là một chiến lược xưa cũ, từng cho thấy có hiệu quả khi Trung Quốc hành động phô trương, vừa là một loạt chính sách cho phép Việt Nam hiện đại duy trì mối quan hệ mang tính xây dựng có chừng mực với nước láng giềng khổng lồ.

Tuy nhiên, giờ đây, Hà Nội không thể yên tâm về việc có trong tay một bộ hệ thống vũ khí được chế tạo ở Nga. Trong tương lai gần, Việt Nam khó có thể mua vũ khí của Moscow mà không kích động cái gọi là ‘lệnh trừng phạt thứ cấp’. Hà Nội có vẻ hiểu ra điều đó. Ông Chính đã đồng ý với ông Fumio Kishida, thủ tướng mới của Nhật hôm 30 tháng 4 rằng, “ở bất kỳ khu vực nào, việc thay đổi hiện trạng bằng vũ lực là khó có thể chấp nhận được“.

Chính và các đồng sự phải nói năng cẩn thận ở Washington. Ở đó, sự chú ý vẫn được tập trung vào cuộc khủng hoảng ở Ukraine. Nhiều người vốn đang chỉ đạo cuộc đối đầu [cuộc chiến] ủy nhiệm với Nga, lại thiếu sự hiểu biết tinh tế về lợi ích của Mỹ ở châu Á – Thái Bình Dương. Trong việc ủng hộ Ukraine, Việt Nam (dù có những lý do chính đáng) đã lỗi nhịp so với các nước bạn bè còn lại của Mỹ, và điều đó không xứng hợp với nhóm coi châu Âu là trung tâm trong việc thiết lập chính sách đối ngoại của Mỹ.

Việc thủ tướng Việt Nam có mặt tại Washington có thể làm dấy lên bình luận tiêu cực. Những người đối thoại gay gắt có thể hỏi, tại sao Mỹ không trừng phạt vụ Hà Nội mua các hệ thống vũ khí của Nga và chỉ trích việc Hà Nội không tham gia bỏ phiếu lên án cuộc chiến của Putin ở Liên Hiệp quốc.

Ông Chính được cho là có triển vọng sẽ kế vị người bảo trợ của mình, ông Nguyễn Phú Trọng, khi nào người đứng đầu đảng Cộng sản, hiện 78 tuổi, quyết định nghỉ hưu hoặc không thể tiếp tục công việc vì một cơn đột quỵ nữa. Các cuộc gặp ở Washington là sự kiểm nghiệm đối ngoại lớn nhất của Chính cho đến nay; đồng liêu lẫn đối thủ của ông sẽ chăm chú theo dõi.

‘Cẩn thận trong phát biểu” không có nghĩa là không nói gì. Sẽ là khôn ngoan nếu Chính thể hiện sự đồng cảm thật sự với Ukraine và tỏ sự thất vọng với Nga, một người bạn đáng tin cậy lâu năm của chế độ Hà Nội, đã “đi chệch hướng”. Ông nên khẳng định một cách thẳng thắn và dứt khoát rằng, Việt Nam đã dựa vào các hệ thống vũ khí mua của Moscow để bảo vệ lợi ích của mình trước những phần tử hiếu chiến ở Bắc Kinh. Ông có thể nói, đó là vấn đề mà ông hy vọng Mỹ có thể giúp giải quyết.

Chính quyền Biden tự hào về “chủ nghĩa hiện thực thực dụng”, nhưng những người đối thoại Mỹ dường như bị ám ảnh bởi lập trường giả vờ không chọn phe lâu nay của Việt Nam. Với quan hệ hợp tác song phương ngày càng sâu rộng và ngày càng lớn mạnh, nhằm mục đích làm giảm bớt tham vọng của Bắc Kinh ở biển Đông, Mỹ đã thúc ép Hà Nội nâng cấp mối quan hệ được mô tả là song phương. Họ nói, quan hệ đó phải là ‘chiến lược’, chứ không chỉ là ‘toàn diện’.

Giả định rằng, Bộ Chính trị Việt Nam đã “xử lý” (suy nghĩ kỹ về) các tác động đối với Việt Nam từ cuộc chiến của Putin ở Ukraine, thì một tuyên bố chung rằng, Việt Nam và Hoa Kỳ từ nay trở thành ‘đối tác chiến lược’ sẽ có thể là một điều dễ dàng đối với Hà Nội.

Có nhiều khả năng là Tổng thống Biden và những người khác đối thoại với phái đoàn ông Chính sẽ thúc giục Việt Nam ngừng mua sắm vũ khí do Nga cung cấp và bảo dưỡng. Đáp lại, ông Chính có thể chỉ ra điều hiển nhiên: Nếu Washington muốn Hà Nội loại bỏ vũ khí của Nga, thì cũng nên giúp Việt Nam tìm cách khác để có đủ khả năng (như Ukraine), gia tăng khả năng phòng thủ lãnh thổ và chủ quyền.

Ấn Độ cũng phụ thuộc đáng kể vào các hệ thống vũ khí mua của Nga. Có lẽ Mỹ có thể thúc đẩy hợp tác ba bên để đáp ứng nhu cầu bảo trì và giúp cả Việt Nam lẫn Ấn Độ vượt qua các thách thức mua sắm quốc phòng trong tương lai.

Nếu Washington và Hà Nội đồng ý gọi quan hệ hai bên là chiến lược cũng như toàn diện, thì cả hai đều có trách nhiệm phải hành động phù hợp trên tất cả các lĩnh vực. Việt Nam vẫn là một trong số 11 nước bị Mỹ coi là ”nền kinh tế phi thị trường”. Nhãn hiệu đó đúng 25 năm trước nhưng bây giờ quả là vô lý; Việt Nam nên được loại khỏi danh sách.

Về phía Việt Nam, có một khiếu nại thương mại cần phải điều tra khẩn cấp, về các tấm pin năng lượng mặt trời được cho là sản xuất ở Trung Quốc và sau đó, sau gia công chút ít bề ngoài ở Việt Nam hoặc ở nước nào khác của Đông Nam Á, được xuất khẩu sang Mỹ. Nếu đúng – và có vẻ đúng phần nào – các nước đã cho phép sự thông đồng này, có nguy cơ bị trừng phạt nặng nề. Ở đây, ông Chính một lần nữa nên sẵn sàng với các dữ kiện. Nếu quả thật các nhà xuất khẩu của Việt Nam nằm trong số đang giúp cho sự gian lận các linh kiện tấm pin mặt trời do Trung Quốc sản xuất, thì Việt Nam nên nhanh chóng đóng cửa các nhà xuất khẩu này.

_______

Tác giả: David Brown là một nhà ngoại giao Hoa Kỳ đã nghỉ hưu, một cộng tác viên lâu năm của Asia Sentinel. Ông Brown có nhiều bài viết về các vấn đề chính sách công ở Việt Nam. Bản dịch này đã được ông Brown chỉnh sửa, dành cho độc giả người Việt, có thể có vài chi tiết khác với bản tiếng Anh.