Hết muốn sống trên đất nước này

Hết muốn sống trên đất nước này

 

Chu Mộng Long

21-9-2022

GS. Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường tuyên bố: “Giá trị đất đai tăng thêm đang nằm trong túi người dân, nhà nước phải kiên quyết thu hồi lại“. Tôi nghe mà hết muốn sống trên đất Việt!

Câu nói của GSTS Đặng Hùng Võ, cựu thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế xã hội Việt Nam 2022 sáng ngày 18/9. Nguồn: VnEconomy

Ba mẹ tôi từng khóc hết nước mắt khi có cái chính sách gọi là “thu hồi” này.

Năm 1975, sau nhiều năm tản cư, cả nhà tôi từ phố thị về lại quê hương. Quê tôi chiến tranh khốc liệt, đằng đẵng suốt 20 năm, không thể sống được. Hòa bình, ba mẹ tôi trút hết vốn dành dụm mua một đôi bò, sắm lại nông cụ để về quê cày ruộng. Việc trước tiên là đắp lại mồ mả ông bà. Sau đó là khai hoang. Những đất đai ông bà để lại đã hoang hóa, cỏ gai mọc ngập đầu. Có những thân cây đã to bằng người ôm. Khai hoang đâu trồng cây lương thực đó để sống. Làm suốt hai ba năm, đánh đổi bao mồ hôi nước mắt để có đất trồng. Khi đất vừa thục thì đùng một cái nhà nước thu hồi để đưa vào hợp tác xã. Hai con bò ba mẹ tôi mua hơn một cây vàng cũng bị nhà nước thu hồi và trả lại cho mười mấy đồng. Và cũng chỉ vì nhà có đất đai, thêm hai con bò nữa mà bị xếp hạng trung nông. Phải đóng tiền cổ phần cho cửa hàng mậu dịch 100 ngàn đồng, lại còn bị ấn định công trái đến 500 ngàn đồng. Viết đơn trình bày hoàn cảnh cùng đinh (bần nông) thì bị xã cho là khai man. Ba bị xã bắt nhốt trong cái container ngoài nắng. Mẹ khóc hết nước mắt, phải chạy vạy, vay mượn đủ số tiền đó để cứu ba về. Thế là nhà nợ nần chồng chất.

Suốt mấy năm hợp tác xã ấy, nhà tôi chỉ ăn toàn mì lát mốc meo. Bởi ngày công 5 lạng thóc chỉ đủ gom góp trả nợ. Quần áo rách tả tơi, toàn mặc quần bao cát (loại bao lính Mỹ làm lô cốt). Mỗi năm cửa hàng mậu dịch bán cho mét vải tám thì để dành cho mẹ và các em gái.

Khi hợp tác xã giải tán, nhà nước trả lại đôi bò cho gia đình tôi, nhưng ba mẹ tôi phải mua lại giá cao gấp hơn trăm lần trước đó nhà nước trả lại cho ba mẹ tôi. Đất đai nhà tôi khai hoang thì không trả lại mà chia cho người khác. Tiền gọi là “cổ phần” cửa hàng mậu dịch thì trả lại một phần, đủ mua rau. Đáo hạn trả công trái, tôi đến kho bạc nhận tiền thì số tiền có giá không đủ mua mấy cân gạo. Mẹ nhớ lại số tiền trước đó tính hàng chục tạ thóc và tính bằng vàng, mẹ lại khóc tức tưởi.

Thời điểm đó, cùng tình cảnh với nhà tôi là hàng chục gia đình khác. Trong vòng mấy năm hợp tác xã mà một cái xóm hơn 30 nóc nhà thì đã bỏ đi gần hết. Họ yêu quê cha đất tổ, hòa bình họ đã trở về quê cha đất tổ của mình, thế mà lại phải ra đi. Những năm ấy, người quê tôi cứ nửa đêm lặng lẽ bỏ xứ mà đi, đi để trốn nợ (nợ thuế hợp tác xã), còn hơn cả chạy giặc trong chiến tranh.

Nhà tôi vẫn bám trụ cho đến bây giờ, chỉ vì cái lý của ba tôi: ở lại để giữ mồ mả ông bà. Vậy mà chục năm trở lại đây, khi làm hồ thủy lợi, cán bộ xã đã cho xe ủi đất lấp đi. Ba tôi phải ngày đêm trải chiếu nằm giữ từng nấm mồ. Lần này ông kiên quyết giữ, không giữ đất được thì giữ mồ mả và đòi khởi kiện. Thế là họ hứa sẽ đổ tạm đất xung quanh mồ mả rồi trả lại mặt bằng sau khi hoàn thành công trình. Bất ngờ sau khi hoàn thành công trình thì mảnh đất mồ mả tổ tiên nhà tôi lại thành rừng cây bạch đàn của phó chủ tịch xã. Nó lừa dân với chiêu gọi là thu hồi đất, nhưng âm thầm hợp thức hóa thành đất của nó.

Đọc cả bài phát biểu, tôi không hiểu GS. Đặng Hùng Võ nói gì, ngoài cái từ khóa: “thu hồi” từ “túi dân”. Bây giờ mà tư duy “thu hồi” như thời ấy nữa thì tôi biết đi đâu? Thưa ông Đặng Hùng Võ, nếu có chuyện “thu hồi” như ông muốn, tôi hết muốn sống trên đất nước này rồi!

Vợ Chồng: Từ cãi vã đến giải quyết vấn đề

Vợ Chồng : Từ cãi vã đến giải quyết vấn đề

Sau nhiều năm kết hôn, bạn và vợ/chồng của mình có bị cuốn vào một vòng luẩn quẩn của những cuộc cãi vã hay không? Chẳng hạn như làm thế nào để cân bằng giữa công việc và gia đình, hay ai là người phải thực hiện nghĩa vụ gia đình và giáo dục con cái…

Có thể mối quan hệ của bạn và nửa kia đang rơi vào cảnh khó khăn và phiền não về điều đó. Các cuộc tranh cãi đôi khi căng thẳng đến mức biến thành những lời chỉ trích vô ích, nhưng không ai muốn mạo hiểm xé bỏ mối quan hệ, và cũng không biết cách nào thoát ra. Bài viết này sẽ giới thiệu một phương pháp tuyệt diệu do các chuyên gia hôn nhân Mỹ phát hiện, để đưa mối quan hệ trở lại đúng quỹ đạo sau một cuộc tranh cãi nảy lửa thì chỉ cần nói một câu này thôi: “Chúng ta ở cùng một đội” (We are on the same team).

“Chúng ta ở cùng một đội”! Trong các cuộc tư vấn hôn nhân, người ta phát hiện rằng câu này có thể ngay lập tức đóng vai trò như một lời nhắc nhở và nhanh chóng kết thúc cuộc cãi vã. Rất nhiều cặp vợ chồng ngay lập tức nhận ra rằng người trước mặt không phải là kẻ thù của họ, sau đó có thể bắt đầu lắng nghe, giao tiếp và nhượng bộ để đi đến giải pháp.

Cô Marie Land, một nhà tâm lý học và trị liệu hôn nhân ở Washington, D.C. cho biết, khi từ “cùng một đội” xuất hiện, cường độ tranh cãi của các cặp vợ chồng có thể nhanh chóng giảm xuống. Sử dụng câu này một cách khôn ngoan và đúng lúc có thể nhắc nhở cả hai quay lại quá trình giải quyết vấn đề. Bởi vì hôn nhân giống như một trò chơi đồng đội, tinh thần hợp tác là đặc biệt quan trọng, dùng những lời lẽ sắc bén để đánh vào điểm yếu của đồng đội sẽ chỉ khiến bạn thua trận với tốc độ nhanh nhất.

“Khi nói ‘chúng ta ở cùng một đội’, có nghĩa là bạn không muốn cả hai rơi vào tình huống chia rẽ một lần nữa, trong khi vẫn đánh giá cao mối quan hệ giữa hai bên”. Cô Marie Land chỉ ra, “Làm như thế cho phép cả hai hạ tâm phòng bị xuống và bình tĩnh lại, cùng đi vào trạng thái tìm giải pháp.”

Khi thực hiện thành công một lần, từ đó về sau sẽ càng có cơ hội hình thành được một mối quan hệ hữu hảo giữa hai vợ chồng. Khi một sự việc tương tự xảy ra, từ “cùng đội” sẽ là một lời nhắc nhở tử tế và sự hiểu ngầm, cả hai bên đều sẽ nhớ lại trước đây họ đã đạt được những nhượng bộ và hiểu biết lẫn nhau như thế nào, từ đó có thể tập trung vào giải quyết vấn đề nhanh hơn và tốt hơn.

Hoặc là cả hai cùng có lợi, hoặc là cả hai đều thua

 

Cô Jennifer Chappell Marsh, một nhà trị liệu hôn nhân và gia đình ở San Diego chỉ ra rằng, điều khiến câu nói này trở nên hiệu quả là bởi vì nhu cầu tình cảm trong khi trò chuyện đã được công nhận, điều này rất quan trọng trong việc đạt được một kết quả tích cực. Nói chung, nguyên nhân biến một cuộc trò chuyện đơn giản thành chỉ trích lẫn nhau là vấn đề về giao tiếp. Nếu các cặp đôi xem cuộc trò chuyện như một cuộc chiến thắng thua, thì là đã đi sai hướng ngay từ đầu. Có thể một bên sẽ sử dụng thủ đoạn cưỡng chế để cuối cùng khiến bên kia phải phục tùng, nhưng điều này không có lợi cho sự phát triển lành mạnh giữa hai người trong tương lai, hơn nữa là rất thiếu khôn ngoan khi làm như vậy, nó không hề thực sự giải quyết được vấn đề.

Vì vậy, câu nói “chúng ta ở cùng một đội” có thể khơi dậy sự thông cảm và ý thức hợp tác của cả hai trên cơ sở nhìn nhận lẫn nhau, phá bỏ vòng luẩn quẩn của sự oán hận, loại bỏ sự cạnh tranh thắng thua. Bạn cũng có thể nghĩ như thế này trong đầu: Tại sao tôi lại bị ám ảnh về việc thắng trong cuộc cãi nhau như thế? Tại sao ngay từ đầu trong tiềm thức đã đặt đối phương vào phía đối lập?

 

Các nhà tâm lý học đã phân tích rằng điều này có thể liên quan đến nhu cầu cần được lắng nghe và chấp nhận trong tiềm thức của con người, và “người chiến thắng” có thể có được cảm giác an toàn, còn “thua trận cãi vã” trước mặt vợ/chồng có thể khiến người ta cảm thấy tồi tệ, sợ hãi, thất vọng, chán nản và mất đi cảm giác an toàn, đó là lý do tại sao mọi người muốn “chiến thắng” bằng mọi giá. Lâu dần, nhiều người hình thành thói quen tranh chấp, đặc biệt là trước mặt người thân yêu nhất của họ, nhưng lại bỏ qua thực tế rằng vợ chồng là một thể cùng chung lợi ích.

Một số cặp vợ chồng già đã kết hôn hàng chục năm, từng trải qua nhiều lần va vấp trong quan hệ tình cảm thuở còn trẻ, thậm chí có những tranh chấp gay gắt, nhưng những ai đã từng đi trên con đường này cuối cùng đều phát hiện rằng: vợ chồng thực sự là “cùng chung một đội”. Bạn vĩnh viễn không thể “chiến thắng” được người bạn đời của mình, nếu không phải cả hai cùng thắng, thì cả hai sẽ cùng thua.

Huấn luyện viên hôn nhân Trey Morgan ở Texas cho biết, nỗi sợ hãi và bất an sau khi “thua một cuộc tranh cãi” có thể khiến bạn khó chấp nhận sự thật rằng “vợ chồng cùng chung một đội”. “Ban đầu cả hai đều muốn giành chiến thắng, nhưng sau nhiều năm, chắc chắn họ sẽ thỏa hiệp với nhau.”

Xét từ rất nhiều trường hợp hôn nhân thực tế, một khi cặp vợ chồng nhận ra sự thật rằng họ “cùng đội”, thì tranh chấp sẽ biến mất, và phần còn lại chỉ là giải quyết vấn đề sao cho có hiệu quả. Lúc này, cả hai đều sẵn sàng suy nghĩ theo chiều hướng của đối phương, thấu hiểu nhau và đi đến thống nhất cuối cùng.

Nhà trị liệu hôn nhân và gia đình Winfred Reilly ở Berkeley, California, đưa ra lời khuyên rằng: khi cả hai bên đã bình tĩnh lại, hãy hỏi nửa kia một cách cởi mở và trung thực rằng trong vấn đề này, đối với họ, khía cạnh nào là quan trọng nhất? Cái gì làm họ phiền nhất? Họ muốn bạn hiểu điều gì? Lúc này đừng nhấn mạnh vào lập trường của bản thân mà hãy bắt đầu lắng nghe và chấp nhận đối phương.

Các chuyên gia về hôn nhân khuyên mọi người khắc cốt ghi tâm câu nói “chúng ta ở cùng một đội”. Nếu có thể nắm vững được bí quyết sử dụng thì cuộc sống vợ chồng sẽ trở nên suôn sẻ hơn. Ngay cả khi mọi thứ không diễn ra theo cách bạn mong muốn, thì tâm thái cao của bạn sẽ khiến đối phương cảm thấy được tôn trọng chứ không phải bị tổn thương, mối quan hệ giữa cả hai vẫn có thể duy trì khăng khít như mọi khi, và sẽ tiếp tục phát triển lành mạnh lâu dài.

Chu Uyển Tình – Xuân Hoàng

Bài Thơ Lỡ Vận – Tác giả Trần Quốc Bảo  

Bài Thơ Lỡ Vận     

 Tác giả: Trần Quốc Bảo           

Ai người lỡ bước sang ngang,

Còn tôi, lỡ với giang san lời thề

Bây giờ, một dạ hai quê,

Bài thơ lỡ vận, trăm bề đắng cay!

Nghe sông núi gọi từng ngày,

Tuổi già khí lực, tiếc thay chẳng còn.

Cây tùng kia giữa sườn non,

Hiu hiu ngọn gió, tùng còn reo vui.

Nhìn tùng, lòng những bùi ngùi

Ôm lưng bầu rượu, giữa đời lang thang.

Chiều rơi, ngẫu hứng dăm hàng,

Giải buồn thơ thẩn, ngâm tràn cung mây

Quê hương đã chẳng bến này,

Dù trong dù đục, men say xóa nhòa.

Tạm dung nơi đất người ta,

Cuối đường đành lẽ, nhận là quê hương!

Muốn quên cho dứt đoạn trường,

Nhưng hồn, sao vẫn nhất phương sơn hà!

Trải dài mấy chục Xuân qua,

Cái buồn một thoáng  sát na vẫn còn!

Tiếng tùng reo ở đầu non,

Tiếng hờn sông núi, héo hon tâm hồn!

Chưa bình minh đã hoàng hôn,

Bài thơ lỡ vận, viết còn dở dang!

  Trần Quốc Bảo

  Richmond, Virginia

Địa chỉ điện thư của tác giả:

quocbao_30@yahoo.com

From: Truong Le 

Những Món Nợ phải Trả-Đinh lâm Thanh

Những Món Nợ phải Trả

Đinh lâm Thanh

 Đời người, ai cũng phải một lần mang nợ. Không nợ tình, nợ tiền, nợ vợ chồng, nợ cha mẹ, nợ con cái… thì cũng phải nợ với Bạn Bè, Quê Hương và Tổ Quốc. Riêng đối với những Vị một thời mặc áo lính, chắc chắn còn thêm một món nợ nữa : đó là nợ Đồng Đội.

Có thể nói rằng, trong các cấp chỉ huy quân đội cũ, một số nhỏ không còn bận tâm đến những món nợ nầy vì họ đã quên thuộc cấp, là những người lính dưới quyền hy sinh mạng sống, trong mỗi lần giao tranh, để cho họ may mắn sống sót đến ngày hôm nay. Đây là một món nợ phải trả đối với những người biết suy nghĩ, nhất là một số sĩ quan đang định cư nước ngoài. Tôi thấy trong số những người nầy, đôi lúc họ nhẫn tâm quên hẳn quá khứ đau thương của mình với đồng đội trước kia, nhưng lại thích xuất hiện trong nhiều cơ hội để đánh bóng cấp bậc cũng như huy chương.

Trong một lần họp mặt thân mật, có hai Vị không đồng ý với tôi về quan niệm trên. Người thứ nhất là một cựu sĩ quan làm việc ở thủ đô Sàigòn cho rằng, những sĩ quan suốt đời làm việc trong văn phòng Bộ-Nha-Sở hay biệt phái qua các cơ quan dân sự thì sự hy sinh của người lính ngoài chiến trường không liên quan trực tiếp đối với việc thăng quan tiến chức và khen thưởng của họ. Đó là kết quả của công việc, chức vụ đảm nhiệm cũng như thâm niên cộng vụ trong suốt quãng thời gian mặc áo nhà binh. Người thứ hai là một dân sự, chạy trốn cộng sản lúc 20 tuổi, Vị nầy phản đối rằng, ông ta không liên hệ nợ nần gì với những người lính đã chết ! Xin cám ơn việc góp ý nầy, nhưng theo thiển ý của tôi, đây là những quan niệm hẹp hòi và thiếu hiểu biết. Nếu không có những người lính nằm xuống ngoài mặt trận thì lấy ai để bảo vệ cho anh em quân nhân an thân làm việc trong bóng mát hậu phương, cũng như cho gia đình ông dân sự sống sung túc tại thành phố và an toàn thoát ra nước ngoài khi cộng quân vào chiếm Miền Nam ! Như vậy, nếu còn một chút tình và biết suy nghĩ thì Quý Vị nào có cấp bậc càng cao và huy chương đầy ngực thì càng mang nhiều món nợ trực tiếp với những người thương tật suốt đời hoặc đã nằm xuống vĩnh viễn ngoài chiến trận. Ngoài ra, bất cứ gia đình nào, dù là dân sự, chệt hay chợ trời, đem được cả gia tài và bà con dòng họ thoát ra nước ngoài một cách an toàn thì đều mang nợ, trực tiếp hoặc gián tiếp, với những người lính đã bỏ mình để bảo vệ quê hương đồng bào.

Tôi thích đọc hồi ký viết về các trận đánh của những sĩ quan cấp nhỏ, chỉ huy trực tiếp trung đội, đại đội đến tiểu đoàn trong các đơn vị từ nghĩa quân, địa phương quân đến chủ lực quân cũng như các lực lượng tổng trừ bị của QLVNCH. Qua các bài viết đó, tôi đã tìm thấy những hình ảnh đáng ghi nhớ giữa người sĩ quan chỉ huy hành quân và binh sĩ dưới quyền. Họ cùng băng rừng lội suối, vào ra sinh tử và chấp nhận sống chết với nhau. Tôi cũng hình dung được những đắng cay, ngọt bùi, gian khổ mà họ đã chia sẻ cho nhau qua từng viên đạn, vắt cơm, ca nước đến những hành động dũng cảm mà không bao giờ phai nhạt trong tim tôi, là các cấp chỉ huy trực tiếp không ra lệnh một cách vô trách nhiệm, xô quân lính của mình tiến lên để đạt được thắng lợi mà chính những sĩ quan chỉ huy cấp nhỏ nầy đã ôm súng nhảy vào tử địa với các khinh binh, đi hàng đầu nhằm mở đường, phá chốt cũng như tiến chiếm từng mục tiêu một… Ngoài ra tôi cũng nghi nhận tình ‘huynh đệ chi binh’ thắm thiết giữa những người lính chiến : họ đối xử với nhau còn còn nặng hơn cả tình gia đình. Những hình ảnh thân thương nầy, sau gần bốn mươi năm, vẫn còn đậm nét trong tôi qua những lần hành quân gian khổ cũng như những lúc chờ địch dưới giao thông hào, chịu pháo trong hố cá nhân hoặc ôm súng trắng đêm chờ giặc. Chúng ta phải vinh danh các cấp chỉ nhỏ vì họ không ham sống sợ chết, khi ra trận, không bao giờ dùng binh sĩ dưới quyền làm bia đở đạn để giành lấy sự sống và hưởng vinh quang. Cấp chỉ huy nhỏ bé nào cũng hăng hái xung phong lên tuyến đầu, chấp nhận hy sinh bản thân để cùng đồng đội tiến lên một lượt. Hơn nữa, qua những bài viết của những trung đội trưởng, đại đội trưởng cũng như tiểu đoàn trưởng trực tiếp cầm quân, tôi đã tìm thấy tình người một cách trung thực, anh dũng và cảm động. Đây là những sử liệu cần thiết cho hậu thế hơn là những hồi ký dày cộm của các ông tướng thuê mướn người viết nhằm đánh bóng hoặc chạy tội, càng đọc càng bực mình và đôi lúc phải văng tục… Thật vậy, tôi đã thật sự tìm thấy trong các bài hồi ký ngắn của các vị chỉ huy nhỏ những hình ảnh tình người thật lớn chân thật qua những liên hệ đồng đội ‘huynh đệ chi binh’, là một sự ràng buộc vô hình giữa những người cầm súng với nhau mà bất cứ ai chưa phải là lính trận thì không thể nào hiểu và cảm thông được.

Xin mượn bài viết nầy để nhắc những người đã một thời cầm súng về hai món nợ ‘tình nghĩa’ :

Trong nhiều hồi ký của các cấp chỉ huy nhỏ, từ những nhóm Biệt Kích, trung đội nghĩa quân, địa phương quân, trung đội, đại đội, tiểu đoàn tác chiến (Sư Đoàn Bộ Binh) đến các đơn vị đặc biệt Trinh Sát, Công Binh, Pháo Binh thuộc đơn vị Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân cũng như những bài viết về những phi vụ thả dù, tiếp tế, đổ quân, tải thương và cứu đồng đội của các anh em Không Quân…tôi đã thấy những cảnh quan và lính chia nhau từng ca nước bùn, từng vắt cơm nguội, từng miếng khô cháy, từng ngụm đế trắng, từng nửa điếu thuốc đến từng viên đạn một…để chia sẻ đùm bọc và bảo vệ cho nhau. “>Trong các lần hành quân bên cạnh các đơn vị tác chiến tôi đã tận mắt chứng kiến các anh Không Quân quên mình lao xuống đầu giặc để dội bom, đổ quân, tiếp tế, tải thương và cứu bạn, cứu đồng đội tại các mặt trận trong mùa Hè đỏ lửa ở Pleiku-KonTum. Một lời tri ân gởi đến các anh Không Quân, tuy bay bướm ở hậu phương nhưng khi đối điện với súng đạn, họ trở thành những con đại bàng, những anh hùng cứu tinh của những nguời lính bộ binh dưới đất đang cần đến sự yểm trợ của họ.

  1. Nợ ‘huynh đệ chi binh’

Có đi tác chiến rồi mới thấy cái tình sâu đậm và tha thiết giữa những người lính với nhau. Họ bỏ gia đình, vợ con, làng xóm để kết tình kết nghĩa, ăn chung lon (guigot), uống cùng ca (nước), chia nhau điếu thuốc, ngũ chung cùng hố, và nhất là, chấp nhận sống chết cùng một lượt. Đời lính chiến không ai sợ sệt nghĩ đến cái chết cũng như mơ ước được khen thưởng như những Vị chỉ huy cấp cao đang an toàn trong các hầm trú ẩn của Bộ Tư Lệnh ! Cuộc đời người lính trận, trước mặt là kẻ thù, hai bên là đồng đội và sau lưng là xương máu chết chóc đang rình rập từng giây từng phút. Đối với họ, cha mẹ anh em vợ con đều trở thành những cái bóng mờ khi họ trực diện với khói súng, tiếng đạn và kẻ thù. Họ cũng không có thời giờ để nhớ người yêu, thương gia đình, mà niềm mơ ước của họ thật tầm thường và bé nhỏ là mỗi năm được vài ngày phép…

Đọc những tâp thơ của Đại Đội Trưởng Trinh Sát Trạch Gầm, Hồi ký Đại Đội 5 Biệt Cách Nhảy Dù của Mũ Đỏ Út Bạch Lan, Hồi Ký Sĩ Quan Tiền Sát Pháo Binh của Nguyễn Văn Khôi, hồi ký ngày ba mươi tháng tư của Phân Chi Khu Trưỏng Đỗ Văn Thọ (Dương Thượng Trúc viết lại theo lời kể) cũng như những chuyện thật trong đời binh nghiệp của Đại Đội Trưởng Bộ Binh Phạm Tín An Ninh…tôi sống lại với những kỷ niệm chiến trường và đồng đội. Viết đến đây tôi xin phép ngưng lại một phút để tưởng niệm anh Binh Nhì Xí, rất đẹp trai nhưng phải đặt tên Xí (xấu) cho dễ nuôi, là người đã theo sát tôi trong các cuộc hành quân trên các vùng rừng núi Quảng Đức, Buôn Mê Thuột. Nhưng đau đớn thay Anh đã đền nợ nuớc sau khi tôi chuyển qua đơn vị Tiếp Vận. Một đêm hành quân theo lối ‘mèo chuột vờn nhau’ với một đơn vị cộng sản trong vùng núi tỉnh Quảng Đức. Đến tối, đơn vị tôi âm thầm lên đỉnh đồi và dò dẫm từng bước tìm thế ngủ ngồi qua đêm. Lệnh phải hoàn toàn bất động, cấm hút thuốc, cấm nấu nướng, cấm căn võng và cấm luôn cả việc đào hố cá nhân vì đơn vị tôi đang ở thế cài răng lược với địch. Một trong bốn người lính gác ca đầu của trung đội nghe một tên việt cộng nào đó, cách chỗ anh ta chừng vài thước, lên tiếng hỏi mượn ống thuốc lào với một tên dép râu khác. Anh ta bò đến chỗ tôi để báo động ! Thập phần nguy hiểm vì mưa quá nặng hạt, trời tối đen như mực, ngữa bàn tay không thấy, nếu xảy ra đụng độ cận chiến thì anh em trong trung đội chắc chắn sẽ vật lộn, đâm chém và bắn nhầm nhau…Vậy mà anh Xí vẫn bình tĩnh nói nhỏ vào tai người lính gác, để cho ông thầy uống xong ca soupe. Tôi thật sự mất bình tĩnh, cầm ống liên hợp báo nhỏ qua Đại Đội đang đóng đồi bên kia. Xong tôi hỏi vào tai Xí, ‘gì vậy’ ? Anh ta trả lời như không có chuyện gì xảy ra…’ thì Đ.M. ông thầy ! Nước lạnh pha với gói bột nêm mì gói chứ có gì nữa ! Uống đi cho đở đói, ông thầy ! Đóng quân chung với quân lính cộng sản Bắc Việt trên một ngọn đồi nhỏ thì cái chết đang sẵn sàng trước mặt, nhưng ca nước soupe đối với tôi, tự nhiên nó ấm và ngon ngọt một cách lạ lùng đồng thời giúp tôi can đảm. Bây giờ mỗi khi nhớ lại chuyện cũ, tôi vẫn hình dung rõ ràng cái tình cảm quá sâu đậm giữa thầy với trò, giữa huynh với đệ. Không biết cái ca nước soupe bột ngọt hay hai chữ Đ.M. của người bạn chiến sĩ miền Nam mà, cho đến giờ nầy, mỗi đêm trăn trở tôi vẫn nhớ đến Anh Xí đẹp trai và dễ thương của tôi ngày nào.

  1. Nợ ‘xanh cỏ đỏ ngực’

Sau mỗi trận chiến, những vị sĩ quan chỉ huy hành quân ngồi ở Bộ Tư Lệnh, tùy theo kết quả thu được, không ít thì nhiều cũng được khen thưởng.

Nhưng họ quên ngay những người vừa nằm xuống để tổ chức mừng chiến thắng và chờ hoa nở, chờ sao mọc hay đợi những Anh Dũng Bội Tinh… Có thể xem đây là nhờ xương máu binh sĩ và công trạng của các sĩ quan cấp nhỏ ngoài trận địa để mai nở thêm trên vai và sao mọc thêm ở cổ. Trước kia, các vị nầy thường quên những người vừa nằm xuống sau cơn men chiến thắng, và ngày nay, nơi vùng trời tự do không biết có ai dành vài ba phút tính sổ cuộc đời ra thành những con số để thấy nợ của mình. Cứ một mai nở thêm trên vai, một sao nở thêm trên cổ áo là có bao nhiêu người đã bị thương tật suốt đời, bao nhiêu con côi quả phụ mất cha mất chồng cũng như bao nhiêu người lính nằm xuống cho cuộc đời binh nghiệp của mình ? Trường hợp nầy tôi gọi là ‘nợ xanh cỏ đỏ ngực’. Đây là những món nợ của những quan còn sống sót sau chuộc chiến, theo lẽ công bằng thì họ phải trả món nợ nầy dưới một hình thức nào đó đối với lính của họ !

  1. Nợ đã không trả mà còn gây thêm tủi nhục cho những người đã nằm xuống :

Tổ chức giúp anh em Thương Phế Binh tại Việt Nam, gây quỹ trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa hay các hình thức khác nhằm giúp đở vật lẫn chất tinh thần cho những người lính bất hạnh còn sống hay vong linh những người nằm xuống là những việc làm phải được vinh danh và yểm trợ. Nhưng buồn thay, một vài người đã lợi dụng sự đau khổ, xương máu và vong linh của những người đã bỏ mình vì tổ quốc để trục lợi vật chất hay mưu đồ chính trị cá nhân, là một điều cần phải lên án. Tổ chức thu lem nhem, gia tăng chi phí ma thì tiền cứu trợ còn lại chẳng bao nhiêu. Có khi cả vợ chồng đều nhập nhằng dùng tiền gây quỹ để mua vé may bay đi Việt Nam. Tiền còn lại nếu chia ra cho một ít thương phế binh, mỗi người cũng được hơn chục dollars, nhưng lại yêu cầu chụp hình để quảng cáo là một việc làm thất đức, ăn trên đầu người sống. Trường hợp gây quỹ trùng tu Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà, số tiền lớn thu được từ trước đến nay đã chạy vào đâu ? Và bây giờ họ lại bán cái Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa cho việt cộng để chúng nó xóa hẳn di tích lịch sử VNCH và nơi đây biến thành ‘nghĩa trang nhân dân’. Nghĩa trang nhân dân là cái gì ? Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa không thể biến dạng thành ‘nghĩa trang nhân dân’ để các TỬ SĨ ANH HÙNG MIỀN NAM bị nằm chung và đồng hóa với bọn nằm vùng, các bà già trầu nuôi việt cộng cũng như những thành phần du đảng, thành phần theo cộng đánh phá Việt Nam Cộng Hòa trước kia !

  1. Cách nào để trả nợ ?

Thực ra món nợ vật chất mà Quý Vị đã đóng góp chưa xứng đáng với xương máu đối đồng đội và thuộc cấp đã nằm xuống. Chỉ còn món nợ tinh thần mới có thể an ủi những người đã hy sinh xương máu, mà theo tôi, là phải tiếp tục con đường tranh đấu chống cộng sản mà đồng đội thuộc cấp đã chết cho cho Quý Vị, cho chính nghĩa quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ cũng như hai chữ tự do…Vậy cứ suy nghĩ và hãy dừng tay ngay những hành động có phương hại đến công cuộc chống cộng sản của toàn dân. Đừng vì tiền bạc và cái danh hão để đòi bắt tay hòa giải hòa hợp với cộng sản, đánh phá cộng đồng và nhất là làm tủi nhục những vong hồn những người đã nằm xuống để cho Quý Vị được sống sót đến ngày hôm nay.

Một điều quan trọng hơn nữa là hạn chế mặc quân phục, mang cấp bậc và huy chương cao quý của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến những nơi không xứng đáng như những buổi tiệc có tính cách tư nhân hoặc dân sự mà mục đích là tổ chức ăn uống và nhảy đầm. Điều nầy chắc chắn làm đau lòng những vong linh tử sĩ đã chết, vì chính cấp bậc và huy chương mà Quý Vị đang mang trên người đều do xương máu của họ đem đến cho Quý Vị !

Để chấm dứt bài viết, xin phép lặp lại một lần nữa để hỏi các cấp Chỉ Huy lớn. Có bao giờ Quý Vị thử làm bài tính cộng về những người lính cầm súng đã ‘xanh cỏ’ để Qúy Vị ‘đỏ ngực’ không ? Mỗi lần ‘sao’ mọc thêm trên cổ áo, ‘hoa mai’ nở thêm trên vai hay các Anh Dũng Bội Tinh đồng, bạc, vàng, nhành dương liễu đỏ thêm trên ngực…thì đã có thêm bao nhiêu người lính dưới quyền đã chết vì mình, bao nhiêu gia đình Tử Sĩ mẹ góa con côi mất cha mất chồng ? Nếu tính ra được con số thì xin Quý Vị hãy làm một cái gì để gọi là trả món Nợ Đồng Đội nầy ?

Đinh lâm Thanh

Share Quê Mẹ

From: TU-PHUNG

ĐI BẤT CỨ NƠI ĐÂU- Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

ĐI BẤT CỨ NƠI ĐÂU

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thứ Sáu Tuần XXIV – Mùa Thường Niên

“Cùng đi với Ngài, có Nhóm Mười Hai và mấy phụ nữ đã được Ngài trừ quỷ và chữa lành”.

David Livingstone, nhà truyền giáo tiên phong đến Châu Phi, đã đi bộ hơn 46.000km. Là một bác sĩ, nhà thám hiểm, người chống chế độ nô lệ, người tử đạo; David nêu gương một cuộc sống bần hàn! David chết, nhật ký của ông ghi, “Lạy Chúa, hãy đặt trên con bất cứ gánh nặng nào, chỉ cần Chúa nâng đỡ con! Hãy cắt đứt khỏi con bất cứ ràng buộc nào, chỉ cần ràng buộc con với sứ vụ và trái tim của Chúa! Hãy gửi con ‘đi bất cứ nơi đâu’, chỉ cần Chúa đi với con!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Hãy gửi con ‘đi bất cứ nơi đâu’, chỉ cần Chúa đi với con!”. Đó là câu nói của một người được Chúa Giêsu chạm đến! Một khi để Chúa Giêsu chạm vào cuộc sống, chúng ta sẽ ‘đi bất cứ nơi đâu’ Ngài đi, làm bất cứ điều gì Ngài muốn! Tin Mừng hôm nay cho biết, Chúa Giêsu không lên đường thi hành sứ vụ một mình; đi theo Ngài, còn có Nhóm Mười Hai và mấy phụ nữ đã được chữa lành. Câu nói gọn ghẽ này tiết lộ nhiều điều!

Trước hết, ước muốn đi theo Chúa Giêsu không chỉ là một cảm xúc; chắc chắn sẽ có những cảm xúc liên quan. Nhưng đúng hơn, đó là một cảm nhận biết ơn đáng kinh ngạc và kết quả là, một mối dây tình cảm sâu sắc triển nở; bởi lẽ, quan hệ đã trở nên sâu sắc hơn. Đó là một tình yêu mới được tạo ra bởi quà tặng ân sủng và cứu rỗi. Nghĩa là những người theo Chúa Giêsu trải nghiệm sự tự do thoát khỏi tội lỗi ở một mức độ cao hơn so với trải nghiệm trước đó. Ân sủng đã biến đổi cuộc sống của họ; và kết quả là, họ sẵn sàng và sẵn lòng biến Chúa Giêsu thành trung tâm đời mình. Họ sẽ theo Ngài ‘đi bất cứ nơi đâu’, làm bất cứ điều gì Ngài muốn!

Thứ đến, nhờ ân sủng và lòng nhiệt thành này, các môn đệ Giêsu không chỉ loan báo Tin Mừng và thiết lập Nước Trời bằng lời nói và việc làm, bằng rao giảng và gương sáng; nhưng họ còn làm bất cứ điều gì Thiên Chúa muốn! Họ hỗ trợ việc loan báo Tin Mừng bằng cách cung cấp vật chất và các phương tiện cho đại cuộc; ở đây là những phụ nữ khá giả mà Tin Mừng cho biết. Hai vai trò này bổ sung cho nhau và cùng làm nên công cuộc truyền giáo của Giáo Hội.

Sau cùng, nhóm phụ nữ Galilê này sẽ được Luca nhắc đến khi từ đỉnh đồi Canvê, họ theo dõi tất cả những gì diễn ra chung quanh cái chết của Thầy mình. Họ thấy ngôi mộ và cách thi hài Ngài được đặt; sau đó, họ đến mồ ngày thứ nhất trong tuần; Maria Mađalêna và Gioanna được nêu đích danh với câu chuyện ly kỳ khi thiên thần hỏi họ, tại sao lại tìm người sống giữa kẻ chết. Họ trở nên mẫu mực về sự cởi mở để đón nhận ân sủng từ Chúa Giêsu, về sự sẵn sàng cho đi một cách hào phóng những gì đã nhận được và về lòng yêu mến Đấng họ đã đi theo!

Anh Chị em,

“Cùng đi với Ngài”. Các môn đệ và các phụ nữ đã đi theo Chúa Giêsu ‘bất cứ nơi đâu’, vì họ đã được Ngài chạm đến; đồng thời, nhận ra Ngài là Đấng sẵn sàng ‘đi bất cứ nơi đâu’, làm bất cứ điều gì Chúa Cha muốn. Họ rao giảng Tin Mừng theo cách thức của mình; các tông đồ giảng dạy, các phụ nữ lấy của cải để cung cấp những gì cần cho Thầy và trò. Cũng thế, mỗi người chúng ta được Chúa gọi cộng tác vào chương trình của Ngài theo cách rất riêng, và ai nấy nên thánh theo cách rất riêng ấy. Vấn đề là chúng ta cần cộng tác với ơn Chúa để chu toàn bổn phận và trách nhiệm mình. Chính Thánh Thần đang ở trong chúng ta, Ngài sẽ giúp sức để trước mỗi việc, chúng ta can đảm thưa lên với Chúa, “Xin hãy dùng con như khí cụ bình an của Chúa!”; “Con sẵn sàng ‘đi bất cứ nơi đâu’, làm bất cứ điều gì Chúa muốn!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chạm vào con, biến đổi con; giúp con nhận ra ân sủng và đầu phục Chúa với lòng biết ơn sâu sắc, hầu con có thể ‘đi bất cứ nơi đâu’, làm bất cứ điều gì Chúa muốn!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

HÃY THONG THẢ SỐNG -TRẦN MỘNG TÚ

HÃY THONG THẢ SỐNG -TRẦN MỘNG TÚ

Khi đến tuổi nào đó, hãy chuẩn bị, dọn sẵn con đường  đi cho mình, ai rồi cũng sẽ tới đích, chỉ có người trước người sau thôi …thong thả mà sống để hưởng trọn vẹn những gì mình đang có

   HÃY THONG THẢ SỐNG
          TRẦN MỘNG TÚ

Suy ngẫm.

“Thượng Đế khi đem mình vào đời, có hỏi ý kiến mình đâu. Nên chắc chắn là khi Ngài gọi mình đi cũng chẳng cần thông báo trước.”

Trần Mộng Tú

Nhiều khi chúng ta sống mà quên bẵng đi là mình có thể chết bất cứ lúc nào. Ta hối hả sống, vui, buồn, khỏe, yếu, ta cứ lướt qua rồi không ngoái đầu lại nhìn chuỗi ngày tháng ta đã tiêu hao của một đời người.

Cho đến khi có một người bạn vừa ngã bệnh, bệnh nặng, không biết sẽ mất đi lúc nào, lúc đó ta mới xa, gần, hốt hoảng gọi nhau.

Tưởng như chưa từng có người bạn nào “Chết” bao giờ…

Hay ta có một người thân trong gia đình, đang rất khỏe vừa báo tin bị bệnh hiểm nghèo. Gia đình, họ hàng cuống lên, sợ hãi như chưa nghe đến ai nói về cái chết bao giờ, chưa chứng kiến cảnh vào bệnh viện, cảnh tang ma bao giờ.

Cả hai người trên có thể đã ngoài 70 tuổi. Lạ thật ! Cái tuổi nếu có chết thì cũng đã sống khá lâu trên đời rồi, sao những người chung quanh còn hoảng hốt thế. Hóa ra người ta, không ai muốn nghe đến chữ “Chết”, dù chữ đó đến với mình hay với người thân của mình.

Hình như không ai để ý đến mỗi sáng chúng ta thức dậy, nhìn thấy mặt trời mọc (nếu còn để ý đến mặt trời mọc) là chúng ta đã tiêu dùng cái ngày hôm qua của đời sống mình . Có người vì công việc làm ăn, cả tuần mới có thời giờ ngửng mặt nhìn lên mặt trời.

Buổi sáng còn tối đất đã hấp tấp ra đi, buổi chiều vội vã trở về lúc thành phố đã lên đèn, làm gì nhìn thấy mặt trời. Nhưng mặt trời vẫn nhìn thấy họ, vẫn đếm mỗi ngày trong đời họ. Họ tiêu mất cái vốn thời gian của mình lúc nào không biết.

Tiêu dần dần vào cái vốn Trời cho mà đâu có hay. Rồi một hôm nào đó bỗng nhìn kỹ trong gương, thấy mình trắng tóc.

Hốt hoảng, tiếc thời gian quá! Khi nghe tin những người bạn bằng tuổi mình, bệnh tật đến, từ từ theo nhau rơi xuống nhanh như mặt trời rơi xuống nước, họ vừa thương tiếc bạn vừa nghĩ đến phiên mình.

Thật ra, nếu chúng ta bình tâm nghĩ lại một chút, sẽ thấy “Cái chết” nó cũng đến tự nhiên như “Cái sống”.

Đơn giản, mình phải hiểu giữa sống và chết là một sự liên hệ mật thiết, vì lúc nào cái chết cũng đi song song từng ngày với cái sống. Dẫu biết rằng, đôi khi có những cái chết đến quá sớm, nhưng ta cũng đâu có quyền từ khước chết.

Tôi biết có người mẹ trẻ, con của bạn thân tôi. Chị bị ung thư, chị cầu xin Thượng Đế cho sống đến khi đứa con duy nhất của mình vào Đại Học.

Chị không cưỡng lại cái chết, chị chỉ mặc cả với Thượng Đế về thời gian vì con chị lúc đó mới lên 3 tuổi. Thượng Đế đã nhận lời chị. Ngày con chị tốt nghiệp Trung Học, chị ngồi xe lăn đi dự lễ ra trường của con và tuần lễ sau chị qua đời.

Trong suốt mười mấy năm trị bệnh, chị vẫn làm đủ mọi việc: chị đội tóc giả đi làm, đến sở đều đặn, lấy ngày nghỉ hè và ngày nghỉ bệnh đi trị liệu.

Những bạn làm chung không ai biết chị bị ung thư, ngay cả xếp của chị. Khi họ biết ra, thì là lúc chị không đứng được trên đôi chân mình nữa. Chị sửa soạn từng ngày cho cái chết với nụ cười trên môi. Vẫn vừa đi làm, vừa cơm nước cho chồng con, ân cần săn sóc cha mẹ, hiền hòa giúp đỡ anh em trong nhà, chị mang niềm tin đến cho tất cả những người thân yêu của mình.

Sau ba năm chị mất, cậu con trai mỗi năm vẫn nhận được một tấm thiệp sinh nhật mẹ viết cho mình (Mẹ đã nhờ qua người dì gửi hộ).

Hôm sinh nhật 21 tuổi của cậu cũng vào ngày giỗ năm thứ ba của Mẹ, cậu nhận được tấm thiệp mừng sinh nhật mình, với dòng chữ nguệch ngoạc, chị viết cho con: “Mừng sinh nhật thứ 21 của con. Hãy bước vui trong đời sống và nhớ rằng mẹ luôn luôn bên cạnh con. “

Tôi đọc những dòng chữ mà ứa nước mắt. Tôi nghĩ đến chị với tất cả lòng cảm phục. Chị là người biết sống trong nỗi chết. Khi không thắng được bệnh tật, chị biết hòa giải với nó để sống chậm lại với nó từng ngày cho con mình. Chắc “Cái chết” cũng nhân nhượng với chị, thông cảm với chị như một người bạn.

Một chị bạn kể cho nghe về một bà bạn khác. Bà này mới ngoài sáu mươi, nhanh nhẹn, khỏe mạnh và tính nết vui vẻ, yêu đời. Nhưng khi nào đi ra khỏi nhà bà cũng mang theo một bộ quần áo đặc biệt, đủ cả giầy vớ bỏ vào một cái túi nhỏ riêng trong va-li.

Hỏi bà, sao lại để bộ này ra riêng một gói vậy, bà thản nhiên nói:“Nếu tôi chết bất thình lình ở đâu, tôi có sẵn quần áo liệm, không phiền đến ai phải lo cho mình.”

Bà mang theo như thế lâu lắm rồi, tôi không biết có khi nào bà ngắm nghía mãi, thấy chưa dùng tới, bà lại đổi một bộ mới khác cho ưng ý không?

Giống như người phụ nữ sắp đi dự tiệc hay cầm lên, để xuống, thay đổi áo quần sao cho đẹp. Đi vào cái chết cũng có thể coi như đi dự một đám tiệc.

Tôi nghĩ đây là một người khôn ngoan, sẵn sàng cho cái chết mà bà biết nó sẽ đến bất cứ lúc nào. Bà đón nhận cái chết tự nhiên, giản dị như đi dự tiệc, hay một chuyến đi xa, đi gần, nào đó của mình. Nhưng không phải ai cũng nghĩ về cái chết giản dị như vậy. Phần đông muốn được sống lâu, nên bao giờ gặp nhau cũng thích chúc cho nhau tuổi thọ.

Thích hỏi nhau ăn gì, uống gì cho trẻ trung mãi. Loài người nói chung, càng ngày càng thích sống hơn chết.

Họ tìm kiếm đủ mọi phương thuốc để kéo dài tuổi thọ. Người ta ức đoán, trong một tương lai rất gần, loài người có thể sống đến 120 tuổi dễ dàng với những môn thuốc ngăn ngừa bệnh tật và bồi dưỡng sức khỏe.

Rồi người ta sẽ còn tạo ra những bộ phận mới của nội tạng để thay thế cho những bộ phận gốc bị nhiễm bệnh. Gan, ruột, bao tử v.v, sẽ được thay như ta thay những phần máy móc của một cái xe cũ. Chúng ta, rồi sẽ sống chen chúc nhau trên mặt đất này.

Chỉ tiếc một điều là song song với việc khám phá ra thuốc trường thọ người ta cũng phải phát minh ra những người máy (robot) để chăm sóc những người già này, vì con cháu quá bận (chắc đang chúi đầu tìm thuốc trường sinh) không ai có thời giờ chăm sóc cha mẹ già.

Theo tôi, ngắm nhìn hình ảnh một cụ ông hay một cụ bà lưng còng, tóc bạc, đang cô đơn ngồi trong một căn buồng trống vắng, được một người máy đút cơm vào miệng, thật khó mà cảm động, đôi khi còn cho ta cái cảm giác tủi thân nữa.

Nhưng sống như vậy mà có người vẫn thích sống.

Một người đàn ông ngoài bẩy mươi, bị bệnh tim nặng, đang nằm trong phòng đặc biệt (ICU) lúc mơ màng tỉnh dậy, nhắn với các con cháu là khi nào vào thăm không ai được mặc áo mầu đen. Ông kiêng cữ mầu của thần chết. Ông quên rằng thần chết, đôi khi, có thể đến với chiếc áo mầu hồng. Thật ra, chính nhờ “cái chết” cho ta nhận biết là “cái sống” đẹp hơn và có giá trị hơn, dù có người sống rất cơ cực vẫn thấy cuộc đời là đẹp.

Những bậc thiên tài, những nhà văn lớn đã tự tìm về cái chết khi họ bắt đầu nhìn thấy cái vô vị trong đời sống như nhà văn Ernest Hemingway, Yasunari Kawabata và họa sĩ Vincent van Gogh, v.v… Chắc họ không muốn sống vì thấy mình không còn khả năng hưởng hết vẻ đẹp của “cái sống” nữa.

Họ là một vài người trong số nhỏ trên mặt đất này sau khi chết để lại tên tuổi trên những trang sử, lưu lại hậu thế, còn phần đông nhân loại, sau khi chết một thời gian, không để lại một di tích nào Con cháu có thờ cúng được một hai thế hệ, sau đó tên tuổi mờ dần, mất hẳn theo ngày tháng, vì chính những kẻ thờ phụng đó lại tiếp theo nằm xuống cùng cát bụi.

Ðời sống con người chóng qua như cỏ, như bông hoa nở trong cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích.(Thánh Vịnh)

Thượng Đế khi đem mình vào đời, có hỏi ý kiến mình đâu. Nên chắc chắn là khi Ngài gọi mình đi cũng chẳng cần thông báo trước. Chúng ta cứ thong thả sống từng ngày, khi nào chết thì chết, mặt trời mọc rồi mặt trời lặn, bông hoa nở rồi bông hoa tàn, thế thôi.

Tại sao ta phải cay cú với cái chết? Hãy dùng trí tưởng tượng của mình, thử hình dung ra một thế giới không có cái chết(*)

Chắc lúc đó chúng ta sẽ không còn không khí mà thở chứ đừng nghĩ đến có một phiến đất cho bàn chân đứng.

Trần Mộng Tú

From: LUCIE 1937

Vì sao đa số người Anh vẫn muốn duy trì chế độ quân chủ?

Vì sao đa số người Anh vẫn muốn duy trì chế độ quân chủ?

Song Chi

20-9-2022

Tang lễ của Nữ hoàng Elizabeth II hôm nay cho thấy lịch sử lâu đời của Vương quốc Anh và chế độ quân chủ.

Nữ hoàng qua đời ở tuổi 96 tại nhà riêng của bà, Lâu đài Balmoral, ở Aberdeenshire, Scotland. Bà đã sống một cuộc sống lâu dài, luôn phục vụ cho đất nước của mình và cho Khối thịnh vượng chung. Tại Balmoral, chỉ hai ngày trước khi băng hà, bà chấp nhận sự từ chức của Thủ tướng Boris Johnson và bổ nhiệm người tiếp theo, Lizz Truss. Truss là Thủ tướng thứ 15 dưới triều đại của Nữ hoàng, người đầu tiên là Winston Churchill. Hàng tuần, bà tổ chức một buổi tiếp kiến với Thủ tướng, thể hiện sự quan tâm đến công việc của chính phủ, của đất nước.

Những địa điểm nơi diễn ra tang lễ, đều được xây dựng từ lâu đời và chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử của vương quốc Anh. Quan tài của Nữ hoàng đầu tiên được đưa đến Cung điện Holyroodhouse ở Edinburgh, dinh thự chính thức của chế độ quân chủ Anh ở Scotland.

Từ Edinburgh, quan tài của Nữ hoàng đã được đưa đến London. Linh cữu được quàn trong Hội trường Westminster, bên cạnh Nhà Quốc hội, để công chúng đến viếng. Hội trường Westminster được xây dựng vào năm 1097 bởi Vua William II, con trai của William the Conqueror. Ngoài việc được sử dụng làm nơi quàn linh cữu các thành viên của Hoàng gia và một vài chính khách quan trọng (trong đó Winston Churchill), tòa nhà cũng được sử dụng như một tòa án, bao gồm cả việc luận tội Vua Charles I và xét xử Guy Fawkes, người định làm nổ tung Nhà Quốc hội và Vua James I.

Lễ tang diễn ra tại Tu viện Westminster. Một nhà thờ được xây dựng lần đầu tiên ở đó vào khoảng năm 1080, nhưng tòa nhà hiện tại được khởi công vào năm 1245. Được chôn cất trong tu viện là 3.300 người Anh lỗi lạc, bao gồm ít nhất 16 quốc vương, tám thủ tướng, nhà thơ, diễn viên, nhà khoa học và nhiều người khác.

Lễ tang có sự tham dự của hoàng gia, các nguyên thủ quốc gia và những người đứng đầu chính phủ từ khắp nơi trên thế giới. Trong số các nhà lãnh đạo nước ngoài có những người đứng đầu chính phủ của các vương quốc Khối thịnh vượng chung (Commonwealth realms), thuộc địa cũ của Đế quốc Anh nơi Nữ hoàng vẫn là nguyên thủ quốc gia, và nguyên thủ quốc gia của các nước thuộc Khối thịnh vượng chung (Commonwealth countries), nay đã trở thành các nước cộng hòa.

Sau đó, quan tài của Nữ hoàng được đưa đến lâu đài Windsor, nơi ở của hoàng gia ở phía tây London. Lâu đài được khởi công bởi William the Conqueror sau Cuộc chinh phạt Norman của Anh vào năm 1066. Tại lâu đài, một nghi lễ được tổ chức trong Nhà nguyện St George (được xây dựng vào năm 1348), nơi quan tài của bà được hạ xuống hầm bên dưới nhà thờ. Nơi an nghỉ cuối cùng của Nữ hoàng sẽ là trong nhà nguyện tưởng niệm Vua George VI, bên cạnh cha của Nữ hoàng (George VI), mẹ, em gái và người chồng yêu dấu là Vương tế Philip, Công tước xứ Edinburgh. Nhiều quốc vương và hoàng gia khác được chôn cất trong nhà nguyện (bao gồm Henry VIII, Charles I, George III, George IV, Edward VII, George V).

Tất cả những điều này cho thấy rằng Nữ hoàng, cũng như tất cả mọi người, là một phần của lịch sử lâu dài và đa dạng, một sự tiếp nối lâu dài của sự sống quý giá trên hành tinh này. Hầu hết chúng ta sẽ không đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử, như Nữ hoàng, nhưng tất cả chúng ta vẫn là những sợi dây trong tấm thảm lớn của cuộc sống.

Một sự kiện xảy ra dưới triều đại của George III, tất cả thu nhập từ Crown Estates (trừ Công quốc Cornwall), đất đai và tài sản thuộc về Quốc vương (nhưng không phải tài sản cá nhân của Vua hoặc Hoàng hậu), đều do chính phủ nắm giữ. Đổi lại, chính phủ trả lại một số tiền cho George III để chi trả cho chế độ quân chủ và hoàng gia. Sự sắp xếp này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, được Nữ hoàng cải tổ lại. Thu nhập từ toàn bộ đất đai, bất động sản đó, tính ra chế độ quân chủ Anh trả nhiều tiền hơn cho chính phủ so với chi phí để điều hành các hộ gia đình hoàng gia, hoàng gia không phải sống bằng tiền đóng thuế của người dân như nhiều người lầm tưởng.

Nữ hoàng là Người bảo trợ của hơn 600 tổ chức và hội từ thiện lớn nhỏ, ví dụ như tổ chức từ thiện lớn Nghiên cứu Ung thư của Vương quốc Anh và Hội Chữ thập đỏ Anh. Sự hỗ trợ và bảo trợ của bà đã giúp các tổ chức này gây quỹ (ước tính hơn 1,4 tỷ bảng Anh trong thời gian bà trị vì) và tiếp thêm tinh thần cho các tình nguyện viên và nhân viên của họ. Bà đã tham dự hàng trăm sự kiện mỗi năm để hỗ trợ các tổ chức này, cùng với hoạt động ngoại giao trong các chuyến viếng thăm các nước, chiêu đãi các nguyên thủ nước ngoài và những người đứng đầu chính phủ ở Vương quốc Anh. Khi còn sống, khối lượng công việc mà Vương tế Philip đảm nhận còn nhiều hơn, ông bảo trợ cho khoảng 800 tổ chức, đặc biệt tập trung vào môi trường, công nghiệp, thể thao và giáo dục, trong đó có việc sáng lập và là Chủ tịch của Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới (World Wildlife Fund (WWF), thành lập Học bổng Kỹ thuật, sau này là Học viện Kỹ thuật Hoàng gia (Fellowship of Engineering, Royal Academy of Engineering)…

Các thành viên chịu trách nhiệm làm những công việc của Hoàng gia khác cũng vậy, họ cũng tham dự hàng trăm sự kiện mỗi năm, họ không ngồi không một chỗ cả ngày không làm gì cả như nhiều người lầm tưởng.

Hoa Kỳ tự hào về sự tách biệt giữa nhà thờ và nhà nước. Tại Vương quốc Anh, Quốc vương là người đứng đầu Giáo hội Anh và Nữ hoàng là một tín đồ Cơ đốc sùng đạo, cũng như Vua Charles III. Phần lớn ý thức về bổn phận của họ đến từ đức tin Cơ đốc. Thay vào đó, ở Anh, có sự tách biệt giữa chính trị và đời sống công dân. Các chính trị gia đến rồi đi. Nữ hoàng luôn ở đó, là sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại, gắn kết mọi người. Với các chính trị gia, tất cả mọi lời nói, việc làm của họ trước hết phải thỏa mãn người dân ngay nhiệm kỳ này, thế hệ này, đồng thời phải đặt quyền lợi đảng của họ, những người bỏ phiếu bầu cho họ lên trên và không bao giờ có thể có sự hài lòng của toàn bộ người dân đối với một Tổng thống hay Thủ tướng. Vì vậy luôn luôn có sự chia rẽ, cứ nhìn Hoa Kỳ chẳng hạn.

Còn một chế độ quân chủ kiểu như Vương quốc Anh với Nữ hoàng hay Vua ở bên ngoài chính trị, bên trên chính trị, với tầm nhìn xa, cao hơn, cho một bức tranh lớn hơn.

Nữ hoàng hay Nhà Vua ở Anh hoàn toàn không can thiệp vào công việc chính trị. Quyền lực của họ là một thứ quyền lực mềm, dựa trên uy tín, hình ảnh, tư cách, ý thức về bổn phận, trách nhiệm của họ. Nếu làm tốt công việc và giữ gìn tốt hình ảnh, Quốc vương sẽ đại diện cho một lý tưởng và có sức mạnh truyền cảm hứng cho mọi người nỗ lực hết mình, cống hiến thời gian, công sức và nguồn lực cho những mục đích lâu dài, và đoàn kết mọi người. Và Nữ hoàng đã thể hiện điều đó trong suốt 70 năm trị vì của mình.

Tất nhiên sẽ khó khăn hơn nhiều để duy trì chế độ quân chủ, khi thiếu vắng một Nữ hoàng Elizabeth luôn sáng suốt, điềm tĩnh, đáng tin cậy và vững vàng. Tân vương Charles III chắc chắn hiểu rõ điều này.

Không có hệ thống nào tỏ ra hiệu quả như một bức tường thành chống lại chế độ chuyên chế. Hoa Kỳ có các giải pháp – phân chia quyền lực giữa các nhánh tư pháp, lập pháp và hành pháp, nhưng có lẽ là không đủ.

Mỗi quốc gia đều cần một người gánh vác gánh nặng biểu tượng của nhà nước. Nếu người đó không phải là quân chủ, được thiết lập rõ ràng để quản lý vai trò đó, trách nhiệm, và sự cám dỗ, có xu hướng rơi vào người đứng đầu nhà nước, người đứng đầu cơ quan hành pháp. Tại sao đó lại là một vấn đề? Chẳng hạn, trong chế độ Tổng thống, với quyền lực tập trung quá nhiều vào Tổng thống, rất có nguy cơ trở thành độc tài.

Hệ thống quân chủ thực hiện một mục đích tâm lý/tinh thần và xã hội quan trọng. Nó cũng có tiện ích thực tế to lớn, về mặt văn hóa – và kinh tế. Ai có thể phủ nhận sức hút to lớn của các truyền thống của Vương quốc Anh, ví dụ, đối với thương mại, du lịch?

Và cuối cùng, ý thức về lịch sử, sự trường tồn, về truyền thống phát triển, về sự phục vụ và cống hiến, là một phần của điều gì đó vĩ đại hơn, đó là lý do tại sao hơn quá nửa người dân Anh vẫn tiếp tục ủng hộ và tôn trọng chế độ quân chủ của họ.

Còn nếu một ngày nào đó đa số người Anh cảm thấy chế độ quân chủ không còn có ích lợi gì nữa, thì họ cũng sẽ nhẹ nhàng dứt bỏ thôi.

KHÔNG THỂ GIÁP MẶT-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

KHÔNG THỂ GIÁP MẶT

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Họ không thể giáp mặt Ngài, vì dân chúng quá đông.”

Một nhà tu đức nói, “Ngài là Vua các vua, chói lọi vinh quang, Chúa vũ trụ vô tận, huyền ảo; toàn tri, toàn năng, toàn trị; thánh khiết không thể tả, không thể chạm tới, không thể giáp mặt, không thể đổi thay…  Ấy thế, Ngài được bao bọc trong thân xác một con người thấp hèn, sinh ra như một con cái Giuđa bị khinh dể, trong một hang lừa bẩn thỉu, từ lòng một phụ nữ giản dị và không phô trương. Đấng ‘không thể giáp mặt’ nên rốt hèn, để mọi người ‘có thể giáp mặt!’”

Kính thưa Anh Chị em,

“Đấng ‘không thể giáp mặt’ nên rốt hèn, để mọi người ‘có thể giáp mặt!’” Ngày xưa cũng như ngày nay, không ít người trong nhân loại khát khao giáp mặt Chúa Giêsu, một con người rất dễ gặp trên mọi nẻo đường cuộc sống của mỗi người; thế nhưng, Tin Mừng hôm nay cho thấy một điều xem ra ngược lại.  Nhiều lúc, gặp Chúa Giêsu không phải luôn luôn dễ!  Luca cho biết, “Mẹ và anh em Ngài đến tìm Ngài, nhưng họ ‘không thể giáp mặt’ Ngài, vì dân chúng quá đông.”

Mỗi người có lý do riêng của mình để tìm đến Chúa Giêsu!  Một số người cần được chữa lành, như Bartimê, anh mù thành Giêricô, la hét cho đến khi được Ngài xót thương; một số vì tò mò, như Giakêu, người đã leo lên cây để xem cho được Ngài; một số muốn nghe Ngài, như đám đông chen lấn bên hồ Gênêzareth; một số muốn chăm sóc Ngài, như Mẹ Maria, chị em Matta Maria.  Bạn và tôi, chúng ta có muốn gặp Chúa Giêsu không; tại sao tôi muốn gặp Ngài; điều gì đang ngăn cản khiến tôi ‘không thể giáp mặt’ Ngài?

Rõ ràng, nhiều lúc, thật không dễ dàng để chinh phục Chúa Giêsu; thậm chí cũng không dễ gặp Ngài.  Mặc dù chúng ta có thể tìm kiếm Ngài với ý định thuần khiết nhất, nhưng không phải lúc nào cũng toại nguyện.  Chắc chắn sẽ có những trở ngại, và chúng ta phải chuẩn bị!  Satan luôn tìm cách đẩy chúng ta ra xa Thiên Chúa qua tội lỗi, thậm chí đặt ra nỗi sợ, để cản ngăn chúng ta đến với phép Giải Tội, khiến chúng ta không nhận được ơn thứ tha và chữa lành.  Thế giới ra sức lôi kéo chúng ta càng xa Thiên Chúa càng tốt; nó cung cấp hàng ngàn sự xao nhãng và thú vui khiến chúng ta rời bỏ việc cầu nguyện, hồi tâm và hoán cải.  Bản thân chúng ta cũng rất ít có khuynh hướng thiên về điều lành, phục vụ tha nhân và sống các nhân đức.  Ngay cả lười biếng và ươn ế cũng có thể dập tắt những gì tốt nhất nơi chúng ta.  Vì thế, bạn và tôi, cần để Chúa Giêsu biết chúng ta đang tìm Ngài; nói cho Ngài lý do chúng ta ‘không thể giáp mặt’ Ngài.

Anh Chị em,

“Họ không thể giáp mặt Ngài.”  Tại sao bạn và tôi ‘không thể giáp mặt’ Ngài?  Đó là một câu hỏi quan trọng!  Vậy mà, với Chúa Giêsu, thật thú vị, được nhìn Ngài hay gặp Ngài vẫn không quan trọng!  Quan trọng là làm sao ‘được Ngài chạm’ hay ‘chạm được Ngài’; nhờ đó, được chữa lành và biến đổi.  Tuyệt vời thay!  Tin Mừng hôm nay tiết lộ, có một cách khác để có thể thường xuyên ‘được Ngài chạm’ hay ‘chạm được Ngài’, đó là khi chúng ta trở nên những con người biết “nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành.”  Bấy giờ, như Mẹ Maria, chúng ta sẽ sống mối tương quan với Chúa Giêsu đến một mức độ thân thiết còn hơn cả quan hệ huyết tộc.  Đây chính là vẻ đẹp của tình yêu Thiên Chúa, Đấng kêu gọi chúng ta đạt đến phẩm giá và sự thân mật ngày càng cao hơn với Ngài.  Càng yêu mến Chúa, chúng ta càng yêu thương anh chị em mình.  Sách Châm Ngôn hôm nay nói, “Thực hành công bình và bác ái, thì đẹp lòng Chúa hơn là hy lễ.”  Quý biết bao khi chúng ta sống Lời Chúa như Ngài mong ước; Thánh Vịnh đáp ca thật ý nghĩa, “Trên đường mệnh lệnh Chúa, xin dẫn con đi!”

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đẩy xa mọi áp lực của ma quỷ và sự uể oải thiêng liêng nơi con; vì nó, con ‘không thể giáp mặt’ Ngài.  Xin chạm vào con, cho con chạm được Ngài; để con được biến đổi!”  Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: Langthangchieutim

NGÀY TẢO MỘ – Jos. Nguyễn Văn Sơn, C.Ss.R.

Kẻ Đi Tìm

NGÀY TẢO MỘ

Jos. Nguyễn Văn Sơn, C.Ss.R.

Hôm nay kỷ niệm 14 năm tôi chết. Tôi về tạo mộ lần thứ 14. Nhìn ngôi mộ của tôi, tôi thấy cỏ mọc xanh rì, rào chắn xung quanh không còn nữa. Quanh tôi, không chỉ là một mình tôi mà mỗi năm số người chết ngày càng tăng. Lúc đầu tôi còn nhớ tên họ, dần dần những người xa lạ đến tôi chưa kịp làm quen họ đã chuyển đi nơi khác, kẻ đến người đi thay phiên nhau.

Tôi đứng cạnh cây Thánh Giá đã sờn bạc vì mưa gió. Tên tôi vẫn còn đó. Ngày sinh, ngày chết, quê quán… chung quanh vắng lặng như tờ. Càng về khuya càng lặng vắng!

Tôi ngồi đây một mình trong ngày tảo mộ. Hồi tưởng lại kỷ niệm 14 năm trước. Ngày đó… ngày định mệnh 17/09/2008. Tôi nhập viện trong tình trạng nguy kịch, toàn thân đau tê tái… Bác sỹ sau khi chụp XQ, siêu âm, chuẩn đoán. Họ quyết định tôi phải mổ gấp, nếu chậm sẽ không còn hy vọng sống. Người ta hỏi tôi có sẵn sàng cho ca mổ chưa? Tôi trả lời sẵn sàng. Thân xác tôi trao cho họ, linh hồn tôi dâng chọn cho Thiên Chúa. Bởi tâm hồn, thân xác tôi là của Thiên Chúa.

17h người ta đưa tôi vào phòng mổ. Quang cảnh phòng mổ thật hãi hùng. Xung quanh tôi toàn là dao kéo, dây rợ chằng chịt; xa xa những ánh đèn sáng chói như muốn nuốt chửng đôi mắt tôi. Một màn hình to đùng hiện ra trước mắt với toàn bộ thân xác, bộ lòng, những thớ da thớ thịt của tôi. Một đội ngũ Bác sỹ vây quanh tôi. Người dao, người kéo, người chích thuốc mê, người cầm đèn rọi… từng lát cắt, từng miếng mổ như đâm thâu thân xác tôi. Tôi như lịm đi rồi lại tỉnh dạy, từng giờ, từng phút như thế cứ trôi đi. Lúc tỉnh lúc mê… dù mê, nhưng tôi vẫn nghe văng vẳng bên tai những lời trao đổi, những thắc mắc, những lo lắng của đội ngũ Y, Bác sỹ. Người ta thì thầm với nhau, tôi sẽ chết, chết không còn một chút hy vọng. Bởi người ta mổ bụng tôi ra, trong ổ bụng người ta thấy có rất nhiều máu, có tới 3 lít. 3 lít đã đông cứng vì để quá lâu. Vâng! Các Bác sỹ đã bó tay. Bó tay thật sự trước sức mạnh của thần chết. Họ đầu hàng vì ngoài khả năng của họ. Thần chết đã tới, lôi tôi ra khỏi thế gian, khỏi vòng tay yêu thương của bạn bè, người thân, khỏi nỗ lực hết mình của đội ngũ Y, Bác sỹ…

Tôi nhớ rất rõ, một người to cao, nhưng thân mình đen nháy lôi tôi đi. Nó lôi tôi đi từng cửa này tới cửa khác. Khung cảnh nơi đó thật hãi hùng, cảnh tan thương tràn lan, khóc lóc, rên riết, kêu la… thời tiết ở đó thật oi bức, lửa bập bùng cháy suốt ngày đêm. Tiếng kêu la ai oán từ khắp nơi vọng về làm tôi sợ hãi, vùng vẫy, kêu la inh ỏi…

Vậy là tôi đã chết thật. Chết 100%. Xa rồi những kỷ niệm thân thương bên gia đình, thầy cô, bạn bè… giờ đây xung quanh tôi toàn là tiếng kêu la ai oán, hãi hùng. Quỷ đưa tôi đi khắp nơi này tới nơi khác. Tôi không dám nhìn cảnh vật xung quanh bởi nó rất hãi hùng. Nó kéo tôi tới một vực thẳm, thẳm sâu hun hút. Từ trên cao, nó ném tôi xuống dưới. Tôi như người mất hồn, kêu lên những tiếng nỉ non, tôi kêu tên Thiên Chúa, kêu tên Mẹ Maria, tôi dâng linh hồn tôi trong tay Thiên Chúa và Mẹ Maria. Tôi rơi như một hòn đá bay xuống vực thẳm hun hút, khi tôi không còn một chút hy vọng. Tưởng chừng như đời tôi sẽ mãi mãi đi vào dĩ vãng, đi xuống vực thẳm mênh mông… vậy mà kìa!!! Một bàn tay, rồi hai bàn tay kéo tôi lại. Kéo tôi khỏi vực thẳm hun hút. Một ánh sáng chói lòa soi sáng cả bóng đêm u tối đưa tôi trở về với hiện tại. Trở về với kiếp sống trần gian. Tôi đã thoát khỏi hình bóng của bóng tối, thần chết. Thần chết đã kéo tôi xa rời mọi thứ ở trần gian, nhưng chính Thiên Chúa đã đoái thương và lôi tôi về cùng với Ngài. Tôi chỉ là phận hèn mọn, yếu đuối mỏng dòn và tội lỗi. Vậy mà Chúa vẫn đoái thương. ÔI TÌNH YÊU THIÊN CHÚA THẬT VÔ BỜ BẾN!

Tôi đã chết, chết cho kiếp phận người hèn yếu, tội lỗi… chết cho một kiếp người. Hôm nay, tôi trở về tảo mộ. Nhớ lại những kỷ niệm đã qua, tôi thấy phận mình thật yếu đuối, mỏng manh và đôi lúc thật tệ trước tình yêu vô biên mà Thiên Chúa đã dành cho mình. Như cánh hoa kia sớm nở chiều tàn. Cuộc đời con người cũng vậy, có sinh có tử. Vậy mỗi người sẽ làm gì trước vận mệnh của cuộc đời? Thiết nghĩ cuộc đời này chỉ là chóng qua, thân xác ta chỉ là tro bụi, rồi cũng sẽ trở về bụi tro. Ta hãy sống sao cho cuộc đời này có ý nghĩa.

Jos. Nguyễn Văn Sơn, C.Ss.R.

Tổng thống Biden tuyên bố sẽ bảo vệ Đài Loan

Tổng thống Biden tuyên bố sẽ bảo vệ Đài Loan

Đặng Sơn Duân

19-9-2022

Tổng thống Biden trả lời phỏng vấn trong chương trình 60 Minutes. Ảnh: CBS

Tổng thống Joe Biden một lần nữa tuyên bố quân đội Mỹ sẽ bảo vệ Đài Loan trong trường hợp Trung Quốc phát động cuộc tấn công xâm lược hòn đảo này.

1. Chuyển động quân sự

– Nhiều tàu hải cảnh Trung Quốc được triển khai xuống quần đảo Trường Sa trong vài ngày qua. Cụ thể, tàu 5304 từ Tam Á di chuyển xuống phía nam Bãi Tư Chính, nơi tàu 5403 đã hiện diện vài tuần qua. Tàu 5302 cũng đang hướng xuống Trường Sa trong khi các tàu 5204 và 5305 cũng đang từ Tam Á di chuyển xuống phía nam. Chưa rõ đây chỉ là đợt thay thế luân phiên các tàu hải cảnh Trung Quốc ở khu vực phía nam hay là sự tăng cường hiện diện của các tàu này.

– Tàu sân bay Sơn Đông hiện ở vẫn Tam Á song tàu Liêu Ninh đã rời Thanh Đảo khoảng ngày 16.9, chưa rõ di chuyển đi đâu.

– Những ngày vừa qua, Trung Quốc vẫn thường xuyên triển khai máy bay quân sự vào khu vực Vùng nhận diện phòng không của Đài Loan và vượt qua đường trung tuyến ở eo biển như thường thấy trong thời gian qua. Tuy nhiên, vài ngày gần đây chứng kiến sự gia tăng sử dụng các máy bay không người lái trong các đợt triển khai này, bao gồm các chiếc máy bay trinh sát WZ-7, BZK-007 và máy bay chiến đấu CH-4.

– Truyền thông Hàn Quốc đưa tin nhóm tác chiến tàu sân bay USS Ronald Reagan của Mỹ sẽ ghé cảng Busan trong tuần này và tham gia cuộc tập trận chung với phía Hàn Quốc.

2. Đài Loan

Tổng thống Joe Biden một lần nữa tuyên bố quân đội Mỹ sẽ bảo vệ Đài Loan trong trường hợp Trung Quốc phát động cuộc tấn công xâm lược hòn đảo này. Đây ít nhất là lần thứ tư ông Biden phát biểu về việc bảo vệ Đài Loan, song những gì ông tuyên bố trong cuộc phỏng vấn với chương trình 60 Minutes của CBS là câu trả lời rõ ràng và dứt khoát nhất từ trước đến nay về vấn đề này.

Như thường lệ, một đại diện của Nhà Trắng sau đó khẳng định chính sách của Mỹ về Đài Loan vẫn không thay đổi. Nhưng một số nhà quan sát cho rằng ông Biden không hề lỡ lời và ông đã xác định rất rõ ràng về vấn đề này, rằng Mỹ sẽ bảo vệ Đài Loan nếu Trung Quốc tấn công.

Một vấn đề đáng chú ý nữa là ông Biden phát biểu rằng: “Đài Loan đưa ra phán xét của riêng họ về nền độc lập của họ. Chúng tôi không khuyến khích họ độc lập. Đó là quyết định của họ”.

Phát biểu này dường như có chút thay đổi so với chính sách lâu nay của Mỹ là “không ủng hộ Đài Loan độc lập”.

Thay vì khẳng định điều này, ông Biden chỉ nói rằng Đài Loan đưa ra phán xét riêng của họ và Mỹ chỉ “không khuyến khích”.

Chi tiết này gợi nhớ đến việc Bộ Ngoại giao Mỹ từng xóa câu “chúng tôi không ủng hộ Đài Loan độc lập” trong Fact Sheet của họ về Đài Loan trong một thời gian ngắn vào tháng 5 trước khi cập nhật nó trở lại.

Hai sự việc này khiến người ta không khỏi nghi ngờ liệu có phải Nhà Trắng muốn tạo ra thêm sự mơ hồ về việc họ có phản đối Đài Loan độc lập hay không.

THẮP SÁNG TỪ BÊN TRONG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

THẮP SÁNG TỪ BÊN TRONG

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 

Thứ Hai Tuần XXV – Mùa Thường Niên

“Đèn được đặt trên đế, để những ai đi vào thì nhìn thấy ánh sáng”.

Học giả nổi tiếng, Rufus Jones, vừa có buổi thuyết trình về chủ đề, “Hãy rạng rỡ!”. Ngay sau đó, một phụ nữ “có khuôn mặt mộc mạc đến khó tin” đến hỏi, “Ông sẽ làm gì nếu có một khuôn mặt như tôi?”. Jones, trả lời, “Tôi cũng có những rắc rối tương tự về loại này, nhưng tôi khám phá ra rằng, nếu bạn ‘thắp sáng từ bên trong’, bất kỳ khuôn mặt nào của bạn cũng đủ rạng rỡ!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Nếu bạn ‘thắp sáng từ bên trong’, bất kỳ khuôn mặt nào của bạn cũng đủ rạng rỡ!”. Khám phá của Rufus Jones được gặp lại qua Lời Chúa hôm nay, khi Chúa Giêsu nói đến ánh sáng. Thật thú vị, một ánh lửa ‘thắp sáng từ bên trong’ lại có sức toả rạng bên ngoài. Sách Châm Ngôn hôm nay gọi nó là điều lành; Chúa Giêsu gọi nó là ánh sáng không thể che giấu, “Đèn được đặt trên đế, để những ai đi vào thì nhìn thấy ánh sáng”.

Mọi người cần “nhìn thấy ánh sáng!”. Điều này xảy ra khi những người khác hành động như những ngọn đèn chiếu sáng Đức Kitô cho chúng ta; hay ngược lại, khi những người chung quanh “nhìn thấy ánh sáng” Đức Kitô từ nơi chúng ta. Tác giả sách Châm Ngôn nói, “Hỡi con, khi có thể, con đừng từ chối làm điều lành!”. Điều lành ở đây là yêu thương, là cảm thông, chia sẻ; nó còn là cầu thay nguyện giúp, trăn trở… Đó là những người mà Thánh Vịnh đáp ca hôm nay gọi là những người ở trên núi của Chúa, “Lạy Chúa, ai được ở trên núi thánh của Ngài?”.

Bổn phận của chúng ta là trở nên ánh sáng Chúa Kitô cho một thế giới đang rất cần Ngài. Qua Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho biết, khi chúng ta nhen nhóm ngọn lửa của Ngài trong lòng, thì hiệu quả là, Ngài sẽ toả sáng qua chúng ta để người khác nhìn thấy. Ngài nói, “Chẳng ai đốt đèn, rồi lấy hũ che đi, hoặc đặt dưới gầm giường!”; nói cách khác, nếu bạn không toả sáng Chúa Kitô, thì không phải vì bạn che giấu Ngài, mà là vì Ngài đã không thể ‘thắp sáng từ bên trong’ bạn. Một khi Ngài đã thắ
p sáng nội tâm bạn, ánh sáng của Ngài không thể bị che lấp!

Cách tuyệt vời, sự thật này giúp chúng ta đánh giá đúng mức mối quan hệ của linh hồn mình với Chúa. Nếu Chúa Giêsu đang sống trong bạn và tôi, nếu mối quan hệ yêu thương giữa Ngài với chúng ta thực sự được sống, hiệu quả của mối quan hệ ‘Chúa và tôi’ đó nhất định sẽ tác động nơi người khác; họ sẽ dễ dàng nhận ra ánh sáng không thể che giấu đó. Hiệu quả là, ánh sáng Chúa Kitô trong chúng ta phản chiếu tấm gương linh hồn, ‘một linh hồn có khuôn mặt Giêsu’ ngời sáng, phản chiếu cho người khác.

Anh Chị em,

Qua Bí Tích Rửa Tội, Chúa Kitô đốt lên ánh lửa Phục Sinh của Ngài trong tim chúng ta. Đó là ánh sáng của tình yêu, hy vọng, niềm vui, lòng thương xót và thiện hảo. Ngài giao nhiệm vụ gìn giữ ánh sáng ấy cho Giáo Hội; cụ thể là giáo xứ và cha mẹ. Qua từng biến cố, từng phút giây, Chúa Thánh Thần không ngừng khơi lên ánh sáng này để nó ngày càng toả rạng. Để được như thế, Thiên Chúa đặt mỗi người chúng ta vào đúng “đế” của mình, từ chức vụ, nơi chốn, hoàn cảnh… “Để mọi người nhìn thấy công việc tốt lành anh em làm mà ngợi khen Cha của anh em, Đấng ngự trên trời”. Như vậy, một khi người khác không thấy được ánh sáng Chúa Kitô từ cuộc sống chúng ta; hẳn vì ánh lửa của Ngài đang mai một. Hôm nay, bạn và tôi nhìn lại ánh sáng trên ‘đế cuộc sống’ mình; thử hỏi những người khác có được lôi kéo vào tình yêu của Chúa Kitô qua chúng ta không? Nếu không, hãy nhìn vào tim mình, xin Ngài ‘thắp sáng từ bên trong’ ngọn lửa của Ngài, lửa Giêsu; nói cách khác, thắp lại ngọn lửa tình yêu của Ngài trong linh hồn mình.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con rạng rỡ từ bên ngoài, nhưng ‘thắp sáng con từ bên trong’. Hãy sai con đi bất cứ nơi đâu, đến với bất cứ ai, để con rạng ngời ánh sáng Kitô cho họ!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 

LĂNG VUA NGÔ QUYỀN

LĂNG VUA NGÔ QUYỀN

–Chiêm ngưỡng Lăng vua NGÔ  QUYỀN  rồi  nhìn lại lăng tên bán  nước hồ chí minh hay ngôi mộ của các tên   tổng  bí  thư  vietcong khác  một trời một vực—- nhưng lăng mộ vua  NGÔ QUYỀN sẽ  trường cửu–còn mộ   của  những   tên  hèn với  giặc , ác với dân sẽ bị đào  thải  như  của  các  tên  Lenin… Ceaucescu mà  thôi !!

Cái lăng bé nhỏ này chính là Lăng Ngô Quyền, vị vua đầu tiên đã đánh tan quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào năm 938, giúp dân tộc ta kết thúc hơn 1000 năm Bắc thuộc, giành nền độc lập. 

Lăng của Ngài ở quê hương là làng Đường Lâm, Sơn Tây (Hà Nội), lăng có diện tích chỉ vài m2, có mái che chỉ cao 1,5 mét, bia đá được khắc thời Tự Đức, có ghi bốn chữ Hán “Tiền Ngô Vương lăng”. Ngài mất năm 944, hưởng dương 47 tuổi.

Hàng cây duối cổ thụ màu xanh biếc ở gần đó tương truyền là nơi xưa Ngài buộc ngựa chiến và voi chiến mỗi khi về làng. Những cọc gỗ mà Ngài cho quân lính đóng dưới lòng sông Bạch Đằng nay vẫn còn nguyên…

Một vị vua hào hùng như vậy, có tên tuổi ghi dấu đậm nét trong lịch sử Việt Nam mà chỉ an nghỉ trong một khoảnh đất nhỏ nơi làng quê. Nhưng uy danh của Ngài thì có ở khắp nơi trên đất Việt. Đền thờ khiêm tốn của Ngô Quyền ở ngay trên đất Đường Lâm cũng đời đời được dân ta ngưỡng vọng và thờ phụng.

Tổ tiên ta thật khiêm cung, mà cũng đầy hiển hách. Không có lăng mộ, tượng đài nào là vĩnh cửu mà chỉ có lòng yêu mến, kính trọng của dân chúng là vĩnh cửu trường tồn!

Doãn Hồng Giang

From: Tu-Phung