RỒI TẤT CẢ… ĐỀU LÀ PHÙ DU…!

RỒI TẤT CẢ… ĐỀU LÀ PHÙ DU…!

Công nương Diana mang một chiếc nhẫn kim cương trị giá 205 ngàn Mỹ kim, tương đương với tiền Việt Nam là 3 tỷ 71 triệu đồng. Món trang sức có viên ngọc sapphire Ceylon hình bầu dục 12 carat được bao quanh bởi 14 viên kim cương solitaire, cố định trên 18 karat vàng trắng. Đó là một phần quan trọng trong lịch sử hoàng gia Anh.

Lễ cưới của cô với hoàng tử Charles nước Anh đã tốn hết 3 triệu 500 ngàn Mỹ kim, tương đương với 52 tỉ 500 triệu đồng Việt Nam cùng 2700 khách mời danh dự…!

Thế mà Gia đình Hoàng gia nổi tiếng đó đã tan vỡ sau 15 năm tình lận đận…!

Số phận bi thương của công nương đã tử nạn xe vào lúc 10 pm, ngày 31 tháng 08 năm 1997 (giờ Paris) và khi được chôn cất…, công nương Diana không mang theo nhẫn kim cương trên tay, và cũng không mang được một Mỹ kim nào…!

Trong quan tài, chỉ có xâu chuỗi Mân Côi của mẹ Têrêsa thành Calcutta đã tặng cô mà thôi…!

Sống trong cuộc đời này, cho dù là giàu sang, vinh hoa, phú quý hay khốn khổ, cùng cực, bần hèn; cho dù là quan chức quyền uy, vua chúa hay người thấp bé, người cùng khổ…, thì khi nhắm mắt xuôi tay lìa đời cũng đều giống như nhau…!

Công nương Diana chỉ mang theo hành trang cho cuộc đời là những công phúc khi sinh thời mà cô đã làm cho đời, cho người…!

*Khi còn sinh thời…! Công nương đã có nói: “Hãy làm những điều tốt cho mọi người mà không mong được trả ơn và nhớ rằng một ngày nào đó họ cũng mang nhiều điều tốt đẹp đến cho bạn…!”.

S.T.

FDA khuyến cáo túi độn ngực có thể gây ung thư

WASHINGTON, DC (NV) – Cơ Quan Quản Trị Thực Phẩm và Dược Phẩm (FDA) hôm Thứ Năm, 8 Tháng Chín, cảnh báo giải phẫu thẩm mỹ ngực có liên quan đến một số ca bệnh ung thư hiếm gặp, theo UPI.

Theo đó, bệnh nhân phát triển ung thư biểu mô tế bào vảy (squamous cell carcinoma) và các khối u lympho xung quanh mô sẹo nơi cấy ghép túi độn ngực.

Một sản phẩm dùng độn ngực. (Hình minh họa: Francois Lo Presti/AFP via Getty Images)

Các giới chức thanh tra y tế liên bang đã xem xét các báo cáo về bệnh ung thư theo quá trình đánh giá thường kỳ. Họ cho hay nỗi lo ngại của họ về bệnh ung thư liên quan đến giải phẫu độn ngực đang ngày càng gia tăng.

Cho đến nay, số trường hợp như vậy vẫn còn khá ít. Báo cáo ghi nhận dưới 20 ca ung thư biểu mô tế bào vảy (SCC) và dưới 30 ca u lympho, FDA cho biết.

“FDA tin rằng SCC hoặc khối u bạch huyết có thể hiếm khi xuất hiện trong nang xung quanh mô độn ngực. Tuy nhiên, các nhà cung cấp dịch vụ thẩm mỹ và những người muốn độn ngực nên biết về những ca bệnh được báo cáo ghi lại,” FDA tuyên bố.

Triệu chứng của những bệnh ung thư này có thể bao gồm sưng, đau, nổi cục hoặc thay đổi trạng thái da. Ngoài ra, bệnh xảy ra ở những phụ nữ đã cấy ghép mô trong nhiều năm. Nghiên cứu xem xét cả túi ngực bằng nước muối và silicone, cũng như những loại có kết cấu và mềm mịn.

Túi ngực được sử dụng cho những phụ nữ bị mất mô do ung thư và chấn thương. Ngoài ra, những người muốn tăng kích thước ngực và chỉnh sửa các cuộc giải phẫu trong quá khứ cũng tìm đến dịch vụ làm đẹp này.

Túi ngực được cấy vào dưới mô vú hoặc cơ ngực. Thông thường, phụ nữ cần phải loại bỏ hoặc thay túi ngực sau một thời gian được cấy ghép.

FDA không kêu gọi phụ nữ phải loại bỏ túi độn ngay lập tức từ cảnh báo an toàn này. Tuy nhiên, những người gặp vấn đề nên gửi báo cáo qua MedWatch, chương trình Báo Cáo Thông Tin An Toàn Và Sự Việc Gây Hại (Safety Information And Adverse Events Reporting) của FDA. (V.Giang) [qd]

Putin hiện có những lựa chọn nào?

Putin hiện có những lựa chọn nào?

NTV

Tác giả: Judith Görs

Việt Hùng phỏng dịch

13-9-2022

Tổng thống Nga Vladimir Putin. Nguồn AP

Quân đội Nga hoàn toàn bị bất ngờ trước cuộc phản công thành công của Ukraine – và Putin phải thực hiện các biện pháp đáp trả. Nhưng các lựa chọn của ông ta bị hạn chế. Một cuộc tổng động viên thì nhạy cảm về mặt chính trị, và việc rút lui hầu như là không thể. Điều này làm tăng nguy cơ leo thang chiến tranh.

Khi quân của ông tháo chạy trước quân đội Ukraine ở Kharkiv hồi cuối tuần qua, Tổng thống Nga Vladimir Putin đã khánh thành một vòng đu quay ở Moscow. Ngay từ đầu, điều quan trọng đối với ông chủ Điện Kremlin là không để cho cuộc xâm lược Ukraine được xem là “chiến tranh” – thậm chí không được dùng cả về mặt ngôn ngữ. Nhưng “chiến dịch quân sự đặc biệt” của ông ta không còn giấu giếm được nữa: Đột nhiên, những người Nga đi nghỉ ở Crimea nhìn thấy bom rơi, lệnh trừng phạt giáng xuống tầng lớp thượng lưu của Moscow khi họ đi mua sắm, và từ ngữ “chiến tranh” được nghe trên truyền hình nhà nước. Những thất bại ở Ukraine ngày càng khiến Tổng thống Putin chịu nhiều áp lực.

Cho dù Điện Kremlin đã nhiều lần nhấn mạnh rằng cái gọi là chiến dịch đặc biệt đang diễn ra theo đúng kế hoạch, nhưng giờ đây ông Putin phải thừa nhận rằng thực tế đã khác. Tatiana Stanovaya, nữ chuyên gia về Nga tại Quỹ Carnegie vì Hòa bình Quốc tế ở Washington D.C., đã cảnh báo về thời điểm này vài tuần trước. “Khi Putin nhận ra rằng kế hoạch của ông ta đang thất bại và sự thất vọng của ông ta là lớn nhất, ông ta có thể trở nên nguy hiểm nhất“, cô viết trên New York Times.

Hai trong số các mục tiêu của ông ta, sự đầu hàng của Kiev và sự khuất phục của Ukraine, là không thể đạt được. Chỉ có cuộc chinh phục Donbass mới đưa lại cơ hội thành công. “Putin tin rằng thời điểm cho mục tiêu này vẫn còn nằm trong tay ông ta“. Nhưng các báo cáo từ Luhansk rằng quân đội Nga đã rời khỏi thành phố lại chứng minh điều ngược lại. Putin đang bị áp lực phải hành động. Nhưng hầu hết các lựa chọn của Tổng thống Nga đều có điểm khó khăn:

Tổng động viên

Không có số liệu chính thức về binh lính Nga thiệt mạng trong chiến dịch. Ukraine nói, hơn 50.000 quân Nga đã chết kể từ khi cuộc xâm lược bắt đầu, Bộ Quốc phòng Anh coi một nửa là có nhiều khả năng đúng. Nhưng càng có nhiều thông tin rò rỉ về tình hình hoang tàn của quân đội Nga, thì việc tuyển mộ thêm binh sĩ càng trở nên khó khăn hơn. Ngay cả bây giờ, phần lớn các binh sĩ chiến đấu đến từ các vùng xa xôi của Nga – Caucasus, Siberia, Mông Cổ và Ural. Những người theo chủ nghĩa dân tộc Nga và những người ủng hộ chiến tranh, do đó đang kêu gọi một cuộc tổng động viên. Người phát ngôn Điện Kremlin Dmitri Peskov muốn coi những đòi hỏi như vậy và chỉ trích hành động của chính phủ như một ví dụ về “chủ nghĩa đa nguyên” ở Nga.

Nhưng đối với Putin, cuộc tổng động viên đặt ra một số vấn đề khác. Một mặt, việc tổng động viên mâu thuẫn với đường lối trước đây của Điện Kremlin, theo đó cuộc xâm lược Ukraine chỉ là một “chiến dịch quân sự đặc biệt” có giới hạn. Putin sẽ phải gọi cuộc chiến là gì – và có nguy cơ thay đổi cục diện trong dân chúng. Theo trung tâm thăm dò Levada, chỉ 48% người Nga ủng hộ cuộc chiến ở Ukraine. Cuối cùng, khi “thanh niên của những bậc cha mẹ giàu có từ Moscow và St.Petersburg, những người có liên hệ với nhà nước” phải chết trên chiến trường, thì Putin sẽ bị đe dọa phản kháng.

Tuyên chiến chính thức

Ngay từ tháng 5, phương Tây đã đồn đoán khi nào Tổng thống Nga có thể sẽ chính thức tuyên chiến với Ukraine. Điều đó sẽ có một số lợi thế cho Putin. Luật chiến tranh cho phép ông tổng động viên quân dự bị mà còn chuyển đổi ngành công nghiệp sang sản xuất vũ khí và ban bố tình trạng khẩn cấp. Tuy nhiên, cho đến nay, Putin đã né tránh bước đi này, cũng bởi vì ông ấy cần một lý do chính đáng cho nó.

Trong mắt nhiều người Nga, việc người Ukraine phải được giải phóng khỏi chế độ Phát-xít có thể biện minh cho một “chiến dịch quân sự đặc biệt”, nhưng không phải là một cuộc chiến kéo dài ngay trước cửa nhà họ. Ngoài ra, các chuyên gia cho rằng Nga, chưa chuẩn bị kỹ lưỡng cho một kịch bản như vậy. Quân dự bị sẽ không có sẵn trong thời gian ngắn hạn, quân đội hiện cũng không có trang thiết bị cần thiết để sẵn sàng chiến đấu. Điều đó sẽ mất hàng tháng.

Tấn công mới

Quân đội Ukraine đã đẩy lùi được quân Nga – nhưng điều đó không có nghĩa là tự động chiến tranh kết thúc. Các nhà phân tích quân sự cho rằng, ưu tiên của Putin lúc này là ngăn chặn sự tan rã trong lực lượng, tập hợp, củng cố và kiện toàn các lực lượng vũ trang. Theo truyền thống, điều này hoạt động tốt hơn ở vị trí phòng thủ. Tuy nhiên, Bộ chỉ huy quân đội Nga dường như gặp khó khăn khi tăng cường các tuyến phòng thủ với các đơn vị mới.

Không chỉ việc tuyển quân mới khó. Do một số lượng lớn tình nguyện viên cũng từ chối tham chiến, lãnh đạo ban đầu đã đình chỉ việc triển khai thêm binh sĩ, theo báo cáo của Viện Nghiên cứu Chiến tranh Hoa Kỳ (ISW), trích dẫn từ Bộ tổng tham mưu Ukraine. Nếu vậy, nó không chỉ ảnh hưởng đến tinh thần của các đơn vị chiến đấu còn lại, mà còn khiến quân đội Ukraine có thời gian để tập hợp lại và tiếp tục cuộc tấn công.

Tổng leo thang xung đột

Không chỉ từ phía Ukraine, những cảnh báo liên tục được đưa ra rằng, Điện Kremlin có thể cố gắng leo thang thêm xung đột bằng vũ khí hạt nhân chiến thuật và hóa học. Một số chuyên gia quân sự ở Đức cũng đang nói về “sự thống trị leo thang” của Nga – và kêu gọi Ukraine chấp nhận một giải pháp thương lượng, ngay cả khi nước này chấp nhận bỏ các vùng lãnh thổ của mình. Tuy nhiên, một cuộc leo thang hạt nhân sẽ phải trả giá đắt cho Putin.

Đối với NATO, điều này không có nghĩa là “trường hợp liên minh” tự động xảy ra. Nhưng không chỉ đơn giản là “liên minh phòng thủ” để cho Putin làm điều này. Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, một cuộc leo thang hạt nhân cũng có thể có tác động đến các thành viên NATO. Ngoài ra, Nga cuối cùng sẽ bị cô lập trên bình diện quốc tế, không chỉ về mặt chính trị mà còn về kinh tế. Trong một tình huống mà Putin phụ thuộc hơn bao giờ hết vào các quan hệ đối tác kinh tế – chẳng hạn như với Ấn Độ hoặc Trung Quốc – thì cái giá phải trả của sự tẩy chay sẽ là quá cao.

Nhiều khả năng Putin sẽ tập trung nhiều hơn vào việc phá hủy có mục tiêu cơ sở hạ tầng dân sự bằng cách tiến hành các cuộc không kích trên diện rộng vào các thành phố của Ukraine, tương tự như những gì đã xảy ra ở Syria. Điều này đã được quan sát thấy ở thành phố Kharkiv: Sau nhiều lần bị bắn phá, nhà máy nhiệt điện bị mất điện, cùng nhiều thứ khác. Trong khi đó, không có nước máy hay internet. Bằng cách này, Putin có thể cố gắng làm dân chúng mất tinh thần.

Rút quân toàn diện

Ngay cả khi thông tin rằng ban đầu bộ chỉ huy quân đội Nga sẽ không gửi bất kỳ binh lính mới nào đến mặt trận cũng làm dấy lên hy vọng: hiện tại vẫn chưa có bằng chứng về việc Nga có kế hoạch rút quân khỏi Ukraine. Ngược lại: Người phát ngôn Điện Kremlin Dmitry Peskov hôm thứ Hai nhấn mạnh với các nhà báo rằng, “chiến dịch quân sự đặc biệt” sẽ được tiếp tục “cho đến khi đạt được các mục tiêu đặt ra ban đầu” – tức là ít nhất chinh phục hoàn toàn các khu vực Luhansk và Donetsk ở miền đông Ukraine.

Đối với Putin, rút ​​khỏi Ukraine sẽ tương đương với hành động tự sát chính trị, trừ khi ông có thể chuyển trách nhiệm về thất bại từ mình cho người khác, chẳng hạn như giới chỉ huy quân đội. Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Shoigu đã bị chỉ trích vì chuẩn bị kém cho “chiến dịch đặc biệt”. Tiếng nói từ phe cực hữu đang kêu gọi ông từ chức. Liệu điều đó có đủ để Putin “rửa trắng tay” hay không là một câu hỏi được đặt ra.

Đàm phán hòa bình

Các cuộc đàm phán đã bị trì hoãn trong nhiều tháng. Giờ đây, Ngoại trưởng Nga Sergei Lavrov bất ngờ cho thấy mình đã sẵn sàng cho các cuộc đàm phán với Ukraine một lần nữa. Nhưng vấn đề là, Kyiv có sẵn sàng lắng nghe đòi hỏi của những kẻ xâm lược như thế nào. Cuộc phản công thành công giúp người Ukraine tự tin hơn. Tổng thống Volodymyr Zelensky gần đây tuyên bố rằng, ông có ý định tái chiếm các khu vực bị quân ly khai thân Nga chiếm đóng từ năm 2014 – và bán đảo Crimea đã bị Nga sáp nhập. Mặt khác, Nga đòi hỏi giữ Luhansk và Donetsk. Một nhượng bộ từ cả hai bên hiện khó có thể tưởng tượng được.

Zelensky biết rằng, trong tình hình hiện tại, việc nhượng lại lãnh thổ Ukraine cho Nga sẽ không có lợi cho người dân Ukraine, những người đang bị ảnh hưởng bởi tội ác chiến tranh của Nga. Nhiều người bây giờ nhìn thấy bước ngoặt của cuộc xung đột. Những thành công quân sự ở phía nam và phía đông không chỉ khuyến khích người Ukraine kiên trì, mà còn khẳng định hướng đi của Hoa Kỳ – cho đến nay là nước ủng hộ quân sự lớn nhất của chính phủ Kyiv. Và ở châu Âu cũng vậy, ngày càng có nhiều tiếng nói kêu gọi sự giúp đỡ nhiều hơn cho Ukraine, ví dụ như dưới hình thức xe tăng chiến đấu.

KHÓ NGHÈO ĐÍCH THỰC-TGM Giuse Vũ Văn Thiên

KHÓ NGHÈO ĐÍCH THỰC

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Những lời lên án gay gắt của ngôn sứ Amốt rất hợp với xã hội hôm nay, bởi trong bối cảnh “nền kinh tế thị trường,” người ta có khuynh hướng biến mọi sự thành hàng hóa trao đổi.  Hậu quả là ngày càng có nhiều những nhà đầu tư chỉ lo kiếm sao cho có nhiều lợi nhuận; những cha mẹ chỉ lo làm giàu mà quên trách nhiệm với gia đình; những tín hữu vì lợi lộc vật chất không ngần ngại vi phạm luật Chúa; những người bạn bè hay họ hàng thân thuộc vì tiền mà coi nhau như kẻ thù.  Vì lợi lộc vật chất, người ta không trừ một thủ đoạn nào.  Ngôn sứ A-mốt nêu ra những thủ đoạn gian lận như làm cho chiếc đấu nhỏ lại, quả cân nặng thêm, pha trộn thóc tốt với thóc mục để bán cho người nghèo…  Những thủ đoạn ấy vẫn đang tồn tại trong xã hội hôm nay, thậm chí còn nghiêm trọng hơn.

Lợi lộc vật chất khiến cho lương tâm ra tối tăm.  Đó cũng là lý do khiến con người coi thường đạo lý và tiếng nói của lương tâm.  Người tín hữu được mời gọi biết dùng của cải cho hợp lý.  Lời Chúa giúp cho chúng ta “nghèo mà không hèn,” “giàu mà không sang.”

Một hiện tượng xã hội khá phổ biến hiện nay là sự lãng phí.  Người giàu lãng phí, mà người nghèo cũng lãng phí.  Người ta lãng phí thời gian, lãng phí vật chất và lãng phí cả sức khỏe và mạng sống.  Tại các quốc gia phát triển, mỗi ngày đều có một khối lượng lớn thực phẩm bị đem đi hủy vì hết hạn sử dụng, trong khi ở các nước nghèo, biết bao người lớn và trẻ em không đủ chất dinh dưỡng để có một cuộc sống bình thường.  Đức Thánh Cha Phanxicô, vị Giáo Hoàng của người nghèo, đã khẳng định: “Lương thực để lãng phí là lương thực ăn cắp của người nghèo” (Huấn từ nhân Ngày Quốc tế về môi trường, 5-6-2013).  Có thể chúng ta lập luận: “Của cải tôi làm ra, hoặc tôi mất tiền để mua sắm, tôi có quyền lãng phí!”  Nói như thế, là chúng ta quên rằng, người sở hữu đích thực mọi của cải là Thiên Chúa, chúng ta chỉ là người được Chúa trao cho quản lý.  Người quản lý trong lãnh vực nào cũng phải trung thành và tận tâm lo cho việc sử dụng của cải đúng mục đích, tiết kiệm, có ý nghĩa và sinh ích lợi cho mọi người.

Chúa Giêsu kêu gọi những ai muốn theo Người hãy sống khó nghèo.  Khái niệm “khó nghèo” thường hay bị hiểu sai.  Vị Đáng kính, Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận giải thích với chúng ta: “Khó nghèo không phải là không có của: đó là khốn khổ, thiếu thốn.  Khó nghèo trước tiên là tập trung của cho đúng.  Một cốc cà phê, một cốc bia!  Nhưng cũng là một cốc mồ hôi, một cốc nước mắt, một cốc máu đổi lấy nó.  Một khói thuốc, nhưng cũng là một hơi thở hổn hển của người lao động vô danh” (Đường Hy Vọng 412).  Như thế, khó nghèo là sự trân trọng với tất cả những gì chúng ta đang có, đang sử dụng và cố gắng để đừng lãng phí chúng.  Đức Hồng Y kết luận: “Không có của mà tham lam vẫn chưa phải là thanh bần; có của mà không dính bén vẫn có thể ‘có lòng khó khăn’ thực sự” (ĐHV 411).

Khó nghèo đích thực còn là khả năng và thiện chí dùng của cải của mình để xây tình liên đới và nối tình đệ huynh, góp phần xây dựng một xã hội an bình.  Nhân vật người quản lý trong Tin Mừng hôm nay được chính Chúa Giêsu gán cho một tính từ là “bất lương.”  Như thế, anh không thể làm mẫu mực cho chúng ta trong việc quản trị tài sản được.  Chúng ta không thể hiểu đúng giáo huấn của Chúa, khi chỉ trích dẫn một câu hay một đoạn Tin Mừng, nhưng cần liên kết với toàn thể để tìm ra ý nghĩa sứ điệp mà câu chuyện muốn diễn tả.  Chắc chắn Chúa không không muốn chúng ta mưu mẹo gian lận như người quản lý bất lương này.  Điều Chúa dạy ta là hãy dùng những của cải mình có mà giúp đỡ anh em, bởi lẽ sự giàu nghèo chỉ nhất thời, tình huynh đệ mới tồn tại mãi mãi.  Giúp người khác khi mình thịnh vượng chính là của để dành phòng khi mình sa cơ lỡ vận thì có người giúp đỡ lại mình.   Khi nhắm mắt xuôi tay, để lại của cải chẳng giá trị bằng để lại tình thân nghĩa.  Bởi lẽ của cải chỉ một ít người được hưởng, còn tình thân nghĩa thì lưu danh rộng khắp và lâu dài.

Thiên Chúa là Đấng Cứu độ chúng ta.  Ngài cũng là Chủ tể của lịch sử và là Đấng sáng tạo muôn loài.  Những quyền hành nơi trần gian từ bắt nguồn từ Thiên Chúa và phải phục quyền Ngài, vì Ngài là Đấng tối cao.  Vì vậy, từ bậc vua chúa đến những người bình dân, ai nấy đều phải sống thánh thiện ngay thẳng.  Như thế, họ sẽ đẹp lòng Chúa và được Ngài ban ơn (Bài đọc II).

“Không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ.”  Thiên Chúa là đấng độc tôn, có nghĩa là ta chỉ được thờ một mình Ngài.  Không được phép đặt Thiên Chúa ngang hàng với của cải vật chất hay bất cứ thần linh nào.  Sự trung tín trong việc phụng thờ Chúa là nét riêng của Do Thái giáo và cũng là của Kitô giáo chúng ta.  Sự khó nghèo đích thực còn là tâm tình cậy trông và phó thác nơi Chúa, luôn luôn cảm thấy cần có sự che chở của Ngài.  Nếu một giây phút ta bị Thiên Chúa lãng quên, thì ta sẽ không còn hiện hữu trên cõi đời.  Nhờ sự hiện diện của Chúa, ta thấy cuộc đời có ý nghĩa và ta được đong đầy niềm vui.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Việt Nam không có chủ nghĩa “thương dân”?

Việt Nam không có chủ nghĩa “thương dân”?

15-9-2022

Hình như người VN không có chủ nghĩa “thương dân” mà chỉ có chủ nghĩa yêu nước. Chính trị gia, học giả, trí thức… đa số qua các bài viết, các ý kiến của họ cho tôi thấy như vậy. Ngay cả những người chủ trương “dân tộc chủ nghĩa”, tôi cũng không thấy “tình yêu thương dân tộc” ở đâu trong “ý thức hệ” của họ.

Còn người cộng sản, xưa nay đều như vậy. Họ cũng sử dụng “lòng yêu nước” nhằm hô hào, kích động người dân để phục vụ cho ý đồ của họ. Vấn đề là ý đồ của họ chưa bao giờ phục vụ cho lợi ích của người dân hết cả. Họ chỉ phục vụ cho “giai cấp”, tức cho những người “cùng phe” với họ mà thôi.

Không có dân thì làm sao có nước? Không yêu dân thì làm sao yêu nước? Dân không giàu thì làm sao nước giàu? Dân không mạnh thì làm sao nước mạnh?

Người cộng sản cai trị VN luôn miệng nhắc câu, nói là của ông Hồ: Cán bộ là đầy tớ của nhân dân. Thực tế cho thấy ai là đầy tớ ai là ông chủ.

Theo tôi, cái gọi là “lòng yêu nước” chỉ là một thứ tình cảm “mị dân”, một thứ “thuốc phiện” mà đời này qua đời kia các lãnh tụ đã “chích” vào cơ thể cỏa mọi người. Tội “phản quốc” là tội nặng nhứt. Ít ai đặt vấn đề “thế nào là phản quốc ?”

Đơn giản, theo tôi, phản quốc là cá nhân, tập thể, đảng phái đó đã có các hành vi làm tổn hại đến lợi ích của “đất nước”.

Nhưng có một trọng tội, nặng trên cả tội “phản quốc”, là tội “phản dân” mà không thấy ai nói tới.

Đọc báo nước ngoài lâu lâu thấy tên VN “nổi bật”. Toàn là các tin tức mà người có sĩ diện, có cái ý thức gọi là “quốc thể”, phải tức đến hộc máu.

Nào là người Việt bị lừa qua Campuchia “làm việc nhẹ lương cao”. Nào là dân Hàn Quốc khuyến khích nữ du học sinh VN lấy chồng các “lão nông”, tức những nông dân già, ế vợ của thôn quê Hàn quốc. Nào là “thùng nhân”, nào là trồng cần sa, nào là buôn lậu… Dân VN một số vùng “nổi tiếng” đến đỗi sổ thông hành VN không dám đề xuất xứ quê hương.

Xuất khẩu lao động, một hình thức “buôn dân”, trở thành “chính sách” của đảng.

Tôi nói thẳng, yêu nước mà để đất nước đến đỗi như vầy là “phản quốc”.

Giữa hai chế độ thực dân ngày xưa và cộng sản bây giờ, tôi chọn chế độ thực dân.

Thực dân khai thác đất nước, nói là cạn kiệt, làm gì bằng cộng sản phá hoại đất nước như bây giờ? Thực dân trồng rừng, làm đường xá, làm đường xe lửa, xây cầu cống, đào kênh, khai khẩn đất hoang, chỉnh trang độ thị, xây trường học, làm nhà thương, khuyến khích người dân làm giàu lương thiện, bằng việc buôn bán và sản xuất…

Thực dân ngày xưa cho phép người dân ra báo tư nhân, cho phép tôn giáo và các tổ chức, đoàn thể hoạt động tự do.

Còn chế độ cộng sản, họ làm được gì?

Tôi nói thẳng, tôi không yêu nước dưới chế độ cộng sản bây giờ. Tôi yêu quê hương, nơi “chôn nhau cắt rún” của mình. Tôi yêu gia đình, hàng xóm, yêu đồng bào… Đây là “tình cảm” tự nhiên.

Dân không có thì nước không có. Không có vụ “yêu nước” khơi khơi. Yêu nước trước hết là yêu dân cái đã.

Ba bài học từ quá trình dân chủ hóa tại Đài Loan

Ba bài học từ quá trình dân chủ hóa tại Đài Loan

Y Chan

Có rất nhiều yếu tố biến Đài Loan trở thành một thỏi nam châm thu hút vô số học giả, và là đề tài cho các nghiên cứu từ khắp nơi trên thế giới.

Đó là một nước hiếm hoi có quá trình chuyển đổi từ độc tài sang dân chủ một cách hoàn toàn hòa bình, dù không hề thiếu gian truân và kịch liệt.

Là một nền dân chủ non trẻ, chỉ mới hơn 30 năm, nhưng Đài Loan nhanh chóng xác lập vị thế là một trong những thể chế dân chủ ổn định và vững mạnh nhất thế giới [1].

Sự tồn tại của Đài Loan càng đáng chú ý hơn trước mối đe dọa thường trực suốt hàng chục năm qua từ Trung Quốc, một hình mẫu theo đuổi các giá trị hoàn toàn ngược lại.

Tìm hiểu về nền dân chủ của Đài Loan, đặc biệt là quá trình chuyển đổi của họ, luôn đem lại những bài học đáng giá, nhất là cho những nước như Việt Nam.

Quyển sách “Democratizing Taiwan” (Dân chủ hóa Đài Loan) của tác giả J. Bruce Jacobs là một trong những nguồn tham khảo có giá trị, cho cả những người mới bắt đầu lẫn những ai đã sành sỏi về đảo quốc này [2].

J. Bruce Jacobs, học giả người Úc sinh ra tại Mỹ, được xem là một người khổng lồ trong lĩnh vực nghiên cứu về Đài Loan [3]. Ông từng nhận được các huân chương cấp cao nhất của nhà nước Đài Loan và Úc dành cho công dân có cống hiến xuất sắc. Ông qua đời vào năm 2019.

Không chỉ là một nhà nghiên cứu và quan sát về Đài Loan, bản thân Jacobs cũng trở thành một phần lịch sử nước này. Ông là người trong cuộc của một số sự kiện bước ngoặt trong quá trình dân chủ hóa Đài Loan.

“Democratizing Taiwan” được xuất bản cách đây đã 10 năm, nhưng nó vẫn còn nguyên giá trị tham khảo. Cuốn sách thậm chí còn có quá nhiều thông tin chi tiết mà chỉ những ai đặc biệt lưu tâm và theo dõi lịch sử chính trường Đài Loan mới thẩm thấu hết.

Các đối tượng độc giả khác nhau sẽ rút ra được một số điều riêng biệt từ công trình nghiên cứu và tổng hợp công phu này.

Với phần lớn độc giả Việt Nam, có ba bài học gần gũi đáng được nhắc đến.

Cùng dòng máu vẫn có thể là thực dân ngoại xâm

Bài học thứ nhất là việc tác giả dùng từ “chế độ thực dân” (colonial regime) để nói về hệ thống cai trị của Quốc Dân Đảng tại Đài Loan trước khi tình trạng thiết quân luật được bãi bỏ năm 1987.

Nhiều nhà nghiên cứu về Đài Loan nhận định lịch sử của Đài Loan là lịch sử của một vùng đất thuộc địa bị những kẻ ngoại xâm cai trị.

Từ thế kỷ 17, người bản địa Đài Loan lần lượt trải qua các chế độ thực dân của Hà Lan, Tây Ban Nha, gia tộc Trịnh Thành Công, triều đình Mãn Thanh, và sau đó là đế quốc Nhật Bản.

Năm 1945, sau khi kết thúc Thế Chiến II, Đài Loan quay về dưới sự kiểm soát của Trung Quốc – lúc này có tên gọi là Trung Hoa Dân Quốc, do Quốc Dân Đảng nắm quyền. Và năm 1949, sau khi thất trận ở đại lục, toàn bộ chính quyền Quốc Dân Đảng rút lui về Đài Loan để bảo toàn lực lượng.

Vào lúc này, phần lớn người Đài Loan đều có gốc Hoa do các đợt di cư từ ba thế kỷ trước. Cùng dòng máu, nên với người ngoài, ít ai nghĩ chế độ của Quốc Dân Đảng là thực dân hay sự tiếp nối lịch sử ngoại xâm của Đài.

Tuy nhiên, với nhiều dẫn chứng cụ thể, Jacobs chỉ ra chế độ của Quốc Dân Đảng tại Đài Loan có đầy đủ tính chất của một chế độ thực dân ngoại xâm.

Nó được xây dựng để phục vụ và bảo toàn quyền lực cho một nhóm thiểu số người đại lục (mainlander), những người Trung Quốc qua Đài Loan sau năm 1945, vốn chỉ chiếm chưa tới 15% dân số Đài Loan vào thời điểm trên.

Chính quyền Quốc Dân Đảng áp đặt một căn tính chung, dựa trên nhóm thiểu số đó, lên toàn bộ người dân Đài Loan, gốc Hoa lẫn bản địa. Nó phục vụ cho tham vọng quyền lực riêng của Quốc Dân Đảng, và tạo ra một cơn khủng hoảng căn tính dân tộc cho Đài Loan tới tận ngày nay.

Ngoài ra, giống như nhiều chế độ thực dân ngoại xâm khác, chính quyền Quốc Dân Đảng không e ngại dùng vũ lực để đàn áp đẫm máu những ai dám thách thức quyền lực độc tôn của họ.

Tác giả dẫn lại một câu nói được cho là cảm nhận của nhiều người Đài Loan vào thời điểm Quốc Dân Đảng vừa sang nắm quyền thay cho Nhật Bản: bọn chó (Nhật) đã tệ, bọn heo (Trung Quốc) còn tệ hơn.

Cởi trói không đồng nghĩa với dân chủ

Ngay chương đầu của sách, J. Bruce Jacobs đã đặt vấn đề về sự khác biệt giữa hai khái niệm “tự do hóa” (liberalization) và “dân chủ hóa” (democratization).

Theo Jacobs, các chính quyền độc tài trong một số trường hợp thực thi những chính sách cơi nới các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Họ thậm chí có thể cho phép các chính trị gia độc lập lẫn đối lập tham gia tranh cử. Nhưng mấu chốt là họ không bao giờ từ bỏ quyền lực tối thượng (ultimate control).

Những chính sách này được xem là “tự do hóa”, không phải “dân chủ hóa”.

Từ đầu thập niên 1970, Đài Loan đã trải qua ít nhất hai làn sóng tự do hóa. Tuy nhiên, dưới sự cầm quyền của Tưởng Giới Thạch và sau đó là con trai Tưởng Kinh Quốc, không có lực lượng nào được phép thách thức vai trò độc tôn của Quốc Dân Đảng.

Tác giả đề xuất một cách dịch khác của “liberalization”, phù hợp hơn với trường hợp của Đài Loan, đó là “cởi trói dần” (鬆綁化 – loosening restrictions).

Dưới góc độ này, Jacobs nhận định rằng Tưởng Kinh Quốc, dù được khen ngợi khi thực thi các chính sách cởi trói cho xã hội Đài Loan vào những năm cuối đời, vẫn không phải là nhân tố quyết định cho nền dân chủ của Đài Loan (vai trò đó thuộc về Lý Đăng Huy, người kế nhiệm sau khi Tưởng Kinh Quốc qua đời năm 1988).

Những thông tin về bối cảnh của Đài Loan trong sách sẽ giải thích vì sao tự do hóa/ cởi trói dần là không đủ và không thể giải quyết các vấn đề nhức nhối của xã hội nước này.

Dân chủ đầy khiếm khuyết, nhưng ai cũng có cơ hội công bằng

Những chính sách cởi trói vào cuối thập niên 1980 là tiền đề để Đài Loan có thể tiến hành dân chủ hóa một cách trọn vẹn và hòa bình, không đổ máu.

Nhưng dân chủ không phải là phần thưởng cuối cùng. Nó không phải viên thuốc thần kỳ giải quyết mọi vấn đề của xã hội. Nó cũng không tự động biến mỗi công dân thành những con người tốt đẹp hơn.

Thông qua những ghi chép tỉ mỉ chi tiết trong sách về từng cuộc bầu cử lớn nhỏ tại Đài Loan, người đọc không khỏi có ấn tượng về một sự lộn xộn và những tật xấu nhan nhản của chính trường nước này thời dân chủ.

Điểm khác biệt so với chế độ độc tài là các vấn đề này được công khai, và, trong rất nhiều trường hợp, dưới áp lực của cử tri, được sửa đổi và hoàn thiện liên tục.

Điều quan trọng nhất là dưới chế độ mới, mọi người đều có cơ hội công bằng để bảo vệ quyền lợi của mình.

Người đọc có thể thấy điều đó qua cách các đại biểu dân cử của những tộc người bản địa thiểu số, dù chỉ chiếm một tỷ lệ cực kỳ ít ỏi, vẫn có thể thương lượng điều đình với những đảng phái lớn để đạt được các thỏa thuận có lợi cho nhóm cử tri của mình.

Người đọc cũng có thể cảm nhận được điều đó qua cách người dân Đài Loan ngày càng chủ động tham gia sâu vào các hoạt động chính trị, từ việc bỏ phiếu ủng hộ các chính trị gia đến vận động gây áp lực buộc chính quyền phải thay đổi.

Và cơ hội công bằng không chỉ dành cho “người tốt”, ngay cả “kẻ xấu” một thời như Quốc Dân Đảng – thực dân/ ngoại xâm/ độc tài – vẫn có cơ hội như mọi đảng phái khác trong một thể chế dân chủ.

Năm 2000, Quốc Dân Đảng lần đầu tiên mất quyền lực vào tay Dân Tiến Đảng. Nhưng đến năm 2008, cử tri quyết định trao quyền lại cho họ.

Quốc Dân Đảng dù mất đi vị thế độc tôn của thời độc tài nhưng đổi lại, họ vẫn là một thế lực cạnh tranh bình đẳng với mọi nhóm chính đảng khác, và luôn có cơ hội giành được chính quyền nếu thuyết phục được các cử tri.

Được lợi lớn nhất là toàn bộ người dân Đài Loan.

Y.C.

Nguồn: Luật Khoa Tạp chí

BIỂU TƯỢNG CỦA BÌNH AN VÀ HY VỌNG-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 

BIỂU TƯỢNG CỦA BÌNH AN VÀ HY VỌNG

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 

Ngày 14, Tháng 9
SUY TÔN THÁNH GIÁ
Lễ Kính

“Con Người phải được treo lên!”.

Sau Phục Sinh, cô giáo Bitram mang những chiếc hộp hình quả trứng làm quà cho học sinh; mỗi em được yêu cầu ra ngoài, tìm một biểu tượng nào đó cho ‘cuộc sống mới’, đặt nó vào hộp. Nửa giờ sau, từng chiếc hộp được mở ra. Nào hoa, nào bọ, bướm, kiến, lá…; cả lớp ồ lên sung sướng. Bỗng, có một chiếc trống rỗng! Có tiếng la, “Ngu ngốc!”. Philip, mắc hội chứng Down, lên tiếng, “Nó là của tôi!”. Bọn trẻ nhao nhao, “Philip không bao giờ đúng!”; Philip nói, “Tôi đúng! Nó trống rỗng. Ngôi mộ trống rỗng!”. Tiếp đến là im lặng! Philip được trọng nể. Không lâu sau, cậu bé qua đời. Tại đám tang, cùng với cô Bitram, lớp giáo lý các em 8 tuổi tiến lên bàn thờ; không phải với hoa, mỗi em đặt lên đó một quả trứng rỗng, ‘biểu tượng của bình an và hy vọng!’.

Kính thưa Anh Chị em,

Như quả trứng rỗng của Philip, ngôi mộ trống của Đức Kitô đã nói lên một điều gì đó quá ư vĩ đại, thì Thánh Giá hôm nay Giáo Hội suy tôn, ‘biểu tượng của bình an và hy vọng!’, cũng nói lên một điều gì đó vĩ đại không kém! Bởi lẽ, trên đó, Đấng cứu sống nhân loại, đã được treo lên!

Thật thú vị, nói đến việc Thiên Chúa cứu sống, cả Cựu Ước lẫn Tân Ước đều nói đến một ‘cái gì đó’, hoặc một ‘Ai đó’ được treo lên! Vấn đề là ai muốn được cứu, phải nhìn lên và tin! Bài đọc Dân Số tường thuật việc Israel nổi loạn, Chúa cho rắn lửa bò ra cắn chết nhiều người. Môisen van xin và Chúa thương bảo, “Đúc một con rắn đồng, treo nó lên làm dấu; để ai bị rắn cắn mà nhìn lên nó, sẽ được sống!”. Rắn đồng được treo lên, hình ảnh tiền trưng cho Đức Kitô được treo lên, rồi đây cũng cứu sống cả nhân loại; cách riêng, những ai nhìn lên và tin vào Ngài. Thập giá Ngài là ‘biểu tượng của bình an và hy vọng!’.

Nếu La Mã treo một tử tội bằng giá treo cổ, cung thánh các nhà thờ sẽ trưng một chiếc thòng lọng; nếu La Mã chọn ném đá một tội nhân cho đến chết, cung thánh sẽ có một đống đá để tín hữu nhìn vào đó mà hy vọng, với thi thể của một Giêusu bầm dập vô hồn nằm sóng soài kề bên. Chúng ta đã quen với thánh giá; đeo nó trên cổ, trên tai, khắc lên bia mộ… thậm chí đặt nó lên đỉnh tháp chuông và chiếu sáng nó khi đêm về. Giáo Hội đã thành công cách ngoạn mục trong  việc truyền đạt sự thật về đau khổ và cái chết, về sự sống và sự sống lại của Chúa Kitô. Thành công đến nỗi con cái quên rằng, qua bao thế kỷ, một thiết bị tra tấn chết chóc đến thế được coi như biểu tượng lớn nhất của thế giới về sự sống, ‘biểu tượng của bình an và hy vọng!’.

Từ biến cố nhập thể, Thiên Chúa đã tự làm rỗng mình. Ngài tự khép mình để sống giữa chúng ta, và tiếp tục trút bỏ tận căn chính mình khi để con người treo Ngài lên. Chúa Giêsu không như một thầy thuốc lạnh lùng chạm vào cơ thể bệnh nhân rồi tắm mình trong thuốc sát trùng; không, nhưng như một bác sĩ trước khi mổ, chỉ về phía mình, Ngài nói với bệnh nhân, “Hãy xem vết sẹo của tôi!”; rồi chỉ vào vết thương hoang hoác trên ngực và nói, “Tôi cũng là nạn nhân của sự dữ”. Ngài chấp nhận cái chết tàn khốc để có thể cạn chung chén đắng và đi sâu vào nỗi đau thập giá của con người, hầu biến nó thành niềm vui và nên ‘biểu tượng của bình an và hy vọng!’.

Anh Chị em,

“Con Người phải được treo lên!”. Lạ lùng thay, Con Thiên Chúa mà “vinh quang các tầng trời chứa chẳng hết” đã được treo lên để mọi người giàu nghèo, sang hèn đều có thể thấy mình trong thân phận làm người của Ngài. Và như thế, bạn và tôi dù đau khổ cùng cực đến mấy, vẫn nhìn thấy ánh mắt của Ngài đang nhìn mình. Hãy chạy đến với Chúa Giêsu, chiêm ngắm Ngài trên thánh giá, nhất là những lúc não nuột, ê chề; chắc chắn, chúng ta sẽ múc lấy sự cảm thông, sự ủi an từ trái tim từ ái rộng mở của Ngài. Nhờ đó, mỗi ngày, chúng ta đủ sức ôm lấy thập giá đời mình. Hãy để Ngài đưa nó lên cao, gắn nó với chính thập giá của Ngài! Và như thế, thập giá của Chúa Giêsu hay của mỗi người chúng ta, luôn là ‘biểu tượng của bình an và hy vọng!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin làm rỗng lòng con, để con có thể chỗi dậy sống đời sống mới như Chúa. Xin Thánh Thần Phục Sinh đổ đầy con, biến đổi con, giúp con đi từ sự chết sang sự sống!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế) 

TỰU TRƯỜNG LÀ GÌ HẢ MẸ…?

Lmdc Viet Nam

 *** Những mảnh đời bất hạnh vì lỡ được sinh ra trong thiên đường CH XH CN CSVN

***

TỰU TRƯỜNG LÀ GÌ HẢ MẸ…?

Về đi con, nhà mình còn lon gạo

Về nhà đi, mẹ nấu cháo cho ăn

Nhà mình nghèo khó nhọc kiếm miếng ăn

Con mơ chi chuyện cung hằng sao hỏa.

Về đi con, cả đêm qua đói lả

Mà sáng nay còn tất tả đến trường

Không có tiền, đừng cầu cạnh tình thương

Không học phí thì ra đường mà đứng.

Về đi con, đừng rưng rưng nước mắt

Lòng mẹ đau như ai cắt con ơi

Bởi mẹ cha sinh ra “bất phùng thời”

Lại vô tâm sinh con, đời con khổ.

Về đi con, chữ nghĩa đều vô bổ

Con người ta hùng hổ được nhờ tiền

Người hơn người nhờ cơ cấu, ưu tiên

Học cho giỏi, quá hiền đành thất nghiệp.

Về đi con, lật sách cha đọc tiếp

Chữ nghĩa nhân trong số phận con người

Học yêu thương, học khóc lẫn học cười

Học chân thật giữa kiếp người lừa lọc…

NVQ.

FB Doan Quoc Bao 

 

Hủ Tục Đốt Vàng Mã

Hủ Tục Đốt Vàng Mã

Ngàn năm Bắc thuộc, người Tàu tìm mọi cách truyền bá tập tục, vừa muốn đồng hóa dân tộc ta, vừa có mục đích kinh doanh kiếm lợi.

Thời thượng cổ, người chết cứ để vậy đem chôn, không biết đến phần mộ, quan quách.

Về sau, việc mai táng người chết có nhiều hình thức.

Nhà Chu (1.122 trước Tây lịch) quy định rằng, khi ai chết, tất cả những vật dụng quý giá của người đó khi còn sống kể cả thê thiếp, thuộc hạ được sủng ái cũng đều phải chôn theo.

Tục lệ chôn người vô nhân đạo này đã được thay bằng lệ chôn các sô linh (người bện bằng cỏ).

Năm Nguyên Hưng nguyên niên (105) đời Hán Hoa, ông Thái Lĩnh tìm ra được cách làm giấy bằng vỏ cây dó & giẻ rách.

Tương truyền, lúc bấy giờ, Trung Hoa có tú tài Vưu Văn Nhất dùi mài kinh sử, mong ngày vinh quy bái tổ. Họ Vưu mười năm thi mãi không đỗ, bèn gác bút nghiên theo nghiệp buôn bán.

Một ngày nọ, Vưu tìm đến gia đình họ Đại xin học nghề làm giấy. Được yêu mến, Đại lão gia trao toàn bộ kỹ thuật làm giấy gia truyền.

Khi Đại lão gia qua đời, Vưu tú tài kế thừa sự nghiệp.

Giấy làm ra ngày càng tốt nhưng bán mãi không được. Họ Vưu vô cùng phiền não, bỏ cơm nước, nằm liệt giường, ba ngày sau thì chết.

Vợ Vưu khóc lóc, nói với mọi người:

– Gia cảnh chúng tôi nghèo túng, không có gì có thể chôn cùng. Thôi thì đem giấy đốt chôn cùng ông ấy vậy !

Đốt giấy tới ngày thứ ba, Vưu tú tài đột nhiên khua động quan tài ngồi dậy, miệng luôn mồm bảo:

– Mau đốt giấy, mau đốt giấy !

Ai nấy hoảng sợ, tưởng ma nhập về, bỏ chạy.

Vưu tú tài nói:

– Đừng sợ, tôi sống lại rồi !

Gã kể, nhờ đốt giấy mà y thoát chết. Giấy sau khi đốt , xuống tới âm tào địa phủ liền biến thành tiền. Vưu tú tài lấy tiền này để hối lộ, được Diêm Vương thả về.

Câu chuyện lan truyền khắp huyện thành cả Trung Hoa. giấy bán chạy như tôm tươi, nghề làm vàng mã bỗng chốc trở nên giàu có.

Sự thật, Vưu tú tài không hề chết đi sống lại, chỉ là lập mưu lừa phỉnh người đời.

Nhờ sự việc trót lọt, từ đó việc đốt giấy cho người chết đã trở thành một hủ tục mê muội được lưu truyền mãi, lan sang Việt Nam mãi đến ngày nay.

Lấy từ fb Cha Pham Quang Long

From: TU-PHUNG

Tại sao Việt Nam lại tệ như thế?

Tại sao Việt Nam lại tệ như thế?

14-9-2022

Cứ mỗi lần xem hình ảnh, hay tin tức về tổn thất kinh hoàng của quân đội Nga trong cuộc xâm lược Ukraine, tôi lại đặt ra câu hỏi: Vì đâu nên nỗi?

Cùng câu hỏi ấy, tôi cũng đặt ra khi xem tin tức về vụ 39 người Việt chết thê thảm trong thùng xe đông lạnh ở nước Anh.

Ký ức lại dắt tôi về câu chuyện mấy mươi năm về trước, khi tôi đi thăm hai người bạn ở Sofia, Bulgaria. Lúc ấy nước này đã không còn sự cai trị độc đảng của người cộng sản nữa. Đi giữa những phố phường cũ kỹ, rải rác những “di tích” bê tông xấu xí thời cộng sản (lăng Dimitrov chẳng hạn), Milene, bạn tôi cứ nhiếc móc thậm tệ người … Nga, những kẻ mà theo họ đã gây ra sự èo uột của nước Bulgaria mấy mươi năm.

Tôi bèn thử phản biện: Này, tôi thấy các bạn không công bằng, cái gây ra khổ nạn cho Bulgaria là chế độ cộng sản Soviet, chứ đâu phải người Nga. Họ cũng chịu nạn cộng sản như các bạn vậy? Tôi thấy người Nga họ cũng dễ mến mà!

Milene nhìn sững vào tôi: Họ có thể dễ mến, nhưng họ ngu ngốc quá, cứ để cho cái bọn độc tài nó đè đầu cưỡi cổ, từ Sa hoàng, cho đến Lenin, Stalin…

Tôi không bao giờ quên câu mắng nhiếc một dân tộc thậm tệ như thế của Milene. Cứ mỗi lần nhớ tới nó, tôi lại chột dạ: Không biết có ai nói dân Việt Nam cũng là những người dễ mến, nhưng ngu ngốc vì để bọn độc tài đè đầu cưỡi cổ không?!

Đã có nhiều tranh cãi vì sao người Việt lại “cam tâm” nằm dưới sự cai trị của đảng Cộng sản gần nửa thế kỷ như thế (đối với miền Bắc Việt Nam thì đã gần 70 năm), thậm chí là có cả một lý giải khá siêu hình là chuyện quả báo của người Việt, vì họ là thủ phạm tiêu diệt cả một nền văn minh Champa rực rỡ, gần như diệt chủng cả một giống nòi.

Người Việt thì không bị diệt chủng, mà họ ngày càng đông lên, nhưng lại không tạo được một cuộc sống xã hội bình thường như những người bình thường nghĩ đến.

Trước đây, nông dân nghèo từ những vùng “toàn cát” như Nghệ Tĩnh, Quảng Bình,… đổ vào các khu công nghiệp mới mở vùng Đông Nam Bộ để bán sức lao động rất rẻ của họ cho tư bản nước ngoài. Bây giờ thì đến cả nông dân vùng sông nước vang bóng một thời là miền Cửu Long, cũng đổ lên phố kiếm việc, để lại cả một vùng quê xơ xác.

Mà lên phố như vậy cũng có đổi đời được là mấy. Chỉ mấy mươi ngày cách ly chống dịch Covid hồi giữa năm 2021, đã làm cho cả triệu công nhân chạy nháo nhào vì… đói.

Học trò giỏi, sau khi được ra nước ngoài học hành, thì tìm cách ở lại, vì về nước để làm gì?

Mà đâu chỉ học trò giỏi, học trò không giỏi đi làm thuê ở nước ngoài (gọi cho sang là hợp tác lao động), cũng tìm cách ở lại.

Trước đây các em gái ít học vùng Cửu Long lớn lên thì theo mai mối đi lấy chồng Đài Loan, Hàn Quốc, nay có vẻ khuynh hướng này chuyển sang cả các em có học. Mới đây thành phố Mungyeong ở Hàn Quốc đề ra “chính sách” khuyến khích các nông dân già, ế vợ, lấy nữ du học sinh Việt Nam để gia tăng dân số.

Trên đây tôi chỉ liệt kê ra những gì liên quan tới vật chất, đo đếm được, chứ không bàn đến chuyện tinh thần. Chuyện này rất khó tranh cãi vì nó tùy thuộc vào quan điểm, quan niệm,… chẳng hạn như những ồn ào gần đây về cúng vong, giải hạn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Đương nhiên đảng Cộng sản Việt Nam là người chịu trách nhiệm cho tất cả những sự khổ ải ấy của người dân Việt Nam, vì có ai khác ngoài họ cầm quyền đâu.

Tuy nhiên sẽ có một câu hỏi được đặt ra là tại sao họ (đảng Cộng sản Việt Nam) cầm quyền tệ hại như vậy mà không ai làm gì được họ cả?

Điểm lại những thay đổi triều đại ở Việt Nam từ khi có sử ghi chép đến nay, chúng ta không thấy có bất cứ triều đại nào bị dân chúng lật đổ cả, mà chỉ kết thúc bằng những cuộc xâm lăng từ bên ngoài, hoặc bằng những thanh toán cung đình, như từ triều Lý chuyển sang triều Trần, triều Trần chuyển sang triều Hồ, hay là cuộc nội chiến kéo dài Trịnh và Nguyễn, Tây Sơn và Nguyễn Ánh.

Tóm lại là không có … cách mạng!

Đó là mẫu số chung của nền văn minh Trung Hoa mà Việt Nam sống trong ảnh hưởng của nó cả ngàn năm.

Trong nền văn minh của những … quan phụ mẫu, dân chúng rất vâng lời, không phản kháng. Trước kia không phản kháng các vị tiên chỉ, thì nay cũng không phản kháng các vị bí thư chi bộ xã.

Chủ nghĩa cộng sản, một sản phẩm thất bại của nền văn minh Do Thái Ki Tô phương Tây đến với Trung Quốc, Tiều Tiên và Việt Nam trong bối cảnh “giải thực”, nên đã thắng thế. Tại miền đất mới, nó biến dạng và lai tạp với đám quan phụ mẫu phương Đông. Đứa con lai ấy chính là chế độ gọi là cộng sản ở Việt Nam.

Nó lai thêm lần nữa sau biến cố Đông Âu năm 1989, để biến thành kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dân chủ tập trung, trong đó vẫn còn các quan phụ mẫu, và vẫn còn đám dân chúng không bao giờ cãi cơ quan công quyền.

Cuộc đô hộ trăm năm của người Pháp, cuộc can thiệp chống cộng sản 20 năm của người Mỹ, tạo nên một nhóm người Việt có ý thức khác với các “quan phụ mẫu”. Nhưng nhóm này vẫn là một thiểu số rất ít trong xã hội Việt Nam. Với cái số ít đó, những ai muốn phản kháng thì phản kháng… bằng chân. Nói hoa mỹ là bỏ phiếu bằng chân.

Nhưng đừng tưởng bỏ phiếu bằng chân, sang đến “bến bờ tự do” rồi thì sẽ không còn các “tiên chỉ” nữa. Trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại cũng có đầy các “tiên chỉ”. Chỉ có điều là trong môi trường xã hội mới, sự “tinh tướng” của các “tiên chỉ” này bị giới hạn rất nhiều, vợ con họ không còn bị họ tác oai tác quái nhiều như khi còn ở cố hương.

Trở lại câu hỏi tại sao của tôi ở đầu bài, tôi không đủ kiến thức để trả lời chuyện người Nga cứ húc đầu vào chỗ tai ương (thời thế chiến thứ nhất, quân đội Nga bị các ký giả phương Tây gọi là cái cối xây thịt, vì họ chết rất nhiều).

Đối với Việt Nam thì thủ phạm cho cái chết của các cô gái Việt trong thùng xe đông lạnh ở Anh, hay cô du học sinh Việt nào đó lấy ông nông dân Hàn Quốc già (có gì khác nhau?), chính là các… “tiên chỉ”.

Có người sẽ không đồng ý với tôi mà hét lên rằng: Thủ phạm là cộng sản.

À vâng, cộng sản!

Putin, Gorbachev, và hai tầm nhìn về sự vĩ đại của nước Nga

Putin, Gorbachev, và hai tầm nhìn về sự vĩ đại của nước Nga

 

Gideon Rachman, “Putin, Gorbachev and two visions of Russian greatness,” Financial Times, 05/09/2022

Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng

Điện Kremlin đã quay trở lại với các phương pháp và mục tiêu dựa trên sự chinh phạt, sự sợ hãi và tàn bạo.

Donald Trump từng hứa sẽ làm cho nước Mỹ vĩ đại trở lại. Khẩu hiệu yêu thích của Tập Cận Bình là hướng đến “sự phục hưng vĩ đại” của dân tộc Trung Hoa. Vladimir Putin cũng được thúc đẩy bởi một mong muốn tương tự: hồi sinh nước Nga vĩ đại.

Nhưng thế nào là một quốc gia vĩ đại? Putin và Mikhail Gorbachev, người vừa qua đời vào tuần trước, lại có suy nghĩ khác nhau.

Đối với Putin, sự vĩ đại của một quốc gia được xác định bằng lãnh thổ, sức mạnh quân sự, và khả năng khiến các nước láng giềng khiếp sợ hoặc khuất phục. Nhà lãnh đạo Nga tin rằng đất nước ông có quyền trở thành một trong những cường quốc trên thế giới. Ông cho rằng nước Nga đã “bị cướp” khi Ukraine giành độc lập, và chìa khóa để xây dựng lại sức mạnh và tầm vóc quốc gia là giành lại lãnh thổ đã mất. Quyết định xâm lược Ukraine là đỉnh điểm của nỗi ám ảnh này.

Đối với Gorbachev, sự vĩ đại của một quốc gia lại tập trung nhiều hơn vào phẩm giá của những công dân bình thường. Trong một cuộc phỏng vấn hồi năm 2001 với nhà sử học Daniel Yergin, ông nhắc đến việc Liên Xô không có khả năng cung cấp cho công dân của mình những nhu yếu phẩm hàng ngày: “Hãy tưởng tượng một quốc gia có thể bay vào vũ trụ, phóng Sputniks, tạo ra một hệ thống phòng thủ mạnh mẽ … [Nhưng] không có kem đánh răng, không có bột giặt, không có những hàng hóa cơ bản cho cuộc sống. Thật không thể tin được và thật nhục nhã khi phải làm việc trong một chính phủ như vậy.”

Việc thường dân Nga không còn phải chịu đựng cảnh thiếu thốn như xưa phần lớn chính là nhờ các cải cách kinh tế của Gorbachev, dù chúng đã được triển khai một cách khá do dự. Những người đổ lỗi cho ông vì đã phá hủy nền kinh tế Liên Xô nên nhớ lấy điều đó.

Ý tưởng về phẩm giá con người của cựu lãnh đạo Liên Xô cũng đã mở rộng sang quyền tự do ngôn luận. “Thật không thể tin được và thật nhục nhã,” khi mà dưới chế độ Xô-viết, những người có học thức phải sống trong một thế giới của những lời nói dối, khẩu hiệu và sự kiểm duyệt chính thức. Gorbachev đã thay đổi điều đó bằng cách giải phóng báo giới và ngành công nghiệp sáng tạo, trả tự do cho những người bất đồng chính kiến, và cho phép tiếp tục những nghiên cứu lịch sử thực sự. Còn Putin đang đưa nước Nga trở lại với sự đàn áp theo kiểu Liên Xô – khi ông cho đóng cửa các phương tiện truyền thông độc lập còn sót lại, bỏ tù những thành viên đối lập, và biến việc thừa nhận rằng Nga đang có chiến tranh trở thành một hành vi phạm tội.

Quan trọng hơn, ý tưởng về phẩm giá con người của Gorbachev đã vượt ra ngoài biên giới nước Nga. Quyết định quan trọng nhất, chính trực nhất mà ông từng đưa ra là không gửi xe tăng Liên Xô đến Ba Lan, Hungary, hoặc Đông Đức vào năm 1989 khi các phong trào dân chủ nở rộ.

Trong một thời gian ngắn ngủi, một nhà lãnh đạo Nga đã trở thành một biểu tượng quốc tế của tự do chính trị. Khi Gorbachev đến thăm Đông Berlin vào tháng 10/1989, một tháng trước khi Bức tường Berlin sụp đổ, đám đông đã hô vang “Gorby hãy giúp chúng tôi.” Khi ông đến thăm Bắc Kinh vào tháng 5, những sinh viên biểu tình ở Quảng trường Thiên An Môn đã ca ngợi ông như một anh hùng – một nhà lãnh đạo đã chứng tỏ rằng các chế độ chuyên chế cũng có thể cải cách và không cần phải giết chết người biểu tình trên đường phố. Nhưng giấc mơ ấy đã kết thúc bằng vụ thảm sát ở Quảng trường Thiên An Môn chỉ một tháng sau đó.

Đúng là những phản ứng của Gorbachev không phải lúc nào cũng cao thượng và bất bạo động. Ông được nhớ đến cùng sự ghét bỏ ở các nước Baltic, vì đã mang quân đội Liên Xô đến đây hồi năm 1991 trong một nỗ lực (thất bại) để ngăn chặn phong trào giành độc lập của họ.

Tuy nhiên, những người ủng hộ Putin sẽ là những người đầu tiên chỉ ra, Gorbachev thiếu sự tàn nhẫn để tiếp tục chiến đấu và giết chóc cho đến khi quyền lực của Moscow được khôi phục. Putin quyết tâm không lặp lại “sai lầm” đó, và kết quả là Ukraine đã phải trả một cái giá khủng khiếp về nhân mạng. Khi câu chuyện về những gì thực sự đã xảy ra trong chiến dịch bao vây Mariupol của quân Nga bị vỡ lở, nó có thể vạch trần một tội ác chiến tranh có quy mô lịch sử – với hàng nghìn dân thường bị giết và chôn vùi trong những ngôi mộ tập thể.

Đối với Putin, những vụ thảm sát như Mariupol chỉ là một dấu chấm nhỏ khi so sánh với sứ mệnh lịch sử của ông là khôi phục nước Nga vĩ đại. Những kỳ vọng ban đầu của ông về chiến thắng trước Ukraine chỉ trong vài ngày đã bị tiêu tan. Nhưng ông đã sớm gạt bỏ thất vọng bằng cách so sánh mình với Peter Đại đế, người đã giành chiến thắng cuối cùng trong Đại chiến phương Bắc kéo dài hơn 20 năm.

Đó là một so sánh hàm chứa nhiều điều. Peter Đại đế là một bạo chúa, khét tiếng bởi sự thờ ơ tuyệt đối trước những thiệt hại về nhân mạng. Hàng nghìn người đã chết trong quá trình xây dựng thủ đô mới của ông, St. Petersburg. Peter cũng áp dụng chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc để tiến hành các cuộc chiến của mình. Đây là một bước đi mà Putin cho đến nay vẫn không muốn thực hiện. Bất chấp những luận điệu kiểu Sa hoàng của mình, có lẽ ông ta vẫn hiểu được sự nguy hiểm của việc đối xử với những công dân thế kỷ 21 như nông nô thế kỷ 18.

Putin có thể tin rằng chiến thắng trên chiến trường và trong cuộc chinh phục lãnh thổ là những cách thức duy nhất để khôi phục sự vĩ đại của quốc gia. Nhưng điều mà Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ gọi là “sự nghiêm túc tôn trọng ý kiến của nhân loại” cũng cần được cân nhắc. Nước Nga hiếu chiến không được đánh giá cao ở điểm này. Một cuộc khảo sát quốc tế do Đại học Pennsylvania và nhiều tổ chức khác thực hiện vào năm ngoái cho thấy ba quốc gia được ngưỡng mộ nhất trên thế giới là Canada, Nhật Bản, và Đức.

Cả ba nước đều được đánh giá cao dựa trên các tiêu chí như chính phủ trong sạch, tôn trọng nhân quyền, và công bằng xã hội. Đây là những điều ít được coi trọng ở nước Nga của Putin, nhưng lại được những cá nhân và chính phủ quan tâm đến phẩm giá con người coi trọng.

Putin đã thể hiện sự khinh thường của mình đối với những giá trị này – những giá trị mà Gorbachev đề cao – bằng cách tuyên bố rằng mình quá bận rộn, không thể đến tham dự lễ tang của vị cựu tổng thống. Hàng nghìn người Nga thinh lặng đứng trước quan tài mở của Gorbachev đã thể hiện sự bất đồng của họ.

G.R.

Nguòn bản dịch: nghiencuuquocte.org

KHÔI PHỤC NHỮNG GÌ ĐÃ MẤT-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

KHÔI PHỤC NHỮNG GÌ ĐÃ MẤT

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thứ Ba Tuần XXIV – Mùa Thường Niên

“Đừng khóc nữa!”.

Hai giọt nước mắt nhỏ xuống, cùng trôi ra dòng sông cuộc đời. Giọt này nói với giọt kia, “Bạn là ai?”. Giọt kia nói, “Tôi là giọt nước mắt của một cô gái đang yêu một người đàn ông và mất anh ta! Còn bạn, bạn là ai?”. “Ôi, tôi là giọt nước mắt của cô gái đã lấy được anh ấy!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Sẽ khá bất ngờ khi Lời Chúa hôm nay cũng nói đến những giọt nước mắt, không phải của những cô gái đang yêu, nhưng của một bà mẹ mất con; qua đó, tình yêu Thiên Chúa tỏ lộ! Đó là một tình yêu lớn hơn sự chết! Thiên Chúa sẽ lau khô mọi dòng lệ trên từng khuôn mặt; vì Ngài là tình yêu, luôn ‘khôi phục những gì đã mất’, và luôn làm cho sống!

Như quả phụ Nain mất đứa con duy nhất của mình, con người có nhiều “lý do” để tuyệt vọng, bởi nó vô phương giải quyết muôn vàn khó khăn, nhất là những lúc đối diện với cái chết; lúc ấy, nó bất lực thật sự trong việc giúp đỡ người khác. Vậy mà, Chúa Giêsu vẫn trấn an, “Đừng khóc nữa!”. Quyền năng vô hạn của Ngài giải phóng chúng ta khỏi những giới hạn bi thảm của con người; hơn nữa, “Chúng ta biết rằng, mọi sự đều có ích cho những ai yêu mến Thiên Chúa!”.

Với tư cách Đấng Cứu Chuộc, Ngài hành động! Vì thế, “Đừng khóc nữa!” mang trọng lượng của một mệnh lệnh hơn là một ủi an. Như ngày tận thế, khi đau khổ và cái chết có thể xuất hiện, thì cuối cùng, Thiên Chúa bày tỏ một tình yêu luôn làm cho sống; sách Khải Huyền viết, “Ngài sẽ lau mọi giọt lệ trên mắt họ, và sẽ không còn chết chóc, than khóc hay đau đớn nữa”. Quả phụ Nain sắp nhận được một ân sủng khôn lường, không thể tưởng tượng so với nỗi buồn của cô; vì rằng, con cô sống lại. Bạn và tôi cũng hãy hy vọng vào lòng nhân từ của Chúa Kitô, Đấng ‘khôi phục những gì đã mất’ nơi chúng ta và nơi cả những người thân yêu của chúng ta.

“Hỡi thanh niên, Tôi truyền cho anh hãy chỗi dậy!”. Chúa Giêsu không an ủi tôi chỉ đơn giản bằng cách loại bỏ cảm xúc hoặc để tôi tưởng tượng rằng, mọi thứ khác
với thực tế. Thay vào đó, Ngài hành động để loại bỏ nguyên nhân gây ra đau khổ và buồn phiền; sách Xuất Hành viết, “Vì Ta là Chúa, Đấng chữa lành các ngươi!”. Khi nói với quả phụ Nain, “Đừng khóc nữa!”, Ngài không kết tội cô là một phụ nữ dễ xúc động và làm quan trọng mọi việc; ngược lại, Chúa Giêsu xót thương cô vì sự mất mát con trai yêu quý. Vì vậy, với tất cả trái tim và linh hồn, tôi phải tin để hy vọng rằng, cuộc sống của tôi nằm trong tay Chúa; cuộc sống của những người thân yêu của tôi nằm trong tay Chúa. Như Phaolô, bạn và tôi cần mạnh mẽ tuyên xưng, “Chúng ta sống, là sống cho Chúa; và chúng ta chết, là chết cho Chúa!”.

Anh Chị em,

“Đừng khóc nữa!”. Đó là lời một thanh niên có tên Giêsu nói với bà mẹ Nain đi ra từ trong thành; thứ Sáu tuần thánh, Giêsu ấy cũng ra khỏi thành, Mẹ anh cũng khóc. Ô hay! Anh không an ủi bà, anh không tự cứu mình mà đã chết thật; để rồi, nhờ cái chết của mình, Giêsu ấy đã kéo toàn thể nhân loại vào Giêrusalem thiên quốc, thành thánh trên trời. Luca viết, “Đoạn tiến lại gần, Ngài chạm đến quan tài và những người khiêng đứng lại”. Lòng từ bi vĩ đại đã hướng dẫn hành động của Chúa Giêsu! Ngài quyết định đương đầu với cái chết, có thể nói là mặt đối mặt; và sẽ đối đầu với nó cách dứt khoát, trực diện, trên Núi Sọ! Với thanh niên Nain đã chết, Ngài nói lớn tiếng cho mọi người nghe, “Hãy chỗi dậy!”; với mỗi người chúng ta, Ngài cũng nói, “Hãy chỗi dậy!”. Giêsu muốn bạn và tôi chỗi dậy, đứng thẳng; Ngài tạo ra chúng ta để đứng thẳng và đứng vững trên đôi chân mình. Vì lý do này, lòng từ bi vĩ đại của Ngài cũng sẽ chữa lành bạn và tôi; điều quan trọng là “Hãy chỗi dậy! Đứng lên!”, và để Ngài ‘khôi phục những gì đã mất!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, trong dòng sông cuộc đời của con, xin gạt bỏ những gì trở ngại cho sự mới mẻ của cuộc sống mà Chúa gọi con chỗi dậy để sống. Xin ‘khôi phục những gì đã mất’ nơi con!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen