Thiên đàng vĩnh cửu là gì?

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Trong đời sống hàng ngày, nếu biết yêu thương, tích đức, làm nhiều việc thiện, lòng thanh thản, vô ưu. Luôn luôn biết tín thác hoàn toàn vào Thiên Chúa toàn năng. Nếu làm được như vậy thì đời sống hàng ngày có hạnh phúc, có niềm vui, chính đó là thiên đàng. Khi chết sẽ kéo dài hạnh phúc, niềm vui đó sang bên kia thế giới. Cho nên theo tôi nghĩ, thiên đàng là sự kéo dài hạnh phúc, bình an, vui vẻ ở đời này sang đời sau, sau khi chết.

Muốn có hạnh phúc, niềm vui, bình an phải thực hiện Thánh Ý Chúa vì “Thánh Ý Chúa là sự bình an của con”.

“Con người chỉ hạnh phúc thực sự khi chu toàn và bước đi trong đường lối mà Thiên Chúa đã vạch ra cho họ.”

Thánh Augustino nói: “Lạy Chúa Chúa đã dựng nên chúng con cho chính Chúa, và tâm hồn chúng con không tìm thấy sự bình an cho đến khi được an nghỉ trong Chúa” (Tự thú,I)

"In God Alone We Find Our Rest" - The Abundant Life Center

Học hỏi, thực hiện sự khiêm nhường, chịu đựng và chấp nhận những điều trái với ý của mình. Làm sao giữ được bình tĩnh khi ta bị la lối, bị nói xấu, cự nự, bị vu cáo, đặt điều những việc ta không có làm? Làm sao bình tĩnh, không gây gỗ, không to tiếng lại?

Suy niệm, học hỏi và thực hành lời Chúa Giê Su dạy. “Hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. Tập yêu thương, thương xót người dầu người đó đã công kích mình. Dầu có bị công kích, bị nói xấu, bị chạm tự ái, phật lòng cũng lấy tình yêu thương và lòng thương xót mà đối xử “như Cha trên trời là đấng có đầy lòng thương xót.”

Những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa của Thiên Chúa và đã hoàn toàn được thanh tẩy, sẽ sống muôn đời với Chúa Kitô. Họ sẽ mãi mãi giống như Thiên Chúa vì họ sẽ thấy “Ngài đúng như Ngài là” (1Ga 3,2) “mặt giáp mặt(Câu 1023 Sách GLGHCG)

Thiên đàng là: “Mắt chưa từng xem thấy, tai chưa từng nghe thấy, lòng trí con người chưa từng nghĩ tới, đó là tất cả những gì Thiên Chúa đã dành sẵn cho những ai yêu mến Ngài (1Cr 2, 9)” (Câu 1027 Sách GLGHCG)

***

Làm việc theo lương tâm thường là làm đúng với ý của Thiên Chúa.

Nếu coi tiền bạc là quan trọng, tiền bạc là trên hết, “tiền là tiên, là phật” dùng mánh khóe lường gạt người khác để làm giàu. Nếu có quyền lực, khi làm quan, mà tham nhũng kiếm đồng tiền bất chính, hại người để giàu có, tâm không bình an làm sao lúc chết bình an được.

Tiền bạc không cần phải quá giàu có, đủ ăn, đủ tiêu xài. Nếu may mắn, Chúa thương, trong tuổi già không phải nhờ trợ cấp của chánh phủ đã là quý rồi. “Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc” (Biết đủ là đủ, chờ cho đủ thì bao giờ mới đủ)

Khi về hưu, đến cuối đời mới thấy: có một gia đình êm ấm, đoàn tụ, hoà thuận, yêu thương nhau, con cháu thường xuyên gặp gỡ nhau là quan trọng hơn là “phải thật giàu có, nổi tiếng, danh vọng, địa vị cao trong xã hội.”

Gia Đình Xum Họp Đầu Xuân 2018 - YouTube

***

Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975 đời sống quá khó khăn, nhiều người sống chỉ vì tiền, đưa đến sự lường gạt lẫn nhau. Mượn tiền không trả. Mua gian bán lận. Mướn người làm không trả lương tháng cho họ, mượn nợ không bao giờ trả. Ở biệt thự, đi xe sang, BMW, Mercedes, để người khác tưởng giàu có, để dễ mượn tiền.

Nhìn bề ngoài thấy anh là người thành công, làm ăn lớn, nhà cao cửa rộng, đi xe sang, có vẻ rất giàu có. Nhưng thực chất anh nợ nần tứ tung. Cuối đời, anh bán xe sang, anh mất biệt thự, không dám nhìn ai, không

dám gặp gỡ người thân, không dám gặp mặt bạn bè, vì anh nợ quá nhiều, không thể trả nổi, sợ gặp lại những người chủ nợ của mình.

Tâm bất an, làm sao bình an khi ra đi được.

Mời xem vài sự việc tiêu biểu đã xảy ra ở Việt Nam:

1)Dr Trần Quí Thanh là Nhà sáng lập và thành viên hội đồng quản trị của Tập đoàn nước giải khát Tân Hiệp Phát,

Đã gài bẫy bắt anh Minh chịu tù 7 năm. Vụ con ruồi trong nước giải khát và nhiều vụ khác.

Mời đọc: Vì sao cha con ông chủ Tân Hiệp Phát bị bắt?

Trước đó, Bộ Công an đã giao C01 điều tra, xác minh, giải quyết nội dung đơn của một số công dân trên địa bàn TP.HCM và Đồng Nai tố cáo ông Trần Quí Thanh cùng các con gái Trần Uyên Phương, Trần Ngọc Bích và một số cá nhân khác đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, cưỡng đoạt tài sản là các dự án, bất động sản có giá trị đặc biệt lớn tại tỉnh Đồng Nai và TP.HCM từ tháng 11/2020

2)Trong đại án Việt Á, Bộ Công an và công an các địa phương đã khởi tố tổng số hơn 60 bị can về các tội Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng, Đưa hối lộ, Nhận hối lộ và Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

Mới đây nhất, tối 7/6, Bộ Công an khởi tố, bắt giam các ông Nguyễn Thanh Long (cựu Bộ trưởng Y tế), Chu Ngọc Anh (cựu Chủ tịch Hà Nội) và Phạm Công Tạc (cựu Thứ trưởng Bộ KH&CN) sau khi xác định 3 bị can có nhiều sai phạm trong vụ án này.

Tại họp báo Chính phủ chiều 4/6, khi đề cập dòng tiền trong vụ Việt Á, trung tướng Tô Ân Xô (Chánh văn phòng Bộ Công an) cho biết bị can Phan Quốc Việt (Tổng giám đốc Công ty Việt Á) khai đã thu lãi 4.000 tỷ đồng và chi “bôi trơn” khoảng 800 tỷ đồng.

3)Truy tố 54 bị can Đại án ăn tiền nạn nhân Covid trong vụ “chuyến bay giải cứu”. Các bị can ăn tiền hối lộ từ 4 tỉ cho đến 42 tỉ

Chúng tôi xin trích dẫn ra tên những kẻ ăn hối lộ nhiều nhất bao gồm:

Nguyễn Quang Linh, Trợ lý Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ, nhận hối lộ hơn 4,2 tỉ đồng.

Tô Anh Dũng, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, nhận hối lộ 21,5 tỉ đồng.

Nguyễn Thị Hương Lan, Cục trưởng Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao, nhận hối lộ hơn 25 tỉ đồng.

Đỗ Hoàng Tùng, Phó cục trưởng Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao, nhận hối lộ hơn 12,2 tỉ đồng.

Phạm Trung Kiên, chuyên viên Vụ Trang thiết bị và công trình y tế, Bộ Y tế, nhận hối lộ hơn 42,6 tỉ đồng.

Nguyễn Anh Tuấn, cán bộ công an cục quản lý xuất nhập cảnh nhận hối lộ hơn 27,3 tỉ đồng, hưởng lợi bất chính hơn 22,8 tỉ đồng

4)Vụ bạo hành bé gái đến chết: ‘Dì ghẻ’ nhận án tử hình, cha đẻ bị kết án tù vì che giấu tội phạm

Tòa án Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tuyên án tử hình đối với Nguyễn Võ Quỳnh Trang vì bạo hành đến tử vong con gái của người tình và kết án Nguyễn Kim Trung Thái nhiều năm tù vì hành hạ con đẻ

Tâm bất an sẽ kéo dài sự bất an đó về bên kia thế giới.

Nước thiên đàng chẳng ở đâu xa, nước thiên đàng có ngay ở đời này chính là niềm vui, bình an, hạnh phúc và được nối tiếp sang đời sau vĩnh cửu, sau khi mất.

Kết:

Cuối đời mới có thể biết được con người như thế nào? Sự giàu có do làm ăn lương thiện hay không lương thiện? Làm việc với tâm thiện hay với tâm ác.

Các suy nghĩ và những việc làm của con người từ lúc hiểu biết cho đến già, đưa đến những hậu quả khác nhau. Những việc làm tốt hay xấu, thiện hay ác, ta sẽ mang nó sang bên kia thế giới sau khi chết.

Nước thiên đàng vĩnh cửu luôn dành cho những người tốt, biết yêu mến Thiên Chúa và yêu mến, giúp đỡ tha nhân.

Phùng Văn Phụng

Tháng 05/2023

Sự Bình-yên

Một vị Vua trao giải-thưởng cho Nghệ-sĩ nào vẽ được Bức-tranh đẹp-nhất về sự Bình-yên. Nhiều họa-sĩ đã cố-công. Nhà-vua ngắm tất-cả các bức-tranh, có 2 bức đẹp-nhất :

– Một bức vẽ hồ-nước yên-ả. Mặt-hồ là tấm-gương tuyệt-mỹ, có những ngọn-núi cao chót-vót bao-quanh. Bên-trên là bầu-trời trong-xanh với những đám-mây trắng mịn-màng. Tất-cả những ai ngắm bức-tranh này đều cho-rằng đây là bức-tranh bình-yên hoàn-hảo.

– Bức-kia cũng có những ngọn-núi, nhưng những ngọn-núi này trần-trụi và lởm-chởm đá. Ở bên-trên là bầu-trời giận-dữ đổ-mưa như-trút kèm-theo sấm-chớp. Đổ xuống bên vách-núi là dòng-thác nổi-bọt trắng-xóa. Bức-tranh ni trông thật chẳng bình-yên chút-mô.

Nhưng khi nhà-vua ngắm-nhìn thật-kỹ, ông mới thấy đằng-sau dòng-thác là một bụi-cây nhỏ mọc trên tảng-đá, trong bụi-cây, một con Chim-mẹ đang làm-tổ.. Mặc-cho bầu-trời sấm-chớp giận-dữ, giữa dòng-thác như trút-nước, Chim-mẹ vẫn an-nhiên trên tổ của-mình…

Nhà-vua tuyên-bố: Ta chấm bức-tranh thứ-2 này ! 

Sự bình-yên không nhất-thiết phải ở một-nơi không tiếng ồn-ào, không khó-khăn cực-nhọc gian-nan vất-vả. Bình-yên có-thể ngay chính-khi đang ở-trong phong-ba bão-táp, mà vẫn cảm-nhận được sự yên-tĩnh nơi tâm mình. Đó mới chính-là bình-yên thật-sự !

Quan-niệm Phật-Giáo :

“Tâm là Chủ-đạo của Vạn-Pháp” (của tất-cả mọi Chuyện, Sự, Việc)

Bình-yên đích-thực : chính-là phải-là Bình-yên từ-trong Tâm-hồn !

Vài câu hỏi nhức nhối ngày 30-4

Báo Tiếng Dân

04/05/2023

Từ Thức

48 năm! Gần một nửa thế kỷ trôi qua, vết thương vẫn chưa lành. Và chắc sẽ không bao giờ lành đối với hàng triệu gia đình, trong khi có những người khác, đứng đầu là nhà nước, có cơ hội “hát trên những xác người” để ăn mừng chiến thắng. Có cơ hội để khoe khoang, đánh bóng quá khứ, để dân quên thực tại đất nước không có gì đáng kiêu hãnh.

Vài câu hỏi nhức nhối nhiều người đặt ra, hay tự hỏi:

Thứ nhất, có nên tổ chức tưởng niệm ngày 30/4, nửa thế kỷ sau?

Thứ hai, có nên tiếp tục hoạt động chống Cộng, trong khi “càng chống, Cộng sản càng mạnh?”

Thứ ba, mỗi người, dù chân yếu tay mềm, dù không phải là anh hùng, có thể làm gì, đóng góp gì cho công cuộc chung? (1)

1.- Có nên tưởng niệm mỗi năm?

Có người nghĩ nửa thế kỷ sau, có lẽ nên quên chuyện cũ, để hướng về tương lai.

Trái lại, muốn chuẩn bị tương lai, phải ôn lại quá khứ.

Một cộng đồng, một dân tộc không có quá khứ, sẽ không biết mình là ai, không biết phải đi ngả nào. Không có quá khứ, sẽ không có hiện tại, không có tương lại. Ôn lại quá khứ, rút tỉa những kinh nghiệm xương máu, để tìm đường đi cho mình và cho thế hệ sau.

Tưởng niệm ngày 30 tháng 4 để không quên hàng trăm ngàn người đã bỏ mạng trên rừng, trên đường mòn biên giới, trên biển cả với hy vọng được sống tự do.

Quốc gia văn minh nào cũng tưởng niệm những người đã hy sinh trong các cuộc chiến tranh Đệ Nhất, Đệ Nhị Thế chiến, hay xa hơn nữa, bởi vì người chết bị quên lãng sẽ chết lần thứ hai.

Forgive, but not forget. Có thể tha thứ, nhưng không thể quên.

Người Việt có phong tục rất hay, là cúng giỗ. Đặt bàn thờ, hương hoa, hay cả thức ăn, không phải là dấu hiệu của mê tín dị đoan, trái lại, là một cách rất văn minh, để chứng tỏ người chết vẫn ở đâu đó, bên cạnh. Người chết không bao giờ thực sự chết.

Ngày 30/4 là ngày giỗ của hàng triệu gia đình.

Người ta hy vọng, nhưng chắc khó toại nguyện, trong khi hàng triệu đồng bào của mình đang khóc những người chết oan, tức tưởi, những người khác, nhất là những người cầm quyền, không nên nhẫn tâm reo hò, nhẩy múa. Đó là một thái độ man rợ nhất.

Dù hăng say chiến thắng tới đâu, vẫn còn 364 ngày mỗi năm, để tha hồ reo hò, mạ lỵ, chửi rủa, đấu tố, oán thù.

Một lý do nữa để tưởng niệm ngày 30/4: nhắc lại cho thế hệ sau những gì đã xẩy ra nửa thế kỷ trước, cho gia đình, cho cha mẹ của họ.

Hàng triệu người đã liều mạng vượt biển, với cái hy vọng mơ hồ là trôi dạt đến một nơi nào đó có tự do.

Bỏ nước ra đi là một chuyện kinh thiên, động địa với một dân tộc gắn liền với đất nước-đất và nước-đa số chưa hề rời làng mạc, khu phố mình đã sinh ra, lớn lên.

Hàng trăm ngàn người bỏ mạng trên biển cả.

Người Cộng Sản, sở trường trong việc viết lại lịch sử, đã bôi nhọ những người ra đi là chạy theo Mỹ, và sau đó, khi cần tiền họ gởi về, thân ái phong cho họ là những “khúc ruột ngàn dặm”.

Howard Zinn nói, “khi những con thỏ chưa có sử gia, lịch sử sẽ được viết bởi những người đi săn”.

Tưởng niệm ngày 30/4 là nhắc lại sự thực lịch sử. Lịch sử của chiến tranh, lịch sử của một trong những cuộc di cư lánh nạn khủng khiếp, kinh hoàng nhất trong lịch sử nhân loại

2.- Có nên tiếp tục tranh đấu cho tự do?

Nhiều người tự hỏi: có nên tiếp tục tranh đấu chống Cộng hay không, bởi vì nửa thế kỷ sau, Cộng sản vẫn còn đó, hung hăng, tàn bạo? Chưa thấy một hy vọng tự do nào le lói cuối đường hầm.

Điều đó khó chối cãi. 48 năm sau, xã hội VN băng hoại hơn bao giờ hết. Biển đảo bị chiếm đóng, môi trường bị huỷ hoại, bất công tràn lan, tham nhũng khủng khiếp, khiến người Việt, sau nửa thế kỷ đất nước thống nhất, “tự do, dân chủ, cộng hoà, độc lập, tự do, hạnh phúc”, chỉ hy vọng được trốn ra nước ngoài, để lấy chồng, để trồng cần sa, bán dâm, để làm nô lệ.

Trong bối cảnh đó, người Việt hoàn toàn thụ động.

Sau nửa thế kỷ cai trị miền Nam, ¾ thế kỷ miền Bắc, Cộng Sản đã thành công trong công cuộc “thụ nhân” (trồng người), đào tạo một thế hệ vô cảm.

Một mặt, sự đàn áp dã man, chà đạp nhân quyền, ngồi xổm trên những quyền tự do tối thiểu của con người, chế độ đã tạo một dân tộc biết sợ. Và trên cả cái sợ, cái cùm tự kiểm duyệt, coi như đó là một nhân sinh quan, một triết lý sống.

Mặt khác, kinh tế phát triển nhờ nhân công rẻ, ngoan ngoãn, trong một thời đại hoàn cầu hoá, nhờ hàng chục tỷ dollars của các “khúc ruột ngàn dặm” đổ về, nhờ tiền xuất cảng lao động, xuất cảng phụ nữ, Việt Nam biến thành một xã hội tiêu thụ.

Một số người được tiêu pha, chơi bời thả cửa, có ảo tưởng được tự do, hài lòng với thân phận của mình, chấp nhận hay ủng hộ chế độ. Việt Nam trở thành một nhà tù lộ thiên, trong đó tù nhân không muốn vượt ngục nữa (2).

Trong bối cảnh đó, những phong trào tranh đấu cho tự do, dân chủ yếu dần.

Trong nước, những người tranh đấu bị đàn áp dã man; 10, 15 năm tù, cái án dành cho những người cướp của giết người ở những nước bình thường, chỉ vì đã lên tiếng chống cướp nhà, cướp đất, hay đòi quyền thở, quyền sống.

Ở đây, phải bày tỏ sự khâm phục đối với những người vô danh, hay nổi tiếng, đã can đảm tranh đấu trong hoàn cảnh khắc nghiệt, và nhất là trong sự cô đơn, giữa một biển vô cảm.

Ở hải ngoại, phong trào cũng yếu dần, vì chia rẽ, vì bệnh cá nhân chủ nghĩa, vì cái tôi quá lớn (3), vì tổ chức luộm thuộm, khái niệm rất mơ hồ về dân chủ, rất mơ hồ về sự hữu hiệu của mỗi hành động.

Nhiều người có cảm tưởng họ chống nhau, hơn là chống Cộng. Sẵn sàng chụp mũ nhau là Cộng Sản, chỉ vì một câu nói vụng về, một câu trích khỏi một bài, trái hẳn với ý của người viết. Đôi khi chỉ vì tỵ hiềm cá nhân, vì ganh ghét, vì độc ác. Trong khi đó, Công Sản gộc, thứ thiệt, ngang nhiên mua nhà cửa, họp hành, ra báo, lập đài phát thanh, truyền hình, lộng hành trước mắt bàn dân, thiên hạ, ngay giữa cộng đồng tỵ nạn.

Nhiều khi những người chống Cộng hăng say chống nhau, quên cả chống Cộng.

Quả thực là tình trạng đáng ngao ngán, khiến nhiều người muốn bỏ cuộc.

Nhưng suy nghĩ lại, có quả thực là các hoạt động đó hoàn toàn vô bổ không?

Nếu Việt Nam chưa phải là Bắc Hàn, bởi vì CS không muốn đóng cửa để mất nguồn ngoại tệ khổng lồ, nhưng cũng bởi vì có những người kiên trì tranh đấu ở hải ngoại, tiếp tay với những người tranh đấu trong nước, lên tiếng tố cáo các chính sách đàn áp, các hành động đàn áp dã man của nhà nước.

Cộng sản chùn tay, không phải vì muốn được kính trọng đôi chút, nhưng bởi vì còn muốn làm ăn, buôn bán với thế giới bên ngoài.

Những hoạt động hải ngoại, dù chưa đạt kết quả mong muốn, dù có nhiều khuyết điểm, vẫn chứng tỏ có những người không bỏ cuộc, nửa thế kỷ sau ngày 30/4/75.

Tại sao không thể bỏ cuộc lúc này. Bởi vì cuộc chiến trở thành một mặt trận văn hoá. Ai cũng nghĩ và mong có thay đổi chính trị ở VN, bởi vì một nhóm người cai trị gần 100 triệu dân, vô thời hạn, là một chuyện quái đản ở thế kỷ 21.

Nhưng chỉ có thay đổi nếu hội đủ 2 điều kiện: Thứ nhất, người dân ý thức mình đang sống trong một nhà tù không tường, mặc dù được hưởng những tự do phù phiếm như ăn chơi, tiêu thụ. Thứ hai, mọi người nghĩ những thay đổi sẽ có kết quả tốt cho chính mình, cho gia đình mình.

Dân chủ đối với đa số vẫn còn là một ý niệm mơ hồ, nếu không phải là đề tài để nhạo báng. Đa số vẫn chưa ý thức rằng tất cả những vấn đề của VN, từ bất công khủng khiếp, tới tham nhũng kinh hoàng, giáo dục bế tắc sẽ không bao giờ giải quyết được, nếu không có một thể chế dân chủ.

Việc thuyết phục người đồng hương là chuyện của mỗi chúng ta, mỗi ngày.

3.- Mỗi người có thể làm gì?

Không phải ai cũng là anh hùng, không phải ai cũng là những nhà hoạt động, sẵn sàng hy sinh. Nhưng mọi người đều có thể đóng góp.

Khi tôi giải thích cho con cháu lịch sử cận đại của VN, tôi đóng góp cho việc chống lại âm mưu viết lại lịch sử của tập đoàn cầm quyền.

Khi tôi kể cho bạn bè trong nước những sinh hoạt dân chủ nơi tôi đang sống, tôi đóng góp vào việc phát triển ý thức, và kiến thức dân chủ.

Khi tôi liên lạc với các giới chức, các hội đoàn nơi tôi đang sống, hay với những du khách tới VN, để nói về những vi phạm nhân quyền, tôi đóng góp vào việc cho thế giới bên ngoài biết về thực trạng VN.

Đó chỉ là những thí dụ. Còn hàng ngàn những chuyện khác, mọi người có thể làm. Nếu một triệu người làm những việc nhỏ, kết quả sẽ rất lớn.

Một câu nói nổi tiếng mà người ta gán cho Lão Tử: Hãy thắp một ngọn nến, còn hơn là ngồi nguyền rủa bóng tối. Đôi khi chúng ta quên cả nguyền rủa bóng tối, vì còn say sưa nguyền rủa nhau.

Những khuyết điểm, những sai lầm của những người chống Cộng đã khiến hai chữ “chống Cộng” mất dần ý nghĩa

Nhiều người xa lánh, không muốn liên luỵ tới những chuyện đánh phá cá nhân, bè phái.

Albert Camus nói, cuộc đời là những cuộc tranh đấu, nếu không tranh đấu cho lẽ phải, không nổi giận trước những bất công, cuộc đời chẳng còn ý nghĩa gì nữa. Nhưng Camus nói thêm: nổi loạn, hay phẫn nộ phải có đối tượng, không bao giờ mù quáng, vô vạ, miễn phí (la révolte est ciblée, jamais aveugle ni gratuite).

Chống Cộng, nửa thế kỷ sau, không phải vì oán thù, không phải vì bị cướp nhà cướp đất, mà bởi vì nghĩ rằng, biết rằng chế độ Cộng Sản đưa tới bế tắc cho dân tộc. Bế tắc và diệt vong.

Tôi chống Cộng bởi vì không muốn nước tôi không có giáo dục, chỉ có nhồi sọ; không có văn hoá, chỉ có tuyên truyền; không có quyền làm người, chỉ có quyền tuân lệnh; không có quyền suy nghĩ, chỉ có quyền ăn chơi.

Hiểu theo nghĩa đó, chống Cộng là một nghĩa vụ trong sáng nhất, khẩn cấp nhất. Không phải là chuyện phù phiếm, như nhiều người nghĩ. Có người thành thực nghĩ như vậy, có người mượn đó là một cái cớ để buông tay, hay đồng loã với cái ác.

_________

(1) Bài này ghi lại và bổ túc bài nói chuyện trong cuộc hội luận ngày 29/4/2023 do Cộng Đồng Người Việt Quốc gia Tư Do tổ chức, tại Paris, Pháp.

“Bác Sĩ Của Bác Sĩ” Cuối Cùng Cũng Đứng Ra Lên Tiếng

“Bác Sĩ Của Bác Sĩ” Cuối Cùng Cũng Đứng Ra Lên Tiếng

Kỷ Tiểu Long là bác sĩ trưởng khoa, Giáo sư, Tiến sĩ y học, Ủy viên Hiệp hội phòng chống ung thư Quốc gia (Trung Quốc), mỗi năm trong quá trình hội chẩn bệnh lý, đã tư vấn giải quyết hơn 1000 ca khó xử lý. Ông có nhiều tâm tư muốn chia sẻ với mọi người trong lĩnh vực sức khỏe và khám chữa bệnh.

Dưới đây là những chia sẻ rất hữu ích của ông:

Công việc của tôi là nghiên cứu bệnh lý, nói về bệnh lý học có thể rất nhiều người đều không hiểu cho lắm, ở nước ngoài gọi là doctor’s doctor, chính là “bác sĩ của bác sĩ “. Công việc mỗi ngày của chúng tôi chính là trả lời tất cả vấn đề của mỗi một vị bác sĩ trong bệnh viện đưa ra, bất luận là chuyên khoa gì.

Chúng tôi không có bất cứ tài năng đặc biệt nào, chỉ là chúng tôi có kính hiển vi có khả năng phóng to một ngàn lần, có thể nhìn thấy mỗi tế bào bên trong cơ thể con người, và nhìn ra sự biến dạng của chúng. Có thể từ bản chất mà nhận biết căn bệnh.

  1. Cốt lõi của dưỡng sinh chính là thuận theo tự nhiên

Tôi cho rằng, cách bảo vệ sức khỏe tốt nhất chính là thuận theo tự nhiên. Đừng quá nhấn mạnh vai trò của các yếu tố bên ngoài, nên thuận theo quy luật vận động của cuộc sống, làm tốt tất cả công việc của từng ngày.

Trẻ em, thanh niên, người trung niên, người già, đều có quy luật tự nhiên của riêng của mình. Mỗi ngày chúng ta đều ăn hoặc uống các sản phẩm liên quan đến bảo vệ sức khỏe, nhưng những thứ này thực chất không hề có tác dụng, nam giới thích bổ thận, nhưng tôi lại không hiểu tại sao họ lại muốn bổ thận?

Sự cường tráng và năng lực tình dục ở nam giới được quyết định bởi hormone nam tính, mà không phải được bổ sung từ dược vật hay thực phẩm.

  1. Mỹ phẩm chỉ có tác dụng nhất thời làm tâm lý thoải mái 

Có một số người da bị khô, có thể bôi một chút nước bảo dưỡng để giữ ẩm. Nhưng muốn dùng mỹ phẩm để biến mình trẻ lại, năm nay 20 tuổi lại muốn năm sau trở thành 18 tuổi, vậy là bạn sai lầm rồi.

Da đen và trắng, tùy thuộc vào sắc tố da do melanoma tạo ra nhiều hơn và ít hơn. Tôi đã đến Mỹ để khảo sát chuyên môn, người da trắng và người da đen đều có số lượng tế bào hắc tố (melanocyte) không khác biệt lắm. Nhưng chỗ khác nhau chính là sắc tố mà tế bào sản sinh ra nhiều hay ít.

Bạn cho rằng chỉ cần bôi thuốc thì có thể điều khiển được số lượng sắc tố mà tế bào sản sinh ra, nhưng đây là điều hoàn toàn không thể nào. Rất nhiều mỹ phẩm sau khi sử dụng thật sự có kết quả, nhưng nó không thể giải quyết vấn đề tận gốc. Những loại mỹ phẩm đa dạng vĩnh viễn cũng không thể thay đổi được tế bào hắc tố (melanocyte).

Da của mọi người có bảy tầng tế bào. Nếu như chúng ta đi thẩm mỹ viện, ba tầng tế bào bên ngoài bị mất đi, giống như khi chúng ta đang mặc một bộ quần áo dày, không thể thấy được mạch máu bên trong, nhưng bây giờ bị bào mỏng rồi, mạch máu dưới da thấy rõ ràng, hồng nhuận, giống như được đánh bóng.

Vì vậy, sau khi bạn làm đẹp, da dẻ sẽ hồng hào, tươi sáng. Dường như có vẻ trẻ trung hơn. Tuy nhiên, số lần mà tế bào có thể thay thế và bổ sung có giới hạn, ví dụ có thể thay thế và bổ sung 50 lần, nếu bây giờ bạn tiêu hao hết thì khi bạn già đi cũng sẽ không có cách nào bù đắp lại được nữa.

  1. Vận động rất quan trọng nhưng không thể quá mức

Chúng ta có thể vận động, nhưng không thể vượt quá mức. Bất cứ một loại hình thức vận động nào cũng có biên độ và tần suất tối ưu của nó. Ví dụ như nhịp tim, một người bình thường có nhịp tim 70 nhịp/phút, bạn không thể để nó nhảy 120 hay 150 nhịp, đó không phải là giới hạn vận động tối ưu.

Trong khi vận động, không thể vượt quá giới hạn mà tế bào trong cơ thể có thể chịu đựng. Rất nhiều vận động viên đều không có tuổi thọ cao, bởi vì họ phải chịu cường độ tập luyện vượt quá biên độ và tần suất, giống như một cây nến, cháy càng mạnh thì càng nhanh tàn, sinh mệnh nhất định rất nhanh sẽ kết thúc.

Chúng ta nói rằng, người bình thường nhịp tim mỗi phút là 70-80 nhịp, tuy nhiên nếu như trạng thái này cứ kéo dài mãi cũng không tốt. Nếu như mỗi tuần có thể một hoặc hai lần khiến nhịp tim đạt đến 100-120 nhịp/phút (tốt nhất không vượt qua 150 nhịp/phút) điều này giúp gia tăng tốc độ của huyết dịch, giống như quét dọn sạch sẽ một căn phòng.

Một tuần triệt để thanh lý một hai lần, đem tất cả chất thải ở mọi ngõ ngách mang đi qua quá trình lưu thông máu, hỗ trợ cho quá trình trao đổi chất của cơ thể.

  1. Gan nhiễm mỡ không phải là bệnh

Hai mươi năm trước, ba từ chuyên môn này không có mặt trong bất cứ một quyển sách nào. Tất cả đều bắt đầu từ “siêu âm B”. Dùng dụng cụ siêu âm, đầu máy đặt lên vùng bụng: Oh! Gan của bạn bị nhiễm mỡ! Ba từ này cứ như vậy xuất hiện.

Tôi có nghiên cứu chuyên sâu vào vấn đề này, trước khi giải phẫu, tôi có gọi điện thoại cho khoa siêu âm, kêu họ chuyển một chiếc máy siêu âm vào phòng giải phẫu. Siêu âm phần bụng xem có bị gan nhiễm mỡ hay không, sau đó mới tiến hành giải phẫu nghiệm chứng.

Có lúc họ nói rằng gan không bị nhiễm mỡ, nhưng khi giải phẫu phát hiện ra: Đây không phải là mỡ vàng sao? Có trường hợp thì ngược lại, cho nên máy siêu âm xác định gan nhiễm mỡ cũng không chuẩn xác.

Lượng mỡ trong cơ thể nhiều thì lượng mỡ trong gan nhất định cũng nhiều. Vấn đề ở đây là, lượng mỡ trong gan nhiều thì sẽ mang lại cho chúng ta những căn bệnh nào?

Chúng tôi đã làm rất nhiều cuộc giải phẫu, phát hiện ra gan nhiễm mỡ không phải  là nguyên nhân dẫn đến các trường hợp xơ gan, hay gan bị tổn thương. Có người nói bây giờ bạn đang bị gan nhiễm mỡ ở mức độ nhẹ, qua 2 năm nữa sẽ chuyển sang mức độ nặng, tiếp đó là xơ gan và cuối cùng là bị ung thư gan, những người nói ra lời này đều không có căn cứ.

Nhiều người cho rằng rượu có tác hại rất lớn đối với gan, trong rượu chứa chất cồn, sau khi chất cồn được chuyển đến gan sẽ bị phân giải tại đây, giống như một cây kéo, cắt đứt phân tử cacbon, sản phẩm cuối cùng là nước và CO2. Cacbon dioxyde được thải qua đường hô hấp, nước được thải qua bằng đường tiểu. Nếu như trong gan của bạn đều là những chiếc kéo như thế này, thì tại sao bạn lại sợ uống rượu?

Quan trọng không phải là tác hại đối với gan, bởi vì các tế bào gan chết đi có thể sống lại, quan trọng là nó ảnh hưởng đến tế bào thần kinh.

Tế bào thần kinh trong cơ thể con người được sinh ra bao nhiêu thì là bấy nhiêu, sẽ không bao giờ tăng thêm mà chỉ giảm đi. Mỗi lần uống rượu say thì phải hi sinh một số tế bào thần kinh.

  1. Tế bào ung thư sẽ không dễ dàng bị tiêu diệt

Bắt đầu từ những năm 70, khi mới vào học tôi đã bắt đầu có hứng thú với ung thư, đến nay đã hơn ba mươi năm. Lúc mới bắt đầu tôi có rất nhiều hoang tưởng và kích động, cứ nghĩ rằng chỉ cần dồn hết tinh lực và thời gian vào việc nghiên cứu ung thư thì sẽ có ngày thu được thành quả tốt đẹp.

Vào năm 1978 bắt đầu dẫn dắt một nhóm nghiên cứu sinh, tôi vẫn sốt sắng lao vào nghiên cứu ung thư, nhưng tốn nhiều sức lực, tất cả đều phí công vô ích. Mỗi khi có biện pháp mới, tôi sẽ chạy đi thử nghiệm nhưng tất cả đều thất bại.

Điều khiến tôi cảm thấy bi thảm nhất chính là một học sinh trung học được đưa đến, bệnh ung thư đã di căn toàn thân, nhưng cậu bé vẫn không biết gì, còn mong muốn được về nhà.

Trong lúc tôi đi kiểm tra phòng, cậu bé đã hỏi tôi:“Ông ơi, khi nào con mới được đi học ạ?”. Tôi có thể trả lời như thế nào? Nói ra tất cả sự thật sao? Đối mặt với sinh mệnh bé nhỏ, thơ ngây như vậy, tôi làm sao có thể nói thành lời? Nếu tôi giấu giếm, thì khi đứa trẻ này bước vào giai đoạn cuối, nó sẽ biết được sự thật, liệu có còn tín nhiệm tôi nữa hay không?

Nếu bạn muốn tiêu diệt những tế bào ung thư vào giai đoạn cuối, thì đó là ý nghĩ sai lầm.

Tế bào ung thư không thể giết chết! Bạn không cần hi vọng thông qua các biện pháp y học giải quyết vấn đề ung thư của bản thân.

Vậy chúng ta nên làm gì? Tôi lấy một ví dụ, ung thư giống như một hạt giống, cơ thể của chúng ta là một mảnh đất, hạt giống có thể nảy mầm, sinh trưởng hay không đều phụ thuộc vào đất chứ không phải vào hạt.

Ngay cả những hạt giống tốt nhất, nhưng trồng trên một mảnh đất xấu thì cũng không thể nảy mầm được, vậy làm cách nào để cải thiện mảnh đất này? Đây chính là chủ đề nghiên cứu hiện nay.

  1. Kiểm tra sức khỏe định kỳ có thể cứu bạn 1 màn thua

Ung thư ở giai đoạn đầu rất dễ chữa trị, vấn đề là làm thế nào để phát hiện ra ung thư? Phó Bưu (diễn viên) cuối cùng cũng đến chỗ tôi khám bệnh, anh ta bị ung thư gan.

Hầu hết ung thư gan đều trải qua viêm gan B, viêm gan C, sau đó là xơ gan, bước thứ ba gây ung thư gan. Tế bào muốn biến thành tế bào ung thư cần 5-10 năm.

Gan gặp phải tấn công, tế bào ung thư một biến thành hai, hai biến thành bốn, giống như một chiếc mầm non, từ từ trưởng thành. Nếu như cách sáu tháng kiểm tra sức khỏe một lần thì tế bào ung thư sẽ không có khả năng phát triển đến 2-3 cm, nếu chữa trị khi tế bào ung thư chưa đạt đến 2-3 cm thì bệnh ung thư gan rất nhanh sẽ trị khỏi.

Giống như Diêu Bối Na, trường hợp của Phó Bưu có thể chẩn trị sớm, chứ không phải luôn lấy công việc bận rộn làm cái cớ mà bỏ lỡ sinh mệnh, lúc anh ta tìm gặp tôi, thì tình trạng đã không có cách nào khống chế được. Khi tiến hành cắt bỏ gan tôi cũng có mặt, nhưng mọi chuyện đã quá trễ, anh ta không thể sống lâu được.

Lúc đó còn có người mắng tôi: “Sau khi làm phẫu thuật người ta không phải vẫn sống tốt sao? Tại sao ông lại nói người ta sống không lâu?“. Tôi khẳng định anh ta không thể sống lâu, bởi vì tế bào ung thư của anh ta giống như hạt mè, toàn bộ gan, đâu đâu cũng có. Như vậy làm sao có thể sống lâu được? Có người nói chỉ cần thay gan là được rồi.

Tế bào ung thư rất thông minh, tế bào ung thư gan thích sống nhất trong gan, khi trong gan đã tràn đầy tế bào ung thư, chúng sẽ chạy qua nơi khác. Đợi đến khi bạn thay gan, thì các tế bào ung thư từ bốn phương tám hướng lại trở về, như vậy cho dù có thay gan cũng chỉ vô dụng.

Chúng ta có trách nhiệm sớm phát hiện ra khối u, sau đó tiến hành chữa trị, nếu như phát hiện quá trễ, tôi kiến nghị nên tập trung vào chất lượng cuộc sống, giảm bớt đau khổ, kéo dài sinh mệnh, không cần phải tiến hành các cuộc trị liệu tốn kém, bởi vì thật sự không có tác dụng.

Là một bác sĩ, tôi cho bản thân mình hai mươi điểm.

Tại sao? Bởi vì 1/3 loại bệnh bác sĩ không có khả năng trị khỏi, 1/3 loại bệnh là do tự hồi phục. Y học chỉ có thể giải quyết 1/3  loại bệnh còn lại.

Trong số một phần ba đó, tôi cũng không có khả năng trị khỏi hết, cho nên 20 điểm đã là số điểm rất cao rồi.

Làm bác sĩ nhiều năm như vậy, tôi có một cảm khái: Bác sĩ vĩnh viễn luôn là chỉ có thể chấp nhận mà không có biện pháp, bởi vì mỗi ngày đều phải đối mặt với thất bại.

Sức khỏe là nhất, những thứ còn lại đều là không, bởi vì có sức khỏe mới có thể có được tương lai.

Sức khỏe là trung tâm, dựa trên 4 nền tảng cơ bản: Chế độ ăn uống cân bằng, tập thể dục thường xuyên, nghỉ ngơi đầy đủ, thái độ tích cực.

Hãy nhớ 4 điều giúp bảo vệ tốt sức khỏe: Bác sĩ tốt nhất là chính mình, thuốc tốt nhất là thời gian, trạng thái tốt nhất của tâm hồn là tĩnh tại, vận động tốt nhất là đi bộ.

Theo soundofhope

Hải Minh

First Republic Bank phá sản có gây ảnh hưởng dây chuyền?

Báo Nguoi-viet

May 2, 2023

SAN FRANCISCO, California (NV) – First Republic Bank, ngân hàng thứ hai với tài sản hơn $200 tỷ bị phá sản chỉ trong vài tuần, bị sụp đổ nhanh chóng vì mô hình kinh doanh phục vụ cho một nhóm khách hàng giàu có rất dễ bị ảnh hưởng bởi lãi suất tăng đột ngột, theo AP.

Trước đó ngân hàng Silicon Valley Bank và Signature Bank cũng phá sản trong cùng một tuần. Các nhà đầu tư tự hỏi liệu nhà băng nào vào vị trí kế tiếp.

Bên ngoài một chi nhánh của ngân hàng First Republic Bank ở San Francisco. (Hình: Justin Sullivan/Getty Images)

First Republic Bank là trường hợp được nhắc đến hàng đầu, ngoài ra còn có Comerica và KeyCorp, những ngân hàng có nhiều tài khoản với số tiền ký thác trên $250,000, mức nhận được bảo hiểm liên bang.

Dưới đây là một số điều cần biết về sự sụp đổ của First Republic Bank.

Tại sao First Republic Bank phá sản?

Ngân hàng này phát triển nhanh chóng nhờ tiền gửi vào tài khoản của những cá nhân và công ty giàu có. First Republic Bank sử dụng số tiền này để thực hiện các khoản vay lớn khi lãi suất đang ở mức thấp lịch sử với hy vọng thuyết phục khách hàng dùng thêm những sản phẩm khác, chẳng hạn dịch vụ quản trị tài sản.

Rất nhiều tài khoản tiền gửi tại First Republic lớn hơn con số $250,000, trong khi đây là mức cao nhất được nhận bảo hiểm liên bang. Khi ngân hàng Silicon Valley Bank phá sản, khách hàng rút tiền ồ ạt vì sợ khoản tiền trong tài khoản của họ gặp nguy hiểm. Hồi tuần trước, First Republic cho biết khách hàng rút hơn $100 tỷ, đa số diễn ra trong vài ngày giữa Tháng Ba.

Không chỉ vậy, nhiều khoản vay lớn từ First Republic bị giảm giá trị khi Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang (FED) tăng lãi suất chóng mặt hồi năm ngoái. Nếu ngân hàng cố gắng bán các khoản vay để huy động vốn, thì họ sẽ thua lỗ. Chính Silicon Valley cũng sụp đổ trong hoàn cảnh tương tự.

First Republic lên kế hoạch bán các tài sản không sinh lời, sa thải 25% lực lượng lao động năm 2022. Tuy nhiên giới chuyên gia đánh giá rằng các biện pháp này là không đủ và quá trễ.

Giữa tuần trước, chính phủ can thiệp vào First Republic, với việc giới chức Bộ Tài Chính yêu cầu các ngân hàng nộp hồ sơ đấu thầu mua lại First Republic.

Ngân hàng nào sẽ vỡ nợ kế tiếp 

Cho đến bây giờ, các nhà phân tích kỳ vọng rằng sẽ không có thêm ngân hàng nào gặp chuyện nữa, khẳng định các vấn đề của Silicon Valley, Signature Bank hay First Republic chỉ là hy hữu.

Một số ngân hàng hạng trung khác cũng gặp cảnh bị khách hàng rút tiền gửi, do đó phải vay từ các chương trình liên bang. Tuy nhiên không có ngân hàng nào bị ảnh hưởng nặng nề như First Republic.

Cổ phiếu của đa số các ngân hàng hạng trung đều giảm hôm Thứ Hai, 1 Tháng Năm. Tuy nhiên mức giảm khá khiêm tốn so với mức thua lỗ hai con số của nhiều ngân hàng ngày 13 Tháng Ba.

Điều gì xảy ra với cổ đông của First Republic Bank?

Ngày 8 Tháng Ba, cổ phiếu First Republic giao dịch với mức giá $115, tuy nhiên sau đó giảm mạnh. Đến hôm Thứ Sáu, 28 Tháng Tư, giá chỉ còn $3.15. Tức là khoảng $20 tỷ giá trị thị trường bị bốc hơi. Giao dịch cổ phiếu tạm dừng trước khi thị trường Mỹ mở cửa trở lại vào Thứ Hai, 1 Tháng Năm.

JPMorgan Chase, đơn vị đồng ý mua các khoản tiền gửi và đa số tài sản của First Republic, nhấn mạnh rằng họ không thừa nhận bất kỳ khoản nợ doanh nghiệp hoặc ưu đãi cổ phiếu vào của First Republic.

Khi một ngân hàng phá sản, thì những người nắm giữ trái phiếu là người được trả tiền cuối cùng, còn cổ đông thì cũng thuộc diện gần cuối.

Cơ Quan Bảo Hiểm Tiền Gửi Liên Bang (FDIC) không đưa ra bất kỳ ước tính nào về khả năng các chủ nợ được trả tiền. Tuy nhiên quỹ bảo hiểm tiền gửi của FDIC có thể tổn thất $13 tỷ vì First Republic phá sản.

Mặc dù các điều kiện có thể thay đổi theo thời gian, nhưng nguy cơ các nhà đầu tư không thu hồi lại được gì vẫn hiện diện ở đó. (MPL)

Không chấp nhận ‘đa nguyên, đa đảng’ nhưng có thể đa… vương (Phần 2)

Báo Tếng Dân  Trân Văn, 

Tiếp theo phần 1

Chuyện chưa ngừng ở đó, sự tùy tiện, càn rỡ ấy thể hiện cả trong công an – lực lượng bảo vệ, thực thi pháp luật và nay đang ngăn ngừa tệ nạn “say rượu lái xe”.

Chắc chắn dân chúng các quốc gia văn minh không thể tưởng tượng được rằng đã sang thập niên thứ ba của thế kỷ 21 mà vẫn còn những tình huống như sĩ quan quân đội kháng cự lực lượng bảo vệ, thực thi pháp luật dân sự dù rõ ràng anh ta “say rượu lái xe”. Khi phương tiện của sĩ quan quân đội này bị tạm giữ thì phát sinh thêm tình huống các sĩ quan, binh sĩ cùng đơn vị đổ đến “giải cứu”. Do “giải cứu” bất thành, cay cú vì không thể đòi lại… “tang vật”, viên đồn trưởng đã chỉ đạo thuộc cấp chuyển sang bao vây, đòi những cá nhân đang bảo vệ và thực thi pháp luật… “xuất trình giấy tờ” vì hiện diện trong khu vực thuộc… phạm vi kiểm soát của đơn vị quân đội! Cuối cùng, các thành viên của lực lượng bảo vệ trật tự, trị an và lực lượng quốc phòng xoay qua thóa mạ, hăm dọa lẫn nhau, bất kể dân chúng xúm vào ghi hình và sự kiện sẽ lan truyền như vết dầu loang…

Tin Tức, Clip, Video Hình Ảnh, Tin Mới Nhất Về Cảnh Sát Giao Thông Tp

Tuy nhiên đó vẫn chưa phải là điều đáng bận tâm nhất. Điều đáng bận tâm nhất là dường như cả hệ thống chính trị, hệ thống công quyền từ địa phương đến trung ương đều xem sự kiện này là… bình thường. Bộ Chỉ huy Biên phòng Quảng Trị, Bộ Tư lệnh Biên phòng, Bộ Quốc phòng, Công an Quảng Trị, Bộ Công an im lặng. Chính quyền tỉnh Quảng Trị, chính phủ cũng không thèm bận tâm. Nơi duy nhất lên tiếng là chính quyền huyện Triệu Phong và có thể cũng vì cho rằng đó chỉ là… “chuyện” nhỏ nên Chủ tịch huyện bảo với công chúng rằng: Sau đợt… nghỉ lễ (30 tháng 4 và 1 tháng 5) mới làm rõ. Cứ như nhận định của viên Chủ tịch huyện thì: Chắc có sự hiểu nhầm. Chuyện tuần tra, kiểm soát đúng hay sai thuộc ngành dọc (công an và biên phòng). Phía huyện đã giao cho hai đơn vị làm việc với nhau để giải quyết vụ việc, thông tin rõ ràng, tránh sự hiểu nhầm (1).

Những người Việt đang cư trú bên ngoài Việt Nam (bao gồm những người chỉ tạm trú để làm việc hay học hành) đều có thể trả lời về việc, ở quốc gia họ đang cư trú, nếu xảy ra sự kiện như vừa xảy ra cách nay mươi ngày ở Triệu Phong – Quảng Trị thì sự kiện ấy có được xem là… “bình thường” hay không (?). Những viên chức lãnh đạo các lực lượng bảo vệ trật tự trị an và quốc phòng, kể cả chính phủ có thể gạt loại sự kiện ấy qua một bên, không bận tâm điều tra và chẳng thèm giải trình vì… “không đáng” hay không (?)… Câu trả lời chắc chắn sẽ là KHÔNG do hai lẽ: Dân chúng những xứ khác không bao giờ chấp nhận những biểu hiện càn rỡ khó tưởng như thế. Nếu lờ đi, các tổ chức chính trị đối lập với đảng cầm quyền sẽ biến đảng cầm quyền thành mục tiêu cho búa rìu dư luận, đảng cầm quyền khó mà có thể giữ thế đa số để tiếp tục cầm quyền trong nhiệm kỳ sau.

Chỉ ở Việt Nam – nơi phủ nhận đa nguyên chính trị (tức là sự đa dạng về ý thức hệ) và triệt tiêu đa đảng mới có tình trạng địa phương này, ngành kia trở thành những lãnh địa bất khả xâm phạm, kẻ đứng đầu – dẫu chỉ là đồn trưởng biên phòng – vẫn có thể hành xử như lãnh chúa. Lãnh chúa – lãnh địa xuất hiện và tồn tại khắp nơi do dân chúng không có quyền đánh giá, lựa chọn bất kỳ tổ chức chính trị nào khác. Khi đảng CSVN không phải cạnh tranh về quyền lực thì tất cả những phát ngôn, hành xử càn rỡ, tùy tiện đều có thể biến thành… “bình thường”, hay… “chuyện nhỏ”, trừ những phát ngôn, hành xử đe dọa quyền lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của đảng CSVN. Sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của đảng CSVN đã tạo điều kiện cho CAND, QĐND có thể “tự tung, tự tác” như đã biết và đang thấy. Cho nên CAND mới giương cao khẩu hiệu… “còn đảng, còn mình” và QĐND giữ vững lời thề… “trung thành tuyệt đối” và bảo vệ đảng CSVN đến cùng!

Chẳng riêng… “lực lượng vũ trang nhân dân” tùy tiện, càn rỡ mà hệ thống chính trị, hệ thống công quyền, hệ thống tư pháp cũng tùy tiện, càn rỡ y hệt như thế. Cách nay ít ngày, thiên hạ được xem một video clip, ghi lại phát biểu của ông Phạm Văn Thiều – Phó Bí thư kiêm Chủ tịch tỉnh Bạc Liêu tại “Hội nghị sơ kết thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố Bạc Liêu lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020-2025”. Theo ông Thiều, muốn “kích cầu du lịch”, các cơ quan hữu trách như công an, văn hóa phải dỡ bỏ hạn chế về giờ hoạt động của nhà hàng, quán xá (hiện là 23 giờ tối) để mọi người có thể “chơi cho đã”. Ông Thiều còn yêu cầu công an ngưng túc trực trước các quán nhậu để phạt những người “say rượu lái xe” vì làm như thế là… “gây thiệt hại cho kinh tế và du lịch địa phương” trong khi… “say rượu lái xe” thuộc phạm trù… “hồn ai nấy giữ” (2).

Tin tức tai nạn giao thông mới nhất ngày 12/3/2018

Xin lưu ý, “say rượu lái xe” là một trong những nguyên nhân khiến tai nạn giao thông trở thành vấn nạn nghiêm trọng kéo dài đã vài thập niên tại Việt Nam. Năm 2019, Quốc hội Việt Nam thông qua đạo luật “phòng chống tác hại của rượu bia”, song song với đạo luật có hiệu lực từ năm 2020 này, chính phủ Việt Nam ban hành một nghị định (100/2019/NĐ-CP) nhằm hướng dẫn thực thi bài trừ tệ nạn “say rượu lái xe”. Theo thời gian, các biện pháp (trong đó có chuyện cử công an “canh” trước các nhà hàng, quán nhậu) cũng như mức phạt “say rượu lái xe” càng ngày càng nghiêm nhặt. Khi phát biểu như vừa trích dẫn, rõ ràng Phó Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch tỉnh Bạc Liêu không thèm bận tâm đến các quy định pháp luật cũng như nỗ lực của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam.

Chính “nhà nước XHCN” và “pháp chế XHCN” tạo ra những viên chức chỉ đạo tùy tiện, càn rỡ như ông Thiều! Chuyện chưa ngừng ở đó, sự tùy tiện, càn rỡ ấy thể hiện cả trong công an – lực lượng bảo vệ, thực thi pháp luật và nay đang ngăn ngừa tệ nạn “say rượu lái xe”. Giống như nhiều quốc gia khác, Việt Nam cũng có quy định về nồng độ cồn trong máu (Quyết định 320/QĐ-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 23/1/2014) và chấp nhận hơi thở có thể có nồng đồ cồn ở mức nhất định do sự chuyển hóa của đồ ăn, thức uống trong cơ thể (cồn tự nhiên). Tuy nhiên CAND không thừa nhận Quyết định 320/QĐ-BYT, không chấp nhận “cồn tự nhiên”, ai cũng có thể bị phạt nếu lúc được yêu cầu thử nồng đồ cồn trong máu, ống thử xác định hơi thở có… cồn (3). Đây cũng là lý do không ít người… hoan hô ông Phạm Văn Thiều (4).

***

Song song với việc giương cao khẩu hiệu “Sống, làm việc theo Hiến pháp, pháp luật”, xác định khẩu hiệu này như một loại tuyên ngôn của “nhà nước pháp quyền XHCN”, hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam còn khuyến khích viên chức trong hệ thống chính trị, hệ thống công quyền “dám nghĩ, dám làm, dám đột phá”. Trong khi chính quyền các quốc gia văn minh vận hành theo phương thức chỉ cho phép viên chức của tất cả các ngành, các cấp “làm những điều được luật pháp cho phép” để ngăn ngừa việc hành xử công quyền tùy tiện, càn rỡ thì tháng trước, Bộ Nội vụ trình chính phủ Việt Nam dự thảo “Nghị định Quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung”.

Thay vì điều chỉnh các quy phạm pháp luật sao cho hợp lý, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, hệ thống công quyền thì tại Việt Nam, viên chức của các hệ thống này được khuyến khích “dám nghĩ, dám làm, dám đột phá”, thậm chí còn muốn lập quy để muốn làm gì thì cứ… thử trở thành… tiêu chí trong hành xử công quyền. Với dự thảo nghị định vừa kể, nếu dám… vượt qua hàng rào các quy phạm pháp luật, các viên chức sẽ được… “bảo vệ” (5), được… “tuyên dương, khen thưởng” và được… “ưu tiên bồi dưỡng, quy hoạch, bổ nhiệm vào vị trí cao hơn hoặc được bổ nhiệm, quy hoạch vượt cấp” (6)! Những hệ thống không có khả năng tự điều chỉnh đã vậy lại còn cương quyết chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa” – vốn là động lực tiến hóa, phát triển – sẽ đưa xứ sở và dân tộc mà các hệ thống ấy “lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối” đến đâu ngoài sự hỗn loạn?

Chú thích

(1) https://vov.vn/xa-hoi/tin-24h/huyen-trieu-phong-quang-tri-se-xu-ly-vu-tranh-cai-giua-bo-doi-bien-phong-va-csgt-sau-nghi-le-post1017239.vov

(2) https://www.tiktok.com/@vtvcab.tintuc/video/7227502648189144322

(3) https://tuoitre.vn/cuc-truong-csgt-khong-co-chuyen-an-hoa-qua-uong-siro-bi-phat-nong-do-con-20200109190711144.htm

(4) https://nld.com.vn/thoi-su/clip-phat-bieu-cua-chu-tich-ubnd-tinh-bac-lieu-gay-bao-mang-20230429155935404.htm

(5) https://vnexpress.net/bo-noi-vu-de-xuat-can-bo-dam-nghi-dam-lam-duoc-mien-ky-luat-4585334.html

(6) https://thanhnien.vn/can-bo-dam-nghi-dam-lam-co-the-duoc-bo-nhiem-vuot-cap-185230327120610693.htm

Tự do báo chí toàn cầu: Việt Nam tụt bốn bậc xuống nhóm ba quốc gia cuối bảng

RFA

2023.05.03

Việt Nam nằm trong khu vực đỏ (không có tự do báo chí) trong bản đồ của RSF 2023

Ảnh chụp màn hình báo cáo của RSF

Tự do báo chí toàn cầu: Việt Nam tụt bốn bậc xuống nhóm ba quốc gia cuối bảng

Báo cáo toàn cầu về tự do báo chí năm 2023 của tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) xếp Việt Nam vào nhóm ba quốc gia đứng cuối  bảng. Hai nước còn lại là Trung Quốc và Bắc Triều Tiên.

Trong báo cáo được RSF công bố nhân ngày Báo chí Toàn cầu 03/5, Việt Nam tụt bốn hạng kể từ năm ngoái và hiện đứng thứ 178 trên tổng số 180 quốc gia và vùng lãnh thổ được khảo sát, chỉ trên Trung Quốc (179) và Bắc Triều Tiên (180).

Trong năm tiêu chí đánh giá của RSF, Việt Nam có ba tiêu chí bị suy giảm so với năm 2022. Cụ thể, chỉ số chính trị giảm từ hạng 173 xuống 179, chỉ số kinh tế giảm từ 176 xuống 180, và chỉ số lập pháp từ 172 xuống 177.

Tuy nhiên, Việt Nam có hai tiêu chí chỉ số xã hội và chỉ số an ninh tăng trong năm 2023: đều từ vị trí 170 của năm 2022 lên vị trí 163 năm 2023.

Thứ hạng 178 năm nay là vị trí thấp nhất của Việt Nam kể từ khi RSF đưa ra bảng xếp hạng hồi năm 2002. Năm 2020 Việt Nam có thứ hạng 172, năm 2021- 175, và 174 trong năm 2022. Điều này cho thấy tự do báo chí của Việt Nam ngày càng suy giảm.

Báo chí truyền thống của Việt Nam bị kiểm soát chặt chẽ bởi một đảng. Các nhà báo tự do và blogger thường xuyên bị cầm tù, biến Việt Nam thành nhà tù lớn thứ ba trên thế giới đối với nhà báo,” RSF nói về Việt Nam trong báo cáo năm 2023, kèm theo con số 42 nhà báo hiện đang bị bỏ tù ở quốc gia độc đảng này.

Trong số các nhà báo đang bị giam cầm có bốn blogger và cộng tác viên của Đài Á Châu Tự Do (RFA), đó là các ông Nguyễn Tường Thuỵ, Trương Duy Nhất, Nguyễn Lân Thắng, và Nguyễn Văn Hoá.

Bình luận về tự do báo chí ở Việt Nam, một nhà báo đề nghị giấu danh tính vì lý do an ninh, nói với RFA trong ngày thứ tư 03/5 rằng ông đồng tình với báo cáo của RSF:

Có thể nói, chưa bao giờ giới bất đồng chính kiến, mà đại diện là các nhà báo độc lập ở Việt Nam rơi vào cảnh bị đàn áp khốc liệt như bây giờ.”

RSF chỉ trích bản án 8 năm tù cho cựu nhà báo Trần Thị Tuyết Diệu - Xa ...

Người này cho rằng đàn áp tự do báo chí trở nên khốc liệt hơn từ khi Luật An ninh Mạng ra đời (2019), cùng với việc nhà cầm quyền sử dụng các điều khoản 117 và 331 của Bộ luật Hình sự 2015 trong việc kết án người đấu tranh. Thậm chí, Điều khoản 331 còn được sử dụng để giải quyết những tranh chấp dân sự.

Dường như nhà cầm quyền Việt Nam bất chấp các chỉ trích quốc tế về vi phạm nhân quyền. Các cường quốc cần áp dụng các chế tài cụ thể về kinh tế, chính trị và văn hoá để buộc Hà Nội phải cải thiện hồ sơ nhân quyền, trong đó có quyền tự do báo chí và thông tin,” người này nói.

Bức tranh về truyền thông

Theo RSF, ở Việt Nam, các blogger và nhà báo độc lập là những nguồn tin tức và thông tin được đưa tin tự do duy nhất ở một đất nước mà tất cả các phương tiện truyền thông đều tuân theo chỉ đạo của Đảng Cộng sản vốn toàn quyền cai trị quốc gia từ năm 1975.

-Việt Nam: Lại một đợt đàn áp các blogger và nhà hoạt động nhân quyền ...

Với 64 triệu người dùng – con số cao thứ bảy trên thế giới – Facebook là mạng xã hội lớn nhất, nền tảng trực tuyến phổ biến và phục vụ như một công cụ chính để lưu hành tin tức và thông tin ở Việt Nam. Ứng dụng nhắn tin Zalo của Việt Nam cũng được sử dụng rộng rãi để chia sẻ thông tin.

Bối cảnh chính trị

Nhà nước độc đảng đặt mục tiêu kiểm soát mọi thứ và để đạt được mục tiêu này, quân đội đã phát triển Lực lượng 47, một đơn vị với 10.000 binh sĩ mạng có nhiệm vụ bảo vệ đường lối của đảng và tấn công tất cả những người bất đồng chính kiến trên mạng.

Luật An ninh Mạng 2019 yêu cầu các nền tảng lưu trữ dữ liệu người dùng ở Việt Nam và chuyển giao cho cơ quan chức năng khi có yêu cầu.

Khuôn khổ pháp lý

Quyền tự do báo chí được ghi trong Điều 19 của Hiến pháp 2013. Tuy nhiên, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ pháp lý để bỏ tù bất kỳ người nào đưa tin tức và thông tin gây hại cho chế độ.

Đó là các Điều 109 “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền,” Điều 117 “Tuyên truyền chống nhà nước,” và Điều 331 “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ” với mức án cao nhất có thể lên đến 20 năm tù giam.

Bối cảnh văn hóa xã hội

Nhiều chủ đề bị kiểm duyệt bao gồm các nhà bất đồng chính kiến, các vụ tham nhũng liên quan đến các quan chức cấp cao, tính hợp pháp của Đảng, quan hệ với Trung Quốc và, tất nhiên, các vấn đề nhân quyền.

Các chủ đề được coi là ít nhạy cảm hơn, chẳng hạn như các vấn đề môi trường hoặc quyền của người đồng tính và người chuyển giới (LGBT), đang được xã hội quan tâm.

Sự năng động của cộng đồng người Việt hải ngoại đóng vai trò cơ bản trong việc trợ giúp và chuyển tiếp tiếng nói độc lập của đất nước, RSF nói trong báo cáo.

Sự an toàn của nhà báo

Theo RSF, Nhà nước Việt Nam gia tăng trấn áp đối với các nhà báo độc lập từ khi Tổng bí thư Đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng áp đặt một đường lối bảo thủ hơn vào năm 2016. Bộ máy này đàn áp tất cả các sáng kiến báo chí xuất phát từ xã hội dân sự, chẳng hạn như Báo Sạch và Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam.

Bà Phạm Đoan Trang, người được trao Giải thưởng Tự do Báo chí của RSF năm 2019, đã bị kết án chín năm tù, RFS nhấn mạnh.

Vietnam: Immediately release independent journalist and human… | OMCT

Phóng viên RFA gọi điện và gửi email cho Bộ Ngoại giao Việt Nam để đề nghị bình luận về báo cáo của RSF nhưng không nhận được phản hồi.

RSF thường xuyên lên tiếng khi Việt Nam đàn áp báo chí tự do. Gần đây nhất là lời kêu gọi Hà Nội công khai tình trạng của blogger Đường Văn Thái và phóng thích ông trở lại Thái Lan, nơi ông tị nạn chính trị từ đầu năm 2019.

Blogger này mất tích ở Thái Lan vào ngày 13/4 vừa qua, ba ngày sau, báo chí Nhà nước loan tin ông bị bắt khi “nhập cảnh bất hợp pháp” từ Lào vào Việt Nam ngày 14/4.

Từ đó đến nay, công an và truyền thông Nhà nước hoàn toàn im lặng, không công bố bất cứ thông tin nào liên quan đến nhà báo tự do chuyên đưa tin “nội bộ” về tham nhũng và tranh giành quyền lực của quan chức chế độ.

Tháng trước, sau khi toà án Hà Nội kết án nhà hoạt động Nguyễn Lân Thắng, blogger của RFA, với bản án sáu năm tù giam và hai năm quản chế, RSF cũng chỉ trích Việt Nam và yêu cầu trả tự do cho ông ngay lập tức và vô điều kiện.

Trên bình diện quốc tế, RSF nhận định tự do báo chí rơi vào tình trạng “rất nghiêm trọng” tại 31 quốc gia, “khó khăn” tại 42 quốc gia khác, “có vấn đề” tại 55 nước, và “tốt” hoặc “đạt yêu cầu” tại 52 quốc gia còn lại.

Báo chí phải được trao vào tay người dân…

Lê Vi

Trong không khí tưng bừng của dịp nghỉ lễ, con dân sung sướng quá, mang vịt lên núi nướng nhậu, làm cháy cả núi! Lúc tôi tình cờ bắt gặp thì đám cháy đã được khống chế bởi nhân dân anh hùng ào ào túa từ dưới làng lên cứu lửa. Hú vía.

Nhìn cảnh tượng ấy, vừa tức vừa tức cười, nhất là cái hình dung đốt cả ngọn núi để nướng một con vịt! Tôi đưa điện thoại lên, định chụp lại vài kiểu để làm kỉ niệm. Chưa kịp bấm máy thì có tiếng quát ngay bên cạnh:

– Không được quay phim chụp hình!

Tôi mỉm cười thân thiện, vì nghĩ người đàn ông chỉ đang nói đùa.

– Đã bảo không được quay phim chụp hình ở đây.

Bây giờ thì quát lớn, giọng đầy uy mãnh. Tôi hiểu ra là ông ấy nói thật chứ chả đùa cợt gì sất. Nhìn kỹ lại, một người đàn ông ăn mặc bảnh bao, tay chắp sau đít. À, có lẽ là cán bộ, là “lãnh đạo” xã…

– Quy định nào cấm quay phim chụp hình vậy anh?

– Ở đây không được quay!

– Quy định nào! – tôi đổi giọng. Ông ấy cũng đổi giọng:

– Thôi, đừng quay, phức tạp lắm. Quay làm chi, lửa cũng tắt rồi…

Thực ra tôi cũng không hề có ý đưa cái chuyện đám cháy ấy lên mạng làm gì cả, chỉ là ghi lại một khoảnh khắc, lưu làm kỷ niệm, như bệnh nghề nghiệp vậy thôi. Nhưng qua chuyện này thì một lần nữa thấy cái ý thức bưng bít thông tin như đã trở thành một phản xạ vô điều kiện của các “cán bộ”. Buồn cười hơn là ở chỗ, đám cháy chẳng phải do họ gây ra, thậm chí họ đã “phản ứng nhanh” và đáng được tuyên dương vì hành động kịp thời, ngăn được một thảm họa ngay trước mắt. Nhưng lạ thay, họ vẫn “sợ trách nhiệm”. Tốt nhất là nên bịt kín!

Tình trạng bưng bít thông tin trong các nhà trường cho đến mọi cơ sở/cơ quan trong xã hội hiện đại này ở ta đã trở thành một thứ “luật mồm” hà khắc mà mọi thành viên đều phải tuân thủ. Sự không minh bạch hay thao túng truyền thông là một trong những lý do quan trọng nhất để những ung nhọt cứ lớn mãi lên mà không được điều trị.

Xã hội cũng giống như một cơ thể, nếu không có hệ miễn dịch tốt thì nó trở thành một con bệnh với vô vàn những chứng nan ý ủ kín bên trong. Hệ miễn dịch ấy chính là sự độc lập của lập pháp, hành pháp, tư pháp, và (rất quan trọng) là tự do ngôn luận mà báo chí – truyền thông là một thứ đề kháng hữu hiệu bậc nhất. Tuy nhiên, ngày nay cái sức đề kháng lành mạnh và tự nhiên ấy gần như đã bị triệt tiêu, thế là bao nhiêu vấn nạn bị sinh ra và không được giải quyết kịp thời, biến xã hội thành một thân thể èo uột mà ở đó chỉ có vi trùng là sinh sôi dữ dội và oanh tạc khắp nơi.

Chừng nào chưa có báo chí tự do (tức của dân) thì việc quản lý xã hội sẽ không bao giờ có thể đạt được kết quả tốt đẹp. 800 tờ báo với mấy vạn phóng viên làm sao mà bằng 100 triệu tai mắt của nhân dân? Thế nhưng, thay vì sử dụng cái lực lượng giám sát hùng mạnh ấy, thì người ta cấm đoán để mong làm trong sạch xã hội!

Mỗi một cơ quan, vì bị bưng bít thông tin như thế, nên gần như biến thành các lãnh địa của các lãnh chúa, mặc sức làm bậy. Đến khi nếu có bị vỡ lỡ thì ôi thôi, mục nát hết cả. Những vụ đi tù tập thể cũng là vì thế; và hậu quả do những sai phạm kéo dài không được ngăn chặn kịp thời ấy để lại thì hầu như không còn cách khắc phục nữa.

Luật pháp được sinh ra là để ngăn chặn vi phạm, giữ gìn trị an, bảo vệ môi trường sống, và kiến tạo một xã hội phát triển bền vững chứ không phải để bắt quan tham! Muốn thế, báo chí phải được trao vào tay người dân để mọi thứ luôn luôn được phơi bày. Vi trùng cũng như quan tham, không thể sinh sôi được dưới ánh mặt trời của sự minh bạch.

Thái Hạo

Chuẩn mực đạo đức thời cũ và cán bộ, đảng viên thời nay!

Đài Á Châu Tự Do 

Cựu Trung tá Vũ Minh Trí, từng công tác tại Tổng cục II, hôm 2/5/2023, cho rằng:

“Càng hô hào nhiều thì tư cách cán bộ ngày càng đi xuống, phẩm chất của cán bộ ngày càng hủ bại. Ta có thể thấy điều này rất rõ qua số lượng cán bộ bị kỷ luật, bị truy tố xét xử và bị bắt bỏ tù theo từng năm. Nếu trước kia chỉ ở những cán bộ cấp thấp, thì bây giờ đã khá phổ biến ở những cán bộ cấp rất cao. Cho nên đảng càng hô hào, càng tán dương, càng có cuộc vận động nọ kia, thì phẩm chất cán bộ ngày càng đi xuống.”

Theo ông Trí, tiêu chuẩn của cán bộ hiện hoàn toàn xa rời với thực tế, vẫn lấy những tiêu chuẩn cũ từ thời kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp, cách nay 50-60 năm áp dụng cho bây giờ, trong đó đòi hỏi cán bộ phải không có tham vọng quyền lực. Ông Trí nói tiếp:

“Trong khi lòng tham, động cơ cá nhân là một trong những động lực mạnh nhất giúp cho con người ta tiến bộ, phấn đấu. Nếu cán bộ không có tham vọng quyền lực, không có tham tiền thì chẳng ai đi làm cán bộ, người ta đi tu hết. Tôi nhớ đã có một câu nói ‘không chọn những người có tham vọng quyền lực’… theo tôi rất là vô duyên. Cho nên thời buổi này tư tưởng phải khác hẳn cách đây 50-60 năm. Ví dụ như vừa rồi có cuộc vận động hoàn toàn thất bại là ‘học tập và làm việc theo gương đạo đức Hồ Chí Minh’… Khi tổng kết có 3 bí thư tỉnh ủy và một số tổng giám đốc được khen thưởng toàn quốc. Về sau thì một Tổng giám đốc đi tù, một Bí thư tỉnh ủy Huế là Hồ Xuân Mãn bị phát hiện gian trá và bị tước danh hiệu anh hùng.”

Vì thế Ông Trí cho rằng, đem áp dụng một tiêu chuẩn của thời cũ vào thời mới này thì hoàn toàn không đúng, nhưng vì đã phát động nên cán bộ đua nhau hót theo. Ông Trí cho biết thêm:

“Nhưng tôi nghĩ, kể cả ông Hồ sống lại thì cũng không được bổ nhiệm, thậm chí bị đi tù vì có những phát ngôn hoàn toàn sai với thực tế bây giờ. Ví dụ ông Hồ nói nếu chính phủ hư hỏng thì nhân dân có quyền đuổi chính phủ đi. Ông mà nói câu đấy bây giờ thì có thể ông bị can tội tuyên truyền chống chế độ, hay âm mưu lật đổ chính quyền. Hay ông Hồ nói ‘nước độc lập mà dân chưa có tự do, thì độc lập ấy chẳng có ý nghĩa gì’… nhưng rõ ràng dân bây giờ đâu có được tự do. Nếu so với bản yêu sách của nhân dân Đông Dương mà ông Hồ gửi đến Hội nghị Versaille năm 1919 thì đa số những quyền tự do trong đấy, đến bây giờ dân Việt Nam vẫn chưa có.”

Nên ông Trí cho rằng, đem một cái tiêu chuẩn cũ để xây dựng cho một cán bộ mới là hoàn toàn không đúng.

(Photo by Nhac NGUYEN / AFP)

RFA.ORG

Chuẩn mực đạo đức thời cũ và cán bộ, đảng viên thời nay!

Tôi biết ơn Việt Nam Cộng Hòa

Bài viết đã đăng trên Danlambao vào tháng 4/2014 của Nguyễn Ngọc Già.

LỜI THÚ NHẬN CHÂN TÌNH CỦA NGƯỜI CÓ GIA ĐÌNH NẰM VÙNG CHO Việt Cộng

  • ” Tôi tìm lại được “tính Người” mà bấy lâu nay tôi đánh mất.
  • Tôi biết ơn Việt Nam Cộng Hòa

Nguyễn Ngọc Già (Danlambao) – Một số người trong nước cũng như người Việt hải ngoại cho rằng không nên vực dậy “xác chết” có tên Việt Nam Cộng Hòa.

Tuy nhiên, lịch sử là nguồn cội của bất kỳ dân tộc nào. Lịch sử là khoa học và tính Người được thể hiện cao nhất từ đó. Bất kỳ một giai tầng nào hay một bậc vua chúa hoặc một nhà độc tài nào đi nữa, cũng không thể nào trốn được lịch sử. Lịch sử là Con Người.

Lịch sử dù đau thương như VNCH đã để mất Hoàng Sa, hay đáng tủi hổ như công hàm 1958 của VNDCCH và hội nghị Thành Đô của CHXHCNVN cùng nhiều biến cố sự kiện quan trọng khác không thể không nhắc lại.

Nhắc lại để hiểu rõ hơn và để cho thế hệ con cháu hôm nay, ngày mai nghiền ngẫm, dọn mình cho một thời đại mới – đang bắt đầu ló dạng. Tôi không biết mình có mơ mộng hão huyền trong tình thế của nước CHXHCNVN hôm nay không, nhưng trong tâm hồn tôi, từ lâu, tôi muốn nói: Cám ơn Việt Nam Cộng Hòa – Nhà Nước mà ở đó, làm cho tôi “Trích Lục Bộ Khai Sanh” [*].

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG và TỔNG HỢP ở SÀIGÒN-CHỢ LỚN và GIA ĐỊNH ...

Sài Gòn – nơi tôi được sinh ra, lớn lên, chứng kiến một góc nhỏ nhoi những trầm luân của số phận dân tộc Việt Nam.

Dù VNCH tồn tại ngắn ngủi, nhưng tôi không sao quên được cuộc sống chan hòa nhân ái của tuổi hoa niên, dù ngay trong những ngày chiến tranh lửa khói.

Hôm nay, bỗng nhiên trong tôi bật ra lời thành tâm này. Tôi viết với nỗi xúc động rưng rưng trên khóe mắt, khi xem lại hình ảnh những tử sĩ đã ngã xuống tại Hoàng Sa – Trường Sa ngày xưa.

Hoàng Sa Paracel: Bia Chủ Quyền Đảo Song Tử Tây Thuộc Quần Đảo Trường ...

Thay mặt gia đình

Như đã viết rải rác trong nhiều bài trước đây, tôi sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn, trong một gia đình trung lưu với việc làm ăn phát đạt, dần dẫn đến giàu có hơn.

Thật ra, sau này tôi mới biết ba tôi là “Việt Cộng nằm vùng”, do đó có thể nói, gia đình tôi là gia đình “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”. Cách đây vài chục năm, khi nghe câu này, tôi khá giận dữ và cảm thấy bị sỉ nhục. Cảm giác đó dễ hiểu bởi sự thật chưa được phơi bày như sau này.

Tuy nhiên, cũng nhờ đó mà tôi tự tìm tòi. Tôi nghĩ, không có cách gì thuyết phục nhất cho mỗi người, nếu như tự thân mình không chủ động tìm hiểu và can đảm nhìn thẳng vào Sự Thật. Nhìn một cách thẳng thắn, không hề né tránh là điều chưa bao giờ dễ dàng, cho bất kỳ ai, cho bất kỳ điều gì, không riêng lãnh vực chính trị.

Ít nhất, cho đến nay, tôi có thể nói, tôi đã nhìn thẳng vào Sự Thật mà tôi biết, tôi tin một cách có căn cứ.

Từ cảm giác giận dữ, dần dần tôi chuyển qua cảm giác nhục nhã. Nhục nhã vì sự vong ân bội nghĩa của gia đình mình đối với Quốc Gia mà từ đó gia đình tôi làm ăn khá giả một cách chân chính, còn bản thân tôi lớn lên từ đó.

Tôi không có ý định chạy tội cho ba tôi hay những người thân khác. Suy cho cùng, gia đình tôi vừa là đồng phạm, vừa là nạn nhân của cộng sản. Đó là sự thật. Ba tôi chưa bao giờ giết bất kỳ một ai.

Ba tôi đã chết dưới tay người cộng sản. Tôi có căm thù không? Có. Có muốn báo thù không? Đã từng.

Điều mỉa mai, ba tôi chết không phải vì người cộng sản trả oán hay trù dập mà cái chết của ba tôi đến từ sự “ân sủng” dành cho ông – một người chưa bao giờ cầm một đồng tiền bất chính nào, cũng như chưa bao giờ nhận bất kỳ sự “ban ơn” nào từ người cộng sản.

Một cái chết khá đặc biệt trong muôn vàn cái chết, do người cộng sản gây ra. Có thể đó là một niềm an ủi cho tôi. Cũng có thể đó là một ơn huệ của Ơn Trên, đã sắp đặt cho ba tôi một cái chết không hề nhơ nhuốc mà nhuốm màu thê lương trong một con người thơ ngây và chơn chất. Nhưng đó là câu chuyện quá vãng của gần 20 năm về trước, không phải những gì tôi muốn viết hôm nay.

Tôi có ba người chú ruột đều được “phong liệt sĩ”. Cả ba người đều chết thời Pháp. Bà nội tôi được “tặng” “bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Tôi có hai người cậu ruột, trốn ngoại tôi để đi tập kết năm 1954. Hai người cậu ruột khác lại làm trong chế độ VNCH. Hai người cậu này đều có chức phận vào thời bấy giờ. Tôi có một người chị ruột làm trong nhà thương và “thân cộng” lúc đó.

Một người anh ruột là sĩ quan thuộc quân lực VNCH (nhưng thật ra là VC nằm vùng), một người anh ruột khác là hạ sĩ quan cũng thuộc quân lực VNCH (thuần túy là lính, không quan tâm và tham gia vào chính trị, cũng như không phải VC nằm vùng). Tôi có vài người anh, chị ruột nữa, họ là dạng “cách mạng 30/4”.

Một số bà con thân thuộc nội ngoại khác, người thì ở trong “khu”, người lại chống Cộng triệt để. Vài người khác, người thì là quân nhân, người nữa lại là công chức của VNCH v.v…

Hồi trước 1975, đa số gia đình đều đông con. Ít thì ba, bốn; nhiều thì chín, mười. Có gia đình lên đến mười hai – mười bốn người con, đều bình thường trong nếp sống lúc bấy giờ. Một đời sống sung túc, hầu hết gia đình khá giả, đều giống nhau suy nghĩ: nhiều con là phúc lộc Trời cho. Chế độ VNCH cũng không có việc “sinh đẻ có kế hoạch”. Mắn đẻ lại là điều tốt mà phụ nữ thời xưa luôn tự hào. Cuộc sống dung dị như thế. Không chỉ riêng những gia đình giàu có mà có thể nói hầu hết đều tương tự như vậy.

Dông dài như thế, để nói rằng giòng tộc nội ngoại của tôi khá phức tạp. Giá như…

Vâng, chính cái “giá như” nó đã làm hầu hết giòng tộc, anh chị em đại gia đình tôi “tan đàn xẻ nghé” từ dạo ấy. Dạo mà “rầm rập bước chân ta đi rung chuyển đường phố Sài Gòn” với ngày 30/4/1975 (!)

Một giòng tộc như thế mà nói đến “đoàn kết” (như CSVN đang kêu gọi) thì quả là… hài kịch.

Ba tôi và anh chị tôi đã từng đi tù dưới chế độ VNCH. Ba tôi ra tù sớm, chị tôi thì được tha bổng sau vài tuần tạm giam, vì không đủ chứng cớ kết tội. Riêng anh tôi nhận án “20 năm khổ sai” và bị đày đi Côn Đảo cho đến (tất nhiên) 1975.

Điều tôi cám ơn Nhà Nước Việt Nam Cộng Hòa thật giản dị:

– Ngày ba tôi ra tù, ông vẫn mạnh khỏe. Về đến nhà chỉ một tuần sau là ông có thể bắt tay trở lại công việc làm ăn.

– Suốt thời gian ba và anh chị tôi bị điều tra cho đến lúc kết án chính thức, gia đình tôi (những người không liên quan) không hề bị săn đuổi, bắt bớ vô pháp, hành hung, xách nhiễu v.v…

Má tôi đã gánh vác mọi việc làm ăn vào lúc đó. Chúng tôi vẫn đi học bình thường và sống trong môi trường không hề bị kỳ thị của bất kỳ thầy cô hay bạn bè nào. Hàng xóm láng giềng cũng không vì thế mà ghẻ lạnh, hắt hủi hay tiếp tay như kiểu bây giờ mà người ta gọi là “đấu tố thời đại mới”.

– Anh tôi – người ở tù Côn Đảo, ngày trở về đất liền vẫn mạnh khỏe, dù ốm o đen đúa, nhưng không hề mang thương tật gì cả.[**]

Quảng Ngãi: Mất đất, gia đình liệt sĩ kêu cứu suốt 11 năm! - Pháp Luật ...

Cá nhân tôi

Tôi cám ơn Việt Nam Cộng Hòa, không chỉ vì tôi được sống trong một xã hội – có thể chưa phải là tốt đẹp nhất – nhưng tốt đẹp hơn chế độ cộng sản 39 năm qua, mà tôi còn biết ơn vì tôi đã hấp thụ được nền giáo dục, có thể nói, cho đến nay 39 năm, dù VNCH không còn, dù CHXHCNVN cố gắng “cải cách” giáo dục nhiều lần rất tốn kém nhưng không hề mang lại chút tiến bộ nào khả dĩ.

Và nói cho công bằng, giáo dục hiện nay tính về chất lượng, vẫn không thể nào đạt được như trước 1975 của miền Nam.

Nền giáo dục trước 1975 mà tôi hấp thụ, dù ngắn ngủi, nó thật sự là nền giáo dục nhân bản và khai phóng. Trung thực và hiền lương. Ganh đua nhưng không đố kỵ. Biết phẫn nộ nhưng không tàn ác. Đặc biệt nền giáo dục đó giúp cho hầu hết học trò luôn biết dừng lại đúng lúc trước cái sai với nỗi xấu hổ và tính liêm sỉ – tựa như “hàng rào nhân cách” được kiểm soát kịp thời.

Những hình ảnh hiếm về nữ sinh Sài Gòn – Gia Long xưa đẹp mê hoặc lòng ...

Chính xác hơn, tôi cám ơn Thầy – Cô của tôi, có lẽ bây giờ hầu hết đã qua đời, nếu còn sống chắc cũng đã nghễnh ngãng hay quá già yếu.

Tôi biết ơn các Giáo sư [***]. Tôi muốn nói rõ: Tôi không hề có danh vị, bằng cấp gì cả.

teolangthang.blogspot.com: Nhìn lại nền Giáo dục VNCH - Huỳnh Minh Tú

Tôi biết ơn Thầy – Cô của tôi, vì nhiều độc giả thương mến (có lẽ qua những bài viết), họ ngỡ tôi là: giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, nhà văn, nhà giáo v.v… nhưng tôi thưa thật, tôi chỉ là một người “tay ngang” trong viết lách. Qua từng bài viết, tôi rút ra kinh nghiệm. Đặc biệt, tôi luôn cố gắng viết cẩn trọng và khách quan nhất để thuyết phục độc giả. Tính cách này, tôi đã học từ Thầy – Cô tôi, ngày xưa. Dù môn Văn Chương ngày ấy, tôi luôn nhận điểm thấp tệ.

Tôi biết ơn Thầy – Cô của tôi cũng vì, sau 1975, cả nước rơi vào đói kém, làm cho “tính người” trong xã hội cũng mai một dần và tôi không là ngoại lệ. bao-cap-so-luong-thuctem - Guide Voyage AsieThảm trạng xã hội lúc đó biến tôi trở nên chai lỳ, mất cảm xúc và lạnh lùng. Đặc biệt “chữ nghĩa” hầu như trôi sạch hết cùng những “tem phiếu”, “xếp sổ mua gạo”, chầu chực “mua nhu yếu phẩm” v.v… ngày xưa.

Về sau này, khi cuộc sống đỡ hơn, tôi có thời gian hơn cùng với thời cuộc đảo điên, dần dần, tôi cảm nhận tôi “trầm mình” trong nỗi đau của bản thân, gia đình, từ đó tôi mới thấu hiểu những điều ngày xưa tôi học và tôi giật mình vì sự lãng quên đáng trách đó.

Tôi tìm lại được “tính Người” mà bấy lâu nay tôi đánh mất.

Một lần nữa, tôi cám ơn Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa và các Thầy – Cô của ngày xưa

( Lưu mạnh Hiệp )

Chú thích:
 
[*] Vì những năm loạn lạc, đặc biệt tết Mậu Thân, nhiều nơi cháy nhà và thất lạc giấy tờ. Sau khi tạm bình yên, má tôi đã ra Tòa Hành Chánh Quận 3 thời bấy giờ để làm “Trích Lục Bộ Khai Sanh” cho tôi.
 
[**] Tôi nhớ khoảng đến cả tháng sau (tức đâu khoảng cuối tháng 5/1975) anh tôi mới về tới SG, nhưng chưa được về nhà ngay mà ở đâu đó (lâu quá rồi tôi không còn nhớ địa điểm, hình như lúc đó ở tại một trường học nào đó thì phải?) đợi thẩm vấn điều tra từ “chính quyền cách mạng lâm thời” lúc bấy giờ, đâu hết cả hai tuần nữa mới được về nhà. Tôi nhớ lúc đó, tôi hỏi anh tôi rất ngây ngô: Ủa! Sao hơn cả tháng trời anh mới về nhà? Anh tôi cười và im lặng không nói. Mãi về sau, tôi mới lò mò tìm hiểu, thì ra, dù là “phe mình”, nhưng bản chất người cộng sản là “bản chất Tào Tháo”. Họ có tin ai bao giờ đâu! Họ giữ lại tất cả tù chính trị để điều tra xem thử có phải là gián điệp (các loại) được cài lại hay không (để tính chuyện lâu dài).
 
[***] Trước 1975, từ đệ thất (nghĩa là lớp 6 bây giờ), Thầy – Cô được gọi là Giáo Sư – một cách gọi trân trọng, không phải học hàm như bây giờ nhiều người biết.

DÂN CHỦ HÓA LÀ ĐIỀU BẮT BUỘC

Báo Quyền Được Biết

Song Chi.

Song Chi Facebook

Trước năm 1975, có rất nhiều trí thức, văn nghệ sĩ, thầy tu, linh mục… sống trong chế độ VNCH nhưng thân Cộng, mê chủ nghĩa Mác, mê lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản, lầm tưởng rằng chế độ do đảng cộng sản lãnh đạo là tốt đẹp hơn.

‘Ký giả ăn mày’(*) — Tiếng Việt

Sự chiến thắng của đảng cộng sản, của một chế độ man rợ hơn, vào ngày 30/4/1975 là nỗi bất hạnh lớn nhất của đất nước, dân tộc VN. Nhưng nghĩ cho cùng trong cái rủi có cái may. Đó là: chỉ những dân tộc nào từng trải qua chế độ độc tài do đảng cộng sản lãnh đạo, khi có cơ hội thay đổi mô hình thể chế chính trị theo con đường dân chủ hóa mới không còn bị lừa bịp nữa và dứt khoát với con đường cũ, như các nước XHCN Đông Âu cũ chẳng hạn.

Riêng nước Nga vì còn vướng Putin, vốn sinh ra và lớn lên trong thời Liên Xô, là một tay tình báo KGB cũ, nhưng lại mê quyền lực nên mới mơ màng muốn quay trở lại thời kỳ của nước Đại Nga hay Liên Xô cũ. Cũng có thể có những người Nga không hài lòng vì cảm thấy nước Nga bây giờ không phải là một cường quốc có tiếng nói quyết định trên trường quốc tế như Liên Xô trước kia, nhưng nếu tất cả những quốc gia từng là đế quốc, từng có nhiều thuộc địa trên thế giới hay từng hùng mạnh trong quá khứ, đánh đâu thắng đó mà vẫn giữ những suy nghĩ tiếc nuối, hung hăng như vậy thì thế giới này làm sao yên ổn?

Trở lại Việt Nam, giờ đây sau gần nửa thế kỷ, chúng ta có thể nói VNCH không phải là quá khứ mà là tương lai. Chúng ta tiếp tục nói về VNCH nhưng không hẳn là về chế độ VNCH đã không còn tồn tại, mà là mô hình thể chế cộng hòa tam quyền phân lập, pháp trị, tự do dân chủ mà đất nước VN sẽ phải hướng tới trong tương lai gần, bởi vì cho đến nay đó vẫn là mô hình tốt nhất của nhân loại. Mô hình thể chế độc tài độc đảng tước đoạt mọi quyền tự do của con người, chà đạp lên nhân phẩm, kìm hãm sức sáng tạo của con người trong khi biến đất nước, nhân dân thành tài sản riêng, quyền sở hữu riêng của một đảng, thậm chí của một nhóm người, để cho cái đảng đó, cái nhóm người đó ngồi trên đầu trên cổ nhân dân, tha hồ vơ vét tham nhũng, tha hồ muốn làm gì thì làm…mô hình thể chế đó dứt khoát không thể tiếp tục tồn tại.

Dân chủ hóa là con đường bắt buộc phải đến. Dù mau hay chậm. Và đến chừng đó, những di sản của chế độ VNCH như kinh nghiệm kiến quốc, Hiến pháp 1967, một nền giáo dục với triết lý Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng, một môi trường tự do cho sáng tác, sáng tạo… sẽ là những kinh nghiệm quý để chúng ta không đến nỗi phải bắt đầu từ số 0.

* Tựa bài do QĐB đặt.

Vận động ngoại giao cuối cùng trước ngày 30-04-1975

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả:  Trần Gia Phụng

Bản đồ từ Google (Internet)

Trong cuộc chiến 1954-1975 giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Bắc Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa ở Nam Việt Nam, khi tình hình càng ngày càng căng thẳng và bất lợi cho Nam Việt Nam, thì Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, một nước cộng sản, mở cuộc vận động ngoại giao nhằm tránh sự sụp đổ của Nam Việt Nam.  Đây là một diễn biến khá bất thường, nên để tìm hiểu việc nầy, xin quay trở lại chủ trương ngoại giao của CHND Trung Hoa từ năm 1954 về vấn đề Đông Dương.

Nguyên sau hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia hai Việt Nam ở vĩ tuyến 17, nhà cầm quyền CHND Trung Hoa chẳng những bang giao với nhà cầm quyền cộng sản ở Bắc Việt Nam, mà còn đề nghị bang giao với chế độ tương lai thân tây phương ở Nam Việt Nam.  Tuy nhiên Nam Việt Nam đã từ chối. (Stanley Karnov, Vietnam A History, New York: The Viking Press, 1983, tr. 204.  Nguyễn Văn Duệ, Nhớ lại những ngày ở cạnh tổng thống Ngô Đình Diệm, California, 2003, tt. 33-34.)

Sự kiện nầy cho thấy tuy Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHND Trung Hoa) theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng chủ trương mở rộng ngoại giao với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt học thuyết hay chủ nghĩa chính trị, dù cộng sản hay tư bản, miễn sao có lợi cho CHND Trung Hoa.

Ngày 8-3-1965, ở Nam Việt Nam, thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ vào Đà Nẵng để giúp quân đội Nam Việt Nam chống quân đội cộng sản từ bắc vào nam.

Hai tháng sau (5-1965) CHND Trung Hoa bắt đầu gởi quân qua giúp Bắc Việt Nam, nói rằng để giúp Bắc Việt Nam xây dựng hạ tầng cơ sở, đường sá, thiết lộ, cầu cống. Số quân nầy tăng dần lên tối đa trên 310,000 quân.  Quân đội CHND Trung Hoa chẳng những chỉ giúp Bắc Việt Nam, mà còn để bảo vệ mặt nam CHND Trung Hoa.  Lực lượng CHND Trung Hoa đóng rãi rác khắp các tỉnh thành ở phía bắc sông Hồng.

Nguồn ảnh: The Blade, Toledo, Ohio: Thứ Ba 16-5-1989. (Trích lại từ DCVOnline.net, ngày 13-8-2012.)

Trong nội bộ khối cộng sản quốc tế, sau khi Stalin chết năm 1953, hai bên CHND Trung Hoa và Liên Xô bắt đầu tranh chấp nhau, rồi sau đó vào tháng 3-1969, quân đội hai nước thực sự đánh nhau tại vùng sông Ussuri (Ô Tô Lý), một phụ lưu của sông Amur, ở biên giới phía đông bắc Trung Hoa, nên hai bên càng thêm đố kỵ nhau.

Vị trí đóng quân của quân đội CHND Trung Hoa ở Bắc Việt Nam
Chú thích: PLA = People Liberation
Army = Nhân Dân Giải Phóng Quân.
Nguồn: Xiaobing Li, A History of the Modern Chinese Army,
The University Press of Kentucky, 2007, tr.2

Trong khi tranh chấp với CHND Trung Hoa, Liên Xô tăng viện mạnh mẽ cho Bắc Việt Nam vừa để Bắc Việt Nam cầm chân Hoa Kỳ tại Á Châu, vừa để lôi cuốn Bắc Việt Nam về phía Liên Xô trong khối cộng sản quốc tế.

Điều nầy khiến cho CHND Trung Hoa quan ngại rằng một khi Bắc Việt Nam chiến thắng Nam Việt Nam, làm chủ toàn bộ Việt Nam, thì đảng cộng sản Việt Nam sẽ rảnh tay phía nam, có thể liên kết với Liên Xô chống CHND Trung Hoa.

Trong trường hợp Bắc Việt Nam thành công ở Việt Nam, CHND Trung Hoa có thể sẽ lâm vào thế hai đầu gặp địch: Liên Xô ở phía bắc, cộng sản Việt Nam ở phía nam.  Vì vậy CHND Trung Hoa ra sức vận động nhằm giữ cho Việt Nam Cộng Hòa ở Nam Việt Nam khỏi sụp đổ, để cầm chân Bắc Việt Nam.  Đồng thời CHND Trung Hoa bắt đầu thay đổi thái độ đối với Hoa Kỳ. (George J. Veith, sđd. tt. 555-556.)

Về phía Hoa Kỳ, vào cuối thập niên 60, học thuyết địa lý chính trị (geopolitics) mới thịnh hành, cho rằng Bắc Việt Nam không nguy hiểm đối với Hoa Kỳ bằng Liên Xô và CHND Trung Hoa, là hai nước cộng sản thủ đắc võ khí nguyên tử, có thể bất ngờ tấn công hủy diệt Hoa Kỳ.  Học thuyết nầy khuyến khích Hoa Kỳ hòa hoãn với Liên Xô và CHND Trung Hoa, đồng thời rút quân ra khỏi Nam Việt Nam để tránh khiêu khích CHND Trung Hoa.

Thêm vào đó, lúc bấy giờ lại diễn ra những cuộc biểu tình phản chiến, chống chiến tranh Việt Nam rầm rộ khắp thế giới và tại nội địa Hoa Kỳ.  Sự kiện nầy ảnh hưởng đến cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào đầu tháng 11-1968.  Trong cuộc bầu cử năm nầy, dân chúng Hoa Kỳ chọn Richard Nixon làm tổng thống.  Khi tranh cử, Nixon hứa hẹn với dân chúng sẽ đem lại “hòa bình trong danh dự” cho Hoa Kỳ.

Như thế, trước đây tuy đối địch nhau, nhưng nay Hoa Kỳ và CHND Trung Hoa đều có nhu cầu xích lại gần nhau.  Dấu hiệu thân thiện công khai đầu tiên của cả hai bên là: CHND Trung Hoa mời đoàn tuyển thủ bóng bàn Hoa Kỳ sang thi đấu giao hữu tại Bắc Kinh ngày 14-4-1971; và cũng trong ngày nầy, Hoa Kỳ quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận CHND Trung Hoa, mà Hoa Kỳ đã thiết lập từ năm 1949.

Cũng trong năm 1971, trong một cuộc tiếp tân tại tòa đại sứ Miến Điện ở Paris, đại diện của thủ tướng CHND Trung Hoa gặp gỡ và đàm đạo với tiến sĩ Nguyễn Xuân Phong, một thành viên trong phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa đang tham dự hội nghị Paris.  Ông Phong đã từng cầm đầu phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc họp tại Paris ngày 18-1-1969 giữa bốn bên Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, để bàn về thủ tục hội nghị Paris sắp bắt đầu.

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Phong không công bố nội dung cuộc gặp gỡ với đại diện của CHND Trung Hoa.  Về sau, ông cho biết sơ lược rằng đại diện của CHND Trung Hoa tỏ ý tìm cách liên lạc với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, nhưng tổng thống Thiệu không trả lời. (George J. Veith: “China and the Fall of South Vietnam: the Last Great Secret of the Vietnam War”. Internet: 9-2-2022: History and Public Policy Program.)

Vào đầu năm 1972, khi gặp Alexander Haig (lúc đó là Deputy National Security Advisor của tổng thống Hoa Kỳ) đến Bắc Kinh để bàn thảo chương trình thăm viếng CHND Trung Hoa của tổng thống Richard Nixon, thủ tướng CHND Trung Hoa là Châu Ân Lai đã dặn dò Haig rằng: “Do not lose in Vietnam.” (“Đừng để thua ở Việt Nam.”)  Theo Haig, CHND Trung Hoa quan ngại rằng Hoa Kỳ rút lui khỏi Đông Nam Á là điều nguy hiểm cho CHND Trung Hoa. (George J. Veith, sđd. tr. 557.)

Ngoài ra, cựu phó tổng thống Việt Nam Cộng Hòa là Nguyễn Cao Kỳ (nhiệm kỳ 1967-1971), còn cho biết rằng CHND Trung Hoa đã cử đại diện tiếp xúc với ông tại Sài Gòn vào cuối năm 1972, đề nghị ông Kỳ đảo chánh lật đổ tổng thống Thiệu, rồi tuyên bố Nam Viêt Nam trung lập, không theo Hoa Kỳ, cũng không theo Liên Xô, thì CHND Trung Hoa sẽ ủng hộ ông Kỳ giữ cho Việt Nam Cộng Hòa khỏi sụp đổ. Tuy nhiên ông Kỳ đã từ chối đề nghị nầy. (George J. Veith, sđd. tr. 557.).

Sau trận Hoàng Sa ngày 19-1-1974, khi trả tù binh Việt Nam Cộng Hòa về nước, CHND Trung Hoa đề nghị với Việt Nam Cộng Hòa mở một cuộc họp giữa hai bên.  Việt Nam Cộng Hòa không trả lời.  Vào mùa hè năm đó (1974), CHND Trung Hoa nhờ người nói chuyện lần nữa với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng người nầy lại trình bày với đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn là Graham Martin, và đại sứ Martin cũng im lặng luôn. (George J. Veith, sđd. tr. 557.)

Tất cả những sự kiện trên đây cho thấy ngay từ trước hiệp định Paris (27-01-1973) và trước khi CHND Trung Hoa rút hết quân ra khỏi Bắc Việt Nam (1973), CHND Trung Hoa muốn duy trì nguyên trạng miền Nam Việt Nam, không để Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ.

Xin đừng quên lúc đó người Việt gốc Hoa chẳng những tập trung khá đông ở Chợ Lớn (Sài Gòn), Biên Hòa, mà còn sống rãi rác tại các thành phố dọc duyên hải Nam Việt Nam và các thành phố miền tây nam Việt Nam, qua tận Cambodia, hoạt động thương mại rất nhộn nhịp.

Bên cạnh những vận động của CHND Trung Hoa, một người Pháp cũng góp sức nhằm duy trì Nam Việt Nam tránh sụp đổ năm 1975 là Paul Vanuxem.

Paul Vanuxem đã từng tham chiến ở Việt Nam trước năm 1954 khi còn cấp bậc đại tá.  Về Pháp, ông thăng dần lên cấp trung tướng, rồi xuất ngũ vào giữa thập niên 60 và hoạt động trong ngành báo chí.  Tháng 4-1975, Paul Vanuxem đến Nam Việt Nam với tư cách là đặc phái viên của tuần báo Carrefour.

Sáng ngày 30-4-1975, Paul Vanuxem đến dinh Độc Lập, gặp cựu đại tướng Dương Văn Minh, vừa nhận chức tổng thống chiều ngày 28-4-1975.  Hai bên có thể đã từng quen biết nhau từ thời còn là sĩ quan trong quân đội Liên Hiệp Pháp trước 1954.  Trong lúc Paul Vanuxem và Dương Văn Minh đàm luận, có ba người chứng kiến là Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Võ Diệp và Lý Quý Chung.

Nguyễn Hữu Hạnh nguyên là chuẩn tướng quân lực Việt Nam Cộng Hòa, giải ngũ tháng 4-1974, được tân tổng thống Dương Văn Minh giao chức phó tổng tham mưu trưởng quân đội. Sau ngày 30-4-1975, người ta mới biết Nguyễn Hữu Hạnh là kẻ “nằm vùng”, bí mật hợp tác với cộng sản khi còn tại ngũ.  Trong một cuộc phỏng vấn của đài truyền hình PBS (Hoa Kỳ) năm 1981, Nguyễn Hữu Hạnh tiết lộ chi tiết cuộc gặp gỡ trên đây giữa hai cựu tướng Pháp-Việt. (George J. Veith, Drawn Swords in a Distant Land, New York: Encounter Books, 2021, tr. 559.)  (PBS = Public Broadcasting Service – Series Vietnam: A Television History.)

Nguyễn Võ Diệp đã từng giữ chức tổng trưởng bộ thương mại và kinh tế chính phủ Nguyễn Bá Cẩn ngày 14-4-1975, tức chính phủ cuối cùng thời tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Lý Quý Chung là dân biểu nền Đệ Nhị Cộng Hòa, được cựu đại tướng Dương Văn Minh mời làm tổng trưởng thông tin.  Lý Quý Chung cho biết:  Trong cuộc nói chuyện tại dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, khi Paul Vanuxem đưa ra đề nghị với cưu đại tướng Dương Văn Minh hãy kêu gọi CHND Trung Hoa giúp đỡ để cứu vãn tình hình, thì cựu đại tướng Minh cười lớn và trả lời Vanuxem rằng: “…Tôi xin cảm ơn các ý định tốt đẹp của ông, nhưng trong đời tôi, tôi đã phục vụ như kẻ tay sai của Pháp, rồi kẻ tay sai của Mỹ.  Đủ rồi, tôi không muốn làm tay sai lần nữa...” (“… I thank you for your good intentions, but during my life I have already served as a lackey for the French and then as a lackey for the Americans.  That is enough, I do not want to be a lackey again…” (George J. Veith, sđd. tr. 560.)  [Lý Quý Chung sau năm 1975 là nhà báo Chánh Trinh, chuyên viết về thể thao.]

Chính phủ Pháp không lên tiếng về việc nầy vì nguyên tắc ngoại giao quốc tế là không can thiệp vào nội tình nước khác.  Trong khi đó, theo gia đình Paul Vanuxem, không thể có chuyện chính phủ Pháp giao cho ông việc liên lạc với cựu đại tướng Dương Văn Minh, vì Paul Vanuxem từng bị chính phủ Pháp khiển trách do ông đã liên hệ đến biến động ngày 21-4-1961 về vấn đề Algérie. Hơn nữa, vào năm 1975, chính phủ Pháp có sẵn tòa đại sứ tại Sài Gòn, thì chính phủ Pháp đâu cần đến Vanuxem. (George J. Veith, “China and the Fall of South Vietnam: the Last Great Secret of the Vietnam War”. Internet: 9-2-2022.)

Ngang đây, một câu hỏi được đặt ra là nếu Paul Vanuxem tự mình đứng ra vận động, thì ông vận động để làm gì? Vận động cho ai?  Thêm nữa, trước khi đề nghị với cựu đại tướng Minh kêu gọi CHND Trung Hoa giúp đỡ, phải chăng Paul Vanuxem đã liên lac trước với các giới chức CHND Trung Hoa nên ông mới biết dự tính của nước nầy, hay Vanuxem chỉ tiên đoán ý định của CHND Trung Hoa?  Vẫn chưa có câu trả lời.

Lúc đó, Pháp còn nhiều quyền lợi ở Nam Việt Nam, nhứt là việc giao thương và các đồn điền Pháp ở Nam Việt Nam. Việt Nam còn được Pháp sắp vào nhóm “francophonie” (cộng đồng Pháp ngữ).

Vào năm 1975, sau khi quân đội Bắc Việt Nam chiếm quân khu I ngày 29-3-1975, chiếm quân khu II ngày 18-4-1975, và tiến xuống phía nam, đe dọa Sài Gòn, thì đại sứ Pháp là Jean Marie Mérillon cố gắng thuyết phục đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin áp lực tổng thống Thiệu từ chức. (Chính Đạo, 55 ngày đêm: Cuộc sụp đổ của VNCH, Houston, Nxb. Văn Hóa, 1999, tt. 309-312.)

Lúc đó tại Sài Gòn lan truyền những tin đồn rằng cộng sản sẵn sàng thương thuyết nếu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra đi, nhưng tin tình báo của Hoa Kỳ từ Tây Ninh ngày 8-4 cho biết Bắc Việt Nam quyết đánh sập Việt Nam Cộng Hòa dầu tổng thống Thiệu từ chức. (Thomas L. Ahern Jr., CIA and the Generals,1998, Center for the Study of Intelligence, tr. 175.)

Cuối cùng, do tình hình biến chuyển mau lẹ, Graham Martin gởi điện văn tối mật ngày 17-4 về Washington DC, xin chính phủ Hoa Kỳ cho ông thuyết phục tổng thống Thiệu từ chức.  Ông được ngoại trưởng lúc đó là Henry Kissinger đồng ý. (Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter, Hồ sơ mật dinh Độc Lập, Los Angeles: C&K Promotions, INC. 1987, tt. 554-556.)

Tối thứ Bảy 19-4-1975, Graham Martin cử Charles Timmes, một nhân viên CIA (Central Intelligence Agency) trong phái bộ DAO (Decentralized Autonomous Organization) đến thuyết phục tổng thống Thiệu từ chức.

Hôm sau, 20-4-1975, đích thân đại sứ Martin đến gặp tổng thống Thiệu.  Đại sứ Hoa Kỳ nói với tổng thống Thiệu rằng ông không yêu cầu tổng thống từ chức, nhưng chỉ còn một ít thời gian để tránh việc cộng sản tấn công Sài Gòn, nếu tổng thống không từ chức thì các tướng lãnh sẽ có thể yêu cầu điều đó. (Thomas L. Ahern, Jr., sđd. tr. 189.)

Cuối cùng, tối 21-4-1975, tại phủ tổng thống (dinh Độc Lập), tổng thống Nguyễn Văn Thiệu loan báo quyết định từ chức và theo hiến định, giao quyền cho phó tổng thống Trần Văn Hương.

Trước khi nhận chức, giáo sư Trần Văn Hương mời cựu đại tướng Dương Văn Minh cộng tác và làm thủ tướng chính phủ, nhưng cựu đại tướng Minh từ chối và nói rằng: “Thầy [chỉ ông Hương] đã hy sinh đến mức này, thôi xin thầy ráng hy sinh một bước nữa mà thầy trao trọn quyền cho tôi.” (Nguyên văn lời trong diễn văn nhận chức của tổng thống Trần Văn Hương.) (Internet).

Giáo sư Trần Văn Hương cho rằng làm như thế là trái với hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa, nên ông không đồng ý đề nghị của cựu đại tướng Minh.

Sau khi ông Hương nhận chức ngày 21-4-1975, CHND Trung Hoa cử đại diện đến gặp và đề nghị tiếp viện cho Việt Nam Cộng Hòa, nhưng ông Hương từ chối.  Ông nói với giới thân cận: “Cho Trung Cộng vào, chiến cuộc tiếp diễn trên lãnh thổ ta, ngay cả nếu chiến thắng thì khi nào mới đuổi Trung Cộng ra được…” (Đoàn Kim Định ghi lại trong “Lời tâm sự thay cho lời tựa” thi tập Bó Hoa Cuối Mùa của Trần Văn Hương, tái bản tại Hoa Kỳ, 2023, trang X.)

Tân tổng thống Hương mời gặp một người bạn cũ để tham khảo ý kiến là tiến sĩ Nguyễn Xuân Phong.  (Đã viết về hoạt động của ông Phong ở trên.).  Khi gặp nhau, tiến sĩ Phong nói với tổng thống Hương rằng nếu ông Hương còn cầm quyền, thì chắc chắn Bắc Việt Nam sẽ không thương thuyết với Nam Việt Nam.  (George J. Veith, “China and the Fall of South Vietnam…” Internet: 9-2-2022.)

Sau cuộc gặp gỡ nầy, tổng thống Hương quyết định từ chức chiều 28-4-1975 và giao cho quốc hội tùy nghi quyết định người thay thế.  Tuy không được hiến pháp quy định, nhưng do thời cuộc đột biến cấp bách, cuối cùng quốc hội suy cử cựu đại tướng Dương Văn Minh lên thay.

Lúc đó, Pháp đề nghị thêm rằng cựu đại tướng Minh nên liên lạc với Cộng Hòa Lâm Thời Miền Nam Việt Nam để thành lập một chính phủ liên hiệp do cựu đại tướng Minh đứng đầu để thương thuyết với Bắc Việt Nam, nhưng cựu đại tướng Minh không theo kế sách nầy. (George J. Veith, bài đã dẫn: “China and the Fall of South Vietnam…”),

Vì quá cấp bách, không vận động đủ nhân sự, nên khi nhận chức chiều 28-4-1975, chính phủ của tân tổng thống Dương Văn Minh chỉ gồm bốn thành viên là Dương Văn Minh (tổng thống), Nguyễn Văn Huyền (phó tổng thống), Vũ Văn Mẫu (thủ tướng), Lý Quý Chung (tổng trưởng thông tin).

Hôm sau bổ sung thêm các ông Hồ Văn Minh (phó thủ tướng), Bùi Tường Huân (tổng trưởng quốc phòng), Nguyễn Võ Diệu (tổng trưởng kinh tế), trung tướng Vĩnh Lộc (tổng tham mưu trưởng quân đội), Nguyễn Hữu Hạnh (phó tổng tham mưu trưởng quân đội), Triệu Quốc Mạnh (giám đốc nha Cảnh sát Đô thành).  (Lý Quý Chung, Hồi ký không tên, Nxb. Trẻ, 2004, ch. 12.)

Điều đáng chú ý là tại Hà Nội, cuộc họp của bộ chính trị đảng Lao Động từ 30-9 đến 8-10-1974 đưa ra kế hoạch quân sự tại miền Nam năm 1975 là tiếp tục lấn đất giành dân, chỉ sử dụng 10% võ khí dự trữ; đến cuối năm 1976, khi diễn ra cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ thì sẽ tổng tấn công để chiếm toàn bộ Nam Việt Nam.  (Viện Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác Lênin, Lịch sử đảng Cộng Sản Việt Nam, tập II (1954-1975), Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 1995, tr. 648.)  Như thế có nghĩa là Bắc Việt Nam chưa dự tính đánh chiếm Nam Việt Nam trong năm 1975, nhưng do hoàn cảnh thuận lợi, Bắc Việt Nam mới thay đổi kế hoạch.

Nguyên vào lúc đó, tại Hoa Kỳ, quốc hội thông qua “tu chính án Jackson – Vanik”, sửa đổi điều 301 của “Đạo luật Thương mại năm 1974”, đưa ra những điều kiện khó khăn, nhằm hạn chế việc giao thương với các nước cộng sản, mà chính yếu là Liên Xô và CHND Trung Hoa, và được tổng thống Gerald Ford ban hành ngày 3-1-1975. (Wikipedia)

Để trả đũa Hoa Kỳ, Liên Xô gởi đại tướng Viktor Kulikov, thứ trưởng bộ Quốc phòng, đến Hà Nội ngày 22-12-1974, nói là để chào mừng lễ kỷ niệm 30 năm thành lập quân đội Bắc Việt Nam (1944-1974), nhưng thực tế là để nghiên cứu tình hình tại chỗ, tìm cách chống lại Hoa Kỳ.

Khi Viktor Kulikov về nước, Liên Xô tăng viện gấp bốn lần cho Bắc Việt Nam. (Henry Kissinger, Years of Renewal, New York: Simon & Schuster, 1999, tt. 27-28, 481.  Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa, 10 ngày cuối cùng, Fountain Valley, CA: Nxb. Nam Việt, 2006, tt. 29-30.)   Nhờ số viện trợ lớn lao của Liên Xô, Bắc Việt Nam tung quân tấn công mạnh mẽ ở Nam Việt Nam từ đầu năm 1975.

Trong khi đó, quốc hội Hoa Kỳ cắt gỉảm tất cả những chi phí quân sự ở Đông Dương từ tháng 01-1973. (Richard Nixon, No more Vietnam, London: W.H.Allen, 1986, tt. 169-170.)  Viện trợ Hoa Kỳ giúp Việt Nam Cộng Hòa xuống đến độ chỉ đủ cung ứng một nửa nhu cầu của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. (Cao Văn Viên, Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa (Nguyên bản: The final Collapse, Nguyễn Kỳ Phong dịch, Vietnambibliography, 2003, tr. 83-85.)  Quân đội Việt Nam Cộng Hòa thiếu phương tiện chiến đấu, nhứt là xăng dầu, đạn dược…, nên  cuối cùng đành phải buông súng.

Tóm lại, trước ngày 30-4-1975, hai nước CHND Trung Hoa và Pháp vì những quyền lợi riêng tư, đã mở những cuộc vận động ngoại giao quốc tế để tránh sự sụp đổ của chính thể Việt Nam Cộng Hòa ở Nam Việt Nam. Tuy nhiên, những cố gắng của hai nước nầy đã quá trễ, nên cuối cùng đều thất bại.

Hy vọng trong tương lai sẽ còn có nhiều tài liệu khác dần dần được bạch hóa, để có thể làm sáng tỏ hơn nữa lịch sử hiện đại của đất nước chúng ta.

TRẦN GIA PHỤNG

(Đã trình bày tại Viện Việt Học, California, 26-3-2023)

(California, 26-3-2023)