VÂNG PHỤC, TÍN THÁC VÀ TRI ÂN – Alphonse Marie Trần Bình An

Alphonse Marie Trần Bình An

Ngày 20 tháng 9, 1940, Nguyễn Trọng Trí nhập trại phong Quy Hòa, thời Mẹ Maria Juetta.  Sau ba tuần, nhờ sự chăm sóc tận tụy của các nữ tu dòng Phan Sinh (Franciscaine), bệnh tình Trí thuyên giảm..  Từ tuần lễ thứ tư, sinh hoạt của Trí đều đều như kinh Nhật Tụng: 5 giờ sáng dậy đi nhà nguyện đọc kinh, sốt sắng dâng lễ, rước lễ.  7 giờ cùng anh em bệnh nhân dùng điểm tâm cháo trắng với đường tán đen.  8 giờ được băng bó, uống thuốc hoặc chuyện vãn với anh em đồng bệnh.  11 giờ cơm trưa rồi nghỉ ngơi.  14 giờ 30 Lên nhà nguyện đọc kinh lần hạt đến 17 giờ dùng cơm chiều…  Trí là một người rất sùng kính Đức Mẹ Maria, lúc nào cũng cầu xin Đức Mẹ và thứ bảy nào cũng xưng tội.  Suốt hơn một tuần, từ 30 tháng 10, 1940 đến 7 tháng 11, 1940, Trí bị bệnh kiết lỵ nặng nên mất sức!  Đêm ngày 8. 11. 1940 Trí lấy hai tập giấy pelure, dùng bút chì cùn trong áo veston sáng tác bài thơ cuối cùng La Pureté de l’ Âme (Tâm Hồn Thanh Khiết) để ca tụng Đức Maria cùng các bà mẹ dưới đất là thân mẫu và các nữ tu Phan Sinh đã săn sóc Trí.  Đây là bút tích cuối đời của Trí.  Khi ông Nguyễn Văn Xê đưa Mẹ Nhất Maria Juetta, người Pháp, đọc bài viết này, Mẹ Juetta nói: “Giỏi quá, uổng quá, Hàn Mạc Tử là một thiên tài hiếm có!  Nhưng Mẹ xin phép tác giả đổi chữ “nénuphards” (hoa súng) thay cho chữ “lotus” (hoa sen) vì cuộc đời tu sĩ của chúng tôi tại đây với các bệnh nhân phong, chính là những bông hoa súng lên xuống theo con nước và bập bềnh trôi nổi như mọi vật trong hồ, chứ không dám tự nhận mình như những bông hoa sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.”

Sau 52 ngày được các nữ tu, đặc biệt sơ Julienne và Mẹ Nhất Maria Juetta, tận tình săn sóc, cùng một người bạn thân đồng bệnh đồng đạo người Huế, ông Nguyễn Văn Xê, giúp đỡ, nhà thơ tài hoa bạc mệnh Hàn Mạc Tử đã nhẹ nhàng tắt thở lúc 5 giờ 45 sáng ngày 11 tháng 11, 1940, hưởng dương 28 tuổi.  (Lm Trần Quý Thiện, Tưởng niệm nhà thơ Công giáo Hàn Mặc Tử).

Thi sĩ Hàn Mặc Tử đã sống 52 ngày cưối đời thật trong sáng với tinh thần sám hối trở về, hân hoan chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa, tán dương Mẹ Maria Đồng Công Cứu Chuộc qua những vần thơ tuyệt vời.  Tin Mừng hôm nay, Thánh Marcô tường thuật Đức Giêsu chữa lành người phong, căn dặn đi trình thầy tư tế và không được tiết lộ.  Nhưng khi được chữa lành, anh không thể nín lặng, công khai vui mừng rao truyền và loan tin vui.

Lời cầu xin của anh là gương mẫu cho bất cứ ai thành tâm nguyện cầu, xin Chúa xót thương cứu giúp: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm tôi được sạch.”  Anh hoàn toàn xin vâng theo Thánh Ý Chúa toàn năng, khiến Đức Giêsu chạnh lòng thương và giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh hãy được sạch.”

Vâng phục

“Nếu Ngài muốn,” Với lời khẩn cầu tha thiết, trân trọng Đấng Thiên Sai, anh bệnh phong tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, toàn quyền nắm giữ sinh mệnh, cũng như sức khỏe, hạnh phúc, bình an của mình.  Lời nguyện xin khiêm hạ này cũng gợi nhớ “Xin Vâng” của Mẹ: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như sứ thần nói.” (Lc 1, 38).

Người bệnh phong không dám biểu lộ ý riêng của mình, vả lại không thân thưa, thì Đức Giêsu cũng đã thấu suốt nguyện vọng ấp ủ từ bao lâu rồi.  Anh hoàn toàn vâng theo Thánh Ý toàn năng, sẵn sàng chấp thuận Thiên Chúa định đoạt thân phận, không hề oán than.  Một đức tin vững chãi qua cơn thử thách thật nặng nề.

Trước cuộc khổ nạn kinh hoàng, Đức Giêsu cũng làm gương sáng chói về đức vâng lời, Người ba lần cầu nguyện: “Cha ơi, nếu được xin cho chén này rời khỏi con.  Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha. ” (Mt 26, 39-44).

“Chúa Cứu Thế đã cách mạng, muôn triệu người hưởng ứng, khẩu hiệu của Ngài: “Vâng lời đến chết!” (Đường Hy Vọng, số 395).

Tín thác

“Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm tôi được sạch.”  Hoàn toàn tín thác vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa, người bệnh phong công khai tin cậy, trao thân gửi phận cho Đức Giêsu cứu giúp.  Người Kitô hữu liệu có luôn xác tín vào Thông điệp Lòng Chúa Thương Xót, được Chúa Giêsu truyền cho chị nữ tu Faustina Kowalska hay chăng?  “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa.”  Có hoàn toàn vững tin như lời nguyện Hiệp Lễ chăng?  “Lạy Chúa, con không đáng rước Chúa vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời thì linh hồn con sẽ lành sạch.”

Vì đặt trọn niềm tin và hy vọng vào Chúa, người phong không ngần ngại lỗi luật Do Thái, phải chịu cách ly với người lành.  Đức Giêsu vì thương yêu, chí nhân chí ái, cũng vô tư vượt qua điều luật này, khi Người chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh hãy được sạch.”

“Con người hy vọng để sống, để tiếp tục sống.  Con người sẽ quay về với ai có thể mang lại cho họ niềm hy vọng lớn lao nhất: Niềm hy vọng ấy, Chúa Giêsu đã quả quyết: “Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.” (Ga 10, 10).  Niềm hy vọng ấy, Chúa ban qua tay Mẹ Maria:”Nguồn hy vọng của chúng con.” (Đường Hy Vọng, số 962).

Tri ân

Được chữa lành, anh quên ngay lời Đức Giêsu căn dặn “đừng nói gì với ai cả.”  Bởi vì lòng anh tràn ngập niềm tri ân, cảm tạ Thiên Chúa.  Anh không thể giữ niềm vui, ân huệ cho riêng mình, mà hân hoan công khai chia sẻ với mọi người về hồng ân mới lãnh nhận nhưng không.  Nên vừa đi khỏi, anh đã rao truyền và loan tin ấy khắp nơi.”

Lòng Mến tràn đầy của anh đã lan tỏa khắp nơi, khiến dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Đức Giêsu.  Niềm tri ân, lòng cảm mến đã biến anh thành chứng nhân sống động, rao giảng Tin Mừng đến tha nhân.  Anh không sở hữu ơn cứu độ cho riêng mình, mà trái lại anh đã thực hiện đúng ba bước như mới đây Đức Thánh Cha Phanxicô đã giải thích.  Ngài cho rằng có ba tiêu chuẩn để không không tư nhân hóa sự cứu rỗi: “Đức Tin vào Chúa Giêsu, Đấng thanh tẩy chúng ta, Đức Cậy khích lệ chúng ta nhìn tới những lời hứa và tiến đi về phía trước và Đức Mến là chăm sóc lẫn nhau, khuyến khích tất cả chúng ta thực hành bác ái và các việc lành.” (Đồng Nhân, Vietcatholic, ĐTC: Thành phần ưu tú của Giáo hội không được biến đức tin làm của riêng mình)

Lạy Chúa Giêsu, xin cứu thoát chúng con khỏi bệnh phong, khỏi bệnh liệt kháng tâm hồn, xin cứu chúng con khỏi vũng lầy tội lỗi, khỏi thung lũng đầy nước mắt này, xin ban cho chúng con biết sám hối, ăn năn trở về cùng Chúa hằng ngày.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ luôn che chở chúng con khỏi những căn bệnh nan y thời đại là đánh mất Tin, Cậy, Mến.  Xin Mẹ cầu bầu, cứu giúp chúng con thoát khỏi cạm bẫy ba thù, để được Mẹ dắt dìu chúng con theo Chúa luôn.  Amen!

Alphonse Marie Trần Bình An

From: Langthangchieutim


 

Ông Sóc Trăng lãnh 3.5 năm tù với cáo buộc ‘chống phá’

Ba’o Nguoi-Viet

February 8, 2024

SÓC TRĂNG, Việt Nam (NV) – Bị cáo Danh Minh Quang, 37 tuổi, ở huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, vừa bị kết án ba năm rưỡi tù với cáo buộc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.”

Theo cáo trạng được trích dẫn trên báo Dân Việt hôm 8 Tháng Hai, ông Quang là chủ danh khoản Facebook “Minh Quang” bị quy kết chia sẻ 51 bài viết, hình ảnh “có tính chất tiêu cực, tuyên truyền xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội.”

Bị cáo Danh Minh Quang tại phiên tòa. (Hình: Sóc Trăng)

Cụ thể, ông Quang bị cho là “lan truyền tin sai sự thật về công tác phòng, chống dịch COVID-19 và chính sách an sinh xã hội tại địa phương.”

Theo nhà chức trách, hành vi của ông này “vu khống, làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của chính quyền tỉnh Sóc Trăng,” thậm chí “gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.”

Báo Sóc Trăng cho biết thêm, ông Danh Minh Quang không phải là nhà hoạt động mà là tài xế lái xe thuê cho một công ty tư nhân.

Cứ một, hai tháng, các báo ở Việt Nam lại ghi nhận một trường hợp bị bắt hoặc đi tù với cáo buộc “chống phá,” dù trên thực tế, những người này chỉ lên tiếng về các vấn đề thời sự xã hội trên trang cá nhân.

Trong một vụ tương tự, báo An Giang hồi trung tuần Tháng Mười Hai cho biết, bị cáo Nguyễn Hoàng Nam, 42 tuổi, ở thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, bị kết án tám năm tù vì “tuyên truyền, chống phá đảng, nhà nước.”

Giống như ông Danh Minh Quang, ông Nguyễn Hoàng Nam cũng bị khép tội vì chia sẻ bình luận về công tác phòng, chống dịch COVID-19 tại địa phương.

Theo cáo trạng, ông Nam chia sẻ các video clip “An Giang: Người dân bị hành hung khi phản đối ngăn sông cấm chợ,” “tỉnh An Giang tiếp tục ngăn sông cấm chợ”…

Công An Tỉnh An Giang quy kết ông Nam “nhiều lần phát ‘livestream’ châm biếm, xúc phạm chính quyền địa phương,thường xuyên quay phim, chụp hình cán bộ, chính quyền địa phương đi ngang qua nhà rồi đăng lên mạng xã hội để xúc phạm, lăng mạ.”

Ông Danh Minh Quang (thứ nhì, trái qua) lúc bị bắt. (Hình: Công An Nhân Dân)

Báo An Giang viết thêm rằng hành vi của ông Nguyễn Hoàng Nam “xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân, gây tâm lý hoang mang, lo sợ, bất bình trong quần chúng nhân dân…”

Giống như hầu hết các bị cáo bị khép tội “chống phá,” bị cáo Nguyễn Hoàng Nam được cho là “cúi đầu nhận tội” khi bị đem ra xét xử. (N.H.K)


 

Vì sao Phan Châu Trinh chưa thành công?- Nguyễn Quang A

Ba’o Tieng Dan

Luật Khoa

Nguyễn Quang A

8-2-2024

  1. Tư tưởng Phan Châu Trinh

Phong trào phát triển đất nước (và dân chủ hóa) do Phan Châu Trinh khởi xướng đầu thế kỷ XX (1905-1907) ở Việt Nam là hết sức toàn diện và đúng đắn. Không những thế, thật đáng ngạc nhiên rằng các tư tưởng chính của ông được thuyết hiện đại hóa mới do Christian Welzel (2013) đúc kết xác nhận về mặt lý thuyết và thực tiễn trên quy mô toàn cầu. Thuyết hiện đại hóa mới được xem như một trong những lý thuyết toàn diện nhất về dân chủ hóa cho đến nay.

Vậy vì sao phong trào của cụ Phan chưa thành công và công cuộc dân chủ hóa ở Việt Nam sau đó một trăm năm vẫn chưa có kết quả?

Bài này thử tìm hiểu một số nguyên nhân của sự chưa thành công đó dựa vào khung khổ của chính thuyết hiện đại hóa mới.

Tôi từng có hai tiểu luận, “Phan Châu Trinh và thuyết hiện đại hóa mới” (2017) và “Tiananmen Protests and Lessons for Democratization in Vietnam” (2019), tóm tắt tư tưởng chính của Phan Châu Trinh về sự phát triển đất nước và dân chủ hóa Việt Nam. Các điểm chính của tư tưởng Phan Châu Trinh có thể được tóm tắt như sau.

  1. Phát triển kinh tế

Phan Châu Trinh, với khẩu hiệu “hậu dân sinh” (mà chúng tôi ở Diễn đàn Xã hội Dân sự cập nhật thành “cải thiện dân sinh”) đã luôn luôn chú tâm để nhân dân Việt Nam phát triển kinh tế; tạo dựng doanh nghiệp; cổ vũ thương mại, du lịch và buôn bán ở trong nước và với nước ngoài. Không chỉ nêu tư tưởng, cụ Phan cũng tích cực vận động mọi người khởi nghiệp (mà điển hình là công ty Liên Thành 1906 tại Phan Thiết).

  1. Nâng cao dân trí

Phát triển giáo dục là một phần cốt lõi của chủ trương nâng cao dân trí (“Khai dân trí”) của cụ. Không chỉ khởi xướng chủ trương, cụ Phan còn tích cực vận động lập trường (Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907 tại Hà Nội và đã giảng dạy ở đó; trường Dục Thanh Học Hiệu năm 1907 ở Phan Thiết). Tuy vậy, nâng cao dân trí không chỉ qua giáo dục chính thức mà còn được thực hiện qua thực hành (và chủ trương thực học của cụ là hết sức quan trọng), qua đọc sách, đọc báo, viết sách, viết báo, việc lập ra các hội đoàn, doanh nghiệp, phát triển kinh tế (như nêu ở điểm 1 ở trên).

  1. Chấn hưng dân khí

“Chấn dân khí,” nuôi dưỡng, khơi dậy tinh thần giải phóng, tinh thần tự do của nhân dân là một chủ trương rất quan trọng của cụ Phan (mà Liên Thành Thư Xã được thành lập năm 1905 tại Phan Thiết để truyền bá sách báo có nội dung yêu nước là một ví dụ).

  1. Vận động

Tổ chức các phong trào xã hội để buộc nhà cầm quyền (Pháp) cải cách.

  1. Chủ trương bất bạo động

Tuyệt đối bất bạo động, chỉ dùng phương pháp ôn hòa để thúc đẩy tất cả các việc trên để đưa nước ta vào nền văn minh mới, đủ sức đương đầu với kẻ thù (cũng bằng phương pháp bất bạo động) để giành độc lập chính trị.

  1. Chủ trương tự chủ

Không bài ngoại, không ỷ ngoại mà phải tự chủ.

Có thể thấy các chủ trương, tư tưởng của Phan Châu Trinh đã hình thành một cách hoàn chỉnh trong khoảng năm 1905-1907, và đã được bản thân cụ triển khai trên thực tế và cổ vũ, vận động nhân dân làm theo. Đây là cách tiếp cận hiện đại đối với ngay cả các học giả nghiên cứu về dân chủ hóa nếu xét theo các lý thuyết và thực tiễn dân chủ hóa hiện nay. Cũng hết sức đáng lưu ý rằng cụ Phan đã muốn nhân dân Việt Nam (hay số rất đông trong số họ) thực hiện các chủ trương trên chứ không chỉ một số ít người trở nên giàu có, hiểu biết rộng và có chí khí lớn.

  1. Thuyết hiện đại hoá mới

Lý thuyết hiện đại hóa, do Seymour Martin Lipset (1959) đưa ra, cho rằng “dân chủ là kết quả trực tiếp của sự tăng trưởng kinh tế”, và rằng “một quốc gia càng giàu, thì cơ hội càng lớn là nó sẽ giữ vững nền dân chủ”. Thuyết hiện đại hóa đã có ảnh hưởng lớn đến dân chủ hóa trên thế giới (và vẫn được một số chính trị gia đi theo), tuy sau đó bị nhiều người chỉ trích và sửa đổi, bổ sung.

Tóm lại, hiện đại hóa, theo lý thuyết của Lipset, không dẫn đến dân chủ, nó tạo ra một số điều kiện cần nhưng không đủ cho dân chủ hóa (chẳng hạn các nước rất giàu ở Vùng Vịnh hay Trung Quốc minh chứng rằng sự phát triển kinh tế, sự phát triển khoa học công nghệ, hiện đại hóa không trực tiếp dẫn đến dân chủ). Dù sao đi nữa, lý thuyết hiện đại hóa của Lipset là một đóng góp lớn.

Christian Welzel (2013) tổng kết những nghiên cứu của bản thân ông và nghiên cứu của ông với Ronald Inglehart để phát triển lý thuyết hiện đại hóa mới, mà nội dung chính có thể được tóm tắt như dưới đây.

  1. Các nguồn lực hành động

Theo Welzel, có ba nguồn lực hành động quan trọng nhất là: nguồn lực vật chấtnguồn lực trí tuệ, và nguồn lực kết nối.

Nguồn lực vật chất là các thiết bị, công cụ, tiền bạc… cần cho hành động.

Nguồn lực trí tuệ là sự hiểu biết, kiến thức, thông tin, kỹ năng… cần cho hành động.

Nguồn lực kết nối là các hoạt động, cơ chế tạo ra khả năng liên kết, tiếp xúc, hợp tác, tổ chức để hoạt động. Ví dụ: đô thị hóa, làm việc trong các nhà máy công sở giúp những người lao động liên kết với nhau, phối hợp với nhau, tổ chức lại để hành động; mạng lưới giao thông tốt tạo thuận tiện cho sự đi lại, tập hợp, cũng làm tăng nguồn lực kết nối; sự phát triển của các mạng truyền thông cũng thế. Nguồn lực kết nối có cả khía cạnh thể chế của nó, chẳng hạn, quyền tự do lập hội tăng cường nguồn lực kết nối, ngược lại sự cấm đoán làm giảm các nguồn lực kết nối.

Hiện đại hóa, sự phát triển của công nghệ tạo ra các nguồn lực hành động cho các chủ tư bản, cũng có thể (nhưng không nhất thiết) tạo ra các nguồn lực đó cho quảng đại nhân dân. Nó chỉ tạo ra các nguồn lực hành động cho quảng đại quần chúng khi hiện đại hóa và sự phát triển công nghệ nhắm tới phục vụ con người, bổ sung cho các năng lực con người, hơn là tự động hóa  chỉ nhằm để thay thế lao động con người và giám sát con người (xem Daron Acemoglu and Simon Johnson [2023]).

Cần lưu ý rằng các nguồn lực hành động của nhân dân (số đông người) cũng là kết quả của những cuộc đấu tranh chứ không phải do hiện đại hóa tự động mang lại. Đấy là một sự khác biệt quan trọng của thuyết hiện đại hóa mới so với thuyết hiện đại hóa ban đầu. Cả ba nguồn lực hành động đều quan trọng nhưng các nguồn lực trí tuệ và kết nối quan trọng hơn nguồn lực vật chất.

Chính trên nền của các nguồn lực hành động này của số đông người dân, công cuộc chấn dân khí mới có thể thành công. Đó là nơi các giá trị giải phóng bước vào và đóng vai trò lớn trên tầng văn hóa, và đây là điểm khác biệt thứ hai.

  1. Các giá trị giải phóng

Các giá trị giải phóng là các giá trị thúc đẩy các quyền tự do của con người.

Các giá trị giải phóng nhấn mạnh bốn khía cạnh về sự tự trị cá nhân, lựa chọn, bình đẳng, và sự lên tiếng, và có thể đo được bằng các cuộc khảo sát.

World Values Surveys đã đo các giá trị này trong khoảng 100 nước chiếm hơn 90% dân số thế giới. Từ năm 1981 đến nay (2024), họ đã khảo sát bảy đợt. Trên cơ sở đó, Welzel đã phát triển Chỉ số các Giá trị Giải phóng (EVI-Emancipative Values Index). Việt Nam đã tham gia vào ba trong bảy đợt khảo sát này trong các năm 2001 (đợt 4), 2006 (đợt 5) và 2020 (đợt 7). Nguyễn Quang A (2017) đã chỉ ra rằng EVI có thể được dùng như một chỉ số về dân khí. Nói cách khác, dân khí có thể đo được cho tất cả các nước trên thế giới và tạo cơ sở để tiến hành những nghiên cứu so sánh.

  1. Các phong trào xã hội

Trên bình diện tâm lý, các giá trị giải phóng trao quyền cho con người. Chúng thúc đẩy người dân thực hiện các quyền tự do phổ quát, tham gia tích cực vào các hoạt động phong trào xã hội, đòi nhà nước phải đáp ứng các quyền và lợi ích chính đáng của họ bằng cách bảo đảm về mặt pháp lý để người dân thực hiện các quyền tự do.

  1. Dân chủ hóa

Không có các phong trào xã hội sẽ không có dân chủ hóa. Chính các phong trào xã hội truyền đạt khát vọng của người dân (các giá trị giải phóng của họ), nhưng bản thân các giá trị giải phóng là động cơ thúc đẩy mạnh nhất trong những động cơ thúc đẩy nhân dân tham gia vào các phong trào xã hội, đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ. Chính áp lực mạnh của nhân dân buộc các nhà chức trách phải ban hành luật pháp để tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân thực hiện các quyền của mình.

Khi các quyền dân sự và chính trị được pháp luật bảo đảm, được thực thi trong thực tế thì chúng ta có nền dân chủ. Nhưng dân chủ chỉ được củng cố và phát triển nếu nhân dân liên tục đấu tranh để tiếp tục cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, tham gia vào các phong trào xã hội, liên tục gây áp lực để buộc những người cầm quyền phải duy trì, nâng cao những quyền đã đạt được, mở rộng các quyền khác của nhân dân. Nói cách khác, dân chủ hóa là một quá trình không bao giờ chấm dứt.

Chúng ta có thể tóm tắt tư tưởng của Phan Châu Trinh được thuyết hiện đại hóa mới đúc kết thành lý thuyết với hình sau đây:

Hình 1. Tóm tắt tư tưởng Phan Châu Trinh theo thuyết hiện đại hóa mới.

Chúng ta có thể thấy lý thuyết dân chủ hóa toàn diện nhất hiện nay – được công bố năm 2013 – minh họa rất rõ ràng các tư tưởng chính mà Phan Châu Trinh đưa ra hơn một trăm năm trước. Như thế, có thể xem Phan Châu Trinh là nhà cải cách sáng suốt nhất, nhà cách mạng triệt để nhất, người có tầm nhìn xa trông rộng nhất ở Việt Nam trong đầu thế kỷ thứ hai mươi, nếu không muốn nói là đạt tầm vóc của nhiều nhà cải cách có ảnh hưởng lớn trên thế giới thời kỳ đó.  Vậy vì sao cụ Phan chưa thành công và cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có dân chủ?

III. Vì sao Phân Châu Trinh chưa thành công?

Có nhiều nguyên nhân cho sự nghiệp chưa thành công của Phan Châu Trinh.

Cụ Phan Châu Trinh đã vượt quá xa tầm hiểu biết của các trí thức, những người yêu nước, và của nhân dân ta cũng như trình độ phát triển, hoàn cảnh chính trị và xã hội thời đó. Chính phải hiểu rõ những khó khăn đó chúng ta mới hiểu tầm vóc vĩ đại của Phan Châu Trinh. Cũng nên lưu ý rằng Phan Châu Trinh trẻ hơn Mahatma Gandhi ba tuổi và hai vị đưa ra phương pháp đấu tranh bất bạo động gần như đồng thời, Phan Châu Trinh năm  1905 và Mahatma Gandhi năm  1906. Tuy vậy, thế giới hình như biết đến Mahatma Gandhi, Martin Luther King, Dalai Lama, Václav Havel, Thích Nhất Hạnh và Aung San Suu Kyi nhiều hơn Phan Châu Trinh khi nói đến phương pháp đấu tranh bất bạo động.

Hầu như phần lớn những người yêu nước và trí thức thời đó đã không hiểu cụ và chủ trương các đường lối gần như ngược với đường lối của cụ (từ Phan Bội Châu chủ trương dùng bạo lực và nhờ nước ngoài, đến Hồ Chí Minh sau đó).

Nhân dân cũng vậy. Cụ chủ trương tuyệt đối bất bạo động, nhưng nhân dân chính quê cụ không kiên trì thực hiện. Phong trào chống sưu cao thuế nặng tháng Ba năm 1908 ban đầu diễn ra một cách ôn hòa nhưng sau đó đã trở nên hết sức bạo lực, vượt ngoài tầm kiểm soát của những người tổ chức (không có Phan Châu Trinh trong số những người tổ chức). Và phong trào đã bị dập tắt trong sự đàn áp dã man của chính quyền thuộc địa Pháp. Dù không tham gia tổ chức, cụ Phan, cùng nhiều nhân sĩ khác, đã bị bắt và nhiều người bị kết án tử hình, rồi cụ bị đày ra Côn Đảo. May nhờ sự can thiệp của Hội Nhân quyền Pháp, cụ thoát án nặng và bị quản thúc tại Mỹ Tho rồi đi Pháp (1/4/1911); xem Chu Hảo (2023).

Chính quyền thuộc địa Pháp và triều đình đã đàn áp rất quyết liệt, bắt, bỏ tù, xử tử hình hoặc lưu đày các trí thức yêu nước, kể cả Phan Châu Trinh.

Ngoài những nguyên nhân trên, có lẽ cũng bổ ích để xem xét các nguyên nhân, mà tôi cho là cốt lõi hơn, của sự chưa thành công theo khung khổ của chính tư tưởng của Phan Châu Trinh được lý thuyết hóa trong thuyết hiện đại hóa mới. Đầu tiên, hãy xem xét các điều kiện cần là các nguồn lực hành động, rồi đến dân khí khi đó.

  1. Nguồn lực vật chất

Đáng tiếc, chưa có những nghiên cứu lịch sử về vấn đề này ở Việt Nam, chí ít từ thế kỷ XIX cho đến giữa thế kỷ XX (các nhà nghiên cứu trẻ có thể dựa vào các tài liệu lưu trữ của Pháp may ra có thể dựng lại lịch sử phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn này). Vì thế chúng tôi phải chọn một biến đại diện (proxy variable) là GDP/đầu người tính theo sức mua (PPP) với giá trị đô-la một năm cố định nào đó (để tiện so sánh). Theo Madisson Project, dữ liệu về GDP/đầu người (PPP, theo đô-la 2011) của Việt Nam từ 1820 đến 2018 diễn biến như sau:

Hình 2. GDP/đầu người ở Việt Nam, theo sức mua (PPP) tính bằng đô-la 2011. Nguồn: Maddison Project

Hãy xem so sánh quốc tế với vài nước lân cận trên hình sau:

Hình 3: GDP/đầu người, so sánh quốc tế. Nguồn: Maddison Project.

Chúng ta thấy Nhật Bản vượt hẳn các nước khác trong khu vực trong thế kỷ XIX cho đến hết thế kỷ XX. Hàn Quốc và Đài Loan bắt kịp (và thậm chí vượt Nhật Bản) một cách ngoạn mục trong các thập niên đầu của thế kỷ XXI.

Cũng nên lưu ý rằng, mức nghèo tuyệt đối (đủ để tồn tại theo sức mua PPP) là 694 đô-la năm 2011. Theo Hình 2 và Hình 3, trong suốt một thế kỷ rưỡi, nguồn lực vật chất của người Việt Nam chỉ hơn mức sinh tồn một chút: mức năm 1975 là $1.132, cho đến đầu thời kỳ Đổi mới năm 1986 đều dưới mức $1.500 (là mức của năm 1987); cho đến năm 1993, mức này vẫn dưới 2.000 đô-la và vào năm 1994 chỉ đạt 2.018 đô-la. Có thể nói cho đến năm 1994, nguồn lực vật chất của người Việt Nam là rất eo hẹp, lo cái ăn là chính chứ lấy đâu thời gian để nghĩ đến chuyện gì khác.

Hình 3 cho thấy nguồn lực vật chất của người Việt Nam thấp thế nào so với các nước trong khu vực. Vào năm 1986, khi Philippines chuyển sang dân chủ, mức của họ là $3.161/đầu người, gấp hơn 2,1 lần của Việt Nam; Hàn Quốc khi chuyển đổi năm 1987 đạt $9.756/đầu người, còn hơn mức năm 2018 của Việt Nam.

Với trường hợp Đài Loan, khi Tưởng Giới Thạch mất năm 1975, GDP đầu người của họ đạt $5.614. Sau đó, Quốc Dân Đảng độc tài, một đảng Leninist đúng nghĩa, bắt đầu nới lỏng dần chính sách cai trị với việc đưa Lý Đăng Huy – người sinh ra ở Đài Loan – lên làm lãnh đạo cấp cao của đảng. Năm 1986, khi phong trào đối lập “Đảng ngoại” – khi đó vẫn bất hợp pháp – lập ra Dân Tiến Đảng và được chính quyền để yên cho hoạt động, GDP/đầu người của Đài Loan đạt $11.918. Và 14 năm sau, khi ứng cử viên Trần Thủy Biển của Dân Tiến Đảng được bầu làm tổng thống, chấm dứt sự độc quyền của Quốc Dân Đảng, GDP đầu người của Đài Loan đã là $26.787.

Cũng thật đáng lưu ý từ Hình 3 rằng xuất phát điểm của tất cả các nước này vào năm 1820 là gần như nhau: Nhật – $1.321, Đài Loan – $966; Malaysia – $960; Philippines – $931; Thái Lan – $909 và Việt Nam $840.  Đến đầu thế kỷ XX vẫn đại thể như vậy (trừ Nhật Bản)  với GDP/đầu người năm 1913 là $1.159 ở Việt Nam, $1.171 ở Hàn Quốc, $1.286 ở Đài Loan; $1.289 ở Malaysia; $1.341 ở Thái Lan; $1.575 ở Philippines, và $2.431 ở Nhật Bản. Nhưng, từ những năm 1950-1960 trở đi, sự phân kỳ là hết sức rõ rệt do những lựa chọn khác nhau của mỗi nước.

  1. Nguồn lực trí tuệ

Cũng tương tự như nguồn lực vật chất, chúng ta không có dữ liệu lịch sử chi tiết về nguồn lực trí tuệ, mà có thể dựa vào tỷ lệ biết chữ, số người đi học các cấp, thời gian học, số các trường học các loại, chương trình học, số sách báo, số sách báo người dân đọc, số sáng chế, v.v.

Trong hệ thống giáo dục truyền thống (trước khi Pháp xâm chiếm các vùng lãnh thổ Việt Nam), ngoài các trường công như Quốc Tử Giám (chủ yếu để dạy con cháu nhà vua), có nhiều thầy đồ ở các làng chủ yếu dạy chữ Nho, Khổng giáo. Hệ thống nhà chùa cũng là nơi việc học phật pháp diễn ra.

Tôi cố gắng tìm hiểu xem ngoài chữ Nho, Khổng giáo, Phật giáo và thơ văn ra các trường công, tư và cộng đồng này còn dạy gì khác không, chẳng hạn như toán, thiên văn học, các môn khoa học và kỹ thuật theo cách nhìn hiện nay. Rất ít tư liệu nói về các nội dung đào tạo này.

Theo Dân Việt, ba kỳ tài toán học Việt Nam là Vũ Hữu (1437-1530) có để lại tác phẩm Lập Thành Toán Pháp (立成算法) – cuốn sách toán học cổ nhất Việt Nam; Lương Thế Vinh (1441-1496) là trạng nguyên giỏi toán nhất; và Nguyễn Hữu Thận (1757-1831) nghiên cứu việc làm lịch và dịch các tác phẩm toán Trung Quốc, ông để lại tập sách “Ý Trai toán pháp”. Cả ba vị kỳ tài toán học này đều làm quan to trong các triều đình thời các cụ. Giá mà các cụ không làm quan mà chỉ chăm chú nghiên cứu toán, dạy toán, viết sách toán thì chắc nền toán học Việt Nam đã có thể khác đi, nhưng đáng tiếc mục tiêu học chỉ để làm quan (hay được vua phát hiện ra tài năng và bị bắt làm quan).

Gail Paradise Kelly (2000) cho rằng trong hệ thống giáo dục truyền thống của Việt Nam, các thầy đồ không chỉ đóng vai trò công cụ của chính quyền – dạy chữ Nho và Khổng giáo cho học sinh và chuẩn bị cho những người trẻ xuất sắc nhất để tiến những bước tiếp trên đường làm quan. Họ còn tạo thành các mạng lưới riêng của mình qua các mối quan hệ học hành để tập hợp phản kháng chính quyền khi cần thiết. Nói cách khác, thầy đồ đã là xương sống của một mạng lưới chính trị.

Hiểu vai trò này của hệ thống giáo dục truyền thống Việt Nam, chính quyền thực dân Pháp bắt đầu tổ chức hệ thống giáo dục của mình. Việc các trí thức Việt Nam xây dựng hệ thống giáo dục riêng, mà điển hình là phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, bị coi là nguy hiểm.  Vì thế, Đông Kinh Nghĩa Thục bị Pháp giải tán sau chỉ tám tháng tồn tại. Mặc dù vậy, đó vẫn là một áp lực quan trọng buộc chính quyền thực dân phải cải tổ giáo dục, nhất là bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ tại trường, cải cách chế độ thi cử.

Gail Paradise Kelly (2000) cho chúng ta một phân tích khá toàn diện và khá nhiều dữ liệu về hệ thống giáo dục Việt Nam thời kỳ 1906-1939.

Hệ thống giáo dục quốc gia thống nhất chỉ bắt đầu hình thành sau năm 1917 với các nghị định cải cách của Toàn quyền Albert Sarraut. Hệ thống tiểu học 5 năm và sau đó là 5 năm trung học cơ sở và bậc đại học với một trường duy nhất ở Hà Nội (được thành lập từ 1906).

Chỉ xin trích vài dữ liệu năm 1926, năm cụ Phan mất, từ trang 84-85 của Gail Paradise Kelly (2000), Việt Nam có tổng cộng 3.053 trường tiểu học (3 năm) với 153.737 học sinh; 244 trường tiểu học đầy đủ (5 năm) với 65.329 học sinh; 17 trường trung học cơ sở (dạy 10 năm) với 3.656 học sinh, 2 trường cấp hai (secondary school, lycée) với 56 học sinh (năm 1923 lại có 83 học sinh).

Tuy nhiên, đây là vài số liệu rời rạc được trích ở trên và tóm tắt của World Bank 2010 Report (trang 2): “Vào thời kỳ thịnh vượng nhất của Đông Dương bị Pháp xâm chiếm, Việt Nam chỉ có 2.322 trường tiểu học (ba năm) và số học sinh chiếm 2% tổng dân số; 638 trường tiểu học cho 2 năm cuối của giáo dục tiểu học với số học sinh chiếm 0,4% tổng dân số; 16 trường trung học cơ sở (primary colleges cho 4 năm sau bậc tiểu học) chiếm 0,05% tổng dân số và 6 trường trung học phổ thông trong đó có 3 trường nhà nước với số học sinh học trường công chỉ chiếm 0,019% dân số. Toàn bộ Đông Dương thuộc Pháp chỉ có ba đại học (Luật, Y Dược, Khoa học) tại Hà Nội với 834 sinh viên, trong số đó có 628 sinh viên Việt Nam… Với một hệ thống giáo dục như vậy 95% dân Việt Nam đã mù chữ.”

Hãy so sánh với Nhật Bản đầu thế kỷ XX. Theo ước lượng của Giáo sư Tsujimoto Masashi (2000), tỷ lệ biết chữ của các thành phố lớn của Nhật vào đầu thế kỷ XIX là trên 70%, mức ở vùng nông thôn là khoảng 10 hay 20% hay thấp hơn. Tuy vậy, vào năm 1909 tỷ lệ dự học bắt buộc (6 năm lúc đó) là trên 98%.  Sự khác biệt giữa Nhật Bản và Việt Nam thật sự khủng khiếp.

Nói cách khác, hoàn cảnh kinh tế, xã hội và chính trị ở Việt Nam đầu thế kỷ XX hoàn toàn không thuận lợi ngay cả cho việc khai dân trí của Phan Châu Trinh, và chính biết rõ điều đó nên cụ đã chủ trương khai dân trí.

  1. Nguồn lực kết nối

Nguồn lực kết nối có thể được phản ánh khá tốt bằng tỷ lệ dân cư đô thị, số người làm trong các nhà máy, công sở (nơi có đông người tụ tập và sự kết nối dễ dàng hơn những người sống ở nông thôn, nhất là vùng sâu vùng xa), mạng lưới giao thông, số người dùng Internet (và cả các chính sách kiểm duyệt Internet), v.v. Hãy xét tỷ lệ dân cư đô thị.

Hình 4. Dân số đô thị 1960-2020, so sánh quốc tế. Nguồn: Tác giả soạn theo dữ liệu của Macrotrends (trích dữ liệu của Ngân hàng Thế giới).

Có thể thấy nguồn lực kết nối của Việt Nam trong giai đoạn từ 1960 cho đến nay luôn luôn thấp hơn các nước trong khu vực. Lưu ý rằng vào năm 1986, khi chuyển đổi sang dân chủ, tỷ lệ dân cư đô thị của Philippines đạt 43,2%, còn tương tự tại Hàn Quốc trong năm 1987 là 68,56%, trong khi đó tỷ lệ hiện nay của Việt Nam cũng chỉ là 38,77%. Đó là chưa kể đến việc tự do tư tưởng và sự kết nối khác và tổ chức kết nối (như các tổ chức xã hội dân sự, các hội thảo, hội họp) mà ở nước ta là thấp hơn các nước được nhắc đến, và hiện nay có thể còn kém thời cụ Phan Châu Trinh.

  1. Dân khí

Đáng tiếc chúng ta không có những số đo lịch sử về dân khí (mà có quan hệ mật thiết với chỉ số các giá trị giải phóng (EVI), xem Nguyễn Quang A (2017), vì các giá trị này mới chỉ được đo từ năm 1981 đến nay trong bảy đợt.

Hãy xem xét EVI của vài nước trong khu vực để chúng ta có thể có chút cơ sở nào đó để mường tượng. Do các giá trị thường được thiết lập trong các năm hình thành (formative years, 0-8 tuổi; và môi trường kinh tế xã hội và nhất là môi trường gia đình, giáo dục ở tuổi trước khi đến trường và trong thời vị thành niên là hết sức quan trọng) và các giá trị của toàn xã hội (tức mức trung bình phổ biến của giá trị nào đó) thay đổi chủ yếu qua sự thay thế các nhóm tuổi, cho nên các giá trị, kể cả dân khí (EVI), thường thay đổi rất chậm.

Hình 5. EVI của một số nước trong khu vực được đo trong bảy đợt khảo sát của World Values Survey. Nguồn: Tác giả soạn dựa vào dữ liệu của World Values Survey.

Có thể thấy xu hướng tăng dài hạn của EVI trong tất cả các nước (chủ yếu do những thay đổi giá trị của các nhóm lứa tuổi [age cohort] trẻ bước vào tuổi trưởng thành và của các nhóm lứa tuổi già chết đi, hay nói cách khác sự thay đổi giá trị giữa các nhóm lứa tuổi). Nhưng, EVI cũng tăng hay giảm trong ngắn hạn do những thay đổi giá trị bên trong nhóm lứa tuổi phản ánh những biến động về những thay đổi về các nguồn lực hoạt động. Do EVI được chuẩn hóa (0 ≤EVI ≤ 1) nên sự thay đổi không nhiều trong thời gian ngắn, và sự chênh lệch 0,05 là rất lớn và thường xảy ra do sự thay thế nhóm lứa tuổi.

Với số điểm dữ liệu ít ỏi (Việt Nam 3 điểm, và Hàn Quốc 7 điểm trong 40 năm qua), khó có thể có những ước lượng lùi về quá khứ, thí dụ lùi lại khoảng một thế hệ quay lại các năm 1960. Nhưng dùng nhiều điểm dữ liệu hơn của các vùng văn hóa (với số điểm dữ liệu của mỗi vùng lên đến hàng trăm), Christian Welzel (2021) và các cộng sự của ông có thể làm việc này và cho chúng ta các ước lượng đáng tin cậy về EVI cho giai đoạn 1960-1980 cùng với EVI thực đo cho giai đoạn 1981-2020, cho chúng ta thấy rõ xu hướng tăng toàn cầu của các giá trị giải phóng trên Hình 6.

Hình 6. Sự thay đổi của EVI của các vùng văn hóa (1960-2000). Nguồn: Hình OA-9 của Christian Welzel (2021).

Việt Nam, dù có thuộc về vùng văn hóa Sinic East (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) hay không, chắc nó nằm giữa vùng Indic East và Sinic East, có thể suy đoán rằng EVI là thấp cỡ 0,3 trong suốt giai đoạn đầu thế kỷ XX của cụ Phan và lên 0,34 năm 2001, 0,36 năm 2006, và 0,41 năm 2020.

  1. Các phong trào xã hội

Động cơ mạnh nhất, lâu bền nhất để tham gia các hoạt động phong trào xã hội là các giá trị giải phóng, hay dân khí. Ngoài ra, có các động cơ khác như lợi ích, sự bất bình, hận thù và chúng không mạnh như dân khí. Nếu hoạt động phong trào xã hội có động cơ chính là các giá trị giải phóng thì hoạt động đó chủ yếu là bất bạo động và kinh nghiệm thực tế chứng minh nó là phương pháp đấu tranh hiệu quả nhất.

Khi các nguồn lực hành động thấp, dân khí thấp thì quần chúng có thể dễ bị (các nhà hoạt động dân túy và/hay chủ trương bạo lực hoặc những kẻ khiêu khích do chính quyền cài vào) kích động tham gia vào các phong trào xã hội, với các động cơ khác với các giá trị giải phóng. Điều này dễ khiến các phong trào xã hội trở nên bạo động và/hay vượt khỏi tầm kiểm soát của những người chủ trương bất bạo động, và như thế tạo cớ cho nhà cầm quyền đàn áp thẳng tay.

Chiến lược chính của các nhà cầm quyền độc tài để bẻ gãy liên kết giữa các giá trị giải phóng và các hoạt động phong trào xã hội là tuyên truyền và đàn áp, xem Welzel (2013, tr.219). Dân khí càng cao thì tác dụng của sự tuyên truyền và đàn áp càng ít có hiệu quả, trong khi nếu dân trí thấp, kinh tế không phát triển và dân khí thấp thì hiệu quả của tuyên truyền và đàn áp rất cao.

Tóm lại, cho đến khi cụ Phan Châu Trinh mất năm 1926, các nguồn lực hành động của nhân dân tất cả các nước trong khu vực, kể cả dân khí đã rất thấp và chẳng nước nào đã dân chủ hóa thành công trong vòng 60 năm sau đó cả, nói chi đến Việt Nam.

Về phương pháp, ngược với chủ trương bất bạo động của Phan Châu Trinh các nhà cầm quyền ở Việt Nam trong suốt thế kỷ hai mươi đã sử dụng phương pháp bạo động.

Ngược với chủ trương chống bài ngoại và chống ỷ lại vào nước ngoài của Phan Châu Trinh, đáng tiếc tư tưởng bài ngoại và đôi khi ỷ ngoại đã phổ biến theo những thái cực khác nhau và các tàn dư của nó vẫn còn đến ngày nay.

  1. Vài suy ngẫm

Như thế, có thể dễ hiểu là cụ Phan Châu Trinh đã chưa thành công (nhưng dứt khoát không thất bại vì sự nghiệp đó đang và sẽ còn tiếp tục). Và suốt từ đó đến nay, nhất là từ thập niên 1990 khi Đổi mới thực sự bắt đầu, Việt Nam đã ngày càng đi theo các tư tưởng của cụ Phan Châu Trinh dù nhiều người không muốn thú nhận như thế.

Về nguồn lực vật chất, như Hình 3 cho thấy Việt Nam luôn luôn ở mức thấp nhất cho đến tận ngày nay, so với các nước trong khu vực. Dù ở miền Nam nền kinh tế thị trường được khuyến khích cho đến tận năm 1975 nhưng sau đó chính quyền đã tìm mọi cách hủy diệt nền kinh tế thị trường. Mãi đến năm 1986, do không “đổi mới” thì chết nên chính quyền đã buộc phải trả lại cho dân một phần các quyền kinh doanh của mình. Cuộc Đổi mới thực sự chỉ bắt đầu từ thập niên 1990: cởi trói kinh doanh, xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, chú trọng thương mại, coi trọng doanh nhân, hợp tác kinh tế với nước ngoài, v.v. Xét cho cùng là chúng ta làm theo các tư tưởng của cụ Phan Châu Trinh đề ra gần 100 năm trước và đã mang lại sự phát triển kinh tế ngoạn mục cho Việt Nam trong hơn 30 năm qua. Tuy nhiên, xét về tất cả các nguồn lực vật chất, chúng ta vẫn còn yếu khi so sánh với các nước trong khu vực như được phân tích sơ bộ ở trên.

Về nguồn lực trí tuệ, kể từ phong trào xóa mù chữ năm 1945, tỷ lệ biết chữ được cải thiện đáng kể. Ngày nay, tỷ lệ biết chữ của Việt Nam đạt mức 98,85%. Tuy nhiên, nếu tính đến chất lượng giáo dục (đo bằng số năm học ở trường chẳng hạn và tính đến kết quả như số sách được viết, số bằng sáng chế) cũng như đóng góp thực cho trí tuệ nhân loại, cho phát triển kinh tế thì dân trí của chúng ta ngày nay vẫn rất thấp. Chẳng hạn, theo Wikipedia, tính trung bình thì một người ở Việt Nam đọc 0,8 cuốn sách/năm (không tính sách giáo khoa). So với Malaysia thì trung bình một người đọc 10-20 cuốn/năm (2012) và Thái Lan là 5 cuốn/năm.

Hiện nay và mãi mãi trong tương lai chúng ta vẫn phải tiếp tục thực hiện chủ trương khai dân trí của cụ Phan.

Về nguồn lực kết nối, như Hình 4 cho thấy, tỷ lệ đô thị hóa của chúng ta vẫn thấp nhất cho đến tận ngày nay so với các nước được so sánh. Đó là chưa nói đến các thành tố khác của nguồn lực kết nối như sự lập hội, các tổ chức công đoàn độc lập, các tổ chức xã hội dân sự không được khuyến khích, các cuộc hội họp cũng bị kiểm soát nên có lẽ lĩnh vực này hiện nay còn kém thời của Phan Châu Trinh.

Về phương pháp bất bạo động của cụ Phan Châu Trinh, có lẽ do người Việt Nam luôn sống trong văn hóa chống ngoại xâm từ hàng ngàn năm nay nên quá quen với từ ngữ mang tính chiến đấu (chiến sĩ, tấn công, mặt trận, chiến dịch, xung kích, ra quân, tiêu diệt, truy quét, báo thù…) cho đến tận ngày nay. Thậm chí, nhiều nhà lãnh đạo còn “sáng tạo” ra các từ ngữ mới sặc mùi chiến tranh như “tư lệnh ngành”. Các từ ngữ này được báo chí tuyên truyền rộng rãi nên việc chấp nhận phương pháp bất bạo động có thể không dễ. Việc giáo dục cho dân ta về tinh thần và phương pháp bất bạo động vẫn là một nhiệm vụ cam go và phải tích cực làm liên tục.

Chúng ta nên tỉnh táo chú ý đến các dấu ấn văn hóa và lịch sử không hay đó và từ từ thay đổi chúng một cách có chủ ý chứ không phải ngược lại dù vô tình hay cố ý.

Chúng ta còn chưa xét đến các yếu tố ảnh hưởng của quốc tế và địa chính trị mà có thể thuận lợi hay bất lợi cho sự phát triển và dân chủ hóa của Việt Nam. Và liên quan đến vấn đề này là câu hỏi được một số người đưa ra: dựa vào ai? Tất nhiên chúng ta nên tận dụng sự giúp đỡ và sự ủng hộ của tất cả các nước khác, tận dụng tất cả các cơ hội mà thế giới và khu vực tạo ra cho chúng ta, nhưng chúng ta phải dựa vào chính chúng ta. Đấy cũng là một tư tưởng chủ đạo của cụ Phan: “vọng ngoại tắc ngu, bạo động tắc tử”.

Nói cách khác, nội lực vẫn là chính, chúng ta phải dựa vào chính mình. Nếu các nguồn lực hành động thấp, dân khí không cao thì dù ai đó (một nhà độc tài nhân từ hay một lực lượng quốc tế) có đưa cho chúng ta nền dân chủ thì nền dân chủ đó cũng chỉ là phù du, sớm nở tối tàn. Dân chủ chỉ có thể hình thành qua cuộc đấu tranh liên tục, không biết mệt mỏi của chính người Việt Nam chúng ta để phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí và tích cực tham gia vào các phong trào xã hội, tức là liên tục làm theo các tư tưởng của Phan Châu Trinh.

Tóm lại, Phan Châu Trinh chưa thành công bởi vì người Việt chưa hiểu các ý tưởng của cụ. Thậm chí, các nhà cầm quyền ở Việt Nam đã làm ngược lại tư tưởng của cụ, dùng phương pháp bạo động, vọng ngoại, không chú ý đến việc xây dựng các nguồn lực hành động của nhân dân, thậm chí có những lúc đã hủy hoại chúng (cải tạo công thương, tiêu diệt khu vực kinh tế tư nhân, ngăn sông cấm chợ gây khó khăn cho phát triển kinh tế, cho các nguồn lực vật chất; ngăn cản sự phát triển lành mạnh của xã hội dân sự gây hại cho nguồn lực kết nối; đàn áp các phong trào xã hội). Muốn phát triển đất nước, chúng ta cần tiếp tục bổ sung, phát triển thêm, làm phong phú các tư tưởng của Phan Châu Trinh và thực hiện chúng ngay trong hiện nay và tương lai. Chúng ta đang tiếp tục con đường của Phan Châu Trinh. Lịch sử không lặp lại và không có chữ nếu, nhưng lịch sử có cho chúng ta những bài học quý giá nếu chúng ta muốn học và phát triển.

  1. Lời cảm ơn

Tác giả cảm ơn nhà thơ Hoàng Hưng, cựu đại sứ Nguyễn Trung và một số bạn trẻ đã góp ý cho vài bản thảo của bài viết này.

_____

Chú thích:

– Daron Acemoglu and Simon Johnson (2023), POWER and PROGRESS, our Thousand-Year Struggle over Technology and Prosperity (TIẾN BỘ và QUYỀN LỰC, cuộc Chiến đấu Ngàn Năm của chúng ta về Công nghệ và sự Thịnh Vượng), PublicAfaire, New York

– Chu Hảo (2023), Phan Châu Trinh trước khi sang Pháp, Viện Phan Châu Trinh.

– Gail Paradise Kelly (2000), Frech Colonial Education: Essays on Vietnam and West Africa, AMS Press, Inc. 2000

– Seymour Martin Lipset (1959), Some Social Requisites of Democracy: Economic Development and Political Legitimacy, The American Political Science Review, Volume 53, Issue 1 (1959): 69-105.

– Nguyen Quang A (2019), Tiananmen Protests and Lessons for Democratization in Vietnam, Contemporary Chinese Political Economy and Strategic Relations: An International Journal, Vol.5. No.2, June/Aug. 2019, pp.745-763.

– Nguyễn Quang A (2017), Phan Châu Trinh và Thuyết Hiện đại hóa Mới, Tạp chí Dân trí

– Tsujimoto Masashi (2000), Maturing of a Lierate Society, Journal of Japanese Trade & Industies, March-April 2000, pp. 44-48. Truy cập online

– Christian Welzel (2013), Freedom Rising, Oxford University Press 2013 (Bản tiếng Việt 2017)

– Christian Welzel (2021), Why The Future is Democratic, Journal of Democracy, Volume 32, No. 2, April, 2021, pp. 132-144

– World Bank (2010), 2010 World Report: “Education in Vietnam”


 

 Từ vụ án Ngọc Trinh, ‘nhà giàu cũng khóc’

 Ba’o Nguoi-Viet

February 7, 2024

Lâm Công Tử

Người dân trong nước biết cái tên Ngọc Trinh từ lâu qua cung cách sống của cô người mẫu này. Người Việt hải ngoại biết Ngọc Trinh qua tỷ phú Hoàng Kiều và rồi người dân khắp thế giới biết Ngọc Trinh qua vụ lái xe phân khối lớn mà không có bằng lái phù hợp, bị công an bắt, ra tòa được xử án treo rồi về nhà viết lời cám ơn đảng và chính phủ trong ngày 27 Tết.

Ngọc Trinh ra tòa với lực lượng hộ tống bên cạnh như một tù nhân nguy hiểm. (Hình: Duyên Phan/Tuổi Trẻ)

Ngọc Trinh là khuôn mặt điển hình của người giàu trong giới showbiz, cô nàng vừa đẹp vừa bất chấp dư luận khi từ ăn mặc tới ăn nói đều khác người. Ngọc Trinh có một lượng fan rất lớn từ nam thanh tới nữ tú. Thanh niên thì mê nhan sắc của cô còn thiếu nữ thì mê sự nghiệp rất đáng ngưỡng mộ của một người mẫu. Chỉ có một bộ phận rất… hùng hậu ghét cô đó là công an.

Ừ thì công an ai mà họ không ghét. Người nghèo bị họ ghét vì buôn bán vô trật tự trên đường phố, người giàu nào không đút lót cho họ thì ngay lập tức dược vào sổ bìa đen chỉ chờ dịp là cho biết tay. Không giàu không nghèo cũng bị ghét vì giới này biết chút đỉnh luật lệ thường cự cãi mỗi khi bị phạt lái xe hay tranh luận khi lực lượng chức năng càn quét trong một sự kiện nào đó. Nói như vậy để thấy rằng công an và nhân dân là hai lực lượng đối nghịch, cái thương hay ghét đều nằm trong tiêu chí có hối lộ được hay không.

Nhiều người ngây thơ cho rằng sống trong chế độ Cộng Sản muốn yên thân hưởng giàu sang phú quý thì phải biết im lặng trước bất công xảy ra hàng ngày trên đường phố. Đừng bao giờ nói chuyện chính trị trên mạng xã hội và nhất là đừng bao giờ tham gia biểu tình dù có chống Trung Quốc hay chống một âm mưu nào đó.

Những người suy nghĩ như vậy thật sai lầm, lấy trường hợp Ngọc Trinh làm ví dụ thì sẽ thấy. Ngọc Trinh rất giàu nhưng chưa bao giờ làm từ thiện dỏm, chưa bao giờ nói chuyện chính trị trên Facebook của cô ấy, chưa bao giờ tỏ ra bức bối vì những chuyện bất công xã hội và cũng chưa bao giờ bị công an mời về đồn vì bất cứ chuyện gì, ngoại trừ cô là một người giàu, thật giàu là đằng khác.

Vậy mà ngày 6 Tháng Mười, năm 2023 người mẫu Ngọc Trinh bị cáo buộc đăng video “biểu diễn” xe phân khối lớn lên mạng xã hội, có hàng triệu người theo dõi, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội bị Công An TP HCM bắt tạm giam ba tháng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng.”

Theo báo chí cho biết Ngọc Trinh dù không có giấy phép lái xe hạng A2 nhưng đã cùng một huấn luyện viên chạy xe BMW, dung tích xi lanh 999 cm3, biểu diễn trên đoạn đường D15 Khu Công Nghệ Cao (thuộc phường Tăng Nhơn Phú B, thành phố Thủ Đức) với các động tác lái xe nguy hiểm, tư thế phản cảm, không mặc đồ bảo hộ, nằm, quỳ gối trên yên xe.

Lạ một điều tuy bị bắt vì chạy xe phân khối lớn nhưng Viện Kiểm Sát TP HCM lại phê chuẩn các quyết định cho phép lệnh khám xét nhà của cô ấy, thu giữ nhiều tài liệu liên quan.

Ủa, sao ngộ vậy? Lái xe phân khối lớn là vi phạm luật lái xe, hơn nữa không gây tai nạn, không làm ùn tắc giao thông tại sao lại bị bắt mà không phải là phạt hành chánh, lại còn bị khám xét nhà để tìm tài liệu liên quan là tài liệu gì, phải chăng là tài liệu mua sắm hạt xoàn đá quý cũng như đồ lót hạng cao cấp mà cô người mẫu này từng khoe trên Facebook của cô?

Hỏi cho vui thôi nhưng động thái này của công an, viện kiểm sát, tòa án cho thấy một điều là luật pháp nằm trong tay họ còn Hiến Pháp, Bộ Luật Hình Sự đều là mớ giấy lộn đối với ngành tư pháp.

Trong ba tháng nằm trong trại giam chắc Ngọc Trinh cũng ngộ ra được chân lý rằng đối với công an không điều gì mà họ không dám làm, kể cả bắt giam một con người khi người ấy chỉ vi phạm một luật nhỏ như luật lái xe. Mục tiêu của hành vi phi pháp này không phải là hoàn thiện pháp luật mà là cảnh báo toàn bộ xã hội rằng sống trong thế giới Cộng Sản không biết điều với công an là một sai lầm rất lớn, lớn đến nỗi dẫn đến gông cùm, trại giam không biết lúc nào.

Ba tháng sau, Ngọc Trinh ra tòa với lực lượng hộ tống bên cạnh như một tù nhân nguy hiểm. Hình ảnh của Ngọc Trinh bị kẹp giữa hai hàng công an khiến người ta liên tưởng đến phiên tòa xử bà Võ Thị Thắng hơn 60 năm về trước. Bà Thắng bị chế độ miền Nam bắt ra tòa vì hoạt động cho Cộng Sản còn Ngọc Trinh hôm nay ra tòa vì lái xe phân khôi lớn. Bà Võ Thị Thắng có nụ cười nổi tiếng còn Ngọc Trinh lại có khuôn mặt xinh đẹp và ăn nói ôn tồn, điềm đạm trước tòa làm nhiều người theo dõi xúc động. Có người còn cho rằng cô đáng được nhận danh hiệu “người mẫu nhân dân” vì từ cung cách ăn nói tới lời lẽ trước tòa hơn hẳn hàng trăm quan lại tham nhũng mếu máo xin tha khi bị kết án.

Nhưng có lẽ lời ăn tiếng nói của cô đã được chuẩn bị từ trước khi cô biết rằng mình sẽ không bị giam nữa. Lời lẽ đó không trách móc hệ thống luật pháp, không tố cáo cô bị sàm sỡ khi bị giam trong tù, cũng không xin xỏ được giảm án vì thật ra, sống trong xã hội Việt Nam Ngọc Trinh hiểu rất rõ luật lệ đầu tiên là “tiền đâu” để mua một bản án treo khi cô còn trong tù.

Với Ngọc Trinh vài tỷ bạc đút lót cho công an, tòa án, viện kiểm sát là con số rất nhỏ so với gia tài kếch xù của cô. Cái mất lớn nhất của Ngọc Trinh là hình ảnh bị còng tay giữa hai hàng áo xanh lạnh lẽo. Cô bước ra khỏi tòa không một cử chỉ xúc động vì cô đã biết trước sức mạnh của đồng tiền cô bỏ ra, và có lẽ không ai lạ gì với cách mua án này khi cả đất nước chìm trong án lệ “tiền mua án.”

Sau khi về tới nhà vẫn chưa thật sự yên tâm vì Ngọc Trinh biết công an khu vực toàn quyền triệu tập cô vì những chuyện trời ơi nếu cô tiếp tục yên lặng không tỏ ra tuân phục, và vì vậy, như một tín đồ thuần thành với chế độ, cô lên trang Facebook của mình tỏ ra hối lỗi và chân thành biết ơn đảng và nhà nước đã cho phép cô một cơ hội nữa để hòa nhập với xã hội!

Đấy, giàu có và tuyệt sắc như Ngọc Trinh chỉ vì không biết điều với công an khi ăn nên làm ra vẫn bị túm bởi một lý do hết sức trời ơi đất hỡi, huống chi những đại gia làm ăn bên ngoài hệ thống quốc doanh làm sao tránh cho hết một rừng luật lập ra cốt để trói chặt họ vào một án lệ bất thành văn “mua án.”

Làm gì thì cũng có án sẵn cho mỗi một con người có của ăn của để. Bây giờ bạn đang ở bên ngoài song sắt trại giam nhưng một hôm đẹp trời nào đó khi công an gõ cửa vào lúc nửa đêm bạn cũng không nên ngạc nhiên và cho rằng mình vô tội.

Đối với người giàu thì hai chữ vô tội không có trong tự điển luật lệ của công an, cái tội lớn nhất, nghiêm trọng nhất là chung chi không đủ.

Đấy nhà giàu nào cũng khóc, huống chi Ngọc Trinh chỉ là một cô nhà giàu bé nhỏ, dễ thương!


 

 Luật sư môi trường tuyệt thực trong tù trong khi Hà Nội bị ô nhiễm không khí trầm trọng

Ba’o Tieng Dan

Thục Quyên

5-2-2024

Ô nhiễm không khí ở Hà Nội tệ đến mức hơn 100 chuyến bay phải chuyển hướng hoặc hoãn cất cánh, hạ cánh vì khói bụi dày đặc, bao trùm thủ đô Việt Nam (1), gây mất an toàn do tầm nhìn kém. Một số chuyến bay phải chuyển hướng đến các sân bay khác như Cát Bi ở Hải Phòng.

Vào lúc 4h30 sáng thứ sáu 2-2-2024, sân bay Nội Bài, Hà Nội tạm dừng đón khách. Các sân bay Thọ Xuân ở Thanh Hóa, Vinh ở Nghệ An và Phú Bài ở Huế cũng bị gián đoạn hoạt động, do khói bụi ô nhiễm. Bụi mịn (PM 2.5) ở Hà Nội cao hơn 11 lần so với mức an toàn.

Theo IQAir, trang web giám sát chất lượng không khí, bụi mịn (PM 2.5) ở Hà Nội cao hơn 11 lần so với mức an toàn do WHO xác định. Người dân được khuyến cáo đeo khẩu trang khi ra ngoài trời, cũng như tránh các hoạt động ngoài trời như tập thể dục, đóng cửa sổ khi ở trong nhà và chạy máy lọc không khí.

Nguyên nhân gây ô nhiễm trầm trọng ở Hà nội

Ô nhiễm đến từ một số vật liệu xây dựng độc hại, giao thông đông đúc, công nghiệp thép và xi măng, và các nhà máy nhiệt điện đốt than.

Báo cáo năm 2020 của Ngân hàng Thế giới cho biết, gần 35% lượng bụi mịn PM 2.5 đến từ các nhà máy điện và các ngành công nghiệp lớn quanh thành phố. Khoảng 25% đến từ giao thông; có gần 8 triệu chiếc xe được đăng ký ở Hà Nội.

Khí thải amoniac từ chăn nuôi và sử dụng phân bón tạo ra 20% lượng bụi mịn PM 2,5, trong khi 10% đến  từ các sinh hoạt như nấu ăn bằng than củi và khoảng 7% từ việc đốt chất thải nông nghiệp. Việc đốt rác trong và chung quanh thành phố càng làm tình trạng trở nên tồi tệ hơn.

Mức ô nhiễm cũng tăng trong mùa đông, khi mưa ít và nhiệt độ thấp giữ tầng khí ô nhiễm ở gần mặt đất. Ngoài ra, những cơn gió cuối năm 2023 và đầu năm 2024 được cho là đã mang các chất ô nhiễm từ các siêu đô thị phía nam Trung Quốc xuống Hà Nội.

Theo ước tính của WHO năm 2016, ô nhiễm không khí thường xuyên ở Việt Nam có liên quan đến hơn 60.000 trường hợp người trẻ tử vong mỗi năm.

Lập chương trình đối phó ô nhiễm

Để đối phó tình trạng ô nhiễm ngày càng tồi tệ hơn ở Hà Nội, chính phủ Việt Nam đề ra kế hoạch giảm khí carbon, bằng cách không phát triển các nhà máy điện than mới, đồng thời giảm lượng than từ 50% xuống còn 20% công suất, từ năm 2030.

Hà Nội đang nhận được sự hỗ trợ từ Ngân hàng Thế giới để thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm ô nhiễm không khí. Tổ chức tài chính quốc tế này đã khuyến nghị các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính, chẳng hạn như chuyển hướng sử dụng năng lượng than, giảm tắc nghẽn giao thông, giảm khí thải giao thông và cải thiện các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi.

Chính phủ Việt Nam cũng đang cố gắng lập chương trình xin tài trợ 15,5 tỷ đô la (14,25 tỷ euro) từ Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Công bằng (JETP) liên chính phủ – do Vương quốc Anh và EU đồng chủ trì, để hướng tới quá trình chuyển đổi xanh: Phát triển năng lượng thủy điện, giảm thải khí nhà kính (bớt sử dụng năng lượng than), giảm tắc nghẽn giao thông, giảm khí thải giao thông và cải thiện các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi.

Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội gần đây cũng thông báo rằng, họ đang nghiên cứu các chính sách đào tạo nông dân trồng lúa về cách giảm thiểu và tái sử dụng chất thải thay vì đốt chúng.

Nhưng bỏ tù nhà các hoạt động môi trường

Tuy nhiên, chương trình đối phó ô nhiễm môi trường của nhà cầm quyền Việt Nam không thuyết phục. Trong vài năm qua, một số nhà hoạt động và các chuyên gia môi trường bị nhà nước Việt Nam bắt giữ. Hàng loạt tổ chức phi chính phủ bảo vệ môi trường đã phải đóng cửa, ngưng hoạt động.

Một trong những nhà hoạt động môi trường tiêu biểu là luật sư Đặng Đình Bách, 46 tuổi. Ông Bách đã bị bắt vào ngày 2-7-2021, sau đó bị kết án 5 năm tù về tội “trốn thuế”. Gia đình ông Bách cho biết, sáng 2-2-2024, tại trại giam số 6, tỉnh Nghệ An, ông bắt đầu tuyệt thực, đòi chính quyền Việt Nam phải thực thi nghiêm túc hiến pháp và pháp luật, nhằm bảo vệ quyền con người.

Theo tin từ bà Kate Holcome, thuộc Liên minh Luật Môi trường Toàn cầu (ELAW Environmental Law Alliance Worldwide) cho biết, bà Trần phương Thảo, vợ của LS Đặng Đình Bách, đã gửi thư đến các toà Đại sứ tại Việt Nam, các tổ chức bảo vệ môi trường, các bạn và đồng nghiệp của chồng bà trên toàn cầu, loan tin ông Bách bắt đầu tuyệt thực ngày 2-2-2024 để phản đối trại giam không thực thi pháp luật, vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tù nhân. Bà Thảo kêu gọi sự giúp sức của mọi người trong cuộc tranh đấu đòi công lý và tự do cho chồng bà và cũng chuyển lời LS Bách đến chính quyền Việt Nam:

“Trên tinh thần xây dựng một nhà nước pháp quyền, Việt Nam cần bảo đảm thực thi nghiêm túc hiến pháp và pháp luật nhằm bảo vệ quyền con người, điều mà bấy lâu nay không được bảo vệ đầy đủ nên tạo ra những bức xúc và bất công trong toàn xã hội. Thực thi pháp luật là yếu tố tiên quyết thể hiện thiện chí của nhà nước Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế”.

Chương trình xin tài trợ 15,5 tỷ đô la từ JETP của chính phủ Việt Nam hiện đang gặp chống đối dữ dội từ Liên minh bảo vệ Khí hậu Việt Nam (VCDC – Vietnam Climate Defenders Coalition), gồm hàng trăm các tổ chức bảo vệ môi trường toàn cầu (2) vì trong hai năm qua nhiều chuyên gia hoạt động môi trường ở Việt Nam bị bắt giữ. Tổ chức này cho tuyên bố:

“Trong khi các quan chức công khai cam kết làm chậm lại vấn đề biến đổi khí hậu, thì chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục bắt và giam giữ những nhà hoạt động môi trường hàng đầu như LS môi trường Đặng Đình Bách“.

“Chính phủ Việt Nam hoan nghênh tài trợ từ các nỗ lực quốc tế như Đối tác Chuyển đổi Năng lượng Công bằng (JETP) trị giá 15,5 tỷ đô la, đồng thời bịt miệng các nhà hoạt động. Chính phủ Việt Nam đang cố che giấu điều gì với cộng đồng quốc tế và các nhà đầu tư?“

VCDC nêu lên sự vi phạm của chính phủ Việt Nam về khía cạnh “công bằng” của JETP khi xã hội dân sự ở Việt Nam bị hạn chế nghiêm trọng về khả năng tham gia vào quá trình này. VCDC cũng lên tiếng đòi hỏi sự giám sát của Nhóm Đối tác Quốc tế (G7 và Hoa Kỳ) và các nhà tài chính của JETP.

Để có một quá trình chuyển đổi năng lượng công bằng ở Việt Nam, các nhà chức trách cần:

– Tìm cách trả tự do ngay lập tức cho ông Đặng Đình Bạch, bà Hoàng Thị Minh Hồng và các nhà lãnh đạo xã hội dân sự khác đang bị cầm tù bất công ở Việt Nam.

– Tiến hành thẩm định nghiêm ngặt các mối đe dọa đối với những người bảo vệ môi trường và nhân quyền cũng như các hạn chế đối với hoạt động môi trường và sự tham gia của người dân ở Việt Nam, phù hợp với các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường và xã hội của các bên liên quan của JETP, vì chúng liên quan đến việc tài trợ và thực hiện dự án do JETP tài trợ.

– Bảo đảm tuân thủ nghiêm ngặt chính sách “tham gia cộng đồng mà không sợ bị trả thù“ được cam kết bởi các bên liên quan JETP, bao gồm IFC, ADB và Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP); và phát triển các quy tắc điều chỉnh cụ thể để chủ động ứng phó với các hành động trả thù nếu chúng xảy ra.

– Yêu cầu việc tài trợ và thực hiện dự án JETP phụ thuộc vào các biện pháp bảo vệ rõ ràng, chống lại sự trả thù và trả đũa đối với những người bảo vệ môi trường và các nhà hoạt động nhân quyền, cùng với các khung chính sách để xã hội dân sự tham gia một cách tự do và an toàn vào việc thiết kế, ra quyết định, giám sát và thực hiện dự án của JETP. 

– Thúc đẩy các điều kiện thuận lợi cho xã hội dân sự, được quy định bởi các tiêu chuẩn và hiệp ước quốc tế nhằm tạo ra và duy trì, về mặt luật pháp và trên thực tế, một môi trường thuận lợi an toàn cho xã hội dân sự tự do hoạt động, bao gồm cải cách luật pháp và chính sách liên quan đến đăng ký và các yêu cầu về thuế đối với dân sự, các hiệp hội xã hội quá nặng nề và không phù hợp với các quyền cơ bản, bao gồm quyền tự do hội họp, lập hội và biểu đạt.

Quá trình chuyển đổi năng lượng xanh sẽ không thành công cho đến khi các chuyên gia bảo vệ môi trường như LS Đặng Đình Bách và các nhà hoạt động môi trường được quyền lên tiếng công khai và tự do dẫn đầu phong trào.

_______

Ghi chú:

(1) https://www.euronews.com/green/2024/02/02/air-pollution-is-so-bad-in-this-asian-capital-that-flights-are-being-diverted-due-to-low-v

(2) https://www.standwithbach-viet.org/


 

 Cảm nhận về nền kinh tế sẽ quyết định kết quả bầu cử

 Ba’o Nguoi-Viet

February 6, 2024

Hiếu Chân/Người Việt

Cử tri Mỹ thường lựa chọn bỏ phiếu theo quan niệm của họ về hiện tình của đất nước, trong đó kinh tế là yếu tố chính. “Kinh tế mới là vấn đề, đồ ngu à” (It’s the economy stupid) – câu nói nổi tiếng của ông James Carville, cố vấn chiến dịch tranh cử của ứng cử viên Bill Clinton, năm 1992 đến nay vẫn được coi là kim chỉ nam cho các cuộc vận động tranh cử tổng thống. Yếu tố kinh tế, hay đúng hơn là cảm nhận của người dân Mỹ về nền kinh tế hiện nay ra sao, và điều đó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến lựa chọn của họ?

Tổng Thống Joe Biden nói chuyện về kinh tế tại Superior, Wisconsin, hôm 25 Tháng Giêng. (Hình minh họa: Stephen Maturen/Getty Images)

Vài ngày trước, bà Nikki Haley – người đang nỗ lực giành chiếc vé đại diện đảng Cộng Hòa trong cuộc đua vào Tòa Bạch Ốc cuối năm nay –  tuyên bố: “Chúng ta có một nền kinh tế đang hỗn loạn với lạm phát vượt ngoài tầm kiểm soát.” Nhiều cử tri Cộng Hòa nghe theo và tin lời bà.

Một cuộc thăm dò ý kiến của tổ chức YouGov với câu hỏi: “Nhìn chung, quý vị nghĩ nền kinh tế đang tốt hơn hoặc tệ hơn,” ghi nhận trong số cử tri Cộng Hòa có 71% tin rằng nó đang tệ hơn, chỉ có 7.4% cho rằng nền kinh tế đang tốt hơn trước. Ở phía đảng Dân Chủ, cuộc thăm dò ghi nhận có 48.1% cho rằng nền kinh tế đang tốt hơn, 17.6% cho rằng nó đang xấu đi.

Một cuộc khảo sát khác, do Trung Tâm Nghiên Cứu Các Vấn Đề Công Cộng NORC phối hợp với hãng tin AP thực hiện vào đầu Tháng Hai ghi nhận 35% số người Mỹ trưởng thành nói rằng nền kinh tế đang tốt, tăng so với 30% trong cuộc khảo sát cuối năm ngoái và 24% so với cuộc khảo sát một năm trước. Trong khi đó, vẫn có 65% cho rằng nền kinh tế đang tệ hơn, dù con số này có cải thiện so với 76% của năm ngoái.

Tổng hợp các cuộc khảo sát ý kiến, nghiên cứu của Pew Research Center công bố cuối tháng trước cho thấy chỉ có 28% người Mỹ nhận xét nền kinh tế hiện nay là tốt hoặc rất tốt, trong đó phía Dân Chủ có 44% và phía Cộng Hòa có 13%.

Ở phía các chuyên gia, ông Jerome Powell, chủ tịch Ngân Hàng Liên Bang (Fed), trong cuộc họp báo Thứ Tư tuần trước, tuyên bố: “Hãy thành thật, kinh tế hiện nay tốt.” Nhà bình luận Paul Krugman của nhật báo The New York Times, người được giải Nobel về kinh tế học, thì cho rằng nền kinh tế Mỹ đang vừa nóng vừa lạnh, nóng về tốc độ tăng trưởng và thị trường việc làm nhưng lạnh về lạm phát.

Với một nền kinh tế phát triển và khổng lồ như Hoa Kỳ, các con số lý tưởng được các kinh tế gia nhắm tới là 3-2: tăng trưởng 3%/năm và lạm phát 2%/năm – đủ để người dân năm sau khá giả hơn năm trước.

Số liệu thống kê chính thức cho thấy tổng sản lượng nội địa (GDP) của Mỹ tăng 3.3% trong quý cuối năm 2023. Tính chung cả năm 2023, mức tăng GDP của Mỹ đạt 2.5%. Tỉ lệ này thấp hơn Canada (3.3%) và Anh (4.2%) nhưng cao hơn nhiều nền kinh tế phát triển khác như Pháp (2.2%), Đức (1.9%), Nhật (1.1%), và Ý (0.9%). So với thời trước đại dịch COVID-19, nền kinh tế Mỹ ngày nay đã “lớn” thêm 7% trong khi nền kinh tế của khu vực đồng tiền chung Châu Âu chỉ “lớn” thêm 3%.

Tăng trưởng kinh tế của Mỹ được cho là nhờ người tiêu dùng chi tiêu mạnh, thị trường lao động bền vững, và chi tiêu của chính phủ vào cơ sở hạ tầng và năng lượng sạch. Những khoản trợ cấp lớn của chính phủ liên bang trong hai năm 2020-2021 đã thúc đẩy các gia đình Mỹ chi tiêu và tiết kiệm. Tiền lương tăng và giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán cũng tăng càng thúc đẩy người dân phóng tay chi dùng sau mấy năm thắt lưng buộc bụng vì dịch bệnh.

Tuy vậy, những người cho rằng nền kinh tế tệ hơn trước đổ lỗi cho sự điều hành của chính quyền Joe Biden và đảng Dân Chủ với những chính sách như thay thế năng lượng hóa thạch bằng năng lượng sạch, thay dần xe chạy xăng bằng xe chạy điện, tăng mức lương tối thiểu cho công nhân lao động và tăng đầu tư sửa chữa cơ sở hạ tầng đường sá. Những chính sách này được cho là yếu tố tạo ra lạm phát và gây khó khăn cho cuộc sống người dân. Cá biệt, cựu Tổng Thống Donald Trump còn tuyên bố vô căn cứ rằng sở dĩ thị trường chứng khoán tăng mạnh gần đây là do nhà đầu tư tin tưởng ông sẽ quay lại Tòa Bạch Ốc đầu năm tới và mang lại cho họ cơ hội gia tăng lợi nhuận!

Trên thị trường lao động, trong Tháng Giêng có thêm 353,000 việc làm và tỉ lệ thất nghiệp vẫn giữ mức 3.7% – chỉ cao hơn chút đỉnh so với mức thất nghiệp cách đây nửa thế kỷ. Tính chung trong ba năm cầm quyền của Tổng Thống Joe Biden, đến cuối năm, nước Mỹ đã có thêm 14 triệu việc làm – một con số ấn tượng. Trong ba năm đầu cầm quyền, ông Trump cũng góp phần tạo ra 6 triệu việc làm cho nền kinh tế nhưng thành tích đó bị xóa sạch trong thời đại dịch. Ông Trump kết thúc nhiệm kỳ tổng thống với hàng triệu việc làm bị mất và tỉ lệ thất nghiệp lên tới 8.05%. Bây giờ, trước thành tích tạo việc làm của chính quyền Biden, ông Trump không ngần ngại tuyên bố những con số ấn tượng đó là “tin giả” (fake news).

Truyền thông vẫn đưa tin liên tục về chuyện các công ty công nghệ lớn sa thải hàng vạn nhân viên, nhưng người bị sa thải tỏ ra không quá bi quan trong một thị trường lao động mạnh, họ có thể tìm được việc làm khác hoặc tự khởi sự doanh nghiệp không quá khó khăn.

Nếu tăng trưởng GDP và công ăn việc làm là “điểm nóng” của nền kinh tế Mỹ như nhận định của Giáo Sư Krugman thì lạm phát là “điểm lạnh” đáng chú ý nhất. Lạm phát không chỉ tác động đến túi tiền của người dân, đến chi tiêu hàng ngày mà còn ảnh hưởng nặng nề đến cảm nhận của họ về nền kinh tế. Có thể nói, chính tỉ lệ lạm phát cao những năm 2021-2022 làm cho người Mỹ có cái nhìn bi quan về thực trạng nền kinh tế – một cảm nhận tồn tại dai dẳng cho đến nay bất chấp dữ kiện thực tế.

Số liệu của Bộ Lao Động công bố hôm 11 Tháng Giêng ghi nhận tốc độ lạm phát của Mỹ trong năm 2023 vừa qua là 3.4%/năm. Nếu không tính giá của những mặt hàng có độ tăng giảm lớn là thực phẩm và xăng dầu thì mức “lạm phát lõi” (core inflation rate) chỉ còn dưới 2%, đạt mục tiêu mà Fed nhắm tới và Fed đang tính chuyện giảm lãi suất căn bản.

Lạm phát, hay giá cả tăng cao, là một hiện tượng toàn cầu, xảy ra ở hầu hết các quốc gia do đại dịch COVID-19 và cuộc chiến tranh Nga-Ukraine làm gián đoạn các nguồn cung cấp hàng hóa, thấy rõ nhất ở giá xăng dầu và giá thực phẩm. Trong ba năm qua, lạm phát ở Mỹ đã lên đến đỉnh điểm 7%/năm vào năm 2021, sau đó giảm xuống 6.5% năm 2022 ,và hiện là 3.4%/năm. Như vậy, trong khi nhiều nước khác vẫn đang vật lộn với tốc độ lạm phát cao ngất ngưởng thì lạm phát ở Mỹ có xu hướng giảm đều. Tính chung, so với thời trước đại dịch, giá cả hàng hóa tăng thêm khoảng 20% trong khi tiền lương của người lao động cũng gia tăng ở mức tương đương.

Không phải ai cũng được tăng lương trong thời gian đó nhưng vật giá leo thang thì tác động đến túi tiền của tất cả mọi người, cho nên trong cảm nhận của người dân, lạm phát vẫn là một nỗi lo lắng thường trực. “Điểm lạnh” lạm phát dễ dàng khiến người ta bỏ qua hoặc lãng quên những “điểm nóng” về tăng trưởng GDP và thị trường lao động.

Và thế là xảy ra một nghịch lý như nêu trên: Trong khi nền kinh tế có bằng chứng phát triển tích cực thì cảm nhận của người dân về nền kinh tế lại tiêu cực. Ông Biden cầm quyền trong thời kỳ mà kinh tế Mỹ tăng trưởng tốt, thị trường chứng khoán lập những đỉnh cao kỷ lục nhưng cho đến nay người Mỹ vẫn không mấy lạc quan. Tỉ lệ cử tri ủng hộ ông Biden vẫn lẹt đẹt ở mức 38%, thấp nhất trong các đời tổng thống và không thay đổi nhiều trong suốt hai năm qua. Về thành tích điều hành kinh tế của chính quyền Biden, đánh giá của cử tri còn tệ hơn nữa, chỉ 35% ủng hộ cái gọi là “Bidenomics.”

Niềm tin của người dân vào triển vọng kinh tế của đất nước luôn xếp đầu bảng trong các mối quan tâm của cử tri và có thể là yếu tố quyết định kết quả cuộc bầu cử cuối năm nay. Tổng Thống Biden và các phụ tá của ông đã cố gắng nhấn mạnh các thành tích của nền kinh tế trong các cuộc vận động tranh cử, nhưng nỗ lực đó là quá muộn và bị pha loãng vì những vấn đề nóng khác như chiến tranh ở Trung Đông và sự hỗ trợ của chính quyền Biden cho chính phủ cực hữu Israel gây thảm họa nhân đạo ở Dải Gaza, tình trạng bế tắc trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng an ninh ở biên giới phía Nam…

Thêm nữa, người dân ít khi nhìn nền kinh tế qua các số liệu thống kê khô khan rối rắm mà theo cảm nhận cá nhân. Họ đánh giá độ mạnh yếu của kinh tế qua số tiền lương chuyển vào trương mục ngân hàng, qua hóa đơn tiền thực phẩm, qua số tiền đổ xăng hằng ngày, hoặc qua tiền thuê nhà phải trả mỗi tháng. Người ta bàn với nhau số phân lời khi vay tiền ngân hàng mua nhà đã lên tới 7%, 8% trong khi báo cáo của Freddie Mac – cơ quan lo việc cho vay tiền mua nhà – xác nhận có hơn 60% người vay mua nhà chỉ trả tiền lời dưới 4%, tức là họ vay từ trước khi tăng lãi suất và không bị phân lời cao ảnh hưởng.

Nếu không sớm có những biện pháp điều chỉnh hiệu quả trong chiến dịch tranh cử đang diễn ra sao cho người dân Mỹ cảm thấy họ được lợi từ sự phát triển kinh tế mấy năm nay và chính sách kinh tế của ông đem lại tăng trưởng bền vững cho tương lai nước Mỹ, ông Biden có thể gặp khó. [đ.d.]


 

Trump không được miễn truy tố vụ 6 Tháng Giêng

Ba’o Nguoi-Viet

February 6, 2024

WASHINGTON, DC (NV) – Cựu Tổng Thống Donald Trump không được hưởng quyền miễn truy tố trong vụ âm mưu lật ngược kết quả bầu cử năm 2020, tòa kháng án liên bang thống nhất phán quyết hôm Thứ Ba, 6 Tháng Hai, theo CNBC.

Ba chánh án Tòa Kháng Án Hoa Kỳ ở District of Columbia thẳng thừng bác bỏ việc cựu Tổng Thống Trump tranh luận rằng ông được hưởng quyền miễn truy tố vì ông là tổng thống vào lúc xảy ra vụ đó.

Cựu Tổng Thống Donald Trump. (Hình minh họa: David Becker/Getty Images)

“Chúng tôi không thể chấp nhận rằng các cựu tổng thống được đứng trên luật pháp suốt thời gian sau đó,” ba chánh án của Tòa Kháng Án Liên bang ở District of Columbia viết trong phán quyết.

Phán quyết này là thất bại pháp lý lớn mới nhất cho cựu Tổng Thống Trump, ứng cử viên tổng thống năm 2024 hàng đầu của đảng Cộng Hòa. Theo dự trù, ông sẽ nhanh chóng yêu cầu Tối Cao Pháp Viện hủy bỏ phán quyết này, hoặc yêu cầu toàn bộ chánh án Tòa Kháng Án Hoa Kỳ ở DC xét xử lại vụ này.

Cuộc chiến pháp lý liên quan tới việc cựu Tổng Thống Trump được hưởng quyền miễn truy tố hay không xuất phát từ vụ án hình sự can thiệp bầu cử do ông Jack Smith, công tố viên đặc biệt, đưa ra tòa liên bang ở DC.

Cựu Tổng Thống Trump bị truy tố bốn tội trong vụ âm mưu lật ngược kết quả bầu cử tổng thống năm 2020, gồm đồng lõa lừa đảo Hoa Kỳ và đồng lõa cản trở công việc của chính phủ. Ông không nhận tội.

Ông Steven Cheung, phát ngôn viên ban tranh cử cựu Tổng Thống Trump, chỉ trích phán quyết hôm Thứ Ba. Ông Cheung ra tuyên bố cho hay, nếu không được hưởng quyền miễn truy tố “hoàn toàn,” “bất cứ tổng thống nào trong tương lai sau khi hết nhiệm kỳ cũng sẽ bị đảng đối lập truy tố ngay lập tức.”

Ba chánh án Tòa Kháng Án Hoa Kỳ ở DC ra phán quyết hôm Thứ Ba gồm hai người do Tổng Thống Joe Biden (Dân Chủ) đề cử và một người do cựu Tổng Thống George H.W. Bush (Cộng Hòa) đề cử.

Ông Smith, công tố viên đặc biệt, cáo buộc cựu Tổng Thống Trump hô hoán sai trái rằng cuộc bầu cử năm 2020 bị gian lận lan tràn để lấy cớ cố lật ngược chiến thắng của Tổng Thống Biden bằng hàng loạt âm mưu hình sự. Những âm mưu đó gồm tung ra đại cử tri giả ủng hộ ông Trump ở các tiểu bang mà ông Biden thắng, cố dùng Bộ Tư Pháp để thực hiện những cuộc điều tra bầu cử “giả mạo,” và chống đối thủ tục chứng nhận kết quả bầu cử hợp pháp hôm 6 Tháng Giêng, 2021.

Cựu Tổng Thống Trump gọi vụ truy tố này là “vụ săn phù thủy” nhằm làm hại chiến dịch tranh cử tổng thống năm 2024 của ông. Thời gian qua, ông cố làm dư luận lo sợ rằng, nếu ông bị tước quyền miễn truy tố, hàng loạt cựu tổng thống khác cũng sẽ bị truy tố.

Ngoài vụ này, cựu Tổng Thống Trump còn bị truy tố trong ba vụ hình sự khác, gồm can thiệp kết quả bầu cử ở Georgia, đem tài liệu mật về nhà riêng ở Florida, và làm ăn gian lận ở New York. (Th.Long) [qd]

Xem them: VOA


 

Hãy hạnh phúc ngay bây giờ!

Chúng ta tự thuyết phục mình rằng cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn sau khi chúng ta kết hôn, có con, có công việc và có một ngôi nhà mới. Sau đó, chúng ta lại thất vọng khi những đứa con của chúng ta chậm lớn và chúng ta không đạt được những điều mình mong muốn.

Sự thật thì không có thời gian nào tốt hơn để hạnh phúc cho bằng ngay bây giờ! Bởi nếu không phải bây giờ thì là khi nào?

Cuộc sống của bạn luôn luôn đầy ắp những sự thách thức. Dù thế nào đi nữa, cách tốt nhất là bạn hãy tự thừa nhận điều này và quyết định một cuộc sống hạnh phúc.

Hãy đánh giá cao mỗi khoảnh khắc bạn có và đánh giá cao hơn nữa bởi vì bạn chia sẻ nó với một số người đặc biệt – đủ đặc biệt để bạn dành thời gian với họ… Và nhớ rằng thời gian không chờ ai!

Vì thế mà hãy dừng việc chờ đợi…

… cho đến khi bạn có một ngôi nhà

… cho đến khi bạn có một chiếc xe hay một công việc mới

… cho đến khi bạn quay lại trường học

… cho đến khi bạn… giảm đi vài cân

… cho đến khi bạn hoàn thành chương trình học ở trường

… cho đến khi bạn kết hôn

… cho đến khi bạn ly hôn

… cho đến khi bạn có con

… cho đến khi những đứa con của bạn rời khỏi gia đình

… cho đến khi bạn nghỉ hưu

… cho đến mùa hè

… rồi lại mùa thu

… mùa đông

… mùa xuân

… và cho đến khi bạn không còn nữa!

Hạnh phúc không có nghĩa là mọi thứ đều hoàn hảo. Hạnh phúc là khi bạn quyết định nhìn thấy tầm xa của sự dở dang nào đó.

Không có thời gian nào tốt hơn bây giờ để hạnh phúc… Hãy tin rằng bạn hạnh phúc vào ngay ngày hôm nay!

Khát vọng tuổi trẻ

From: haiphuoc47 & NguyenNThu


 

CUỘC ĐỜI CHỈ CẦN VẬY LÀ ĐỦ!

Trên chuyến tàu về quê ăn Tết, tôi ngồi gần ông bà cụ ấy! Hình như ông cụ còn phải đeo máy trợ thính, thuốc trợ tim và hộp xịt bệnh hen suyễn luôn kè kè bên cạnh. Ông cụ có vẻ mệt hơn bà cụ nhiều vì đường khá xa, nhưng ông không hề kêu ca, chỉ chăm chú để ý bà, thi thoảng hỏi “Bà có mệt không? Có cần nằm không thì tôi xuống đất ngồi để bà nằm ghế”.

Bà chỉ lẳng lặng lắc đầu, rồi lại nhìn ra phía cửa. Thi thoảng ông lại nắm tay bà hỏi lại “Bà có mệt không? Có cần nằm không?”

Lúc bà mệt và gục vào ông ngủ, tôi hỏi ông bà lấy nhau bao lâu rồi? Ông bảo ôi ông cũng chả rõ. Lâu lắm rồi. Giờ bà ấy già lẫn còn không nhớ ra ông là ai nhưng vẫn ở bên ông vì cảm giác ông quen quen hơn mọi người khác.

Tôi nhớ nhiều lần nằm cạnh nhau, H hỏi, “M ơi nếu sau này em tầm 60 tuổi mà đã mất trí nhớ ấy, anh có dắt em ra ngoài đường bỏ em ngoài không ?”. Những lần như thế tôi nổi giận hét :” vợ với con liên thiên à, im ngay không tớ tống chuối vào mặt bây giờ”. Vì tôi nghĩ vợ mình toàn kiểu thẩn thơ lo vớ lo vẩn.

Hôm nay tôi mới hiểu, cuộc đời người đàn bà, ai cũng chỉ mong yêu được, lấy được một người chồng mà cho tới khi già cỗi, chẳng còn phân biệt được ai với ai, vẫn có người ấy thật lòng ở bên chăm sóc, nắm tay nhau cho đến lúc hơi tàn. Giống như ông bà cụ mà tôi gặp hôm nay.

Tình yêu, là thương lấy mọi thứ của nhau, dù là khi còn trẻ, hay là lúc nhăn nheo tuổi già.

Giờ nếu mụ vợ mất não của tôi, nó mà dụi mặt hỏi tôi liệu có bỏ nó nếu nó già đi và lú lẫn không, tôi sẽ không bao giờ nổi nóng  doạ đập chuối vào mặt nó nữa. Vì đi nhiều, gặp nhiều, tôi đã hiểu được trong lòng nó luôn lo sợ điều gì.

Tôi cũng chỉ mong sau này nếu lỡ tôi già trước, tôi quên nó trước, nó vẫn ngồi cạnh tôi, trên chuyến tàu nào đó chẳng hạn, nắm lấy tay và thi thoảng hỏi, “M ơi ông có mệt không?”

Chắc cuộc đời, chỉ như vậy là đủ.

DieuLe__Sưu tầm

From: haiphuoc47 & NguyenNThu


 

NGHIỆP ĐỜI CÒN Ở ĐÂU ĐÂY…?! – NGUYỄN GIA VIỆT

NGUYỄN GIA VIỆT

Một người vừa mất, bà con đầu tiên là hơi chất ngất vì lẽ sanh lão bịnh tử, kế nữa là hay hỏi một câu “Xét công nghiệp, vị đó đã làm lợi gì cho dân tộc?”

Khi Thiền sư Nhất Hạnh vừa qua đời, hỏi rằng ông đã làm gì lợi cho dân tộc mình?

Tôi có quen một vị sư trù trì một ngôi chùa cổ, khi nói về sự uyên bác của Thiền Sư Thích Nhất Hanh thì cái gì ông cũng ok, duy nhứt có một cái ông ngập ngừng và lắc đầu.

Nhiều nguồn tin nói Thiền sư Nhất Hạnh xuất gia tu học từ năm 16 tuổi nhưng đã từng có vợ con, bà vợ tên Cao Ngọc Phượng!

CNP Là ai? là bà ni sư đi Chân Kh trong Làng Mai đó . Albert Einstein từng nói “Không có gì trên đời là tuyệt đối. Cái duy nhất tuyệt đối là cái tương đối.”

Viết cái này không phải kể xấu thiền sư Thích Nhất Hạnh mà chỉ nói lên một sự thực

Nói vầy sẽ nhớ tới vụ “Thầy ông nội”

Ðúng theo Ðạo Phật thì người xuất gia (mà chúng ta quen gọi là Sư Tăng) không được lập gia đình

Thiền sư Thích Nhất Hạnh sau khi gần như bị VNCH trục xuất ra khỏi VN đã ở tư thế lưu vong,ông có công lớn trong việc phổ biến dòng thiền Làng Mai ra toàn thế giới, song ông bị dính hai vấn đề, thứ nhứt là dính chánh trị , thứ nhì là dính….

Nhiều tài liệu khẳng định thiền sư ở với bà CNP có hai đứa con gái

Ngày nay sư cô Chân Kh cũng là một nhân vật quan trọng trong Làng Mai,  phát ngôn rổn rảng.

Cuốn “Đi vào cõi thơ” ấn hành năm 1969 tại SG của Bùi Giáng, ông Bùi Giáng chê ông Thích Nhất Hạnh bằng một câu:

“Nhất Hạnh có nguồn thơ chứa chan. Chúng ta không hiểu vì lẽ gì nguồn thơ đó lại không đủ sức ngăn cản ông, khiến ông hì hục hiện đại hóa Phật Giáo Uyên Nguyên. Trường hợp Nhất Hạnh là trường hợp một thi sỹ thiên tài bị vướng phải cạm bẫy của triết học Tây Phương”.

Vào ngày 5/2/ 1966 ông Thích Nhất Hạnh sáng lập tại Việt Nam dòng tu “Tiếp Hiện”, tiếng Anh là The Order of Interbeing, tiếng Pháp là L’ordre de l’interêtre.

Dòng tu này dành cho người xuất gia cũng như người thế tục, nam cũng như nữ.

Quan trọng là dòng này cho phép người tu lập gia đình.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh có công giới thiệu đạo Phật theo giáo phái Làng Mai của ông ấy cho giới thị dân Âu Mỹ trong thế giới lậm khoa học làm nhiều người bị stress và mất phương hướng.

Tạm gọi Thiền sư Thích Nhất Hạnh tạo ra “Đạo Bụt” gồm thiền và lời nói dạng “diễn xướng” phần nhiều .

Thiền mà đụng nhau tay chân quơ quào,ôm ấp yêu thương có gì đó nó trần tục quá.

Cái vụ bông hồng cài áo trắng hay đỏ là của ông Hạnh làm trong mùa Vu Lan năm 1962.

Thực ra màu mè, mẹ là thuật ngữ linh thiêng, không cớ gì phân màu ra trắng hay đỏ, không cớ gì một bên hể hả vui sướng vì còn mẹ, một bên phải đau đớn ràn rụa nước mắt vì mất mẹ.

Đức Phật chủ trương chúng sanh bình đẳng. Vậy sao lại phân loại tâm lý giữa hồng trắng và đỏ?

Rồi những thuật ngữ như phải ôm mẹ, phải nói rằng:”Mẹ ơi, con thương mẹ lắm” cũng có gì đó đầu môi chót lưỡi.

Thiền môn là tự tâm, tự lòng, từ con tim. Kính mẹ là từ hành động, yêu mẹ là từ thực tế, không có chỉ là chót lưỡi

Rồi Đạo Phật thành Đạo Bụt có gì đó liêu trai chí dị.

Làng Mai của ông Nhất Hạnh không niệm “A Di Đà Phật” hay “Mô Phật” thì đổi lại thành “A Di Đà Bụt” hay “Mô Bụt”

Họ niệm Phật cũng khác “Nam Mô Bụt Thích Ca Mâu Ni” thay vì “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”

Nghe trái trái lổ tai.

Đạo Phật thành Đạo Bụt có gì đó hơi cải lương.

Sư Ông Làng Mai Thích Nhất Hạnh trả lời: “Sở dĩ chúng tôi dùng chữ đạo Bụt mà không dùng chữ đạo Phật, vì chúng tôi nghĩ rằng chữ Bụt có tính dân tộc hơn chữ Phật”.

Nhưng ông quên rằng người Việt từ lâu đã phân định Bụt là một ông Tiên râu tóc bạc phơ, cầm phất trần của Lão giáo.

Còn Phật thì khác.

Dù trong lịch sử VN thời Bắc Kỳ xưa có kêu chữ Buddha là Bụt.

Chữ Phạn Buddha (बुद्ध) có nghĩa là người “đánh thức”,”thức tỉnh” hay “giác ngộ”.

Bud là giác, dha là người..Buddha không phải là tên họ ai hết, nó là cái danh hiệu ca tụng công đức Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Tên khai sanh của Ngài là Siddhārtha (Sĩ Đạt Ta hoặc Tất Ðạt Ta),.họ là Gautama.(Cồ-đàm). Cha là vua Tịnh Phạn (śuddhodana) và mẹ là Hoàng hậu Tịnh Diệu (Māyādevī)

Bắc Kỳ đọc Buddha thành “Bụt-đà” hay “Bụt-đà-da”,.sau dài quá mỏi mồm,.đọc thành Bụt.

Nhưng sau này Bụt thiên về Lão giáo rồi, Phật tách biệt rõ ràng.

Chữ Bụt là chữ của Miền Bắc, bằng chứng là trong Tấm Cám có ông Bụt ban phép, nhưng râu tóc bạc phơ, tức là văn hóa Miền Bắc lái chữ Bụt qua Tiên Ông của Đạo giáo.

Thành ra Đạo Bụt của thiền sư Thích Nhất Hạnh làm mưa làm gió ở trời Tây vì Tây nó không hiểu văn hóa Việt Nam, nhưng đem về Việt Nam và Á Châu thì bị dội ngược không ai nghe theo vì hai nơi này có lịch sử Phật lâu đời.

Ông Thích Nhất Hạnh là một thiền sư, một triết gia, một nhà văn hay là một nhà hoạt động chánh trị vẫn là câu hỏi khó trả lời.

Riêng cá nhân tôi không thích cũng không ghét ông.

Tôi chưa bao giờ đọc và không có ý định đọc những cuốn sách thiền của ông.

Cuốn”Hoa Sen Trong Biển Lửa”xuất bản 1967 của ông mang hơi hám đậm màu chánh trị phe phái quá.

Thích Nhất Hạnh tất nhiên gọi vụ HT Thích Quảng Đức là “tự thiêu”

Nhưng ông cũng luồn lách, lòng vòng câu chữ dữ lắm về vụ này, thí dụ:

“Hôm rời Nữu Ước về Stockholm, tôi gặp một nữ bác sĩ người Hoa Kỳ cùng đi một chuyến bay. Bà hỏi tôi rất nhiều chuyện về Việt Nam. Bà rất tán thành quan điểm của những cuộc vận động chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam nhưng bà cực lực phản đối việc tự thiêu của Hoà Thượng Quảng Đức.

Theo bà, chỉ có những người tâm trí không bình thường mới đi làm cái công việc tự thiêu ấy

Bà cho sự tự thiêu là dã man, là bạo động, là cuồng tín, là mờ ám, là mất thăng bằng. Dù tôi đã nói hết lời cho bà biết rằng Hoà Thượng Quảng Đức là một vị tăng sĩ trên bảy mươi tuổi, rằng tôi có sống chung với Ngài ở chùa Long Vĩnh gần suốt một năm trời, rằng tôi nhận thấy rằng Ngài là một người đầy nhân ái và rất sáng suốt, rằng lúc tự thiêu Ngài đã tỏ ra rất trầm tĩnh và đầy chủ lực tinh thần, bà cũng không tin. Tôi đành im lăng vì biết rằng bà không thể hiểu hoặc không có khả năng để hiểu. Bà không thể hiểu vì bà chỉ có thể đứng ở một quan điểm khác để nhìn, thế thôi

Thế giới đặt nhiều nghi ngờ, nhiều giả thiết về “những người Phật Giáo” ở Việt Nam. Có nhiều người suốt đời không có một quan niệm rõ rệt nào về đạo Phật. Phật Giáo, họ nghĩ, là một thứ tín ngưỡng tạp nhạp. Những ông thầy tu là những người thiếu học, mê tín, tin ngây thơ vào luân hồi. Họ cạo đầu, ăn chay và đọc kinh để mong thoát khỏi luân hồi.

Họ gây rối loạn ở Việt Nam, cản ngăn công việc chống Cộng.

Hoặc họ có tham vọng quyền hành, hoặc họ bị Cộng sản lợi dụng, hoặc họ ngây thơ tin rằng họ có thể đối địch với Cộng sản, cái ngây thơ của một con cừu tin tưởng vào một con chó sói. Rồi người ta đặt vấn đề Phật tử chiếm mấy mươi phần trăm dân số. Người ta phân biệt Phật tử thực hành và Phật tử chỉ có tên là Phật tử

Người ta phân biệt Phật tử quá khích (militant) và Phật tử ôn hoà. Nhưng rốt cuộc, người ta vẫn không hiểu được Phật giáo Việt Nam là gì và do đó, không thể hiểu được vấn đề Việt Nam. Vấn đề khá phức tạp, nếu người ta chỉ bằng lòng với dăm ba điều hỏi thăm lặt vặt đây đó rồi dựa vào đấy để tìm hiểu và nhảy ào tới kết luận, thì người ta chỉ có thể quan niệm vấn đề một cách sai lạc”.

Dài dòng, biện chứng tư duy như vậy để rốt cuộc ông chốt Hoà Thượng Quảng Đức “tự thiêu” là chân lý, phải như vậy mới đúng Phật giáo kiểu VN.

Chúng ta sau 1975 thấy rằng có một số người tự thiêu, cái này là tự đổ xăng, tự châm lửa nha, nhưng hình như chẳng ai biết, mà có biết thì thế giới cũng im re. Ông Nhất Hạnh không đá động tới. Té ra tinh thần Phật giáo cũng còn chữ tùy.

Sau 1963 thầy Thích Nhất Hạnh thuộc phe Ấn Quang ở nước ngoài .Ông không xưng Hòa thượng, ông xưng ông là Thiền sư.

Danh xưng thiền sư 禪師(Zen Master). Thiền sư là Người đã Kiến Tánh.

Kiến tánh là nhận rõ cái tánh chơn thật của chính mình trong thiền tông tu tập.

Tại sao ông Thích Nhất Hạnh không xưng là 和尚 hoà thượng như những vị sư của thiền phái khác?

Và trong cuốn sách “Hoa sen…” kể trên lượm ra vô số những thuật ngữ quen quen.

Ông viết vầy:

“Trong tâm trí người Việt Nam hồi đó nhất là người dân quê, Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ anh hùng ái quốc chống Pháp và dành độc lập cho Việt Nam “.

Thích Nhất Hạnh viết “Cách Mạng Tháng Tám năm 1945″, ” ủng hộ Nam Bộ kháng chiến”.

Thiền sư gọi HCM là “cụ” -cụ Hồ Chí Minh, nhưng khi viết về hai nhân vật lịch sử khác thì gọi trống không là Bảo Đại và Ngô Đình Diệm.

Ông viết quần chúng, chiến khu, phong trào yêu nước hướng về cs.

Xài từ “người Công Giáo yêu nước”.

Lưu ý là chữ Cộng Sản thì ông Nhất Hạnh viết hoa và chữ “quốc gia”ông viết thường, cho vô ngoặc kép

Cụ thể:

“Quần chúng không ai ủng hộ Bảo Đại, cũng như không ai ủng hộ sự trở lại của người Pháp.

Quần chúng hướng về phía chiến khu, về lực lượng kháng chiến.

Quần chúng trong thời gian đó, vẫn chỉ nghĩ đến công cuộc kháng chiến như là một phong trào yêu nước dành độc lập và ít để ý đến sự bành trướng của thế lực Cộng Sản trong đó.

Các chính phủ “quốc gia” dưới thời của Quốc Trưởng Bảo Đại cũng tuyên truyền chống Cộng, nhưng sự tuyên truyền không có hiệu lực, bởi vì quần chúng không thể tin một điều gì do người Pháp và chính quyền bù nhìn của họ nói ra. Tất cả những gì họ làm, họ nói, trong ý niệm của quần chúng, đều là trái chống quyền lợi dân tộc Việt Nam”

Ông ghét TT Ngô Đình Diệm khi viết ông này có “một mớ uy tín”. Uy tín mà Thiền sư tính mớ như tôm cá, rau hành, tỏi ớt vậy .

Ông gọi cs là lực lượng kháng chiến.

“Quần chúng tiếp tục nghe lời tuyên truyền của lực lượng kháng chiến, trong đó có những phần tử Cộng sản và bắt đầu tin rằng chính sách Mỹ, vốn đang ủng hộ chính phủ Ngô Đình Diệm, như một chính sách theo đuổi quyền lợi của Tây phương, và Hoa Kỳ đang theo đuổi một chính sách “thực dân mới”.

Ông đổ thừa cho Miền Nam vì không chịu tổng tuyển cử nên Bắc Việt đánh xuống Miền Nam.

Thích Nhất Hạnh quảng cáo”Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam”:

“Điều không ai không thấy là trong Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam có vô số phần tử yêu nước, quốc gia và không Cộng sản. Họ gia nhập Mặt Trận không phải vì họ ưa thích chủ nghĩa Cộng Sản mà họ đồng ý với Mặt Trận là phải chống đối lại với chính quyền Ngô Đình Diệm và chính sách của người Hoa Kỳ”.

Những hành động cố gắng làm VNCH nổi sóng từ bên trong của ông Nhất Hạnh cũng là cách rút củi đáy nồi Miền Nam sờ sờ trong lịch sử.

Đọc xong cuốn hoa sen,t ự thấy đây là thiền sư chánh trị và có thiên kiến khá rõ.

Ông viết rằng:”Ở Việt Nam ngay nay chống Cộng đã thành chuyện thương mãi”

Mỗi người có một ý thức trong “cái tôi” tôn giáo của mình, chúng ta tôn trọng những gì Thiền Sư Thích Nhất Hạnh đã làm cho Làng Mai, xiển dương thiền Việt ra thế giới.

Tuy nhiên như đã nói ở trên là không thích đọc sách của ông.

Bùi Giáng nói trúng, thầy Thích Nhất Hạnh làm nhà thơ, nhà văn hay hơn nhà tu hành.

Thế nào thì có lịch sử sau này hạ hồi phân giải .

Lịch sử công bằng lắm…!

Nguyễn Gia Việt


 

Có Một Kiểu Người Sẽ Không Bao Giờ Già Đi


Mỗi ngày một câu chuyện thú vị

Có một kiểu người cả đời chẳng hề già đi, năm tháng dường như đã lãng quên họ. Cái già đi chỉ là tuổi tác, còn khí chất và thần thái là không hề thay đổi. Tất cả là bởi họ mang trên mình những điều rất đặc biệt này.

  1. Một tâm hồn chất phác ngây thơ

Thật khó khi kinh qua trường đời mà vẫn giữ được một tâm hồn chất phác ngây thơ. Đó không phải là kiểu “hồn nhiên như cô tiên” mà là sau những cay đắng của cuộc đời vẫn tin tưởng vào điều tốt đẹp. Đó là một tâm hồn trong sáng, không đánh mất sự hồn nhiên hiếu kỳ đối với vạn vật. Người như vậy thường hạnh phúc và tươi trẻ.

  1. Coi trọng dáng vẻ hàng ngày

Ăn mặc tươm tất, chú trọng vẻ ngoài cũng là một điều quan trọng. Người già chúng ta không nên “tuổi chưa cao mà hồn đã lão”, tâm trí lúc nào cũng đặt trong cảnh tương lai mờ mịt, quá khứ u buồn, cảm thấy chăm chút bản thân là việc của giới trẻ.

Người trẻ tuổi có sự hấp dẫn tự nhiên nên không cần phải để tâm vào việc ăn mặc. Còn người có tuổi, bất luận ở nhà hay ra ngoài đều nên tùy thời phục sức, tao nhã đúng mức, mang lại niềm vui cho bản thân và mọi người. Khi bạn ăn mặc trang nhã, hiển lộ tinh thần sung mãn, thì tự nhiên cũng tự tin hơn, nhìn vào thấy trẻ ra cả chục tuổi.

  1. Kiên trì đọc sách học tập, du lịch

Những người nhìn vào trẻ trung phần lớn đều kiên trì với phương châm “không ngừng tinh tiến, không ngừng học hỏi”. Trong bụng đã có một bồ sách, một kho thi thư thì ắt tâm hồn phong phú, dung mạo phong lưu.

Đọc sách giúp mở rộng nhân sinh quan, thế giới quan, du lịch giúp mở mang tầm mắt. Người ham thích đọc sách và du lịch, đối với bất cứ sự việc gì đều tự có kiến giải, không phải kiểu người bảo sao hay vậy, tự nhiên thần thái ung dung, tràn đầy sức sống của tuổi thanh xuân.

  1. Tấm lòng lương thiện

Những người nhìn vào trẻ trung, thường là thuần phác, thiện lương. Quá trình tu tâm dưỡng tính của họ thăng hoa thể hiện thành thần thái, tướng mạo bên ngoài. Cũng bởi tướng tùy tâm sinh, nên người có tâm từ bi, có lòng nhân ái, luôn luôn phát ra một loại hào quang. Với người khoan dung, hơn nửa gương mặt là có phúc tướng. Với người mà tính tình dịu dàng thì tướng mặt đã toát lên sự thân thiện.

  1. Có mục tiêu theo đuổi

Người mà nhìn vào trẻ trung sẽ luôn trong trạng thái tinh thần phấn chấn và tràn trề sức sống. Dù là đã nghỉ hưu rồi, trong cuộc sống nên đặt những mục tiêu mới. Trong phạm vi mà khả năng cho phép, hãy tích cực tham gia các loại hoạt động như ca hát, chụp ảnh, khiêu vũ… Như vậy, cuộc sống bày ra trước mắt bạn sẽ có sức sống hơn, cũng sẽ khiến bạn không bao giờ thấy mình già đi vậy.

  1. Biết cảm mến cuộc đời

Đam mê cuộc sống vẫn chưa đủ, nếu như có thể có chút lòng cảm mến với nó thì sẽ hoàn mỹ hơn. Không hưởng thụ những ưu việt mà đồng tiền mang lại, nguyện ý bỏ tâm tư trồng mấy chậu cây cảnh hay bắt tay chế tác mấy món đồ chơi, có những đam mê sở thích khác. Người như vậy, thời gian làm sao nhẫn tâm để bạn già đi đây?

  1. Kiên trì vận động

Thân thể khỏe mạnh mới là nền tảng duy trì sự trẻ trung. Người mà trông không có vẻ già đi nhất định đều kiên trì vận động, khiến bản thân từ trong đến ngoài đều tỏa ra sức sống.

  1. Tâm thái trẻ trung

Người có tâm thái trẻ trung sẽ tích cực trải nghiệm những điều mới mẻ, luôn hiếu kỳ khám phá những điều mới lạ. Trên người họ, bạn có lẽ cũng có thể nhìn thấy nếp nhăn nơi khóe mắt chân mày. Nhưng điều khiến bạn nhìn không chớp mắt là gương mặt với thần thái ung dung và tâm trạng yêu đời của họ.

Nhà văn Murakami Haruki đã từng nói: “Con người ta không phải là dần dần trở nên già đi, mà là trở nên già đi chỉ trong nháy mắt“. Con người trở nên già đi, không phải bắt đầu từ nếp nhăn đầu tiên, hay cọng tóc bạc đầu tiên, mà là bắt đầu từ ngay cái thời khắc buông bỏ chính mình. Chỉ có những ai không từ bỏ chính mình, mới có thể sống thành người không sợ già, và cũng sẽ không thấy mình già đi.

Sưu tầm