CÂU CHUYỆN NGÀY 30 THÁNG 4: AI LÀ KẺ THÙ?

Xuyên Sơn

Sách Cổ Học Tinh Hoa có câu chuyện sau:

[Trích dẫn]

Tựa:

QUÝ LỜI NÓI PHẢI

Vua nước Tấn đi chơi thuyền.

Các quan đi hầu đông đủ cả.

Vua hỏi:

– Loan Doanh ta đã cấm cố một nơi,

con là Loan Phường trốn chạy ra ngoại quốc. Có ai biết Loan Phường bây giờ ở đâu không?

Các quan yên lặng, không ai nói gì cả.

Người lái thuyền tên là Thanh Quyên buông tay chèo đứng dậy thưa rằng: -Nhà vua hỏi Loan Phường làm gì?

Vua nói:

– Từ khi ta đánh được họ Loan đến nay, nghe họ Loan người già chưa chết hết, người trẻ đã lớn lên. Ta lo họ phục thù, cho nên ta mới hỏi.

Thanh Quyên:

– Nếu nhà vua khéo sửa sang chính sách nước Tấn, trong được lòng quan, ngoài được lòng dân, thì dù cho còn con họ nhà Loan mà làm gì được nhà vua. Nhưng nếu nhà vua không sửa sang chính sách nước Tấn, trong mất lòng quan, ngoài mất lòng dân thì ngay cả những người ngồi trong thuyền này ai cũng là con nhà họ Loan cả.

Vua khen:

– Ngươi nói phải lắm.

Rồi sáng hôm sau cho đòi Thanh Quyên đến, ban cho một vạn mẫu ruộng.

Thanh Quyên từ không nhận.

Vua nói:

– Lấy một vạn mẫu ruộng ấy đổi lấy một lời nói kia, kể ra nhà người còn thiệt mà quả nhân còn lợi nhiều, nhà ngươi cứ lấy.

Ấy người đời cổ quý lời nói phải như thế đấy.

[Hết trích dẫn]

Vua Tấn trong câu chuyện trên là

Tấn Bình Công thời Xuân Thu ở Trung Quốc.

Loan Doanh là bầy tôi của vua Tấn.

Vì bị gièm pha mưu hại nên ông ta chạy sang nước Tề.

Vua Tề muốn dùng Loan Doanh chống Tấn nên cấp quân cho họ Loan quay về đánh Tấn.

Loan Doanh đánh úp kinh thành Giáng Đô, khiến Tấn Bình Công phải bỏ chạy. Nhờ có Phạm Mang giúp,

quân Tấn sau đánh bại được Loan Doanh.

Cả họ Loan sau đó bị diệt tộc,

chỉ còn Loan Phường trốn thoát sang nước Tống.

Vua Tấn tuy diệt được cả họ Loan, nhưng vẫn còn Loan Phường sống sót nên thâm tâm ông ta vẫn lo sợ có ngày họ Loan báo thù, vì vậy mà có câu chuyện trên.

Chuyện xưa đã trên hai ngàn năm, tưởng chỉ kể cho vui, nhưng ai biết được rằng đời nay có câu chuyện giống như vậy đang xảy ra?

****

Năm xưa, quân Cộng Sản miền Bắc tiến chiếm miền Nam, cuộc chiến kết thúc ngày 30 tháng Tư 1975.

Sau khi chiến thắng,

Cộng Sản hứa sẽ “khoan hồng” cho tất cả người đã từng chiến đấu trong quân đội miền Nam hoặc làm việc cho chính quyền miền Nam, kêu gọi hòa giải dân tộc, cùng tái thiết đất nước.

* Nhưng những gì CS nói và CS làm khác xa nhau.

CS đã lùa hàng triệu quân cán chính của chế độ miền Nam cũ vào các trại gọi là để “học tập cải tạo”,

kỳ thực là các trại lao động khổ sai,

để cho họ chết lần mòn vì lao động quá sức, thiếu ăn, thiếu thuốc men.

Ai trốn trại bị xử bắn không thương tiếc.

Vợ con những người này cũng không được buông tha, họ bị ép đi các vùng gọi là “kinh tế mới”, là những nơi đất hoang chưa được khai thác.

Họ phải bỏ nhà cửa ở thành phố lên những vùng đất hoang đó,

được cấp lương thực chỉ đủ vài tháng, với nhiệm vụ khai khẩn đất đai.

Nhiều người sau khi hết lương thực phải mò về lại thành phố kiếm sống,

nhưng nhà cửa đã bị chính quyền CS chiếm, họ trở thành những kẻ vô gia cư, sống lây lất đầu đường xó chợ.

Ai may mắn còn giữ được nhà thì trở thành những công dân hạng hai trong chế độ mới. Họ bị liệt vào thành phần “ngụy”, không được nhận vào các cơ quan nhà nước, không được vào làm các công ty quốc doanh

(thời đó hầu hết các công ty đều là quốc doanh),

không được kết nạp vào Đảng CS hay Đoàn Thanh Niên CS,

thi vào đại học bị xếp cuối bảng thứ tự ưu tiên, phải được điểm thật cao thì may ra mới đậu.

Không sống được với CS, hàng triệu người đã bỏ nước ra đi bằng cách đào thoát trên những chiếc thuyền mong manh.

Hàng trăm ngàn người đã bỏ xác trên biển cả, vì bão tố, vì thiếu xăng dầu, vì thiếu lương thực, vì lạc hướng, vì hải tặc, và nhiều lý do khác nữa.

Có những người vượt biên bằng đường bộ qua Campuchia định đến Thái Lan thì gặp phải quân kháng chiến Cộng Sản Khmer Đỏ.

Vốn thù hận CS Việt Nam nên họ trút giận lên những người Việt nào rơi vào tay họ.

Họ hãm hiếp phụ nữ, giết chết nam giới, trấn lột, hoặc bắt cóc đòi tiền chuộc mạng.

CS đã gọi những người bỏ nước ra đi là “rác rưởi trôi dạt về bên kia bờ đại dương”.

Những người ở lại cũng không được yên. CS đã mở các chiến dịch gọi là

“đánh tư sản mại bản” nhằm vào những người có chút ít của cải.

CS lập ra những đội kiểm tra, bất cứ nhà nào có chút của cải là các đội kiểm tra ập vào kiểm kê. Họ xáo tung đồ đạc để tìm tiền, vàng bạc hoặc các đồ quý giá.

Nhà nào bị kiểm kê là coi như tan hoang, dù không giàu có, của cải vẫn bị tịch thu.

Không có luật lệ, quy định nào về việc kiểm kê này, đội kiểm kê muốn lấy gì thì tùy thích.

Thời đó, ai chống đối thì bị ghép vào tội “phản cách mạng” là coi như đi tù rục xương.

Tất cả những của cải thu được không ai biết nó đi đâu.

Trên danh nghĩa nó được thu về cho “chính quyền cách mạng”

để “xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa”, nhưng thực tế nó vào túi các cán bộ kiểm kê và những người lãnh đạo.

Năm 1979, Trung Quốc xua quân tràn qua biên giới phía bắc Việt Nam để “dạy cho Việt Nam một bài học” vì Việt Nam đã đưa quân sang xâm lăng Campuchia mấy tháng trước đó.

Cuộc chiến chỉ kéo dài gần một tháng và kẻ được học “bài học” không phải là Việt Nam mà là Trung Quốc.

Trong cuộc chiến này quân đội Trung Quốc đã bị tổn thất nặng nề về nhân mạng.

Sau khi quân Trung Quốc rút khỏi Việt Nam, chính quyền CS Việt Nam coi người Việt gốc Hoa là những đối tượng bị nghi ngờ.

Đa số người gốc Hoa đã sinh sống lâu đời ở Việt Nam. Nhiều người sinh trưởng ở Việt Nam, chưa từng về Trung Quốc.

Có người không còn liên hệ gì với Trung Quốc, dù vẫn còn nói được tiếng Hoa. Nay họ bỗng trở thành đối tượng bị nghi kỵ.

Chính quyền CSVN đã ép họ phải hồi hương, tức là quay về lại Trung Quốc. Hàng trăm ngàn người Việt gốc Hoa đã phải bỏ nhà cửa, tài sản, cơ nghiệp xây dựng từ mấy đời, để đi qua biên giới Trung-Việt.

Trung Quốc thì lại không muốn nhận những người này, cho nên rốt cuộc họ bị kẹt ở biên giới (phía bên Trung Quốc).

Sự kiện này được gọi là “Nạn Kiều” hay “Hoa Kiều Hồi Hương”.

CSVN luôn đổ lỗi cho Trung Quốc xúi giục người gốc Hoa hồi hương,

sự thực là chính CSVN đã ép họ đi.

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, những người mà CS gọi là

“ngụy quân ngụy quyền” phần lớn đã qua đời, hoặc ra đi nước ngoài.

Những người còn sống thì đã già nua. Thế nhưng bất cứ ai trong lý lịch 3 đời còn dính tới “ngụy” là vẫn bị phân biệt đối xử.

Sách giáo khoa dạy cho trẻ em vẫn đầy những từ ngữ hằn học, cay cú về cái chế độ từ lâu đã không còn tồn tại, tựa như nó vẫn còn là mối đe dọa với chế độ CS vậy.

Nếu như sau gần 50 năm, CSVN xây dựng được một chế độ dân chủ, tiến bộ, xã hội công bằng, thì cho dù cái đám con cái “ngụy” còn đông đúc đi nữa, thì họ có làm được gì để xoay chuyển tình thế?

Nhưng rõ ràng là CSVN đã không làm được điều đó.

Họ không xây dựng được chế độ dân chủ, không đem lại công bằng cho xã hội.

Chính quyền đầy những quan chức tham nhũng, thối nát.

Xã hội đầy dẫy bất công, giàu nghèo cách biệt.

Công an, cảnh sát sách nhiễu dân. Nhà cửa, đất đai của dân bị cưỡng chế vô cớ, tòa án xét xử bất công. Đâu đâu cũng có dân oan.

Chính sự thối nát của chính quyền CSVN là điều kiện tốt để giúp cho bọn “ngụy”, bọn “ba que” ngóc đầu lên, vì khi dân chúng oán giận thì họ phải tìm ai đó đồng cảm với mình để ta thán, và những người đồng cảm đó không ai khác hơn là bọn “ngụy”.

Nếu như chính quyền CSVN mà tốt đẹp, trong sạch, thì những trang facebook, những kênh Youtube của bọn “phản động”, “ba que” trong và ngoài nước như Anh Chỉ Râu Đen, Trương Quốc Huy, Lisa Phạm, v.v… chẳng có mấy ai thèm đọc hay nghe, vì bọn họ đâu có chuyện gì để nói!

Năm 1861, nước Mỹ xảy ra nội chiến, liên bang miền Bắc và liên minh miền Nam đánh nhau vì bất đồng về chế độ nô lệ.

Miền Bắc muốn xóa bỏ chế độ nô lệ trong khi miền Nam muốn duy trì.

Vì kinh tế miền Nam chủ yếu dựa vào nông nghiệp, nên họ muốn có nô lệ người da đen để làm công việc đồng áng.

Kết quả miền Bắc chiến thắng vào năm 1865.

Sau khi chiến thắng, có hai khuynh hướng đối nghịch nhau trong chính quyền liên bang miền Bắc, một phe thì muốn trừng phạt miền Nam,

một phe chủ trương xóa bỏ hận thù, cùng chung tay tái thiết đất nước.

Cuối cùng phe xóa bỏ hận thù thắng thế.

Chính quyền liên bang đã chú tâm vào việc xóa bỏ chế độ nô lệ và tái thiết kinh tế miền Nam.

Không có trả thù, không có sự phân biệt đối xử với người miền Nam.

Chỉ sau vài thập niên, Hoa Kỳ là một quốc gia hoàn toàn thống nhất, không chỉ về địa lý, chính trị, mà thống nhất cả lòng người.

CSVN đã bỏ lỡ cơ hội thu phục nhân tâm, thống nhất lòng người sau năm 1975.

Nhưng họ có …. cả gần nửa thế kỷ để làm chuyện đó, mà có vẻ như họ không muốn làm.

Cái mà họ quan tâm là làm sao tận diệt được bọn “ngụy, ba que”,

không cho chúng ngóc đầu lên, làm sao để bảo vệ chế độ CS đến cùng.

Họ vẫn tiếp tục bóp méo lịch sử, nhồi nhét vô đầu thế hệ trẻ những lời tuyên truyền dối trá mà họ gọi đó là lịch sử.

Chả trách sao bây giờ các nhà giáo vẫn thường hay kêu ca là học sinh bây giờ dốt sử.

Viết sử, dạy sử không nhằm mục đích nâng cao kiến thức mà chỉ nhằm mục đích tuyên truyền nhồi sọ thì làm sao học sinh thích học được.

Trở lại chuyện nước Tấn. Sau đời vua Tấn Bỉnh Công, nước Tấn còn tồn tại thêm hơn 100 năm nữa.

Đến đời vua Tấn Tĩnh Công, ba gia tộc Hàn, Triệu, Ngụy vốn là bầy tôi của nhà Tấn, đã có âm mưu cướp nước từ lâu, truất phế vua Tấn.

Nước Tấn bị diệt vong, lãnh thổ bị chia thành ba nước Hàn, Triệu, Ngụy.

Rốt cuộc nước Tấn không bị con cháu họ Loan tiêu diệt như Tấn Bình Công lo sợ, mà bị chính những gia tộc được coi là “công thần” tiêu diệt.

Như người chèo thuyền Thanh Quyên đã nói:

nếu không sửa sang chính sự,

thì chính những người đang ở bên cạnh mình sẽ là kẻ thù tiêu diệt mình.

******

Ghi chú:

Sách “Cổ học tinh hoa” do hai học giả Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân biên soạn năm 1926.

Sách này gom góp những câu chuyện hay trong lịch sử và văn chương Trung Quốc với ý nghĩa răn đời.

Sách có thể được xem miễn phí trên mạng

(dùng Google tìm kiếm).

Blogger: Người Vá Trời

https://nguoivatroi.blogspot.com/

Thiếu tá Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy đã đánh và phá điều tra của X4 Bộ Công An sau 30-4 như thế nào

Thiên Nga thiếu tá điệp viên Nguyễn Thanh Thủy với lý tưởng Quốc Gia sáng ngời, bà cho ta thấy :

  1.  Không ai ra khỏi tù X4 của Bộ Công An mà không hoặc chết hoặc cộng tác với giặc.
  2.  Bà ra khỏi X4 vì phép lạ từ Chúa (giống như trường hợp trại Cổng Trời, Lý bá Sơ của đại úy Phan Nhật Nam, tù đày của trung tá Phạm quang Trình, …) và lý tưởng Quốc Gia VNCH.
  3. Ngày 28-4 Bà đốt hết khóa mật mã của các Thiên Nga dưới quyền chấp nhận thương đau tù đày và ngay cả cái chết nhờ đó khoảng 66 Thiên Nga khác khỏi bị chết và tan vỡ gia đình.
  4. Bà tương kế tựu kế đưa danh sách ba mươi mấy cán bộ CS vào danh sách Thiên Nga nộp cho X4 phá thê thảm hệ thống đầu não địch.
  5. Có lẽ đây là 1 trong những chiến công cuối cùng của điệp viên VNCH.
  6. Bò đỏ bò hường đọc sẽ thấy lý tưởng Quốc Gia VNCH mạnh cỡ nào, vừa mạnh vừa nhân ái, chứ không bám càng chạy tuột quần như họ nói.

Xin cám ơn “Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt” đã thực hiện Video và Anh Thư Nước Việt, Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy.

Một vụ án y khoa

Người mẹ trẻ ở bang Washington, Mỹ đã phải đấu tranh với tòa án để giữ đứa bé mà cô mang nặng đẻ đau, vì theo xét nghiệm nó không phải là con ruột cô.

“Cô là ai? Cô đang âm mưu gì với bọn trẻ?”

Lydia Fairchild, 26 tuổi, sinh nở ba lần. Sau khi sinh đứa thứ ba, cô bị thất nghiệp. Do không đủ điều kiện kinh tế nuôi ba con một mình, Lydia phải viết đơn xin trợ cấp hàng tháng của chính phủ tại địa phương cư trú, tiểu bang Washington. Mọi người trong gia đình cô đều được triệu tập tới Sở Dịch vụ xã hội để chứng minh một số thông tin có liên quan.

Ban đầu, Fairchild nghĩ đó đơn giản là một cuộc triệu tập như thường lệ với một nhân viên xã hội. Nhưng cô không ngờ bị thẩm vấn nghiêm khắc giống như một nghi can tội phạm. Cô chết điếng khi toà tuyên bố bạn trai cô là bố bọn trẻ. Còn cô, người đã sinh ra chúng lại không phải là mẹ, vì DNA của cô không trùng hợp với chúng.

 

Lydia Fairchild sẽ còn nhớ mãi cái ngày hôm ấy. Nhân viên tòa án gọi cô đến hỏi một cách đầy ngờ vực: “Cô là ai? Cô đang âm mưu gì với bọn trẻ?” Ngạc nhiên, Lydia trả lời,: “chúng là con tôi mà, sao lại có chuyện âm mưu gì ở đây?”. Người đó đáp lại lạnh lùng: “Chúng không phải là con cô. Chúng tôi đã xét nghiệm DNA. DNA của cô và bọn trẻ không giống nhau”.

Từ tòa án trở về, Lydia tưởng như sắp phát điên. Rõ ràng cô là mẹ của ba đứa trẻ. Cô đã mang thai và sinh nở bình thường. Tất cả những người thân trong gia đình, hàng xóm và bác sĩ ở nhà hộ sinh đều biết. Thậm chí, mẫu DNA bố của bọn trẻ cũng phù hợp với DNA của cả ba đứa. Nhưng tất cả những cái đó đều vô nghĩa trước tòa. Lý thuyết y học đã khẳng định DNA của mẹ và con phải tương đồng. 100% trường hợp đều như vậy. Ngược lại chỉ có thể là giả mạo.

Nghi ngờ xét nghiệm của tòa có sai sót, Lydia xin thực hiện lại xét nghiệm ở một số phòng thí nghiệm độc lập do chính cô lựa chọn. Kết quả vẫn y nguyên, không có chút sai sót nào. Cô, người sinh ra chúng lại không phải là mẹ. Mặc dù, cả ba đứa trẻ đều khăng khăng khẳng định mẹ chúng chính là Lydia Fairchild – người đang đứng trước mặt chúng.

Science discovers that a man who was never born has fathered a son.

Tuy nhiên, đó chưa phải là bằng chứng đủ sức thuyết phục. Như vậy, từ chỗ chỉ muốn xin một khoản trợ cấp xã hội hằng tháng để nuôi con, Lydia phải đối mặt với nguy cơ phạm tội: Cô có thể bị buộc tội giả mạo và lạm dụng bọn trẻ, thậm chí là bắt cóc trẻ em. Trong trường hợp đó, lũ trẻ sẽ bị đưa vào trung tâm bảo trợ xã hội và Lydia sẽ không bao giờ gặp lại các con mình. “Cô biết đấy. Chúng tôi có thể đón bọn trẻ đi bất cứ lúc nào”, một nhân viên xã hội nói với Lydia trước khi cô rời khỏi phòng.

Có sự nhầm lẫn?

Sau những giờ “thẩm vấn” xót xa, đầy hoài nghi, Lydia bắt đầu hoảng loạn, cô bước đi loạng choạng. Lydia vội vã trở về nhà tìm những bức ảnh siêu âm trong quá trình cô mang thai của từng đứa con một. Vừa nỗ lực lục tìm, Lydia kể với cha mẹ mình về kết quả xét nghiệm DNA  “quái dị” ấy. Cha mẹ Lydia không tin điều đó.

This Mom Took A DNA Test, Only To Discover That Her Children Weren’t ...

“Lúc đầu, tôi nghĩ rằng, con bé đang nói đùa. Chắc có sự nhầm lẫn nào đó. Chính tôi là người đưa Lydia đến bệnh viện sinh. Rồi cả ba lần sinh, chính mắt tôi nhìn thấy bọn trẻ do Lydia mang nặng đẻ đau. Tôi còn nhẹ nhàng ẵm chúng lên, khoe với mọi người trong gia đình và một số bạn bè”, bà Carol Fairchild, mẹ của Lydia kể lại trong sự ngỡ ngàng và đau khổ.

Tiến sĩ Leonard Dreisbach, bác sỹ khoa sản, người trực tiếp ba lần đỡ đẻ cho Lydia khẳng định, Lydia là mẹ của cả ba đứa trẻ. Ông còn cho rằng, trường hợp kỳ lạ của Lydia chắc chắn có sự nhầm lẫn nào đó trong kết quả xét nghiệm DNA. Ông cũng rất sẵn lòng làm chứng trong phiên tòa về “sự thật” này.

Dr. Leonard Dreisbach, MD – Kennewick, WA | Obstetrics & Gynecology

Xét về tình, các thành viên ban hội thẩm cũng tin rằng, Lydia Fairchild là mẹ của cả ba đứa trẻ. Nhưng về lý, Lydia Fairchild không có bằng chứng chứng minh, cô và các con có cùng dòng máu. Lydia có thuê luật sư biện hộ cho cô nhưng không ai nhận. Vì họ biết chắc, họ không thể thắng, kết quả DNA đã cho biết điều đó. Sau cùng, Luật sư Alan Tindell “dũng cảm” nhận lời, bởi theo linh cảm ông tin, Lydia không phải là kẻ bắt cóc chúng, mà cô chính là mẹ đẻ.

Người có DNA từ nhiều nguồn khác nhau (Genetic Chimerism).

Trong thời điểm u ám ấy, một tia hy vọng chợt lóe lên. Luật sư Alan Tindell tìm thấy một bài viết trên tạp chí New England Journal of Medicine, có nói đến một trường hợp ở Boston tương tự như của Lydia. Ông đệ đơn lên tòa xin hoãn xét xử khi các xét nghiệm này có thể thực hiện.

Attorney Alan James Tindell - LII Attorney Directory

Đó là trường hợp của bà Karen Keegan, một bà mẹ 52 tuổi có hai con trai ở Boston. Xét nghiệm trước ca ghép thận của Karen cũng cho thấy DNA của bà và bọn trẻ không giống nhau. Bác sĩ ở đó, mặc dù biết chắc chắn rằng không hề có sự giả mạo nào, nhưng cũng không thể giải thích nổi điều gì đã diễn ra. Họ tiến hành những mẫu xét nghiệm ở máu, tóc, mô miệng nhưng tất cả đều không có DNA  của con trai bà.

Các bác sĩ đã tìm hiểu kỹ hơn tuyến giáp của Karen. Lý do khiến các bác sỹ chọn tuyến giáp để xét nghiệm AND vì trong 100 ml máu ở người bình thường, có 2 – 2,5 mmol calcium (100 mg/l) và tồn tại dưới 3 dạng là 40% gắn với protein, 5 – 10% ở dưới dạng muối kết hợp với phosphat, bicarbonat, citrat; và 50% còn lại tồn tại dưới dạng ion hóa, để đảm bảo cho hoạt động điện sinh lý của các tế bào.

Mỗi ngày, cơ thể hấp thu vào 25 mmol canxi và thải trừ 20 mmol ra phân + 5 mmol ra nước tiểu. Hormon tuyến giáp có vai trò huy động canxi từ xương ra máu, và vitamin D giúp hấp thu canxi vào cơ thể, đưa đến xương. Karen Keegan gặp một vấn đề khá hiếm trong y học gọi là chimerism.

Hiện tượng này xảy ra ở người hay động vật khi hai trứng được thụ thai, hoặc phôi thai kết hợp cùng nhau trong thời kỳ đầu của thai kỳ. Mỗi hợp tử mang một bản sao DNA của bố mẹ, vì vậy hợp tử mới có một bộ gene khác biệt. Về cơ bản, đứa trẻ sinh ra là song sinh của chính nó. Chimerism ở người rất hiếm. Trong các thử nghiệm DNA nhằm xác định con ruột của bố mẹ đã phát hiện trường hợp Chimerism khi đứa trẻ không có liên hệ sinh học với người mẹ – nó mang một DNA khác. Lydia Fairchild là trường hợp điển hình sinh ra một chimera. Người mẹ trẻ ở bang Washington đã phải đấu tranh với tòa án để giữ đứa bé mà cô mang nặng đẻ đau.

Trên thế giới có khoảng 30 trường hợp như vậy được ghi nhận.

Thực chất đó là trường hợp hai cá thể song sinh tồn tại trong một cơ thể. Nguyên nhân là do có hai trứng cùng được thụ tinh, nhưng khi trong tử cung, đáng lẽ phải phát triển thành hai trẻ song sinh thì chúng lại “hòa lẫn” vào nhau, và trở thành một bào thai hoàn hảo duy nhất, nhưng có hai mã di truyền khác nhau – hai chuỗi DNA khác nhau.

Nói một cách khác, Karen là hai người trong một cơ thể và điều đó không thể quan sát bằng mắt thường, mà chỉ có thể phát hiện nếu xét nghiệm vật chất di truyền. Đó là lý do DNA trên khắp cơ thể bà lại khác với DNA của các con, nhưng DNA ở tuyến giáp lại giống.

Câu chuyện của Karen khiến Lydia có cơ sở thuyết phục quan tòa cho cô thêm thời gian. Cuối cùng, sau hàng loạt xét nghiệm, bác sĩ kết luận rằng Lydia cũng là một trường hợp chimerism. Hồ sơ vụ án được khép lại với một kết thúc có hậu: Lydia được công nhận là mẹ đẻ của các con cô và được nhận trợ cấp hàng tháng. Mỗi lần nhớ lại chuyện đã qua, Lydia vẫn thầm cảm ơn Karen: “Nếu không có bà ấy, tôi đã mất con”.

Câu chuyện của Lydia được lưu kỹ lưỡng trong hồ sơ xử án của tòa án tiểu bang Washington. Họ xem đây là “một vụ án y khoa” hiếm gặp. Còn phía y học và các nhà khoa học, đặc biệt là những nhà chuyên môn nghiên cứu về DNA cả về con người và động vật, họ xem đó là một bước tiến mới.

From: TU-PHUNG

Sự kết thúc chiến tranh Việt Nam-Henry Kissinger-Đỗ Kim Thêm dịch

Sự kết thúc chiến tranh Việt Nam

Posted by BVN1

Henry Kissinger

Đỗ Kim Thêm dịch

Đại tá Bùi Tín của QĐNDVN chào tiễn biệt toán lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam vào ngày 29 tháng 3 năm 1973. Nguồn ảnh: Picture alliance / AP / Charles Harrity

Lời người dịch: Nguyên tác của bản dịch là “The Vietnam War and its Conclusions”, một trích đoạn trong tác phẩm Leadership – Six Studies in World Strategy của Henry Kissinger do Nhà xuất bản Penguiun Press, New York ấn hành ngày 5-7-2022, (Trang 149-163).

Trong bài viết, Kissinger nêu lên chiến lược nguyên thuỷ khi đàm phán của Richard Nixon đề ra là binh sĩ Mỹ và Bắc Việt phải cùng lúc rút ra khỏi miền Nam. Nhưng khi Kissinger dự thảo cho Hoà ước Paris, có sự thay đổi điều kiện là Lê Đức Thọ chỉ chấp thuận cho việc binh sĩ Mỹ đơn phương ra đi trong khi binh sĩ Bắc Việt được tiếp tục đồn trú tại miền Nam. Kissinger không giải thích tại sao phải chấp nhận điều kiện này.

Trong cuốn sách Kissinger’s Betrayal: How America Lost the Vietnam War, do Nhà xuất bản Real Clear Publishing ấn hành vào tháng 4 năm 2023, Stephen B. Young đã dẫn chứng nhiều nguồn tài liệu và thư tín của Ellsworth Bunker, Henry Kissinger, Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ, Anatoly Dobrynin, Claude Dulong-Sainteny cũng như trực tiếp phỏng vấn Bunker và Nixon. Stephen B. Young kết luận, Kissinger đã qua mặt cả Nixon khi tự ý đề ra điều kiện cho binh sĩ Bắc Việt ở lại. Lá thư của Kissinger gửi cho Bunker vào ngày 25-5-1971 và biên bản cuộc họp ngày 9-1-1971 tại Toà Bạch Ốc với Đại sứ Dobrynin là hai bằng chứng cụ thể.

Sau khi tiếp xúc với Kisinger, Đại sứ Dobrynin xác nhận với Moscow và Hà Nội là: “…Nếu Hoa Kỳ cam kết rút toàn bộ lực lượng trong một thời hạn nhất định và có thể không yêu cầu lực lượng QĐNDVN rút đồng thời ra khỏi miền Nam … Bắc Việt nên cam kết tôn trọng lệnh ngừng bắn trong thời gian Hoa Kỳ rút quân …”

Richard Nixon nói không biết Kissinger thật sự làm gì vào năm 1971.

Cho đến nay, Kissinger chỉ lăp lại các biện minh quen thuộc: Hậu quả của Watergate làm cho Nixon ra đi, Quốc hội Mỹ cắt giảm viện trợ làm cho miền Nam không thể tiếp tục chiến đấu, không thú nhận bị Lê Đức Thọ lừa đảo và hay có bất cứ một trách nhiệm nào về chính trị hay đạo đức cá nhân. Kissinger vẫn chưa trả lời các cáo buộc của Stephen B. Young.

***

Khi Nixon tuyên thệ nhậm chức vào tháng Giêng năm 1969, Hoa Kỳ đã có gần hai thập niên can dự tại Việt Nam, 30.000 binh sĩ đã tử thương trên chiến trường và nhiều cuộc biểu tình phản chiến, đôi khi bằng bạo lực. Trong lần gặp gỡ Nixon đầu tiên sau khi thắng cử tại khách sạn Pierre, ông nhấn mạnh, kiên quyết kết thúc cuộc chiến Việt Nam trong nhiệm kỳ đầu tiên. Ông hứa với các gia đình tử sĩ về một sự kết thúc phù hợp với vinh dự của nước Mỹ. Ông muốn đạt được việc này bằng chính sách ngoại giao thông qua liên kết với Liên Xô. Ý tưởng về việc mở cửa đối với Trung Quốc cũng có thể sẽ đóng một vai trò, nhưng ông sẽ không bán tháo (chủ trương). Một nền an ninh của các dân tộc tự do, hoà bình thế giới và tiến bộ tuỳ thuộc vào việc tái lập và đổi mới tinh thần lãnh đạo của Hoa Kỳ. Các nỗ lực về chính trị và quân sự cũng phải được duy trì song song.

Ngay trong lúc đầu của nhiệm kỳ tổng thống Harry Truman, Hoa Kỳ đã tham gia việc bảo vệ miền Nam để chống lại sự nổi dậy của Cộng sản bằng cách gởi các cố vấn quân sự. Eisenhower gia tăng viện trợ Mỹ và nâng số lượng các cố vấn quân sự từ 35 lên đến gần 700 vào năm 1956, đặt họ trực thuộc Toà Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn. Vào lúc cuối nhiệm kỳ, Eisenhower kết luận là, qua việc mở ra các đường tiếp vận mới, các đơn vị Bắc Việt thâm nhập được Lào và Kampuchea, hai nước yếu và trung lập nằm cạnh biên giới Nam Việt Nam, làm cho tình hình an ninh tại Sài Gòn ngày càng bị đe doạ và do đó phải kháng cự.

Các đường tiếp vận, một hệ thống mà sau này nổi danh là đường mòn Hồ Chí Minh dài 1000 cây số chạy qua một khu vực rừng hoang dọc theo biên giới phía nam của miền Nam Việt Nam, do đó, rất khó để phát hiện, tấn công hay phong toả. Đường mòn Hồ Chí Minh trở thành một điểm quan trọng của các nhà chiến lược Bắc Việt để họ làm suy yếu và cuối cùng làm sụp đổ chính phủ miền Nam.

Trong lúc chuyển giao quyền tổng thống vào năm 1960, Eisenhower khuyên John F. Kennedy, người kế nhiệm, là nên điều động quân Mỹ đến khu vực, và trong trường hợp cần thiết, chống lại các cuộc xâm nhập trong các nước láng giềng trung lập. Kennedy không thi hành ngay các lời khuyên này của Eisenhower, nhưng thay vào đó, cố thử tìm kiếm một giải pháp chính trị thông qua ngoại giao với Hà Nội. Kết quả là một Hiệp ước Quốc tế về Trung lập Lào được ký kết vào năm 1962.

Về sau, khi Hà Nội vi phạm tình trạng trung lập của Lào qua việc thâm nhập nghiêm trọng, Kennedy phản ứng bằng cách gởi 15.000 binh sĩ Mỹ đến để huấn luyện và cố vấn cho các đơn vị chiến đấu của Nam Việt Nam. Vì chính quyền Kennedy nhận ra là Ngô Đình Diệm, nhà lãnh đạo độc tài Nam Việt Nam, thiếu sự ủng hộ rộng rãi của dân chúng và ý chí chính trị để chiến thắng, nên thúc giục quân đội lật đổ. Cuộc đảo chính đã đưa đến việc sát hại ông Diệm vào ngày 2 tháng 11 năm 1963 và làm suy yếu chính quyền Nam Việt Nam ngay trong lòng cuộc nội chiến, mà theo định nghĩa, một chính quyền bị bao vây là một cái giá chủ yếu. Bắc Việt dùng cơ hội này để thâm nhập các lực lượng chiến đấu chính quy nhằm tăng cường cho các lực lượng quân kháng chiến.

Sau vụ sát hại Kennedy vào ngày 22 tháng 11 năm 1963, Lyndon B. Johnson đã theo lời khuyên của toán công tác về an ninh quốc gia mà gia tăng các nỗ lực quân sự tại Việt Nam. Ông tiếp nhận nhóm này có từ thời Kennedy, trừ một người trong nhóm chệch hướng là George Ball, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao (1). Tuy nhiên, không bao lâu sau, Johnson nhận ra rằng, các hỗn loạn chính trị trong khu vực phức tạp hơn, vì các rối rắm qua việc triển khai một chiến lược quân sự.

Đối với Mỹ, quy mô tuyệt đối của việc gởi quân Mỹ đến một khu vực xa xôi tạo ra chuyện tối cần thiết là phải chấm dứt chiến cuộc một cách nhanh chóng. Nhưng Hà Nội kéo dài xung đột để làm kiệt quệ tinh thần người Mỹ. Trong một cuộc đọ sức giữa một đạo quân được cơ giới hoá và các đạo quân kháng chiến đặt cơ sở hoạt động trong rừng thì các bộ đội này chiếm ưu thế, vì họ sẽ thắng cho đến lúc nào mà họ không thua.

Tháng Giêng năm 1969, Bắc Việt kiểm soát 1/3 lãnh thổ phía Tây của Lào và một phần của Kampuchea, vì nó lọt ra ngoài phạm vi của các lực lượng Mỹ. Họ sử dụng các nơi này như là những căn cứ, một phần lớn là để gởi hàng tiếp vận tới miền Nam và đe doạ vùng cực nam của miền Nam, kể cả Sài Gòn. Do đó, Bắc Việt có vị thế tiếp vận để thử thách tinh thần kiên trì của người Mỹ ở trong nước. Như Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Bắc Việt, giải thích cho Harrison Salisbury, ký giả của tờ New York Times, là họ theo đuổi một chiến lược dựa vào một niềm tin, người Bắc sẽ chiến đấu cho Việt Nam kiên cường hơn người Mỹ, điểm chủ yếu là nhiều người Việt sẵn sàng chết cho Việt Nam nhiều hơn người Mỹ.

Bế tắc trên chiến trường và số lượng thương vong tăng cao, tạo ra phân hoá xã hội tại hậu phương Mỹ. Trong thời chính quyền Johnson, những cuộc thảo luận trong các khuôn viên đại học về các mục tiêu và khả năng thực hiện của cuộc chiến đã bắt đầu. Khi Nixon tuyên thệ nhậm chức, những cuộc thảo luận đã bộc phát và trở thành những đối kháng trong mối quan hệ về giá trị và phương pháp của Mỹ. Cuộc chiến có chính nghĩa không? Nếu không được biện minh, tốt hơn là nên từ bỏ toàn bộ công cuộc chiến đấu. Mặc dầu thoạt đầu thái độ bỏ cuộc được coi như là cực đoan; về sau, quan điểm này có trong phần lớn giới trí thức của xã hội Mỹ.

Chủ thuyết xem Mỹ là ngoại lệ bị đảo lộn; chủ thuyết duy tâm nhằm đề cao việc hỗ trợ cho Mỹ đảm nhận trách nhiệm quốc tế sau Thế chiến thứ Hai được đề cập trở lại khi Mỹ đối diện với cuộc chiến Việt Nam, nhằm vào việc bác bỏ vai trò lãnh đạo toàn cầu. Cuộc khủng hoảng niềm tin do việc Mỹ tham chiến tại Việt Nam đã vượt ra khỏi vấn đề cuộc chiến và chuyển hướng sang bản chất đích thực và nền tảng trong các mục tiêu của Mỹ.

Phong trào phản chiến ngay trong lòng các đại học tạo thành các cuộc biểu tình của quần chúng, nó đạt đến cao điểm làm cho Tổng thống Johnson không thể xuất hiện trước công chúng trong các cuộc vận động tranh cử vào năm 1968, chỉ với ngoại lệ khi nào ông đến các căn cứ quân sự. Tuy vậy, việc rút quân đơn phương ra khỏi cuộc chiến không được dân chúng ưa chuộng. Hubert Humphrey, ứng viên Tổng thống của Đảng Dân chủ và Richard Nixon, đối thủ của Đảng Cộng hoà, đều từ chối việc rút quân đơn phương. Nhưng trong cuộc vận động tranh cử, họ hứa hẹn là sẽ tìm ra một đường lối kết thúc cuộc chiến qua đàm phán.

Nixon không nói rõ bằng cách nào, nhưng chỉ nói là sẽ có một phương sách mới. Tuy nhiên, các các cơ sở của Đảng Dân chủ phản đối việc rút quân mà không đề cập đến chi tiết. Vấn đề gây cho Đảng Dân chủ chia rẽ và ngày Đại hội đảng để đề cử ứng viên vào tháng Tám xáo trộn là thúc giục đòi hỏi việc rút quân của hai phía (Mỹ và Bắc Việt) ra khỏi Nam Việt Nam. Nghị sĩ Edward Ted Kennedy và các đảng viên Dân chủ theo phe bồ câu dự trù khuôn khổ của việc đề nghị rút quân Mỹ, nhưng chỉ đề cập đến như là một số lượng quân đáng kể.

Từ cuộc gặp gỡ đầu tiên của chúng tôi, Nixon kiên quyết tìm ra một lối thoát đầy vinh dự tại Việt Nam, đó là tất yếu cho vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ. Trong thời gian chuyển quyền sau bầu cử, chúng tôi định nghĩa “đầy vinh dự” là những người Đông Dương đã chiến đấu cho tự do của họ có được một cơ hội để tự quyết định cho vận mệnh của mình, trong khi phong trào phản chiến tại Mỹ chỉ đòi hỏi một phía rút quân, điều mà Nixon cực lực phản đối.

Theo quan điểm của Nixon, quyền lợi quốc gia đòi hỏi phải có một đường lối trung dung giữa chiến thắng và rút quân. Theo Nixon, rút quân không điều kiện đưa đến sự thoái vị về tinh thần và địa chính trị, nói khác đi, một sự thiệt hại nặng nề về ý nghĩa của Hoa Kỳ đối với trật tự quốc tế.

Khi Nixon nhậm chức, ông khám phá ra các lý do thiết thực để từ chối việc rút quân đơn phương. Vị Tham mưu trưởng Liên quân ước lượng rằng, để chuẩn bị cho việc rút nửa triệu quân và các thiết bị phải cần thời gian 16 tháng. Ngay cả khi cho rằng, việc ước lượng của vị Tư lệnh này bị ảnh hưởng do ác cảm, kinh nghiệm đầy hỗn loạn trong việc rút 5.000 lính Mỹ ra khỏi Afghanistan trong năm 2021 cho thấy tình trạng vô trật tự tiềm ẩn qua việc rút quân đơn phương trong điều kiện chiến tranh. Tại Việt Nam, có khoảng hơn 150.000 binh sĩ Mỹ và ít nhất là 800.000 binh sĩ Bắc Việt và một số lượng tương đương binh sĩ miền Nam, thái độ của họ là có cảm tưởng bị phản bội, có thể xảy ra từ sự thù nghịch dẫn đến hỗn loạn.

Chính vì thế, như đã tuyên bố trong cuộc vận động tranh cử, Nixon quyết định đạt được sự liên kết một giải pháp ngoại giao với Liên Xô. Ông theo đuổi chiến lược này ngay khi đối diện cuộc tấn công của Bắc Việt, nó bắt đầu nội trong ba tuần sau khi ông nhậm chức, trước khi ông đưa ra bất cứ một hành động quân sự quan trọng nào, việc này làm cho hơn 6.000 binh sĩ thương vong trong sáu tháng đầu tiên trong nhiệm kỳ tổng thống của ông.

Nixon muốn tìm ra một sự kết hợp ngoại giao bằng cách áp lực buộc Liên Xô cắt giảm viện trợ cho Hà Nội. Ban Tham mưu của tôi dự kiến một kế hoạch ngoại giao để giải thích, trong đó chúng tôi chuẩn bị trình bày các tương nhượng cho Bắc Việt, để có thể thông qua Moscow. Song song, với bí danh “Duch Hook” (2), Ban Tham mưu của tôi có các chọn lựa khác là việc leo thang quân sự (chủ yếu là phong toả và ném bom). Trường hợp Moscow từ chối các đề nghị của chúng tôi, Nixon muốn cố thử áp đặt bằng bạo lực quân sự (việc này đã xảy ra, khi một phần lớn kế hoạch quân sự được thực hiện trong ba năm sau này, tháng 5 năm 1972, như là phản ứng trước việc tấn công của Hà Nội trong chiến dịch mùa hè đỏ lửa).

Là nhà đàm phán của chính quyền Johnson với Bắc Việt, Cyrus Vance tỏ ra nhạy bén cho ý tưởng khi được bổ nhiệm làm đặc sứ trong trường hợp đề nghị của chúng tôi được đồng thuận.

Được Nixon thoả thuận, tôi đưa ra một khái niệm với Anatoli Dobrynin, Đại sứ của Liên Xô tại Hoa kỳ, mà không nêu chi tiết. Chúng tôi không nhận được câu trả lời nào từ phía Moscow, nhưng trong lần gặp gỡ đầu tiên vào tháng 8 năm 1969 với Bắc Việt, Xuân Thuỷ, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Nội, từ chối lời đề nghị với lập luận là Hà Nội không bao giờ đàm phán thông qua phe thứ ba.

Trong khi nghiên cứu về các đường lối ngoại giao, Nixon đề ra một khái niệm chiến lược toàn diện trước thế giới vào ngày 25 tháng 7 năm 1969. Về địa điểm của bài diễn văn, ông chọn một nơi vắng vẻ thuộc phía Tây Thái Bình Dương của đảo Guam, ông dừng lại ở đây vào buổi chiều trong chuyến công du khắp thế giới, ngay trước đó ông chào đón các nhà phi hành không gian Mỹ, khi họ vừa từ mặt trăng trở về.

Qua lời tuyên bố có vẻ đầy ấn tượng trong cuộc họp báo này, Nixon trình bày về chính sách Đông Nam Á. Thực ra, bài diễn văn này đã được Toà Bạch Ốc chuẩn bị cẩn trọng và tu chỉnh ngay trong chuyến bay, nhằm nhấn mạnh đến mối bang giao của Hoa Kỳ và các đối tác trong vùng. Nixon cảnh báo về các nguy cơ do các chế độ Cộng sản tại Trung Quốc, Bắc Hàn và Bắc Việt gây ra và tiếp tục lập luận là:

“Hoa Kỳ phải tránh một chính sách mà các nước tại châu Á trở nên quá lệ thuộc vào chúng ta, đến độ mà chúng ta bị ràng buộc trong các cuộc tranh chấp như cuộc tranh chấp mà chúng ta có tại Việt Nam”.

Dĩ nhiên, báo chí tháp tùng có hỏi về các chi tiết mà Nixon đã chuẩn bị sẵn để trả lời. Ông đáp: “Tôi tin rằng, thời điểm đã đến khi Hoa Kỳ phải nhấn mạnh đến hai điểm về mối quan hệ đối với tất cả các nước thân hữu châu Á.

Thứ nhất: Chúng ta sẽ tuân thủ các nghĩa vụ kết ước … nhưng thứ hai, trong những vấn đề có liên hệ đến an ninh nội địa và bảo vệ quốc phòng, với ngoại trừ việc các cường quốc có trang bị vũ khí hạt nhân đe doạ, Hoa Kỳ sẽ khuyến khích và có quyền kỳ vọng các quốc gia châu Á là sẽ càng lúc càng tự lo liệu về các vấn đề của họ và tự đảm nhận trách nhiệm”.

Những gì mà về sau nổi danh là “chủ thuyết Nixon” bao gồm ba nguyên tắc cơ bản:

  1. Hoa Kỳ sẽ tuân thủ các nghĩa vụ kết ước.
  2. Hoa Kỳ sẽ sẵn sàng bảo vệ trong trường hợp cường quốc nguyên tử đe doạ tự do đối với một trong các nước đồng minh của chúng ta hoặc một nước mà sự sống của họ còn được Hoa Kỳ xem như cần thiết cho nền an ninh của Hoa Kỳ và toàn khu vực.
  3. Trong trường hợp có các loại tấn công khác, nghĩa là, các cuộc tấn công bằng vũ khí quy ước của các cường quốc không có vũ khí hạt nhân, Hoa Kỳ sẽ yểm trợ bằng quân sự và kinh tế, khi được họ yêu cầu. Nhưng Hoa Kỳ cũng chờ đợi các nước bị đe doạ trực tiếp, đảm nhận trách nhiệm chủ yếu trong việc cung ứng nhân lực cho việc bảo vệ.

Trong khuôn khổ mà về sau được gọi là “Việt Nam hoá chiến tranh”, Hoa Kỳ muốn viện trợ quân sự, huấn luyện và yểm trợ không quân theo theo nguyên tắc thứ ba trong ba nguyên tắc kể trên, để cho Sài Gòn có điều kiện cầm cự cho đến khi nào đủ mạnh để tự bảo vệ. Mục đích của chủ thuyết Nixon là thể hiện việc người Mỹ kiên quyết và khả năng của miền Nam Việt Nam có thể phòng thủ để Hà Nội đồng thuận về một giải pháp chính trị, nó cho phép dân chúng miền Nam tự quyết định tương lai của mình.

Nixon hứa tuân thủ các nghĩa vụ của Hoa Kỳ đối với các đồng minh kết ước như Nam Hàn và Thái Lan và cũng bảo vệ các nước khác tại châu Á, khi họ bị các cường quốc nguyên tử đe doạ, việc này ám chỉ Trung Quốc và Liên Xô. Sự khác biệt giữa Nixon và các bậc tiền nhiệm là ông làm ràng buộc phạm vi các viện trợ Mỹ, các nước bị đe doạ phải tự nhận trách nhiệm bảo vệ. Mục tiêu chính là ông muốn trấn an các nước mà sự sống còn của họ dựa vào niềm tin về vai trò của Mỹ, khi các cuộc đàm phám để chấm dứt chiến tranh Việt Nam không đánh dấu về việc triệt thoái chiến lược từ châu Á (3).

Vào cuối nhiệm kỳ, tổng thống Johnson đã có các cuộc đàm phán chính thức với Bắc Việt và được tiếp tục dưới thời Nixon. Hàng tuần đại diện của Bắc Việt, Mỹ, chính quyền miền Nam của Sài Gòn và Mặt trận Giải phóng miền Nam gặp nhau tại khách sạn Majestic, Paris. Hà Nội không bao giờ xem các cuộc đàm phán này là một tiến trình ngoại giao, mà chỉ là một giai đoạn tiếp tục của một chiến lược tâm lý, để họ làm hao mòn ý chí của Mỹ và làm sụp đổ chính quyền mà họ cho là “bất hợp pháp” của Nam Việt Nam.

Vào những ngày cuối cùng của chiến dịch vận động tranh cử năm 1969, Tổng thống Johnson công bố với niềm hy vọng tràn trề là Bắc Việt theo đuổi hai mục đích trong các cuộc đàm phán này: Đối với chính phủ Nam Việt Nam phải mất tính chính danh, để trước hết Hà Nội hoàn toàn từ chối đàm phán với họ và kiên trì là Mặt trận Giải phóng miền Nam là phía đàm phán cho miền Nam tại bàn hội nghị.

Sau khi một thoả hiệp được tìm ra để cả hai phe của miền Nam được tham dự đàm phán chính thức, Hà Nội từ chối không hề nói đến bất cứ vấn đề nội dung nào. Mục tiêu của Bắc Việt là kéo dài các cuộc đàm phán cho đến khi nào Hoa Kỳ kiệt sức hoặc do các phản đối của dân chúng Mỹ đến độ phải quay lưng từ bỏ đồng minh Nam Việt Nam.

Diễn đàn đàm phán chính thức tại khách sạn Majestic mà phái đoàn Bắc Việt do Xuân Thuỷ lãnh đạo, mang lại một kỳ tích bất thường. Trong bốn năm được gọi là đàm phán, không có tiến bộ nào đạt được và kết quả chỉ nhằm trình bày hàng loạt các lời tuyên bố cho có hình thức với nội dung rỗng tuếch.

Vào mùa hè năm 1969, Nixon tìm hiểu rằng qua kênh đàm phán với Moscow có thể đạt được kết quả đầy vinh dự theo quan điểm của chúng tôi. Trước khi thực hiện cách này để gia tăng áp lực, ông quyết định thử lại một lần nữa khi khởi động lại các cuộc đàm phán. Việc này có hai phần: Tôi phải huỷ chuyến du hành thế giới để hội kiến với Xuân Thuỷ tại Paris vào ngày 4 tháng 8 năm 1969. Đó là cuộc mật nghị đầu tiên mà từ đó cho đến tháng 4 năm sau, một kênh mật đàm giữa Lê Đức Thọ và tôi diễn ra.

Pháp là quốc gia duy nhất trong khối NATO có quan hệ ngoại giao với Hà Nội, và cuộc gặp gỡ do Jean Sainteny, Đại sứ Pháp tại Hà Nội, thu xếp. Đối với tôi, phu nhân của Sainteny là một người bạn thân thiết sau khi bà đã tham dự một khoá học quốc tế kéo dài ba tháng trong khuôn khổ chương trình mùa hè của Đại học Harvard, do tôi giảng dạy. Nhờ thế, cuộc mật nghị giữa các giới chức của Nixon và Việt Nam diễn ra trong một căn phòng sang trọng của Sainteny trên đường Rivoli. Khi ông giới thiệu những người Việt cho chúng tôi, ông đặt điều kiện là không được phép phá vỡ bất cứ các đồ gia dụng nào.

Một cuộc trao đổi sau đó cho thấy trước viễn cảnh bế tắc trong ba năm sau. Xuân Thuỷ lên lớp giảng dạy về cuộc chiến đấu hào hùng của người Việt cho độc lập và lòng kiên quyết của Hà Nội để theo đuổi cuộc chiến cho đến cùng. Tôi nghe các lời này lặp đi lặp lại không biết bao nhiêu lần trong nhiều năm và kết thúc bằng việc công bố các điều kiện tiên quyết của Hà Nội. Đến phiên tôi, tôi giải thích là sẵn sàng đàm phán trên cơ sở của một tiến trình chính trị mà tất cả các phe nhóm, kể cả những người cộng sản, có thể tham gia.

Nixon chỉ thị cho tôi nên dùng cơ hội cho các biện pháp táo bạo. Tôi đã truyền đạt là nếu cho đến ngày 1 tháng 11 mà chúng tôi không có được một hồi đáp giá trị nào về các đề nghị của chúng tôi thông qua các kênh ngoại giao của hai phía, chúng tôi sẽ cứu xét đến các biện pháp khác hơn là ngoại giao, có hàm ý về việc dùng biện pháp quân sự. Xuân Thuỷ, cũng như những nhà đàm phán Việt mà tôi gặp gỡ, họ tỏ thái độ rất lịch sự khi trả lời bằng cách lặp lại các điều kiện tiên quyết của Hà Nội: Mỹ rút quân và chính phủ Sài Gòn sụp đổ trước khi có các cuộc đàm phán đầy ý nghĩa.

Vì Nixon không có ý định thảo luận trong các điều kiện như vậy, nên vào ngày 20 tháng 10 tại Toà Bạch Ốc, ông quyết định lặp lại một tối hậu thư cho Dobrynin, Đại sứ Nga. Nixon cầm một tập ghi chú màu vàng từ trên bàn của phòng Bầu Dục đưa cho vị Đại sứ và nói: “Tốt hơn, ông nên đưa ra một vài ghi chú”. Dobrynin đặt vài câu hỏi cần làm sáng tỏ và cho là không biết gì về nội dung của vấn đề. Để ép Moscow và Hà Nội phải cho ngày hẹn chót, Nixon còn đi xa hơn khi cho rằng ngày 3 tháng 11 ông dự trù sẽ có bài diễn văn nói chuyện về vấn đề Việt Nam. Việc này trở thành một trong các cách hùng biện nhất của ông.

Bất chấp những cuộc biểu tình đang làm tê liệt Washington từ mấy tuần qua, Nixon kêu gọi đa số người Mỹ thầm lặng nên kiên quyết cho một nền hoà bình trong vinh dự.

“Đừng để các nhà viết sử ghi là, Mỹ một nước hùng mạnh nhất thế giới, chúng ta đứng bên kia lề đường và cho phép các hy vọng cuối cùng về hoà bình và tự do của nhiều triệu người bị bóp nghẹt bởi các sức mạnh của các chế độ độc tài. Và tối nay, trước quý vị là đa số thầm lặng dân chúng Mỹ, tôi yêu cầu quý vị hãy yểm trợ”.

Nhưng ông từ bỏ những gì trong tiến trình mà ông công bố, đây là lần duy nhất trong lúc tôi làm việc chung với ông. Khi chúng tôi tiến gần đến ngày hẹn chót của tối hậu thư tháng 11, Hà Nội không thay đổi thái độ hay Tổng thống không có một quyết định gây hậu quả nào, theo đúng nguyên tắc là Cố vấn An ninh Quốc gia, tôi soạn thảo hai văn bản ghi nhớ đệ trình cho Tổng thống để phân tích vấn đề về các quyết định quan trọng.

Bản ghi nhớ đầu tiên phân tích, liệu việc Việt Nam hoá chiến tranh có thực sự đạt được các mục tiêu của chúng ta đã thoả thuận không. Bản thứ hai trong ngày hôm sau phân tích các động lực khích lệ cho một giải pháp ngoại giao trong các chiến lược hiện hành. Nixon quyết định duy trì các chủ trương đang tiến hành trên thực tế.

Để tránh việc leo thang quân sự mà ông đe doạ và Ban Tham mưu của ông chuẩn bị, cũng như tránh việc triệt thoái binh sĩ đơn phương do Hà Nội và các phong trào phản chiến tại Mỹ đòi hỏi, điểm chủ yếu mà ông quyết định theo đuổi tiến trình Việt Nam hoá, như ông đã khởi thảo trong cuộc họp báo tại đảo Guam. Trong bài diễn văn ngày 3 tháng 11, ông mô tả chiến lược là việc rút các binh sĩ Mỹ một cách tuần tự, cùng lúc các cuộc đàm phán tiến hành, cho đến khi nào Sài Gòn đủ mạnh cho một giải pháp chính trị, để người dân miền Nam có khả năng tự định đoạt cho số phận của mình. Chương trình Việt Nam hoá chiến tranh do Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laid triển khai và Nixon công bố, có nghĩa là một việc rút quân tuần tự của binh sĩ Mỹ, cùng với việc thay thế bởi các binh sĩ miền Nam. Khi Nixon đọc diễn văn, việc rút quân khoảng 100.000 binh sĩ Mỹ đã được thực hiện.

Lúc đó, tôi không thoải mái với quyết định của Nixon. Trong suốt nhiều năm, khi suy nghĩ về các giải pháp tương ứng khác, tôi kết luận rằng Nixon đã đề ra một tiến trình khôn ngoan hơn. Nếu như ông theo những trực giác đầu tiên, có lẽ ông sẽ có khủng hoảng nội các, nó kết hợp bởi các cuộc biểu tình phản chiến tại các thành phố làm cho cả nước sẽ bị tê liệt. Việc mở cửa cho Trung Quốc vẫn chỉ là một ý tưởng, các phản ứng đầu tiên của Bắc Kinh vẫn chưa nhận được (4). Việc đối mặt đọ sức với Liên Xô tại vùng Cận Đông và Berlin chưa kết thúc, và các cuộc đàm phán với Liên Xô còn trong thời kỳ thăm dò. Hơn thế, lúc đầu năm quan trọng này, trong chuyến công du của Nixon tại châu Âu, các Đồng minh châu Âu đã tỏ ra có ác cảm, chống lại cuộc chiến tại Đông Nam Á.

Vì thế, dù có những dè dặt ban đầu, trong những năm sau đó, tôi thực hiện quyết định của Nixon với niềm tin tưởng. Cả Nixon và tôi đều tin rằng sự ổn định của một cấu trúc quốc tế được phát triển cần phải được minh chứng, thông qua một chiến lược khả tín của Mỹ, chúng tôi không hoang phí, nhất là đối với Trung Quốc và Liên Xô.

Bất chấp việc giới tinh hoa khinh miệt, Nixon cố gắng giữ lời hứa mà ông đưa ra với đa số người Mỹ thầm lặng, không phải chỉ tránh việc thất bại nhục nhã mà cũng tránh được việc gởi con em đến trong một cuộc chiến không kết thúc. Liệu các mục tiêu này có phù hợp theo trọng tâm của những cuộc thảo luận đang diễn ra trong cả nước không, và không khí bạo loạn trong các khuôn viên đại học và trên các đường phố, cũng như những chống đối thường trực của giới thân cận khi Nixon áp đặt các cưỡng chế.

Mặt khác, trong nhiều thập niên, Hà Nội đã không tranh đấu chống Pháp và Mỹ vì lợi ích của một tiến trình chính trị hay một thoả hiệp đã được đàm phán, nhưng chỉ muốn đạt đến một chiến thắng chính trị toàn diện.

Vì Nixon muốn cố thử xem có một giải pháp đàm phán không, ông chấp nhận các cuộc mật nghị về chính trị. Sau đó Hà Nội phái Lê Đức Thọ, Uỷ viên Bộ Chính trị, làm Trưởng đoàn Bắc Việt đến Paris, nơi mà tôi gặp ông khoảng cứ ba tháng một lần. Cuộc gặp gỡ này mang nhiều thực chất tiến bộ hơn các cuộc đàm phán chính thức, nhưng cũng với mức độ không đáng kể.

Cứ mỗi lần gặp, Lê Đức Thọ đọc lời cáo buộc về những vi phạm của Mỹ gây ra đối với Việt Nam. Các điều kiện đòi hỏi tối thiểu và tối đa của Hà Nội giống nhau. Điều kiện tiên quyết cho Hà Nội đàm phán là chính quyền Sài Gòn phải được thay thế bởi các nhân sĩ “yêu chuộng hoà bình” và toàn thể lính Mỹ phải rút. Khi chúng tôi tìm hiểu định nghĩa của họ về những người “yêu chuộng hoà bình”, thì nhận ra rằng, không một khuôn mặt chính trị nổi danh ở Nam Việt Nam nào có đủ tiêu chuẩn của họ.

Nhưng Nixon không nản lòng. Hai năm sau, vào ngày 25 tháng 1 năm 1972, trước sự ngạc nhiên của giới truyền thông, họ cáo buộc rằng từ lâu ông không quan tâm đến tiến trình hoà bình, ông công bố biên bản các cuộc mật nghị của tôi với Lê Đức Thọ trong thời gian hai năm.

Trong một bài diễn văn trong cùng buổi tối, ông đưa ra một đề xuất chung quyết trong các điểm chính. Ông kết hợp một cuộc đình chiến, việc tự quản của chính quyền miền Nam và rút quân Mỹ, một chiến lược mà ông âm thầm chấp nhận giống như trong bài diễn văn trong ngày 3 tháng 11 năm 1969.

Hà Nội phản ứng bằng cách khởi động một cuộc tấn công vào ngày 30 tháng 3 năm 1972 trong chiến dịch mùa hè đỏ lửa. Họ huy động tất cả các sư đoàn chiến đấu, ngoại trừ một sư đoàn, và lần đầu tiên kể từ khi Nixon nhậm chức, họ chiếm được tỉnh lỵ Quảng Trị.

Qua cuộc leo thang quân sự, Hà Nội suy đoán rằng Mỹ sẽ không bị ảnh hưởng về một cuộc họp thượng đỉnh với Liên Xô, dự trù vào tháng 5 năm 1972, năm Mỹ có tranh cử.

Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, chúng tôi đang kết thúc các mục tiêu trong chương trình Việt Nam hoá chiến tranh: Cho đến cuối năm 1972, toàn bộ các đơn vị chiến đấu đã được triệt thoái. Cuối năm 1972, có ít hơn 25.000 binh sĩ còn lại trong nước, con số xuống thấp vì lúc Nixon nhậm chức là hơn nửa triệu. Trong khi các đơn vị bộ binh miền Nam đã tham chiến với sự yễm trợ của không quân Mỹ, để chống trả các cuộc tấn công mới của Hà Nội. Số lượng thương vong của binh sĩ Mỹ xuống thấp đáng kể, từ 16.899 trong năm 1968 còn lại là 2.414 trong năm 1971 và chỉ còn 68 trong năm 1973, khi Mỹ hoàn toàn rút hết các đơn vị còn lại ra khỏi nước, chiếu theo Hiệp định Paris.

Thời điểm của chiến dịch mùa hè đỏ lửa đã làm gia tăng nguy cơ vì Nixon có thể đáp trả bằng bất kỳ hành động nào. Chuyến Hoa du của Nixon là một bước lịch sử đầu tiên làm thay đổi Chiến tranh Lạnh; cuộc họp thượng đỉnh tại Moscow vào tháng Năm trở thành một diễn biến quan trọng khác. Tại Washington, đa số đồng thuận cho việc hạn chế quân sự; đúng như dự đoán, Nixon phản bác cách này.

Trong cuộc họp của Hội đồng An ninh Quốc gia tại Toà Bạch Ốc vào buổi sáng ngày 8 tháng 5 năm 1972, Tổng thống xác nhận việc leo thang để báo thù có thể gây hại cho cuộc họp thượng đỉnh tại Moscow và các công tác trù bị này kéo dài hàng tháng. Nhưng nếu chúng ta không hành động gì hoặc bị đẩy lui ra khỏi Việt Nam, điều đó đoán chắc là, trong các cuộc đàm phán với Moscow, chúng ta mang danh là thoái thác vai trò lãnh đạo quốc gia.

Trình bày trước quốc dân trong ý nghĩa này, Nixon đề ra quan điểm của Mỹ. Điểm chủ yếu là ông lặp lại các đề nghị về hoà bình mà ông đã đề ra vào tháng Giêng: Ngưng chiến và triệt thoái quân Mỹ là điều kiện đáp ứng cho việc công nhận chính phủ Sài Gòn, một chính phủ được thành hình qua một tiến trình chính trị mà trước đó đã được thoả thuận.

Nixon giải thích: “Đối với chúng tôi, chỉ có hai vấn đề để lại trong cuộc chiến này.

Thứ nhất: Trước cuộc xâm lăng ồ ạt, chúng tôi phải đứng nhìn, gây thiệt hại cho sinh mạng của 60.000 người Mỹ, kể cả các nhân viên dân sự, để lại cho những người miền Nam trước một đêm dài khủng bố? Việc này sẽ không xảy ra. Chúng tôi sẽ làm tất cả những gì phải làm để bảo vệ mạng sống của người Mỹ và vinh dự của Mỹ.

Thứ hai: đối với các thái độ hoàn toàn ngoan cố trong bàn hội nghị, chúng ta phải liên kết với kẻ thù để thiết lập một chính phủ cộng sản tại miền Nam sao? Việc này cũng sẽ không xảy ra. Chúng ta sẽ không vượt qua lằn ranh từ tinh thần hào phóng để đến sự phản bội”.

Theo một nguyên tắc mà ông thường phát biểu, người ta phải trả cùng một giá trong một hành động nào đó khi làm nửa vời, cũng giống như khi làm trọn vẹn, Nixon bấy giờ ra lệnh thực hiện toàn bộ các biện pháp mà ông dự kiến lúc đầu cho năm 1969. Ông tiên liệu việc gài mìn các hải cảng Bắc Việt và ném bom các đường tiếp vận, bất cứ nơi nào mà họ đặt ra. Với các biện pháp này, ông huỷ bỏ thoả ước về việc đình chỉ không kích có hiệu lực từ năm 1968.

Moscow chọn cách né tránh các thách thức, và cuộc họp thượng đỉnh xảy ra đúng như dự trù. Liên Xô lên án việc leo thang, cũng như việc phong toả; tuy nhiên, họ giới hạn việc phê bình chỉ trong một buổi ăn tối tại tư thất của Breschnews. Liên Xô không đe doạ, cuối cùng, trong cùng trong buổi tối này, Ngoại trưởng Andrei Gromyko và tôi lại tiếp tục thảo luận về việc giới hạn vũ khí chiến lược (SALT).

Ngay sau cuộc họp thượng đỉnh, Nilolai Podgory, Tham mưu trưởng, nhân danh lãnh đạo nhà nước Liên Xô, đi thăm Hà Nội. Liên Xô không đề ra các biện pháp báo thù, Moscow kết luận, không thể từ bỏ các nỗ lực để làm quân bình đối với sáng kiến của chúng tôi về Trung Quốc.

Tháng 7, Đồng minh Nam Việt Nam tái chiếm Quảng Trị. Hà Nội trở nên bị cô lập, cả Liên Xô và Trung Quốc đều không viện trợ, ngoại trừ các phản đối chính thức. Trong cùng tháng, các cuộc đàm phán với Lê Đức Thọ lại tiếp tục.

Trong khi các quan điểm chính thức vẫn không thay đổi, nhưng ông có một giọng điệu thân thiện hơn. Ông đặt vấn đề tìm hiểu tốc độ mà đàm phán có thể đạt được một thoả thuận chung cuộc, ông dự trù đạt được mức đột phá.

Trong cuộc họp ngày 8 tháng 10, ông đột nhiên đưa ra một tài liệu chính thức, với tài liệu này, Hà Nội sẽ chấp nhận đề xuất cuối cùng của Nixon vào tháng Giêng. Ông xác định là: Đề nghị mới này đúng là của Tổng thống Nixon tự đề xuất: Đình chiến, chấm dứt chiến tranh, trao trả các tù binh và rút quân.

Chủ yếu các điều này là đúng, dù có một vài cạm bẫy được nhận ra trong các cuộc đàm phán. Nhưng khi chấp nhận chính phủ Sài Gòn như là một cấu trúc liên tục, chúng ta đã đạt được một trong những mục tiêu chính.

Khi Lê Đức Thọ chấm dứt, tôi yêu cầu có thời gian. Sau khi ông rời phòng họp, tôi quay sang Winson Lord, người bạn và là một phụ tá đặc biệt của tôi, bắt tay ông và nói: “Chúng ta có thể tiến hành việc này” (5).

Sau khi kềm chân chúng tôi gần ba năm dài, bây giờ, Lê Đức Thọ thay đổi hẳn thái độ, bởi vì Hà Nội nóng ruột khi cho rằng, các cuộc đàm phán đang đứng trước cuộc bầu cử tổng thống Mỹ; mặt khác, sau đó Hà Nội lo sợ phải thương thuyết với vị tổng thống tái đắc cử do đa số chọn.

Nixon ý thức rằng trong nhiệm kỳ thứ hai có lẽ ông sẽ gặp phải thái độ thù nghịch của Quốc hội, khi họ sẵn sàng cắt giảm các viện trợ cho chiến tranh.

Trong một thời gian ngắn, các tính toán về chiến thuật của hai phía cùng theo về một hướng: Cuối cùng, cuộc xung đột đã đến một điểm mà các học giả nghiên cứu về các giải pháp trong hội nghị cho rằng đã chín muồi.

Khi Lê Đức Thọ và tôi cùng trải qua ba ngày ba đêm dài để soạn thảo bản thoả thuận chung quyết (ngoại trừ việc đồng thuận của Nixon và Sài Gòn), hoà bình đang trong tầm tay, và Hà Nội thúc giục chúng tôi kết thúc ngay công việc.

Nhưng cả Nixon và tôi đều không muốn kết thúc cuộc chiến bằng cách áp đặt lên dân tộc mà họ đã đứng về phía chúng ta chiến đấu trong suốt 20 năm. Và Sài Gòn cũng biết rõ là cuộc chiến đấu sống còn của họ không thể kết thúc với một hòa ước, họ kiên quyết về các cuộc đàm phán được kéo dài qua các chi tiết, trong một tiến trình cho thấy là không phải chỉ có miền Bắc có khả năng chịu đựng. Thật ra, chiến thuật trì hoãn của Sài Gòn có ý nghĩa sâu xa hơn: Lo sợ bị bỏ rơi với một kẻ thù ngoan cố, mà từ “hoà bình” đối với họ chỉ có ý nghĩa chiến thuật.

Trong khoảng thời gian này, tình hình đúng là một sự đảo ngược, mà nó đã xảy ra trong suốt nhiệm kỳ đầu của Nixon: Hà Nội thúc ép chúng tôi kết thúc một thỏa ước mà họ kéo dài gần mười năm. Họ muốn quy định cho chúng tôi về những gì đã được thảo luận và công bố toàn bộ các văn bản về kết quả đàm phán.

Trong cuộc họp báo ngày 26 tháng 10 năm 1972, tôi giải thích về diễn tiến của tình hình và nhấn mạnh là vẫn còn cam kết cho quy luật đàm phán. [Với sự đồng thuận của Nixon], tôi dẫn nhập bằng cách dùng câu: “Hoà bình đang ở trong tầm tay”. Tôi kết thúc lời tuyên bố với đoạn văn nhằm phản ảnh mức khẩn thiết và giới hạn của chúng tôi:

“Chúng tôi sẽ không để bị thúc ép trong một thoả ước, cho đến khi nào mà các quy định của thoả ước này là hợp lý. Chúng tôi cũng sẽ không để bị chệch hướng từ một thoả ước mà những quy định của thoả ước này là đúng đắn. Và với thái độ này và sự hợp tác của phía bên kia, chúng tôi tin là có thể tái lập rất sớm hoà bình và thống nhất tại Hoa Kỳ”.

Sau khi Nixon tái đắc cử vào ngày 7 tháng 11, Lê Đức Thọ tin rằng thời gian đã đến cho phía của ông và dùng các chiến thuật để làm đình trệ trong thời kỳ trước khi cuộc đột phá về đàm phán.

Cho đến đầu tháng 12, Nixon kết luận rằng, Hà Nội đang tìm cách kéo dài các cuộc đàm phán trong nhiệm kỳ thứ hai của ông, ông đề ra một chiến dịch không kích với phi cơ B-52 để chống các mục tiêu quân sự. Lệnh này đã bị truyền thông, Quốc hội và quốc tế phê bình kịch liệt.

Nhưng hai tuần lễ sau, Hà Nội trở lại bàn hội nghị, và đồng ý các tu chỉnh do Sài Gòn đòi hỏi. Hòa ước Paris được ký kết vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, văn bản bao gồm các điều khoản quan trọng mà Nixon đề ra một năm trước đó.

Chín quốc gia, cũng như các chính phủ Sài Gòn và Hà Nội và Cộng Sản miền Nam chính thức đồng thuận bản hòa ước và đánh dấu một cao điểm về chính sách Việt Nam của Nixon.

Tuy nhiên, vào tháng 3, Hà Nội lại vi phạm hòa ước một cách nghiêm trọng, bằng cách dùng đường mòn Hồ Chí Minh để đưa một số lớn thiết bị quân sự vào miền Nam. Đầu tháng 4 năm 1973, Nixon quyết định không kích trên các đường tiếp vận của Hà Nội. Việc này được dự định cho đầu tháng 4, sau khi các tù binh Mỹ hồi hương từ các nhà tù Bắc Việt.

Giữa tháng 4, John Dean, Cố vấn Toà Bạch Ốc, bắt đầu hợp tác với các công tố viên liên bang trong vụ điều tra liên quan đến các cáo buộc việc tham gia vụ nghe lén và các hoạt động khác của Nixon. Vụ lùm xùm này loan ra tai tiếng rất nhanh, mà ngày nay nổi danh là Watergate. Do ảnh hưởng của vụ này, Quốc hội dùng quyền bảo lưu để cấm toàn bộ các hành động quân sự tại Đông Dương.

Hòa ước Paris luôn tuỳ thuộc vào tinh thần sẵn sàng và khả năng chấp hành các điều kiện quy định này. Hòa ước dựa trên sự mặc định là, đầu tiên, như trong cuộc tấn công của Bắc Việt trong năm 1972, Sài Gòn đã chứng tỏ có khả năng cầm cự các khả năng quân sự của Bắc Việt, cho đến khi nào mà miền Nam nhận được tiếp liệu như đã ghi trong Hiệp định (cụ thể là các vũ khí và thiết bị được thay đổi trên căn bản một đổi một), thứ hai, trong trường hợp có một cuộc tấn công toàn diện của Bắc Việt, không lực Mỹ sẽ sẵn sàng hỗ trợ.

Trong cuộc điều tra Watergate, công luận mệt mỏi, không hỗ trợ cho một cuộc xung đột thêm tại Đông Dương. Quốc hội cắt giảm toàn bộ các viện trợ quân sự cho Kampuchea và vì thế, để nước này cho Khmer đỏ chiếm đóng. Quốc hội giảm bớt viện trợ quân sự và kinh tế cho Nam Viêt Nam đến 50%, cấm chỉ mọi hoạt động quân sự bằng bộ binh, không quân trong và tại các ven biển của Bắc Việt, Nam Việt, Lào và Kampuchea. Trong tình hình này, việc thực thi các giới hạn của Hiệp định là không thể được, và các hạn chế dành cho Hà Nội tiêu tan.

Với Hiệp định Paris, Nixon đã mang về cho đất nước một kết quả thể hiện được vinh dự và địa chính trị, mà kết quả này về sau bị choáng ngợp do thảm hoạ nội chính. Tháng 8 năm 1974, Nixon từ chức tổng thống. Tám tháng sau đó, Sài gòn thất thủ sau một cuộc tấn công toàn diện của quân đội Bắc Việt, kể cả các sư đoàn chiến đấu. Ngoài Hoa Kỳ, không một nước nào trong số các cường quốc quốc tế đứng ra bảo đảm Hiệp định, phản đối.

Chiến tranh mang lại một sự phân hoá nội bộ trong xã hội Mỹ, cho đến nay vẫn còn xâu xé. Cuộc xung đột mang lại một phong cách trong cuộc thảo luận công cộng mà nó có ít liên quan đến nội dung hơn là động cơ chính trị và các bản sắc. Nổi giận đã thay thế cho cuộc đối thoại như là một phương tiện để thực hiện các tranh chấp, và sự bất đồng trở thành một cuộc xung đột của các nển văn minh. Trong tiến trình này, người Mỹ đang đứng trước cơ nguy trong việc quên đi các điều kiện mà các xã hội trở thành vĩ đại, nó không phải chỉ bằng chiến thắng của một phong trào hay đè bẹp chống đối trong nước, không phải là chiến thắng của phe này với nhóm kia, mà là qua một mục tiêu chung và hoà giải.

__________

Chú thích của tác giả:

  1. Khi làm như vậy, Johnson đã tuân theo trường phái tư duy đang thịnh hành, thuyết này cho rằng những thách thức của cộng sản tại châu Á có cùng đặc điểm với châu Âu trong thập niên 1940 và 1950. Do đó, Mỹ có thể chống lại bằng cách đề ra những lằn ranh an toàn cho dân chúng bị đe doạ, họ có thể tập hợp để theo đuổi tự do của họ. Thật không may, có một sự khác biệt quan trọng giữa hai trường hợp: về cơ bản, các xã hội châu Âu là gắn kết và do đó, khi mang lại được an ninh, họ có thể để xây dựng bản sắc lịch sử của họ.

Ngược lại, Đông Dương bị chia rẽ về sắc tộc và do nội chiến. Chiến tranh xâm lược diễn ra không chỉ qua các ranh giới theo địa lý mà còn ngay trong lòng xã hội. Năm 1965, Lâm Bưu, trợ lý của Mao, đã đưa ra một tuyên ngôn kêu gọi nông dân khắp thế giới trỗi dậy và đánh bại các thành phố. Cả hai chính quyền Kennedy và Johnson giải thích các thách thức của cộng sản là một cuộc thập tự chinh trong toàn cầu, mà trong đó Đông Dương tiêu biểu cho giai đoạn đầu tiên.

  1. Tôi không có hồi ức hay phân tích lý do tại sao hoặc ai chọn tên cho các bí danh này.
  2. Vào tháng 6, ngay trước khi Nixon khởi hành cho chuyến đi vòng quanh thế giới, một cuộc triệt thoái gồm 30.000 quân đã được thông báo. Việc cắt giảm này được đề ra để chuẩn bị cho bản tuyên bố tại Guam, nhưng dường như đến quá sớm trong chiến lược.
  3. Xem Chương 3, trang 170-171.
  4. Winston đã được thuyết phục không nên từ chức để phản đối Hoa Kỳ khi xâm nhập nhằm chống các căn cứ của Hà Nội đóng tại Campuchia trong năm 1970. Tôi lập luận rằng, ông nên lựa chọn giữa hai việc, một là mang băng biểu tình trước Toà Bạch Ốc và hai là ở lại trong một thời gian để chúng ta cùng nhau hoàn tất nhiệm vụ.
  5. Các giả định có thể so sánh được đã chi phối và duy trì Hiệp định đình chiến Triều Tiên năm 1953.

Đ.K.T. d.

Nguồn: Baotiengdan.com

Chính Nghĩa VNCH tiếp tục được duy trì – Dự Án làm Bảo tàng Di sản Việt Nam Cộng Hòa

Theo RFA

Quốc Phương, cộng tác viên RFA Tiếng Việt từ London

Ông Trịnh Hữu Long – Tổng biên tập của Luật Khoa Tạp Chí – bên giá sách bao gồm các sách xuất bản ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975

 Photo: RFA

“Khi nghĩ tới bảo tàng, mọi người thường nghĩ tới những tòa nhà rất lớn, những góc trưng bày cũng rất lớn có ánh sáng, có người hướng dẫn rất đầy đủ, chúng tôi hoàn toàn không có những thứ đó, nhưng lại có một thứ khác giúp khởi đầu,” một luật gia, nhà hoạt động và nhà báo, và đồng thời là nhà sưu tập di sản Việt Nam Cộng Hòa từ hải ngoại nói với Đài Á Châu Tự Do trong dịp 48 năm biến cố lịch sử 30/4/1975 được đánh dấu và tưởng niệm.

“Dự án Bảo tàng di sản Việt Nam Cộng Hòa của chúng tôi không phải khởi đầu với một triệu Mỹ kim hay là với mười triệu Mỹ kim hay bởi một tòa nhà hoành tráng nào cả, mà nó khởi đầu chính bằng vài trăm cuốn sách thời Việt Nam Cộng Hòa mà chúng tôi sưu tập được và nó khởi đầu chỉ bằng vài ngàn đô-la, mà một vài người bạn trong nhóm của Luật Khoa Tạp Chí của chúng tôi và một số Mạnh Thường Quân, cùng một số anh chị ở hải ngoại đóng góp, để chúng tôi có thể mua được những cuốn sách này, và đấy là khởi đầu của chúng tôi,” luật gia Trịnh Hữu Long, đồng Sáng lập viên, Tổng Biên tập Luật Khoa Tạp Chí và người sáng lập một phông lưu trữ hay một thư viện sách thời Việt Nam Cộng Hòa ở hải ngoại, nói với RFA Tiếng Việt hôm 27/4/2023.

“Thư viện sách Việt Nam Cộng Hòa này của chúng tôi đang đặt tại trụ sở của Luật Khoa Tạp Chí tại Đài Bắc, Đài Loan và thư viện này nằm trong khuôn viên của Đại học Chính trị Quốc lập Đài Loan, một trong những trường có thể nói là hàng đầu về chính trị học ở Đài Loan.”

Về dự án thành lập Bảo tàng di sản Việt Nam Cộng Hòa, mà khởi đầu bằng thư viện trên, ông Trịnh Hữu Long chia sẻ:

“Chúng tôi đã làm việc với Đại học này để họ có thể trợ giúp chúng tôi về kỹ thuật, về cơ sở hạ tầng, về cách bảo quản sách, về cách quản lý một thư viện, và đó là khởi đầu.”

Những hiện vật nào sẽ được thu thập và trưng bày?

Khi được hỏi dự án Bảo tàng sẽ quan tâm thu thập và trưng bày những hiện vật nào, ông Trịnh Hữu Long nói:

“Chúng tôi nhắm tới một số hiện vật, hiện nay chúng tôi ưu tiên những hiện vật có thể tái hiện nền chính trị và pháp lý của Việt Nam Cộng Hòa và một điều nữa là chúng tôi muốn thu thập những hiện vật về thuyền nhân Việt Nam.

Thuyền nhân Việt Nam là một chương sử gắn với Việt Nam Cộng Hòa và là một chương sử rất đau thương, chúng tôi muốn thu thập những hiện vật liên quan đến vấn đề này để giúp công chúng có thể nắm được một thảm kịch rất gần với chúng ta ngày nay.

Về Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi mong muốn thu thập và trưng bày một số hiện vật chẳng hạn như một số lá cờ, những đồng tiền, các hiện vật tái hiện khung cảnh, cũng như cách thức hoạt động của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, từ cơ quan lập pháp, tư pháp, cho đến hành pháp, trong đó có những hiện vật gì, hình ảnh gì, chúng tôi rất muốn thu thập được những thứ như thế.

Chúng tôi cũng mong muốn thu thập và trưng bày những hiện vật liên quan Chiến tranh Việt Nam, những ‘tàn tích’ mà có thể là một số loại vũ khí mà một số nơi vẫn còn lưu giữ được, tuy đó chưa phải là trọng tâm mà chúng tôi ưu tiên, so với điều mà chúng tôi đang mong muốn tìm hiểu là cách thức vận hành của nền chính trị và pháp lý của Việt Nam Cộng Hòa, và tất cả những gì có thể giúp chúng ta hình dung được về khung cảnh chính trị, về cách thức nền pháp lý vận hành, chúng tôi mong muốn có được những hiện vật đó.

Với những ai đang lưu trữ những hình ảnh, những tư liệu về thời kỳ đó, có thể liên lạc với chúng tôi, để chúng tôi tư vấn cách gửi cho chúng tôi tới văn phòng của chúng tôi ở Đài Bắc, mà địa chỉ chúng tôi cũng đã có để ở trên Website rồi, tuy nhiên với những ai muốn gửi cho chúng tôi những tư liệu, hiện vật đó, chúng tôi sẵn sàng tư vấn cách gửi.

Nó sẽ tốn một ít thời gian, một ít kinh phí và với một số hiện vật dễ vỡ chẳng hạn, sẽ cần một số cách thức đóng gói, vận chuyển sao đó cho được cẩn thận, và đó là một số phương cách rất đơn giản mà chúng tôi hiện đang nghĩ tới.”

vnchbookbyluatkhoa.jpeg
Những cuốn sách thời VNCH được thu thập bởi Dự án Bảo tàng di sản Việt Nam Cộng Hòa ở Đài Bắc. Hình: Legal Initiatives for Vietnam

Những cuốn sách được thu thập đến nay như thế nào?

Khi được hỏi về cách thức mà những cuốn sách cũ từ thời Việt Nam Cộng Hòa đã tìm được đường tới với Thư viện của Luật khoa Tạp chí, mà theo ông Trịnh Hữu Long sẽ trở một thành thành tố cốt lõi để phát triển dự án Bảo tàng về di sản nói trên, luật gia và nhà sưu tầm này nói:

“Thú thật là 300 cuốn sách được thu thập từ nhiều nguồn, và những nguồn này có thể được thu thập từ trong nước, cũng như từ ngoài nước, nhưng hầu hết từ trong nước và hiện nay quý vị cũng có thể thấy ở Việt Nam cũng có một số diễn đàn, một số trang mạng có bán lại những đầu sách cũ này.

Họ là những người sưu tầm, những người yêu thích sách vở, yêu thích lịch sử, họ thu thập lại những cuốn sách đó và họ bán lại trên diễn đàn mạng, và chúng tôi cứ lần theo những thông tin đó, chúng tôi cóp nhặt dần. Những cuốn sách ấy hiện nay không hẳn là bị cấm ở Việt Nam, nhưng không được chính thức lưu trữ trong các thư viện, hay không được bán trong các nhà sách chính thống, mà đây là những sách vở do những cá nhân thu thập, do những người buôn bán một cách nhỏ lẻ tiến hành.

Từ năm 2014 đến nay cũng gần 10 năm, chúng tôi tích góp dần thì được ngần ấy sách, vì số sách này tương đối đắt, sách hiếm, sách “cổ” cho nên có thể lên tới vài trăm Mỹ kim một cuốn. Trong kho sách của chúng tôi đa số là những cuốn sách về luật, về chính trị, mà quý vị có thể tìm thấy chẳng hạn những văn bản luật của Việt Nam Cộng Hòa như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, hình luật, Bộ luật Thương mại v.v…, chúng tôi còn có những bộ luật cổ hơn mà xuất bản dưới thời Việt Nam Cộng Hòa.

Ở đây, quý vị cũng có thể tìm thấy những tập san của Tối cao Pháp viện Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có ghi các quyết định xét xử, các bản án, mà đã được xét xử thời kỳ đó, đấy là một nguồn tư liệu mà tôi nghĩ với những ai nghiên cứu về luật, thì đó là vô giá.

Ngoài ra, quý vị cũng có thể tìm thấy những cuốn sách về luật và chính trị học do Đại học Luật khoa Sài Gòn và Học viện Hành chánh Quốc gia Sài Gòn xuất bản trong thời kỳ đó, mà quý vị có thể tìm thấy những tên tuổi của những học giả rất nổi tiếng, ví dụ Vũ Văn Mẫu, hay Nguyễn Văn Bông, hay là Vũ Quốc Thông, có thể nói đó là những đại thụ trong nền chính trị học và luật học của nước ta (Việt Nam) trong lịch sử.

Về nội dung, đó là những cuốn sách rất có giá trị về mặt chuyên môn, về mặt tri thức, vì thứ nhất được viết một cách không có kiểm duyệt, các Giáo sư thời đó viết không có kiểm duyệt, thứ hai nữa là họ có bề dày về tri thức rất vững chắc, để có thể nắm bắt được các xu hướng tư tưởng trên thế giới và truyền đạt lại cho người Việt Nam thông qua những giáo trình đó.”

Ông Trịnh Hữu Long cho biết ông và các đồng nghiệp trong dự án Thư viện và Bảo tàng đã và đang tiến hành số hóa các cuốn sách và tư liệu, và đối với dự án Bảo tàng sẽ được xây dựng trong tương lai, ông cũng sẽ áp dụng những công nghệ mới, trong đó có công nghệ ảo trong trưng bày, giới thiệu tư liệu, hiện vật, và trong quá trình xây dựng, vận hành dự án, sẽ quan tâm những hợp tác, hỗ trợ từ chuyên môn cho tới nguồn lực.

Cần hợp tác hỗ trợ gì và khi nào Bảo tàng khai trương?

Về khía cạnh tìm kiếm sự giúp đỡ về các nguồn lực, trong đó có vấn đề thu thập hiện vận, ông Trịnh Hữu Long nói:

“Một trong những khó khăn của chúng tôi hiện nay là vấn đề nguồn kinh phí để có thể mua thêm được sách, để có thể thu thập thêm những hiện vật, để có phòng ốc trưng bày và lưu trữ những cuốn sách và những hiện vật.

Đó là những gì chúng tôi đang xúc tiến và chúng tôi rất mong muốn rằng quý khán, thính giả người Việt Nam ở khắp nơi, trong nước và ngoài nước, không những là những ai trăn trở về Việt Nam Cộng Hòa, mà còn là những người tò mò về lịch sử Việt Nam, những người mong muốn có một cái nhìn chân thực về lịch sử Việt Nam, mong muốn đi tìm tri thức pháp lý, tri thức chính trị, mong muốn đi tìm những câu trả lời cho tương lai chính trị của Việt Nam, có thể góp tay cùng với chúng tôi bằng nhiều cách.

Quý vị có thể đóng góp bằng tài chính, quý vị có thể đóng góp bằng hiện vật, bằng sách vở, hoặc làm một tình nguyện viên cho chúng tôi để dần dần thu thập sách vở và hiện vật để xây dựng nên Bảo tàng này.

Chúng tôi không muốn đại ngôn, hay nói lớn về dự án này, vì nó còn đang là một nỗ lực khiêm tốn, tuy nhiên tham vọng của chúng tôi là một tham vọng lớn, tham vọng của chúng tôi là có một kho dữ liệu rất đồ sộ, nếu không muốn nói là kho dữ liệu lớn nhất về Việt Nam Cộng Hòa mà có thể có được, mà điều ấy cần rất nhiều nỗ lực…

Tôi mong muốn rằng sẽ có nhiều bạn, nhiều cô, chú, bác, anh, chị em ở khắp nơi chung tay với chúng tôi, để xây dựng nên Bảo tàng này và nó được kỳ vọng sẽ là một dự án có thể tạo ra những thay đổi cực kỳ quan trọng trong việc nghiên cứu, tìm hiểu về thời kỳ chiến tranh Việt Nam, cũng như về Việt Nam Cộng Hòa…”

Khi được hỏi khi nào thì Bảo tàng di sản Việt Nam Cộng Hòa sẽ được khai trương để công chúng quan tâm có thể tiếp cận, ông Trịnh Hữu Long, người chủ trì dự án đáp:

“Về Thư viện tại Đài Bắc, hiện nay chúng tôi đã tiếp nhận một số học giả, một số bạn sinh viên quan tâm tới nghiên cứu.

Chính thức ra, chúng tôi còn gặp một số hạn chế về điều kiện, không gian để có thể mở cửa, tiếp khách, tuy nhiên thư viện số hóa với những cuốn sách này, chúng tôi sẽ công bố rất sớm, và có lẽ trong năm nay, chúng tôi sẽ công bố thư viện này. Và đó sẽ là nỗ lực đầu tiên mang Thư viện này đến với công chúng.

Còn với dự án lớn hơn là dự án Bảo tàng di sản Việt Nam Cộng Hòa mà trong đó không chỉ có sách, mà còn có các hiện vật, chúng tôi mong muốn có thể khai trương dự án này vào thời điểm kỷ niệm 50 năm ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam, đó là vào tháng tư năm 2025.

Nửa thế kỷ trôi qua, đó là lúc người Việt Nam sẽ cần những nỗ lực cực kỳ bài bản, nghiêm túc, chuyên nghiệp, và với tinh thần cầu thị, nhìn nhận về lịch sử, chúng tôi mong muốn 50 năm ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam là thời điểm chúng tôi có thể công bố Bảo tàng này và từ đó chúng ta có thể bắt đầu những nỗ lực tiếp theo trong việc hàn gắn những vết thương chiến tranh qua việc tìm hiểu về Việt Nam Cộng Hòa và trong việc học hỏi từ Việt Nam Cộng Hòa, cho quá trình kiến tạo một quốc gia dân chủ trong tương lai; 50 năm là thời điểm rất xa rồi và chúng ta cần phải bắt đầu những nỗ lực như vậy.

“Và tháng tư năm 2025, chúng tôi hy vọng sẽ gặp được nhiều khán, thính giả của Đài RFA tại Đài Bắc để chúng ta có thể bắt đầu mở cửa, khai trương Bảo tàng này về di sản Việt Nam Cộng Hòa” –  luật gia, nhà hoạt động, nhà sưu tầm tư liệu về Việt Nam Cộng Hòa, ông Trịnh Hữu Long chia sẻ với RFA Tiếng Việt trên quan điểm riêng.

Luật Pháp XHCN vừa tức hộc máu vừa hài hước – Không được điều tra cái chết xảy ra trong đồn Công An, không được cải táng

Theo RFA

Con chết trong đồn công an, cha kêu oan thì bị bắt

Cha của nạn nhân chết bất minh trong đồn công an bị bắt do đòi hỏi làm rõ vụ việcLực lượng chức năng đọc lệnh khám xét, lệnh bắt tạm giam đối với bị ông Đào Bá Cường

 Công an Tuy Hòa-Phú Yên

Ông Đào Bá Cường, cha của nạn nhân Đào Bá Phi bị chết trong đồn Công an Tuy Hòa- Phú Yên hồi tháng 10 năm ngoái, bị khởi tố và bị bắt do kiên trì đòi hỏi làm sáng tỏ về cái chết của người con.

Trưởng Công an Thành phố Tuy Hòa – Thượng tá Nguyễn Hữu Sơn, ngày 27/4 cho truyền thông Nhà nước biết các biện pháp vừa nêu và cáo buộc đối với ông Đào Bá Cường là “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân” theo Điều 331, Bộ Luật Hình sự Việt Nam.

Công an Thành phố Tuy Hòa cho biết từ tháng 12/2022 đến tháng 4/2023, ông Đào Bá Cường nhiều lần gửi đơn đến các cơ quan chức năng yêu cầu giải quyết làm rõ một số nội dung liên quan đến cái chết của con trai Đào Bá Phi và đề nghị trả xác cho gia đình, cầu cứu giải oan cho con trai.

Như tin đã loan, Công an tỉnh Phú Yên vào ngày 20/10/2022 ra thông báo về vụ bắt giữ công dân Đào Bá Phi, ngụ ở phường 4, thành phố Tuy Hoà, vào ngày 16/10/2022 để điều tra về hành vi trộm cắp tài sản. Lúc này ông Phi hoàn toàn khoẻ mạnh. Đến 5 giờ ngày 18/10, người bị tạm giam cùng ông Phi phát hiện ông Phi đang treo cổ trong phòng giam. Ông Phi được sơ cứu và đưa đến Trung tâm Y tế thị xã Đông Hoà nhưng không qua khỏi.

Theo thông cáo báo chí thì Công an thị xã Đông Hoà “đã thông báo về thời gian, địa điểm khám nghiệm tử thi và đề nghị đại diện gia đình Đào Bá Phi chứng kiến, nhưng gia đình đưa ra các điều kiện không phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng khám nghiệm đã tiến hành khám nghiệm tử thi Đào Bá Phi theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự.”

Ngày 28/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên kết thúc kiểm tra, xác minh và ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bà Đào Thị Quyên, chị gái của ông Đào Bá Phi, sau cái chết của người em trai, cho Đài Á Châu Tự do biết nhận được nhiều thông tin trái ngược với những điều mà phía công an đưa ra.

Theo lời bà Quyên, tầm 11 giờ trưa ngày 16/10, có ba người công an mặc thường phục vào nhà yêu cầu ông Phi lên công an phường 4, thành phố Tuy Hoà làm việc, mà không có giấy mời hay giấy triệu tập gì.

Đến trưa ngày 17/10, một cán bộ Công an thị xã Đông Hoà gọi điện cho gia đình thông báo ông Phi đã bị chuyển qua công an thị xã Đông Hoà, đồng thời yêu cầu người nhà mang hai bộ đồ với một ít tiền cho ông Phi ăn uống trong lúc bị tạm giữ.

Theo lời yêu cầu, ông Nguyễn Bá Cường, là cha của ông Phi, lên trụ sở công an gởi đồ thì thấy ông Phi đang bị còng tay. Nhìn thấy cha, ông Phi lớn tiếng kêu cứu.

Sáng ngày 18/10, Công an phường 4 và Công an thị xã Đông Hoà thông báo với gia đình là ông Phi đã chết do treo cổ tự tử. Bà Quyên cho biết ông Cường xin được nhìn con lần cuối, nhưng phía công an không đồng ý, họ yêu cầu ông Cường phải ký giấy đã nhận xác trước.Tối hôm đó, gia đình một lần nữa đến Công an thị xã Đông Hoà để đem xác ông Phi về, nhưng phía công an nói là phải đợi chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền:

Ngày 20/10, Bưu điện cùng lúc gởi cho ông Cường ba văn bản từ Công an thị xã Đông Hoà. Thứ nhất là Thông báo về việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với ông Đào Bá Phi để điều tra về hành vi trộm cắp tài sản. Thứ hai là Thông báo về việc người bị tạm giữ tự tử và thứ ba là Thông báo an táng người tạm giữ đã chết.

Bà Quyên cho biết, cho đến ngày 24/10, sau khi nhận thông báo ông Phi đã chết do tự tử, gia đình chưa một lần nào được nhìn mặt ông Phi. Công an cũng không cho gia đình biết ông Phi được an táng ở đâu.

Nhiều uẩn khúc trong vụ người bị tạm giữ chết trong đồn công an ở Phú Yên

Cho rằng phía cơ quan chức năng đang “bóp méo sự thật”, gia đình nạn nhân vào sáng ngày 19/10 mặc áo tang, tập trung ở đồn Công an thị xã Đông Hoà để đòi thi thể ông Phi. Một thành viên trong gia đình đã livestream lại vụ việc và video này nhanh chóng lan truyền trên mạng xã hội.

Công an Phú Yên thông tin vụ nghi phạm trộm xe chết trong nhà tạm giữ ảnh 1

Bà Quyên cho biết thêm, công an nói với gia đình rằng họ sẽ chỉ chỗ đã an táng ông Phi, với điều kiện gia đình phải ký giấy thoả thuận chỉ được bốc mộ cải táng sau 36 tháng.

Chính quyền VN: 48 năm vẫn cầm quyền như “lực lượng chiếm đóng”

Theo RFA

Quốc Phương, cộng tác viên RFA Tiếng Việt từ London

Chính quyền VN: 48 năm vẫn cầm quyền như "lực lượng chiếm đóng"Lực lượng an ninh đặt bảng cấm quay phim, chụp hình ở gần Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, trong khi có cuộc biểu tình nhỏ chống Trung Quốc diễn ra ngày 18/5/2014

 AP

Kể từ biến cố 30/4/1975, bốn mươi tám năm đã qua, thế nhưng chính quyền cộng sản Việt Nam vẫn ứng xử với đất nước “như một lực lượng chiếm đóng”, theo một nhà phân tích chính trị và hoạt động dân chủ, đa nguyên từ châu Âu.

“Chính quyền cộng sản ứng xử như một lực lượng chiếm đóng, tất cả những chức vụ dù rất nhỏ như là phó phòng, như là hạ sỹ quan, đều chỉ dành cho người cộng sản,” từ Paris, Pháp quốc, kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng, người từng làm chuyên viên ngân hàng và dạy môn kinh tế chính trị tại đại học Minh Đức, Sài Gòn rồi giữ cương vị phụ tá Bộ trưởng kinh tế chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thời Đệ nhị Cộng hòa với hàm Thứ trưởng cho đến ngày 30/4/1975, nói với đài Á Châu Tự Do tuần này trên quan điểm riêng, trong dịp nhìn lại và đánh dấu tròn 48 năm biến cố lịch sử đối với đất nước Việt Nam.

“Chúng ta đang có cả một thế hệ mới có kiến thức, hiểu biết, một thế hệ đã từ bỏ được di sản Khổng giáo để nhìn chính trị một cách đúng đắn như là một phương thức điều hành quốc gia mang lại phúc lợi cho người dân, một thế hệ rất là lớn.

Đảng cộng sản Việt Nam có bao nhiêu người? Tôi nghĩ rằng họ có 5 triệu đảng viên, nhưng mà thực ra, bỏ ra những vị đã về hưu rồi, thì còn lại khoảng 3 triệu đảng viên, họ là một thành phần rất là nhỏ. Nhưng mà họ chiếm lĩnh hết.

Vậy thì chúng ta có một thành phần trí thức trẻ có hiểu biết, đã rũ bỏ được văn hóa nhân sỹ của Khổng giáo, thành phần đó có kiến thức, có khả năng, rất nhiều anh em bây giờ đi du học tại Âu châu, hoặc du học tại Mỹ. Họ có những kiến thức dân chủ và tự do, nhưng họ bị gạt ra ngoài lề xã hội.”

Kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng, thành viên sáng lập Tập hợp Dân chủ Đa nguyên, một tổ chức tập hợp nhiều trí thức, nhân sỹ Việt Nam ở Pháp quốc, châu Âu và hải ngoại vốn có chủ trương vận động cho dân chủ và dân chủ hóa Việt Nam hậu 30/4/1975 bằng đường lối bất bạo động và trong tinh thần hòa giải dân tộc, đồng thời cổ súy cho các đối thoại chính trị đa nguyên, đưa ra một lời cảnh báo với chính quyền cộng sản Việt Nam ngày hôm nay, ông nói: 

“Những chức vụ dù nhỏ nhất cũng dành cho những người cộng sản, và tôi sợ rằng nếu đảng Cộng sản và những người cộng sản Việt Nam không ý thức được điều đó, nó có thể là một trái bom nổ chậm và không tránh khỏi thảm kịch đã xảy ra ở Romania, thảm kịch ở Indonesia.”

Tại Romania trước đây, chính phủ của Tổng Bí thư đảng Cộng sản Romania khi đó, ông Nicolae Ceaușescu bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính vào tháng 12 năm 1989, theo trang Bách Khoa toàn thư mở Wikipedia phiên bản tiếng Việt, mà trong biến cố đó, ông Ceaușescu và vợ là Elena đã trốn khỏi thủ đô bằng trực thăng, nhưng họ đã bị quân đội bắt giữ và bị kết án với hình phạt cao nhất bởi các lực lượng đảo chính trong cuộc cách mạng này.

Còn tại Indonesia trước đây, những vụ thanh trừng tại đây trong giai đoạn hai năm 1965-1966 được cho là một cuộc thanh trừng chống cộng sản, sau một cuộc đảo chính không thành ở thủ đô Jakarta mà sau này cuộc đảo chính này bị đổ lỗi cho Đảng Cộng sản Indonesia (PKI). Và vẫn theo trang mạng Wikipedia phiên bản tiếng Việt, một ước tính được chấp nhận rộng rãi nhất là hơn nửa triệu người đã thiệt mạng. Các cuộc thanh trừng là một sự kiện quan trọng trong quá trình chuyển đổi các “trật tự mới” với đảng Cộng sản Indonesia (PKI) đã bị loại bỏ như là một lực lượng chính trị và các biến động dẫn đến các sự sụp đổ của Tổng thống Sukarno, và bắt đầu thời kỳ cầm quyền 30 năm của tổng thống Suharto.

Và ông Nguyễn Gia Kiểng, vẫn trên quan điểm cá nhân, nói tiếp:

“Điều đó là điều mà không ai muốn, bởi vì đất nước Việt Nam, trên cơ thể Việt Nam, đã có quá nhiều vết thương rồi, và chúng ta không có quyền tạo ra một vết thương nào mới nữa. 

Chúng ta phải cố gắng một mặt phải giảng giải để cho các anh em cộng sản hiểu rằng tương lai nào bắt buộc phải có đối với Việt Nam; và mặt khác, chúng ta cũng phải giải thích cho những người tự coi là nạn nhân của chế độ hiểu rằng nếu chúng ta tiếp tục trong tinh thần thù hận, chúng ta sẽ còn tiếp tục là nạn nhân nữa. Con đường và lối thoát duy nhất, là lối thoát của sự quảng đại, của tình cảm dân tộc, của tình anh em.”

sach Nguyen Gia Kieng.jpg
Cuốn “Tổ Quốc Ăn Năn – Nghĩ lại đất nước trên ngưỡng cửa một thế kỷ và một thiên niên kỷ mới” của tác giả Nguyễn Gia Kiểng xuất bản tại Paris năm 2004 và cuốn “Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai – Dự án chính trị dân chủ đa nguyên” do tác giả Nguyễn Gia Kiểng tham gia chấp bút, xuất bản và được in năm 2015 tại Hoa Kỳ. Ảnh: Quốc Phương/RFA

Khi được hỏi liệu một lực lượng chính trị nào đó lâu nay cầm quyền và củng cố quyền lực đã nắm được đó qua suốt nhiều thập niên liên tục, có thể nào dễ dàng và tự nhiên hay là không, làm một sự thay đổi mà có thể hiểu theo cách Kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng đã đề cập, hay gợi ý như trên ở Việt Nam, cựu thành viên nội các chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cho đến tận ngày 30/4/1975 và người đã từng có thời gian bị đi tù ‘học tập cải tạo’ dưới chính quyền cộng sản sau biến cố này, nói:

“Theo tôi, việc này dễ chứ không khó. Nếu chúng ta đọc lại chính những con số, những báo cáo của đảng Cộng sản Việt Nam, họ nói rằng trong 10 năm qua, họ đã kỷ luật 8.300 người về tội ‘tham nhũng’ mặc dù chiến dịch chống tham nhũng là một chiến dịch rất lớn, nhưng mà bên cạnh đó họ đã kỷ luật 25.000 người vì ‘suy thoái tư tưởng’, vì ‘tự diễn biến, tự chuyển hóa’.

Tức là tôi nghĩ rằng phong trào lớn nhất trong đảng Cộng sản Việt Nam hôm nay là phong trào hướng về dân chủ; và ‘tự diễn biến, tự chuyển hóa’ chính là một cụm từ để chỉ những người có khuynh hướng dân chủ. 

Tôi nghĩ chống tự diễn biến, tự chuyển hóa sự thực là một điều vô lý. Một mặt thì kêu gọi ‘đổi mới’, chủ trương ‘đổi mới’, một mặt lại chống ‘diễn biến’. Đổi mới là gì? Đổi mới là tự diễn biến chứ còn là gì nữa?

Nhưng mà họ muốn đổi mới mà không thay đổi và họ luẩn quẩn ở trong sự bế tắc của chủ nghĩa Marx-Lenin mà ngày nay cả thế giới nhận định là không những là sai lầm, mà còn độc hại nữa.

Thành ra tôi nghĩ họ không thể ngăn cản phong trào và tâm lý tự diễn biến, tự chuyển hóa được đâu. Và trong số 25 ngàn người mà bị quy là ‘tự diễn biến, tự chuyển hóa’ đó, phải có những người trong đó mà có tư tưởng, tức là những người trung cao cấp mà như thế.

Tôi nghĩ ngày hôm nay, niềm tin, niềm lạc quan chính là tinh thần dân chủ và tình cảm dân tộc đã xâm nhập vào đảng Cộng sản Việt Nam, và có những anh em ở trong đảng cộng sản đã nhận ra được rằng tương lai của họ không phải là với đảng cộng sản, mà là với dân tộc.”

Khi được hỏi liệu Việt Nam nói chung tới nay đã sẵn sàng hay chưa cho một sự đổi thay, hay cải tổ triệt để thể chế chính trị – xã hội mà có thể được toàn xã hội và nhân dân cùng các giới kỳ vọng, mong đợi, ông Nguyễn Gia Kiểng nói:

“Để trả lời câu hỏi trên, tôi nghĩ rằng chúng ta nhìn vào vấn đề, chúng ta nhìn vào thực tại, nhìn vào những vụ án như là vụ xử mới đây xử 6 năm tù giam mà lại xử kín với một người như là Kỹ sư Nguyễn Lân Thắng, bởi vì anh bị cho là đả kích cố Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng hạn, nhìn vào đó, chúng ta thấy chế độ này còn tàn bạo, còn dữ dằn lắm.

Nhưng mà thực ra, nếu chúng ta bình tĩnh nghĩ lại, nhìn lại toàn cảnh của đất nước, chúng ta thấy rằng dân chủ hóa là không xa và tôi nghĩ hạn kỳ dân chủ hóa là tương đối gần. 

Tất cả vấn đề là tất cả chúng ta có quyết tâm hay không mà thôi, mà nếu chúng ta chủ trương phải dân chủ hóa trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, bằng đường lối gạt bỏ tất cả những âm mưu, những ý tưởng về bạo lực, có thể hạn kỳ dân chủ sẽ rất là gần và không những chỉ là gần mà nó còn đẹp nữa,” ông Nguyễn Gia Kiểng nêu quan điểm với RFA Tiếng Việt trên quan điểm riêng từ Lognes, thuộc Île-de-France, miền bắc nước Pháp trong dịp này.

Kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng sinh năm 1942 tại Thái Bình, miền Bắc Việt Nam, trong một gia đình mà cha và các chú bác đều là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, theo trang Wikipedia tiếng Việt. Năm 1954, ông di cư vào miền Nam cùng với gia đình. Nguyễn Gia Kiểng học hết trung học năm 1961 và được học bổng đi du học Pháp. Sau khi tốt nghiệp kỹ sư tại trường École Centrale de Paris, ông học thêm cao học kinh tế rồi làm việc tại Pháp 5 năm và về nước năm 1973. Về nước, dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ông làm chuyên viên ngân hàng và dạy môn kinh tế chính trị tại đại học Minh Đức Sài Gòn rồi làm phụ tá Bộ trưởng kinh tế với hàm Thứ trưởng cho đến ngày 30/4/1975. 

Sau ngày này, ông bị đưa đi tập trung cải tạo trong hơn ba năm rồi được sử dụng làm chuyên viên dưới chế độ mới cho đến khi được đi Pháp do sự can thiệp của chính phủ Pháp năm 1982. Năm 1982, trở lại Pháp, Nguyễn Gia Kiểng hành nghề kỹ sư và doanh nhân. Ông trở thành Chủ tịch, Tổng giám đốc một công ty tư vấn cho đến khi nghỉ hưu năm 2005, để dành toàn thời gian cho hoạt động chính trị, trong đó ông có thành lập một tổ chức chủ trương đối thoại chính trị đa nguyên, bất bạo động, mang tên gọi Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên. Ông là tác giả của cuốn sách chính luận bằng tiếng Việt “Tổ quốc ăn năn – Nghĩ lại đất nước trên ngưỡng cửa một thế kỷ và một thiên niên kỷ mới” (Paris, 2004), mà đã được dịch sang tiếng Anh dưới tựa đề “Whence… Whither… Viêtnam?). Năm 2015, ông cũng tham gia chấp bút một cuốn sách khác có tựa đề “Khai sáng kỷ nguyên thứ hai – Dự án chính trị dân chủ đa nguyên”.

Chính nghĩa Cờ Vàng tiếp tục tỏa sáng – Thống Đốc Tiểu Bang Michigan công nhận ngày tưởng niệm 30-4

  • Tin phấn khởi đến từ tiểu bang Michigan mà chủ tịch cộng đồng Việt Nam ở đó đã gọi là một món quà vô giá của Thống Đốc tiểu bang tặng cho đồng bào Việt Nam.
  • Tiểu bang Michigan lấy ngày 30-4 làm ngày tưởng niệm chiến sĩ Hoa Kỳ, Việt Nam và đồng bào thuyền nhân đã bỏ mình cho lý tưởng tự do.
  • Chính nghĩa VNCH ngày càng tỏa sáng sau một thời gian ngủ im.
  • Hoa Kỳ, Âu Châu thức tỉnh trước hiểm họa đe doa của Tàu Cộng, chính điều này giúp họ quan tâm hơn đến lý tưởng tự do nói chung.

Cộng sản Trung Quốc dùng ứng dụng trên phone để giám sát công dân tham dự các buổi lễ tôn giáo

Hình ảnh nổi bậtPhụ nữ cầu nguyện trong nhà thờ chui ở Trung Quốc.

BẮC KINH ( LifeSiteNews ) – Trung Quốc đã đưa việc giám sát và kiểm soát tôn giáo của mình lên một tầm cao mới với việc triển khai ứng dụng “ Tôn giáo thông minh – Smart Religion ” mới, ứng dụng này sẽ cho phép chính phủ Cộng sản biết chính xác ai tham gia vào bất kỳ nghi lễ tôn giáo nào được công nhận chính thức. 

Ứng dụng mớiđược phát triển bởi Ủy ban Dân tộc và Tôn giáo của tỉnh Hà Nam, Trung Quốc, sẽ cần thiết để tuân theo nhiệm vụ mới của chính phủ yêu cầu công dân Trung Quốc đăng ký và đặt chỗ trực tuyến để tham dự bất kỳ nghi lễ tôn giáo nào trong các nhà thờ do chính phủ phê chuẩn , nhà thờ Hồi giáo, hoặc đền thờ.  

Đăng ký thông qua ứng dụng sẽ yêu cầu thông tin cá nhân của người nộp đơn, bao gồm tên, số điện thoại, số ID chính phủ, hộ khẩu thường trú, nghề nghiệp và ngày sinh Sau khi đăng ký, bạn sẽ phải đặt chỗ trước cho nghi lễ tôn giáo cụ thể . 

Chỉ trích nhiệm vụ mới, nhóm bênh vực quyền tôn giáo ChinaAid tuyên bố: “Các biện pháp quản lý này không xuất phát từ ý định bảo vệ quyền tôn giáo của những người theo đạo mà là phương tiện để đạt được mục đích chính trị  

ChinaAid lưu ý rằng một báo cáo ngày 24 tháng 2 từ Nhật báo Hà Nam nói rằng “ Zhang Leiming , Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Nam và Trưởng Ban Công tác Mặt trận Thống nhất, đã đến Ủy ban Dân tộc và Tôn giáo của tỉnh để điều tra và chỉ ra rằng cần quản lý chặt chẽ tôn giáo một cách toàn diện, đoàn kết và hướng dẫn đại bộ phận tín đồ tôn giáo kiên định đi theo Đảng Cộng sản Trung Quốc.” 

Vào năm 2017, một nhà thờ Công giáo ở Hà Nam vẫn đang được xây dựng đã bị chính quyền Cộng sản dỡ bỏ , họ tuyên bố nhà thờ là “công trình kiến ​​trúc bất hợp pháp” và ra lệnh phá dỡ Ba trăm cảnh sát đã đến cùng với các thanh tra để đảm bảo rằng nhà thờ đã bị phá bỏ  Các giáo dân đã cố gắng ngăn chặn việc phá dỡ nhưng đã bị cảnh sát đánh đập và 40 người bị giam giữ. Tài sản của nhà thờ sau đó bị tịch thu cùng với tài sản của giáo dân  công nhân xây dựng . 

Báo cáo Mở cửa năm 2023 về đàn áp tôn giáo ở Trung Quốc nêu rõ rằng “việc giám sát (ví dụ, bởi chính quyền trường học và ủy ban khu phố) diễn ra phổ biến trên toàn quốc .” Theo báo cáo, “ Giám sát ở Trung Quốc thuộc hàng áp bức và tinh vi nhất trên thế giới .” Trình bày chi tiết cách thức mà ĐCSTQ nhắm mục tiêu vào cả những nơi gặp gỡ và những Cơ đốc nhân “ cao cấp ” , những người rơi vào sự giám sát đặc biệt của ĐCSTQ vì đã lên tiếng chỉ trích chế độ hoặc vì những hành vi bị cáo buộc có quan hệ đối với các nhóm nước ngoài , Open Doors báo cáo rằng chính phủ Trung Quốc “ vận hành một hệ thống khen thưởng để khuyến khích nhân viên bảo vệ trong cộng đồng báo cáo bất kỳ điều gì bất thường; hệ thống quản lý lưới điện tử này chặt chẽ và được sử dụng cho một số mục đích, bao gồm giám sát cả các khu vực lân cận (nhà thờ) .” 

“ Tất cả các cộng đồng Cơ đốc nhân đang bị giám sát … Mọi hoạt động của nhà thờ không chỉ bị giám sát bởi sự hiện diện của các đặc vụ, mà còn bởi các camera CCTV theo dõi bục giảng, hội chúng và khu vực xung quanh nhà thờ … Ngày càng có nhiều nhà thờ tư gia bị quấy rối và cản trở khi hoạt động của họ đã được phát hiện. Hầu hết đã bị buộc phải chia thành các nhóm nhỏ và tụ tập ở các địa điểm khác nhau và thường xuyên thay đổi, giữ kín để không bị phát hiện bởi cán bộ cấp quận hoặc ủy ban khu phố.  

Nhận xét về tình hình , chuyên gia Trung Quốc Steven Mosher nói với LifeSiteNews rằng với ứng dụng giám sát mới “ ĐCSTQ đang sử dụng công nghệ hiện đại để tạo ra chế độ độc tài kỹ thuật số công nghệ cao đầu tiên trên  thế giới ” Mosher cho biết chính phủ Cộng sản “ muốn theo dõi mọi người ở Trung Quốc trong thời gian thực bằng cách sử dụng (ứng dụng) tự động báo cáo, camera giám sát và AI.  Kẻ cả, anh Lớn, không chỉ theo dõi mà còn muốn ép bạn báo cáo bất kỳ và tất cả ‘ hoạt động lật đổ ‘ mà bạn có thể tham gi,  bao gồm cả việc đi dự Thánh lễ .  

“ Đây có thể là số phận của chúng ta nếu chúng ta không cẩn thận ,” Mosher cảnh báo.  “ Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc không chỉ ‘ làm việc với ĐCSTQ ‘ , mà còn là một nhóm bình phong cho ĐCSTQ giống như cách mà Hiệp hội Yêu nước Công giáo là một nhóm bình phong cho ĐCSTQ ,” Mosher tiếp tục. “ 

Xã Hội Chủ Nghĩa hóa Tôn Giáo

Vào tháng 12 năm 2021, Tổng Bí thư ĐCSTQ Tập Cận Bình đã có bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc về Công tác Tôn giáo. Ông Tập nhấn mạnh rằng ‘ tôn giáo và các tổ chức tôn giáo phải được hướng dẫn tích cực để thích nghi với xã hội xã hội chủ nghĩa ‘ , và rằng những người làm công tác ‘ tôn giáo trong Đảng phải lấy việc Hán hóa tôn giáo làm nhiệm vụ chính. Và để tránh có bất kỳ sự hiểu lầm nào rằng Hán hóa chỉ đơn giản có nghĩa là thích nghi một cách khiêm tốn với văn hóa Trung Quốc, ông đã phát biểu như sau: ‘ Hán hóa có nghĩa là tất cả các cộng đồng tôn giáo phải do Đảng lãnh đạo, do Đảng kiểm soát và ủng hộ Đảng. 

Theo một báo cáo từ một nhóm nhân quyền có trụ sở tại Hoa Kỳ, các Kitô hữu ở tỉnh Hà Nam đông dân của Trung Quốc hiện được yêu cầu phải đăng ký trên một ứng dụng của chính phủ để tham dự các buổi thờ phượng và phải đặt chỗ trực tuyến trước khi tham gia thờ phượng.

Ứng dụng có tên “Tôn giáo thông minh” do Ủy ban Dân tộc và Tôn giáo của tỉnh Hà Nam phát triển, yêu cầu các tín đồ cung cấp thông tin cá nhân, bao gồm tên, số điện thoại, số chứng minh nhân dân, hộ khẩu thường trú, nghề nghiệp và ngày sinh để được phê duyệt. để tham dự một dịch vụ, ChinaAid  đưa tin  trong tuần này.

Đó là một yêu cầu không chỉ đối với các nhà thờ mà cả các nhà thờ Hồi giáo và chùa chiền Phật giáo, nhóm này cho biết, ghi lại cuộc đàn áp tôn giáo ở Trung Quốc và hỗ trợ các tù nhân lương tâm Trung Quốc.

Hà Nam có một trong những quần thể Kitô giáo lớn nhất ở Trung Quốc. Những người theo đạo Cơ đốc địa phương cho biết các thủ tục đăng ký rườm rà đã làm giảm số lượng tín đồ đến nhà thờ. Theo tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Texas, nhiều người cao tuổi và những người ít hiểu biết về công nghệ có thể gặp khó khăn khi truy cập ứng dụng. Tuy nhiên, các quan chức nói rằng những người như vậy sẽ được hỗ trợ.

Các nhà cung cấp Đài Loan của Apple dẫn đầu chuyển đổi trục sản xuất mới đi ra khỏi Trung Quốc

Theo Báo Nikkei Á Châu

Một dây chuyền sản xuất tại một cơ sở của Foxconn ở Thâm Quyến. Công ty, còn được gọi là Hon Hai Precision Industry, là một trong số những công ty bắt đầu chuyển hoạt động ra khỏi Trung Quốc đại lục. © AP

ĐÀI BẮC/HÀ NỘI – Việc các nhà sản xuất theo hợp đồng của Đài Loan làm cho các công ty Mỹ như Apple đang chú ý đến các cơ sở sản xuất rẻ hơn và ít rủi ro địa chính trị hơn, chẳng hạn như Việt Nam và Ấn Độ.

Nhà sản xuất điện tử Quanta Computer, nhà sản xuất theo hợp đồng hàng đầu về MacBook của Apple, đã ký một thỏa thuận trong tháng này để xây dựng nhà máy đầu tiên của Việt Nam tại tỉnh Nam Định phía bắc.

Giám đốc CT Huang của Quanta cho biết tại lễ ký kết tuần trước: “Chúng tôi quyết tâm hoàn thành dự án này. “Chúng tôi muốn khởi động nhà máy mới càng nhanh càng tốt.”

Những động thái như thế này nhằm đa dạng hóa sản xuất, rời khỏi Trung Quốc, đã được thực hiện trong nhiều năm đối với các nhà sản xuất đang chứng kiến ​​mức lương ở đó tăng lên. Động lực tiếp theo đến từ căng thẳng thương mại và công nghệ giữa Washington và Bắc Kinh, vốn đã gia tăng vào năm 2018 do thuế quan do chính quyền của Tổng thống Mỹ khi đó là Donald Trump áp đặt.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài được phê duyệt vào Việt Nam tăng đều đặn, chủ yếu do các quốc gia như Hàn Quốc và Nhật Bản thúc đẩy, lên 38 tỷ USD vào năm 2019 – tăng khoảng 80% so với một thập kỷ trước. Xu hướng này đã bị đình trệ trong một vài năm khi COVID-19 quét qua toàn cầu, nhưng hiện đang tiếp tục.

Kế hoạch đầu tư vào Việt Nam của các nhà sản xuất theo hợp đồng Đài Loan phản ánh ác cảm của khách hàng Mỹ đối với rủi ro Trung Quốc.

Quanta đã đánh cược cơ sở sản xuất tập trung ở Trung Quốc của mình để tăng trưởng nhanh chóng, đạt doanh thu hơn 41 tỷ đô la vào năm 2022. Nhưng vị trí này đã chống lại nó một năm trước khi lệnh phong tỏa Thượng Hải bùng phát COVID-19 buộc nó phải đóng cửa một nhà máy 40.000 công nhân . Với chuỗi cung ứng bị cắt đứt, Quanta không thể tạo ra MacBook Pro trụ cột, khiến việc giao hàng bị trì hoãn hơn hai tháng và làm gián đoạn các kế hoạch của Apple.

Việc mở rộng sang Việt Nam đánh dấu một bước đột phá thực sự khỏi sự phụ thuộc lâu năm vào Trung Quốc. Trong ba năm cho đến năm 2025, dự kiến ​​sẽ nâng sản lượng bên ngoài quốc gia này lên khoảng 30% tổng sản lượng, theo ước tính của TrendForce có trụ sở tại Đài Bắc và các nguồn khác.

Số lượng dự án FDI của Đài Loan tại Việt Nam đã tăng 87% so với cùng kỳ năm ngoái trong quý đầu tiên của năm 2023. “Đặc biệt, miền Bắc Việt Nam đã trở thành cơ sở sản xuất mới cho các sản phẩm của Apple”, Ryotaro Hagiwara, người tiến hành nghiên cứu thực tế tại Viện Nghiên cứu Thực tế cho biết. (Văn phòng Hà Nội của Tổ chức Ngoại thương Nhật Bản.)

Nhà lắp ráp iPhone hàng đầu Hon Hai Precision Industry, còn được gọi là Foxconn, đang đầu tư mạnh vào tỉnh Bắc Giang. Truyền thông địa phương đưa tin vào mùa hè năm ngoái về kế hoạch của Foxconn chi thêm 300 triệu đô la và thuê 30.000 người, và vào tháng 2, họ đã ký hợp đồng thuê một khu đất rộng 45 ha cho đến năm 2057. Khoảng 30% sản lượng của họ dự kiến ​​sẽ được thực hiện bên ngoài Trung Quốc vào năm 2025 , ước tính cho thấy.

Pegatron, công ty đứng thứ hai về sản xuất iPhone, đã đầu tư lớn vào thành phố biển Hải Phòng, và Wistron số 4 có vẻ sẽ thành lập một nhà máy sản xuất máy tính cá nhân vào năm tới.

Một bảng mạch in đang được chế tạo tại một nhà máy ở Vũ Hán. Thành phố của Trung Quốc, là một trung tâm sản xuất linh kiện hàng đầu, mặc dù các công ty lớn đang bắt đầu mở rộng ở những nơi khác, như Thái Lan. ( ảnh của bộ phận Trung Quốc, AP)

Bên cạnh vị trí của Việt Nam trên biên giới Trung Quốc, thuận lợi cho việc tiếp cận các bộ phận, chi phí lao động thấp là một phần hấp dẫn lớn của nó. Theo JETRO, lương cơ bản hàng tháng cho công nhân sản xuất trung bình là 277 đô la, thấp hơn một nửa so với mức trung bình 607 đô la của Trung Quốc. Dân số của đất nước được dự báo sẽ đạt 100 triệu người trong năm nay, điều mà Hagiwara cho biết đang thúc đẩy nhiều hy vọng về nhu cầu địa phương.

Việt Nam đã xây dựng mô hình kinh doanh mua linh kiện và hàng hóa trung gian từ Trung Quốc để lắp ráp thành sản phẩm hoàn chỉnh cho Mỹ. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã thu hút đầu tư lớn từ Intel và các công ty lớn của Trung Quốc, các nhà cung cấp có mạng lưới rộng khắp của riêng họ, như Foxconn, được mong đợi để có nhiều sự hiện diện hơn trong tương lai.

Chính phủ đang mong muốn tận dụng tối đa cơ hội này. Ngày 22/4, Thủ tướng Phạm Minh Chính nói với đại diện các công ty nước ngoài rằng thành công của các nhà đầu tư có nghĩa là thành công của Việt Nam.

Ông thúc ép các quan chức chính phủ khác tại cuộc họp lắng nghe những lo ngại của các công ty nước ngoài. “Đừng nói không. Đừng nói là khó,” ông nói.

Đầu tư vào Ấn Độ, dự kiến ​​sẽ vượt Trung Quốc trở thành quốc gia đông dân nhất thế giới vào cuối tháng, cũng đang tăng lên.

Chủ tịch Hon Hai Liu Young đã gặp Thủ tướng Narendra Modi tại Ấn Độ vào cuối tháng Hai. Liu cho biết nền kinh tế Ấn Độ chắc chắn sẽ cất cánh và Đài Loan cần nắm bắt cơ hội này tại một sự kiện của ngành công nghiệp Đài Loan vào tháng sau.

Foxconn lắp ráp iPhone 14 tại thành phố Chennai của Ấn Độ. Nó đã đảm bảo các địa điểm cho các nhà máy mới ở các bang Karnataka và Telangana khi nó muốn mở rộng dấu ấn của mình trong nước.

TrendForce dự đoán đến năm 2028, 30% đến 35% tổng số iPhone sẽ được sản xuất bên ngoài Trung Quốc. Nhà phân tích Mia Huang cho biết, sản xuất trong nước là điều cần thiết để khai thác nhu cầu ở Ấn Độ, do mức thuế cao mà nước này áp đặt đối với điện thoại thông minh nhập khẩu.

Sự thay đổi cũng đang diễn ra trong các bảng mạch in, là những thành phần quan trọng trong máy tính và thiết bị gia dụng. Một giám đốc điều hành ngành điện tử Đài Loan cho biết, hoạt động sản xuất đã bắt đầu chuyển từ trung tâm hiện tại ở Vũ Hán sang Thái Lan, đồng thời dự đoán rằng Thái Lan cuối cùng sẽ vượt qua Trung Quốc về sản lượng bảng mạch in.

Trung Quốc đã chịu trách nhiệm cho khoảng một nửa sản lượng toàn cầu của thành phần này. Nhưng chỉ trong tháng 3 và tháng 4, các nhà cung cấp của Apple là Unimicron Technology và Compeq Manufacturing đã tuyên bố gia nhập thị trường sản xuất của Thái Lan.

Hơn 90% đầu tư trực tiếp của các công ty Đài Loan bên ngoài Đài Loan trong quý từ tháng 1 đến tháng 3 đã đến những nơi khác ngoài Trung Quốc đại lục. Đầu tư vào Đông Nam Á và Ấn Độ tăng gần năm lần trong năm, ngay cả khi đầu tư vào Trung Quốc giảm khoảng 10%.

Các công ty Đài Loan bắt đầu thâm nhập vào Trung Quốc từ những năm 1990 khi nước này mở cửa, đóng vai trò then chốt trong việc biến đại lục thành công xưởng của thế giới. Ba thập kỷ trôi qua, Đài Loan hiện đang đi đầu trong việc chuyển dịch chuỗi cung ứng toàn cầu ra khỏi Trung Quốc.

PHỎNG VẤN: Đô đốc Mỹ ‘sẵn sàng’ hỗ trợ tiếp tế cho Philippines ở Biển Đông

Theo báo Nikkei Á Châu

Một tàu Cảnh sát biển Trung Quốc chặn tàu BRP Malapascua của Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines khi nó di chuyển vào cửa của Bãi cạn Thomas thứ hai mà người dân địa phương gọi là Bãi cạn Ayungin ở Biển Đông. © AP

WASHINGTON – Hoa Kỳ sẵn sàng hỗ trợ Philippines khi Trung Quốc can thiệp vào nỗ lực tiếp tế của Manila cho một tàu hải quân bị mắc cạn ở Biển Đông, Đô đốc Samuel Paparo, chỉ huy Hạm đội Thái Bình Dương của Hoa Kỳ, tuyên bố sẽ kiềm chế các hành động khiêu khích trên biển của Bắc Kinh.

Paparo nói với Nikkei trong một cuộc phỏng vấn trực tuyến hôm thứ Sáu rằng Trung Quốc “thường xuyên can thiệp vào các hoạt động tiếp tế đó” và những hành động này “rõ ràng là trái pháp luật”, đề cập đến các hoạt động gây hấn của Cảnh sát biển Trung Quốc xung quanh BRP Sierra Madre ở Bãi cạn Ayungin, còn được gọi là Second Thomas. bãi cạn.

Manila điều hành các nhiệm vụ tiếp tế cho một đội quân nhỏ trên con tàu của Hoa Kỳ thời Thế chiến thứ hai, con tàu này đã cố tình mắc cạn vào năm 1999 để củng cố các yêu sách lãnh thổ của Philippines.

“Chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ Philippines trong việc thực hiện các quyền chủ quyền của họ,” ông Paparo nói.

“Chúng tôi ủng hộ quyền chủ quyền của Philippines, trong EEZ [vùng đặc quyền kinh tế],” ông nói.

Đô đốc Samuel Paparo, Tư lệnh Hạm đội Thái Bình Dương Hoa Kỳ. (Ảnh do Hải quân Mỹ cung cấp)

Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden sẽ gặp người đồng cấp Philippines Ferdinand Marcos Jr. vào thứ Hai trong chuyến thăm Nhà Trắng đầu tiên của một tổng thống Philippines sau gần 11 năm.

Đứng đầu chương trình nghị sự sẽ là làm thế nào để chống lại các động thái ngày càng hung hăng của Trung Quốc, nước đang cố gắng tăng cường kiểm soát ở Biển Đông và tiếp tục thực hiện các hành động cưỡng chế đối với Đài Loan.

Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với gần như toàn bộ Biển Đông, với “đường chín đoạn” kéo dài hơn 1.500 km ra khỏi đất liền, bao gồm cả Bãi Cỏ Mây.

Vào cuối tháng 4, cảnh quay về một tàu Cảnh sát biển Trung Quốc tiến đến khoảng cách khoảng 40 mét với một trong hai tàu tuần tra của Philippines gần bãi cạn đã được công bố. Hãng thông tấn AP, có ba nhà báo trên tàu phía Philippines, đã đưa tin về “một vụ suýt va chạm đáng sợ.”

Lực lượng bảo vệ bờ biển Philippines cũng tuyên bố vào tháng 2 rằng một tàu Trung Quốc đã chiếu tia laser màu xanh lá cây vào một trong các tàu của họ.

Dù từ chối cung cấp thông tin chi tiết, Paparo cho biết Mỹ đã cung cấp thông tin tình báo cho phía Philippines để hỗ trợ nỗ lực tiếp tế cho Sierra Madre. Những nỗ lực như vậy có thể liên quan đến việc cung cấp vị trí của các tàu Trung Quốc thu được thông qua máy bay do thám hoặc vệ tinh.

Một tòa án quốc tế ở The Hague đã ra phán quyết vào năm 2016 rằng yêu sách của Trung Quốc đối với các quyền lịch sử trong đường chín đoạn là không có cơ sở pháp lý và Bãi Cỏ Mây nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Philippines. Hoa Kỳ đã ủng hộ quyết định một cách dứt khoát.

Paparo nói rằng Philippines cho đến nay vẫn chưa yêu cầu hỗ trợ từ các tàu Hải quân hoặc Cảnh sát biển Hoa Kỳ nhưng “chúng tôi sẵn sàng”, báo hiệu rằng Hoa Kỳ sẵn sàng can thiệp nếu xung đột nổ ra. Washington và Manila đã ký một hiệp ước phòng thủ chung vào năm 1951.

Đô đốc bày tỏ sự quan tâm đến một khuôn khổ đa phương bao gồm cả Nhật Bản và Úc để duy trì an ninh ở Biển Đông.

“Khi chúng tôi hoạt động cùng nhau, chất lượng răn đe của các cuộc tuần tra từ các tàu đó tăng lên gấp nhiều lần, bởi vì nó thể hiện sự đoàn kết của các liên minh,” ông nói.

Biden và Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol gần đây đã đồng ý ở Washington, để Mỹ gửi một tàu ngầm tên lửa đạn đạo hạt nhân đến quốc gia châu Á này.

“Nó ở đó [dưới biển] để ngăn chặn bất kỳ cường quốc hạt nhân nào nếu không sẽ đe dọa đến an ninh, tự do và hạnh phúc của Hoa Kỳ và các đồng minh của họ,” Paparo nói về tác dụng răn đe của chuyến thăm – một gợi ý rằng nó có thể giúp ngăn chặn không chỉ Bắc Triều Tiên, mà cả Trung Quốc.

Điều động một tàu ngầm hạt nhân là một cách đơn giản để Mỹ thể hiện khả năng hạt nhân của mình. Về mặt quân sự, việc gửi một tàu ngầm hạt nhân thực hiện các cuộc tấn công thứ hai từ các địa điểm xa xôi đến Hàn Quốc, nước láng giềng của Trung Quốc và Triều Tiên, không có nhiều ý nghĩa.

Paparo từ chối giải thích chi tiết về thời điểm gửi đi. “Nó chắc chắn tiếp tục là một miền im lặng,” ông nói.

Theo quan hệ đối tác an ninh Úc-Anh-Mỹ được gọi là AUKUS, Hải quân Hoa Kỳ có kế hoạch triển khai tới 4 tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân ở Tây Úc vào đầu năm 2027.

Ông Paparo nói: “Nó thể hiện nhiều khả năng hơn, phản ứng nhanh hơn ở Tây Thái Bình Dương, tạo điều kiện cho một lực lượng tàu ngầm phản ứng nhanh hơn, có thể nhanh chóng gây ra cái giá phải trả cho bất kỳ bên nào muốn gây hấn, đe dọa Hoa Kỳ hoặc các đồng minh và đối tác của chúng tôi”.

Khi Trung Quốc nâng cấp khả năng quân sự của mình bằng cách dự trữ tên lửa có độ chính xác cao với tầm bắn xa hơn, các tàu và máy bay của Mỹ có thể phải đối mặt với các cuộc tấn công của Trung Quốc trong trường hợp xảy ra xung đột ở eo biển Đài Loan hoặc ở Biển Đông. Tàu ngầm, vốn có thể tránh bị phát hiện, có thể sẽ đóng một vai trò lớn hơn.