THIÊN CHÚA ĐANG ĐI VỚI CON NGƯỜI TRONG ĐẠI DỊCH

THIÊN CHÚA ĐANG ĐI VỚI CON NGƯỜI TRONG ĐẠI DỊCH

 Giuse Phạm Đình Ngọc SJ  

Thiên Chúa không phán một lời từ trời cao để cứu con người.  Chính Con Thiên Chúa đã xuống thế làm người và ở với chúng ta.  Ngài muốn đồng hành với cuộc sống của từng người.  Đó là cách Thiên Chúa đã chọn để đem con người về với hạnh phúc.  Nếu nhân loại đang phải chịu nhiều thách đố trong thời gian này, thì chính Thiên Chúa vẫn luôn chọn cách đồng hành để từ từ đưa con người về với nhau và với Thiên Chúa.

  1. Con đường Emmau năm 2020

Tin Mừng Chúa Nhật thứ 3 phục sinh kể về một câu chuyện hai môn đệ trên đường Emmau.  Đó là con đường nối giữa thành phố Giêrusalem nguy nga tráng lệ và ngôi làng nhỏ bé nghèo hèn.  Số là hai môn đệ này nuôi giấc mộng đổi đời khi đi theo Đức Giêsu.  Các ông có lý khi bỏ mọi sự để đi theo một Đức Giêsu nổi tiếng.  Kể từ khi Đức Giêsu chết và được chôn trong lòng đất, giấc mộng của các ông cũng bị chôn vùi.  Mộng vỡ mơ tan.  Các ông không còn con đường nào khác là lủi thủi đi về lại chốn xưa.  Hẳn là các ông cũng không thiếu hoang mang, buồn phiền và lo lắng.

Tâm trạng của hai ông nếu chắp nối vào tâm trạng của mỗi người thời Covid–19 chắc cũng không khác nhau nhiều.  Trước đại dịch, người ta mơ về một viễn tượng huy hoàng của biết bao dự án.  Phát triển kinh tế đang tăng mạnh, mọi lãnh vực đời sống dường như khấm khá hơn xưa nhiều.  Ai cũng tự tin để thực hiện ước mơ của mình.  Công danh sự nghiệp hứa hẹn cho nhiều người.  Bỗng dưng Covid–19 xuất hiện, mọi thứ bị đảo lộn và bức tranh kinh tế cũng phủ màu đen tối.  Nhiều dự báo không mấy sáng sủa ở phía trước.  Nếu như hai môn đệ vỡ mộng vì thầy Giêsu đã chết, thì nhiều người thời nay cũng rơi vào cảnh khó khăn chồng chất vì Virus.  Đây hẳn là con đường chông gai đòi người ta phải bước đi nặng nề.

Nếu cụ Nguyễn Du viết rằng “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”, thì chúng ta cũng chẳng vui gì trong hoàn cảnh này.  Hầu hết mang tâm trạng lo lắng.  Nhất là những ai là nạn nhân trực tiếp của virus.  Thật khó để vượt qua nỗi đau này.  Chẳng thế mà nhiều dự báo cho rằng sau thời đại dịch, sẽ có nhiều khủng hoảng kéo theo: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, đạo đức, v.v…  Đó thực sự là con đường gồ ghề khiến không ít người đuối sức.  Nếu có mặt với hai môn đệ trên đường Emmau năm xưa, họ cũng đã không vượt qua được những thất vọng ê chề.

  1. Có lý do để hy vọng

Trên con đường vô vọng đó, hai môn đệ gặp một vị khách bộ hành.  Chúng ta biết đó là Đức Giêsu phục sinh, nhưng khi ấy các ông đâu biết gì.  Đức Giêsu chọn cách đi cùng với họ.  Dạo bước để từ từ tiếp chuyện.  Ngài hỏi, các ông trả lời; Ngài lắng nghe, các ông hăng say kể; Ngài giải thích, các ông chưa hiểu gì; Ngài đi tiếp, các ông mời ở lại, vì trời đã xế chiều.  Đó là tóm tắt ngắn gọn, nhưng thực tế câu chuyện của ba người này chắc đủ dài để cho thấy: Thiên Chúa luôn đồng hành với con người.

Trong câu chuyện trên, Đức Giêsu đang trao cho họ niềm vui Phục Sinh, khơi lên hy vọng trong lòng của họ.  Ngài không nói ngay cho các ông rằng Ngài đã phục sinh.  Ngài nhẹ nhàng đi cùng và muốn trò chuyện như những người bạn.  Đó là con đường sư phạm của Đức Giêsu.  Nhờ đó, mà “Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra cho họ.  Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người nhưng Người lại biến mất.” (Lc 24,30–31).  Họ đã thấy và tin vào Chúa Phục Sinh.  Lúc này, hai ông rộn ràng vui mừng trở về Giêrusalem để báo tin.

Kể ra chút chi tiết như thế để chúng ta thấy Thiên Chúa, qua Giáo Hội, cũng đang đi cùng với con người.  Chưa bao giờ Giáo Hội muốn phớt lờ nỗi đau của con cái mình.  Nhất là khi chúng ta gặp nạn, Thiên Chúa không bỏ rơi.  Ngược lại, Ngài đến để ủi an, lắng nghe và chuyện trò.  Tiếc là còn quá nhiều người chẳng tiếp chuyện với Ngài.  Kết quả là không ít người mất hy vọng vào cuộc sống.  Ai có thể trao ban bình an và hy vọng lớn lao bằng Thiên Chúa?  Thay vì chạy đi tìm hy vọng nơi tạo vật hoặc chính mình, hãy chạy đến Thiên Chúa.  Nói đúng hơn, chính Thiên Chúa cũng đã muốn được đi cùng con người.  Vấn đề còn lại là người ta có hoan hỷ tiếp chuyện với Chúa hay không mà thôi.

Là người Công Giáo, chúng ta có kinh nghiệm ít nhiều về Thiên Chúa đồng hành.  Ngài đang hiện diện trong tâm hồn mỗi người, nơi Giáo Hội, Xã Hội và chính trong những biến cố đang diễn ra.  Ngài đang khơi lên hy vọng cho từng người.  Biết bao lần Thiên Chúa nói qua vị đại diện của Ngài trên trần gian là Đức Giáo Hoàng:

“Niềm tin Phục Sinh nuôi dưỡng hy vọng của chúng ta.  Tôi muốn chia sẻ điều ấy với anh chị em.  Đó là hy vọng về một giai đoạn tốt đẹp hơn, chúng ta có thể tốt hơn, và sau cùng là được giải thoát khỏi sự ác và khỏi đại dịch này.  Đó là một hy vọng: hy vọng không làm chúng ta thất vọng; hy vọng không phải là ảo tưởng, nó là một hy vọng.”[1]

  1. Cho Chúa một cơ hội

Hai môn đệ trên đường Emmau năm xưa đã cho Đức Giêsu cùng dạo bước.  Khi gần gũi Thiên Chúa, các ông thấm dần ngọn lửa hy vọng vào Đức Giêsu Phục Sinh.  Lòng các ông sáng lên từ khi Đức Giêsu ngỏ lời với các ông.  Đó là không gian của nguyện cầu, là nhịp cầu để Thiên Chúa bước vào trong tương quan của các ông.  Hơn nữa, các ông còn mời Đức Giêsu vào nhà mình.  Đó không chỉ là hành vi hiếu khách, nhưng các ông ít nhiều cảm thấy vị khách này có cái gì đó đặc biệt.  Dọc đường trong câu chuyện, các ông bớt chán nản sầu não hơn.

Hôm nay cũng thế, trên đường đời của mỗi người còn đó biết bao thách đố.  Thay vì oán trời trách đất, thở ngắn than dài, hãy cho Chúa một cơ hội bước vào nhà mình.  Đã có nhiều người để Đức Giêsu chi phối đời họ; kết quả là cuộc sống họ được đổi thay.  Cứ nhìn các vị thánh vốn hằng để Thiên Chúa đồng hành.  Họ hạnh phúc dường bao!  Thực ra trong bình an và nhất là trong giai đoạn khốn khó, ai để Thiên Chúa đồng hành, người ấy hẳn là tìm thấy ánh sáng từ nơi bóng tối.  Thiên Chúa của chúng ta thì gần gũi.  Gần kề con người, Thiên Chúa có thể trao ban cho chúng ta một con đường của sự sống và hy vọng.  Đó là Tin Mừng Phục Sinh đã vực các môn đệ đứng lên loan báo cho muôn dân: Đức Giêsu đã chết và nay đã sống lại!

Câu chuyện hai môn đệ trên đường Emmau luôn có tính thời sự.  Đó không chỉ xảy ra cho hai ông, nhưng còn là câu chuyện của mỗi người.  Nhất là trong hoàn cảnh lúc này, Đức Giêsu vẫn đang “hiện ra”, Ngài vẫn hỏi, vẫn lắng nghe và trò chuyện với mỗi người.  Có khi nhiều người đi nhanh quá bỏ Thiên Chúa lại đằng sau, nhiều người sống vội nên quên mất bên mình còn Thiên Chúa, hoặc nhiều lúc người ta hoảng loạn quá cũng quên mất Thiên Chúa.  Thật tốt khi đứng lại một chút để thấy Thiên Chúa đang ở đâu.  Ngài đang gõ cửa!  Mong sao mỗi người can đảm đón Ngài vào đường đời của mình.  Khi đó, chắc chắn người con của Chúa sẽ vượt qua mọi khó khăn, kể cả trong và sau đại dịch virus cũng thế.

Lạy Chúa Giêsu, mời Ngài ở lại với con, với gia đình chúng con, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn.  Bóng đêm đang buông dần, chúng con cần Ngài đỡ nâng, trợ giúp và đồng hành.  Amen.

 Giuse Phạm Đình Ngọc SJ  

Nguồn:  https://dongten.net/2020/04/24/thien-chua-dang-di-voi-con-nguoi-trong-dai-dich/

[1] Thông điệp video của Đức Thánh Cha Phanxicô trong dịp Tuần Thánh 2020.

From: Langthangchieutim

Thêm một bằng chứng “cõng rắn vào nhà” | Tiếng Dân

 

BAOTIENGDAN.COM

Thêm một bằng chứng “cõng rắn vào nhà”

Hiếu Bá Linh, tổng hợp

27-4-2020

Trong Công hàm mới nhất của Trung Quốc trình lên Liên Hợp Quốc ngày 17/4/2020 để khẳng định chủ quyền biển đảo của họ, ngoài việc nêu Công hàm do ông Phạm Văn Đồng ký ngày 14/9/1958, Trung Quốc còn dựa vào những chứng cứ khác để biện minh rằng Việt Nam cũng đã công nhận một cách rõ ràng chủ quyền của Trung Quốc đối với Trường Sa và Hoàng Sa, nó “đã được phản ánh trong các tuyên bố và ghi chú của chính phủ Việt Nam, cũng như các bản đồsách giáo khoa và báo chí chính thức của Việt Nam” (trích Công hàm Trung Quốc ngày 17/4/2020).

Một trong những chứng cứ kể trên là “các bản đồ” do chính Việt Nam biên soạn, in ấn và xuất bản.

Mặc dù Công hàm mới nhất của Trung Quốc không trưng ra mà chỉ nhắc đến “các bản đồ“, nhưng trong văn kiện đầu tiên công bố ngày 30/1/1980, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã đưa ra các tư liệu lịch sử, bản đồ v.v… để chứng minh “Trung Quốc có chủ quyền không tranh cãi đối với quần đảo Tây Sa và Nam Sa” (tức là Trường sa và Hoàng Sa).

Toàn bộ văn kiện ngày 30/1/1980 được đăng trên tạp chí Beijing Review của Trung Quốc, số 7 ngày 18/2/1980, trong đó không những nói rõ về các bản đồ, mà còn đưa ra ảnh chụp. Trích nguyên văn như sau:

Tạm dịch: “Các bản đồ và sách giáo khoa chính thức của Việt Nam đều thừa nhận rất rõ ràng hai Quần đảo Tây Sa và Nam Sa là lãnh thổ Trung Quốc. Chẳng hạn, Bản đồ Thế giới được thực hiện năm 1960 bởi Phòng Bản đồ thuộc bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh dấu hai Quần đảo Tây Sa và Nam Sa bằng tên tiếng Trung và chú thích trong dấu ngoặc hai quần đảo này thuộc về Trung Quốc. Tập bản đồ Thế giới được xuất bản tháng 5 năm 1972 bởi Cục Đo đạc và Bản đồ trực thuộc Phủ Thủ tướng Việt Nam cũng đánh dấu hai Quần đảo Tây Sa và Nam Sa bằng tên tiếng Trung (xem Phụ Lục 5)“.

Chắc chắn Trung Quốc từ lâu đã nắm trong tay và cất kỹ bản gốc của các bản đồ này, khi cần có thể trưng ra như là một bằng chứng mà Việt Nam không thể chối cãi.

Một câu hỏi được đặt ra, tại sao Phòng Bản đồ thuộc bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam lại làm ra một tấm bản đồ như vậy?

Không thể nào nói đó là do sơ suất hay nhầm lẫn vì không những ghi tên hai Quần đảo Tây Sa và Nam Sa bằng tên tiếng Trung Quốc, mà còn chú thích trong dấu ngoặc hai quần đảo này thuộc về Trung Quốc.

Tại sao Cục Đo đạc và Bản đồ trực thuộc Phủ Thủ tướng Việt Nam cũng in tên hai Quần đảo Tây Sa và Nam Sa bằng tiếng Trung?

Theo tìm hiểu của tác giả, từ năm 1960 đã có ít nhất một người Trung Quốc làm việc trong Cục Đo đạc và Bản đồ trực thuộc Phủ Thủ tướng Việt Nam. Đó là một “chuyên gia do Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa phái sang giúp Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa“.

Nguồn: FB Lê Đức Dục

Như vậy rõ ràng Trung Quốc đã cài người trong Cục Đo đạc và Bản đồ trực thuộc Phủ Thủ tướng, trễ nhất là từ năm 1960. Chúng nằm sâu trong những cơ quan trọng yếu của quốc gia với nhiệm vụ ngụy tạo chứng cứ cho việc cướp đất và biển đảo. Đó là điều chúng đã tính toán từ trước.

Việc “cõng rắn vào nhà” này, ai là người chịu trách nhiệm?

Ngoài Trương Hồng Niên, người của Trung Quốc được cài cắm trong Cục đo đạc và bản đồ ra, liệu còn bao nhiêu người Trung Quốc đã được cài cắm trong các bộ ngành khác từ trước đến nay, nhất là trong Bộ Giáo dục (sách giáo khoa cũng bị Trung Quốc ngụy tạo dùng làm bằng chứng).

Hiện nay, tình báo Trung Quốc đã cài trong Quốc hội Việt Nam bao nhiêu người, Chính phủ bao nhiêu người và Bộ Chính trị là bao nhiêu người? Bao giờ người dân có được câu trả lời cho những câu hỏi này?

Nguồn: https://www.marxists.org/subject/china/peking-review/1980/PR1980-07.pdf

Thêm một bằng chứng “cõng rắn vào nhà” | Tiếng Dân

Thêm một bằng chứng “cõng rắn vào nhà” Bởi AdminTD – 27/04/2020 Hiếu Bá Linh, tổng hợp 27-4-2020 Trong Công hàm mới nhất của Trung Quốc trình lên Liên Hợp Quốc ngày 17/4/2020 để khẳng định chủ quyền biển đảo của họ, ngoài việc nêu C…

Sẹo BCG

Sẹo BCG

Song Thao

Gặp nhà văn / bác sĩ Minh Ngọc tại Montreal.

Nhà văn Ngọc của báo Văn hải ngoại thời Nguyễn Xuân Hoàng làm Tổng Thư Ký và cũng là nhà văn Minh Ngọc của báo Ngôn Ngữ ngày nay, đang ở tuyến đầu ổ dịch của Mỹ: thành phố Nữu Ước. Cô là một bác sĩ và hàng ngày tiếp xúc với các bệnh nhân tại bệnh viện của Đại học Winthrop trong vùng. Bận rộn với ống chích, cô vẫn không quên tay bút. Bút ký “Nhật Ký Chống Dịch”của cô trên Facebook được mọi người theo dõi một cách say mê. Hiếm có một bác sĩ Việt viết ra những điều mắt thấy tai nghe tại bệnh viện với suy nghĩ của một người Việt và với văn phong của một nhà văn đã thành danh từ lâu. Trong một đoạn nhật ký, cô viết: 

“Từ thứ hai, Mayo Clinic (Trung tâm nghiên cứu y khoa lớn nhất nước Mỹ) kết hợp với hãng dược Cellex (North Carolina) bắt đầu thử kháng thể người bị nhiễm hay nghi nhiễm Covid-19, từ đó có thể xem xét phương pháp trị liệu bằng kháng thể hoặc chế tạo vaccine. Một nhóm bác sĩ ở Úc đang làm nghiên cứu về tác dụng của BCG với Covid-19. Họ nhận thấy người có chích BCG có thể có khả năng kháng Covid-19, nếu đúng thì điều này có thể giải thích nguyên nhân một số nước Á Phi còn sử dụng BCG chích ngừa trẻ em có số nhiễm dịch thấp và bệnh nhân không quá nặng. Mình còn thẹo BCG nè, PPD dương tính, vậy có miễn nhiễm con này không ta?”.

                          Thẹo BCG

Đọc tới đây, tôi vạch cánh tay lên coi. Hai chiếc sẹo còn sờ sờ trên da. Tôi được chích BCG khi nào, trí nhớ mù mờ không làm sao vẽ lại được giờ phút đó. Chỉ nhớ mang máng là có đứng xếp hàng khi đi học để được chích. Nhưng nhớ hơn là lần chủng đậu tại trường. Vì nó…thảm hại hơn. Chích bằng ống chích thì quen rồi nhưng chủng đậu, cô y tá cầm một miếng kim loại giống như ngòi bút, vạch hai ba đường lên da cho máu rỉ ra, thấy máu đổ thịt rơi, run hơn nhiều. Nhưng chích ngừa bệnh lao BCG cũng tê tái lắm. Không phải chích thịt, phập chiếc kim vào là xong mà là chích dưới da cho phồng lên. Cả hai thứ ngừa đều phải canh chừng khi về nhà. Không được để áo chạm vào, không được để nước thấm tới. Khi chúng mưng mủ còn khó khăn hơn bội phần. Phải giữ cho đừng vỡ mủ mà chờ cho tới khi mủ chín, tự động vỡ ra mới tốt. Tác giả Đồng Phước có trí nhớ tốt hơn tôi rất nhiều. Tôi đọc được bài viết của tác giả trên báo Thanh Niên Online. 

“Những năm 1960 ở miền Nam, thỉnh thoảng lại có những lần xảy ra bệnh đậu mùa, thương hàn, dịch tả, lao phổi, viêm màng não, sốt rét, bại liệt. Tuy quy mô không lớn nhưng làm ai cũng lo lắng. Thời đó, phổ biến nhất là bệnh đậu mùa, bệnh này tuy tỷ lệ tử vong rất thấp nhưng nó làm da nổi nhiều mụn mủ gây tổn thương rất sâu dưới tầng tế bào sinh sản của thượng bì, nên khi lành sẽ để lại sẹo, nhiều nhất ở mặt làm bị rỗ lỗ chỗ. Năm 1966, lúc tôi còn học tiểu học, Ty Y Tế Vĩnh Long có tiến hành chủng ngừa bệnh đậu mùa cho trẻ em trong tỉnh, hồi đó gọi là “trồng trái”. Các nhân viên y tế đến trường, học trò được nghỉ học, đứng xếp hàng dài theo hành lang chờ đến lượt chủng ngừa. Nhân viên y tế dùng một cái que kim loại có đầu chẻ hai, chấm vào cái đĩa thủy tinh chứa dung dịch vắc-xin, rồi quẹt lên hai chỗ trên bắp tay của học sinh được chủng, hai vết quẹt cách nhau khoảng 5 cm. Thao tác này kêu là “trồng trái” hoặc “cấy thuốc”. Nhân viên y tế phải quẹt cho rách da rướm máu thì vắc-xin mới thấm được vào cơ thể. Lúc đó tức cười lắm, có đứa bị quẹt thì miệng hít hà, mặt mày nhăn nhó như khỉ ăn ớt, đứa nào lì thì vẫn tỉnh bơ. Mấy đứa đứng cuối hàng chưa bị quẹt thì lo lắng hỏi những đứa đã trồng trái xong: “Đau hông mậy?”… Thời gian sau, có đoàn bác sĩ ngoại quốc đến trường chích thuốc ngừa lao (BCG) cho học sinh. Họ không xài ống chích mà dùng súng chích (jet injector) hoạt động bằng áp lực dung dịch không cần kim, kê súng vô bắp tay bấm cò cái là áp suất cao sẽ đẩy tia thuốc xé rách da chui vào cơ thể. Chích kiểu này không đau, chỉ nhói cái như bị kiến cắn. Nhưng vết chích cũng lở loét và khi lành để lại một cái thẹo tròn, bề mặt láng bóng, đường kính cỡ 5 mm bên bắp tay trái. Nói chung là lần chủng ngừa nào cũng để lại cho “khổ chủ” vài cái thẹo làm kỷ niệm suốt đời”.

Hai cái thẹo kỷ niệm là do hai lần ngừa khác nhau, hai bệnh không liên quan chi tới nhau. Nhưng nó song đôi với nhau trên mỗi bắp tay của trẻ em thời đó. Tác giả Đồng Phước chích ngừa năm 1966, thuộc thế hệ sau tôi. Hồi tôi bị chích, chưa có “súng chích” nên không hiểu chích như vậy là chích thịt hay chích dưới da. Thường chích ngừa BCG, nhân viên y tế phải lách cái kim dưới da để thuốc chỉ nằm dưới da, không đi vào phần thịt. Nhưng đó là chuyện phụ. Chuyện chính là thời Việt Nam Cộng Hòa, tất cả trẻ em được chích ngừa lao. Con gái tôi, sanh vào tháng 12 năm 1974, chỉ khoảng bốn tháng trước khi Sài Gòn bị bức tử, có được chích ngừa như vậy không, chính tôi cũng không còn nhớ. Cháu nay đã có gia đình, ra ở riêng nên tôi phải phôn hỏi cháu. Cháu cười trả lời: “Hai cái sẹo còn nằm chình ình đây này, ba!”. Mới vài tháng thì học hành chi, vậy cháu được chích khi còn nằm nôi. Theo các nhà khoa học, thời gian chích vaccine phòng lao BCG tốt nhất là dưới một tháng tuổi. Thông thường, ngay sau khi được chích ngừa, chỗ chích sẽ xuất hiện một nốt nhỏ và biến mất sau khoảng 30 phút. Sau khoảng hai tuần sẽ xuất hiện một vết loét to, mưng mủ như bị áp-xe có kích thước bằng đầu bút chì. Như vậy là thuốc chích có hiệu nghiệm. Chỉ cần giữ vệ sinh để vết loét không bội nhiễm là được. Hai tuần sau nữa, vết loét tự lành tạo nên sẹo.

Không biết tại sao thời của tôi và tác giả Đồng Phước, phải tới khi đi học mới được chích. Nếu được chích như con gái tôi, chưa biết đau là chi, có phải đỡ vất vả không. Nhưng nếu chích sớm như vậy thì làm chi có…kỷ niệm!

Kỷ niệm tuổi thơ

Từ đầu bài viết tới giờ, tôi cứ khơi khơi nói chích ngừa lao BCG mà chưa giải mã ba chữ này. Đó là thuốc ngừa do hai nhà bác học Calmette và Guerin tìm ra nên được mang tên hai ông: Bacille Calmette-Guerin, viết tắt là BCG. Vaccine này có chứa vi khuẩn gây ra bệnh lao đã được làm yếu đi nên không có khả năng gây bệnh mà có tác dụng chống lại vi trùng lao từ ngoài xâm nhập vào cơ thể. Lịch sử của BCG bắt đầu vào năm 1921. Khi đó có một bà mẹ đã chết vì lao sau khi sanh được ít ngày, người ta cho cháu bé sơ sanh dùng thuốc ngừa bằng cách uống qua miệng. Cháu bé đã không bị mắc bệnh. Trong vòng ba năm, phương pháp ngừa bệnh này được thử thành công trên 178 em bé tại nhà hộ sanh của bệnh viện La Charité Paris ở thủ đô Pháp. Từ năm 1923, phương pháp tiêm dưới da mới được áp dụng. Trải qua bao thăng trầm, tới năm 1948 hiệu quả của vaccine này mới chính thức được công nhận và việc chích ngừa mới trở thành bắt buộc tại nhiều nước. Việt Nam là một trong những nước chích ngừa BCG nhiều nhất vì bệnh lao phổi rất phổ biến tại nước ta. Trước 1975, Sài Gòn đã có riêng một bệnh viện chuyên trị bệnh lao là bệnh viện Hồng Bàng nằm trên đường Hùng Vương thuộc Quận 5. Sau năm 1975, bệnh viện này được đổi tên thành bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, vẫn tiếp tục chuyên điều trị bệnh lao phổi.

Từ khi Covid-19 làm náo động thế giới, người ta bỗng chú ý tới chuyện BCG. Có sự liên hệ giữa bệnh lao cũ kỹ và bệnh dịch Covid-19 mới toanh: chúng cùng tấn công vào phổi của bệnh nhân. BCG chỉ cần chích ngừa một lần là an toàn trên xa lộ cho cả đời. Như vậy phổi của người được chích ngừa BCG được phòng thủ chắc chắn hơn người không được chích ngừa. Bác sĩ tuổi trẻ tài cao Huynh Wynn Trần, hiện sống ở California, được nhiều người mến mộ theo dõi trên internet, đã ví von: 

“Nếu xem hệ miễn dịch là quân đội của một quốc gia, các binh chủng hải lục không quân là miễn dịch bẩm sinh (khi gặp quân thù là đánh), trong khi tình báo quân đội, mạng lưới thông tin là miễn dịch thu được (vào cuộc chiến rồi mới phân tích học hỏi quân địch). Nói đơn giản là thông qua tập trận (chích vaccine BCG) thì cả hải lục không quân và tình báo làm việc tốt hơn, dẫn đến phòng thủ địch quân tốt hơn”.

Từ giả thuyết trên, người ta quan sát trên thực tế. Tỷ lệ tử vong vì Covid-19 tại các nước không có chích BCG cao hơn các nước có chích ngừa BCG. Theo tài liệu của Worldometer, các nước Âu châu, không chích BCG, như Ý có tỷ lệ tử vong là 12%, Pháp7,6%, Anh 12%. Trong khi đó, tại các nước Á châu có chích BCG, tỷ lệ tử vong chỉ có 2,3% tại Nhật, 1,7% tại Đại Hàn, 4% tại Trung Quốc.

Mối quan hệ giữa hệ miễn dịch khỏe mạnh và tỷ lệ tử vong ít là điều dĩ nhiên. Khoảng 80% bệnh nhân Covid-19 sẽ tự khỏi do có hệ miễn dịch tốt như trẻ em, người ít tuổi hoặc người không có bệnh mãn tính. Vì vậy những người có chích ngừa BCG có khả năng tăng cường hệ miễn dịch, từ đó giúp bệnh nhân chống trả với Covid-19 tốt hơn. Tuy nhiên, một giả thuyết y học cần phải có những nghiên cứu, thí nghiệm lâm sàng kỹ càng mới có thể kết luận được. Người ta chưa thể khẳng định tương quan giữa chích ngừa BCG và tử vong vì Covid-19. Tỷ lệ tử vong vì Covid-19 còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như hệ thống y tế của mỗi quốc gia, cách phòng chống dịch, tuổi trung bình mắc bệnh cũng như sự trung thực trong khai báo số tử vong, nhất là con số của các nước Cộng sản mà người ta khó kiểm chứng.

Nhưng dù sao chăng nữa, những chiếc sẹo BCG có nhiều hy vọng trở thành những khiên chắn tốt trước đại dịch toàn cầu hiện nay. Vậy nên các chuyên gia y tế đang xúm xít vào cái sẹo này. Tin tức về sự săm soi này nhiều lắm. Loạn xạ trên mạng. Có cái tin được, có cái phải coi lại. Những chuyện tôi kể ra sau đây là theo bản tin của đài RFI. Trên mạng Asia Times có một bài sơ kết vào ngày 10/4, cho biết giáo sư Ginzalo Otazu, chuyên gia ngành sinh học tại New York Institut of Technology, lúc làm việc tại Nhật, đã ngạc nhiên khi tại quốc gia này có ít ca tử vong vì bệnh dịch Covid-19 một cách bất thường. Từ đó, ông công bố một bản nghiên cứu trên mạng MedRxiv, một mạng chuyên công bố các nghiên cứu đã hoàn thiện, đang chờ các đồng nghiệp phản biện. Theo bản nghiên cứu này thì Giáo sư Otazu và các cộng sự viên đã nhận ra một tương phản kỳ lạ giữa các quốc gia mà dân chúng được tiêm chủng BCG và các quốc gia không có tiêm chủng. Ý và Hoa Kỳ là hai nơi không ngừa nghiếc chi nên số tử vong cao trong khi Nhật Bản có số tử vong rất thấp mặc dù Nhật đã “không thực thi chính sách phong tỏa xã hội nghiêm ngặt”. Ngay tại Âu châu, Ý có tỷ lệ số tử vong là 292 trên 1 triệu dân trong khi Đức chỉ là 28 trên một triệu dân. Nhóm nghiên cứu ghi nhận là việc chích ngừa BCG đã được thi hành rộng rãi tại miền Đông Đức cũ. Ngay trong nước Đức, số tử vong tại miền Đông cũng ít hơn tại miền Tây. Đại Hàn, Tân Tây Lan có chích ngừa nên số mạng vong cũng rất ít. Việt Nam không có người chết vì Covid-19 (?) vì, như đã trình bày ở trên, trước 1975, chúng ta đã đè con nít ra chích tuốt. Sau 1975, từ 1985 đến 1990, toàn bộ dân số cũng đã được chích ngừa BCG. Chích ngừa BCG sớm hay muộn cũng có sự khác biệt. Nhật Bản cho chích ngừa từ năm 1947 trong khi Iran chỉ mới áp dụng từ năm 1984 thì số tử vong tại Iran cao gấp 100 lần tại Nhật.

Một cuộc nghiên cứu khác của nhà niệu học Paul Hegarty, bệnh viện Mater ở Dublin, Ái Nhĩ Lan, đã được công bố vào ngày 27/3, cho thấy các nước Đại Hàn, Nhật Bản, Singapore, Thái Lan và Hồng Kông có chương trình chích ngừa BCG ngay từ khi sanh, số tử vong vì Covid-19 chỉ có 0,7 người trên một triệu dân. Riêng Đài Loan, có chương trình chích ngừa từ năm 1940, mới số dách: chỉ có 0,2 người trên một triệu dân! Giáo sư Paul Hegarty kết luận: 

“Vaccine phòng lao đã được sử dụng từ gần một thế kỷ. Ba tỷ liều vaccine đã được chích kể từ khi BCG chính thức được sử dụng. Tính chất an toàn của loại vaccine này đã được kiểm nghiệm…Trong khi chờ đợi có vaccine chính hiệu cho virus Covid-19, việc sử dụng vaccine phòng lao đã có, và đã chứng tỏ độ an toàn, để tăng cường khả năng miễn dịch của cơ thể, là một công cụ quan trọng đẩy lùi dịch bệnh Covid-19”.

Linh Mục / Bác sĩ Phạm Hữu Tâm tại phi trường 

Houston chờ bay qua New York City.

BCG ngon lành như vậy vì sao? Giáo sư Mihai Netea, chuyên gia về bệnh lây nhiễm tại Radboud University Medical Center, Hòa Lan, phát hiện ra là BCG có tác dụng đánh thức “một thứ ký ức của tế bào”, ký ức của hệ thống miễn dịch bệnh sinh, cho phép cơ thể biết cách kháng cự lại các nhân tố gây bệnh mới. Đây là điều mà các nhà khoa học gọi là “miễn dịch được huấn luyện”.Trên đầu bài, tôi đã nhắc tới cô bác sĩ trẻ tuổi Minh Ngọc, đang ở tuyến đầu chống dịch tại thành phố Nữu Ước, người đã có hai vết sẹo đậu mùa và BCG ngon lành. Để kết thúc bài này, tôi muốn nhắc tới một bác sĩ Việt Nam khác khá đặc biệt. Ông là bạn facebook của tôi, người bạn chưa hề gặp mặt. Đặc biệt vì ông là một linh mục-bác sĩ, sống ở Houston nhưng đã tình nguyện tới thành phố Nữu Ước chống dịch. Tên ông là Phạm Hữu Tâm. Ngày thứ hai 6/4, ông lên đường. Ông viết trên Facebook: 

“Bạn thân mến, thứ hai Tuần Thánh tôi bay lên New York City giúp y tế 3 tuần. Hồi hộp và hơi sợ vì coronavirus đang lây nhiễm nặng và người chết quá nhiều. Nhưng nhân viên y tế làm việc quá tải cần được giúp đỡ. Hy vọng góp phần được chút ít, theo gương hy sinh của Chúa Giêsu năm xưa… Xin cầu nguyện cho bệnh nhân, nhân viên y tế và gia đình của họ”.

Ông cha có nghề y xông pha vào tuyến đầu của đại dịch. Chắc cha có Chúa bên cạnh. Chỉ xin hỏi nhỏ cha: “Cánh tay cha có vết sẹo nào không?”.

04/2020

Song Thao

GIẤC MỘNG TRUNG HOA ĐANG HẤP HỐI, TỜ NEW YORK POST KÊU GỌI ‘TẮT MÁY THỞ’

Image may contain: outdoor

Hoang Le Thanh

GIẤC MỘNG TRUNG HOA ĐANG HẤP HỐI, TỜ NEW YORK POST KÊU GỌI ‘TẮT MÁY THỞ’

New York Post

“Một nhát cắt không thể dẫn đến tử vong. Nhưng với nhiều nhát cắt cùng lúc, chúng sẽ làm khô máu nền kinh tế Trung Quốc. Hy vọng rằng chúng có thể làm lung lay nền tảng thâm căn cố đế của ĐCSTQ – một thể chế cực kỳ tham nhũng và bất tài.”

GIẤC MỘNG TRUNG HOA ĐANG HẤP HỐI, TỜ NEW YORK POST KÊU GỌI ‘TẮT MÁY THỞ’

Từ lâu, Trung Quốc đã có ước mơ thống trị hành tinh, nhưng chỉ tới khi Chủ tịch Tập Cận Bình công bố ‘Giấc mơ Trung Hoa’, thì thế giới mới bừng tỉnh bởi trong giấc mộng đó cả thế giới đều trở thành người bị hại gồm cả phần đa người dân Trung Quốc. Đại dịch đảo ngược tất cả, tờ New York Post cho rằng nền kinh tế này đang hấp hối và kêu gọi thế giới hãy “tắt máy thở”.

Với giấc mơ trở thành cường quốc thống trị hành tinh, cho đến gần đây, Trung Quốc dường như cũng đang trên đường thành công, với con tem “Made in China” đang xuất hiện trên gần một phần ba hàng hóa được sản xuất của thế giới.

Đại dịch đã đảo ngược tình thế. Hôm thứ Sáu (17/4), các quan chức Trung Quốc cho biết nền kinh tế của nước này đã giảm 6,8% từ tháng 1 đến tháng 3 năm 2020, so với một năm trước đó.

Tờ New York Post khẳng định mạnh mẽ: “Giấc mộng Trung Hoa của nhà độc tài Tập Cận Bình hiện đang hấp hối, có nguy cơ bị khuất phục trước con virus corona Vũ Hán mà ông và những người đồng chí cộng sản của mình đã tung ra trên thế giới.” Và đặc biệt kêu gọi “đã đến lúc chúng ta cần tắt máy thở.”

Đã đến lúc chúng ta cần tắt máy thở cho Trung Quốc
Sự phẫn nộ trước thái độ thiếu trách nhiệm của Trung Quốc trước đại dịch, tranh thủ đại dịch kiếm lời trên sinh mệnh của người dân toàn cầu đã thức tỉnh các chính phủ, người dân toàn thế giới về sự thật đằng sau “giấc mộng Trung Hoa”. Đây là cách làm giàu bất chính của một nền kinh tế kền kền vốn không chỉ là tội đồ của hàng giả, hàng nhái, ô nhiễm môi trường mà còn kiếm tiền trên sinh mạng của người dân Trung Quốc và thế giới trong nhiều thập kỷ.

Sự phẫn nộ này dường như thậm chí còn lan truyền nhanh hơn cả căn bệnh. Một cuộc thăm dò của Harris được công bố vào ngày 6/4 cho thấy 77% dân số Mỹ tin rằng Trung Quốc đáng bị lên án vì đại dịch. Trước khi dịch bệnh phát triển và kết thúc một cách tự nhiên, hầu hết 7 tỷ người trên thế giới có lẽ cũng sẽ đồng ý với quan điểm này.

Chỉ ba năm trước, ông Tập đã thực hiện một cuộc khải hoàn tiến vào Davos, được tôn vinh là nhà vô địch mới về thương mại tự do bởi những người châu Âu muốn tránh xa các chính sách America First (nước Mỹ trước tiên) của Tổng thống Trump.

Ngày nay, thật khó để tưởng tượng nhà độc tài Trung Quốc sẽ nhận được lời mời đến Davos – hay bất cứ đâu, khi mà chiến dịch giữ im lặng và đe dọa những người ‘thổi còi y tế” (cảnh báo nguy cơ y tế) của chính quyền Bắc Kinh đã cho phép con virus phát triển mạnh mẽ và cuối cùng lan rộng ra khắp thế giới.

Thủ tướng Anh, ông Boris Johnson, được cho là rất tức giận với Trung Quốc khi ông hồi phục từ virus corona, gần như đã giết chết ông hồi đầu tháng này. Ông không chỉ có thể sẽ ngăn chặn công ty điện tử do nhà nước Trung Quốc kiểm soát, Huawei, khỏi mạng 5G của Anh mãi mãi, ông còn hứa rằng sẽ có những hậu quả khác đối với sự thất bại của Trung Quốc trong việc chia sẻ dữ liệu chính xác và kịp thời về con virus chết người này.

New York Post đặt ra câu hỏi: “Bạn nghĩ các nhà lãnh đạo của Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Hà Lan, Úc và Cộng hòa Séc sẽ đối xử với Trung Quốc như thế nào?” Tất cả các quốc gia này đều nhận được những bộ dụng cụ thử nghiệm và PPE (thiết bị bảo hộ cá nhân) cùng các vật tư y tế bị lỗi của Trung Quốc – khiến cho việc ngăn chặn virus thất bại. Một số dụng cụ thử nghiệm thậm chí đã nhiễm virus corona – dù vô tình hay cố ý – việc này làm trầm trọng thêm sự bùng phát của dịch bệnh toàn cầu.

Ngay cả một quan chức ở Iran, đồng minh thân cận nhất của Trung Quốc ở Trung Đông, cũng đã phàn nàn một cách cay đắng về những lời dối trá của Trung Quốc khiến cho Iran đã phải trả giá bằng mạng sống của hàng ngàn đồng bào của mình.

Dịch bệnh cũng đã tiết lộ sự phụ thuộc nguy hiểm của Mỹ và phương Tây vào Trung Quốc đối với nhiều loại thuốc và vật tư y tế phổ biến nhất. Chúng ta không thể tưởng tượng rằng có quốc gia nào đó có thể đe dọa sẽ giữ lại các loại thuốc cứu mạng giữa đại dịch toàn cầu. Thế nhưng, ngạc nhiên chưa, Trung Quốc đã làm vậy. Lúc này Mỹ và phương Tây không có lựa chọn nào khác ngoài việc thêm những thứ như penicillin và PPE vào danh sách các sản phẩm, như thép và chip silicon, mà họ cần phải sản xuất trong nước.

Các doanh nghiệp của Mỹ có sẵn sàng rời khỏi Trung Quốc vì lợi ích quốc gia?

Câu hỏi lớn là liệu các công ty lớn của Mỹ, ví dụ như Apple, có ý định sẽ bắt đầu chuyển sản xuất ra khỏi Trung Quốc sau đại dịch này hay không. Điều đó có nghĩa là họ sẽ cần phải hy sinh lợi nhuận của mình cho những thứ vô hình như an ninh quốc gia và độc lập kinh tế của Hoa Kỳ.

Cố vấn kinh tế của Nhà Trắng, ông Larry Kudlow, đưa ra gợi ý rằng chính quyền có thể lôi kéo các công ty Mỹ rời khỏi Trung Quốc và quay trở lại Mỹ bằng cách chi trả toàn bộ chi phí vốn liên quan đến việc di dời. Các chính phủ cần can thiệp để đảm bảo các công ty của họ hành động vì lợi ích quốc gia. Chính phủ Nhật Bản tuyên bố rằng họ sẽ bắt đầu trả tiền cho các công ty của mình để di dời khỏi Trung Quốc. Các quốc gia khác, bao gồm cả Mỹ, chắc chắn cũng sẽ theo sau. Sau đó, thuế quan của Trump sẽ quay trở lại nếu Trung Quốc không giữ lời hứa mua 250 tỷ đô la các sản phẩm do Mỹ sản xuất trước thời điểm cuối năm 2021.

Trong năm tới, nền kinh tế Trung Quốc sẽ phải chịu đựng hàng loạt nhát cắt: chiến tranh thương mại với Trump, chuỗi cung ứng tại Trung Quốc bị phá vỡ và chuyển dịch đến các nước khác, các nhà máy chuyển sang các quốc gia tự do hơn, người tiêu dùng trên khắp thế giới từ chối hàng hóa Trung Quốc.

Trang New York Post nhận định mạnh mẽ: “Một nhát cắt không thể dẫn đến tử vong. Nhưng với nhiều nhát cắt cùng lúc, chúng sẽ làm khô máu nền kinh tế Trung Quốc. Hy vọng rằng chúng có thể làm lung lay nền tảng thâm căn cố đế của ĐCSTQ – một thể chế cực kỳ tham nhũng và bất tài.”

Vì lợi ích kinh tế và an ninh quốc gia, Mỹ từ lâu đã cần thoát Trung. New York Post cũng kêu gọi, việc chấm dứt sự phụ thuộc lẫn nhau này đòi hỏi sự hy sinh kinh tế đáng kể từ phía doanh nghiệp và người dân Mỹ, nhưng có nhiều thứ cần cân nhắc hơn so với “hàng giá rẻ Trung Quốc”. Nhân tố gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đô la cho nền kinh tế toàn cầu chính là đại dịch “Made in China”, và cái giá phải trả là quá lớn.

Thanh Hương – NTD

VIỆT NAM CẦN CÓ CHIẾN LƯỢC MỚI SAU KHỦNG HOẢNG ĐẠI DỊCH VIRUS VŨ HÁN

Nguyen Ngoc Chu
VIỆT NAM CẦN CÓ CHIẾN LƯỢC MỚI SAU KHỦNG HOẢNG ĐẠI DỊCH VIRUS VŨ HÁN

I. DỊCH VIRUS VŨ HÁN KÉO THEO SỰ THAY ĐỔI CHIẾN LƯỢC TRÊN TOÀN CẦU

1. Dịch virus corona đến từ Vũ Hán (gọi tắt là virus Vũ Hán) đã mang đến cho toàn thể loài người những thiệt hại kinh hoàng. Nặng nhất là Hoa Kỳ và châu Âu. Các cường quốc lớn, ngoài quê hương virus Vũ Hán, như Hoa Kỳ, Pháp, Anh, Ý, Đức, Nhật đều bị tổn thất nặng nề.

2. Dịch virus Vũ Hán cảnh báo cho cả thế giới biết thế nào là nguy hiểm của chiến tranh sinh học. Nguy hiểm cho mọi cường quốc, kể cả siêu cường.

3. Bởi thế, Hoa Kỳ và các cường quốc khác, cùng nhiều nước trên thế giới sẽ thay đổi chiến lược sau đại dịch virus Vũ Hán.

II. NHỮNG THAY ĐỔI CHIẾN LƯỢC CĂN BẢN CỦA CÁC CƯỜNG QUỐC

1. Thay đổi nhận thức về mối nguy hại của chiến tranh sinh học

Như đã đề cập ở phần trên, dịch virus Vũ Hán đã thức tỉnh toàn thế giới, nhất là các cường quốc, về phạm vi thảm họa của chiến tranh sinh học. Trong đó, siêu cường có thể bị gục ngã dễ dàng trước một đối thủ nhỏ bé. Từ đó dẫn đến thay đổi tương quan, thay đổi chiến lược ở mọi quốc gia.

2. Thay đổi toàn diện quan hệ của các cường quốc đối với Trung Quốc

Hoa Kỳ và các cường quốc ở châu Âu như Anh, Pháp, Đức, và các khu vực khác như Nhật, Canada, Úc sẽ có những thay đổi căn bản trong quan hệ với Trung Quốc. Điều này diễn ra trước hết do bởi cách hành xử của Trung Quốc từ vị thế của Trung Quốc.

Quá trình xảy ra thảm họa dịch virus Vũ Hán đồng thời đã phơi bày hành vi và mưu toan của nhà cầm quyền Trung Quốc trong chiến lược chiếm đoạt quyền thống trị thế giới. Dịch virus Vũ Hán đã cho Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Nhật thấy chính quyền Trung Quốc hiện nay nguy hiểm như thế nào – ngoài cả những dự đoán táo bạo nhất của các nước này.

Lợi ích kinh tế mà Hoa Kỳ và châu Âu đặt vào thị trường mênh mông nhất thế giới gồm 1,4 tỷ dân Trung Quốc đã không mang lại những lợi ích mong đợi. Ngược lại, mang đến cho các cường quốc Tây Âu những quả đắng chí mạng.

Họ bị đánh cắp công nghệ hạt nhân, tàu vũ trụ. Họ bị mất tất cả các bản quyền hàng hóa, từ sản phẩm gia dụng cho đến ô tô và tàu bay. Trong hoàn cảnh đại dịch thì họ còn bị phụ thuộc vào Trung Quốc cả đến những chiếc khẩu trang.

Trong khi tàu sân bay Thedore Roosevelt của Hoa Kỳ và hàng không mẫu hạm duy nhất của Pháp là Charles de Gaulle bị tê liệt vì virus Vũ Hán thì các chiến thuyền của Trung Quốc lại nghênh ngang đe dọa các nước láng giềng ở biển Đông Nam Á. Sự lớn mạnh của Trung Quốc nguy hiểm như thế nào khi nó đặt dưới quyền của những kẻ đầy tham vọng ở Bắc Kinh. Sự lớn mạnh của Trung Quốc nguy hiểm đến mức độ nào khi các vũ khí hủy diệt hàng loạt rơi vào tay những kẻ điên loạn tham tàn. Sự tham tàn của các bạo chúa Trung Hoa không có sự so sánh trên toàn thế giới trong suốt lịch sử nhân loại.

Trung Quốc không biết sợ ai. Trung Quốc khiêu chiến cả với Đức và Úc ngay chính trên đất của các quốc gia này. Trung Quốc có gan làm bẽ mặt tất cả. Máy bay Canada sang Trung Quốc nhận hàng phải cất cánh về không, mà không thể được đậu thêm vài giờ đồng hồ để chờ lấy hàng.

Trung Quốc biết đâm những nhát dao trước bụng và sau lưng đối thủ. Trung Quốc biết đi đêm với từng cá nhân, từng bản hãng. Vì sao Bill Gates và hãng xe Volkswagen chấp nhận quảng cáo cho đường lưỡi bò? Vì sao Huawei lại cung cấp được mạng 5G cho châu Âu? Trung Quốc đang chia rẽ giữa các cường quốc. Trung Quốc đang chia rẽ trong mỗi cường quốc.

Trung Quốc biết “đầu thai” từ trong bụng đối thủ. Cài cắm gián điệp không chỉ trong thiết bị mà bằng hàng triệu người Hoa di cư. Từ hàng chục vạn du học sinh cho đến hàng vạn phụ nữ sinh đẻ trên đất bản quốc để trở thành công dân nước sở tại. Trung Quốc đang “đầu thai” vào Hoa Kỳ và các các quốc gia khác để có “Tiểu Trung Quốc” trong mỗi quốc gia trên thế giới.

Trung Quốc quyền lực đến mức đã có thể tác động lên cả tranh cử tổng thống Hoa Kỳ. Không phải bằng con đường tin tặc. Mà bằng chính “Tiểu Trung Quốc” trong Hoa Kỳ. Mà bằng chính người Hoa Kỳ làm việc cho Trung Quốc.

Giờ đây thì Hoa Kỳ và châu Âu đã thức tỉnh. Xác định lại đối tượng Trung Quốc, Hoa Kỳ và các cường quốc Tây Âu sẽ thay đổi toàn diện quan hệ với Trung Quốc. Về quốc phòng, về kinh tế, về ngoại giao, về luật pháp quốc tế, về bố trí lực lượng – tất cả sẽ chuyển sang một khung trời mới.

3. Mặt trận toàn cầu chống Trung Quốc

Kết quả của sự thay đổi toàn diện của Hoa Kỳ và các cường quốc Tây Âu trong quan hệ với Trung Quốc còn là sự ra đời một “Liên minh không chữ ký” chống lại Trung Quốc trên toàn cầu. Ngoại trừ lục địa Phi châu, các cường quốc ở các châu lục Á Úc sẽ sẽ là thành viên rường cột của “Liên minh không chữ ký” này. Trung Quốc sẽ phải đối phó với nhiều cơn sóng thần từ khắp thế giới sau đại dịch virus Vũ Hán.

4. Sự thay đổi của chính Trung Quốc

Sau đại dịch Vũ Hán, Trung Quốc sẽ có những thay đổi căn bản về chiến lược nội bộ và chiến lược đối ngoại. Những thay đổi này bắt nguồn từ lộ chân tướng Trung Quốc trong con mắt thế giới, từ sự thay đổi trong nội bộ Trung Quốc, từ sự thay đổi của quốc tế đối với Trung Quốc, và từ sự điều chỉnh mục tiêu của Trung Quốc.

Tập Cận Bình đã xác nhận hết thời “dấu mình” của Đặng Tiểu Bình mà vươn lên xưng bá thế giới. Tập dự kiến Trung Quốc thay thế Hoa Kỳ ở vị trí lãnh đạo thế giới vào năm 2049. Nhưng Tập không đợi được đến năm 2049. Quỹ thời gian của Tập đã làm Tập nóng lòng khởi sự sớm hơn dự kiến. Đó là nước cờ đối nội để kéo dài vĩnh viễn sự thống trị của Tập ở Trung Quốc trước khi Trung Quốc bước vào ngôi vị số 1 thế giới. Tập muốn “vĩ đại” hơn cả Mao.

Tập sẽ vùng lên kháng cự dữ dội. Đó là sự kháng cự dãy chết. Cuối cùng, kết quả của nhiều cơn giãy chết là sự sụp đổ của chính quyền cộng sản tại Trung Quốc.

III. VÀ ĐỐI SÁCH CỦA VIỆT NAM

1. Đây là cơ hội quý hiếm để Việt Nam bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, không bị mất thêm đảo cùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế ở Biển Đông Nam Á.

Chưa bao giờ trên thế giới các cường quốc lại cùng hợp lực đối phó với Trung Quốc như bây giờ. Trung Quốc sẽ phải căng mình trên nhiều mặt trận. Vì thế Trung Quốc sẽ yếu đi ở mỗi mặt trận.

Nhưng sự dãy chết của Trung Quốc sẽ làm cho Trung Quốc hung hăng hơn ở Biển Đông Nam Á. Vì đây là nơi Trung Quốc xem là lợi ích cốt lõi. Trung Quốc sẽ hành động mạnh hơn khi Hoa Kỳ và châu Âu đang chưa thoát ra khỏi đại dịch. Những hành động vừa qua của Trung Quốc ở Biển Đông Nam Á khẳng định các toan tính mới của Trung Quốc.

Việt Nam, vì thế, phải mạnh mẽ hơn ở Biển Đông Nam Á. Trung Quốc yếu hơn nhiều so với những gì họ phô trương.

2. Đây cũng là thời cơ quý hiếm để Việt Nam dứt bỏ sự phụ thuộc vào Trung Quốc, để trở thành một quốc gia thực sự độc lập tự chủ, trọn vẹn cả chính trị lẫn kinh tế.

Thoát khỏi sự phụ thuộc vào Trung Quốc về kinh tế, sẽ đưa nền kinh tế Việt Nam lên một đẳng cấp mới. Thoát khỏi sự phụ thuộc chính trị vào Trung Quốc, sẽ đẩy Việt Nam vào một giai tầng chính trị quý tộc hơn.

Sự kết thúc của chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là thời khắc mở ra kỷ nguyên hạnh phúc cho cả nhân dân Trung Quốc lẫn nhân dân Việt Nam.

3. Việt Nam không thể đứng ngoài dòng chảy lớn của nhân loại. Việt Nam phải hòa nhập vào dòng chảy lớn của nhân loại để thịnh vượng hơn, hùng cường hơn, và giữ vị thế xứng đáng hơn.

4. Vì thế, Việt Nam phải có một chiến lược hoàn toàn mới phù hợp với hoàn cảnh mới của thế giới.

5. Hiện nay lãnh đạo Việt Nam từ cấp tỉnh thành cho đến cấp trung ương đều đang quá bận rộn cho nhân sự Đại hội 13. Người thì lo vào ‘Trung ương’. Người thì lo ở lại ‘Trung ương’. Người thì lo vào ‘Bộ Chính Trị’. Người thì nghĩ về ‘Tứ trụ’. Ai cũng muốn bước thêm một bậc.

Cho nên, tất cả chưa để tâm nhìn thấy sự thay đổi chấn động của thế giới ở phía trước mà có đối sách.

Nhưng sau Đại hội 13, thì hy vọng dàn lãnh đạo mới sẽ có những đối sách sáng suốt phù hợp với tình hình thế giới mới.

IV. LỜI NHẮN

1. Đây không phải là thời của Marx Engel Lenin Stalin. Đây cũng không còn là thời của Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình. Đây đang là thời của Donald Trump, Tập Cận Bình, Putin. Lấy Marx với Lenin ra để đối chọi với Dolald Trump, Tập Cận Bình và Putin là vi phạm tiên đề. Vì cả Dolald Trump, lẫn Tập Cận Bình, lẫn Putin – không ai đếm xỉa đến Marx và Lenin trên bàn cờ của mình.

2. Việt Nam hãy quên các quân cờ cũ đi. Hãy chơi bàn cờ mới với các quân cờ mới.

Image may contain: 1 person, suit
Image may contain: one or more people and closeup

45 năm chính sách “triệt người”

45 năm chính sách “triệt người”

April 24, 2020

Giáo sư Lê Xuân Khoa, cựu phó Viện trưởng Viện Đại Học Sài Gòn (Ảnh: Uyên Nguyên)

MẠNH KIM

Trong hồi ký Viết trên gác bút, nhà văn Nguyễn Thụy Long (cháu ruột nhà văn Nguyễn Bá Học, người nổi tiếng với câu “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”), kể lại thảm cảnh một vụ tịch thu sách năm 1975 sau khi chính quyền mới tiếp quản Sài Gòn: “Một cửa hiệu chuyên cho thuê truyện tại đường Huỳnh Quang Tiên bên cạnh nhà thờ Ba Chuông tại Phú Nhuận phát nổ khi đoàn thu gom sách mang băng đỏ xâm nhập tiệm. Ông chủ nhà sách mời tất cả vào nhà. Rồi một trái lựu đạn nổ. Chuyện xảy ra không ai ngờ. Đương nhiên là có đổ máu… Cả chủ tiệm cũng mạng vong”…

Câu chuyện ông chủ hiệu sách uất ức thà chết còn hơn nhìn “băng đỏ” gom và ném sách đi đốt chỉ là một trong những bi kịch của miền Nam sau 1975. Không chỉ đốt sách, con người cũng bị triệt, đến tận cùng. Nhà văn, nhà báo, nhà giáo, bác sĩ, kỹ sư… đều bị tống đi học tập cải tạo. Miền Nam không chỉ đột nhiên rơi vào tình trạng thống khổ cùng cực mà còn chứng kiến những cảnh không thể tưởng tượng: phu nhân đại tá đi bán rong, vợ giáo sư buôn vỉa hè, thầy giáo mưu sinh bằng xích lô, ký giả chạy xe lam, con sĩ quan xếp hàng mua từng ký gạo…

Những hình ảnh đã đột ngột làm biến dạng miền Nam sau 1975. Những câu chuyện trải dài theo ký ức và nghe (tưởng chừng) “phi thực tế” đến nỗi những thế hệ sau này khi được kể nghĩ chắc hẳn là chuyện bịa. Đã có cả trăm quyển sách viết về những câu chuyện này, từ đi tù cải tạo đến vượt biên bỏ mạng. Nhắc lại không phải “đào xới” chuyện cũ. Để thấy rằng, “di sản” 1975 đến giờ vẫn tiếp tục còn sau 45 năm. Chính sách triệt tiêu con người sau 1975 vẫn tồn tại. Đó mới là điều cần nói.

Trong số “đối tượng” hứng chịu sự trả thù vô lý và nghiệt ngã có những trí thức đỉnh cao mà trí tuệ họ xứng đáng đại diện cho dân tộc Việt. Có lẽ không gương mặt nào trong Bộ Chính trị hoặc nhân vật nào trong “nội các” hiện tại có thể so với những bậc trí thức VNCH về trình độ lẫn nhân cách. Điều đáng tiếc nhất là một số trí thức này đã phải “trả giá” cho lòng yêu nước, chỉ bởi họ quá yêu nước, khi họ chọn ở lại mà không đi nước ngoài sau 1975, với niềm tin ngây thơ vào chế độ mới và với nhiệt tâm đóng góp tái thiết sau chiến tranh. Quê hương, với họ, là nước nhà; là đất nước và mái nhà.

GS Nguyễn Duy Xuân (trái) và GS Phạm Hoàng Hộ

Sinh năm 1929 tại Cần Thơ, giáo sư Phạm Hoàng Hộ có bằng Cử nhân khoa học, thủ khoa Thực Vật học, Paris; bằng Cao học Vạn Vật học, Paris; bằng Thạc sĩ/Agrégé Vạn vật học; bằng Tiến sĩ Khoa học/Vạn vật học, Paris. Giáo sư Hộ từng là giám đốc Hải học viện Nha Trang; Khoa trưởng Đại học Sư phạm Sài Gòn; Tổng trưởng Quốc gia Giáo dục; Viện trưởng sáng lập Viện Đại học Cần Thơ… Ông cũng là Hội viên Hội Thực vật học Pháp; Hội viện Hội Tảo học Quốc tế; Hội viện Hội Viện trưởng Đại học Quốc tế; Cố vấn Môi sinh Uỷ ban Quốc Tế Sông Mekong… Giáo sư Hộ chính là người vận động cho bằng được việc thành lập ngôi trường đại học đầu tiên ở miền Tây vào giữa thập niên 1960. Đó là Viện Đại học Cần Thơ, nơi canh nông trở thành môn khoa học chính quy được đào tạo như một chuyên ngành đại học.

Sau 9 năm sống dưới chế độ mới, giáo sư Hộ, từ khát vọng, trở nên thất vọng. Môi trường giáo dục bị thay đổi hoàn toàn. Nó bị cào xé rách nát để thay bằng chiếc áo thô đính băng đỏ. Ý nghĩa và triết lý giáo dục khai phóng bị vất xó. Theo lời kể của bác sĩ Ngô Thế Vinh, năm 1977, giáo sư Hộ phải học lớp chính trị 18 tháng về “chủ nghĩa xã hội khoa học”. Không chấp nhận chương trình giáo dục bị “đảng hóa”, giáo sư Hộ phản đối quyết liệt. Cuối cùng, năm 1984, khi được Chính phủ Pháp mời sang thỉnh giảng, giáo sư Hộ quyết định ở lại Paris. Tại Pháp, ông vùi mình vào Viện Bảo Tàng Thiên nhiên Quốc gia Paris (thuộc hệ thống Đại học Sorbonne), miệt mài làm việc suốt sáu năm, bổ túc cho công trình Cây Cỏ Việt Nam của ông – một công trình đồ sộ có giá trị đến mức giới thực vật học thế giới phải nghiêng mình ngưỡng mộ.

Nhắc đến giáo sư Hộ, không thể không nhắc đến giáo sư Nguyễn Duy Xuân. Không như giáo sư Hộ, giáo sư Xuân có số phận cay nghiệt gấp nhiều lần. Từng được giáo sư Hộ mời về Viện Đại học Cần Thơ thay mình ở ghế viện trưởng, giáo sư Xuân tốt nghiệp tiến sĩ kinh tế tại Đại học Vanderbilt-Hoa Kỳ. Giáo sư Xuân cũng là vị Tổng trưởng Bộ Văn hóa Giáo dục cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa. Một bài báo trên Thanh Niên (28-4-2015) nhắc lại: “Theo giáo sư Võ Tòng Xuân, trước ngày 30-4-1975, những người nào có chức sắc ở Viện Đại học Cần Thơ đều được cấp một tấm giấy coi như giấy thông hành để ra nước ngoài khi có biến cố. Với chức vụ tương đương bộ trưởng, giáo sư Nguyễn Duy Xuân có thể ra nước ngoài bất cứ lúc nào nếu muốn nhưng ông vẫn ở lại Việt Nam”.

Không chỉ không được trọng vọng, giáo sư Xuân còn bị tống đi tù, bị giam tại trại Hà-Nam-Ninh. Cuối cùng, năm 1986, giáo sư Xuân bỏ mạng chốn thâm sơn cùng cốc. Nhắc lại điều này, bác sĩ Ngô Thế Vinh không giấu được chua xót: “Tôi không thể không tự hỏi nếu không có 11 năm giam hãm đầy đọa độc ác và vô ích của những người cộng sản thắng cuộc, nếu giáo sư Nguyễn Duy Xuân, một tiến sĩ kinh tế tài ba và giàu lòng yêu nước, vẫn tiếp tục ở lại xây dựng Viện Đại học Cần Thơ với nhịp độ 1966-1975 thì không biết Viện Đại học Cần Thơ và ĐBSCL sẽ phát triển và tiến xa tới đâu”…

(Ảnh: Uyên Nguyên)

Sẽ phát triển và tiến xa tới đâu, nếu Việt Nam sau 1975 trân trọng trí tuệ và tài năng của các trí thức như giáo sư Phạm Hoàng Hộ, giáo sư Nguyễn Duy Xuân, giáo sư Lê Xuân Khoa, cụ Bùi Diễm, bác sĩ Ngô Thế Vinh, giáo sư Nguyễn Tiến Hưng, giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng, ông Đỗ Văn Thảo (cựu Phó Tổng Thanh Tra Ngân Hàng Quốc Gia; bị đi “cải tạo”), giáo sư Vũ Quốc Thông (Khoa trưởng Đại học Luật khoa Sài Gòn, cũng bị đi tù)?… Sẽ còn phát triển và tiến xa tới đâu, nếu chế độ đang cai trị – luôn dễ bị “kích động” một cách thái quá cái gọi là “tự hào dân tộc” – biết dùng hiền tài, để sự tự hào có phần đóng góp của những trí thức đỉnh cao và trí thức đúng nghĩa? Trí thức chân chính là những người không chỉ “thể hiện” lòng yêu nước bằng ngôn từ. Họ là những người không bao giờ ngưng bồn chồn lo lắng cho sự tụt hậu nước nhà cùng sự lấn át ngoại bang.

Trong bài viết trên tờ Một Thế Giới ngày 2-2-2017, tác giả Lê Học Lãnh Vân thuật lại tâm sự của giáo sư Phạm Hoàng Hộ trong một lần gặp ông tại Pháp giữa thập niên 1980: “Nhiều người Trung Quốc từ đại lục và cả từ Đài Loan, Singapore đã đến tìm học các bộ sưu tập thực vật Đông Dương của Pháp. Tôi không biết họ có chủ trương gì đó không. Tài nguyên nước mình, mình phải biết. Mình không biết mà người ta biết thì người ta xài hết của dân mình. Lãnh vực nào cũng vậy riết rồi người ta áp chế mình, ăn trên ngồi trước còn mình cắm đầu dưới đất, tiếng là có độc lập mà còn thua hồi thuộc Pháp!”…

Bác sĩ Ngô Thế Vinh (Ảnh: Quảng Pháp)

Cách đây hai năm, khi nghe giáo sư Lê Xuân Khoa vừa trải qua ca phẫu thuật ngặt nghèo, tôi đã vào viện thăm. Ông nằm giữa đống dây nhợ gắn quanh gần như kín người. Không thể nói vì miệng mũi còn vướng ống, ông ra hiệu cho cô con gái lấy tấm bảng. Ông viết, chỉ một câu, nhưng nghe nặng trịch, mỗi chữ như một nhát búa: “Tôi lo mất nước về tay Tàu rồi”. Và ông rươm rướm. Nằm trên giường bệnh, thập tử nhất sinh, ông chẳng nghĩ gì khác ngoài quê hương. Ông không lo gì khác ngoài cái lo “mất nước”, về sự lệ thuộc gần như toàn diện của Việt Nam với Trung Quốc. Bao nhiêu người trong hệ thống lãnh đạo Việt Nam hiện tại có thể bị đánh thức lòng tự ti dân tộc bởi nhát búa lương tri của một vị trí thức gần 90 tuổi như giáo sư Lê Xuân Khoa?

Chưa ai thống kê cho thấy hiện có bao nhiêu trí thức kiều bào vang danh nước ngoài nhưng không được mời về hoặc họ không buồn về. Thậm chí có những người bị cấm về, dù hệ thống tuyên truyền chế độ luôn ra rả về sự “trân trọng đón chào” trí thức hải ngoại. Một số trí thức đã quyết định không về. Họ không tin và họ có đủ bằng chứng để không tin nhà cầm quyền. Khi những Nguyễn Quang A, Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Chu Hảo… còn là “thành phần phản động” thì không ai còn ngây thơ để ngộ nhận sự “thành thật” của nhà cầm quyền đối với trí thức. 45 năm sau 1975, chế độ cai trị vẫn tiếp tục chính sách “triệt người”, “triệt” cả chính người của họ. Trí thức muốn đóng góp và xây dựng nhằm thay đổi chính sách đã và sẽ không có cơ hội.  

Một trong những trí thức mà khi tiếp xúc, tôi luôn nhìn thấy sự nhiệt tình dữ dội của ông dành cho nước nhà. Nói chuyện với ông có cảm giác như đang ngồi trước một sinh viên tràn đầy nhiệt huyết, dù ông đã gần 80 tuổi. Đó là bác sĩ Ngô Thế Vinh. Ông là một trong những người Việt Nam luôn nặng tình với miền Tây, với đồng bằng sông Cửu Long, một cách bền bỉ, dù quê quán ông ở Hà Nội. Ông là tác giả quyển khảo cứu Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng. Ông cũng là tác giả quyển Mekong, dòng sông nghẽn mạch… Việt Nam không chỉ có dòng Mekong nghẽn mạch. Việt Nam đang bị nghẽn cả dòng trí tuệ của các bậc trí thức minh tuệ-hùng tâm.

Bài viết của Linh Mục Bác sĩ Phạm Hữu Tâm

Image may contain: 2 people

Image may contain: Tam Pham, standing
Image may contain: 1 person, standing, possible text that says 'WE ARE HERE FOR YOU PLEASE STAY HOME'
Image may contain: one or more people and people standing, possible text that says 'WE ARE HERE FOR YOU PLEASE STAY HOME'
Image may contain: 1 person
+10

Tam Pham

Bạn thân mến,

Hôm nay tôi hoàn tất 3 tuần phục vụ tại Elmhurst Hospital Queens, NYC. Tình hình dịch bệnh Covit tại NYC đang giảm bớt cách khả quan. Số tử vong trong 3 ngày qua đều xuống dưới 500. Bệnh nhân vào ICU và nhập viện cũng giảm bớt. Nhân viên y tế được tăng cường, đặc biệt là các Bs và y tá Quân Y. Bản Cáo Phó cho Covit đã được soạn sẵn! Cùng chung sức, chúng ta chắc chắn sẽ chiến thắng cuộc chiến này!

Dịch bệnh Covit dạy tôi nhiều bài học. Hãy nhận ra và trân quí những gì mình đang có, nhiều khi rất routine như tự do đi lại, đi ăn phở, cho đến dự Thánh Lễ, họp mặt bạn bè. Hãy quí trọng thời gian và cơ hội phục vụ, yêu thương, chia sẽ, vì cuộc đời rất mong manh, nay còn mai mất. Hãy nhận ra tình yêu và tấm lòng của cuộc đời, những đóng góp rất âm thầm, nhỏ bé, nhưng tất cả gộp chung tạo nên cuộc đời này tốt và đẹp hơn.

Trước khi tôi đi có người chia sẽ “cuộc đời ai cũng muốn yên ổn và an toàn cho mình và gia đình”. Chắc có phần đúng. Nhưng tôi thấy cũng có rất, rất nhiều người lao mình ra phục vụ , bất chấp những rủi ro, hy sinh tiền bạc để giúp người khác. Chắc Ơn Trên đã đặt vào tâm hồn mỗi người cảm nhận và thao thức tình yêu, để khi đáp lại tiếng gọi đó, thì con tim chúng ta lại được tròn đầy. Trong hy sinh, chúng ta lại được ban thêm.

Kính chúc bạn luôn nhận ra được tiếng gọi của tình yêu. Cầu chúc bạn luôn có can đảm đáp trả!

Giêsu ơi ở cùng con luôn mãi
Chúa cùng đi con sẽ không sợ gì
Trên đường đời mặc cho bao chông gai
Bước với Ngài con sẽ mang tình yêu.

Vì sao chủ yếu quan chức về hưu lên tiếng khi Trung Quốc gây hấn?

Nhà nghiên cứu Biển Đông Đinh Kim Phúc: “Phản ứng trước các hành động khiêu khích của Trung Quốc trên biển Đông, cũng như phân tích âm mưu chiến lược của Trung Quốc đối với biển Đông, đối với Việt Nam cũng như khu vựa Đông Nam Á, thì toàn xuất hiện những quan chức, mà đứng trước tên các quan chức đó toàn là chữ ‘nguyên’ với chữ ‘cựu’…

Chúng ta biết rằng, các quy định của đảng cộng sản Việt Nam trong nội bộ, có 19 quy định mà đảng viên không được làm, đó là nói những vấn đề trái quan điểm, đường lối của đảng cộng sản Việt Nam.

Những vị này khi phát ngôn, vẫn phân tích được những âm mưu và thủ đoạn của Trung Quốc, nhưng tiếng nói của họ khi không còn giữ chức vụ, nhất là những chức vụ cao cấp trong hệ thống chính trị Việt Nam, thì những phân tích đó không đại diện cho quan điểm của đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam.”

  

Ai là Ngụy? – Ngô Trường An

Ai là Ngụy? – Ngô Trường An

Ai là Ngụy? – Ngô Trường An

 

Anh bạn cùng quê vô Bà Rịa dạy học từ thời bao cấp. Hôm qua anh về quê và vợ chồng anh ghé đến nhà thăm tôi. Ngồi nói chuyện, bất giác anh nhìn lên bàn thờ cha tôi và hỏi:

– Ba mày hồi trước là ngụy quân hay ngụy quyền vậy?.

Tôi hỏi:

– Ngụy quân là sao? Ngụy quyền là sao?

Anh ngạc nhiên:

– Ơ, mày không biết à? Ngụy quyền là người làm trong chính quyền ngụy, ngụy quân là lính trong chính quyền ngụy. Có thế mà không biết à?

Tôi lắc đầu trả lời:

Cha tui chỉ là một công chức của chính phủ Miền Nam thôi, chứ ổng có theo Cộng Sản đâu mà ngụy quân với ngụy quyền!.

Anh đưa mắt nhìn sang vợ rồi ngước mặt lên trần nhà cười lớn:

– Mày nói cái gì thế? Ngụy là chính phủ Miền Nam đó! Những người làm việc cho Miền Nam là ngụy quyền, ai đi lính là ngụy quân. Hiểu chưa?.

 

Tôi nghiêm mặt:

– Anh nói bậy! Anh có hiểu nghĩa tính từ NGỤY là gì không? Theo wikipedia, ngụy, có nghĩa là sự giả tạo, ví dụ như: Ngụy trang, ngụy tạo, ngụy biện, ngụy quân tử… Riêng về ngụy quyền là để ám chỉ một chính quyền do soán đoạt mà có (soán đoạt cũng có nghĩa là cướp) hoặc do quân xâm lược nước ngoài dựng lên để làm tay sai cho nó trong quá trình xâm lược. Vậy thì chính quyền của ông Ngô Đình Diệm ăn cướp từ chính quyền nào mà anh gọi là ngụy? Và chính quyền Miền Nam làm tay sai cho ai mà anh gọi là ngụy?.

 

Anh đừng nghĩ rằng, chính phủ VNCH là tay sai của Mỹ nha? Không đâu! Quân, dân, cán, chính Miền Nam chiến đấu để bảo vệ lãnh thổ tổ quốc của họ. Mỹ cũng có nghĩa vụ ngăn chặn làn sóng đỏ cộng sản tiến sâu vào phương nam. Do đó, họ viện trợ cho miền Nam Việt Nam và cùng quân dân miền Nam chiến đấu chống Cộng Sản bành trướng. Việt Nam Cộng Hòa nhận viện trợ của Mỹ, họ xem Mỹ là đồng minh cùng chung chiến hào, chứ chưa bao giờ nhận Mỹ là anh em, hay bạn vàng. Trong tất cả các khẩu hiệu, báo chí, thơ ca, âm nhạc… người Miền Nam chưa bao giờ ca ngợi Mỹ, tung hô chính phủ Mỹ… Và, tổng thống Ngô Đình Diệm là người phản đối Mỹ đưa quân sang tham chiến ở Miền Nam. Vậy thì, làm sao có thể gọi chính quyền Miền Nam là ngụy? Anh nói đi!

 

Anh chồng đưa mắt nhìn chị vợ, chị ta nghiêng người lên tiếng:

– Xưa nay em nghe người ta nói chính quyền cũ là ngụy quyền Sài Gòn, và bọn em cũng cứ thế mà gọi chứ cũng không nghĩ ngợi hay tìm hiểu gì. Vậy là, theo anh, dùng từ ngụy quân – ngụy quyền là không đúng phải hôn?

– Từ ngữ thì nó không sai, nếu dùng nó để ám chỉ cho chính quyền Miền Nam thì sai, nhưng để chỉ cho chính quyền Miền Bắc thì hoàn toàn đúng!

Anh bạn nghe tui nói vậy liền trợn mắt lên hỏi:

– Sao? Mầy nói chính quyền này là ngụy à?

 

– Không! Tôi chỉ dựa trên định nghĩa của wikipedia mà nhận xét. Ngụy quyền, có nghĩa rằng chính quyền đó có do cướp của nhà nước khác. Anh là giáo viên, chẳng lẽ anh không biết ông Hồ Chí Minh lãnh đạo đảng Cộng Sản cướp chính quyền từ tay Thủ Tướng Trần Trọng Kim? Như vậy, chính quyền hôm nay được thừa kế từ đời ông Hồ cướp từ tay người khác chứ còn gì nữa?.

 

Anh có biết, ông Lê Duẩn tuyên bố: “Ta đánh Mỹ đây là đánh cho Liên Sô, TQ, đánh cho các nước XHCN anh em…” quân đội mà đi đánh thuê tùm lum như vậy có phải là ngụy quân không?

Nếu chính phủ của ông Hồ là chính phủ của nhân dân Miền Bắc, mắc mớ chi treo hình ông Mác, ông Lê-nin, ông Mao… ở chốn nghị trường? Mắc mớ chi đưa ra chủ trương quyết đi theo con đường mà TQ đã chọn? Mắc mớ chi in chữ TQ trên đồng tiền lưu hành ở Miền Bắc? Và mắc mớ chi in hình quốc kỳ TQ trên con tem mang quốc hiệu nước VNDCCH???

 

Anh nói đi! Anh sống ở Miền Nam cũng gần 20 năm, anh có thấy chính quyền Miền Nam làm những điều như Miền Bắc vậy không mà anh nói chính phủ Miền Nam là ngụy?

– Mầy… phản động!

– Ôi trời! Nảy giờ nói chuyện với anh tui tưởng anh là con người biết đúng, biết sai. Không ngờ, anh như con Vẹt. Người ta nói ngụy thì anh nói ngụy, người ta hô phản động thì anh hô phản động… cứ lặp theo lời thiên hạ như thế thì cái đầu chỉ để đội nón thôi sao?

 

Thấy tình hình căng thẳng, chị vợ vội nắm tay chồng đứng dậy chào tui.

Tôi cũng đứng lên cúi gập người tiễn khách:

– Vâng, xin chào anh chị. Cầu chúc anh chị nhiều sức khỏe!


Ngô Trường An

Covid-19: Phòng thí nghiệm P4 tại Vũ Hán, bài học lọc lừa

Thuc Tran and 7 others shared a link.
Liệu siêu vi corona SARS-CoV-2 gây đại dịch trên thế giới “sổng chuồng” từ phòng thí nghiệm P4 tại Vũ Hán chứ không phải tự nhiên xuất hiện tại chợ động vật hoang dã như chính quyền Trung Quốc lý giả…

Covid-19: Phòng thí nghiệm P4 tại Vũ Hán, bài học lọc lừa

Tú Anh

Liệu siêu vi corona SARS-CoV-2 gây đại dịch trên thế giới “sổng chuồng” từ phòng thí nghiệm P4 tại Vũ Hán chứ không phải tự nhiên xuất hiện tại chợ động vật hoang dã như chính quyền Trung Quốc lý giải ? Không thể loại trừ xác suất siêu vi lây cho một nhà khoa học, một nhân viên, và người này lây nhiễm cho dân Vũ Hán. Làm thế nào, phòng thí nghiệm do Pháp xuất khẩu, lại có thể thoát khỏi mọi kiểm soát?

Không phải vô cớ mà Mỹ điều tra và Anh, Pháp muốn Trung Quốc trả lời sáng tỏ. Cũng phải có lý do Trung Quốc cấm chuyên gia Tổ Chức Y Tế Thế Giới đến thanh tra tận nơi cũng như giấu biệt thông tin về một nhà nghiên cứu trẻ tuổi Hoàng Diễm Linh.

Cội nguồn : Ngây thơ hay tham lợi

Đối với công luận Pháp, nước Pháp thiếu chín chắn khi cung cấp cho Hoa lục một phòng thí nghiệm tối tân, được xem là “quả bom hạt nhân sinh học“. Ngược dòng thời gian về năm 2004 với một số nhân vật có thế lực lúc bấy giờ qua bài điều tra của Le Figaro:   “Làm thế nào, phòng thí nghiệm do Pháp xuất khẩu, thoát khỏi mọi kiểm soát?”.

Nghi vấn phòng thí nghiệm P4 tại Vũ Hán có thể là nơi xuất phát SARS-CoV-2, gây ra đại dịch được đặt tên Covid-19 (theo yêu cầu của Trung Quốc) được ba nhà lãnh đạo Tây phương trực tiếp nêu lên và muốn làm sáng tỏ : Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo, đồng nhiệm Anh Dominic Raab và tổng thống Pháp Emmanuel Macron thì tuyên bố, « có nhiều chuyện xảy ra ở đó mà chúng ta không biết ».

Paris bối rối là phải. P4 là phòng thí nghiệm sinh học cực an toàn dùng để nghiên cứu các loại siêu vi cực độc mà chưa có thuốc trị, cũng không có vác-xin phòng ngừa. Vào lúc đó, đề án hợp tác trong một lãnh vực nhạy cảm như thế với y tế Trung Quốc đã gây căng thẳng trong nội bộ của Pháp.

Từ năm 2004, giới tình báo và an ninh quốc phòng, chuyên gia vũ khí sinh học Pháp đã khuyến cáo các chính phủ tại Paris không nên xuất khẩu phòng thí nghiệm P4, hạng “an toàn tối đa” cho Trung Quốc để nghiên cứu siêu vi SARS. Tuy nhiên, giới lãnh đạo chính trị và công nghiệp, với những lý do khác nhau, người thì sợ Bắc Kinh trả đũa, kẻ muốn hợp tác để kiểm soát không cho đối tác âm thầm chế tạo vũ khí vi trùng.

Nhóm phóng viên  điều tra của Radio France phát hiện vào năm 2004, tổng thống Jacques Chirac và chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào quyết định hai nước hợp tác chống các bệnh truyền nhiễm mới nẩy sinh. Trong chiều hướng này, ngoại trưởng Michel Barnier ký thỏa thuận chuyển giao một phòng thí nghiệm P4.

Trước đó, thủ tướng đầu tiên của tổng thống Chirac, nhiệm kỳ hai, Jean- Pierre Raffarin (một người bạn của Trung Quốc như đánh giá của Bắc Kinh) gặp bác sĩ Trần Chu, đang được đào tạo chuyên môn tại bệnh viện Saint Louis, và là người thân cận của cựu chủ tịch Giang Trạch Dân, tiền nhiệm của Hồ Cẩm Đào.

Một năm trước đó, 2003, Trung Quốc bị dịch Viêm phổi cấp tính SARS. Theo lời kể của một công chức cao cấp, theo dõi hồ sơ này, vào lúc đó trong giới chính trị Pháp, một số người cho rằng cần phải giúp các nhà sinh học Trung Quốc nghiên  cứu các loại siêu vi mới như Ebola, SARS, trong điều kiện tốt. Tránh cho họ  tự mò mẫm nghiên cứu với các phương tiện thiếu thốn và kiến thức còn hạn hẹp. Nói rõ hơn là không để Trung Quốc âm thầm chế tạo vũ khi sinh học.

Nhưng dự án này gây tranh luận trong nội bộ Pháp. Jacques Chirac, Jean-Pierre Raffarin ủng hộ. Trong giới y khoa, trong đó có bác sĩ cựu bộ trưởng Bernard Kouchner tán đồng. Nhà doanh nghiệp kỹ nghệ dược phẩm, vắc-xin Alain Merieux, cũng hăng hái cùng điều hành hội đồng chỉ đạo với đối tác bác sĩ Trần Chu.

Trái lại, các chuyên gia chống phổ biến vũ khí sinh học ở bộ Ngoại Giao, bộ Quốc Phòng, Văn Phòng Quốc Phòng và An Ninh Quốc Gia trực thuộc phủ thủ tướng và trong giới nghiên cứu khoa học đều lo ngại. Họ sợ P4 biến thành nơi chế tạo vũ khí sinh học. Nhất là, khác với vũ khí hóa học và hạt nhân, cộng đồng quốc tế không có một cơ chế kiểm soát các phòng thí nghiệm “y tế“.

Cụ thể là một số phòng thí nghiệm loại P3, lưu động, mà chính phủ Jean-Pierre Raffarin bán cho Trung Quốc ngay sau khi dịch SARS kết thúc, cũng không được Trung Quốc xác minh dùng để làm gì. Phe tìm cách trì hoãn thi hành thỏa thuận khuyến cáo chính phủ Pháp đừng xem nhẹ bởi vì “P4 là một nhà máy nguyên tử vi khuẩn”.

Gửi  trứng cho ác: Viện P4 Vũ Hán

Tuy nhiên, giới lãnh đạo chính trị quyết định thi hành, chống lại ý kiến của các chuyên gia. P4 được xây dựng xong vào năm 2015. Ngày P4 Vũ Hán đi vào hoạt động, tháng 01/2018, trùng hợp với chuyến viếng thăm của tổng thống Emmanuel Macron. Pháp cũng làm nhiều cách để kéo dài thời gian nhưng cuối cùng cũng phải “giao hàng“, một chuyên gia cho biết như thế.

Bởi vì vào thời điểm đó, Pháp có nhiều dự án khác với Trung Quốc như xây một nhà máy xử lý phóng xạ, hợp đồng bán máy bay Airbus. Khác với Hoa Kỳ, Pháp chỉ là cường quốc hạng trung, không có đủ khả năng đối đầu với các biện pháp trả đũa của Trung Quốc. Bắc Kinh còn bắt chẹt doanh nghiệp Pháp để chiếm đoạt công nghệ. Theo một nhà ngoại giao Pháp, cái tội của chính quyền Pháp là “quá ngây thơ, nghĩ là có thể tin vào chữ tín của chính quyền Trung Quốc”.

Những gì xẩy ra sau đó cho đến đại dịch Covid-19 chứng minh là phe “không tin” Trung Quốc có lý. Nhà thầu Trung Quốc lãnh phần xây dựng nhưng không đáp ứng được nhu cầu kiến trúc bảo đảm an toàn rất phức tạp.

Thất vọng vì không thấy kết quả hợp tác cụ thể, năm 2015, đồng chủ tịch hội đồng hợp tác song phương Alain Merieux từ chức. Nhóm chuyên gia Pháp, 50 người, lẽ ra sẽ cùng làm việc với các đồng nghiệp Trung Quốc tại P4 trong 5 năm đầu, không bao giờ đến Vũ Hán. Bắc Kinh ngăn chận hay vì Pháp thiếu tài chính?

Khi phòng thí nghiệm bán thú hoang ra chợ

Điều rõ ràng là Trung Quốc không minh bạch, không tôn trọng thỏa thuận. Hoạt động tại P4 được giữ kín. Đại sứ Mỹ tại Bắc Kinh, sau khi thăm P4 năm 2018, đã cảnh báo Washington về tình trạng thiếu an toàn của phòng thí nghiệm.

Ngày 16/04/2020, báo chí Trung Quốc cũng nói đến những bất cập: Nhiều nhà khoa học tại P4 đã vất dụng cụ xuống cống rãnh mà không qua sát trùng. Họ còn bán thú rừng thử nghiệm ra chợ Vũ Hán, để có thêm thu nhập.

Một nhà nghiên cứu mất tích

Nhưng sự kiện gây bối rối cho Trung Quốc là các câu hỏi liên quan đến số phận một chuyên gia về siêu vi SARS tại P4 tên Hoàng Diễm Linh. Phải chăng nhà nghiên cứu trẻ tuổi này là bệnh nhân ZERO.

Ảnh của Hoàng Diễm Linh đột nhiên bị xóa trên trang mạng của P4. Viện P4, lúc đầu cũng chối là không có nhân viên tên Hoàng Diễm Linh rồi sau đó đăng trở lại. Truyền thông Nhà nước lập đi lập lại “Hoàng Diễm Linh, vẫn khỏe mạnh, không bị nhiễm siêu vi corona, đang làm việc ở một thành phố khác, không trở lại Vũ Hán”. Nhưng cho đến nay, Hoàng Diễm Linh vẫn biệt vô âm tín.

Nguồn: Le Figaro, RFI, SciencePost

TỘI CỦA ÔNG VŨ HUY HOÀNG, TỘI CỦA ÔNG LÊ THANH HẢI VÀ TỘI CỦA THẦY GIÁO NGUYỄN NĂNG TĨNH?

Tho Nguyen and 2 others shared a post.
Image may contain: 3 people, people sitting, people standing and indoor
Image may contain: 1 person
Image may contain: 1 person
Image may contain: one or more people, people standing and outdoor
Nguyen Ngoc ChuFollow

TỘI CỦA ÔNG VŨ HUY HOÀNG, TỘI CỦA ÔNG LÊ THANH HẢI VÀ TỘI CỦA THẦY GIÁO NGUYỄN NĂNG TĨNH?

1. Trong lịch sử nước ta, chưa bao giờ có nhiều án oan như bây giờ.

Ông Nguyễn Thanh Chấn thoát nạn tù chung thân sau hơn 10 năm tù oan (29/8/2003-4/11/2013) nhờ hung thủ ra tự thú. Mẹ tử tù Hồ Duy Hải (bị tù từ 21/3/ 2008) kêu oan suốt 12 năm cho con, rung động cả đất nước, mà vẫn chưa được minh oan. Vụ án bác sĩ Hoàng Công Lương. Vụ án Đặng Văn Hiến. Hàng ngàn hộ dân oan ở Thủ Thiêm. Không kể xiết. Nhà văn Phạm Lưu Vũ viết trong bài “Khóc Tố Như”:

Ngày xưa oan chỉ một nhà
Ngày nay muôn dặm đều là dân oan!

2. Điều khác biệt so với mọi thời là nguyên nhân dẫn đến án oan. Nhiều vụ án oan không phải do sai lầm trong xét xử, mà là do cố tình xử sai. Cố tình xử sai do bị sai khiến bởi quyền lực. Cố tình xử sai vì bị mua chuộc bởi đồng tiền.

Chưa bao giờ có nhiều “án bỏ túi” như bây giờ. Chưa bao giờ nhân cách của các quan tòa bị thấp kém như hiện nay. Những ai từng liên quan đến các vụ kiện thì mới thấm hiểu được một phần sự nhơ nhớp của các quan toà đương đại.

3. Đừng nói rằng vơ đũa cả nắm. Có ai chỉ ra được quan tòa nào không chịu khuất phục bởi quyền lực? Không bị mua chuộc bởi đồng tiền? Hãy nêu ra một cái tên?

4. Ngày 20/4/2020 Tòa án cấp cao Hà Nội đã y án Tòa án sơ thẩm Nghệ An ngày 15/11/2019, xử Thầy Giáo Nguyễn Năng Tĩnh 11 năm tù giam và 5 năm quản chế về tội danh: “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

5. Thầy Nguyễn Năng Tĩnh là giảng viên âm nhạc trường Cao Đẳng Văn Hóa và Nghệ Thuật Nghệ An. Thầy thể hiện chính kiến một cách ôn hòa. Thầy tham gia biểu tình chống Forrmosa. Thầy tham gia biểu tình bảo vệ biển đảo. Thầy chống cho Trung Quốc thuê đất.Thầy dạy học trò hát bài hát “Trả lại cho dân”. Không thể vì những điều đó mà lại kết án Thầy Nguyễn Năng Tĩnh đến 11 năm tù giam. Đây chắc chắn là một vụ án oan.

6. Ông Vũ Huy Hoàng cựu Bộ trưởng Bộ Công Thương (2007-2016) đã phá nát nền kinh tế Việt Nam với các dự án thua lỗ lên đến hàng trăm ngàn tỷ đồng. Tội của ông Vũ Huy Hoàng là tội “Phá Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”.

Vậy mà ông Vũ Huy Hoàng chỉ bị xóa tư cách “Nguyên bộ trưởng bộ Công Thương”, cách chức “ Bí thư Ban cán sự Đảng bộ Công Thương 2011-2016” – là những chức của quá khứ, không có thực. Ông Vũ Huy Hoàng không phải chịu một ngày tù nào.

7. Ông Lê Thanh Hải cựu Bí thư Thành ủy TPHCM (2006-2016) gây tội tày đình, mang tai họa cho hàng chục ngàn dân oan Thủ Thiêm, làm thiệt hại cho nhà nước hàng trăm ngàn tỷ đồng, mà cũng chỉ bị cách cái chức không tồn tại là “Bí thư Thành ủy HCM nhiệm kỳ 2010-2015”.

Tội của ông Lê Thanh Hải là tội “ Phá Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Vậy mà ông Lê Thanh Hải chưa phải chịu một ngày tù nào.

8. So với ông Vũ Huy Hoàng và ông Lê Thanh Hải mới thấy rõ mức độ oan trái của Thầy Nguyễn Năng Tĩnh.

Đừng nói rằng “mọi sự so sánh là khập khiễng”. Vì các tội, dù theo điều khoản nào, cuối cùng cũng quy về các hình phạt mà nặng nhất là tù giam và tử hình.

Với nhân dân, không ai thấy Thầy Nguyễn Năng Tĩnh có hại. Họ chỉ thấy những người như ông Vũ Huy Hoàng, ông Lê Thanh Hải mới là nguy hại.

9. Làm thầy giáo mà không thể hiện được chính kiến của mình thì không thể đứng lớp, vì không có khả năng dạy cho học trò sự tự do thể hiện chính kiến. Có tự do thể hiện chính kiến thì mới có sáng tạo mà sinh ra phát minh. Tự do thể hiện chính kiến là thần cốt của tự do học thuật. Tự do học thuật là mục tiêu thiêng liêng của mọi sự học. Không thể bày tỏ chính kiến thì mọi sự học đều đi đến lịm tắt.

Nghề giáo thiêng liêng – được tôn làm thầy – chính là nhờ đã truyền dạy cho học trò sự tự do tư duy. Nhờ đó nhân loại mới không ngừng sáng tạo. Nhờ đó dân tộc mới độc lập tự chủ. Nhờ đó con người mới không bị khuất phục.

10. Tòa Giám đốc thẩm hãy sáng suốt trả lại công bằng cho Thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh.

Bỏ tù người thầy vì bày tỏ chính kiến là toan tính triệt đường nghề giáo. Tư tưởng của nhà giáo không thể giam cầm. Khí phách của nhà giáo không thể khuất phục.

Hãy nghe những lời nói của Thầy giáo Nguyễn Năng Tĩnh trong cuối phiên Sơ thẩm 15/11/2019:

“…Tôi khát khao một đất nước tự do, dân chủ.
Tôi lo lắng cho vận mệnh đất nước và dân tộc; lo lắng cho môi trường sống của nhân dân bị đầu độc.
Tôi không thể vô cảm và cam tâm trước nguy cơ mất chủ quyền quốc gia, trước mối đe doạ xâm lăng của Trung Quốc.
Dù mức án có cao đến đâu, 10 năm, 20 năm, kể cả tử hình, tôi cũng không thay đổi chính kiến”.

Các nhà giáo ở đâu? Các luật sư ở đâu?

Khảo sát Pew: 91% người Mỹ xem Trung Quốc là ‘đe dọa’ với Mỹ

Khảo sát Pew: 91% người Mỹ xem Trung Quốc là ‘đe dọa’ với Mỹ

  • Xuân Thành
  • Thứ Tư, 22/04/2020 • 1.5k Lượt Xem
  • Trung tâm nghiên cứu Pew mới đây đã công bố một bản khảo sát cho thấy 91% người Mỹ bây giờ xem sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc trên thế giới là “đe dọa” đối với nước Mỹ.

Truyền thông Trung Quốc kích động người dân phá hủy Tòa Bạch Ốc, nhưng lại đưa nhầm ảnh Tòa Nhà Quốc hội Mỹ. (Ảnh chụp màn hình)

Khảo sát của Pew phát hiện người Mỹ gần như hoàn toàn nhất trí lo lắng về sự thống trị của Trung Quốc trong bối cảnh virus corona Vũ Hán đã đang tàn phá Mỹ.

Khoảng 91% người Mỹ nói sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc là mối đe dọa đối với Mỹ. Trong đó, 62% nói Trung Quốc là “mối đe dọa lớn”, và 29% nói Trung Quốc là “mối đe dọa nhỏ”.

Người Mỹ bây giờ coi Trung Quốc là mối đe dọa hàng đầu đối với nước Mỹ, vượt trên các yếu tố khác như tình trạng nóng lên toàn cầu, sức mạnh và ảnh hưởng của Nga, điều kiện kinh tế thế giới và hiện trạng đói nghèo toàn cầu.

Khảo sát mới nhất của Pew cho thấy xu hướng người Mỹ lo lắng về Trung Quốc tiếp tục tăng trong vài năm qua. Khoảng thời gian từ năm 2017 đến nay, số người Mỹ nói Trung Quốc là “mối đe dọa lớn” đối với Mỹ đã tăng thêm 21%.

Theo Pews, những yếu tố kinh tế như Mỹ bị mất việc làm sang Trung Quốc và thâm hụt thương mại Mỹ – Trung vẫn duy trì là nhân tố khiến người Mỹ có cái nhìn tiêu cực về Trung Quốc. Bên cạnh đó các yếu tố khác như chính sách nhân quyền của chế độ Trung Quốc và suy thoái môi trường tại quốc gia này cũng làm người Mỹ lo lắng.

Đánh giá của người Mỹ về Trung Quốc cũng khá khác biệt theo đảng phái. Thành viên Đảng Cộng hòa vẫn lo lắng về Trung Quốc hơn thành viên Đảng Dân chủ. Gần 3/4 thành viên Đảng Cộng hòa hoặc những người độc lập có khuynh hướng Cộng hòa có cái nhìn tiêu cực về Trung Quốc, so với 6/10 thành viên Đảng Dân chủ và những người độc lập có khuynh hướng Dân chủ.

Khảo sát của Pew cũng cho thấy người già Mỹ lo lắng về Trung Quốc hơn những người trẻ. Gần 7/10 những người 50 tuổi trở lên xem sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc là mối đe dọa lớn với Mỹ, trong khi tỷ lệ đó ở người trẻ độ tuổi 18-29 chỉ khoảng 50%.

Cuộc khảo sát của Pew được thực hiện trong khoảng thời gian từ ngày 3/3 đến ngày 29/3, dựa trên mẫu ngẫu nhiên 1.000 người Mỹ trưởng thành.

Xuân Thành

M.TRITHUCVN.NET

Khảo sát Pew: 91% người Mỹ xem Trung Quốc là ‘đe dọa’ với Mỹ – Trí Thức VN

Pew mới đây đã công bố một bản khảo sát cho thấy 91% người Mỹ bây giờ xem sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc trên thế giới là “đe dọa” đối với nước Mỹ.