HƯỚNG VỀ MỘT MÙA XUÂN MỚI

Trong ngày đầu năm, người ta thường tặng cho nhau những lời thật tốt đẹp như : “Vạn sự như ý,” “An khang thịnh vượng,” “tràn đầy hạnh phúc,” “phúc lộc dồi dào”…  Đôi khi những lời chúc mang tính cách hài hước như : “Vạn sự như ý, tỷ sự như mơ;”  hoặc giới trẻ chúc nhau: “Tiền vô như nước Sông Đà, tiền ra nhỏ giọt như… cà phê phin!”  Tất cả những lời chúc đó đều hướng đến sự hạnh phúc mà ai cũng mong chờ.

Tuy nhiên, trong thánh lễ Giao Thừa, qua phụng vụ Lời Chúa, chúng ta nhận được những lời chúc phúc tốt đẹp nhất từ chính Chúa.  Những lời chúc phúc được thể hiện qua “Tám MốiPhúc Thật.”

Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó.

Phúc cho những ai hiền lành.

Phúc cho những ai đau buồn.

Phúc cho những ai đói khát điều công chính.

Phúc cho những ai thương xót người.

Phúc cho những ai có lòng trong sạch.

Phúc cho những ai ăn ở thuận hòa.

Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính…

Tám mối phúc thật chính là những cánh cửa của tâm hồn, được mở ra để đón nhận làn gió xuân, làn gió đem đến hạnh phúc và bình an cho tâm hồn trong năm mới này.

Tâm hồn chúng ta đã được quét dọn sạch sẽ, nhưng nếu những cánh cửa hạnh phúc ấy không được mở ra để đón nhận ánh sáng của Chúa, tâm hồn ta vẫn mãi chìm ngập trong bóng tối của đau khổ và thất vọng.

Cánh cửa hạnh phúc của “Tám Mối Phúc” còn mở ra cho chúng ta một tương lai tràn đầy niềm vui và hy vọng, giúp cho ta nhìn ra một thế giới rộng rãi hơn, bao la hơn của tình yêu thương.  Cánh cửa ấy mở ra để chúng ta gặp được Thiên Chúa và anh em mình.

Tuy nhiên, để mở ra được những cánh cửa hạnh phúc ấy, chúng ta phải có chìa khóa của sự hy sinh, chìa khóa mang hình cây thập giá của đời phục vụ quên mình.  Chiếc chìa khóa ấy đang nằm trong bàn tay chúng ta.

Ngày xưa, tại thành phố kia có một nhà hiền triết xuất hiện và tuyên bố có thể trả lời được tất cả mọi thắc mắc của những ai đến vấn kế.

Một hôm, có một người chăn cừu từ trên núi cao đi xuống xin gặp nhà hiền triết.  Anh ta nắm chặt trong tay một con chim sẻ và hỏi nhà hiền triết: “Xin ngài cho tôi biết: con chim sẻ tôi đang cầm trong tay sống hay chết?”

Nhà hiền triết biết đây là một cái bẫy của người chăn cừu.  Nếu ông bảo con chim còn sống, tức khắc người chăn cừu sẽ bóp con chim chết trước khi mở bàn tay ra.  Còn nếu ông bảo con chim đã chết, lập tức anh ta sẽ mở bàn tay ra và con chim sẽ bay đi.

Sau khi suy nghĩ, nhà hiền triết trả lời: “Con chim sẻ ngươi đang cầm trong tay sống hay chết là tùy ở ngươi.  Nếu ngươi muốn cho nó sống thì nó sống, nếu ngươi muốn nó chết thì nó chết.”

Hạnh phúc cũng giống con chim sẻ kia: đang nằm trong bàn tay ta, đang ở rất gần ta, đang ở bên cạnh ta.  Hạnh phúc đích thực của đời ta là chính Thiên Chúa.  Tuy nhiên, chúng ta có hạnh phúc hay không là tùy ở chính chúng ta: chúng ta có để cho Chúa sống trong chúng ta và chúng ta sống trong Ngài không.

Trong năm mới, chúng ta hãy dâng vào tay Chúa tất cả dự định tương lai và mọi chương trình sắp thực hiện.  Chúng ta tin rằng: trong bàn tay Chúa, chúng ta luôn sống trong an bình và hạnh phúc.

Anh chị em thân mến

Năm cũ đang dần dần khép lại và năm mới đang dần dần mở ra cho chúng ta.  Năm cũ đang lui dần vào quá khứ và năm mới đang từ từ dẫn chúng ta vào tương lai.  Quá khứ – Tương lai – không nằm ở trong tay chúng ta.  Một giây qua đi chúng ta không thể nào tìm lại được.  Một phút chưa tới chúng ta cũng chẳng có cách nào để có được nó trong tay.  Thời gian không nằm trong tay của con người nhưng nằm trong tay của Thiên Chúa.  Chính Thiên Chúa mới là chủ của thời gian nhưng Thiên Chúa lại ban thời gian đó cho con người để con người sử dụng.  Con người sử dụng thời gian để làm gì thì Sách Giảng Viên đã có những gợi ý rất hay:

Ở dưới bầu trời này,

mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời:

có thời để chào đời, có thời để lìa thế;

có thời để trồng cây, có thời để nhổ cây;

có thời để giết chết, có thời để chữa lành;

có thời để phá đổ, có thời để xây dựng;

có thời để khóc lóc, có thời để vui cười;

có thời để than van, có thời để múa nhảy;

có thời để quăng đá, có thời để lượm đá;

có thời để ôm hôn, có thời để tránh hôn;

có thời để kiếm tìm, có thời để đánh mất;

có thời để giữ lại, có thời để vất đi;

có thời để xé rách, có thời để vá khâu;

có thời để làm thinh, có thời để lên tiếng;

có thời để yêu thương, có thời để thù ghét;

có thời để gây chiến, có thời để làm hòa

Vì mọi sự Thiên Chúa làm sẽ tồn tại mãi mãi.

Không có gì để thêm, chẳng có gì để bớt.

Điều gì đang có, xưa kia đã có,

điều gì sẽ có, xưa đã có rồi.

Người công chính cũng như kẻ gian ác đều sẽ bị Thiên Chúa xét xử.

Vì mọi sự, mọi việc, đều có thời, có lúc.  (GV 3,1-8;14-15)

Vâng quả đúng như vậy: mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời và thời giờ đi thật mau.

Dù ta muốn hay không muốn,

bằng lòng hay không bằng lòng,

vui hay buồn,

sướng hay khổ,

thời giờ vẫn cứ đi, luôn luôn đi về phía trước.

Trong một bài thơ cổ, người ta đọc thấy những dòng chữ này:

Khi tôi là một đứa trẻ, tôi cười tôi khóc

thì lúc đó thời gian bò tới

Khi tôi là một thanh niên, tôi táo bạo hơn

thì thời gian đi bộ

Khi tôi trưởng thành, tôi là người chững chạc

thì thời gian chạy

Cuối cùng khi tôi bước vào tuổi chín mùi, tuổi già

thì thời gian bay

Chẳng bao lâu nữa là tôi chết

Thì thời gian đi mất

Ôi lạy Chúa, khi cái chết đến

thì ngoài Chúa ra, không còn gì là quan trọng nữa.

Trong đêm Thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo hội nhắc cho mọi người biết: Thời gian là của Chúa.  Đó là một sự thật vô cùng quan trọng, rất quan trọng đối với mọi sinh vật được sinh ra trên hành tinh này.  Thế nhưng đã có rất nhiều người vô tình hay cố tình quên đi điều hết sức quan trọng đó.  Thời gian là của Chúa.

Nữ hoàng Êlizabeth bên Anh sẵn sàng trả giá cả hàng triệu mỹ kim cho bất cứ một ai có thể kéo dài cuộc đời của bà thêm 5 phút để bà giải quyết nốt những việc còn lại, nhưng chẳng ai làm được việc đó.

Vậy tôi phải sử dụng thời giờ Chúa ban cho tôi như thế nào?

Sưu Tam

From: Langthangchieutim


 

TẾT – (SONG THAO)

Đặng Minh Tâm

Đọc bài này, mình mới hiểu tại sao những người Tù “cải tạo” khi trở về, không nói gì về những ngày tháng trong địa ngục ấy!

TẾT

(SONG THAO)

Nói tới “tết” người ta nghĩ ngay tới Tết Nguyên Đán. Nhưng tết đâu phải chỉ là thời gian giao mùa giữa năm mới và năm cũ. Ngoài Tết Nguyên Đán, chúng ta còn có Tết Đoan Ngọ, Tết Trung Thu. Vậy tết là một ngày hội, một ngày vui được dân gian đón nhận. Những khi năm cùng tháng tận, tôi thường ôn lại dĩ vãng, nhớ lại những gì mình làm được cũng như chưa làm được trong năm cũ. Nhưng, từ bao năm nay, nỗi nhớ dằng dai hơn nhiều, từ ngày được tha khỏi cái gọi là trại cải tạo của Việt cộng. Đối với những người đã bước chân vào vòng tù mà không có tội, án cũng chẳng có, ngày tháng mênh mông như trong những đám mây, thời gian như một thách đố không có lời giải đáp, chuyện được thả cho về với gia đình là chuyện chết đi sống lại. Đó mới là ngày vui, ngày hội, ngày tết đích thực. Ngày về là…tết!

Thường trong các dịp tết, trại cho một số trại viên về, như một trình diễn về cái gọi là nhân đạo của chế độ. Dù chẳng ai tin vào sự nhân đạo của một chế độ lấy chuyên chế làm kim chỉ nam, nhưng cứ được bước ra ngoài vòng cương tỏa của tù tội là tết rồi. Chuyện về là chuyện trúng số. Thần tài gõ vào đầu anh nào, anh ấy hưởng. Tôi may mắn được gõ đầu vào ngay cái tết đầu tiên trong tù. Trong truyện ngắn “Tết Trước Tết”, tôi đã tả lại giây phút…thiêng liêng đó. Sau ba chục ngày vô cũi, chuyện ra về là chuyện canh cánh bên lòng của chúng tôi. Cán bộ cứ ra rả tuyên truyền: “Về hay không là tùy các anh có học tập tốt không thôi!”. Chẳng ai nhét được câu dối trá này vào trong đầu. Rồi ngày định mệnh cũng tới. “ Sáng hôm sau, 26 tết, cán bộ tất tưởi tay cầm cuộn giấy lên kêu họp nhà. Mọi người vội vàng vào hàng ngũ. Chưa bao giờ anh em lại tập họp nhanh nhẹn đến như vậy. Tôi nhìn quanh. Mọi khuôn mặt đều căng lên hồi hộp. Bụng tôi đánh lô tô. Đang ngồi tôi đứng lên nói với đám bạn quen ngồi cạnh:“Đứng lên một cái lấy hên!”. Chẳng ai cười. Người nào cũng còn đang bận đội một thúng chì trên đầu. Mọi cặp mắt đều dồn vào tờ giấy trên tay cán bộ. Tôi thấy trang giấy đen kịt chữ. Chắc cũng phải vài chục tên. Có tên tôi trong đó không? Tôi nhấp nhổm như muốn soi thủng những con chữ trên tờ giấy. Cán bộ lên tiếng yêu cầu im lặng. Căn phòng lặng ngắt tức thì. Cán bộ giáo đầu cà kê về chính sách khoan hồng của nhà nước. Tim tôi nhảy loạn xạ.

Được về hay ở lại? Hai tình huống xa nhau như Thiên Đàng- Địa Ngục.

Tai tôi hững hờ với những sáo ngữ rỗng tuếch đang phát ra từ cái miệng bôi mỡ. Rồi giây phút định mệnh cũng đến. Tên người đầu tiên được xướng lên. Kẻ diễm phúc đứng phắt dậy mặt mũi ngơ ngác tái mét. Tôi bấm đốt ngón tay đếm từng tên. Ngón tay cái chạy gần hết bốn ngón tay kia thì tên tôi được đọc lên. Tôi đứng phắt dậy. Có phải chân tôi đang chạm đất đây không? Đầu tôi lỏng le như chẳng có gì ở trong. Mặt mũi tôi tê rần. Tai tôi lùng bùng nghe tiếng quản giáo hỏi: “Anh ở nhà này à? Sao tôi ít thấy mặt anh?”. Lạy trời đừng có gì trục trặc. Môi tôi như gắn hàm thiếc không nói năng được gì. Tai tôi lại lùng bùng nghe: “Anh ngồi xuống!”. Tôi ngồi phịch xuống. Chiều nay mình sẽ ở nhà mình. Tôi cố làm quen với ý nghĩ mới mẻ này. Những khuôn mặt quanh tôi nhũn ra khi cán bộ gấp tờ giấy lại. Tôi nhìn thấy nét bàng hoàng hoảng hốt, tôi nhìn thấy những giọt nước mắt vội vã, tôi nhìn thấy những khuôn mặt nặng nề cố nuốt nỗi thất vọng. Và tôi cũng nhìn thấy nỗi mừng vui cố giấu kín của những người có tên”.

Tết đến với tôi, tết đến với nhiều anh em khác trại, khác thời gian. Nhưng có đang là mùa hè nóng cháy, được kêu tên ra về vẫn…tết! Tác giả Phạm Đăng Quỳnh kể lại về ngày “tết” của người cha. “Ba nói sáng đó vẫn đi làm bình thường thì ba bất ngờ được tách ra, cho nên anh em bạn tù ai cũng không biết ba được về mà tâm sự hay gửi nhắn gì cho gia đình. Các chỉ huy trại bỗng dưng nhỏ nhẹ lạ thường:“Anh đã biết lao động sản xuất. Lao động là vinh quang anh có biết không? Bác Hồ kính yêu đã dạy như thế. Từ một người chỉ biết ăn bơ thừa sữa cặn của đế quốc, lười biếng lao động, có nợ máu với nhân dân, nhờ cách mạng khoan hồng, giáo dục , bây giờ anh đã được trở về với nhân dân. Hãy nhớ hăng say lao động sản xuất để đền đáp công ơn của cách mạng.

Những gì anh đã trải qua mấy năm nay ở đây, khi về anh không được kể lại với bất cứ ai. Đã có nhiều người không làm như vậy phải quay lại trại. Chính quyền cách mạng sẽ đưa họ trở lại đây cho chúng tôiAnh phải nhớ là chúng tôi không muốn gặp lại anh ở đây một lần nữa, anh nhé! Anh nhớ đấy!”.

Ba nói , dù đã quen với cuộc sống tù tội ở đây, nhưng khi nghe các nhà quản giáo nói đến chuyện quay trở lại ” địa ngục trần gian” này ba không khỏi nổi da gà. Đó là lý do ba tôi và hầu hết những “con trời’ khác khi thoát nạn , trở về ai hỏi gì cũng không dám kể lạiHọ chỉ tập trung làm lụng nuôi sống gia đình, im lặng , khép kín, có vài người còn trầm cảm”.

Một trường hợp được tha về khác, cũng đúng vào dịp Tết Nguyên Đán, do một tác giả không ghi tên kể lại: “Mọi bữa, sắp hàng xong là ra cổng. Bữa nay sao lại dềnh dàng? Hóa ra đợi nghe đích thân trại trưởng tuyên đọc “lệnh tha” nhân dịp Tết Nguyên Đán sắp tới!

Cả mười mấy đội, sáu bảy trăm nhân mạng đều nhốn nháo. Tiếng là thiếu tá mà coi bộ trại trưởng đọc chữ không rành. Trong khi thiên hạ nhấp nha, nhấp nhổm, ông ê a đánh vần thật là sốt ruột. Tiếng ông thì nhỏ mà gã tù tui thì điếc lác sợ không nghe được nên mới nhờ anh bạn đứng kế bên nhắc chừng dùm. Quả nhiên lát sau bỗng thấy anh bạn nắm áo vừa giật vừa hô: có tên rồi kìa! Tôi nghe rồi ngẩn ngơ như lạc vào trong mơ ! Ngơ ngẩn hồi lâu mới giật mình, tỉnh lại bèn chạy u về phòng giam lo thu xếp đồ đạc. Bao nhiêu đồ dồn vô sac marin, chiếc thùng sắt để lại cho thiếu tá Huấn,chánh sở tạo tác NQS như đã hứa. Thiếu tá Tú, thường trực thi đua mới hướng dẫn qua Khu B tạm trú qua đêm. Buổi cơm chiều mới thật là hào hứng. Trại khoản đãi giã biệt bằng cơm trắng thay sắn dui. Lại gặp anh Nguyễn Mỹ, trưởng ty thuế vụ Biên Hòa cùng được thả. Hai anh em chén cơm trắng thịt kho thả cửa. Nôn nao, không sao ngủ được bèn làm đêm không ngủ. Bịch thuốc lào tới sáng đã khuyết một phần tư! Đêm dài rồi cũng trôi qua. Sáng lại đã thấy cán bộ tới làm thủ tục ra tù. Lần cuối cùng lăn tay, nhận lãnh giấy ra tù. Cầm tấm giấy vàng úa mà nâng niu như lịnh thiên tào tha mạng!”.

Bà Thanh Minh, một vợ tù cải tạo, mòn mỏi trông chờ chồng về. Như có sự sắp đặt của trời đất, một bữa bà thấy ông lù lù xuất hiện ở cửa nhà. “ Buổi tối, ngày 30-4-1980, tôi và đứa con đang ngồi ăn cơm, thì chồng tôi bước vô nhà. Trông chồng tôi gầy ốm, đen đúa, quần áo lếch thếch, lưng đeo ba lô. Đâu còn phong độ của thời huy hoàng ngày xưa. Tôi sững sờ, đánh rơi đũa chén, líu lưỡi, không nói nên lời. Chồng tôi cho biết, anh ấy đã được trả tự do vài ngày trước đây. Ra trại Vĩnh Phú, anh ấy về Hà Nội, ngủ ngoài trời một đêm tại sân ga xe lửa. Ngay khi tới Hà Nội, anh ấy đã đến bưu điện, gởi điện tín báo tin mừng, một ngày trước lên xe lửa về Nam. Xe chạy từ Hà Nội vô Sài Gòn mất thêm hai ngày nữa. Thế mà, điện tín lại đi chậm hơn xe lửa. Do đó, sự xuất hiện của chồng tôi đã đem lại cho tôi một sự mừng rỡ, một hạnh phúc bất ngờ, tưởng chỉ có trong giấc mơ mà thôi. Tôi đề nghị hai đứa ra phố ăn cơm tiệm để mừng ngày thoát cảnh tù đày. Chồng tôi nói: “Thôi! Ăn cơm tù nhiều năm quen rồi, bây giờ có ăn cơm nguội cũng sướng như tiên rồi”. Đúng là bị méo mó nghề nghiệp ở tù”.

Đường về có năm bảy lối, lối nào cũng là…tết. Tùy theo những năm tháng ở tù dài hay ngắn, những người về như lạc về cõi thiên thai. Những ngày trong tù, chúng tôi sống như thời tiền sử. Quần áo vá chằng vá đụp, thân hình mốc thếch ghẻ lở trơ xương. Chỉ vài tháng trong trại đã biến những sĩ quan hào hoa, những cấp chỉ huy quần dài áo rộng trong các công sở thành những vật-người. Chúng tôi lượm từng mảnh kim khí, tấm cạc tông, chiếc đinh rỉ hay những thứ ngày xưa chúng tôi coi là rác rưởi. Bất cứ thứ gì cũng có lúc dùng tới. Những chiếc dép cao su ngày đi mới tinh, qua ngày tháng, đứt quai, mòn đế, chúng tôi buộc lại bằng những sợi ni lông đủ màu, trông cứ như phường chèo tất cả. Về lại chốn phố phường, chúng tôi trông chằng giống con giáp nào.

Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp

Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu

Mười năm mặt sạm soi khe nước

Ta hóa thân thành vượn cổ sơ …

(Tô Thùy Yên)

Ngày về, ngày tết của riêng chúng tôi, lòng chúng tôi như mềm đi vì tình nghĩa đồng bào. Những người dân miền Nam, quen hay không quen, đã đón chúng tôi như những người thân từ địa ngục trần gian trở về. Một đoạn trong nhật ký của ông Vương văn Ba kể lại ngày về: “Hôm nay là một trong những ngày vui nhất của đời mình: ngày ra Trại, ngày được phóng thích. Có phải chăng đây là một sự ngẫu nhiên hay sự an bài của đấng thiêng liêng: 15.6.1975 ngày đi học tập cải tạo, 15.6.1983 ngày bước ra khỏi trại, đúng 8 năm tròn không thiếu hay dư một ngày nào. Hôm ấy, 14.6.1983, tức trước một ngày ra Trại, đang ngồi ăn cơm trưa thì anh Oanh làm nhà bếp kề tai nói nhỏ : “Anh Ba hãy bình tĩnh nghe tôi nói, anh có tên trong danh sách về”. Mình yên lặng nhìn anh ấy xem coi có nói chơi hay thật và nói cám ơn. Buổi chiều cả Trại ra sân tập hợp để đi làm. Trước khi đi làm có lệnh đọc danh sách tha. Đợt phóng thích này có tất cả 30 người về : bọn này 22 người, có 1 chính trị địa phương và 7 người trại khác. Ngay chiều hôm đó lên trên cơ quan làm thủ tục về, sáng hôm sau có xe của Trại đưa ra huyện Tân Kỳ, tại đây đáp xe đò ra Vinh. Vinh là thị xã tỉnh Nghệ Tĩnh, chiều ngày 15.6.1983 có mặt tại ga Vinh, nhờ một số các em trẻ tuổi từ Huế ra đây ký hợp đồng với chính phủ xây cất nhà ga giúp đỡ. Các em này hầu hết có gia đình đi cải tạo, nên các em rất thông cảm bọn này, dành chỗ cho nghỉ ngơi để đợi tàu hỏa. Đêm ấy tại Vinh mình ăn ở uống tợn quá, gặp gì ăn nấy, ăn từ 19g00 đến 21g00. Lúc 21g30 loa phóng thanh báo tàu Thống Nhất từ Hà Nội đi Sàigòn đến. Các bạn trẻ người Huế hướng dẫn cả bọn 22 người đi chui ngõ ngách đặc biệt để vào chỗ tàu đậu, xong họ lên năn nỉ với các anh em Kiểm soát viên vé tàu để cho đi. May mắn thay, bọn này gặp các Kiểm soát vé người trong Nam nên họ cho đi tàu khỏi mua vé, dĩ nhiên bọn này phải ngồi nhờ hai đầu lên xuống của toa và chia ra mỗi toa vài người.. Tàu chạy đến Quảng Trị thì trời đã sáng, từ đó trở đi mình ăn uống lu bù, gặp ga lớn ăn theo ga lớn, ngừng ga nhỏ ăn theo ga nhỏ. Thật là khủng khiếp cho kiếp tù đày : đói và thèm. Đến ga Nha Trang lúc 23g00 ngày 16.6.1983, xuống ga tôi và bạn Tuệ, hai người thuê một chiếc xích lô về nhà mẹ Khoa ở đường Nguyễn Thái Học”.

Tác giả Phạm Đăng Quỳnh kể chuyện về của người cha. “Mãn hạn tù cải tạo, ba được ban chỉ huy trại dặn dò cả buổi, rồi phát cho ít tiền. Số tiền ít ỏi này không đủ để đón xe từ trại về nhà, nhưng không sao. Dù cơ thể chỉ còn bộ xương dính da, nhưng niềm vui bất ngờ được ra tù như liều thuốc kích thích, làm cho con người ba hưng phấn hẳn, ba cảm thấy khỏe như thanh niên, xách tay nải ba rời trại. Bước ra đường, ba nghĩ mình đủ sức đi bộ về tới nhà, dù đoạn đường gần vài trăm cây số. Hoặc đi bộ đến khi nào kiệt sức thì sẽ đón xe đò, nhưng không, không bao giờ mình kiệt sức. Chắc chắn vậy. Hoặc chỉ đón xe đi hết địa phận tỉnh Bình Định thôi, rồi xin đi nhờ xe về Quảng Ngãi. Không được, đời mình có lúc như đã tận cùng có thèm xin xỏ ai đâu. Thôi cứ đi bộ. Rồi một chiếc xe đò đột ngột dừng lại phía trước. Anh lơ xe nhảy xuống: “ Mời ông “con trời” lên xe”. “Chú đi bộ được rồi em ơi”. “Ông cứ lên xe, tụi tui không lấy tiền đâu. Chưa kịp suy nghĩ, chú thanh niên to khỏe ôm ba bỏ lên chiếc xe cũ kỹ, ba như chưa kịp định thần, cảm giác vừa vui vui vừa buồn buồn pha chút xấu hổ. Ba hỏi: “Sao mấy em gọi tui là “con trời?”. “ Ông nhìn cái lưng áo của ông có hai chữ CT tổ bố, không phải con trời thì là cái gì? Tụi tui chở nhiều rồi, không lấy tiền ai hết, mà có lấy thì mấy ông tiền đâu đưa? Ông yên tâm, lát nữa tụi tui gửi xe quen cho ông về tận Quảng Ngãi luôn. Mà ông có tự đón xe thì cũng không ai lấy tiền của ông đâu, đừng lo”.

Tôi về từ Long Thành, xe tải bộ đội chạy thẳng về Sài Gòn, đổ xuống vườn Tao Đàn. Xe vừa vào tới thành phố, đồng bào chạy theo reo hò. Cứ như đoàn quân chiến thắng trở về. Chúng tôi chỉ là những tên chiến bại nhưng được chào đón như những người thân yêu về lại quê hương. Chỉ có tình người của những người cùng chia nhau chiến bại mới òa lên được niềm vui rộng rãi như vậy. “Đoàn xe bộ đội đưa chúng tôi về bò ra khỏi con đường đất bụi mịt mù gặp Quốc lộ 15 quẹo mặt. Đường về Saigon. Nỗi bàng hoàng chưa rời khỏi chúng tôi. Ôm nỗi vui mừng quá lớn lao mà chúng tôi ngồi im thin thít không dám nói năng gì. Gió lồng lộng tung hồn tôi lên cao. Tôi nhắm mắt tận hưởng nỗi sung sướng tưởng chừng như nổ tung người ra. Cầu Xa Lộ. Ngã tư Hàng Xanh. Saigon đây rồi. Đoàn xe chạy qua chợ Bến Thành, vào vườn Tao Đàn. Dân chúng đổ xô chạy theo. Khi xe ngừng cho chúng tôi xuống thì con đường nhựa giữa vườn nối liền hai cổng đường Nguyễn Du và đường Hồng Thập Tự đã đầy nhóc người. Những câu hỏi tíu tít trả lời không kịp. Mọi người, nhất là các bà có chồng đi học tập, muốn níu chúng tôi lại hỏi chuyện. Chúng tôi thì muốn bay về nhà ngay. Tôi vất vả luồn lách ra được tới đường Hồng Thập Tự. Một anh xe ôm trờ tới: “Thầy lên xe em chở về”. Tôi leo lên xe. Anh xe ôm vui tính bắt chuyện suốt đoạn đường về tới Thị Nghè. Tới nhà tôi bước xuống bảo chờ tôi vào lấy tiền ra trả. Anh khoát tay: “Tiền nong gì thầy! Em là lính cũ. Các thầy về là mừng rồi. Thôi, chào thầy em đi”.

Người dân miền Nam cùng chung một tấm lòng với những người trở về nhưng mỗi chúng tôi gặp một cách đón mừng riêng. Cách nào cũng làm chúng tôi rớt nước mắt. Vị tác giả vô danh ghi lại một cách đón khác khi hỏi mua thuốc lá của một cô gái trên lề đường. “Hắn sực nhớ lúc nãy cô gái có liếc mắt xuống đôi chân hắn. Hắn chợt thoáng “lý đoán” ra nguyên nhân. Nhìn thẳng vào mặt cô bán thuốc, với vẻ nghiêm trang, hắn nói:“Anh vừa từ trại cải tạo ra, đang trên đường về, nên đành phải mang đôi dép này”. Khi hắn vừa mới nói đến “Anh vừa từ trại cải tạo ra”, cặp mắt cô gái sáng lên và đôi má cô ửng hồng, nhếch lên để lộ ra cái lúm đồng tiền. Hình như cô muốn nói điều gì mà không cất lên được. Cô luống cuống lấy trong hộc ra gói thuốc Hoa Mai còn nguyên rồi bằng hai tay đưa lên sát ngực hắn, với ánh mắt thương cảm trìu mến: “Anh cầm lấy, em biếu anh. Rất tiếc bây giờ không còn thuốc trước 75”.

Tác giả Nguyễn Minh Châu, trong hồi ký “Cuộc Đời Đổi Thay”, cũng nhận được những yêu thương của đồng bào khi từ Yên Bái trở về Nam. Khi xe ghé Huế để ăn trưa, anh được đồng bào o bế nồng hậu. “Ðến thành phố Huế, hai anh bộ đội cho chúng tôi xuống xe để ăn trưa. Ðồng bào hay tin tù cải tạo được về Nam từ các trại tù miền Bắc đã đổ xô tới bao vây chúng tôi. Các bà cụ già và các phụ nữ nhìn thấy chúng tôi mặt mày xanh xao hốc hác, bơ phờ và ốm gầy nên động lòng khóc nức nở. Chúng tôi bị cấm không cho tiếp xúc với đồng bào, nhưng khi nhìn qua ánh mắt của mấy bà tôi hiểu là các bà rất thương cảm chúng tôi và họ hình dung bóng dáng chồng con hay anh em của họ cũng tiêu điều như chúng tôi vậy, nên họ mủi lòng không cầm được nước mắt. Có một bà cụ chửi khe khẽ rằng: “Ðồ quân khốn nạn! Chúng bay đày đọa mấy người cải tạo ra nông nỗi này!”. Một điều làm cho tôi luyến tiếc là phố Huế ngày xưa thanh bình thơ mộng, nay sao tôi thấy tiêu điều buồn tênh! Có lẽ phố Huế cũng buồn theo vận nước? Anh em chúng tôi chia ra từng toán vào các quán ăn cạnh nhau trên một đường phố. Các người chủ quán đều không tính tiền và còn cho uống beer và nước ngọt thật ngon lành vì mấy năm nay đâu được có những thứ này”.

Ông bạn nhà thơ Quan Dương được ra về vào năm 1981, đu theo xe đò tới Ninh Hòa thì nhảy xuống, cuốc bộ hai cây số về nhà.

Chiếc xe đò rùng mình nín thở

Quẳng xuống đường một nhúm xương khô

Gã lính ngụy lưu đầy ngơ ngác

Chưa dám tin mình đã trở về.

Những người về từ ngục tù Cộng sản chúng tôi ấm lòng khi được đồng bào miền Nam đón tiếp nồng hậu. Hình như họ nhìn thấy chính họ trong cái tiều tụy của chúng tôi. Đồng bào, hai chữ thật thân thương. Nhưng cũng thật rắc rối. Chúng tôi vừa thoát khỏi bàn tay nghiệt ngã của một thứ “đồng bào”, để được đón nhận thân tình từ một thứ “đồng bào” khác. Vận nước tới lúc như vậy, vận nước cũng sẽ tới lúc khác vậy. Để cho hai chữ “đồng bào” trở về đúng nghĩa của nó. Dù sao, những con người rách nát cả thể xác lẫn tinh thần chúng tôi cũng lê được cái thân tàn về với đồng bào miền Nam thân yêu. Và chúng tôi đã được đón nhận như những đứa con hẩm hiu tìm về được căn nhà cũ. Vậy là vui rồi. Vui như tết!

11/2018


 

Người đã lập gia đình sống hạnh phúc hơn

 Ba’o Nguoi-Viet

February 9, 2024

WASHINGTON, DC (NV) – Sau khi lập gia đình sống hạnh phúc hơn có lẽ không chỉ có trong truyện cổ tích mà còn có trong dữ liệu chính thức.

Người đã lập gia đình sống hạnh phúc hơn nhiều so với người chưa lập gia đình, theo kết quả khảo sát được Gallup, công ty phân tích và cố vấn ở Washington, DC, công bố hôm Thứ Sáu, 9 Tháng Hai, CNN đưa tin.

Người đã lập gia đình sống hạnh phúc hơn người chưa lập gia đình. (Hình minh họa: Storyblocks)

“Phân tích dữ liệu đó bằng bất cứ cách nào, chúng tôi đều thấy lợi ích khá lớn và đáng kể của việc lập gia đình,” ông Jonathan Rothwell, kinh tế gia chính của Gallup, cho biết.

Từ năm 2009 tới 2023, nhóm nghiên cứu của Gallup hỏi hơn 2.5 triệu người Mỹ trưởng thành đánh giá cuộc sống hiện tại của họ ra sao, trong đó zero là tệ nhất và 10 điểm là cao nhất. Sau đó, nhóm nghiên cứu hỏi họ dự trù mức độ hạnh phúc của họ sẽ như thế nào sau năm năm nữa.

Để được coi là hạnh phúc, người ta phải chấm cuộc sống hiện tại bảy điểm trở lên và dự trù tương lai tám điểm trở lên, theo khảo sát.

Trong giai đoạn khảo sát, người đã lập gia đình lúc nào cũng báo cáo mức độ hạnh phúc của họ cao hơn người chưa lập gia đình, từ 12% tới 24% tùy năm.

Sự khác biệt này vẫn có thậm chí khi nhóm nghiên cứu điều chỉnh yếu tố như tuổi tác, chủng tộc, sắc tộc, giới tích và học vấn, theo khảo sát.

Giới chuyên gia đưa ra vài lý do lập gia đình làm người ta hạnh phúc hơn, trong đó đặc biệt là người đã lập gia đình lúc nào cũng có chỗ dựa an toàn, chắc chắn mỗi khi gặp khó khăn. (Th.Long)


Hoa Tết ế ở Sài Gòn, Hà Nội, đành vứt xe rác vào trưa 30 Tết

Ba’o Nguoi-Viet

February 9, 2024

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Tương tự kết cục mọi năm Âm Lịch, nhiều cây đào, cây mai, vạn thọ… ở Sài Gòn, Hà Nội không bán được, trở thành rác thải sau 12 giờ trưa 9 Tháng Hai, tức 30 Tết.

Theo ghi nhận của tạp chí Tri Thức (ZNews) hôm 9 Tháng Hai, từ giá ban đầu 2-3 triệu đồng ($81-$122) mỗi cây, những cây đào đem từ miền Bắc vào bán tại chợ hoa Công Viên 23 Tháng Chín, quận 1, Sài Gòn, đại hạ giá vào giờ chót chỉ còn 100,000 đồng ($4) nhưng “vẫn rất ít người mua.”

Những cành đào từ miền Bắc trở thành rác thải tại chợ hoa Tết ở công viên 23 Tháng Chín, quận 1, Sài Gòn, sau 12 giờ trưa 9 Tháng Hai, tức 30 Tết. (Hình: ZNews)

Đa số các cành đào đều bị bỏ lại để xe rác thu gom.

Kết cục buồn cũng diễn ra với các chậu bông cúc, hướng dương, vạn thọ khi được người bán giảm giá từ ba, bốn lần so với giá ban đầu, chỉ còn 80,000-150,000 đồng ($3.2-$6.1) cho mỗi cặp.

“Số ít khách qua đường cảm thấy đồng cảm với các tiểu thương nên ghé mua ủng hộ ngày cuối cùng trong năm,” bản tin viết.

Cũng theo tạp chí ZNews, tình cảnh ế ẩm của hoa Tết cũng diễn ra tại các chợ ở Hà Nội như Lạc Long Quân, Nhật Tân, Quảng Bá, Trích Sài, khi hoa ê hề trong lúc người mua chỉ lèo tèo.

Phóng viên ghi nhận, tại chợ hoa trên đường Lạc Long Quân, Nghi Tàm, nhiều người bán quyết định vứt bỏ những cành đào và các loại hoa khác để kịp về nhà đón Giao Thừa cùng gia đình.

Trong khi đó, công nhân vệ sinh môi trường được ghi nhận tất bật thu gom các cành đào do người bán vứt bỏ.

“Năm nào cũng vậy, cứ đến ngày 30 Tết, chúng tôi phải đi gom hàng tấn đào do tiểu thương bán ế bỏ lại và đem đi tiêu hủy,” bà Thu, một công nhân vệ sinh môi trường, được dẫn lời.

Cũng trong hôm 30 Tết, báo Thanh Niên cho hay, hàng vạn chậu hoa, cây cảnh ế ẩm không bán được đang chất đầy chợ hoa Xuân bên bờ vịnh Hạ Long ở tỉnh Quảng Ninh khiến nhiều người xót xa.

Kết cục của những cành đào tại một chợ hoa Tết ở Hà Nội. (Hình: ZNews)

Theo bản tin, phần lớn người bán tại chợ hoa Xuân Hạ Long đều “rầu rĩ, than vãn” về tình trạng hoa Tết ế ẩm do kinh tế khó khăn.

Tại chợ hoa này, các loại hoa đắt tiền như hoa lan, hoa đào cổ, mai vàng Yên Tử có rất ít người chọn mua.

Thay vào đó, Tết năm nay, người dân chủ yếu tìm những cành đào nhỏ với giá khoảng 100,000-500,000 đồng ($4-$20).

“Năm nay mai vàng Yên Tử là loại hoa ít được người mua nhất, vì giá thành cao. Nếu bán rẻ thì làm mất giá trị của cây nên đành đem về trồng lại sang năm bán tiếp và chịu lỗ công vận chuyển,” ông Nguyễn Quang Minh, người bán hoa ở thị xã Đông Triều, tỉnh Hải Dương, được dẫn lời. (N.H.K) [qd]


Dấu hiệu sụp đổ của VinFast đã rất gần

Ba’o Tieng Dan

Kim Văn Chính

9-2-2024

Làm chuyện lớn phải có bộ hạ. Thần thiêng nhờ bộ hạ là vậy. Vậy “bộ hạ” của Vin là ai khi họ làm VinFast?

Ban đầu (cả giai đoạn xe xăng và giai đoạn chuyển sang xe điện), ta thấy họ cũng thuê khá đủ lệ bộ từ Tổng giám đốc đến các phó tổng là người nước ngoài, từng làm các vị trí điều hành trong ngành ô tô. Nhưng sau đó các nhân lực cao cấp nước ngoài bỏ đi hết (lý do được giấu kín, quy định ngay từ hợp đồng như vậy). Nhưng rõ ràng là (ai cũng có thể thấy) họ bỏ đi vì họ bất đồng về chiến lược và phương thức quản trị của Vin. Hoặc họ nhìn rõ triển vọng đen tối của công ty, không muốn làm mất danh tiếng của họ…

Vin chỉ còn trông chờ vào các chiến tướng Việt – những người ít nhiều cũng gắn bó với công ty bằng danh tiếng và cả vốn góp cổ phần nặng ký… Trong nhóm này ta thấy có hai chiến tướng:

1/ Ông Võ Quang Huệ, hiện đã trên 70 tuổi, là kỹ sư tốt nghiệp ở Đức, hơn 10 năm làm việc cho BMW, sau đó làm việc cho Bosch và được bổ nhiệm giám đốc Bosch Việt Nam. Ông quê Quảng Nam (cùng quê với cựu Thủ tướng, sau Chủ tịch nước, rất mê ô tô) và được mời vào Ban cố vấn cho thủ tướng hồi đó. Duyên nợ của ông với Vin để đẻ ra VinFast bắt nguồn từ chỗ đó.

Trên báo chí viết, ông [Huệ] “bị” ông Vượng thuyết phục để về làm cho Vin phát triển ô tô, chứ thực ra, theo tôi, chính ông mới là người vì những động cơ cá nhân trong nhóm lợi ích mà ông thuyết phục ông Vượng bỏ cả đống tiền lãi thu được từ bất động sản để đầu tư vào lĩnh vực khó chơi là ô tô (một lĩnh vực mà ông Vượng chẳng có chút kinh nghiệm, kiến thức và đam mê gì).

Theo tôi, cái sai chết người và mang tính định mệnh là ông Vượng đã tin con người này và nghe theo ông ta trong phát triển ngành xe hơi. Nay thì ông Huệ đã “chạy mất dép” rồi, (người bảo trợ đồng hương Quảng Nam cũng bị thất thế rồi), để lại cho ông Vượng cái xác VinFast chỉ chờ thối rữa.

2/ Bà Lê Thị Thu Thủy, quê Bình Định. Bà này tiếp nhận cái thấy ma VinFast khi ông Huệ và các giám đốc nước ngoài bỏ đi hết. Bà Thủy là dân học về ngoại thương, trưởng thành ở Nhật, Mỹ về kinh doanh chứng khoán và tài chính. Bà có tài (về tài chính) đến mức được bổ nhiệm đảm nhận những chức vụ rất quan trọng của các công ty tài chính quốc tế, có uy tín và thương hiệu trên thế giới về kinh doanh, môi giới tài chính.

Khi bà hợp tác với Vin, ông Vượng đã nhanh chóng bổ nhiệm bà vào các chức vụ quan trọng và cao cấp nhất (thay cho bà Hương trước đây). Bà Thủy đã cứu Vin nhiều bàn thua trông thấy (chủ yếu bằng phương pháp tài chính như bán trái phiếu thành công, vay vốn từ các định chế tài chính…). Và khi VinFast bị các chiến tướng chuyên ngành bỏ rơi, bà Thủy buộc phải nhận cái thây ma đó về để làm tổng giám đốc toàn cầu. Bà đã lún quá sâu vào Vin (cổ phần và danh tiếng) nên buộc lòng phải ra tay lần nữa.

Và con đường của bà dẫn dắt VinFast rất đặc trưng cho kiểu chiến lược của đàn bà chuyên về tài chính (chả có tí chuyên môn gì về ô tô cả về kỹ thuật và thương mại bán hàng ô tô). Bà biến VinFast thành toàn cầu. Định hướng thị trường trọng điểm và nơi sẽ gọi vốn là Mỹ – Âu. Bà dùng những chiêu trò tài chính và marketing rẻ tiền sặc mùi con buôn tiểu chủ Á Đông, chả hiểu gì về văn hóa và tâm lý tiêu dùng của người Âu – Mỹ.

Với chiến lược và các chiêu trò như vậy, VinFast sống được đến giờ và giá cổ phiếu vẫn trên 5 đô la là điều chiến tích lớn rồi. Nhưng như vậy chưa đủ để cứu VinFast.

3/ Ông Vượng phải trực tiếp ra tay (ông trở thành CEO VinFast). Ông quay ngoắt sang chiến lược tự bán xe cho mình (lập các công ty taxi ở nhiều nước để mua xe của Vin). Ông phát triển phương thức hợp tác với các công ty chuyên cho thuê xe và đại lý bán hàng để ký gửi xe. Ông mở rộng sang các thị trường châu Á (Ấn Độ, Indonesia, Philippines…) với hy vọng xe của ông bán được, cứu công ty không phá sản. Ông tiếp tục chiêu trò quảng bá đánh lừa khách hàng mua xe của ông…

Và ông tiếp tục phải ôm “của nợ” VinFast để làm CEO nốt giai đoạn thối rữa của nó…


S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Phóng Sanh

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Trong một buổi tọa đàm (“Về Tư Cách Trí Thức Việt Nam”) ở Berlin – vào năm 2000 – nhà văn Phạm Thị Hoài đã phát biểu “ngoài lề” khiến cho vài người tham dự mất vui, và số đông còn lại thì rất mất lòng:

“Nhân đây cũng xin nói ngoài lề là cái tinh thần rất nổi tiếng và thường xuyên được ca ngợi rằng, người Việt hiếu học, cha mẹ muốn con hay chữ, yêu thầy, theo tôi một phần cũng rất đáng kể xuất phát từ tinh thần yêu địa vị và trọng quyền lực. Nếu chữ nghĩa không mở ra được một triển vọng thơm tho như vậy, một người đi học thi đỗ làm quan thì cả họ được nhờ, tôi tin rằng cái sự hiếu học kia chắc chắn là giảm đi đáng kể.”

Diễn giả, nói nào ngay, không có chi sai trật cả (chỉ hơi thiếu tế nhị chút xíu thôi) nhưng sự thật vốn dễ mất lòng nên bà đã nhận được khá nhiều gạch đá, từ khắp bốn phương.

Mà sự thật nào chỉ có thế. Tính vị lợi của người Việt không chỉ thể hiện qua “cái chí làm quan”! Họ còn “đầu tư công ̣đức” theo kiểu “tu nhân tích đức nữa cơ. Cứ thử nghe chơi đôi ba câu ca dao, tục ngữ, hay thành ngữ của dân tộc này xem:

  • Người trồng cây hạnh người chơi/ Ta trồng cây đức để đời về sau 
  • Có đức mặc sức mà ăn
  • Làm phước để đức cho con cháu

Cách làm phước có cả đất lẫn trời chứng dám, thiên hạ quan chiêm, được ưa chuộng và phổ biến nhất nhất hiện nay là thả chim hay thả cá. Phóng sinh, tuy thế, đang bị rất nhiều người càm ràm (hay chỉ trích) tưng bừng. Xin phép được trích dẫn năm ba, theo thứ tự alphabétique:

  • Thảo Dân: “Bắt bất cứ con gì rồi đem thả ra để cầu lợi lạc đều là hành động hủy diệt môi trường và hiểu sai nghĩa của từ ‘phóng sinh”.
  • Thái Hạo: “Người ta đang tự do, đi bắt nhốt lại, đốt hương khói nghi ngút, khiến cho thân tàn ma dại, rồi mang thả ra, đó là làm cho khốc hại, là hiện thân của cái ác, chứ không có chút từ bi nào cả.”
  • Trương Nhân Tuấn: “Trước đạo pháp, hành vi ‘phóng sinh’ của các chùa quốc doanh trở thành một ‘tội ác’. Trước thiên nhiên, chuyện phóng sinh (kiểu chùa VN) là hành vi tàn phá môi sinh, làm đảo lộn tuần hoàn của hệ sinh thái địa cầu.”
  • Mạc Văn Trang:“Cách ‘diễn trò phóng sinh’ như các chùa làm hiện nay đã và đang bị rất nhiều người lên án: Đó là tội ác chứ không phải phóng sinh!”

Đúng là chúng khẩu đồng từ, ngoại trừ FB Trà Đóa. Tương tự như nhà văn Phạm Thị Hoài, trong buổi tọa đàm ở Berlin hơn 20 năm trước, nhân vật này cũng vừa phát biểu hơi bị lạc đề: “Chỉ dân tộc này mới cần phóng sinh, bị nhốt lâu quá rồi.”

Nghe thiệt mất lòng nhưng xem ra thì quả là không trật. Tuy không phải là “đối tượng” của tệ trạng phóng sinh nhưng đại đa số dân Việt lại là nạn nhân của một thứ nhân tai khác, chiến tranh giải phóng, và không chỉ một lần.

Họ đang sống tự do, chả khác chi chim trời/cá nước, ở một vùng đất an lành (“gạo trắng trăng thanh”) thì bỗng dưng miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Sau đó, sau 30 tháng 4 năm 1975 thì không chỉ hàng triệu người buồn mà còn cả triệu người phải đi tù nữa chớ. Có kẻ bị giam mãi đến 1993 (18 năm trường, dù chương trình “cải tạo” được hứa hẹn chỉ kéo dài độ mười ngày) thì có biết bao nhiêu triệu gia đình tan nát ?

Mà không chỉ đám ngụy quân, ngụy quyền (hay đám ngụy dân) mới bị gạt ra ngoài  bản hòa ca Bắc/Nam thôi đâu. Tuy chiến tranh đã chấm dứt nhưng hòa bình, xem ra, cũng không được an lành gì cho lắm. Đời sống của phần lớn mọi người bỗng trở nên khó khăn, khó thở, và xáo trộn “như một bầy ong vỡ tổ” – theo như lời than thở của FB Mai Thị Mùi:

“Đất nước thống nhất nhưng cuộc sống người dân như bầy ong vỡ tổ. Người ta lăn xả ra đường tìm kế sinh nhai, bán, buôn, đổi chác tất cả những gì có thể. Hàng hoá thiếu thốn, ngăn sông cấm chợ, quy định, luật lệ lộn tùng phèo tạo nên một xã hội xô bồ mạnh ai nấy buôn, mạnh ai nấy bán. Không khí đất nước những năm tháng ấy như căn phòng đóng kín cả cửa đi lẫn cửa sổ. Nó ngột ngạt, tù túng như vậy hãm con người ta trong ngục tù.”

Bà Mùi có quá lời không?

Hổng dám quá đâu!

Rảnh: hãy nghe thêm đôi lời thống thiết của một phụ nữ khác, một chiến sỹ thuộc đoàn quân giải phóng – nhà văn Dương Thu Hương: “Vào miền Nam tôi khóc vì sao? Là bởi vì tôi hiểu đạo quân chiến thắng ở miền Bắc phụ thuộc vào một chế độ man rợ.”

Bà không phải là người duy nhất ở Bên Thắng Cuộc đã ngậm ngùi rơi lệ trước một cảnh tượng bẽ bàng. Nhà thơ Phan Huy cũng thế:

Trước mắt tôi, một Miền Nam sinh động
Đất nước con người dân chủ tự do
Tôi đã khóc ròng đứng giữa thủ đô
Giận đảng giận đoàn bao năm phỉnh gạt

Với thời gian, mọi “phỉnh gạt” đều dần được phơi bầy. Tiến sĩ Lê Hiển Dương, nguyên hiệu trường Đại Học Đồng Tháp, một nhân vật tuy thuộc thế hệ sau nhưng cũng cảm thấy áy náy và bất an không kém:

“Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó. Tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ ‘giải phóng miền Nam’ và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân… mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội.”

“Chỉ dân tộc này mới cần được phóng sinh, họ bị nhốt lâu quá rồi.” FB Trà Đóa

Mà đó có phải là lần đầu cái dân tộc này phải trải qua một cuộc “bể dâu” đâu. Hồi tháng 10 năm 54 cũng thế:

Lê Phú Khải: “Ngày vui ngắn chẳng tày gang, không khí hồ hởi vui tươi sau chiến thắng Điện Biên Phủ, sau hòa bình lập lại 1954 ở Hà Nội cũng như toàn miền Bắc mau chóng nhường chỗ cho những ngày ảm đạm, u ám của những cuộc ‘đấu tranh giai cấp’, của cải cách ruộng đất, của cải tạo tư sản, đấu tố …”

Nguyễn Văn Luận: “Hà Nội im lìm trong tiết đông lạnh giá, người Hà Nội e dè nghe ngóng từng ‘chính sách’ mới ban hành… Hà Nội đói và rách, khoai sắn chiếm 2 phần tem gạo, 3 mét vải ‘cung cấp’ một năm theo ‘từng người trong hộ’. Mẹ may thêm chiếc quần ‘đi lao động’ thì con nít cởi truồng.”

Bùi Ngọc Tấn: “Quản lý chặt dạ dày, hộ khẩu, duy trì tình trạng thiếu đói cả ở nông thôn và thành phố, chia nhau từng mét chỉ, nửa cây kim, nửa cái bát sành…”

Từ 1954 đến 2023 là một khoảng thời gian không ngắn, vừa đủ cho cả mấy thế hệ luôn. Có lẽ FB Trà Đóa nói đúng: “Cả dân tộc này mới cần được phóng sinh, họ bị nhốt lâu quá rồi.” Lâu đến mức mà hầu như không ai còn nhớ rằng mình đang bị giam cầm nữa.


 

ĐẤNG THÁO CỞI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ephpheta”, “Hãy mở ra!”.

“Có nhiều lý do khiến Chúa không nên gọi bạn. Nhưng đừng lo! Ngài là Chúa hơn là Sếp. Ngài không tính lãi, lỗ; không thành kiến, thù dai, hay chảnh choẹ. Bạn có thể làm những điều tuyệt vời cho những người tuyệt vời nhưng vẫn không… tuyệt vời. Satan nói, “Bạn không xứng đáng!”; Giêsu nói, “Vậy thì sao?”. Satan nhìn bạn, chỉ thấy sai lầm; Giêsu nhìn bạn, chỉ thấy đáng thương! Ngài là Đấng tháo cởi, đầy thứ tha!” – Paul Cho Yonggi.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay nói đến ‘Đấng tháo cởi’ mà Cho Yonggi đề cập nhân việc Chúa Giêsu chữa lành một người câm điếc. Lời Chúa mời gọi bạn và tôi tự hỏi, “Dẫu có niềm tin, nhưng tại sao tai và miệng tâm linh của tôi không được mở ra?”.

Phải chăng chúng ta đã quá quen chìm đắm trong di sản đức tin Công Giáo đến nỗi coi thường những chân lý đã được lãnh nhận? Phải chăng chúng ta đã coi thường khả năng nghe, nói của mình? Hãy biết, có nhiều người không thể đón nhận mầu nhiệm mặc khải, không phải vì nó không được ban, nhưng bởi họ không được chuẩn bị để đón nhận. Vì thế, hãy chiêm ngắm Giêsu, xin Ngài tháo cởi tâm hồn và môi miệng bạn, hầu biết vui mừng trong ân sủng đã lãnh nhận; đồng thời, biết chia sẻ niềm vui ân sủng đó cho bao người.

Chúa Giêsu đã tỏ quyền năng để người câm điếc nghe và nói được. Cũng thế, nếu không được Ngài tháo cởi; chúng ta không thể nói lên thông điệp ý nghĩa cuộc sống của mình, không thể hiến mình cho Thiên Chúa và tha nhân, và cuộc sống cứ thế trôi qua! Nhưng nếu Ngài chạm ‘vào tai, vào lưỡi’ của chúng ta, cuộc sống của chúng ta sẽ có một hướng đi và một ý nghĩa hoàn toàn mới. Thánh Vịnh đáp ca nói, “Ta là Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hãy nghe Ta răn bảo!”. Bài đọc Các Vua cũng cho biết, giá mà Salômon biết nghe lời Thiên Chúa, thì vương quốc của ông đâu đến nỗi bị phân thành mười hai mảnh!

Đức Phanxicô nói, “Tất cả chúng ta đều có đôi tai, nhưng rất thường xuyên, không thể lắng nghe. Có một chứng điếc đặc nội tâm mà mỗi người có thể cầu xin ‘Đấng tháo cởi’ chạm vào và chữa lành ngay hôm nay. Đó là điếc nội tâm, tệ hơn cả điếc thể chất, vì nó là điếc của trái tim. Mỗi ngày thức dậy, hãy tự hỏi bản thân, khả năng lắng nghe của tôi thế nào? Tôi có để mình xúc động trước cuộc sống của những người khác không? Tôi có biết dành thời gian để lắng nghe những người thân yêu?”.

Anh Chị em,

“Hãy mở ra!”. Bằng việc chữa lành người câm điếc, Chúa Giêsu tiết lộ một điều gì đó cấp bách. Ngài hành động không do dự, dứt khoát và rõ ràng. Ngài muốn tạo nên một sự khác biệt. Sự hiểu biết này sẽ mang lại cho chúng ta một niềm an ủi lớn lao; rằng, Ngài sẵn lòng thi hành quyền năng để mang lại điều tốt đẹp nhất cho cuộc sống mỗi người. Sau khi được lành, người câm đã trở thành đại diện cho sự cứu rỗi của Thiên Chúa; giờ đây, ai có thể giữ anh ta im lặng về trải nghiệm tuyệt vời trước ‘Đấng tháo cởi’ miệng lưỡi anh! Anh đã tin nên anh đã nói! Vậy tại sao tôi im tiếng? Tôi không biết rằng, với tư cách là người Công Giáo, tôi cũng là nhân chứng cho thế giới rằng, tình yêu tồn tại?

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, không chỉ cởi tai con, miệng con, nhưng cả trái tim; cho con trở nên một khí cụ sắc bén, một thợ lành nghề trên ‘đồng lúa thế giới’, đồng lúa xa, đồng lúa gần!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

Vài Cảm Nghĩ Về Ngày Tết Âm Lịch-Duy Khang (1)

Khang Duy Nguyen is in Sugar Land.

Hôm nay đã là ngày 30 Tết Âm Lịch, sáng sớm tinh mơ tôi dạo bước ra vườn bắt gặp nụ đào chúm chím rung rinh trước gió, lòng lại lâng lâng vui. Những cánh hoa đào đầu tiên hé mở, khỏe khoắn, hồng tươi trong sương, trong nắng, trong gió, trong lạnh thành một thông điệp báo xuân, gieo vào lòng người từ già đến trẻ niềm vui hân hoan, nao nức, bời bời… Xuân đang về! Điệp khúc nhiệm mầu này thường niên của thời gian tái hiện bình thường theo quy luật tự nhiên mà sao mỗi khi gặp lại, lòng ta vẫn vẹn nguyên ngóng trông hồi hộp, để rồi mỗi giao thừa trong đêm ba mươi lại dâng trào cảm xúc. Trong khoảnh khắc thiêng liêng này, bên nhà chỉ còn vài tiếng nữa là giao thừa, năm Giáp Thìn 2024 sẽ đến, nhà nhà người người, lòng ta hướng về những gì thành kính nhất, yêu thương nhất, mà thầm ước vọng, nguyện cầu mong một năm mới đủ đầy, may mắn, an khang… cầu chúc cho người dân Việt mình có một Mùa Xuân yêu thương, hạnh phúc.

Tôi luôn nhớ không gian chiều Ba mươi Tết. Nó bảng lảng khói sương và có gì bâng khuâng khó tả. Ông Bà Nội của chúng tôi là dân gốc Bắc 54 và đạo ông bà. Do vậy khi mâm cúng tất niên của Bà Nội tôi đã xong, mọi công việc trong nhà, đã gọn ghẽ, ông bà nội của tôi thắp hương cầu nguyện mong muốn những người đã khuất về ăn Tết. Vàng hương bay lả tả trong chiều muộn dễ gợi người ta nghĩ rằng, có lẽ, tất cả những người đã mất sẽ trở về nhà trong ba ngày Tết bằng một cách nào đó. Mấy anh em gia đình chúng tôi theo Đạo Công Giáo, tục lệ này thay vào đó là đi tảo mộ trước Tết để khấn mời người thân trở về với con cháu. Mấy ngày Tết là dịp quây quần các thế hệ trong gia đình cùng nhau ăn cơm, cùng nhau trò chuyện, hàn huyên mọi điều. Ai cũng hồi tưởng về thời thơ ấu, về những kỷ niệm ấm áp tình thân. Nhìn lại những hình ảnh kỷ niệm Tết xưa dường như vẫn thấy bóng dáng những người ruột thịt năm nảo, năm nào… Nhớ thương người không còn để rồi chăm sóc tốt hơn cho những người đang hiện hữu. Ngày Tết đã nhóm được mồi lửa lớn từ những đốm lửa nhỏ nhoi ở mỗi người. Giao thừa xong, đêm xuân khe khẽ đến, mới thật sự thấy gia đình là thứ quý giá nhất trên đời, hơi ấm mùa xuân sẽ vĩnh hằng, bởi mùa xuân là Tết, là có đủ món ăn ngon, là nồng nàn tình thân sum họp. Tình thân là thứ hơi ấm có giá trị lâu bền suốt cõi sống của mỗi cá nhân. Mùa xuân ấm áp hơn vì như thế. Bình minh ngày mồng Một đầu tiên của năm mới, cái rét cuối cùng chạy qua mái hiên là lúc thèm ngồi bên một ấm trà. Hơi trà nóng bốc lên bỗng dịu dàng khác lạ. Dường như hương thơm có gì đó dịu ngọt, đậm đà, thi vị hơn. Người ngồi uống trà bên ta cũng sẽ là một người đặc biệt. Người tri kỷ là hợp nhất. Hai người có thể lặng im bên nhau, không nói một lời nào đi nữa, thì cũng như đã thấy cả, hiểu cả tâm tư. Khi nhấp chén trà đầu tiên, nếu dành tâm trí ở đây, tại chỗ này, với bạn, thì nó có đủ vị của mùa xuân; ngũ hành luân chuyển, sự sống tươi xanh, cả nhịp đập của những gì tinh khiết và mới mẻ.

Gần hơn ba chục năm nay, cuộc sống của tôi dường như chậm lại, nhất là những ngày Tết đến xuân sang. Sự thư thái ấy, càng làm cho con người sống thiên về hoài niệm, với những ký ức đã xa vời vợi. Do vậy, về miền ký ức, tìm lại dĩ vãng, tìm lại kỷ niệm, dù rằng rất nhỏ, song luôn thôi thúc trong tôi với nồi bánh chưng đang sôi, tỏa ra mùi hương quê nhà, dưới ngọn lửa hồng ta vừa nhóm, mới làm hồn người dịu lại giữa ngày xuân. Khi khí hậu vùng Houston, Texas bắt đầu lạnh và nhiệt độ có lúc xảy ra những ngày đông đá hơn vào những ngày đầu năm những bông hoa tuyết trắng xóa tan dần, thay vào đó là tia nắng xuân trải đều trên những cành cây vừa mới vượt qua một mùa đông giá lạnh, tôi cảm nhận một mùa xuân đang đến gần khiến lòng tôi trào dâng nỗi nhớ Tết quê hương. Tôi mới thực sự thấu hiểu rằng, ai đã từng xa quê, ngồi một mình vào những ngày giáp Tết, vào chính cái đêm giao thừa cô đơn trong cái lạnh chuyển giao của trời đất, mới thấm thía, đau đáu một nỗi nhớ nhà, là nơi cất giữ bao kỷ niệm tươi đẹp thời ấu thơ, là nơi ai ai cũng nhớ vể quê hương tha thiết đến nhường nào! Chắc hẳn quê hương trong tâm khảm mỗi người là những gì đẹp nhất, thiêng liêng gần gũi nhất. Hình ảnh Tết trong tôi những năm tháng xa nhà, là bóng mẹ ngồi bên nồi bánh chưng đỏ lửa, là dáng cha cặm cụi với cây nêu, cành đào, là màu đỏ của đôi câu đối được cha trang trọng dán lên hai bên ban thờ, là niềm vui với những đồng tiền mừng tuổi, là màu xanh của bánh chưng, là mùi hăng của lọ dưa hành muối, vị đậm đà của nồi thịt đông mẹ nấu, là mùi hương bay nghi ngút trên bàn thờ tổ tiên trong ba ngày Tết, là bữa cơm tất niên đoàn tụ gia đình, là những lời chúc tụng tốt đẹp nhân dịp năm mới từ người thân, bạn bè… Mọi thứ tưởng như rất đỗi bình thường trong cuộc sống thường nhật của mỗi người nhưng trong ký ức thi thoảng bỗng dâng trào lên trong tâm trí, trong khóe mắt của người xa quê.

Giờ đây tuy sống hơn nữa đời người tại quê hương thứ hai, những tập tục truyền thống vẫn giữ nguyên trong các gia đình Việt Nam tại hải ngoại, trong đó có gia đình bố mẹ và anh em chúng tôi…dẫu có xa nhà vẫn cố gắng về nhà để cùng tận hưởng không khí gia đình đầu năm.

Một chuyện rất đặc biệt là Tết Nguyên Đán gia đình bố mẹ tôi rất mê chưng những chậu hoa mua về chưng trong nhà mỗi dịp mừng năm mới. Những chậu hoa cúc đại đóa với những bông vàng rực, sáng cả trong phòng khách. Vì là dân gốc Bắc, ông nội của tôi thường hay ưa thích và chăm sóc tỉa những chậu hoa thủy tiên mọc từ những củ để đúng mùng một Tết hoa nở ra những nụ hoa nho nhã trắng tinh khiết. Hình ảnh ông tôi nhâm nhi ly trà và cùng ngắm hoa Thủy tiên vẫn chưa bao giờ quên được trong tâm trí của tôi. Theo truyền thống của ông cha để lại, hoa thủy tiên mang đến tinh thần đầy hứng khởi để vượt qua mọi khó khăn, mệt nhọc. Ngắm hoa sẽ giúp cho tinh thần sảng khoái, nhẹ nhõm, giảm bớt stress đáng kể. Đặt một lọ thủy tiên trong nhà sẽ giúp cho tình cảm gia đình thêm bền chặt hơn, tự nhiên hòa giải nhiều hiềm khích. Riêng tôi thì yêu thích nhất là những chậu quất với những quả vàng ươm rực rỡ trên những thân cây xanh rì ý tưởng mang đến sự sung túc đầm ấm trong những ngày đầu năm. Sau Tết các trái quất được mẹ tôi đem đi ngâm và pha với đường, nước để làm một món nước giải khát cho cả nhà cùng thưởng thức. Ngay phòng khách mùi hoa lay ơn đỏ Mẹ tôi cắm đặt ở bàn salon cũng có mùi nhè nhẹ và thêm nữa là mùi thơm thoang thoảng của những chậu lan khoe sắc trong dịp Tết. Cuối cùng mùi thơm rất mỏng từ chậu mai vàng nhiều cánh nở bung được đặt trang trọng ở giữa nhà. Tất cả hương của những thứ hoa bàng bạc trong nhà mà mặc dù sống ở hải ngoại xa xôi cách nữa vòng trái đất nhưng hầu như gia đình tôi vẫn giữ được truyền thống chưng hoa 3 ngày Tết này.

Không thể quên được là còn có mùi pháo thơm nồng. Mùi Pháo là mang âm hưởng Tết nhiều nhất vì là biết Tết đã tới rất gần. Đêm Giao thừa, trong khoảnh khắc giao thoa giữa cái cũ và cái mới, trong không gian thiêng liêng, mùi pháo, tiếng pháo báo hiệu Tết tới, thể hiện không khí rộn ràng của một năm mới, đón chào những thành công mới. Do đó hễ vào dịp bên Mỹ đón giao thừa cuối năm Dương lịch là anh em tôi hơn vài năm nay có thói quen mua về nhà vài ổ pháo với dây dài hơn hai ngàn viên để có dịp đốt trong ngày đầu năm mới tại vùng Houston này. Âm thanh và hình ảnh của Tết là sự tổng hoà của nhiều sự việc mà chỉ có ngày Tết mới có. Nó không chỉ là hình ảnh của những vật phầm. Tết còn là hình ảnh thiêng liêng đi theo suốt quãng đời của mỗi người. Có thể mỗi gia đình, mỗi dòng tộc có những kỷ niệm Tết riêng nhưng tựu trung hoài niệm về những sự chuẩn bị những ngày Tết, hình ảnh gia đình là một kỷ niệm linh thiêng nhất nhưng hiện tại khó tìm cho được đầy đủ hình ảnh ấy trong tâm khảm của những con dân Việt ở những ngày xưa cũ.

Nắng xuân thì, ươm giọt sương mai. Cỏ hoa nhẹ chuyển mình trong bản hòa âm vũ trụ. gieo bao sự sống, cho mầm xanh đâm chồi, cho bao khát khao gửi vào thinh không, thành điệu khèn môi nương theo cánh gió. Nghe như Nàng xuân đang gõ cửa, bước chân nhẹ êm. Lối về mướt xanh màu lá, gót hồng đan mây ngang trời. Một bậu nắng cho cánh bướm vàng lả lơi bay đậu, chấp chới bên khung cửa sổ – màu thời gian. Mà ngời xanh sắc xuân tự bao đời. Có tiếng huyền mầu nhiệm mọc từ đất. Lời côn trùng hát với cỏ cây, khúc ca vui óng ánh sợi tơ vàng nắng. Sâu chuyển mình, dế lang thang, ôm cây đàn hòa điệu giao mùa. Thảm cỏ là một vũ trụ, ẩn sâu dưới mỗi lá cỏ mong manh, nhẹ tênh kia, cả một thế giới đang hiện tồn. Những mầm non cọ cựa, thoát lốt, khai mở một đời. Chồi búp theo gió xuân hé nụ, hướng tìm miền sáng. Thanh âm của cánh hoa nhẹ chao, nghiêng nghiêng, gom bức tình thư. Cho nghe ra lời yêu thương lắng đọng trong những thanh âm dịu dàng, tế vi, mà vấn vương bao mối tơ đồng cảm.

Xuân thiên nhiên dễ hóa thành xuân tâm tưởng, cảnh xuân gợi dậy tình xuân, những ảnh hình hiển hiện bao cảm xúc – nơi phát khởi là trái tim người. Nên ngắm nhìn cành mai trong vườn, trông đàn én liệng tầng không, lại thấy lòng xuyến xao khó tả. Đôi câu thơ mùa xuân, dăm lời ca đón chào năm mới, nhẩm lại dư vị ngày qua, như giấc mơ, như vô thức, ai cũng từng có cho riêng mình.

Tết đã đến và đang đến, dẫu giờ đây với tôi những cái Tết xa quê ngày ấy chỉ là những ký ức ngọt ngào nhưng nó đã trở thành hành trang giúp tôi vượt qua cảm giác buồn, để tôi vượt qua nỗi nhớ Tết quê hương đến nao lòng.

Giao Thừa Giáp Thìn 2024

Duy Khang

(1) Tựa bài do Website keditim đặt


 

Ông cha ta sống tử tế !-Chu Vĩnh Hải

Chu Vĩnh Hải

“Khi người Pháp chiếm được nước ta, họ tự hào là đã chiếm được một cường quốc vào bậc nhất ở Châu Á. Tôi không tin là Doumer hay Gosselin viết xạo điều này. Vậy ta thử tìm hiểu tại sao?

— Tại vì vua Gia Long làm việc suốt ngày, đêm chỉ ngủ 6 tiếng, ăn cơm với cá mắm, xắn tay đào hố, đắp thành cùng với tướng sĩ.

— Tại vì vua Minh Mạng mua cân đường, cân nhãn cũng ghi vào Hội điển.

— Tại vì vua Tự Đức tôn trọng sự phân quyền giữa hành pháp và tư pháp: khi bộ hình đã xử án, vua cũng không dám can thiệp.

— Tại vì những người trong hoàng gia không được phép giao du mật thiết với các quan, tránh sự đút lót, lạm quyền.

— Tại vì anh, em, cha, con không được làm quan cùng một chỗ, tránh sự thông đồng.

— Tại vì những đại thần như Nguyễn Tri Phương, khi thắng trận, được vua ban cho một bài thơ hay một chiếc áo gấm, khi thua trận bị xuống chức, bị luận tội nặng nề…

— Khi ta thấy những người như Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu… một đời hy sinh cho đất nước mà không có được một ngôi nhà khang trang để ở, thì hẳn ta phải ngần ngại khi muốn làm đại gia vì cha chú ta là những Đại Thần.

— Khi ta tìm trong bộ sách đồ sộ nhiều nghìn trang của các sử gia triều Nguyễn, mà không nhặt ra được một hàng tâng bốc nhà vua, thì ta phải nghĩ lại, khi viết những điều xu nịnh, trong những trang được gọi là lịch sử.

— Khi quân Tàu chiếm Hoàng Sa, thì ta phải chạnh lòng nhớ đến chúa Nguyễn đã tạo đội Hoàng Sa, để giữ quần đảo Hoàng Sa, đội Bắc Hải để kiểm soát Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc, từ thế kỷ XVII.

+ Vì vậy, khi đã biết sử, ta không thể sống tồi tàn, bệ rạc, ăn cắp của công, vì cha ông ta, cách đây mấy trăm năm đã sống có nhân cách, sống tử tế, sống lương thiện…”

Nguồn: Thuỵ Khuê/CaoKimLe


 

Ta khóc lóc tưởng rằng mình bất hạnh

Thao Teresa

Ta khóc lóc tưởng rằng mình bất hạnh

Nhưng ngoài kia còn cả tỷ nỗi buồn

Ta cứ ngỡ có mỗi mình cô quạnh

Nhưng cuộc đời đầy ắp cảnh đau thương.

Có người ước được một đôi chân nhỏ

Để bước đi trên thảm cỏ thật mềm

Có người ước sau đêm dài vò võ

Đôi mắt này họ sẽ thấy bình minh.

Những đứa trẻ chưa một lần gặp mẹ

Chỉ ước ao hai tiếng gọi: Gia Đình

Nếu ta chỉ có một ngày thật tệ

Thì đừng buồn mà hãy cố gắng lên!

Có đôi lúc ta cần ngưng giận dữ

Nhìn thoáng hơn để thấu rõ sự tình

Hãy giữ lấy niềm vui dù rất nhỏ

Giữa bão đời ta chọn sống tự tin.

ST

#ngaycuoinam


 

Bạn đã thấy gì từ vụ án Ngọc Trinh?-Luật sư Đặng Đình Mạnh

Chau Trieu

Luật sư Đặng Đình Mạnh

Rời tay khỏi đôi còng sắt sắc lạnh để trở về căn hộ sang trọng, rộng rãi, từ nội thất cho tới vật dụng, trang phục…rất thời thượng, có lẽ cô người mẫu xinh đẹp vẫn chưa hết bàng hoàng. Những gì đã xảy ra trong ba tháng giam cầm sau song sắt nhà tù sẽ còn ám ảnh cô ấy đến hết cuộc đời, cho dù cô ấy có là người vô tư đến thế nào đi nữa.

Những phục sức thời thượng cũng sẽ sớm được xếp lại như là kỷ niệm của một thời vàng son trong sự nghiệp người mẫu, vì có lẽ cô ấy không còn mấy cơ hội để trở lại với nghề nghiệp làm bỏng mắt mọi người nữa. Dĩ nhiên, sau bản án, với tư cách tội phạm, một biểu tượng xấu về văn hóa có giá trị không khác gì một bản án tử hình đối với thanh danh, nghề nghiệp của cô ấy cả. Chẳng cần đến một quyết định thành văn, mặc nhiên, các cơ quan truyền thông trong nước sẽ phải tránh né nhắc đến hình ảnh, danh tính cô ấy trên mặt báo. Trừ phi phát sinh một vụ tai tiếng khác về tình, tiền, tù, tội… Khi ấy, cô ấy sẽ trở lại sáng lòa như một mỏ quặng vàng để mặc sức giới truyền thông khai thác đến tận chân tơ kẽ tóc!

Không chỉ cô ấy, mà cả ê kíp viết kịch bản, trau chuốt cho vành môi đỏ, cho đôi má hồng hoặc nâng niu từng khuôn ảnh của cô ấy để đưa tiếp thị lên trang mạng xã hội cũng đang hoang mang, bối rối. Vì sau những gì cô ấy chịu đựng, thì họ không còn hiểu rõ đâu là ranh giới giữa hợp pháp và bất hợp pháp nữa. Vì lẽ, hành vi của họ không khác gì hành vi của nhiều người khác, nhưng với họ là tiếp tay cho bất hợp pháp, với người khác như ê kíp của các diễn viên xiếc Quốc Cơ – Quốc Nghiệp thì lại là hợp pháp?!

Kể ra, họ hoang mang cũng phải, vì chính giới luật sư còn chưa phân biệt nổi đâu là “cọng xá lợi” phân ranh giữa quyền tự do ngôn luận hợp pháp và tuyên truyền chống nhà nước bất hợp pháp nữa là họ. Và cũng thế, giới làm luật xứ này cũng vẫn đang ngơ ngác hỏi nhau rằng tội danh “gây rối trật tự công cộng” đã mở rộng sự áp dụng lên cả trên không gian mạng từ khi nào? Hay từ thời Phạm Tuân bay lên đấy với cọng bèo hoa dâu chăng?

Gác lại những sự vận dụng tùy tiện của luật pháp, sau vài ngày về với tự do, bình tâm, nếu mở trang mạng xã hội, cô ấy sẽ thấy tràn ngập ở đấy là sự cảm thông của cả một xã hội dành cho cô ấy, kể cả những vị phụ huynh đã từng chê trách cô ấy có những tuyên bố thực dụng về tình yêu đến như thế nào? Đáng nói nhất, không một ai xem cô ấy là tội phạm như lời tuyên án của phiên tòa do đảng đạo diễn cả. Cho thấy, “lòng dân” vẫn chưa một ngày trùng với “ý đảng”, kể cả trong câu chuyện người mẫu nội y.

Có bạn nhắn tin hỏi tôi: “Chú thấy gì qua vụ án cô người mẫu vậy chú?”. Tôi thấy nhiều lắm:

– Tôi thấy nguyên tắc pháp luật “Không xử lý hai lần đối với một hành vi vi phạm pháp luật” đã bị phớt lờ. Vì lẽ, cô ấy đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính trước khi bị khởi tố, bắt giữ và xét xử hình sự;

– Tôi thấy nguyên tắc pháp luật “Vô luật bất hình”, tức “Không có tội danh thì không có hình phạt” đã bị vô hiệu khi cô ấy bị cáo buộc với tội danh không có trong Bộ luật Hình sự “Gây rối trật tự trong không gian mạng”;

– Tôi thấy nguyên tắc pháp luật “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” chỉ còn là khẩu hiệu đẹp nhưng vô tích sự khi hình ảnh cô ấy với đôi tay trong còng sắt bị phơi bày rõ nét trên hàng nghìn tờ báo và đài truyền thông, trong khi đó, cũng với vụ án hình sự tương tự, thì họ lại làm mờ đi khuôn mặt khi kẻ ra tòa là quan chức cao cấp;

– Tôi thấy cô ấy nhận tội trước tòa và được đến ba luật sư bào chữa xin giảm nhẹ hình phạt trong khi cô ấy vô tội?!

– Tôi thấy cô ấy bị cáo buộc tội danh liên quan đến nơi cộng cộng trên không gian mạng, thế nhưng, công an đã khám xét nhà cô ấy là để làm gì? Để rồi “nhiều chuyện” tiết lộ trên mặt báo rằng cô ấy sở hữu số tài sản đồ sộ quá?!

– Tôi thấy trong một hành vi tương tự mà cô ấy gọi là vi phạm pháp luật, thì những diễn viên xiếc như Quốc Cơ – Quốc Nghiệp lại được miễn tố vì bla, bla, bla…

– Tôi thấy cả một hệ thống công quyền lẫn truyền thông hùng hổ trước cô gái chân yếu tay mềm nhưng lại câm nín, lờ tịt kẻ gây thiệt hại hàng trăm nghìn tỷ đồng vừa được hạ cánh an toàn vì xuất thân là thái tử đảng;

Nghe bản án 12 tháng tù treo, nhiều người đã vội ngỏ lời cảm ơn tòa án. Nhưng vấn đề là cô ấy có phạm tội hình sự đâu? Nhưng với chế độ, thế là quá đủ, chế độ cũng chỉ cần có vậy vì họ đã đạt được nhiều mục tiêu qua vụ án:

– Có cớ để lục soát nhà cô ấy để tìm “cái” mà ai cũng biết là gì?

– Để gởi một thông điệp mạnh mẽ đến những người đang sở hữu số follow, số đăng ký đông đảo từ công chúng trên mạng xã hội rằng: Hãy liệu chừng!?

– Được xét xử, còn được công chúng biết ơn vì đã xét xử khoan hồng cho một cô gái vô tội;

Như nhiều quan chức cao cấp muốn lưu danh với xứ sở, nếu được giao viết sử, chắc chắn tôi sẽ viết rằng: Ở thời khắc ông Nguyễn Phú Trọng làm Tổng Bí Thư, thì cả hệ thống chính trị gồm cả bộ máy truyền thông khổng lồ, đã dạy cho một cô gái chân yếu tay mềm một bài học nhớ đời.

Quang vinh, đâu chỉ bốn lần!

DC, ngày 02/02/3024

Luật sư Đặng Đình Mạnh

Ảnh : Người mẫu Ngọc Trinh bị dẫn giải đến tòa ngày 2/2