“tiến sĩ” ngày nay như hắn là thằng học dốt nhất làng.

 Tình cờ, tôi gặp lại thằng bạn cùng học lớp vở lòng ở quê, sau hơn 50 năm. Hắn khoe:

– Ngày xưa mi chê tau là thằng ba nhất: Học dốt nhất, nhiều tuổi nhất và xấu trai nhất. Bây giờ mi cải chính đi, vẫn ba nhất, nhưng là ba nhất của ngày nay: Giàu nhất, quan to nhất và học vị cao nhất.

Hắn nói đúng. Cả lớp vỡ lòng ngày xưa của chúng tôi, hiện nay không có ai bằng hắn. Hắn khoe tiếp:

– Tau là Tiến sĩ.

– Đi uống rượu với tau.

Tôi chưa kịp phản đối, hắn đã kéo tôi lên cái xe ô tô con bóng nhoáng, khoe:

– Tau mới lấy con ni, 10 tỷ.

Tôi hỏi hắn:

– Mi mua bằng Tiến sĩ mấy tỷ?

Hắn cười:

– Bằng xịn, thật 100%.

Thấy tôi ngạc nhiên, hắn cười:

– Có gì mà ngạc nhiên, tau nói mi nghe. Thôi học trường phổ thông, tau làm thằng đội trưởng đội thiếu niên, sau đó làm xã đoàn. Bố tau đưa tau lên làm huyện đoàn, rồi lên tỉnh đoàn, bây giờ tau làm bên chính quyền. Tau học bổ túc văn hóa một tối 2 tiết, 1 năm 3 lớp, lấy bằng tốt nghiệp cấp 3 bổ túc văn hóa, thằng nào thi cũng đỗ. Bố tau cử tau học đại học dự bị một năm, năm sau vào học đại học chính qui dài hạn như bọn mi. Tau là đảng viên, làm lớp trưởng, khoa xây dựng tau làm “con chim đầu đàn”. Chẳng thầy mô cô mô dám cho thằng đảng viên, lớp trưởng hay con “chim đầu đàn” điểm thấp. Ra trường, về cơ quan cũ, làm việc cũ. Bố tau cử tau đi học Nghiên cứu sinh. Nói là học, tau chỉ ở trường một năm không nhiều hơn 30 ngày. Sau 3 năm, bảo vệ luận án, nhận bằng “tiến sĩ”

Tôi hỏi hắn:

– Hiện ni mi nghiên cứu cái chi?

Hắn cười:

– Học dốt như tau thì nghiên cứu cái chi. Vấn đề là quan ngày xưa “tiến sĩ”, quan ngày nay cũng “tiến sĩ”, chẳng nhẽ để quan ngày nay thua quan ngày xưa!

Tôi đã vỡ nhẽ. Có con đường tắt thênh thang cho những thằng như hắn, đó là các lớp “bổ túc văn hóa”, “đại học dự bị”, học “nghiên cứu sinh nhận bằng tiến sĩ” …

Hắn cũng biết “tiến sĩ” ngày xưa khác “tiến sĩ” ngày nay, “tiến sĩ” ngày xưa là người giỏi nhất nước, “tiến sĩ” ngày nay như hắn là thằng học dốt nhất làng.

Thấy tôi trầm tư, hắn lấy chén rượu đã được nhân viên phục vụ rót, đưa một chén đưa cho tôi, một chén cho hắn, hắn cười đắc chí:

– Trăm phần trăm, cụng cái mi.

Tôi cụng li với hắn, dù sao chúng tôi cũng đã từng có những ngày xưa thân ái, những ngày cùng đi chăn bò.

(sưu tầm)

BỎ ĐẠO NÀY THEO ĐẠO KIA CÓ PHẢI LÀ PHẢN BỘI KHÔNG?

BỎ ĐẠO NÀY THEO ĐẠO KIA CÓ PHẢI LÀ PHẢN BỘI KHÔNG?

(Lm Pio Ngô Phúc Hậu)

Anh Hai Cay vừa hớt tóc cho cha xứ, vừa kể chuyện về đời mình.

– Tôi có một người bạn theo đạo công giáo. Hai đứa chúng tôi thương nhau lắm. Vì hoàn cảnh khó khăn, nó phải lên Bình Dương kiếm sống. Nó viết thư cho tôi và dặn tôi mỗi ngày phải nhớ và đọc cho nó một Kinh Lạy Cha. Vì thương nó, nên tôi đi dự các khóa Giáo Lý Dự Tòng của cha. Thế là tôi hiểu đạo của cha và thuộc Kinh Lạy Cha. Cứ mỗi buổi sáng, khi gà vừa gáy, tôi ra sân đứng trước bàn thờ Ông Thiên, chắp tay đọc Kinh Lạy Cha. Tôi vái trời chúc lành cho thằng bạn của tôi. Làm riết rồi tôi mê đạo này luôn. Tôi hướng dẫn vợ con tôi theo đạo Chúa. Còn tôi thì kẹt, không theo đạo này được.

– Tại sao lại kẹt?

– Cha tôi theo đạo Hòa Hảo. Tôi cũng theo đạo của cha tôi. Nếu bỏ đạo Hòa Hảo, thì là bất hiếu với cha, là phản bội đạo của cha. Chắc là tôi phải theo cả hai đạo, thì mới yên tâm được.

– Theo đạo là một chuyện lớn. Bỏ đạo này theo đạo kia cũng là một chuyện lớn. Trước khi quyết định, anh nên suy nghĩ nhiều và cầu nguyện thật nhiều. cụ thể là mỗi buổi sáng anh đứng trước bàn thờ Ông Thiên đọc Kinh Lạy Cha, xin Chúa chúc lành cho bạn của anh, thì bây giờ anh thêm một ý nguyện nữa là: xin cho ý Chúa thể hiện nơi chính cuộc đời của anh. Trong khi chờ anh cầu nguyện và suy nghĩ, tôi kể chuyện dòng dài cho anh nghe chơi.

1.Suốt đời cha anh chỉ có một cái xuồng be mười và chỉ có một cặp chèo. Chèo xuồng đi thăm ông nội. Chèo xuồng đi đám cúng cơm. Chèo xuồng đi hỏi vợ cho con. Chèo xuồng đi chà gạo…Thôi thì trăm thứ chuyện, từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ, tất cả đều làm với cái xuồng ấy và với cặp chèo ấy. Bây giờ cha anh chết rồi anh thừa kế cái xuồng be mười ấy. Anh lại tiếp tục chèo. Chèo lõm chõm, chèo luồn lách từ rạch này qua rạch kia.Thương quá là thương!

Bỗng thằng con của anh góp ý: “Xuồng chèo bây giờ lạc hậu lắm rồi ba ơi. Mình mua xuồng composite gắn máy đuôi tôm, chạy bảnh hơn nhiều”.

Bây giờ tôi hỏi anh Hai nhá.

– Nếu anh bán xuồng chèo, để mua xuồng máy, thì cha anh ở chín suối có buồn giận anh không?

– Thấy con cái mình làm ăn khấm khá, thì ổng mừng chứ buồn giận gì?

– Thấy anh bán xuồng chèo của ông già, thì xóm giềng có lên án anh là thằng con bất hiếu không?

– Hổng dám đâu. “Con hơn Cha là nhà có phước”. Ai cũng nói vậy đó.

– Người ta thường bảo rằng: Đạo nào cũng tốt, nên theo đạo nào cũng được. Cần chi mà phải đứng núi này trông núi nọ. Để anh yên tâm, tôi kể thêm một chuyện nữa.

2.Anh xách vali đi Sàigòn. Tới ngã ba, lẽ ra anh phải lên xe buýt đi về hướng Bắc, thì anh lại lên xe lam đi về hướng Nam. Đi được một tiếng đồng hồ, anh mới giật mình: “Chúa ơi! Tôi đi lộn đường rồi”. Ông bạn ngồi kế bên góp ý với anh: “Không sao. Đường nào cũng tốt. Cứ tiếp tục đi với tôi. Đường nào cũng dẫn ta tới một mục tiêu nào đó”. Anh nghĩ gì về ý kiến của người bạn đó?…

Ở trên đời này có rất nhiều tôn giáo vừa cao siêu vừa tốt đẹp. Nhưng không phải vì thế mà ta cứ vô bừa đạo nào cũng được. Đạo là đường. Đường nào cũng dẫn ta tới một mục tiêu. Nhưng ta phải chọn. Nếu ta muốn đi Sàigòn thì phải quẹo tay phải để đi về hướng Bắc. Nếu ta muốn đi Cà Mau thì phải quẹo tay trái đi về hướng Nam. Các tôn giáo cũng vậy. Đạo Phật giúp ta diệt khổ để đi vào cõi phúc. Đạo Khổng giúp ta xây dựng một xã hội có tôn ti trật tự. Đạo Kitô đưa ta về với nguồn cội là Thiên Chúa Toàn Năng, Toàn Ái… Đạo nào cũng tốt. Nhưng vẫn phải chọn lựa. Đường nào cũng đưa ta tới một mục tiêu. Nhưng vẫn phải tự hỏi mình sẽ đi về đâu, để chọn một trong các con đường ấy.

3.Có một người theo đạo Phật. Đạo Phật cao quá, đẹp quá. Tìm hiểu và sống đến chết vẫn chưa hưởng hết được cái đẹp của Đạo. Bỗng một ngày nọ, người ấy gia nhập đạo CôngGiáo. Mừng quá! Bạn cũ bạn mới đua nhau chất vấn.

– Chị bỏ đạo Phật, theo đạo Công Giáo, chị có thấy lương tâm bứt rứt gì không?

– Thưởng thức rừng hoa này, rồi sang rừng hoa khác để thưởng thức nữa, thì tại sao lại phải bứt rứt. Chỉ có niềm vui này cộng với niềm vui kia mà thôi.

– Khi chị trở lại đạo Công Giáo, thì mặc nhiên là chị đã bỏ đời sống cũ, để mặc lấy đời sống mới.

– Tôi không hề trở lại đạo Công Giáo, có đi sai thì mới trở lại. Tôi theo đạo Phật, đạo Phật quá tốt. Như vậy tôi đi đúng đường. Nay tôi thấy đạo của Chúa hợp với ý nguyện của tôi hơn, thì tôi đi tới. Tôi đi tới, chứ tôi không trở lại. Tôi cám ơn Đức Phật đã dìu dắt tôi tới ngưỡng cửa nhà Chúa. Tôi cám ơn Chúa vì Ngài đã đưa tay ra dắt tôi vào nhà của Ngài.

Anh Hai ơi! Tôi tặng anh ba câu chuyện trên để anh suy nghĩ và cầu nguyện. Tôi cũng cầu nguyện với anh để “Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”.

CHÍNH TRỊ LÀ GÌ?

CHÍNH TRỊ LÀ GÌ?

Một người Nga gốc Do thái được phép rời Nga sang định cư tại Israel. Tại sân bay Moscow, cán bộ Hải quan tìm thấy một bức tượng Lê Nin trong hành lý của anh ta bèn hỏi:

– Đây là cái gì?

Anh ta trả lời:

– Đây là cái gì? Thưa đồng chí đó là câu hỏi sai. Lẽ ra đồng chí phải hỏi: “Đây là ai?” Đây chính là đồng chí Lê Nin, người đã đặt nền móng của CNXH và tạo nên tương lai và thịnh vượng cho người dân Nga. Tôi mang theo bức tượng của Người để luôn ghi nhớ vị anh hùng tôn kính của chúng ta!

Hải quan Nga cho anh ta đi mà không khám xét gì thêm.

Tại sân bay Tel Aviv, Hải quan Israel cũng hỏi:

– Đây là cái gì?

Anh ta trả lời:

– Đây là cái gì? Đó là câu hỏi sai thưa Ngài. Lẽ ra Ngài phải hỏi: “Đây là ai?” Thưa, đây là Lê Nin, kẻ đã bắt một người Do Thái như tôi phải rời nước Nga. Tôi mang theo tượng ông ta để có thể nguyền rủa ông ấy mỗi ngày.

Hải quan Israel nói:

– Tôi xin lỗi Ngài. Ngài có thể đi.

Trong căn nhà mới của mình tại Israel, anh ta mời bạn bè và họ hàng tới chơi để ăn mừng đã nhập cư thành công. Anh ta đặt bức tượng ở giữa bàn tiệc.

Một người bạn nhìn thấy và hỏi:

– Đây là ai?

Anh ta điềm tĩnh trả lời:

– Bạn thân yêu. Đây là Ai là câu hỏi sai. Bạn phải hỏi: “Đây là cái gì?” Thưa, đây là 10kg vàng nguyên khối tôi đã mang thành công ra khỏi nước Nga và mang vào Israel mà không tốn một đồng thuế và phí hải quan!!!

***

Vậy ta thấy được bài học gì trước và sau những cuộc bầu cử tốn kém và nguy hiểm? ‘Chính trị’ là khi bạn có thể nhai đi nhai lại cùng một thứ, nhưng theo những cách khác nhau, để đánh lừa những khán giả khác nhau, để “vui vẻ chiến thắng” và “thành công rực rỡ”!

Bức ảnh sau với những từ ngữ do chính Lê Nin nói: “Không có đạo đức trong chính trị mà chỉ có thủ đoạn. Một tên vô lại có thể có ích cho chúng ta vì nó là một tên vô lại.”

Điều này giúp chúng ta hiểu rõ hơn, cách mà những nhà cầm quyền toàn trị sử dụng tất cả các phương tiện để biện minh cho mục đích về ‘quyền’, giống như cái cách mà anh Do Thái kia đã sử dụng.

Đúng vậy, ‘vàng’ mới thật là cái đích cuối cùng người ta hướng tới.

Theo Fb Lê Quốc Quân

May be an image of 1 person and text that says 'There are no morals in bolitics there is only expedience. scoundrel may be of use LO us just because he is a scoundrel. Vlad VladimirLenin'

Mọi Là Ai! Có Mọi Da Vàng Không?!!!

Tặng cho những kẻ vô học, mọi da Vàng trong Cộng đồng Người Việt!!!

***

Mọi Là Ai! Có Mọi Da Vàng Không?!!!

Lâm Bình Duy Nhiên

Ngày giáp Noël 2019, từ Paris, tôi vội vã chuẩn bị lái về lại Lausanne để kịp đón lễ Giáng sinh với gia đình. Tôi tạt vào Quận 13 để mua ít đồ ăn.

Tháng 12, thời tiết chỉ hơi se lạnh. Đứng xếp hàng dài cũng độ cả chục thước để mua vài ổ bánh mì thịt. Người đông lại gặp ngay giờ trưa nên khu phố chợ châu Á tấp nập hơn bao giờ hết.

Đang rầu rĩ vì cũng đợi khá lâu mà vẫn chưa thấy nhúc nhích bao nhiêu, bất chợt nghe một giọng phụ nữ hét lên:

– Coi chừng thằng mọi nó giả bộ giành chỗ đó!

Tôi giật mình, nhìn lên thì thấy một chàng thanh niên gốc Phi châu đang nhón chân nhìn vào trong tiệm, như thể đang tìm kiếm gì đó hoặc chỉ xem phía bên trong có đông người không. Anh ta mới đến, có lẽ nóng ruột nên mới chạy tuốt lên phía trên để nhòm ngó. Vẫn giọng nói của người phụ nữ ấy:

– Mấy thằng đen nó lưu manh lắm, không chịu xếp hàng lại muốn giành chỗ.

Tôi ngó lại phía sau, cách tôi hai người, là một chị chừng ngoài 50, vẫn đang chỉ trỏ về phía anh chàng kia, dẫu anh ta đã bỏ đi, không đợi nữa. Tôi nói với chị:

– Trời, thời buổi này mà còn đen với mọi gì nữa chị!

Chị ta khẽ lườm nguýt nhìn tôi, rồi buột miệng:

– Mọi thì nói mọi chứ sao?

Tôi lắc đầu, bỏ cuộc, không nói gì nữa nhưng tự dưng cảm thấy buồn và không vui. Nhiều người xếp hàng, Việt có, Tàu có, Miên có, Tây cũng có. Cái thành phố này, cái xứ sở này và cả châu Âu này đã trở nên đa văn hoá và đa chủng tộc tự bao giờ nhưng đâu đó vẫn còn những ánh mắt, những nhận xét kỳ thị như thế. Cái từ “mọi” nó có vẻ quá dễ dàng để người ta thốt nên lời!

Có lần, trong xe buýt tại Lausanne, ngồi phía sau, tôi thấy một bé gái, chừng 5, 6 tuổi, chạy ào về phía có chỗ trống. Lập tức, giọng người mẹ la lên:

– Tới đây con, không ngồi gần tụi Chà, tụi nó hôi lắm!

Con bé ngơ ngác, chắc không hiểu hết ý mẹ nó nói, nhưng cũng chạy về phía mẹ nó, một chị người Việt Nam.

“Tụi Chà”, chị ta ám chỉ những người Tamoul, đến từ Sri Lanka. Trong những năm 80 và 90, cuộc nội chiến tại Sri Lanka đã khiến cho hơn 40 ngàn người Hổ Tamoul xin tị nạn chính trị tại Thuỵ Sĩ. Người Tamoul đông và làm nhiều nghề tay chân nặng nhọc. Chỉ có họ, chứ hiếm người Ấn Độ hay Pakistan lập nghiệp tại đây.

Nhiều người Việt vẫn đánh đồng người Tamoul với người Ấn, tức người *“Chà Và”* và vẫn xem thường sắc dân *“ăn cà ri hôi rình” *và chỉ biết* “lau chùi cầu tiêu”* nhà hàng…

Cũng như không biết bao nhiêu lần, khi trò chuyện với những người Việt trong cộng đồng, thậm chí với những người bạn, họ vẫn thường có những suy nghĩ rất lạ lùng. Thậm chí, họ còn huyên thuyên giảng dạy cho con cái họ là đừng chơi với *“bọn da đen”* ở trường vì “chúng nó ngu, dốt và lười lắm”. Còn “bọn Rệp” thì thôi khỏi nói, toàn là bọn khủng bố cực đoan và cũng lại… ngu dốt nên cũng cần phải tránh xa, không giao du với chúng!

Có lần nọ đã lâu, khi tôi chưa tham gia sinh hoạt cộng đồng, có đi theo vài người bạn đến ăn cơm tối tại một nhà hàng Việt. Khi chúng tôi vào, bà chủ quán nhìn anh bạn của tôi và nói lớn:

– Dữ chưa, hôm nay dẫn thằng mọi nào tới vậy?

Tôi hiểu liền, nên nói:

– Chào cô.

Bà chủ quán đớ người, chỉ tôi hỏi:

– Ủa, da đen biết nói tiếng Việt hả?

Anh bạn tôi vội vàng giải thích. Cô chủ quán buột miệng xin lỗi và cố giải thích vì nhìn thấy tôi “đen giống tụi da đen quá”!

Dường như cứ là người Việt là cần phải cố tình kỳ thị và phân biệt chủng tộc cho bằng được, cho giống người ta, giống người da trắng thượng đẳng. Người Việt thì phải chia ngôi, chia thứ cho ra lẽ: Bọn da trắng trước, mà phải là da trắng kiểu Anh, Mỹ, Pháp, Đức, Úc…, chứ kiểu Nam Tư cũ, Bồ Đào Nha thì cũng chẳng ra gì. Sau đó đến Nhật, Đại Hàn.

Người Việt hẳn nhiên phải hơn hẳn các sắc dân còn lại: Đen, Rệp, Chệch, Chà, Thổ,… Đó là điều rõ ràng, không thể tranh cãi. Người mình thông minh hơn, cần cù hơn, lương thiện hơn. Tóm lại, cái gì cũng nhất cả, chỉ chịu sau mỗi bọn da trắng và da vàng kia thôi.

Cho nên, từ nhỏ, khi xem phim, con nít đã cứ tha hồ *“Bọn mọi da đen”* hay “Mọi da đỏ” này nọ. Từ “thổ dân” thì chẳng mấy ai sử dụng. Thời xưa cổ hủ, cố chấp thì “Me Tây”, “Me Mỹ”, rồi “Chệch”, rồi “Chà”. Thế nhưng ngày nay, khi biên giới giữa các quốc gia đang dần dần bị xoá bỏ, khi con người có nhu cầu sinh sống, làm việc hay lập nghiệp khắp nơi trên thế giới thì nhiều người Việt vẫn còn mang nặng tư tưởng kỳ thị các sắc dân da màu khác.

Trong những cuộc tranh luận mỗi khi có bầu cử tại Thuỵ Sĩ hay Pháp, không hiếm người Việt hồ hởi cho rằng phải bỏ phiếu cho các đảng cực hữu để họ tống cổ bọn “Mọi” và “Rệp” về nước của họ! Họ cố tình không muốn hiểu đó là những người có quốc tịch thậm chí sinh ra và trưởng thành tại đây từ 2 hay 3 thế hệ…. và họ cũng quên rằng, chính họ cũng là người tỵ nạn hay di dân đến định cư nơi đây, có khác gì “bọn đen hay chà và”? Chính ọ cũng bị các sắc dân khác, đặc biệt là bọn da Trắng thượng đẳng cũng muốn tống cố đám da Vàng mũi tẹt về nước đó thôi!

Cứ như thể chỉ có người Việt là xứng đáng được có quốc tịch và là những công dân gương mẫu.

Nếu như trong tiếng Pháp có từ *“négro”* bị xem như là một sự xúc phạm, kỳ thị người da đen. thì người Việt cũng có từ *“mọi”*. Tuy nhiên, tại Pháp hay Thuỵ Sĩ, những ai buộc miệng nói lên từ này đều bị lên án và có thậm chí có thể bị phạt thì người Việt mình vẫn còn *“vô tư”* chế giễu hay kỳ thị người da đen một cách thoải mái, không ngại bị phạt gì cả. Trong nước cũng thế, bên ngoài cũng vậy, cứ tha hồ *“mọi” này, “mọi” kia *bằng tiếng Việt với nhau, rồi cười ầm cả nhà khoái chí vì tự cho mình thượng đẳng hơn kẻ khác.

Thế cho nên mới có chuyện ông cựu Tổng thống Mỹ Obama bị nhiều người Việt, không chỉ riêng bên Mỹ, mà cả tại Việt Nam, buông lời miệt thị nặng nề. Dĩ nhiên, chê bai hay phản biện lại những thành tựu hay những hậu quả của ông ta đã để lại cho nước Mỹ vượt quá khả năng hiểu biết nên họ chỉ nhắm vào cái dễ nhất, cái bắt mắt nhất: màu da đen của ông ta.

Không quá khó để tìm thấy những lời chửi rủa đậm tính chất kỳ thị sắc tộc đối với vợ chồng ông. Nào *“mọi”*, nào *“man rợ”*, nào *“rừng rú”* hay *“đười ươi”.* Thậm chí nhiều kẻ vẫn không ngượng khi rêu rao những lập luận bệnh hoạn của các nhóm cực đoan da trắng khi cho rằng máu của ông Obama không phải là máu tinh khiết thuần trắng và siêu việt!

Họ phấn khởi truyền cho nhau tấm ảnh ông Obama gác chân lên bàn làm việc khi trao đổi với các cộng sự và cho rằng đó là “Chó Nhảy Bàn Độc” nhằm hạ uy tín ông ta cũng như chứng minh rằng “mọi” thì vẫn là “mọi” dẫu có làm Tổng thống đi chăng nữa.

Tuy nhiên, họ cố tình quên rằng, nhiều vị Tổng thống da trắng khác cũng có tác phong như thế khi làm việc. Có lẽ, họ sẽ biện minh rằng đó mới chính là cái uy, cái dũng của một vị tổng thống một cường quốc!

Khó có thể hình dung những lời chửi rủa mang tính chất kỳ thị chủng tộc tồi bại như thế lại có thể tồn tại và không bị trừng phạt ngay tại Mỹ hay nhiều nước phương Tây. Tiếc thay, đó lại là sự thật.

Tiếng Việt là ngôn ngữ của một thiểu số và nó chỉ tồn tại quanh quẩn giữa những người Việt với nhau. Họ tha hồ chửi rủa, tha hồ miệt thị những sắc dân khác bằng tiếng Việt. Không ai hiểu, không ai lên án, không ai tố cáo họ. Nhưng qua đó, có một sự thật khác khiến chúng ta không thể chối bỏ, đó là người Việt chúng ta, dẫu ở đâu đi chăng nữa, vẫn chỉ là một sắc dân không hội nhập với người bản xứ. Cứ đóng cửa chơi với nhau, chửi bới nhau, kỳ thị nhau, đố ai biết được!

Ông Tedros Adhanom, Tổng Giám đốc WHO, bị nhiều chỉ trích, chê bai vì cách quản lý, điều hành kém cỏi trong vụ đại dịch Corinavirus, là điều hiển nhiên. Ông ta và WHO đã quá lệ thuộc vào Trung cộng nên bị dư luận nguyền rủa. Nhưng thay vì phản biện một cách khoa học thì nhiều người Việt không ngừng ngại mắng mỏ *“thằng mọi này” hay “thằng mọi kia” bao giờ từ chức? Cứ như thể là da màu, nhất là da đen thì không thể nào nắm giữ những chức vụ quan trọng.

Cụ Phan Châu Trinh từng viết: “Dân tộc nước Nam, trên lịch sử, có hai đặc tính cực đoan phản đối nhau: một là đặc tính bài ngoại và ỷ ngoại; hai là đặc tính tự tôn và tự ti. Hai đặc tính đó sẵn ở quốc dân, trong não mọi người. Mỗi cái nhân thời thế, địa vị của nó mà phát hiện, rồi trong khi phát hiện lại đều đi tới cực đoan, lại khi đã tới cực đoan, mỗi cái đều giữ lý do, chuyên cậy vào tập quán, lợi hại đều bị che lấp không thấy”.

Thật vậy, cực đoan bài ngoại và ỷ ngoại. “Bài” tất cả những gì mà ta cho rằng yếu kém, hạ đẳng, rừng rú, man di, mọi rợ. “Ỷ” lại những gì ta cho là siêu việt, thượng đẳng và tiến bộ. Hai đặc tính ấy đã trở thành một phần máu mủ tạo nên cá tính con người mình. Khi đã ở hai thái cực của sự cực đoan thì hệ quả tiếp theo là tính tự tôn và tự ti.

Chỉ có thế mới khiến người Việt luôn ở trong trạng thái sợ bị so sánh, nhòm ngó và bằng mọi giá phải chứng tỏ cho thế giới biết rằng mình còn “hơn cả khối người” trong thiên hạ. Cái tâm lý thà bị “da trắng” đè đầu, cưỡi cổ còn hơn bị “da màu” vượt mặt khiến người Việt trở nên kỳ thị các sắc dân khác hơn bao giờ hết.

Đó chắc chắn là tâm lý tự ti của không ít người Việt “bỗng dưng” bị một anh “da đen” lại còn *“Hồi giáo” (theo các thuyết âm mưu) làm Tổng thống Hoa Kỳ, cả hai nhiệm kỳ. Đối với họ, đó là một sự “xúc phạm” không thể nào chấp nhận.

Khổ nổi, nhiều người Việt, xem như thể họ có quyền kỳ thị và phân biệt chủng tộc với thế giới còn lại. Họ cho rằng đó là điều hiển nhiên, đó là qui luật tự nhiên. Họ không chịu hiểu rằng nhân loại đã phải tranh đấu nhiều vì công bằng và công lý cho mọi sắc tộc.

Từ Rosa Parks đến Martin Luther King hay Tommie Smith và John Carlos đến Nelson Mandela, nước Mỹ và thế giới tiến bộ đã biết sửa đổi những sai lầm. Họ trung thực và can đảm chấp nhận những lầm lỗi. Người Việt dường như vẫn chưa hiểu hết được sự nguy hiểm và mức độ tàn bạo của sự phân biệt chủng tộc trong lịch sử nhân loại. Họ vẫn vô tình hay cố tình cổ suý cho chủ nghĩa vị chủng và chủ nghĩa dân tộc cực đoan, dẫu suy cho cùng dân tộc Việt vẫn chỉ là một dân tộc nhỏ bé, nhược tiểu, vẫn chưa có đóng góp quan trọng nào cho nhân loại cả!

Sự kỳ thị và phân biệt chủng tộc vẫn là một đề tài nhạy cảm. Khó có thể ngăn cấm hoàn toàn những suy nghĩ thầm kín của con người, nhất khi nó thuộc về bản năng. Ngày nay, những làn sóng bài ngoại, chủ nghĩa dân tộc cực đoan hô hào tính thượng đẳng của người da trắng đang dần dần trỗi dậy tại các quốc gia phương Tây. Tuy chỉ là thiểu số nhưng đó là những tín hiệu nguy hiểm cho sự rạn nứt, có thể xảy ra, của những xã hội đa văn hoá và đa chủng tộc.

Chỉ có sự giáo dục nghiêm túc từ nhà trường đến gia đình mới giúp cho các thế hệ trẻ đồng cảm với những nỗi thống khổ của các sắc dân khác, từ đó xây dựng một xã hội nhân bản nơi sự kỳ thị và phân biệt chủng tộc phải bị tẩy chay là lên án. Đó chính là sự quan tâm tâm và mục tiêu hàng đầu của các chính phủ để tránh lập lại những sai lầm tai hại trong quá khứ.

Tiếc thay, dường như đó chưa bao giờ là ý tưởng và mục tiêu giáo dục chung của người Việt.

Và không biết đến bao giờ cái văn hoá khinh thường, miệt thị và phân biệt chủng tộc nơi người Việt mới thực sự bị xoá bỏ và lên án.

Bởi vì, chỉ khi ấy, dân tộc Việt mới thực sự hội nhập vào thế giới văn minh và nhân bản!

***

– Kỳ thị da màu….

– Ảnh trên từ trái: Tổng thống Ford và Nixon; ảnh dưới: Bush (con) và Carter đều gác chân lên bàn.

– – Một stt kỳ thị của một Facebooker người Việt với ông Obama gác chân lên bàn khi làm việc…

Luật sư: ‘Thầy mo Qanon’ và người bạo loạn tin Trump đều bị ‘tâm thần’

Luật sư: ‘Thầy mo Qanon’ và người bạo loạn tin Trump đều bị ‘tâm thần’

May 21, 2021 

WASHINGTON, DC (NV) – Chánh Án Liên Bang Roy Lamberth, địa hạt Washington, DC, hôm Thứ Sáu, 21 Tháng Năm, ra lệnh khám nghiệm thẩm định tâm thần cho ông Jacob Chansley, biệt danh “Thầy mo QAnon,” người đội nón có hai sừng thú tham gia cuộc bạo loạn tại Quốc Hội, theo Reuters.

Trước đó, Luật Sư Albert Watkins, đại diện cho “Thầy mo QAnon,” viết đơn xin tòa trả tự do với lập luận rằng thân chủ, hiện đang bị giam vì tham gia bạo loạn tại Quốc Hội ngày 6 Tháng Giêng, và những người đồng cảnh ngộ đều có vấn đề “tâm thần.”

Luật sư đại diện xin tòa trả tự do cho “Thầy mo Qanon” (giữa) vì thân chủ cùng những người đồng cảnh ngộ đều có vấn đề “tâm thần.” (Hình: Saul Loeb/AFP via Getty Images)

“Đây là những người có não bị tổn thương,” vị luật sư viết trong đơn gửi tòa (link: https://storage.courtlistener.com/recap/gov.uscourts.dcd.225845/gov.uscourts.dcd.225845.12.0_6.pdf).

Luật Sư Watkins cho rằng những người tham gia bạo loạn rất “đáng thương. Họ không phải là thành phần xấu xa,” theo nhật báo Washington Post.

“Họ hành động như vậy” vì bị “tuyên truyền” tẩy não, cách chưa từng thấy, kể từ thời Adolf Hitler, lãnh tụ Phát Xít Đức, ông Watkins lý giải.

Đây là nỗ lực mới nhất nhằm cứu thân chủ khỏi trại giam của Luật Sư Watkins sau nhiều đơn xin với những lý do như “Thầy mo” đến Quốc Hội theo lời tuyên truyền kích động của cựu Tổng Thống Donald Trump.

Ông Watkins cũng gửi thư kêu gọi cựu tổng thống ân xá cho thân chủ trước khi mãn nhiệm, tuy nhiên ông trách cứ nhà tỷ phú đã “phản bội” lòng tin của người ủng hộ khi tên của “Thầy mo” không nằm trong danh sách ân xá.

Ông Chansley được cả thế giới chú ý với hình ảnh một người cởi trần, mũ lông thú có hai sừng, cầm một ngọn giáo dài 6 foot có gắn lá cờ Mỹ đứng bên trong tòa nhà Quốc Hội hú vang và sau đó ngồi vào chiếc ghế chủ tịch Thượng Viện của cựu Phó Tổng Thống Mike Pence vào ngày 6 Tháng Giêng.

“Thầy mo” Chansley hiện đang bị truy tố với các cáo buộc: Xâm phạm trái phép vào khu vực cấm, đánh cắp tài sản công, dùng bạo lực xâm nhập và có hành vi mất trật tự tại tòa nhà Quốc Hội. (MPL) [qd]

Nhớ kỹ 7 điều giúp bạn sống khỏe hơn uống nghìn thang thuốc bổ

Nhớ kỹ 7 điều giúp bạn sống khỏe hơn uống nghìn thang thuốc bổ

Minh Nguyệt 

Nhớ kỹ 7 điều này giúp bạn còn sống khỏe hơn uống nghìn thang thuốc bổ

Hồng trần vần vũ như gió thổi mây bay, phút bình yên thì ít mà phiền muộn lại quá nhiều. Lòng người phải đeo biết bao nhiêu tảng đá, gỡ xuống một thì lại đèo bòng thêm hai. Hỏi đâu là chốn thanh bình trong tâm tưởng?…  

Dưới đây là những câu nói được nhiều người truyền nhau, câu nào cũng đầy hàm nghĩa và đạo lý. Nếu thường lưu giữ chúng trong tâm, bạn sẽ có thể điều tiết cảm xúc và giữ được tâm thái vui vẻ hơn cả uống nghìn thang thuốc bổ.

  1. Lòng người

Lương thiện không phải là mềm yếu, khoan dung không phải là nhu nhược. Những người tốt tính cũng có khi nổi giận, những người nông nổi cũng biết điểm dừng. Do vậy, không thể đùa cợt với lòng người, tình cảm không thể đối đãi một cách qua quýt, duyên phận không thể coi là điều tùy tiện. Hãy dùng trái tim để đáp lại một trái tim, yêu thương một cách công bằng, đối đãi bằng tấm chân tình, như vậy lòng người mới chân thành.

  1. Tùy duyên 

Nhân sinh như mộng, khi thăng khi trầm, như vầng trăng kia khi mờ, khi tỏ, khi khuyết khi tròn, có chi đáng để tranh giành? Tình yêu khi mặn nồng, khi nhạt nhòa, tự đã có hương vị của nhân duyên cuộc sống. Nhịp sống khi vội vàng, lúc khoan thai chỉ cần giữ tâm bất động. Tình cảm khi sâu đậm lúc nhạt nhòa, nhưng bước qua nhau hãy nhoẻn miệng cười.

Đời người vì để tâm mà đau khổ, vì hoài nghi mà tổn thương, nếu biết coi nhẹ sẽ vui vẻ, hạnh phúc. Chúng ta đều là khách qua đường trên cõi đời này, chỉ dừng chân tá túc vài ngày nơi quán trọ trần gian, rồi lại vội vã rảo bước rời đi. Vậy nên tất cả mọi chuyện cứ để tùy duyên, mặc cho con tạo xoay vần!

  1. Lòng bao dung

Con người sống phải biết khoan dung, không cần mọi việc đều phải giành phần thắng về mình. Cãi thắng người nhà thì tình thân sẽ mất, cãi thắng vợ chồng thì tình cảm nhạt nhòa, cãi thắng bè bạn thì tình nghĩa chẳng còn. Điều bạn thắng được là thể diện, điều bạn bị thua là tình nghĩa, người bị thương lại là chính bản thân mình. Đen hay trắng, đúng hay sai đã có thời gian làm chứng. Buông bỏ kiến giải cá nhân, làm một người bao dung thì điều bạn thắng được lại là cả một kiếp người.

  1. Giàu nghèo

Người biết đủ thường vui, dẫu sống trên mặt đất mà như ở nơi thiên đường. Kẻ tham cầu vật chất, dục vọng thì dẫu ở thiên đường cũng như thân trong địa ngục. Trong kiếp người, tâm hồn giàu có thì con người cũng trở nên giàu có. Dẫu cuộc sống vật chất thanh bần, nhưng tâm hồn họ lại tràn đầy nhựa sống. Biết đủ mà vẫn có thể cho đi mới là sự giàu có thực sự. Ngược lại kẻ ham muốn hưởng thụ vật chất thì nghèo. Bởi lẽ dẫu có nhiều hơn nữa thì lòng tham vẫn là hố sâu không đáy, nên nghèo vẫn lại hoàn nghèo.

  1. Buông bỏ

Chuyện lớn hôm nay tới ngày mai đã trở thành chuyện nhỏ. Chuyện lớn của năm nay tới mai sau sẽ trở thành chuyện cổ. Đại sự của đời này tới kiếp sau lại trở thành truyền thuyết, nhiều nhất thì ta cũng chỉ là một nhân vật trong câu chuyện đó mà thôi. Khi gặp phải những chuyện không thuận lợi trong cuộc sống, công việc xin hãy hét to lên rằng: “Hôm nay sẽ qua đi, ngày mai sẽ tới, một ngày mới lại bắt đầu”.

Khi đắc ý phải biết coi nhẹ, khi phật lòng phải biết nghĩ thoáng. Đời người có rất nhiều thứ cần phải buông bỏ. Khi cần buông thì phải buông, khi cần giữ thì hãy giữ, thêm một chút bao dung, thêm một chút rộng lượng. Xua xua tay, nhoẻn miệng cười, thì mọi chuyện không vui cũng sẽ trở thành dĩ vãng.

  1. Họa phúc

Dẫu tích đức không ai thấy nhưng hành thiện đã tự có trời biết. Con người hành thiện, phúc tuy chưa đến, họa đã tránh xa. Con người hành ác, họa tuy chưa đến, phúc đã lánh xa. Người hành thiện như cỏ giữa vườn xuân, nhìn hút tầm mắt, ngày thêm sinh trưởng tốt tươi. Kẻ hành ác như đá mài dao, không nhìn thấy tổn hại trước mắt nhưng tai họa đã bén duyên.

Phúc họa không có lối vào mà đều tại tâm con người. Sự đáng sợ của việc hành ác không nằm ở việc bị người khác phát hiện mà là lương tâm mình tự biết. Niềm vui của người hành thiện không phải ở những lời tán dương mà bắt nguồn từ sự bình yên trong tâm hồn.

  1. Cảm ơn

Hãy cảm ơn những người đã làm tổn thương mình, vì họ đã tôi luyện trái tim và ý chí của bạn. Cảm ơn những người đã lừa dối mình bởi vì họ tăng trưởng thêm kiến thức cho bạn. Cảm ơn những người đã đánh đập mình vì họ đã giúp bạn tiêu giảm tội nghiệp. Cảm ơn những người đã bỏ rơi mình vì họ đã dạy bạn cần phải tự lập tự cường. Cảm ơn những người đã quật ngã mình vì họ đã tôi luyện thêm năng lực cho bạn. Cảm ơn những người đã trách mắng mình vì họ giúp bạn tăng thêm định lực và trí huệ… Sống giữa thế gian này lòng biết ơn sẽ khiến cuộc sống thi vị, độc đáo hơn.

Ấy chính là:

Trăm năm trong cõi mộng

Rét đến chẳng biết đông

Thế sự như mây gió

Chẳng giữ lại trong lòng

Minh Nguyệt biên dịch

From: Truong Le

Người Già Người Của Trăm Năm

 

 CHÚNG TA CÙNG SUY TƯ…

Người Già Người Của Trăm Năm

Bùi Tiểu Quyên

Người già của chúng ta cứ nhớ mãi chuyện hồi nảo hồi nào, họ như nhân chứng trầm tích của ký ức. Vậy mà, những chuyện mới xảy ra tức thì có khi họ lại quên. Ðến một lúc nào đó trong trăm năm này, chúng ta cũng giống như thế!

Mỗi lần tôi về nhà, bén chuyện là má tôi nói chuyện… trên phim. Nhưng lần về sau đó, hỏi lại chắc chắn má không nhớ gì cả. Ðến cả – bộ phim xem triền miên ngày này qua tháng nọ – vậy nhưng hỏi đến đâu là bà quên đến đó. Xem là để vui lúc ấy thôi.

Vậy mà chuyện từ mấy mươi năm về trước, khi má mới năm tuổi mà cậu ba trước khi mất nói muốn uống nước gì, mặc đồ như thế nào và giọng hiền từ ra sao, má nhớ hết. Chuyện lúc má 17 tuổi được ba đến nhà coi mắt, rồi bà ngoại hồi còn sống thích món ăn gì… Phần ký ức đó mới như in, còn năm tháng cứ trôi như một màn sương mù. Buổi hừng đông đi bộ ra chợ sáng, đường dài hơn 3km mà má kể chuyện xưa không dứt.

Tôi cảm nhận được niềm vui trong những thanh âm hào hứng của bà, như chỉ cần được ai đó lắng nghe những câu chuyện cũ – ký ức có lúc khó khăn chồng chất, khổ sở trăm bề – sẽ trở thành quà cho hiện tại. Tôi chợt nhận ra rằng, trong năm tháng của tuổi trẻ mình, hành trình của tôi với biết bao chân trời mới, nhưng đâu được bao lần trở về để ngồi cùng má nghe trọn những ký ức buồn vui?

Có bao nhiêu người trong chúng ta sắp xếp được những khoảng thời gian cố định để nghe người già kể chuyện?

Hôm qua, chúng tôi – những người của thế hệ này trò chuyện với nhau, bảo rằng sau này già sẽ vào viện dưỡng lão để có bầu có bạn. Nói vui là vậy, nhưng cũng vì thấy người già bây giờ cô đơn lắm. Cái cô đơn thăm thẳm như thể họ đang sống đây, nhưng tâm tư ở miền xa lắc nào. Như ba tôi, trước khi mất ông bảo mơ thấy xóm ngoại, thấy những người quen biết ngày xưa đến tìm gọi ba theo cùng.

Hình như, chỉ có phần đời cũ mới neo lại trong lòng, mới khiến cho người già cảm thấy hạnh phúc, mới là không gian họ thuộc về. Tôi đã trò chuyện với nhiều người già trong thành phố, thế nào rồi cũng dẫn về câu nói mở đầu hồi ức, rằng “hồi đó…”. Tôi nhớ hoài đôi mắt sáng bừng của người bảo vệ già – từng là thuyền trưởng, ông hào hứng kể về quãng đời trai trẻ chinh phục đại dương. Tôi nhớ người cựu chiến binh mỗi lần cao hứng lại vang vang bài hát và những chuyện đường rừng…

Những câu chuyện của người già cứ ôm trọn trăm năm – như những kho báu vô tận trong lớp lớp người người của mong manh vĩnh hằng.

Bạn tôi vừa về quê một tuần, mà tin từ làng trên xóm dưới trong khoảng ngắn thời gian ấy đã có năm cụ già qua đời. “Thôi thì cũng xem như là mãn nguyện, các cụ đều sống thọ trên dưới tuổi 80…” – bạn bùi ngùi sau mỗi lần đi viếng. Tôi không định nghĩa được khái niệm “mãn nguyện” trong cuộc đời một người già, chỉ biết rằng họ rất ít khi để con cháu biết những nỗi niềm trong lòng.

Như bà ngoại tôi, cho đến ngày cuối cùng vẫn không một lời trách móc, dù năm tháng cuối đời, đứa con trai duy nhất nuôi bà không bằng cách của yêu thương. Như dì tôi, dù con cái có lỗi lầm gì vẫn lặng lẽ bao dung, ngày nhắm mắt vẫn chỉ mong cháu con an vui, hạnh phúc. Như má tôi hay muôn triệu người mẹ, người bà trên cuộc đời này nữa. Nước mắt chỉ chảy xuôi…

Hôm trước, tôi thắt lòng ngồi nhìn một người già khóc. Ðó là lần bà nấu cháo gà bắt xe buýt đi thăm cháu nội đang ốm, nhưng con trai không cho vào nhà. Trời mưa lất phất chân cầu, người con trai ra đón mẹ, quay đầu xe chở thẳng về nhà bà ở ngoại ô. Lý do là ngày xưa cưới dâu bà phản đối, nên “giờ thăm làm gì…”.

Tôi không biết khi làm điều đó với mẹ già, người con trai ấy có nhớ mình đã được sinh ra, nuôi lớn, chăm bẵm yêu thương như thế nào. Cuộc đời của anh nếu không phải là mẹ cho, mẹ vất vả cưu mang lo lắng từng chút một thì bây giờ ra sao? Nước mắt người già không cạn đâu – dù cho cuộc đời của họ đã khóc nhiều như thể bây giờ “hết nước mắt” như người già thường nói.

Chỉ có những khúc sông là cạn, như lòng người…

Người già là của trăm năm. Sống một cuộc đời can trường rồi họ sẽ trở về tâm hồn mong manh như trẻ nhỏ. Dễ buồn dễ giận dễ tổn thương dễ khóc. Và cũng cần được quan tâm, dỗ dành.

Trường học hay trường đời của chúng ta đều không có môn đức nghiệp dạy cách làm cho người già được an vui, hạnh phúc. Chỉ có trái tim mỗi người phải tự biết tìm cách học lấy và thực tập cho chính mình. Phải học từng ngày, cho trăm năm…

Quỷ Ám

Quỷ Ám

Tưởng Năng Tiến

 Nhà báo Chu Vĩnh Hải vừa gửi đến độc giả xa gần một status ngắn, tóm lược về cuốn Lenin A New Biography (của Dmitry Volkogonov) với dăm ba tình tiết tuy không có gì “thú vị” nhưng khá bất ngờ :

“Phân tích những tài liệu chưa từng được xuất bản trước đó, Volkogonov cho rằng rõ ràng lãnh tụ giai cấp vô sản trên thực tế rất khác với chân dung huyền thoại mà những người cộng sản tôn vinh. Một số trong những minh chứng cho kết luận đó là:

– Sắc lệnh của Lenin về phá hủy hơn 70.000 nhà thờ Chính thống giáo.
– Vào lúc cuối đời, Lenin đã yêu cầu cho xyanua để tự vẫn.
– Lenin đã đồng ý nhượng hàng triệu km vuông lãnh thổ, khi Đức đe dọa chiếm đóng Nga nhằm duy trì quyền lực bằng bất cứ giá nào.
– Đáp lại cuộc tấn công xảy ra năm 1918 nhằm vào ông, Lenin đích thân ra lệnh hành quyết hàng nghìn đối tượng … Cuộc ‘thanh trừng Đỏ’ đó được Stalin tiếp tục cho đến khi ông này qua đời với kết quả là hàng triệu người đã bị thiệt mạng.
– Lenin đã ủng hộ việc lập ra GULAG, phát triển hệ thống lao động cưỡng bức và quyết định đuổi trí thức cũ ra nước ngoài, gọi những người này là ‘cứt’ ….

‘Thật khó để ngờ rằng Vladimir Lenin đã cố gắng phấn đấu trao tặng hạnh phúc và sự phồn vinh cho toàn thể mọi người, hoặc chí ít là cho lực lượng mà ông gọi là giai cấp vô sản. Tuy nhiên, giờ đây chúng tôi hiểu rằng để xây dựng cái gọi là hạnh phúc đó, ông coi việc đổ máu, sử dụng bạo lực và tiêu diệt tự do là hành động hoàn toàn hợp pháp’, tác giả Volkogonov kết luận.”

Kết luận như trên e có phần hơi hời hợt. Từ Việt Nam, nhà báo Nguyễn Thông có nhận định thấu đáo hơn: “Với người cộng sản, nhất là những ông trùm như Karl Marx, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông… thì cách mạng phải sắt máu, quyết liệt, một mất một còn, đổ máu hy sinh. Đã cách mạng là phải đánh nhau, giết chóc.”

Dù Hồ Chí Minh chưa đạt tầm mức quốc tế, so với những nhân vật thượng dẫn (và số nạn nhân của Bác cũng còn hơi ít ỏi) nhưng xét về bản chất thì sự dã man và tàn độc của Người – đối với đám dân Việt – cũng chả kém cạnh chi ai.

“Trong những điều khoản của Hiệp định Genève 1954 không nói đến lực lượng tập kết là thiếu nhi, học sinh, nhưng với tầm nhìn chiến lược, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn một số con em cán bộ, gia đình chính sách… đưa ra miền Bắc.” (“Bác Hồ Ươm Mầm ‘Hạt Giống Đỏ” Cho Cách Mạng Miền Nam.” Vietnamnet 12 May 2020).

Sau khi “nướng” gần sạch đám  trẻ con này, Bác và Đảng liền kiếm ngay “mớ” khác – vẫn theo như nguyên văn lời của tác giả Vũ Thị Kim Yến :

“Sau cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, dự báo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể còn kéo dài, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị quyết định tiếp tục đưa con em cán bộ, chiến sĩ miền Nam ra Bắc đào tạo. Hàng chục nghìn con em từ 9-10 tuổi và đồng bào miền Nam đã lội bộ vượt Trường Sơn đầy máu lửa ra Bắc, ngược đường với các đoàn quân của miền Bắc nườm nượp chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam.”

Nhà báo Việt Hoài Tuổi Trẻ Online cho biết thêm chi tiết :

“Từ 1954-1974, đã có ba đợt đưa các em ra Bắc với qui mô lớn: 1954-1955: đưa ra theo con đường tập kết, chủ yếu bằng tàu biển; 1960-1964: đưa ra qua đường công khai đi Campuchia, từ Campuchia bay về Hà Nội; 1968-1972: đi bằng đường giao liên vượt Trường Sơn. Suốt 21 năm cho đến ngày đất nước thống nhất, gần 30.000 học sinh miền Nam – những núm ruột của miền Nam đau thương, ngoan cường, bất khuất – đã được những nếp nhà, vòng tay của các bà mẹ, người cha, các thầy cô giáo miền Bắc nâng niu đùm bọc.”

 Ai yêu nhi đồng bằng Bác Hồ Chí Minh!

Tình cảm của Người dành cho giới phụ nữ Việt Nam cũng bao la và đậm đà không kém :

“Tập kết theo nguyên tắc: Đưa ra Bắc hạng trai trẻ có thể làm việc đắc lực và sản xuất giỏi cùng hạng có uy tín có khả năng; bỏ lại trong Nam hạng lão nhược có thể làm một gánh nặng cho quốc gia. Cố ý gây phân ly chia cách, làm thế nào để mỗi gia đình đều có kẻ đi người ở.

Gấp rút tạo thêm nhiều liên hệ giữa thành phần tập kết ra Bắc và dân chúng Miền Nam: đặc biệt là tổ chức những đám cưới cấp tốc khiến cho hàng chục vạn binh sĩ và cán bộ Việt cộng ra đi bỏ lại trong Nam bấy nhiêu cô vợ trẻ, có những cô chỉ ăn ở với chồng được đôi ba hôm. Bấy nhiêu cô vợ trẻ và gấp đôi gấp ba chừng ấy cha mẹ già cùng cô cậu chú bác v.v… là một lực lượng đáng kể. Bằng chính sách tập kết và gây liên hệ này, cộng sản cưỡng bức một số người về sau phải làm nội tuyến cho chúng…

Như vậy, cuộc chiến hiện nay không hề khởi đầu từ những bất mãn chống một chế độ độc tài gia đình trị, không hề khởi đầu từ sau việc chính quyền Sài Gòn từ chối cuộc tổng tuyển cử 1956, không hề khởi đầu từ ngày khai sanh mặt trận nọ mặt trận kia.

Cuộc chiến này xuất hiện ngay từ những cuộc liên hoan chia tay giữa kẻ ở người đi trong thời hạn 300 ngày tập kết, những cuộc liên hoan có hát có múa, có bánh trái tiệc tùng… Nó xuất hiện ngay từ những đám cưới vội vã sau ngày đình chiến, những đám cưới lắm khi tổ chức tập thể, do trưởng cơ quan, trưởng đơn vị chủ tọa. Nạn nhân đầu tiên của cuộc chiến này không phải là những kẻ ngã gục vào 1958, 1959, mà là những cô gái tức khắc biến thành góa bụa từ 1954. (Võ Phiến.“Bắt Trẻ Đồng Xanh.” Tạp Chí Bách Khoa Oct. 1968).

Hiệp Định Geneve, cũng như Hiệp Định Paris, đối với Bác và Đảng – rõ ràng –  đều chỉ là một mớ giấy lộn. Tổng Tuyển Cử (1956) hay Đình Chiến (1973) cũng thế. Hoà bình là từ ngữ không hề có trong tự điển của những người cộng sản. Họ nhất định phải nhuộm đỏ hết cả nước VN (bằng mọi giá và mọi cách) thì mới thoả lòng.

Cứu cánh biện minh cho mọi phương tiện. Phương tiện ở đây không chỉ là sinh mạng của hằng triệu thanh niên trai trá́ng mà còn là những vành khăn tang trên đầu góa phụ, và vô số những mảnh đời thơ ấu (bị thẳng tay cướp đoạt) của đám nhi đồng nước Việt.

Dù vậy, số nạn nhân của chiến tranh giải phóng (tại Việt Nam) vẫn không đáng kể – nếu so với cuộc Cách Mạng Tháng Mười. Sự dị biệt cần phải nêu ra ở đây là chính phạm ở Nga đã bị nhận diện nhưng kẻ thủ ác ở nước ta thì vẫn ở trong tình trạng tại đào.

Hôm 21 tháng 4 năm 2020, BBC cho hay: “Nhiều quốc gia từng thuộc Liên bang Xô Viết đã tháo bỏ tượng Lenin khỏi các nơi công cộng.” Cũng trên diễn đàn này, một nghị sĩ Nga, bà Natalya Poklonskaya nhắc lại lời kêu gọi … đã đến lúc cần đưa thi hài Lenin khỏi Quảng Trường Đỏ.

Cũng cùng thời điểm này, vào năm 2020, giới truyền thông VN vẫn đồng loạt đưa tin :

Bao giờ mà những tội đồ của một dân tộc vẫn còn được sùng kính (cho dù là sự sùng kính giả tạo chăng nữa) thì đất nước khó mà tránh cảnh lầm than!

Tưởng Năng Tiến
5/2021

Một Cách Xử Sự

GÓC SUY GẪM VỀ GÍA TRỊ CUỘC SỐNG….

Một Cách Xử Sự

Gia đình Andrews là một chủ nông trại giàu có. Ông và vợ mình đối xử rất thân thiện với mọi người nên ai cũng yêu mến họ cả.

Một hôm ông thấy vợ mình, sai người giúp việc đến cuối làng, nhà bà John – một tá điền của ông – để mượn một cái cối đá để xay bột. Sau khi người này đi khỏi, ông hỏi vợ :

– Anh không nghĩ rằng nhà ta lại không có một cái cối để xay hay không đủ khả năng mua mà em lại sai người đi mượn cho thêm phiền phức như thế.

Bà Thomas từ tốn trả lời :

– Đây, anh xem, cái cối đá của nhà ta vẫn còn rất tốt. Em biết mọi người ở vùng này đều yêu quí chúng ta vì chúng ta đem lại nhiều vật chất cho họ hơn các ông chủ khác; nhưng em không muốn như vậy. Em muốn được yêu mến bằng một thứ tình cảm cao hơn, tình làng xóm.

Mà điều đó chỉ có thể khi nào chúng ta và họ không có khoảng cách giữa chủ và tớ, giữa giàu và nghèo. Như vậy chuyện đi mượn cái cối xay chỉ là cái cớ để anh và em đến gần với mọi người hơn mà thôi.

No photo description available.

 Chim Yến

May be an image of bird

 Chim Yến

Nếu ai hỏi tạo hoá đã tạo ra động vật nào hoàn hảo nhất? Tôi sẽ không ngần ngại trả lời, đó là loài chim Yến.

Những cánh chim nhỏ bé đến mong manh, chấp chới trên đảo đá đầy bão tố, sóng lừng dễ gây cho người ta hiểu lầm về loài chim yếu ớt, mong manh, thực ra lại có bản lĩnh vo song, và những đức tính khiến loài người phải bái phục.

– Vào bài:

Chim Yến thường kết đôi rất sớm và khi đã kết đôi chúng luôn bên nhau suốt cả cuộc đời, thuỷ chung son sắt.

Điều đáng ngạc nhiên là giữa cả hàng ngàn con chim đang bay, chúng vẫn nhận ra nhau dễ dàng.

Xã hội loài Yến có tổ chức rất ngăn nắp, chúng không bao giờ dành tổ của nhau, giữa hàng ngàn tổ chi chít trên vách đá chúng vẫn trở về đúng tổ của mình trước mùa sinh sản, chính xác như kim đồng hồ.

Vợ chồng nhà Yến thay nhau xây tổ, trong khi chim trống rứt lông tới bật máu trộn nước dãi xây tổ, chim mái bay xa cả hàng trăm cây số kiếm mồi, và ngược lại, chúng yêu thương quấn quýt bên nhau giữa biển khơi giông bão.

Bản năng sinh tồn buộc loài Yến phải làm tổ trên vách đá cheo leo, tránh động vật ăn thịt, rắn, nhưng đồng thời phải kín gió cho chim non. Nhưng nếu như không có loài người thì chúng đã có thể sống trọn đời hạnh phúc bên nhau mà không phải lo sợ.

Trước mùa sinh sản, loài người mò tới cắt đi một phần tổ, khiến chim trống phải gấp rút rứt lông, ựa dãi đến kiệt sức ra cả máu tươi để xây lại tổ cho vợ đẻ, chúng vẫn cần mẫn, nhẫn nại xây dựng lại mái ấm cho mình. Cả hai vợ chồng phải cùng bay đi kiếm mồi, cung cấp cho những cái miệng nhỏ xíu luôn há ra đòi ăn.

Loài người lại mò tới, vứt thẳng những chú chim non xuống biển, ngay cả khi chúng đang ríu rít vui mừng tưởng cha mẹ về cho ăn.

Chim mẹ về tìm tổ, bay nhiều vòng trên không trung, bật ra những tiếng kêu thảm thiết, tuyệt vọng, nó bay vút lên cao, rồi lao xuống như một tia chớp, đâm thẳng vào nơi từng là thiên đường hạnh phúc mà nó dày công vun xới, chim trống sau vài giây chứng kiến cái chết của vợ mình cũng bay vút lên rồi đâm thẳng xuống bên xác vợ mình.

Chúng nằm đó bên nhau, hết thế hệ này, đến thế hệ khác, như cố chứng minh với loài người mối tình bất tử, xin đừng huỷ hoại những sinh linh bé bỏng, giữa muôn loài.

(Sưu tầm)

SÂN GA CUỐI ĐƯỜNG TÀU

SÂN GA CUỐI ĐƯỜNG TÀU

Phạm Tín An Ninh

Để thay lời tựa cho tuyển tập 80 “Ga Cuối Đường Tàu” trình làng vào tháng 4/2018, nhà văn Huy Phương đã gởi đến bạn bè, độc giả bốn phương những lời tâm huyết:

“Nếu cuộc đời là những chuyến tàu thì cuối cùng, chúng ta ai cũng có một nhà ga để xuống, có điều sớm hay trễ mà thôi. Và đến một tuổi, một lúc nào đó, chúng ta phải nghĩ là đã đến lúc sắp xuống tàu. Vì vậy tác phẩm này, hôm nay đến tay bạn đọc. được xem như là một nhà ga cuối, cuộn chỉ thời gian đã kéo gần hết, quỹ thời gian chẳng còn được bao nhiêu!”

Tuyển tập 80 này ra đời, khi anh Huy Phương vừa qua tuổi 80 và cũng vừa trải qua một cơn bệnh thập tử nhất sinh. Một hôm tôi đến thăm anh tại bệnh viện Kaiser ở Irvine. Sau một cuộc giải phẫu nhiều giờ, anh nằm bất động, nhưng khi mở mắt nhìn tôi, anh nở nửa nụ cười, khoe là “tớ vừa mới từ cõi âm trở lại, cứ tưởng lần này là đi đứt rồi!” Tôi đùa“mái tóc trắng của anh vẫn bồng bềnh, anh còn đẹp lão, sức mấy mà mấy bà cho anh đi, hơn nữa anh bỏ đi thì lấy ai thay anh để viết tiếp tạp ghi đây!”Anh nhoẻn miệng cười méo mó.

Tuần sau đó, trước khi trở lại Bắc Âu, tôi gọi thăm và chia tay anh. Anh cho biết đang tiếp tục điều trị và tịnh dưỡng tại nhà. Nghe giọng nói, biết anh còn yếu, đang mệt lắm, nhưng tôi không mấy lo âu, bởi tin chắc là một người khí khái, có nhiều nghị lực và sống chí tình với bè bạn như anh, không dễ gì mà “đi đứt” được.

Hai tuần sau, khi đang ở NaUy, thấy anh xuất hiện trên chương trình “Quê Nhà Quê Người” với cô cháu Ngọc Lan, dù vóc dáng có hao gầy, nhưng thần thái và giọng nói vẫn phong độ như ngày nào. Tôi mừng cho anh và cả cho tôi. Từ lâu, chúng tôi khá thân tình, xem nhau như anh em.

Bẵng đi một thời gian, anh bận rộn chuyện dọn nhà. Lâu nay vẫn ở nhà thuê, giờ nghe nói anh chị và vợ chồng cô con gái mua được ngôi nhà khá mới, rộng rãi khang trang trong một khu yên tĩnh. Được anh báo tin kèm theo địa chỉ mới, tôi mừng cho anh chị và hứa sẽ ghé lại thăm và mừng “tân gia”. Nhưng rồi con Coronavirus đến nhanh hơn chiếc xe Honda Accord đời 2003 cũ kỹ của tôi. Cả California có lệnh “mang khẩu trang và giản cách xã hội.” Không đi đâu được, cả ngày phải ở trong nhà, quá ngột ngạt với không khí dịch bệnh và chính trị rối ren của nước Mỹ, tôi rất thèm một chút không khí yên ả ở xứ Bắc Âu, quê hương thứ hai của tôi, nên đã mua và đổi vé máy bay đến mấy lần mà vẫn không về được. Bỗng một buổi trưa, nghe tiếng điện thoại reo, đầu giây bên kia là giọng “rất Huế” của anh Võ Ý, người anh cả của Phi Đoàn Bắc Đẩu ở Pleiku, từng bao vùng, gọi khu trục yểm trợ cho đơn vị tôi trong suốt mùa Hè 1972 ngập đầy khói lửa. Anh cũng là bạn thân, cùng Khóa 17 VB với nhà văn Song Vũ, ông anh Trung đoàn trưởng nỗi danh “thao lược, dễ thương” của chúng tôi ngày ấy:

– Moa và Huy Phương đang ở quán “Huế Ơi” đây. Nhớ chạy ra liền nghe. Huy Phương muốn gặp toa.

Một ý nghĩ thoáng qua trong đầu: Tình trạng Covid dầu sôi lửa bỏng như thế này mà hai ông anh gốc Huế còn dám đi tìm dư hương xứ Huế?  Chưa kịp tìm ra câu trả lời thì nghe tiếng anh Huy Phương:

– Ê! Nhớ chạy ra gấp nghe! Lần này mà không gặp thì xem như không bao giờ còn gặp nữa đó!

Giọng nói trầm và yếu ớt này, cho tôi biết không phải là đùa.Tôi hỏi lại:

– Ông anh nói cái gì mà nghe “khẩn trương” quá vậy? Đã sợ Covid mà còn hẹn nhau ra quán.

– Covid mà nhằm nhò gì. Moa bị ung thư tái phát, di căn rồi. Bác sĩ bó tay, bảo về nhà nghỉ ngơi. Toa có nhớ cách nay mấy năm, toa có đến thăm moa ở Kaiser không, lần ấy giải phẩu thành công, tưởng chết đi sống lại, nhưng không ngờ nó trở lại. Thời gian của moa chỉ còn vài tháng, mà cũng có thể vài ngày nữa thôi!

Tôi thoáng lo âu và cảm động, muốn chạy ra gặp anh ngay, nhưng vì phải trông hai đứa cháu ngoại nhỏ đang học online, nên đành phải nói lời xin lỗi, mà trong lòng thấy ưu tư, áy náy.

Không gặp nhau, nhưng anh đã nhờ anh Võ Ý chuyển đến biếu tôi “Tuyển Tập Huy Phương”. Đọc lời đề tặng và cả trong lời tựa “Gởi đến bạn như một lời chia tay”, lòng tôi chùng xuống, bâng khuâng:

“Theo luật đời, ở tuổi ngoài 80, chúng tôi đi vào những giai đoạn già yếu, bệnh tật, và mang theo một chứng bệnh nan y, chắc cũng phải đến lúc xuống tàu, giã từ đời sống. Chúng tôi không có của cải, tài sản gì để lại, ngoài “Huy Phương Tuyển Tập,”xin gởi đến bằng hữu và bạn đọc như là một món quà chia tay.”

Mấy tuần sau, anh Võ Ý gọi báo tin: anh Huy Phương giờ yếu lắm, và rủ tôi đi thăm cùng với anh và anh Phan Nhật Nam. Anh sẽ ghé đón. Rất tiếc, khi ấy tôi đang ở trên nhà cô con gái út, khá xa Little Saigon, nên chỉ nhờ anh Võ Ý chuyển lời thăm, và hẹn sẽ gặp anh Huy Phương khi về lại Little Saigon.

Tuần trước, về lại nhà, tôi cùng anh Trần Huy Bích đến thăm anh. Biết anh mệt và có một số bạn bè thân tình thăm viếng, nên tôi gởi tin nhắn đến điện thoại của chị Huy Phương, xin chị chọn một thời điểm thích hợp.

11 giờ 30 trưa hôm sau, chúng tôi đến. Ngôi nhà của anh chị nằm trong một khu thật yên tĩnh ở thành phố Anaheim. Tôi bấm chuông với một chút lo âu, chuẩn bị tâm trạng trước những tình huống không vui, nhưng chị Huy Phương mở cửa đón chúng tôi với một nụ cười, vồn vã, làm chúng tôi thấy tự nhiên hơn. Anh Huy Phương từ trong phòng bước ra, tay phải chống một cây gậy. Vẫn mái tóc bạc trắng như tuyết bồng bềnh, với một nụ cười thân thiện cố hữu, nhưng vóc dáng anh trông tiều tụy, nếu không nói là da bọc lấy xương. Bắt tay anh, nở nụ cười, mà lòng dạ xốn xang, thấy thương và tội nghiệp anh.

Tôi cảm động hơn khi anh kéo tay bảo hai anh em tôi đến ngồi bên cạnh anh, chung cái ghế sofa để nói chuyện cho vui, vì chẳng còn có nhiều dịp được ngồi bên nhau nữa. Anh cho biết chẳng ăn gì, chỉ uống đúng 3 ly sữa mỗi ngày, cùng với mớ thuốc men do bệnh viện cấp. Tôi và anh Bích nhắc lại vài kỷ niệm xưa, đặc biệt mấy lần gặp anh chị tại Oslo- NaUy, khi anh chị sang đây thăm vợ chồng người bạn thân, là giáo chức đồng nghiệp cùng anh dạy ở trường Trung học Nguyễn Hoàng, Quảng Trị, trước khi anh nhập ngũ. Tôi đùa, bảo lúc ấy ông thầy Lê Nghiêm Kính(*) đẹp trai, chắc cũng từng làm khổ bao nhiêu cô học trò Quảng Trị. Mấy hôm nay có cô nào xin phép bà chị đến thăm anh Huy Phương? Cả anh chị cùng cười.

Anh bình thản kể chuyện đã chuẩn bị tất cả cho việc hậu sự. Đã viết cả Cáo Phó và dặn dò vợ con để anh ra đi trong bình thản. Thấy anh vui, tôi bảo “Năm nay anh đã 84, thuộc hàng đại thọ rồi. Em cũng chỉ mong sống đến như vậy là phúc đức trời cho rồi. Từng là lính chiến, bị tù đày rồi vượt biển mà không chết, bây giờ sắp tuổi 80 em thấy được hưởng bonus của ông trời, nên đã mãn nguyện lắm rồi. ” Anh Trần Huy Bích tiếp lời: “Anh em mình bây giờ đang xếp hàng, kẻ trước người sau. Mai mốt rồi cũng sớm gặp lại nhau thôi.”

Tôi bỗng nhớ tới bài thơ “Chúc Thư” của anh Huy Phương viết đã khá lâu, tôi rất tâm đắc:

(Bài thơ khá dài, xin trích đoạn)

Tôi người lính già ở xa tổ quốc
Xa chiến trường lưu lạc tới đây
Nơi quê người sương pha tuyết đổ
Mang nỗi đau con ngựa lạc bầy.

Không phải chỉ chịu ơn người đã chết
Tôi như còn mang món nợ nước non.
Chết không nghĩa là đã tắt hơi thở
Sống đôi khi cũng có nghĩa chết mòn.

Khi tôi chết ván hòm xin đậy nắp
Có vui chi nhìn người lính chết già
Hổ thẹn đã không tròn ơn nước
Tiễn tôi chi, thêm phí một vòng hoa.
Hãy quên tôi, người lính già lưu lạc

Đừng phủ lá cờ tổ quốc cho tôi

Anh em tôi trong những giờ tuyệt lộ
Nằm lại bờ lúc chiến hạm ra khơi.
Chiến hữu tôi chết đầu sông cuối biển
Ngày tan hàng đành nằm lại quê hương
Không ai trổi cho khúc kèn truy điệu
Không có ai phủ giúp ngọn cờ vàng.

Hãy phủ cờ lên nấm mồ tử sĩ
Xác bị xới đào trong nghĩa trang xưa
Hãy rải hoa trên con đường thấm máu
Phút lui binh phải gãy súng buông cờ.

Anh là huynh trưởng của tôi, sau khi tốt nghiệp Khóa 16 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, anh đã phục vụ trong ngành Tâm Lý Chiến cho đến ngày phải tan hàng, vào tù theo vận nước. Trong binh nghiệp, anh cầm bút nhiều hơn cầm súng. Tôi đã buông súng, nhưng anh thì chưa hề buông bút. Anh là một trong những người lính chiến đấu bằng ngòi bút cho đến giây phút cuối cùng, đã để lại cho đời, cho chiến hữu, bạn bè cùng thế hệ con cháu những “chiến tích” rất đáng được trân trọng, tự hào,  như anh đã viết trong lời tưa cho Tuyển Tập cuối cùng:

Chúng tôi không có của cải, tài sản gì để lại, ngoài “Huy Phương Tuyển Tập,”xin gởi đến bằng hữu và bạn đọc như là một món quà chia tay.”

Khi nhận được tuyển tập “Ga Cuối Đường Tàu” và đọc những dòng tâm tình của anh, tôi liên tưởng tới lời xưa của cụ Phan Bội Châu:

“Con chim sắp chết hót tiếng bi thương,
Con người sắp chết nói lời tâm huyết”

Cụ Phan Bội Châu viết lời này trong Lưu Cầu Huyết Lệ Tân Thư năm 1903. Mãi ba mươi bảy năm sau (1940), Cụ mới qua đời tại Bến Ngự trong cảnh bị giam lỏng.

Ông anh xứ Huế của tôi vừa bị định mệnh lên án treo. Anh có được ân xá và diên trì sự sống một thời gian dài như Cụ Phan? Trong viễn ảnh Phật giáo mà anh là một tín đồ, tiếng gọi về ngay hay lệnh hoãn không nhất thiết là tốt hay xấu, chỉ là duyên nghiệp trong luật tử sinh chung. Và việc ở hay đi nào có gì quan trọng, nếu người ta sống xứng đáng và yêu thương tới giờ phút cuối cùng.

Tôi tin anh Huy Phương đã quan niệm và hằng sống theo chí hướng ấy.

Thấy anh đã thấm mệt, chúng tôi xin cáo từ. Anh kéo chúng tôi ngồi sát lại anh hơn, ôm vai hai chúng tôi, bảo cô con gái chụp mấy tấm hình kỷ niệm. Thấy anh cố gắng nở nụ cười, chúng tôi cũng cười theo. Anh viết tặng anh Trần Huy Bích tuyển tập cuối cùng của anh. Nét chữ run run. Anh Bích nhận món quà với nhiều cảm xúc. Chúng tôi cám ơn chị và cháu mà không biết chia sẻ một lời nào, ôm anh thật chặt trước khi bước ra cửa, trong lòng lẫn lộn những nỗi niềm, khó tả.

(từ trái:Gs Trần Huy Bích- Nv Huy Phuong – Tg PTAN)

Xin cầu chúc anh, dù ở hay đi, vẫn luôn nở những nụ cười, thanh thản, mãn nguyện. Hẹn gặp lại anh ở sân ga cuối đường tàu.

Phạm Tín An Ninh
(đầu tháng 5 năm 2021)

(*) Lê Nghiêm Kính là tên thật của Nhà văn Huy Phương

Hơn 150 đảng viên Cộng hòa khởi động phong trào chính trị mới, đặt câu hỏi về vai trò của Trump trong đảng Cộng hòa

Hơn 150 đảng viên Cộng hòa khởi động phong trào chính trị mới, đặt câu hỏi về vai trò của Trump trong đảng Cộng hòa

Bởi  AdminTD

CNN

Tác giả: Daniella Diaz

Dịch giả: Dương Lệ Chi

13-5-2021

(CNN) Một nhóm gồm hơn 150 đảng viên đảng Cộng hòa, dẫn đầu bởi những người chỉ trích Donald Trump là Evan McMullin và Miles Taylor, tuyên bố một phong trào chính trị mới nhắm vào việc cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump giữ vai trò trong đảng Cộng hòa, và kêu gọi cải tổ đảng.

Nỗ lực này diễn ra chỉ vài giờ sau khi dân biểu Liz Cheney, từ tiểu bang Wyoming, bị các đồng đảng trong Hạ viện truất khỏi vị trí lãnh đạo đảng Cộng hòa vì bà thẳng thắn chỉ trích Trump nói dối, rằng cuộc bầu cử của ông ta đã bị đánh cắp, một lần nữa nhấn mạnh sự kềm kẹp của cựu tổng thống đối với đảng Cộng hòa và sự thách thức đối với những người trong nhóm, qua việc tìm cách định hình lại đảng Cộng hòa.

McMullin là người từng tranh cử tổng thống trong vai trò ứng cử viên độc lập hồi năm 2016 và Taylor, là người nổi tiếng, từng viết một cuốn sách ẩn danh lên án chính quyền Trump, đã tổ chức nỗ lực này và đề ra một bộ nguyên tắc hành động trên báo Deseret News hôm thứ Năm [13/5/2021].

Taylor nói trong chương trình New Day của CNN hôm qua: “Đã quá đủ rồi và chúng ta cần đưa ra một liên minh chung cho đất nước này, cũng như một tầm nhìn thống nhất hơn để thay thế những gì chúng ta đang thấy từ đảng Cộng hòa hiện tại, bây giờ trở nên thối nát với những cuộc tấn công dai dẳng vào nền dân chủ của chúng ta. Cho nên, thông điệp của chúng tôi là, đã đến lúc cải tổ hoặc hủy bỏ đảng Cộng hòa”.

Trong bộ nguyên tắc hành động, nhóm viết rằng, họ “hình dung lại một đảng phục vụ những lý tưởng sáng lập của chúng tôi, hoặc nếu không thì đẩy nhanh việc tạo ra một sự thay thế tương tự như thế”.

Họ đã viết trong tuyên bố về các nguyên tắc của mình: “Chúng tôi tìm kiếm sự bảo tồn và cải thiện nền cộng hòa dân chủ và sự bền vững cho chính phủ tự trị của chúng tôi, không bị can thiệp và bảo vệ chống lại mọi kẻ thù, trong và ngoài nước. Chúng tôi phản đối việc sử dụng các biện pháp gây sợ hãi, thuyết âm mưu và sự giả dối; thay vào đó, chúng tôi ủng hộ việc hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng và lời nói trung thực”.

LS George Conway, chồng của bà Kellyanne Conway, cựu cố vấn tòa Bạch Ốc và cũng là một thành viên trong nhóm, nói rằng, đây không phải là một đảng thứ ba, mà là một phong trào.

Ông Conway nói với phóng vien Anderson Cooper của đài CNN tối thứ Tư [12/5/2021]: “Tôi không nghĩ rằng tôi mô tả nó như một đảng thứ ba với tư cách là một liên minh. Tôi không nghĩ rằng một đảng thứ ba nhất thiết phải hoạt động theo kiểu hệ thống chính trị mà chúng tôi có, với quận hạt có một dân biểu. Nhưng cần có những người có quan điểm từ bảo thủ đến quan điểm trung bình, muốn tin vào pháp quyền và họ cần một nơi để đến và một nơi mà họ có thể tổ chức và hỗ trợ những ứng cử viên phù hợp với điều đó”.

Danh sách các đảng viên Cộng hòa ký tên, gồm Bill Weld, cựu Thống đốc bang Massachusetts và Mark Sanford, cựu Thống đốc bang South Carolina, cũng như 27 cựu dân biểu Hạ viện Hoa Kỳ, gồm Barbara Comstock, Charlie Dent, Paul Mitchell; và cựu Thượng nghị sĩ David Durenberger.

Các đảng viên khác của nhóm, gồm Anthony Scaramucci, cựu giám đốc truyền thông tòa Bạch Ốc; Elizabeth Neumann, cựu quan chức Bộ Nội an; và John Mitnick, cựu cố vấn Bộ Nội an.