HÃY XEM CÁCH NGƯỜI MỸ KẾT THÚC NỘI CHIẾN

(Nhân ngày 30-4 copy về đọc để suy ngẫm)

Cách đây đúng 150 năm, Tướng Robert E Lee của quân đội miền Nam đầu hàng Tướng Ulysses Grant của quân đội miền Bắc, đánh dấu kết thúc cuộc nội chiến Hoa Kỳ đã làm hơn 7 trăm ngàn người thiệt mạng. Sở dĩ gọi là chiến tranh Nam Bắc là vì cuộc chiến diễn ra giữa hai phe: phe miền Bắc (còn gọi là phe liên bang) đứng đầu là Tổng thống Lincoln chủ trương xóa bỏ buôn bán nô lệ người da đen và phe miền Nam chống lại chủ trương này.

Cuộc chiến Nam Bắc của Mỹ thường được nhắc tới qua những trận đánh đẫm máu giữa quân đội của hai phe: quân miền Bắc do tướng Ulysses Simpson Grant chỉ huy và quân miền Nam do tướng Robert Edward Lee cầm đầu. Tuy tướng Lee đã nhiều lần tấn công và gây tổn thất khá nặng cho đội quân của tướng Grant nhưng quân miền Bắc được sự hỗ trợ to lớn từ ngân sách liên bang và chiêu mộ được thêm nhiều quân số từ những người nô lệ da đen vừa được giải phóng nên cuối cùng quân miền Nam của tướng Lee phải chấp nhận thua trận.

Đã có những lời khuyên tướng Lee nên chia nhỏ quân của mình ra và tiến hành đánh du kích nhưng tướng Lee đã nói: nếu cứ tiếp tục chiến tranh gây bao chết chóc thì tội của tôi đáng chết gấp ngàn lần. Ông đã nhắn cho tướng Grant là ông chuẩn bị đầu hàng. Tướng Grant nhắn lại, đề nghị tướng Lee chọn địa điểm bàn thảo việc qui hàng. Và căn nhà của một người buôn bán tên là Wilmer Mc. Lean tại làng Appomattox đã được chọn. Ngày nay ngôi nhà này trở thành di tích lịch sử quốc gia, và được gọi là Appomattox Court House.

Đến ngày hẹn, tướng Lee bận một bộ lễ phục mới tinh và đeo kiếm, còn tướng Grant xuất hiện muộn hơn trong bộ đồ tác chiến thường ngày còn dính bùn đất hành quân. Hai người ngồi trong phòng khách của ông Mc. Lean và hàn huyên thân mật về những kỷ niệm quân ngũ trong cuộc chiến tranh Mexico. Câu chuyện lâu đến nỗi tướng Lee sốt ruột, chủ động đề cập đến “mục đích buổi gặp gỡ của chúng ta ngày hôm nay là bàn về việc đầu hàng”. Tướng Grant bèn lấy cây bút chì và tờ giấy viết vội những điều khoản và trao cho tướng Lee, trong đó có những nội dung nói về binh lính miền Nam:

  1. Không bị coi là phản quốc và không phải ở tù.
  2. Chính phủ coi binh lính miền Nam là những công dân bình thường nếu họ chấp hành tốt luật lệ.
  3. Được mang ngựa và lừa về nhà để giúp gia đình cày cấy vào mùa xuân.

Sau khi xem qua những điều tướng Grant vừa viết, tướng Lee nói: “Những điều này sẽ có tác động tốt đến quân sĩ của tôi. Chúng sẽ góp phần quan trọng trong việc hòa giải dân tộc chúng ta.” Tướng Lee cho biết ông sẽ trao trả những tù binh miền Bắc vì ông không có đủ lương thực cho họ. Tướng Grant đáp lại rằng ông sẽ gửi ngay cho binh lính miền Nam 25.000 phần lương thực khô. Ông cũng ra lệnh cho in 28.231 giấy phóng thích cho binh lính miền Nam.

Khi tin phe miền Nam đầu hàng bay đến doanh trại, quân miền Bắc định bắn đại pháo chào mừng. Tướng Grant ra lệnh ngưng ngay lập tức các hoạt động ăn mừng. Ông nói với các sĩ quan dưới quyền: “Chiến tranh đã kết thúc. Giờ đây họ đã là đồng bào của chúng ta”. Ông cho rằng hai bên không còn là kẻ thù, và cách tốt đẹp nhất để bày tỏ niềm vui của miền Bắc là không vui mừng trước thất bại của miền Nam.

Reconciliation at the 75th Anniversary of Gettysburg Then and Now ...

Ngày 12 tháng 4 năm 1865, quân đội của tướng Lee tiến vào ngôi làng Appomattox để giao nộp vũ khí. Tướng Joshua L.Chamberlain của miền Bắc được chỉ định tiếp nhận binh sĩ qui hàng. Trước hàng quân miền Bắc nghiêm chỉnh, ông nhìn những binh sĩ miền Nam bại trận đi vào làng với cảm xúc dâng trào. Sau này ông viết lại: “Giây phút đó làm tôi thực sự xúc động. Tôi quyết định đánh dấu sự kiện này bằng một hành động, không gì khác hơn là giơ tay chào kiểu nhà binh. Tôi biết có người sẽ chỉ trích tôi về cử chỉ này. Tôi đã không xin phép và cũng không yêu cầu sự tha thứ về hành động này. Đối diện với chúng tôi là những chiến binh, bại trận nhưng can trường, là biểu tượng cho tinh thần trượng phu, không rã rời, không đau khổ, bất chấp hy sinh và không có gì khuất phục được họ. Giờ đây, họ là những người ốm yếu và đói khát, nhưng họ hiên ngang nhìn thẳng vào chúng tôi, làm sống dậy những ràng buộc thiêng liêng cao cả hơn bao giờ hết. Không có lý do gì để những đấng nam nhi ấy không được hội nhập vào Hợp Chủng Quốc vững vàng của chúng ta.”

Sau đó tất cả hàng ngũ quân miền Bắc thắng trận từ đơn vị này đến đơn vị khác đều nghiêm chỉnh giơ tay chào kiểu nhà binh. Vị tướng dẫn đầu đoàn quân miền Nam đầu cúi xuống trong buồn bã, chợt nhận ra và ngồi thẳng lại trên lưng ngựa, giơ tay chào đáp lễ. Ông ra lệnh cho các đơn vị theo sau tuân theo nghi lễ quân sự khi đi ngang qua đoàn quân miền Bắc. Không có kèn thắng trận, không có tiếng trống, tiếng hô, tiếng reo hò mừng chiến thắng, không một lời nói hay tiếng xì xầm… Một sự im lặng đến nghẹt thở.

Xem thêm chi tiết – http://cuucshuehn.net/…/Xem-cach-nguoi-My-ket-thuc-cuoc…

Tướng Ulysses Simpson Grant – Tướng Robert Edward Lee

MỘT NGÀY LỊCH SỬ (30/4)

Xuyên Sơn

MỘT NGÀY LỊCH SỬ.

 

Hôm nay (30/4) là một ngày lịch sử.

Bốn mươi sáu năm trước đúng vào ngày này, chánh thể VNCH sụp đổ,

và thay vào đó là một thể chế mới mà hậu quả còn kéo dài cho đến ngày hôm nay.

Nhiều khi tôi tự hỏi:

nếu không có ngày 30/4/1975 thì tôi và nhà tôi đã ra sao?

Khó đoán ngược lịch sử ở bình diện lớn, nhưng ở cấp độ gia đình thì đoán được.

  • Không phải là ‘Ngày giải phóng’ Tôi chắc rằng nếu không có ngày định mệnh đó, ba má tôi đã mua thêm 1-2 chiếc máy cày để bổ sung cho 2 chiếc đang phục vụ cho cả làng.

Ba má tôi cũng có thể có thêm vài chục, thậm chí cả trăm công đất để canh tác.

Nói chung là gia đình làm ăn khấm khá.

Anh Hai tôi chắc chắn đã không vượt biển để rồi mất tích cùng 20 người khác trên Biển Đông.

Anh Hai sẽ vẫn là ‘star’ của cả dòng họ vì học giỏi, đẹp trai và là kỹ sư tài ba.

Cả dòng họ ai cũng tự hào vì ảnh.

Tôi và ông anh cùng nhỏ em gái chắc chắn cũng sẽ không ở Úc như ngày hôm nay.

Tôi sẽ tốt nghiệp và có công ăn việc làm khá giả ở trong nước, tuy không phải là star như anh Hai, nhưng không đến nỗi phải đi lột củ hành ở Sydney.

Anh tôi sẽ thay thế ba tôi điều hành cái business gia đình, và sẽ cùng với mấy người anh họ mở rộng business.

Mấy người em gái tôi tốt nghiệp trung hay đại học và có thể phụ giúp điều hành cái ‘business’ của gia đình.

Tụi nó có thể sẽ dọn ra Rạch Giá hay lên Sài Gòn.

Thế nhưng ngày 30/4/75 đã đến.

Theo sau đó là biết bao nhiêu đổi thay. Ba má tôi bị nhà nước lấy hết ruộng đất, chỉ để lại chừng 20 công đủ sống.

Máy cày thì bị tịch thu, và mất luôn.

Cả nhà lâm vào cảnh khốn khó chỉ sau 1-2 năm với chế độ mới.

Tuy không đến nỗi ăn bo bo như nhiều gia đình khác, nhưng kinh tế gia đình suy sụp thấy rõ.

Anh Hai tôi vượt biển và mất tích, làm cho Má tôi suy sụp một thời gian. Tôi và anh em cũng vượt biên nhưng may mắn sống sót.

Tụi tôi ở nước ngoài phải ‘chi viện’ mỗi tháng cho gia đình bên VN,

 

vì lúc đó ba má tôi không còn business nữa và ruộng thì chỉ làm đủ sống.

Từ một gia đình sung túc bổng trở thành nghèo khó chỉ trong vòng 2 năm gì đó.

Do đó, đối với nhà tôi thì ngày 30/4 không phải là ngày giải phóng.

Đó là ngày mà cả kinh tế gia đình bị suy thoái đến mức khốn khó.

Mà, không phải chỉ gia đình tôi đâu, nhìn chung quanh ai cũng vậy.

100% đều bị lâm vào cảnh khốn khó. 100%.

Thành ra, gọi là ngày giải phóng không chỉ là áp đặt, ngạo mạn,

mà còn rất bậy bạ.

  • Nhìn ‘bức tranh lớn’ Có thể nói rằng chế độ mới đã kéo lùi sự tiến bộ của Việt Nam (hay nói đúng hơn là miền Nam Việt Nam) cả nửa thế kỷ.

Phải đi vòng quanh các nước như Singapore, Thái Lan, và Mã Lai mới thấy Việt Nam mình nghèo và lạc hậu ra sao.

Sau 30/4/1975, Chính Quyền VNCH Để Lại Nhiều Vàng Và USD, Tại Sao Nước ...

Ngay cả hôm nay, Việt Nam tuy có khá hơn chút, nhưng nhìn kỹ thì không khá chút nào đâu vì kinh tế lệ thuộc vào vài ba tập đoàn nước ngoài, và chúng ta đa phần chỉ là những kẻ gia công lương thấp mà thôi.

Chỉ một công ty Samsung mà đã chiếm 28% tổng GDP quốc gia!

Nếu công ty này (và cả Formosa) hắt hơi thì chắc kinh tế Việt Nam sẽ bị cảm lạnh.

Trong nửa thế kỷ đó, người hưởng lợi nhiều nhứt là các đồng hương miền Bắc và người bị hại nhiều nhứt là người miền Nam.

Từ đó gây ra một sự chia rẽ mà thể chế mới không chịu ghi nhận.

Ngay từ những ngày sau 1975, người miền Nam đã bị đối xử như công dân hạng hai trên quê hương mình, và theo thời gian tình hình tạo ra một lợi thế cho bên gọi là ‘thắng cuộc’.

Ông Nguyễn Hiến Lê là một học giả nổi tiếng trước 1975.

Ông là người gốc Hà Nội nhưng từng ở Long Xuyên trong một thời gian dài, nơi ông soạn nhiều quyển sách có giá trị.

Ông tự nhận là người “có cảm tình với ‘cách mạng'”.

Nhưng sau 1975 thì ông vỡ mộng, và có viết hồi ký.

Sau đây là những trang/dòng bị kiểm duyệt trong cuốn hồi ký viết về những gì xảy ra sau 1975 [2].

Trong cuốn hồi ký ông ghi lại những thất bại sau 1975.

Đó là sự mất đoàn kết,

phân chia giai cấp,

thiếu kỷ luật,

suy sụp kinh tế.

Ông viết về một xã hội sa đoạ, với tham nhũng tràn lan, ăn cắp,

và buôn lậu, và kỳ thị Bắc – Nam.

Ông tóm tắt về một thời mà có lẽ ngày nay ít ai quan tâm hay biết đến:

  • Sự ngạo mạn của những người ‘thắng cuộc’: những biện pháp nhằm san bằng chế độ cũ để không để lại dấu vết nào cả.

“Phải đuổi hết các nhân viên cũ, để anh em cách mạng chia nhau tất cả các chức vụ lớn nhỏ”.

Nhưng khổ nỗi những nhân viên cũ là những người có học và thực tài,

còn người mới thì vừa dốt, vừa ngạo mạn, nên chẳng làm được gì!

Dot sach

  • Chia rẽ Nam – Bắc: ngay từ thời đó (1980) dấu hiệu chia rẽ Nam – Bắc đã rõ nét.

Ông viết:

“Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến,

cách mạng đó, được Hồ chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó,

chẳng những dốt về văn hóa, kỹ thuật – điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học

– thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẩy nhau…

Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là ngụy nữa, vì ngụy có tư cách hơn kháng chiến.”

  • Ngay cả cùng phe cũng chẳng có đoàn kết:

“Cùng là công nhân viên cả, mà bọn ở Bắc vô không ưa bọn Liên khu 5;

hai hạng đó đều khinh bọn ở bưng trong Nam về; bọn này lại không chơi với bọn trước kia tập kết ra Bắc, nay trở vô Nam; bọn ‘nằm vùng’ cũng không ưa bọn tập kết về đó.”

  • Khinh miệt:

ông so sánh: “[…] Trước ngày 30-4-75, miền Nam rất chia rẽ:

nhiều giáo phái, đảng phái nhưng tiến bộ hơn miền Bắc nhiều về mức sống, kỹ thuật, nghệ thuật, văn hóa; nhờ ngôn luận được tương đối tự do, nhờ được đọc sách báo ngoại quốc, biết tin tức thế giới, du lịch ngoại quốc, tiếp xúc với người ngoại quốc […]

cả về đạo đức nữa: vì đủ ăn, người ta ít thèm khát mọi thứ,

ít gian tham (tôi nói số đông), ít chịu làm cái việc bỉ ổi là tố cáo người hàng xóm chứ đừng nói là người thân, nói chung là không có hành động nhơ nhớp như nhiều cán bộ ở Bắc tôi đã kể ở trên.

Tôi còn nhận thấy vì người Nam bị coi là ngụy hết, nên càng đoàn kết với nhau, thương nhau: cùng là ngụy với nhau mà!”

Cách đây vài năm, một bài báo trên Bloomberg chỉ ra những

‘khoảng cách’ Bắc Nam:

  • Khoảng 70% thành viên nội các chánh phủ là người miền Bắc,

chỉ có 30% là từ miền Nam và Trung;

  • Khoảng 68% (2 phần 3) đảng viên đảng cộng sản Việt Nam là từ Quảng Trị trở ra phía Bắc;
  • 25 tập đoàn kinh tế được đặt tổng hành dinh ở Hà Nội, nhưng họ làm ăn trong Nam.

Ngay cả cái trụ sở uỷ hội sông Cửu Long cũng được đặt ở Hà Nội, cho nên thỉnh thoảng nghe các vị ấy phát biểu người miền Tây chỉ cười ngất.

Do đó, không ngạc nhiên khi những vị trí lãnh đạo các ngành mà người trong nước gọi ‘thơm’ đều do người miền Bắc nắm giữ:

hàng không,

hải quan,

dầu khí, v.v.

Người miền Nam chỉ làm phụ hay được bổ nhiệm cho có ‘hoa lá cành’.

Trớ trêu một điều là những người làm thất thoát cho Nhà nước nhiều nhứt cũng là người Bắc.

Những ai có dịp ra ngoài Bắc sẽ thấy cơ sở hạ tầng (như đường xá) được đầu tư rất tốt.

Từ Ninh Bình đi Hà Nội chỉ mất chừng hơn 1 giờ đồng hồ vì đường xá rất tốt mà ít xe.

Có một tấm hình người dân ngồi nhậu trên xa lộ miền Bắc!

Ngược lại, ở trong Nam thì chỉ có 2 đường cao tốc ngắn mà lúc nào cũng kẹt xe.

Con đường từ Sài Gòn về Kiên Giang chỉ 260 km mà phải mất 6 giờ đường! Thành ra, ở trong nước người dân miền Nam chỉ ra rằng ngoài Bắc thừa đường mà thiếu xe, nhưng trong Nam thì thiếu đường mà thừa xe.

Nhưng ai mà nói ra trên mặt báo là bị phạt vì ‘chia rẽ Bắc Nam’.

Thực tế đã là chia rẽ rồi. Ví dụ như người dân Sài Gòn làm 100 đồng thì chỉ được giữ 18 đồng (con số năm 2017)

thì tiền đâu mà chi cho cơ sở hạ tầng. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 1000 km đường cao tốc, nhưng chỉ có chừng 106 km là ở miền Nam.

Giải thích như thế nào về sự khác biệt đó cũng không thể thuyết phục người dân vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, nơi đóng góp mỗi năm hơn 15 tỉ USD cho xuất khẩu và ngân sách Nhà nước.

Trong bài báo trên Bloomberg, người ta trích dẫn nhận định của một nhà báo kỳ cựu Huy Đức

(tác giả quyển sách ‘Bên thắng cuộc’) rằng:

‘This present regime has never seriously thought of true reconciliation issues, […] They always affirm themselves as the winner of the war and the master of the nation’

(dịch: chế độ này chưa bao giờ nghĩ đến hoà giải dân tộc thật sự […]

Họ luôn tự khẳng định mình là kẻ thắng cuộc trong chiến tranh và là chủ nhân ông của đất nước).

Không thể nào ngồi xuống nói chuyện khi mà một bên vẫn dùng những cách nói và từ ngữ xúc phạm, ngông ngênh, không có thật.

Không thể nào có hoà giải và hoà hợp, khi một bên vẫn còn khuấy sâu một cách thích thú vào nỗi đau của phía bên kia.

Phía bên kia cũng chẳng ai xa lạ, mà chỉ là anh em trong một nhà.

Viết ra những điều này chẳng phải thù oán gì cả, mà chỉ đặt sự thật lịch sử để mọi bên có thể hiểu với nhau.

***

Nhiều người tre trẻ, thậm chí có tuổi ở miền Bắc, hay than phiền rằng những kẻ như tôi hay thế hệ tôi hay nhớ chuyện xưa.

Họ nói rằng người trong nước không ai còn nghĩ chuyện xưa đó nữa.

Sai.

Ở trong nước người ta vẫn ăn mừng ‘chiến thắng’ đó chớ,

vẫn nói về ‘giải phóng miền Nam’ (ôi! mỉa mai làm sao),

vẫn ra rả chửi chánh thể VNCH

(nhưng lại vui vẻ nhận thành tựu của nó).

Tôi nghĩ đó là một kiểu chạy trốn lịch sử.

Nó chẳng khác gì kẻ làm cho nạn nhân đau khổ, lấy nhà người ta, lấy đất của nạn nhân, thậm chí giết chết thân nhân, rồi quay lại vỗ vai dạy nạn nhân rằng ‘hãy quên quá khứ.’

Một sự xúc phạm đến nạn nhân.

Một sự ngạo mạn với lịch sử.

Thật ra ở trong nước có vài thế hệ bị tẩy não lịch sử, nên họ chẳng biết gì về một giai đoạn đầy biến động và tang thương.

Ngay cả nhiều người trong chánh phủ hiện nay (sanh ra sau 1975) cũng chẳng biết gì về một giai đoạn bi thảm mà hàng trăm ngàn người Việt bỏ mạng trên biển, hàng vạn người chết trong các trại tập trung gọi là ‘cải tạo’, hàng triệu người bị đày vào rừng sâu và sống lây lất vì chánh sách

‘vùng kinh tế mới’,

hàng trăm ngàn người bị cướp tài sản và tiền bạc.

Ôi, viết ra những thảm hoạ này thì đòi hỏi cả pho sách, và có lẽ là việc làm của các sử gia trong tương lai.

Những người gây ra những tang thương đó đã qua đời,

nhưng con cháu họ thì ngày nay vẫn còn và đang tận hưởng ‘thành tích’ của cha ông họ.

Họ thường là những người hay nói ra những lời nói nồng nàn nhưng vô nghĩa.

Điều cần thiết nhứt hiện nay là sự thành thật với lịch sử,

là tử tế với người miền Nam,

và trả lại sự công bằng cho miền Nam.

nguồn fb Nguyen Tuan

____

[1] https://www.bloomberg.com/…/vietnam-s-divide-slow…

[2] https://nguyenvantuan.info/…/ngay-30-4-doc-lai-hoi-ki…/

Lễ tưởng niệm Quốc Hận 30-4 tại Thành phố Houston, Tiểu bang Texas

  • Thời gian không làm lu mờ, ngày lễ tưởng niệm Quốc Hận 30-4 tại Houston càng trang trọng và lớn lao hơn với đông đảo quan chức Việt Tỵ Nạn, Mỹ và đồng bào Houston.
  • Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Houston cùng với liên hội Cựu Quân Nhân QLVNCH và các đoàn thể cùng tổ chức vừa đoàn kết vừa nhịp nhàng phối hợp.
  • Chương trình văn nghệ với các bản nhạc yêu nước, yêu quê hương hùng tráng của VNCH

GS Vũ Tường: VNCH chỉ thua về quân sự nhưng “thắng hầu hết” các lĩnh vực khác

Đài Á Châu Tự Do

Có thể thất bại về mặt quân sự, nhưng rõ ràng Việt Nam Cộng Hòa đã chiến thắng phe Cộng Sản Bắc Việt trên hầu hết các mặt trận khác, và thất bại về mặt quân sự cuối cùng đó mặc dù vậy, chỉ là một thất bại trên mặt quân sự mà thôi,” nhà nghiên cứu chính trị học, Giáo sư Vũ Tường, Chủ nhiệm Khoa Khoa học Chính trị, Đại học Oregon của Hoa Kỳ trong dịp này nói với Đài Á Châu Tự Do.

“Qua sự nghiên cứu về văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục, nghệ thuật v.v…, chúng tôi thấy câu hỏi phải đặt ra là tại sao Việt Nam Cộng Hòa lại chiến thắng về những mặt đó?

Tức là tất cả những mặt đó, Việt Nam Cộng Hòa đều hơn phe cộng sản cả, và di sản của Việt Nam Cộng Hòa vẫn tồn tại cho đến ngày nay và vẫn đang phát triển, mặc dù sau bao nhiêu năm bị đàn áp, như vậy câu hỏi đã hoàn toàn lật ngược lại.”

#RFAVietnamese #Vietnam #VIetnamCongHoa #VNCH #Saigon

RFA.ORG

GS Vũ Tường: VNCH chỉ thua về quân sự nhưng “thắng hầu hết” các lĩnh vực khác

Di sản của Việt Nam Cộng Hòa mặc dù qua năm thập niên bị đàn áp, vẫn trường tồn và phát triển

 

‘Cú sốc’ giáo dục

Nguyễn Tuấn

Nhân ngày 30/4 báo chí thỉnh thoảng có những bài ghi lại những cảm nhận của những người từ miền ngoài vào ‘tiếp quản’ Sài Gòn lúc đó (1975). Bài này (đăng ngày 30/4/2018) do Vietnamnet chạy cái tít hơi giật gân, nhưng nội dung thì rất đáng đọc vì viết về cảm nhận về nền giáo dục thời trước 1975 của một người trong cuộc.

Ts Nguyễn Kim Hồng là cựu hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm TPHCM (trước đây là một phân khoa của Viện Đại học Sài Gòn thời VNCH). Ông kể rằng khi được phân công vào ‘tiếp quản’ nơi đây, ông đã bị sốc. Cú sốc đầu tiên là ông ‘không ngờ Sài Gòn lớn và đẹp đến như vậy.’

Vào phân khoa sư phạm, ông ngạc nhiên khi thấy cơ sở vật chất của phân khoa tốt hơn hẳn ngoài Hà Nội. Thời đó mà đã có các camera truyền hình ảnh trực tiếp. Về giảng viên, ông nhận xét rằng:

“Trong lĩnh vực khoa học xã hội, theo tôi những giảng viên trước 1975 ở miền Nam được đào tạo tốt hơn.”

Nhưng ông còn sốc hơn khi tiếp xúc với sinh viên miền Nam. Ông nói:

“Sinh viên Sài Gòn rất lễ phép. Đa phần sinh viên Sài Gòn thời điểm đó đều xưng con với tôi, mặc dù tôi chỉ hơn họ 3-4 tuổi thôi. Việc khoanh tay để chào khách, chào thầy, cô ở miền Bắc được coi là hiếm nhưng ở Sài Gòn lại như một điều tất nhiên. Tôi cảm giác nhà trường và các gia đình Nam Bộ chú ý nhiều hơn đến việc dạy lễ cho con em mình

[…]

Tôi cho rằng trước năm 1975, họ đã được dạy về những giá trị cá nhân của con người nên không bao giờ để chuyện này xen vào công việc, vào đời sống chính trị. Đó là những điểm văn hóa rất khác với người miền Bắc.”

Nhà văn Vương Trí Nhàn cũng có những nhận xét về nền văn học, giáo dục miền Nam và người Nam giống giống như vậy. Ông còn cho biết rằng nhiều người miền Bắc khi vào miền Nam đều nghĩ vậy nhưng chẳng ai viết ra. Nhưng Ts Nguyễn Kim Hồng và Nhà văn Vương Trí Nhàn thì viết ra, và họ đóng góp vào một cái nhìn công tâm hơn về nền giáo dục thời xưa. Nhà văn viết:

“Nhìn rộng ra thấy không chỉ kinh tế tốt hơn mà giáo dục miền Nam lúc đó cũng hơn; không chỉ đường xá tốt, mà tư cách cá nhân của con người trong đó nói chung cũng trưởng thành hơn con người miền Bắc, trình độ hiểu biết và tuân thủ luật pháp tốt, giữa người với người có mối quan hệ tử tế, thanh thiếu niên lúc đó ham học và biết học hơn.”

Ngày nay, một số bạn trẻ cứ thắc mắc hỏi tại sao những người có tuổi thường hay nhắc về nền giáo dục thời xưa, thì hai vị này đã giúp cho họ có câu trả lời. Hồi đó, triết lí giáo dục được tóm lược trong 3 chữ: nhân bản, dân tộc, và khai phóng.

  • Nhân bản có nghĩa là lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác. Với triết lí nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.
  • Dân tộc có nghĩa là đề cập đến việc tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.
  • Khai phóng có nghĩa là cởi mở và cấp tiến, không phải đóng cửa và bảo thủ. Sẵn sàng tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

Thời gian gần đây nhiều học giả than phiền rằng Việt Nam chưa có một triết lí giáo dục. Theo tôi, cứ lấy triết lí Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng làm nền tảng cho nền giáo dục là thực tế nhứt, chẳng cần phải đi tìm đâu xa xôi.

Ps. Xin giới thiệu bài Hành Khúc Học Sinh của nhạc sĩ Lê Thương. Thời đó, học sinh nào cũng thuộc bài này:

30/4/1975: CỘNG SẢN CÓ THẮNG KHÔNG?

Hoai Linh Ngoc Duong

Lịch sử ghi nhận khái niệm thắng thua trong một cuộc chiến là khi hai bên giao tranh có một bên tiêu diệt được sinh lực của phía bên kia khi đó mới có khái niệm chiến thắng.

Trong chiến tranh Việt Nam 1954-1975 phía VNCH chỉ chết từ 250.000 đến 300.000 binh sĩ, phía VNDCCH chết gần 1 triệu người. Như vậy tính giao tranh trên chiến trường 1 lính VNCH đổi 3 lính VNDCCH .

Cả hai phía đều được cung cấp vũ khí và viện trợ từ các cường quốc. Phía VNCH nhận viện trợ từ Mỹ và phía kia là từ Liên Xô và Trung Quốc . Như vậy chỉ cần bất cứ bên nào bị cắt viện trợ thì bên đó sẽ buông súng và động thái trên chiến trường chỉ là hệ quả tất yếu của điều này . Do đó sẽ không có chiến thắng trên chiến trường thực sự mà chỉ là vấn đề ai sẽ cắt viện trợ trước .

Tại sao Mỹ cắt viện trợ cho VNCH nhưng Liên Xô , Trung Quốc thì không ?

Bởi Mỹ là một nước dân chủ quyền lực trong tay nhân dân Mỹ . Khi nhân dân Mỹ phản chiến thì quốc hội Mỹ cơ quan quyền lực cao nhất phải bỏ phiếu rút quân và cắt viện trợ . Trong khi đó Liên Xô và Trung Quốc đều là các nước độc tài, nhân dân không có quyền lực gì , chỉ có Bộ Chính trị mới có quyền lực cao nhất .Vì lợi ích cầm quyền của cả hệ thống độc tài toàn trị các đảng cộng sản cầm quyền sẽ không bỏ nhau .

Vì sao dân Mỹ phản chiến ?

Bởi họ thấy lính Mỹ và VNCH toàn giết dân Việt bị tuyên truyền trong cái gọi là chiến tranh nhân dân , du kích . Họ phản chiến vì thấy có đánh đến một trăm năm cũng không thể giết hết được dân Việt bị cộng sản tuyên truyền làm lính . Họ không thể đóng thuế hoài để nuôi chiến tranh ở bên kia bán cầu chẳng ảnh hưởng nhiều lắm đến nước Mỹ .

Nước Mỹ thấy cần phải chuyển dịch bàn cờ sang phía Liên Xô và Đông Âu bằng chiến tranh lạnh . Do đó họ bắt tay Trung Quốc để cô lập kinh tế Liên Xô và Đông Âu .

Như vậy đảng Cộng sản có thắng không ?

Không hề. Vì cục diện thắng bại không được quyết định trên chiến trường mà ở trên bàn đàm phán : cường quốc nào sẽ buông tay .

Vì thế những kẻ nào nói rằng cộng sản thắng là mắc phải bẫy tuyên truyền, bịp dân của bọn độc tài này .

Thực tế không có bất kỳ một quân đội nào bỏ cả Cao nguyên và miền Trung chỉ trong vòng một tháng cả . Nếu có viện trợ họ sẽ cho lực lượng tổng trừ bị phản công chiếm lại những vùng đất đã bị mất như Mùa hè đỏ lửa 1972.

Như vậy hình thái buông súng giải giáp không phải do thất bại mà do VNCH không thể làm chủ cuộc chiến khi ngân sách dành cho chiến tranh hầu như không có .

Tuy nhiên có phải chính quyền VNCH thua không ?

Không hề . Bởi chính quyền VNCH là do dân bầu định kỳ 4 năm . Nếu không có biến cố 30/4 họ cũng phải hết nhiệm kỳ và giao lại chính quyền cho ủy ban bầu cử để bầu chính quyền mới.

Ai thua ?

Chính là nhân dân Việt Nam thua . Bởi họ không còn hiến pháp dân chủ, tam quyền phân lập , tòa án độc lập, bầu cử tự do , nhân quyền để kiểm soát quyền lực của chính quyền nữa . Họ chỉ còn là những chú cừu bị đảng cộng sản bắt làm nô lệ.

Kết luận : kẻ nào nói 30/4 chính quyền Sài Gòn thua là chẳng hiểu gì về chính trị .Chính là nhân dân Việt Nam đã thua thảm hại và thực tế 48 năm qua đã chứng minh điều đó . Dân cả hai miền đều bị cướp đất bị bất công như nhau .  Chỉ có 4 triệu đảng viên là thắng.

30 THÁNG TƯ, 1975 – Thái Bá Tân

TRANG VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM  

Join

Niềm Vui Nhỏ

Những bài thơ ngắn chân thành cho ngày…

30 THÁNG TƯ, 1975

Thái Bá Tân

Bộ đội Miền Bắc chết

Một triệu một trăm nghìn.

Số lính Miền Nam chết –

Hai trăm tám hai nghìn.

Vì chiến tranh, dân chết

Trên dưới hai triệu người.

Lính Miền Nam cải tạo,

Ngồi tù một triệu người.

Trong số một triệu ấy,

Một trăm sáu lăm nghìn

Chết vì đói, lao lực,

Vì không còn niềm tin.

Trốn chạy khỏi cộng sản

Hơn một triệu rưỡi người.

Hai trăm nghìn đã chết,

Bỏ xác ngoài biển khơi.

Từ đấy, dẫu đất nước

Hết chiến sự, bình yên,

Chín mươi triệu người Việt

Mất tự do, nhân quyền.

Vậy xin hỏi các vị:

Ngày ấy là ngày gì?

Vui mừng và kỷ niệm?

Nhưng vui mừng cái gì?

***

BÊN THUA CUỘC

Chất của Bên Thắng Cuộc

Ngấm dần sang bên Thua

Qua các đợt học tập,

Ra quân và thi đua.

Rồi làng, phố văn hóa,

Rồi xã, huyện anh hùng.

Rồi những câu khẩu hiệu

Điên điên và khùng khùng.

Rồi quần chúng tự phát,

Rồi dân phòng, an ninh,

Rồi công an chìm nổi,

Đủ các loại kiêu binh.

Rồi thanh niên xung kích,

Rồi các sư hổ mang.

Rồi kiểm điểm dân phố

Rồi cờ đỏ ngập làng.

Rồi thịt mèo, thịt chó,

Rồi khí thế công nông,

Dép cao su, mũ cối,

Chất bầy đàn, lên đồng.

Rồi chi bộ, đoàn thể.

Rồi cải tạo công thương…

Tóm lại, gì cũng có

Từ xứ sở thiên đường.

Và rồi dân Thua Cuộc,

Vốn giản dị, hiền lành

Nhiễm dần từ bên Thắng

Thói giả dối, ma lanh.

Người Miền Nam thua cuộc

Sau chiến tranh kéo dài.

Và bây giờ, thật tiếc,

Lại thua cuộc lần hai.

Chưa nói chuyện dân Bắc

Tranh hết cả việc làm,

Tranh hết chức lãnh đạo,

Giàu hơn dân Miền Nam.

***

Tội ác kinh khủng nhất

Một chế độ, vương triều

Không hẳn là đốt sách,

Chết chóc và đói nghèo.

Mà làm cả dân tộc

Thành ích kỷ, nhỏ nhen,

Khôn lỏi và mê muội,

Độc ác và đớn hèn.

***

GIÁO SƯ VÀ THẰNG DU CÔN

Ông giáo sư giàu có

Và gã nghèo du côn,

Nếu đánh nhau, phần thắng

Thuộc về thằng du côn.

Tuy nhiên, sau khi thắng,

Cướp được tiền, thằng này

Không còn gì để cướp,

Phải quay sang ăn mày.

Ăn mày kẻ mình thắng,

Cả tiền, cả trí khôn.

Là cái vốn không có

Ở một thằng du côn.

Xưa, du mục Mông Cổ

Chiếm được đất Trung Hoa,

Rồi sau bị đồng hóa,

Biến thành người Trung Hoa.

Nay, Miền Bắc cộng sản

Xua quân chiếm Sài Gòn,

Cũng đang bị đồng hóa

Bởi văn minh Sài Gòn.

Vậy thì bên thắng cuộc

Chưa hẳn Bắc Việt Nam.

Thắng mà rồi thua đấy.

Thua chế độ Miền Nam.

***

THẾ HỆ CHÚNG TÔI

Sinh ra trong nghèo đói.

Lớn lên trong chiến tranh.

Về già, nếu còn sống –

Đất nước chẳng yên lành.

Thế hệ chúng tôi đấy,

U sáu mươi, bảy mươi.

Không may dính cộng sản,

Coi như uổng cả đời.

Một thế hệ khốn nạn,

Vĩ đại và quang vinh.

Đáng cháu con thương hại.

Cũng đáng cháu con khinh.

***

Mà thương hại cũng đúng.

Khinh càng đúng, than ôi,

Vì tiếp tay cộng sản

Là thế hệ chúng tôi.

***

VÌ SAO?

Nghìn năm Tàu đô hộ,

Người Việt không ra đi.

Bị Pháp, Mỹ xâm lược,

Người Việt không ra đi.

Lạ, cộng sản thắng lợi,

Cả Miền Bắc, Miền Nam,

Sao nhiều triệu người Việt

Lại rời bỏ Việt Nam?

?????

Tin vui học giả trẻ tại Mỹ muốn tìm lại công bằng công lý cho chính nghĩa VNCH

Điều tuyệt vời của cuộc sống là chân lý không bao giờ chết cho dù có bị che đậy, bôi xóa bóng dáng cho lu mờ.

Đối với Chính nghĩa VNCH thì Sự thật vẫn là sự thật cho dù bị bóp nghẹt 50-60 năm.

Psychology - Vietnamese migration

Ngày càng có nhiều bạn trẻ sinh ra tại Mỹ tìm hiểu và làm sáng tỏ chính nghĩa Quốc Gia.

Tiến sĩ Phương Nguyễn – đề tài về người tỵ nạn VNCH

Phuong Nguyen, Becoming Refugee American - the Politics of Rescue in Little Saigon' Cornell University

Giáo Sư Tuấn Hoàng, đại học Pepeperdine, California hội thảo về biểu tượng VNCH

Giáo sư Vũ Tường, đại học Oregon về nghiên cứu chính thể VNCH

Chúng ta vừa mừng vừa không ngạc nhiên vì điều này phải đến và đang đến.

Cảm ơn các nỗ lực của thế hệ đi trước đã giúp cho các em tìm hiểu về quá khứ oai hùng của cha anh.

Pin by Hung Tran on Flag of VNCH (Saigon) | Saigon, Flag

Nếu chính nghĩa Quốc Gia ngời sáng thì chủ nghĩa Cộng Sản tam vô (Vô tổ quốc, Vô tôn giáo, Vô gia đình) và XHCN sẽ lu mờ và lụi tàn như ở Đông Âu.

Điều còn đáng mừng hơn đó  là các bạn trẻ trong nước có thái độ phản biện lại XHCN một khi tìm ra sự thật. Đây cũng là lý do chính quyền Cộng Sản vô cùng nhạy cảm và sợ chạm mặt, cấm đoán đối với các biểu tượng VNCH nhất là cờ vàng ba sọc đỏ theo nhà báo Khải Đơn

Nhà văn, nhà báo Khải Đơn 

Mời các bạn xem video về những nổ lực mới nhất của một học giả trẻ sinh ra tại Mỹ, tiến sĩ Alex Võ  Đình Thái, anh muốn có sự công bằng khi đánh giá về Việt Nam Cộng Hòa.

Thành ngữ mới: Tư bản giãy chết

Báo Tiếng Dân

Nguyễn Thông

29-4-2023

Ngày 30.4. Ngày này 48 năm trước, người cộng sản sau 21 năm đốt cháy dãy Trường Sơn đã vào “giải phóng miền Nam”, tiêu diệt chủ nghĩa tư bản, đồng nghĩa với kéo lùi cuộc sống để miền Nam cùng miền Bắc sát cánh tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thấy không khí rộn ràng, cờ đèn kèn trống, hừng hực tinh thần… thù địch, chối bỏ hòa hợp (mà rõ nhất là việc “rút phép thông công” nhà phê bình văn học Đặng Tiến vừa qua đời, kiên quyết không có một dòng về giải thưởng nước Pháp vừa trao cho nhà văn Dương Thu Hương), kiên định con đường đi lên… nghèo đói, chợt nhớ lại những ngày sau “giải phóng”.

***

Như đã nói, đây là thứ thành ngữ mới, tồn tại trong thời gian khá dài hơn nửa thế kỷ ở nước ta, phổ biến vài chục năm trước 1975 ở miền Bắc, sau đó thêm vài chục năm nữa ở miền Nam và cả nước. Bây giờ thì ít được nhắc đến. Nó là sản phẩm của tư duy cộng sản, nằm trong loạt thành ngữ mới như “bơ thừa sữa cặn”, “đế quốc sài lang”, “phồn vinh giả tạo”, “đời đời bền vững”, “ngăn sông cấm chợ”… (những thành ngữ này, tôi đã viết và tải lên FB cả rồi), do chính người cộng sản đẻ ra, cả trong thực tiễn lẫn lý luận.

Cần phải nói ngay rằng các đảng và tổ chức chính trị khi đứng ra giành quyền lãnh đạo luôn đề ra đường lối, chủ trương, xu thế cho đất nước và dân tộc. Nước nào cũng thế thôi. Đảng nào cũng thế thôi, chẳng riêng gì người cộng sản. Khi nó là lý thuyết thì thường rất hay, chỉ có trải qua thực tiễn mới biết được thực chất. Vì vậy, nếu ngay từ đầu, những năm nửa đầu thế kỷ 20 mà ai đó bảo chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là xấu, là dở, là không tưởng sẽ bị đám đông lên án ngay. Chết như chơi. Liên Xô khi ấy là hình mẫu của xu thế cách mạng thế giới, xây dựng chủ nghĩa xã hội xong sẽ tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Họ vẽ ra bức tranh đẹp, ưu việt hơn vạn lần chủ nghĩa tư bản. Những nhà cách mạng vô sản An Nam lặn lội sang học, lôi về và truyền bá ở nước mình.

Lứa chúng tôi sinh giữa thập niên 50 ở miền Bắc được nhét vào đầu biết bao lời hay ý đẹp về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, nào “thiên đường của loài người”, “mùa xuân của nhân loại”, “xu thế tất yếu của xã hội”, “làm theo năng lực, hưởng theo lao động” (trong giai đoạn xã hội chủ nghĩa), “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu” (xã hội cộng sản)… Rất vớ vẩn, không làm mà cũng có ăn. Đại loại họ cứ vẽ vống lên đủ thứ tốt đẹp để lôi cuốn đám đông cần lao, bất kể hiện thực cuộc sống diễn ra hoàn toàn ngược lại. Thế mà rất nhiều người tin. Tôi cũng tin. Mà không tin cũng chả được với họ.

Ở miền Bắc những năm trước 1975, học sinh cấp 3 và sinh viên đại học đứa nào cũng biết thuật ngữ “Ai thắng ai?” nói về cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới. Những giờ học chính trị và triết học Mác – Lênin, các thầy khẳng định chắc như đinh đóng cột rằng phe tư bản, thực dân, đế quốc, bóc lột đang giãy chết, phe xã hội chủ nghĩa ngày càng lớn mạnh. Bọn tư sản, chủ nghĩa tư bản bị dồn đến cùng đường, chó dại cắn càn, gây chiến tranh, nhưng sẽ không tránh khỏi bị diệt vong. Họ bảo “chủ nghĩa đế quốc là giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản”. Diệt xong đế quốc, nhân loại sẽ lên thiên đường, “cùng làm cùng hưởng bình quân chia đều”, “bao giờ thế giới đại đồng/chúng ta sẽ thoát khỏi vòng gian truân”. Cuối những bài nhồi não, bao giờ các thầy hoặc báo cáo viên cũng kết luận “Sức ta là sức thanh niên/Thế ta là thế đứng trên đầu thù”, cả thầy lẫn trò đều hỉ hả.

Ngồi đáy giếng thấy bầu trời chỉ to bằng cái vung nồi. Tất cả sự thực đều bị bưng bít, gần như không ai biết chủ nghĩa tư bản nó thế nào. Bộ máy tuyên truyền của cộng sản rất thành công trong chính sách ngu dân. Đó là sự thực, mà thế hệ chúng tôi sinh sống ở miền Bắc thập niên 50 – 70 trải nghiệm rõ nhất. Cả thế giới bao la rộng lớn đa dạng như thế, nhưng người ta chỉ biết mỗi nước mình; mở rộng hơn chút nữa qua kênh văn học, phim ảnh và bộ máy tuyên truyền, báo chí mậu dịch thì biết thêm về những thiên đường Liên Xô, Trung Quốc, Ba Lan, Tiệp Khắc, Cuba, Triều Tiên, Mông Cổ… Đó mới thực là mơ ước của loài người. Còn đám Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, Nam Phi, Hà Lan… tất cả đều phồn vinh giả tạo, tư bản giãy chết, đều trong cơn hấp hối, cùng đường, sắp sửa bị diệt vong, mà người đào mồ chôn chúng không ai khác chính là chúng ta, những công dân đang hăng hái xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Đang bụng đói cật rét, khổ sở trăm bề nhưng nghe vậy sướng lắm.

Sự dối trá ấy bị xé toạc khi những người ở thiên đường miền Bắc được tận mắt chứng kiến cuộc sống và nền kinh tế ở miền Nam. Người cộng sản không thể ngờ và nghĩ rằng đồng thời với việc họ “giải phóng” được miền Nam thì chính miền Nam cũng giải phóng đầu óc u mê cho hàng triệu người Bắc. Họ tận mắt thấy chủ nghĩa tư bản ở miền Nam đã xây dựng một nền kinh tế hàng hóa dồi dào tới mức những người quen sống trong chế độ bao cấp có nằm mơ cũng không dám nghĩ.

Tháng 4.1977 tôi vào nhận công tác ở Sài Gòn, chỉ một thời gian ngắn hiểu rằng những gì mình được trang bị về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản bị sụp đổ hoàn toàn, hay nói chính xác hơn là dối trá, đảo ngược. Những chuyến hàng hóa sinh hoạt, một dạng chiến lợi phẩm, ùn ùn chảy ra bắc, từ xe cộ, tivi, tủ lạnh, máy cassette, vải vóc, cục xà phòng, cây kem đánh răng, cục pin, hộp sữa tới cái kim sợi chỉ đều lên đường ngược bắc, đủ chứng minh cho cuộc nhận thức lại. Chả biết miền Nam “nhận họ” thì được cái gì, chứ miền Bắc “nhận hàng” không chỉ làm thay đổi cuộc sống vốn nghèo khó bền vững mà còn đổi cả nhận thức cho con người. Bây giờ còn rất nhiều người đã tham gia vào cuộc đối lưu nam – bắc ấy, nếu không tin cứ hỏi họ, chứ tôi chả dám đơn sai.

Rất tiếc là, tầng lớp cai trị đất nước sau năm 1975, cho tới tận bây giờ, hoặc không nhận ra điều đó bởi họ quá say chiến thắng hoặc cố tình lờ đi để củng cố quyền lực. Họ thừa hiểu chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản không thể nào đưa đất nước, dân tộc đến bến hạnh phúc; thừa hiểu phương thức sản xuất tư bản, xã hội tư bản có bao nhiêu điều tốt đẹp cần phải tận dụng và phát huy nhưng đối với họ thay đổi đường lối đồng nghĩa với tự sát nên cứ nhắm mắt lao vào đường hầm, tự đánh lừa chính mình, và ác độc nhất là lừa nhân dân, cả trăm triệu con người. Họ say sưa tự lừa dối chính mình/trong đói nghèo vẫn hét toáng quang vinh.

Tôi còn nhớ, năm 1980, tại nhà văn hóa Thanh niên (4 Phạm Ngọc Thạch, quận 1), ông Nguyễn Hộ khi ấy còn là yếu nhân của chính quyền TP.HCM đăng đàn diễn thuyết nói rằng chỉ 10 năm nữa Việt Nam sẽ thành cường quốc như Liên Xô, phe xã hội chủ nghĩa sẽ thắng lợi trên toàn thế giới. Cả hội trường vỗ tay rào rào. Vài năm sau, ông Hộ nhận thức lại (nói theo kiểu bây giờ là suy thoái, tự diễn biến), chả biết có nghĩ những lúc mình và đồng chí của mình đi trên mây và ngáo như thế không.

Cũng khoảng đầu thập niên 80, khi đám giáo viên chúng tôi người xanh rớt như tàu lá bởi ăn bo bo, mặt mũi ai nấy vêu vao (coi lại cái ảnh cưới do thầy Châu Hoàng Tiểng chụp đen trắng, chú rể là tôi, chỉ thấy hai gò má vêu ra, rất khiếp) thiếu thốn tới mức bốc thăm để được mua từng cuộn chỉ khâu bằng ngón tay út, viên đá lửa, con dao cạo râu… thì đám giáo viên chúng tôi được nghe ông Nguyễn Mại, khi ấy là Phó chủ nhiệm Ủy ban nhà nước về hợp tác đầu tư (tiền thân của Bộ kế hoạch – Đầu tư bây giờ) về hội trường của trường để thông não. Ông Mại say sưa khẳng định, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là cực kỳ đúng đắn, ai sẽ thắng ai, chủ nghĩa tư bản bóc lột tất yếu bị diệt vong. Chỉ chưa đầy chục năm sau buổi diễn thuyết của ông Mại, năm 1991, Liên Xô sụp đổ cái rầm, thành trì vững chắc của cách mạng thế giới tan như bong bóng xà phòng, kéo theo đám đàn em vào cuộc khủng hoảng toàn diện. Nhưng cơ hội nghìn năm có một để thoát khỏi đường cụt đã bị giới cai trị xứ này bỏ qua. Sau này lịch sử công minh cần lên án, vạch tội.

Vừa rồi, có một facebooker còm cho tôi, rằng nếu không có người cộng sản thì liệu đất nước có được như bây giờ không. Lý luận ấy tôi không lạ. Tôi chỉ giả nhời ngắn gọn, đúng như thế. So với năm 1945, 1954, 1975 thì đã thay đổi khá nhiều, kiểu như nông thôn đã có nhiều nhà ngói, nhà mái bằng. Cuộc sống bây giờ là sản phẩm của người cộng sản, của chế độ xã hội chủ nghĩa, nên đó một phần là công của họ. Nhưng, nếu không có họ lãnh đạo, chắc chắn đất nước sẽ khác rất nhiều, tốt hơn nhiều, những rồng châu Á như Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore… chưa chắc đã hơn.

Nhìn ra xung quanh, đừng ngó xa Mỹ, Nhật, Đức, Hà Lan, Bỉ… làm gì, cứ chú mục vào mấy nước gần cũng đủ thực tiễn trả lời “ai thắng ai”, tư bản có giãy chết không. Những con rồng châu Á: Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông đều là tư bản giãy chết. Những con hổ đang trỗi dậy trong khối ASEAN như Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Phippines không có nước nào theo chủ nghĩa xã hội. Họ càng giãy, càng vươn cao, tiến nhanh. Thậm chí “thằng em dại” Campuchia cũng đang ruổi những bước dài sau khi định lại đường lối, chấp nhận đa nguyên, đa đảng, từ bỏ thứ lý luận cũ rích về chủ nghĩa xã hội.

Còn ta, cứ kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đã gần nửa thế kỷ sau chiến tranh, thử nhìn xem đã tạo dựng được vị trí như thế nào. Chừng ấy thời gian mà vẫn thua cả Thái Lan thì phải biết xấu hổ, chứ đừng vênh mặt lên mà ảo tưởng “tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng”. Đẹp mà cứ kéo nhau sang tư bản giãy chết chữa bệnh, con cái từng đàn từng lũ sang tư bản giãy chết học hành, lập nghiệp, quyết không chịu sang những nước cùng phe như Cuba, Triều Tiên, thì đẹp ở chỗ nào.

Hiện thực thế giới rất rõ ràng. Không phải nước nào theo chủ nghĩa tư bản cũng giàu, nhưng những nước giàu nhất là những nước phát triển bằng đường lối và phương châm tư bản chủ nghĩa. Còn phe xã hội chủ nghĩa luôn chạy theo tư bản về nhiều mặt, nhất là kinh tế và mức sống của người dân. Nó, chủ nghĩa xã hội, như miếng da lừa, teo tóp dần, chẳng biết có giãy chết như tư bản không nhưng cứ dậm chân tại chỗ và thụt lùi so với các nước khác. Chủ nghĩa xã hội, nói một cách ngắn gọn, chỉ đem lại nghèo đói và lạc hậu.

Nếu đã xác định mục đích vì đất nước giàu mạnh, nhân dân sung sướng hạnh phúc, thì tại sao cứ phải chê bai chủ nghĩa tư bản, khư khư bám lấy chủ nghĩa xã hội.

Hãy dũng cảm làm cuộc đổi mới thật sự chứ không phải nửa vời, ông Trọng, ông Thưởng, ông Chính và các ông bà tai to mặt lớn ạ. Còn không thì mãi đi cùng các “bạn” Triều Tiên, Cuba, Venezuela và cuộc sống đầy bất công, nghèo đói.

THỰC TRẠNG BUỒN TRONG CUỘC SỐNG-Lm. Anmai, CSsR

Lm. Anmai, CSsR

Mới đây, nhiều người biết ba cây phượng vừa bị đốn tại Trường THPT Bùi Thị Xuân, TP.HCM gây bất ngờ khi vẻ ngoài xanh tốt, trổ hoa nhưng ruột trống rỗng, có đoạn đường kính lên đến 80cm, 90cm. Nhìn cây phượng rỗng ruột tôi lại miên man suy nghĩ về cuộc đời.

Ai ai trong cuộc sống cũng không thích giả tạo nhưng lại cứ giả tạo để cho người ta thấy mình sang, mình đẹp và mình giàu. Thế nhưng rồi có khi đàng sau cái vẻ đẹp ấy cũng chỉ như cây phượng buồn vừa bị đốn. Giàu có và vinh hoa cũng vậy. Có khi phía sau cánh cổng của biệt thự hay căn nhà phố mặt tiền lại là một đống nợ của gia chủ.

Vì muốn hãnh diện khoe mẽ với người khác cho nên ít ai chấp nhận cái thân phận thật của mình để rồi đua nhau chạy theo điều giả dối.

Thực tại, ta thấy câu mà người ta thường hay nói “Hình ảnh chỉ mang tính chất minh họa” là đúng.

Gia đình khá thân quen vẫn thường cho lên mạng hình ảnh đẹp của gia đình mình. Nhưng đàng sau lưng cái vẻ đẹp lung linh rực rỡ ấy đó là câu chuyện của hai vợ chồng trong gia đình đó. Họ không sống chung với nhau cả hơn chục năm trời. Thế nhưng bịt mắt thiên hạ, họ vẫn diễn.

Tôi đã nhiều lần như là trọng tài để chia sẻ, phân tích cho gia đình nhưng họ không nghe. Lâu lắm rồi không giao tiếp nhưng biết họ vẫn không ở chung với nhau như mọi người nhìn vào bức ảnh đẹp của cả gia đình.

Và, câu chuyện không dừng ở đó. Người dì của gia đình đó đã kể “thành tích” của đứa cháu vừa được báo chí tuyên dương. Người bố cũng khoe thành tích của con mình. Có điều, ở trong gia đình mới biết được đó là thành tích ảo. Tôi cũng đã nhiều lần khuyên và nhắn nhủ dì của chàng trai được vinh danh đó để cho cậu ta thay đổi lối sống nhất là quan tâm đến đời sống nhân bản.

Xem chừng tương lai sẽ là người thành đạt trong công việc học tập. Nhưng chưa chắc thành công khi làm việc bởi tính cách như thế. Đặc biệt người dì kể về cháu mình đó là về sự vô ơn.

Tôi không xét đoán, không bình phẩm nhưng chỉ thấy những gì người ta đưa trên mặt báo không đúng với con người thật của chàng thanh niên đó. Nó cũng giống như cây phượng bề ngoài thì xanh um và cho ra hoa  rất đẹp nhưng bên trong thì ruột bị rỗng.

Vấn đề đón nhận sự thật và chấp nhận sự thật xem chừng rất khó trong cuộc sống. Đơn giản là vì ai ai cũng thích khoe cái mẽ bề ngoài dù bên trong gia đình thì trầm trọng.

Dường như bây giờ đi đâu cũng thấy thực trạng đáng buồn này. Người ta bưng bít sự thật để cho mọi người không biết sự thật nhưng đến một ngày nào đó khi người ta phát hiện ra sự thật chắc chắn người ta sẽ rất chán chường.

Như cây phượng bị đốn. Nhiều người vẫn tiếc rẻ khi phải đốn hạ nó nhưng đâu ai ngờ rằng đốn hạ nó sẽ bảo toàn sinh mệnh cho bao nhiêu con người. Nếu như không đốn ngã nó, mưa to gió lớn nó ngã đổ và khi đó không biết sẽ cướp đi bao sinh mạng như bao cây phượng bị trốc gốc.

Như cơ địa của con người. Phần nào bị đau thì ta chữa trị hay như Chúa nói thà mất 1 con mắt mà vào được Thiên Đàng còn hơn cả thân xác vào hỏa ngục. Hay như là thà mất 1 tay để được vào Thiên Đàng còn hơn cả con người phải sa hỏa ngục.

Điều này như Chúa nói con người cần phải loại bỏ những gì xấu, những gì hư để cơ thể được lành mạnh và nhất là được vào Thiên Đàng.

Cũng chỉ vì sợ sự thật và yêu chuộng sự giả dối nên rồi có quá nhiều hậu quả xảy ra trong cuộc sống.

Như câu chuyện 2 người bạn chơi thân với nhau. Họ hết mình tin tưởng đặt niềm tin vào nhau. Đến một ngày nào đó người này phát hiện ra người kia không thật thà có lẽ là cay đắng lắm.

Nói về sự thật và sự bóng bẩy bề ngoài thì ngày hôm nay như là một trào lưu khi trào lưu sống ảo lên ngôi. Bao nhiêu lời nói hoa mỹ mà người ta dành cho nhau nhưng đàng sau sự hoa mỹ ấy toàn là sự giả tạo.

Người ta vẫn thường nói với nhau: “Thật thà thẳng thắn thường thua thiệt! Lọc lừa lươn lẹo lại lên lương!”. Đời vẫn thế mà!  Ai thẳng thắn thường bị trù dập còn ai manh mung thì lại được hưởng vinh hoa.

Thôi thì vẫn là sự tự do lựa chọn của mỗi người. Chuyện sống thật hay sống giả tùy vào sự lựa chọn của mỗi người. Hãy cố gắng sống thật hết sức có thể để đừng rơi vào tình trạng thùng rỗng kêu to hay như cái cây bàng kia nhìn bề ngoài xanh mơn mởn nhưng bên trong thì chẳng có tí ruột nào.

Lm. Anmai, CSsR

Nguồn:Thanhlinh

Tại sao 30 tháng Tư là ngày Quốc Hận?

Tác giả: Tiểu Thạch

Người Việt quốc gia đã chọn ngày 30 tháng 4 là ngày Quốc Hận. Từ “hận” [恨] có nghĩa là “oán giận” (theo Hán-Việt Tự-Điển của Đào Duy Anh, 1963; Hán-Việt Tự-Điển của Nguyễn Văn Khôn, 1960). Trong nghĩa giận còn có ý “oán” [怨] nữa, nghĩa là trách móc như trong câu oán thiên vưu nhân 怨天尤人, trách trời giận người (Hán Việt Từ Điển Trích Dẫn, Paris 2015). Giận vì Miền Nam đã thua Miền Bắc và oán trách vì người bạn đồng minh của mình đã phản bội.

Nhưng thua thì chịu thua. Tại sao lại phải giận? Và đồng minh đã phản bội như thế nào?
Đúng là thua, nhưng giận vì thua không hợp lý: Tự Do Dân Chủ mà phải thua Độc Tài Cộng Sản; Chính Nghĩa mà phải thua cái Ác; và nhất là đứng về mặt quân sự, sự thất bại của vụ tổng tấn công tổng khởi nghĩa của cộng sản Miền Bắc năm 1968, của cuộc tổng tấn công của toàn bộ lực lượng chính quy của cộng sản Miền Bắc trong vụ Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, cũng như sự kiên trì anh dũng giữ nước của quân lực Việt Nam Cộng Hoà từ 1972 đến 1975 đã hùng hồn chứng minh sự vượt trội của quân lực Miền Nam.
Gallery: 50 Years Ago - Vietnam War's Tet Offensive | Tampa Bay Times
Trong vụ tổng tấn công trong dịp Tết Mậu Thân 1968, cộng sản Miền Bắc, bất chấp thoả hiệp đình chiến 36 tiếng để dân chúng đón Tết, đã tấn công ồ ạt trên mọi tỉnh thành Miền Nam. Nhưng quân lực Việt Nam Cộng Hoà, dù quân số chỉ còn lại khoảng 1/61 vì đa số đã được nghỉ phép về quê ăn Tết, vẫn có thể anh dũng đẩy lui cuộc tấn công của toàn bộ quân đội miền Bắc.
Về quân sự, Tết Mậu Thân là một thất bại lớn cho diều hâu chiến tranh Lê Duẫn. Trong vụ tấn công này của cộng sản Miền Bắc, người ta tìm thấy nhiều trẻ em chết bên cạnh những ổ súng máy, chân bị xiềng2 vào ổ súng để chúng phải chiến đấu cho đến chết; có đứa bị xiềng chân vào cổ xe thiết giáp3 để khỏi đào thoát; những tên bắn sẻ thì bị cột chặt vào thân cây4. Những người này đã bị chết một cách thảm thương. Một vài bài viết của người cộng sản Miền Bắc mô tả quân đội Miền Bắc đã tấn công toà đại sứ Mỹ và đã lên đến tầng thứ ba của toà đại sứ với ý định giết đại sứ Mỹ. Nhưng sự thực ở Sài Gòn, ai cũng chứng kiến cảnh mười mấy tên đặc công cộng sản vừa xông vào sân toà đại sứ thì đã bị hạ gục ngay.
Thua về quân sự trong vụ Tết Mậu Thân ở Huế, cộng sản Miền Bắc khi tháo lui đã giết hại tổng cộng 5327 người dân Huế bằng cách bắn chết tại chỗ, chôn sống hằng ngàn người trong những nấm mồ tập thể rải rác khắp ngoại ô thành phố Huế, tại Khe Đá Mài.v.v…sau khi đã dùng cuốc đập vào đầu họ trong khi họ đang bị trói cánh khuỷu lại thành chùm với nhau. Trong số những người này có 4 giáo sư người Đức đang dạy y khoa tại đại học Huế. Ngoài con số 5327 người đã bị sát hại, chúng còn bắt đi biệt tích 1200 người dân Huế vô tội nữa. Về tâm lý quần chúng tại Việt Nam, vụ Mậu Thân 1968 cũng là một thất bại nặng nề cho Đảng Cộng Sản Miền Bắc. Chiến dịch Mậu Thân được gọi là “Tổng Tiến Công Tổng Nổi Dậy” vì Đảng Cộng Sản Miền Bắc có ảo tưởng là nhân dân Miền Nam sẽ đứng lên chống lại, lật đổ chính quyền Miền Nam khi họ tiến quân vào Miền Nam. Họ không ý hội được là nhân dân miền Nam ghê tởm cộng sản, nghe cộng sản đến đâu là nhân dân né tránh, chạy về phía quân lực Việt Nam Cộng Hoà để được che chở, bảo vệ. Ngay người dân miền Bắc cũng ghê tởm họ. Năm 1954 đã có hơn một triệu người Miền Bắc di cư vào Miền Nam để lánh nạn cộng sản. Nếu không có những khó khăn vì di chuyển và những ngăn chặn bằng bạo lực do đảng cộng sản ác độc chủ trương thì hẳn con số di cư còn cao hơn gấp bội.
Lá Thư Nói Thẳng Nói Thật Số 5 - Tượng Đài Cổ Thành Quảng Trị - Mùa Hè ...
Trong vụ Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, sau khi gần như toàn bộ quân đội Hoa Kỳ đã rút ra khỏi Việt Nam chỉ còn lại yểm trợ của không lực của Hoa Kỳ, thế mà quân lực Việt Nam đã đẩy lui trên 200,000 quân đội chính quy của Miền Bắc đồng loạt tấn công vào tất cả mọi thị thành ở Miền Nam.
Quảng Trị – Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 – dòng sông cũ
Sau 1972, khi quân đội Hoa Kỳ đã hoàn toàn rút khỏi Việt Nam; yểm trợ không lực của Hoa Kỳ cũng không còn nữa trong lúc Miền Bắc vẫn được sự tiếp tế đầy đủ của Nga và Tàu. Tàu đã đưa qua Miền Bắc trên 300,000 quân giữ hậu cần để cho quân chính quy Bắc Việt tiến công vào Miền Nam. Thế mà quân lực Việt Nam Cộng Hoà vẫn giữ được nước mãi cho đến tháng 4 năm 1975 với những trận đánh quyết tử Xuân Lộc và An Lộc, trong hoàn cảnh hoàn toàn thiếu thốn đạn dược và xăng nhớt cho xe cộ và máy bay.
Giận vì sự ác độc của người cộng sản còn được thể hiện rõ nét sau khi đã cưỡng chiếm được Miền Nam, họ đã đày đoạ hằng trăm ngàn cán bộ, công chức, quân nhân và cảnh sát trong các trại tập trung từ vài ba năm cho đến hai chục năm, ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, trên rừng thiêng nước độc để những tù nhân oan trái này phải chết dần, chết mòn vì lao động kiệt lực, vì bệnh hoạn, và nhất là vì bị bỏ đói. Trong lúc đó thì của cải của những người này bị tước đoạt, nhà cửa bị trưng dụng, và trong một số không ít trường hợp, vợ của họ cũng bị cán bộ lấy.
Một lý do nữa để cho người Việt quốc gia phải căm giận là cả hơn hai triệu người phải liều chết để trốn thoát khỏi sự tàn bạo, cay nghiệt, độc ác của người cộng sản Miền Bắc. Khi trốn thoát bằng đường biển — trên những chiếc ghe nhỏ bé không thích hợp để vượt biển, có khi chỉ bằng những ruột xe hơi buộc lại với nhau — hằng trăm ngàn người hoặc đã bị sóng biển dập vùi xuống lòng đại dương, hoặc đã bị cướp biển Thái Lan chặn bắt, cướp đoạt tài sản, giết đàn ông, hiếp dâm phụ nữ. Những vụ cưỡng dâm con gái đã có lúc xảy ra trước mặt cha mẹ, vợ trước mặt chồng con. Những cảnh đau lòng này cũng thường xảy ra đối với những người vượt biên qua đường rừng núi Cao Miên, khi họ gặp phải quân lính Khmer Đỏ. Những đau xót này đã in dấu ấn đậm nét trong lòng người Việt quốc gia may mắn thoát được ngục tù cộng sản và đến được bến bờ tự do của những nước dân chủ.
Chuyện tù “cải tạo” của Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia VNCH ...
Ngoài sự căm giận, người Việt quốc gia chúng ta còn oán trách Mỹ, người bạn đồng minh đã phản bội lại chúng ta.
Đúng ra, người Mỹ chỉ là bạn đồng minh bất đắc dĩ.
Trước tiên, chúng ta cần phải khẳng định rằng Ông Ngô Đình Diệm không phải là do người Mỹ đưa lên mà chính vua Bảo Đại đã bổ nhiệm ông làm thủ tướng lúc ông qua Pháp sau khi vận động thất bại ở Mỹ. Trước năm 1953, nước Việt Nam, trên danh nghĩa, đã độc lập; nhưng trên thực tế vẫn chịu sự quản trị và khống chế của người Pháp. Do đó Ông Ngô Đình Diệm đã từ chức thượng thư bộ lại của triều nhà Nguyễn và xuất dương tìm đường cứu nước. Ông bắt đầu qua Nhật, tiếp xúc với Ông Cường Để với hy vọng thành lập một chính phủ quân chủ lập hiến, nhưng không thành công. Trong dịp này ông gặp được một giáo sư khoa chính trị học người Mỹ tên là Wesley Fishel, đang làm việc cho CIA. Ông này móc nối cho ông Diệm làm quen với một số chính khách Mỹ như chánh án Tối Cao Pháp Viện William O. Douglas, đức Hồng Y Francis Spellman, dân biểu Mike Mansfield thuộc tiểu bang Montana, dân biểu John F. Kennedy thuộc tiểu bang Massachusetts. Tuy nhiên, Ông Ngô Đình Diệm không tạo được sự hỗ trợ chính thức của Hoa Kỳ. Lý do chính là vì ông là người công giáo, nên người Mỹ nghĩ là ông không thể điều hành một quốc gia mà họ nghĩ đa số là người Phật giáo.
Ông Ngô Dình Diệm trở về Việt Nam ngày 7 tháng 7 năm 1954 trong cương vị Thủ Tướng cho toàn cõi Nam Trung Bắc Việt Nam, do quốc trưởng Bảo Đại bổ nhiệm. Ngày 21 tháng 7 năm 1954, Hiệp Định Genève đã được ký, chia đôi đất nước ở vĩ tuyến 17. Vùng đất thuộc bắc vĩ tuyến 17 do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Ông Ngô Đình Diệm trách người Pháp đã giao Miền Bắc cho cộng sản. Tại Miền Nam Ông Ngô Đình Diệm được sự hỗ trợ của những đảng phái quốc gia chống cộng, của giáo phái Cao Đài và Hoà Hảo; ông dẹp loạn Bình xuyên do Bảy Viễn cầm đầu, loại trừ được sự chống đối của tướng Nguyễn Văn Hinh do Pháp xúi dục làm đảo chánh.
Late 1960s Photographs of Saigon Going about Its Business While the ...
Với quân đội do người Pháp trao trả, với sự hỗ trợ của các đảng phái quốc gia chống cộng và của Cao Đài và Hoà Hảo, ông Ngô Đình Diệm đã phá tan gần hết hạ tằng cơ sở của cộng sản để lại Miền Nam sau khi đã tập kết ra Bắc theo các điều khoản của Hiệp Định Genève. Ông Ngô Đình Diệm đã thiết lập được một thế đứng chính trị vững chắc cho nền Đệ Nhất Cộng Hoà.
Nhưng sự khai sinh của một Nền Cộng Hoà non trẻ thay cho một nền hành chánh thủ cựu, quan liêu của triều nhà Nguyễn cần sự hỗ trợ về tài lực, kinh tế, kỹ thuật, và quản trị. Đây là thời điểm mà ông Diệm cần sự giúp đỡ của người Mỹ. Và người Mỹ đã đến Việt Nam dưới hình thức cố vấn trong những năm 50 đến những năm đầu của thập kỷ 60. Số cố vấn Mỹ càng ngày càng tăng theo thời gian. Nhưng điều quan trọng là cái nhìn của chính phủ Ngô Đình Diệm không trùng hợp với cái nhìn của người Mỹ về phương diện chính trị. Ông Ngô Đình Diệm chú trọng vào sự thịnh vượng của đất nước và độc lập quốc gia, còn hình thái chính thể thì chưa thể tự do hoàn toàn như các nước Tây phương được. Cái nhìn của người Mỹ thì bao quát cả thế giới qua sự tranh chấp bá quyền và ảnh hưởng giữa lý thuyết tự do và lý thuyết cộng sản.
Nam Ròm: Hình Ảnh của thời Đệ Nhất VNCH (Nguồn http://thangtien.de/ )
Từ góc nhìn tranh chấp bá quyền và ảnh hưởng, người Mỹ thấy cần phải ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản quốc tế xuống Việt Nam và sự lan toả của làn sóng này ra toàn cõi Đông Nam Á, bao gồm cả Lào, Cao Miên, Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Indonesia, New Zealand và cả Australia. Để ngăn chặn sự bành trướng này, người Mỹ nhận thấy khẩn thiết cần phải đưa quân đội vào Việt Nam. Nhưng đây là điểm khác biệt chính yếu về quan điểm giữa ông Ngô Đình Diệm và chính phủ Hoa Kỳ. Đối với ông Ngô Đình Diệm, sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam sẽ (1) làm mất đi chủ quyền quốc gia Việt Nam, và (2) sẽ làm mất chính nghĩa quốc gia, đem lại cơ hội cho lãnh đạo miền Bắc kết án là Mỹ xâm lược, là Miền Nam Việt Nam làm lính đánh thuê cho Mỹ; và Miền Nam cần được “giải phóng” khỏi ách nô lệ của người Mỹ. Đồng thời Miền Bắc có lý do để yêu cầu sự hỗ trợ của các nước cộng sản anh em, Nga và Tàu. Nhưng trên quan điểm của người Mỹ thì dĩ nhiên chủ quyền quốc gia của một nước nhỏ, chậm tiến như Việt Nam không thể cân bằng hay nặng ký hơn quyền lợi của nước Mỹ. Chính nghĩa quốc gia thì đã có “bảo hiểm” bằng sức mạnh của Hoa Kỳ rồi!
Không chinh phục được ông Diệm, tình báo Mỹ đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các tướng lãnh Việt Nam lật đổ chính phủ Ngô Đình Diệm bằng cách khai thác yếu tố dân chủ và đào sâu sự hiềm khích tiềm ẩn giữa Công giáo và Phật giáo mà trong đó một thành phần lớn có ảnh hưởng đã bị cộng sản thẩm nhập. Vụ đảo chánh đã kết thúc bằng cái chết tàn bạo, dã man của hai anh em ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu.
Tháng 3 năm 1965, quân đội Mỹ tiến vào Đà Nẵng mà không cần hỏi ý kiến của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà. Đến năm 1967, có trên 500,000 quân nhân Hoà Kỳ và một số ít quân đội Phi Luật Tân, Nam Hàn, và Thái Lan, v.v… trên đất nước Việt Nam. Trên thực tế, thực sự không ai biết rõ lý do tại sao quân đội Mỹ có mặt ở Việt Nam. Trên mặt chính thức thì quân đội Mỹ được công bố là được dùng để chặn làn sóng cộng sản quốc tế toả rộng xuống toàn cõi Đông Nam Á và như một hệ luận, để bảo vệ nền tự do và độc lập của Miền Nam Việt Nam. Nhưng cũng có người nghĩ rằng đó chỉ là một chiêu bài của nhóm tư bản tài phiệt thông đồng với giới kỹ nghệ để tiêu dụng các vũ khí của Đại chiến II còn sót lại và đồng thời dùng Việt Nam để thử nghiệm những khí giới mới được chế tạo. Quân đội VNCH vẫn sử dụng súng M1-Garand – thứ súng mà quân đội Mỹ dùng trong Đại chiến II – trong những năm 1967-1968. Đến khi Việt cộng sử dụng AK-47 (kalashnikov) thì quân đội VNCH mới được nhận M-16.
Cuộc chiến kéo dài gần như bất phân thắng bại mãi cho đến khi tổn thất kinh phí cũng như tổn thất nhân mạng lên quá cao đối với sức chịu đựng của nhân dân Hoa Kỳ, ảnh hưởng đến bầu cử tổng thống thì lãnh đạo Hoa Kỳ phải cố tìm lối thoát: Hiệp Định Paris 1973. Theo Hiệp định này thì Miền Bắc không được dùng võ lực để xâm chiếm Miền Nam. Nếu Miền Bắc vi phạm điều này thì Hoa Kỳ sẽ trả đũa thích đáng bằng võ lực. Tổng thống Nixon đã gửi thư cho Tổng thống Thiệu khẳng định điều này. Hoa Kỳ vẫn tiếp tục viện trợ kinh tế và quân sự. Về quân sự nếu VNCH hư hao, phế thải một quân cụ hay khí tài nào thì sẽ được thay thế ngay.
Như chúng ta đã thấy, Miền Bắc đã xâm chiếm Miền Nam bằng võ lực. Hoa Kỳ không những không phản ứng mà còn ngưng viện trợ kinh tế cho Miền Nam. Võ khí, đạn dược hoàn toàn không được thay thế, chiến xa và máy bay tác chiến không có xăng nhớt để hoạt động. Trong lúc đó, Miền Bắc được tiếp viện 300,000 quân lính Trung cộng để giữ hậu cần; súng ống, đạn dược, xăng nhớt được Nga và Tàu cung cấp đầy đủ. Dĩ nhiên là người Việt quốc gia mất Miền Nam không phải là vì hèn yếu, vì thiếu khả năng giữ nước, mà vì người bạn đồng minh đã phản bội. Họ đến không cần hỏi ý kiến và khi quyền lợi của họ đã được đáp ứng bằng cách kết cấu với Tàu cộng thì họ bỏ rơi Miền Nam Việt Nam.
Ngoài việc mất Miền Nam một cách tức tưởi, còn hằng trăm ngàn cán bộ, công chức, quân nhân, cảnh sát bị đày ải bao nhiêu năm trời ở nơi thâm sơn cùng cốc, phải lao động cật lực, bệnh hoạn liên miên, bị hành hạ thân xác, bị bỏ đói quanh năm, chết dần, chết mòn; còn năm, bảy trăm ngàn người bị chết trên biển cả vì thời tiết, vì ghe nhỏ không chịu nổi chuyến vượt biển, vì cướp biển giết, vì cướp biển hãm hiếp, vì Khmer Đỏ giết hay bị mìn nổ trong rừng núi Cao Miên. Tất cả những tang thương này đã xảy ra chỉ vì dân quân Miền Nam bị người Mỹ, người bạn đồng minh của mình “đem con bỏ chợ.” Làm sao không oán trách!
30 tháng Tư là ngày Quốc Hận, là ngày người Việt quốc gia phải căm giận về cái thua phi lý của VNCH cũng như về sự tàn ác tột cùng của đảng CSVN và oán trách người bạn phản bội. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể căm thù mãi mãi người bạn này được vì dù sao trên 3 triệu người Việt đã thoát được gông cùm cộng sản và được tiếp đón nồng hậu bởi Hoa Kỳ cũng như bởi những quốc gia tự do khác. Và con cái chúng ta có cơ hội giáo dục tốt, phát triển đời sống chuyên môn và cá nhân của chúng trong một bầu không khí tự do cởi mở. Khi chuyến máy bay đầu tiên chở các trẻ em mồ côi từ Việt Nam sang Hoa Kỳ, chính Tổng thống Ford đã ra tận sân bay đón tiếp. Tổng Thống Carter đã cho phép hàng trăm ngàn người Việt nhập cư. Hơn nữa chúng ta cần phải phân biệt lãnh đạo Mỹ và nhân dân Mỹ. Đa số người dân Mỹ rất tốt, đầy lòng nhân ái. Lãnh đạo Mỹ thì cũng có người tốt đối với người Việt Nam như Tổng thống Ford, Tổng thống Carter. Nhưng chính quyền Mỹ nói chung, cũng như lãnh đạo của bất cứ quốc gia nào khác, chỉ hành động vì quyền lợi quốc gia của họ mà thôi, và quyền lợi này biến đổi theo từng giai đoạn thời gian. Như cựu Thủ Tướng nước Anh Henri John Temple, 3rd Viscount Palmerston đã từng tuyên bố trước quốc hội Anh ngày 1 tháng 3 năm 1948 là: “Chúng ta không có đồng minh vĩnh viễn, và chúng ta cũng không có kẻ thù trường cửu. Chỉ có quyền lợi của chúng ta mới là vĩnh cửu và liên tục, và chúng ta có bổn phận phải đeo đuổi những quyền lợi này” (“We have no eternal allies, and we have not perpetual enemies. Our interests are eternal and perpetual, and those interests it is our duty to follow.”). Lỗi là lỗi lãnh đạo VNCH không hiểu rõ điều này để tiên liệu cho quyền lợi của đất nước mình.
Vietnam War Important Dates Timeline | Timetoast timelines
Ý thức được điểm quan trọng này, một quốc gia nhỏ bé không thể tin tưởng vào lòng tốt, vào sự hứa hẹn hay vào một phạm trù luân lý hay một lý thuyết chính trị để phán đoán lập trường của một quốc gia khác hùng mạnh hơn, cũng như không thể tin tưởng như thế để hành động đưa đến những quyết định liên hệ tới sự sống còn của đất nước mình. Một quốc gia nhỏ bé đang trên đà phát triển luôn luôn cần đến sự hỗ trợ của các quốc gia giàu mạnh hơn. Nhưng trước tiên, quốc gia nhỏ bé này phải có khả năng tự lực cánh sinh qua sự hỗ trợ của đại đa số quần chúng nhân dân để thiết lập một thể chế chính trị vững chắc. Sau đó mới có thể gầy dựng thế liên lập thế giới trên căn bản trao đổi bình đẳng.
30 tháng Tư là ngày Quốc Hận, ngày nhắc nhở một kinh nghiệm thương đau và xót xa cho toàn thể những người Việt quốc gia, nhưng đồng thời cũng là một bài học quý giá cho chúng ta trên con đường cứu nước và dựng nước.
Tiểu Thạch
Pennsylvania 30/4/2019