TỪ ‘ĐỖ HỮU CA’ NHÌN RA THẾ GIỚI-Bài của Nguyen Ngoc Chu

Nguyễn Hoành

Bài của Nguyen Ngoc Chu

TỪ ‘ĐỖ HỮU CA’ NHÌN RA THẾ GIỚI

Các vụ chống tham nhũng quyết liệt đến tận các chức vụ thuộc hàng cao nhất trong chính quyền – đang được nhân dân nhiệt liệt hoan nghênh, ủng hộ. Nhưng khi các vụ tham nhũng ở các quan chức bậc cao toang ra một phần thì cũng đồng thời bung ra những ung nhọt ghê sợ, làm cho nhiều người phải rùng mình.

Nói đến ông Đỗ Hữu ca không phải nói đến cá nhân mà nói đến một đội ngũ. Nói về đội ngũ những người như ông Đỗ Hữu Ca là để nhìn ra nguyên nhân.

  1. VÔ TIỀN

Việc các quan chức nhận hối lộ với số tiền lớn hơn 1 triệu đô la không còn là chuyện mới, cũng không phải là cá biệt.

Như ông cựu Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son nhận 3 triệu đô la trong vụ AVG (https://tuoitre.vn/3-trieu-usd-xep-day-2-vali-1-balo-duoc…).

Hay như Dương Chí Dũng khai chuyển 1 triệu đô la cho ông Thứ trưởng thượng tướng Phạm Quý Ngọ từ bà

Trương Mỹ Lan (Vạn Thịnh Phát) trong dự án di dời và chuyển đổi công năng cảng Sài Gòn (https://tuoitre.vn/nhung-loi-khai-chan-dong-cua-duong-chi…). Còn bao nhiêu thí dụ nữa, đã bị phát hiện. Và hằng ha sa số các vụ chưa bị phát hiện.

Vụ ông thiếu tướng Đỗ Hữu Ca sau khi về hưu, nhận 35 tỷ đồng để chạy án nhưng lại không đưa cho ai, đã lột tả thêm sự đa mặt của tham nhũng thời nay

Đã từng là Giám đốc lực lượng Công an của một thành phố lớn như Hải Phòng, trong tư cách người bảo vệ pháp luật, nhưng Ông Đỗ Hữu Ca lại nhận một khoản tiền lớn mà không thực hiện nghĩa vụ, chẳng những đã vi phạm pháp luật, lại không còn một mảy may tín nghĩa. Tư cách Ông Đỗ Hữu Ca thua xa thảo khấu giang hồ, chứ đừng nói đến vị trí đứng đầu lực lượng Công an của một thành phố lớn.

Ở mặt khác, về hưu rồi mà ông Đổ Hữu Ca còn có khả năng chiếm đoạt 35 tỷ đồng trong một phi vụ, vậy thì khi đương chức Giám đốc Công an thành phố Hải Phòng ông Đổ Hữu Ca đã tham nhũng ở mức độ nào? Thật khó mà dự báo được con số.

Thêm một bình diện khác, là ông Đỗ Hữu Ca có 4 bằng đại học. Nó phản ánh căn bệnh sính bằng cấp của tầng lớp cán bộ có chức có quyền hiện nay. Rất nhiều người như ông Đỗ Hữu Ca – “sặc sỡ” về bằng cấp và chức danh. Nó trưng bày sự giả tạo của việc học. Nó làm cho người ta không thể tin cậy vào bằng cấp. Nó minh chứng cho sự cấp phát bằng bừa bãi. Nó khẳng định sự xuống cấp đến tai hoạ của giáo dục.

Trường hợp ông Đỗ Hữu Ca không giống như các trường hợp tham nhũng khác. Ông Đỗ Hữu Ca là một thân hình (figure) trọng lượng, góp phần làm cho tham nhũng của quan chức thời nay trở nên vô tiền, không một chế độ nào trong quá khứ bì được.

  1. TỪ ‘ĐỖ HỮU CA’ NHÌN RA TOÀN QUÔC

Từ trường hợp ông Đỗ Hữu Ca nhìn ra toàn quốc có thể hình dung được bức tranh tham nhũng toàn cảnh: Khắp nơi lô nhô đầy rẫy những Đỗ Hữu Ca.

Tại sao những người như ông Đỗ Hữu Ca lại leo lên được đến những chức vụ cao quan trọng trong bộ máy nhà nước? Không chỉ một Đỗ Hữu ca mà có hàng ngàn người như Đỗ Hữu Ca. Ngay cả nhân sự cấp cao cho Đại hội 13, dù đã tuyên bố làm rất kỹ, không để lọt nhiều cán bộ biến chất như Đại hội 12, rốt cục, chỉ một thời gian sau Đại hội 13, đã lộ ra không ít cán bộ biến chất. Như vậy là quy trình lựa chọn cán bộ có lỗi, chứ không phải “lọt lưới”. Từ đó rút ra kết luận thứ nhất là phải THAY ĐỔI THỂ THỨC LỰA CHỌN CÁN BỘ. Điều này được nhiều người nói đến nhiều lần, nhưng vẫn chưa thay đổi. Chừng nào còn chưa thay đổi thể thức lựa chọn cán bộ, thì chừng đó cán bộ biến chất còn tiếp tục leo lên cao trên thang bậc công quyền.

Tại sao ông Đỗ Hữu Ca lại biến chất dần sau nhiều năm làm việc trong bộ máy công quyền, càng lên cao càng biến chất? Và có hàng ngàn người nối theo nhau biến chất như ông Đỗ Hữu Ca? Ấy là do bản chất của cơ chế vận hành hệ thống đẻ ra. Từ đó đi đến kết luận thứ hai là THAY ĐỔI CƠ CHẾ VẬN HÀNH HỆ THỐNG. Điều này được nhắc đến thường xuyên. Nhưng đến nay, vẫn chưa thay đổi. Chừng nào còn chưa thay đổi cơ chế vận hành hệ thống, thì chừng đó, cán bộ càng lên chức vụ cao càng có nguy cơ bị biến chất nhiều hơn.

Câu hỏi tiếp theo là, đã hàng chục năm, tai sao đến bây giờ mới phát hiện ra ông Đỗ Hữu Ca tham nhũng, biến chất? Như vậy là bộ máy thanh tra, kiểm sát làm việc không hiệu quả. Ông Đỗ Hữu Ca cũng không phải “lọt lưới”, hay là trường hợp cá biết. Cho nên, kết luận thứ ba là phải THAY ĐỔI CƠ CHẾ KIỂM SÁT, THANH TRA.

Câu hỏi tiếp nữa là, đã nhiều người bị kỷ luật như ông Đỗ Hữu Ca, tại sao người sau vẫn không sợ, vẫn tiếp tục phạm tội? Mong muốn “kỷ luật một người làm gương cho nhiều người” không trở thành hiện thực. Như vậy là hệ thống pháp luật chưa hiệu quả. Dẫn đến kết luận thứ tư là phải ĐỔI MỚI NỀN TƯ PHÁP.

Tại sao ông Đỗ Hữu Ca và những kẻ tham nhũng khác (chẳng hạn như trong vụ Việt Á) dễ dàng có được những khoản tiền khổng lồ từ hối lộ? Bởi vì những kẻ hối lộ có được lợi nhuận do nâng giá trong những hợp đồng mua bán với đại diện sở hữu nhà nước. Chính nguồn tài chính thuộc sở hữu nhà nước, là những mỏ tiền khổng lồ, để cho những kẻ cơ hội lợi dụng lỗ hở mà chiếm đoạt. Dẫn đến kết luận thứ năm là TỐI THIỂU HOÁ SỞ HỮU NHÀ NƯỚC VÀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ SỞ HỮU NHÀ NƯỚC.

Cho nên, từ ‘Đỗ Hữu Ca’ nhin ra toàn quốc, chỉ sơ bội thôi, cũng đã thấy 5 bài toán cần giải:

a/. THAY ĐỔI THỂ THỨC LỰA CHỌN CÁN BỘ.

b/. THAY ĐỔI CƠ CHẾ VẬN HÀNH HỆ THỐNG.

c/. THAY ĐỔI CƠ CHẾ KIỂM SAT, THANH TRA.

d/. ĐỔI MỚI NỀN TƯ PHÁP.

e/. TỐI THIỂU HOÁ SỞ HỮU NHÀ NƯỚC VÀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ SỞ HỮU NHÀ NƯỚC.

Tiếp tục đặt câu hỏi, sẽ nhô ra các bài toán cần giải quyết. Nhưng đâu là lời giải tổng thể cuối cùng?

  1. TỪ ‘ĐỖ HỮU CA’ NHÌN RA THẾ GIỚI

Từ trường hợp ông Đỗ Hữu Ca nhìn ra thế giới thì thấy trên toàn thế giới gần hai trăm quốc gia mà chỉ Việt Nam và Trung Quốc có cùng chung những chứng bệnh tham nhũng. Cho dù Trung Quốc chống tham nhũng còn quyết liệt hơn Việt Nam, nhưng cũng như Việt Nam, tham nhũng ở Trung Quốc mỗi ngày thêm sinh sôi nảy nở. Sự bành trướng tham nhũng ở Trung Quốc và ở Việt Nam có cùng nguyên nhân từ ‘cấu trúc nhà nước’.

Từ ‘Đỗ Hữu Ca’ nhìn ra toàn quốc thì thấy nhiều bài toán phải giải, mà 5 bài toán nêu trên là những vấn đề cụ thể. Nhưng từ ‘Đỗ Hữu Ca’ mà nhìn ra thế giới thì thấy ngay lời giải tổng thể cuối cùng cho bài toán chống tham nhũng. Cho nên, nhìn ra thế giới mới dễ thấy nguyên nhân gốc rễ của bệnh tham nhũng đang bùng phát trong nước. Đó là ‘cấu trúc nhà nước’.

Chỉ có giải bài toán ‘cấu trúc nhà nước’ mới giúp cho công cuộc chống tham nhũng đi đến ‘thắng lợi hoàn toàn’.

Thẩm phán gửi tin nhắn, ‘Tôi mới bắn vợ’ cho nhân viên tòa án

Báo Nguoi-viet

August 11, 2023

ANAHEIM, California (NV) – “Tôi đã không kềm chế được. Tôi mới bắn vợ tôi. Tôi sẽ không đi làm ngày mai. Tôi sẽ bị bắt. Tôi xin lỗi,” thư ký và thừa phát lại của Tòa Thượng Thẩm Orange County nhận được tin nhắn của Thẩm Phán Jeffrey Ferguson đêm định mệnh Thứ Năm, 3 Tháng Tám, vài phút sau khi ông tòa rút khẩu súng lục Glock .40 khỏi bao và bắn bà Sheryl một phát ngay ngực, trước mặt cậu con trai của hai ông bà.

Lè nhè vì say, người nồng nặc mùi cồn, ông tòa vừa văng tục vừa có vẻ như đang thú tội với cảnh sát khi họ tới nhà, đáp ứng cuộc gọi 911, hồ sơ truy tố nộp tại tòa ghi nhận.

Nghi can Jeffrey Ferguson. (Hình: Anaheim Police Department)

“Trời ơi… Con trai tôi… Con trai tôi… Chúa ơi. Tôi xin lỗi… Tôi không ngờ mình làm chuyện này.”

Sáng Thứ Sáu, 11 Tháng Tám, ông Ferguson bị cáo tội sát nhân bậc một trong vụ giết bà Sheryl Ferguson. Luật sư bào chữa lập luận: “Đây là một bi kịch cho toàn thể gia đình Ferguson. Đó là một tai nạn, không hơn không kém.”

Nhưng trong một kiến nghị bên công tố nộp lên tòa để yêu cầu có những ràng buộc nghiêm ngặt hơn cho bị can vì ông Ferguson đã đóng tiền thế chân $1 triệu, đã được thả khỏi tù, chờ ngày xét xử, thì có những chi tiết khác đáng quan tâm.

Phía công tố cho biết, vụ nổ súng bắt nguồn từ trận cãi cọ giữa ông tòa và người vợ, khởi đi từ bữa ăn tối tại một nhà hàng gần nhà cùng với cậu con trai thành niên. Trong bữa ăn, ông tòa “chĩa ngón tay vào vợ trong cung cách như đang cầm một khẩu súng,” công tố viên viết.

Vụ cãi vã tiếp tục trong lúc cả ba về đến ngôi nhà hai tầng ở Anaheim Hills.

Bà Sheryl nói ra vẻ thách thức rằng sao ông chồng bà không gí súng thật vào bà, và thế là ông Jeffrey Ferguson rút súng từ bao rồi bắn thẳng vào ngực nạn nhân ở khoảng cách rất gần, công tố viên viết tiếp.

Con trai ông bà liền gọi 911, nói với tổng đài rằng cha của cậu uống rượu quá mức, rằng cha mẹ cậu cãi nhau từ hồi ăn tối đến giờ, và cha cậu đã bắn mẹ cậu.

Cảnh sát và con trai ông bà Ferguson, một hướng đạo sinh, đã ra sức hồi sinh cho bà Sheryl.

Sau cuộc gọi 911 của con trai, ông Jeffrey Ferguson cũng gọi 911 và nói rằng vợ ông bị bắn. Khi được tổng đài hỏi lại là có phải ông đã bắn vợ mình, thì ông tòa trả lời chung chung là không muốn nói về chuyện ấy ngay lúc này, chỉ cho biết vợ ông cần cấp cứu.

Rất đông cảnh sát có võ trang đã đến nhà để bắt ông tòa vào tù. Trực thăng bay trên trời, và cảnh sát yêu cầu ông tòa 72 tuổi quỳ gối xuống, hàng xóm thuật lại, nhưng ông tòa một mực khăng khăng, “Không, tôi sẽ không quỳ gối đâu, nhưng tôi không có võ trang.”

Bà Sheryl, 65 tuổi, đã chết tại chỗ.

Ngoài tin nhắn cho thư ký tòa và thừa phát lại, cùng những lời nói cảnh sát thu được qua máy quay hình đeo trên người khi thi hành công vụ, ông tòa Ferguson cũng nói những lời nhận tội sau khi ông được đưa tới đồn cảnh sát ở Anaheim.

Một vỏ đạn .40 nằm trên “sàn nhà ngay trước ghế bành nơi bị cáo có mặt khi bắn chết vợ,” công tố viên viết. Viên đạn trúng ngực bà, trổ ra sau lưng và “văng vào bức tường phía sau bà.”

Con trai ông bà nói với điều tra viên là chưa bao giờ thấy bạo lực trong gia đình tuy hai vợ chồng có cãi nhau nhiều lần, và cha của cậu “thường hay nổi nóng hơn khi ông uống rượu bia.”

Nhiều năm trước, theo lời kể cậu con trai, ông tòa từng kê súng vào đầu, và vợ ông thuyết phục ông đừng tự tử.

Một lần khác, cũng theo cậu con trai kể lại, ông tòa đang ở một mình trong phòng tắm thì súng nổ một phát, có lẽ chỉ là bị cướp cò.

Phe công tố đã yêu cầu quan tòa cấm bị can uống rượu bia, tàng trữ súng đạn, và không được đi ra phi trường.

Ngoài ra, mức $1 triệu thế chân, theo phía công tố, là “không đủ để bảo vệ an ninh công cộng và bảo đảm bị can sẽ có mặt tại phiên xử.”

Ông Ferguson không có hồ sơ tiền án và đã sống ở Orange County hàng chục năm trường.

Nếu bị kết án sát nhân, bị can sẽ ở tù chung thân, ít nhất tới năm 82 tuổi mới có thể xét thả ra có điều kiện, còn tệ hơn thì sẽ không được xét cho ra cho đến trước khi lìa đời, công tố viên viết. (TTHN)

Về huyền thoại Hàn Quốc

Báo Tiếng Dân

Thái Hạo

11-8-2023

Cho đến nay, rất nhiều người vẫn thường hay nói và tin một cách đinh ninh rằng, Hàn Quốc “hóa rồng” là nhờ “bê nguyên bộ sách giáo khoa của Nhật Bản về, dịch ra và học!”. Liệu có đúng và đơn giản như vậy?

Sau cuộc chiến tranh Nam – Bắc Triều, Hàn Quốc rơi vào tình trạng đói khổ và tụt hậu bậc nhất thế giới, thu nhập bình quân đầu người chưa tới 100 USD/năm. Một đất nước nhếch nhác, tối tăm, vật vạ, tuồng như không có ngày mai.

Trong hoàn cảnh đó, tướng Park Chung Hee đã đảo chính và lên làm tổng thống, thực hiện những cải cách dữ dội về kinh tế, quyết tâm đưa đất nước thoát khỏi vũng lầy. Tuyên bố trước 20.000 sinh viên đại học Seoul, ông nói: “Toàn dân Hàn Quốc phải thắt lưng buộc bụng trong vòng 5 năm, phải cắn răng làm việc nếu muốn được sống còn. Trong vòng 10 năm, chúng ta tạo được một nền kinh tế đứng đầu ở Đông Á, và sau 20 năm, chúng ta sẽ trở thành cường quốc kinh tế trên thế giới. Chúng ta sẽ bắt thế giới phải ngưỡng mộ chúng ta. Hôm nay, có thể một số đồng bào bất đồng ý kiến với tôi. Nhưng xin những đồng bào ấy hiểu cho rằng tổ quốc quan trọng hơn quyền lợi cá nhân. Tôi không muốn mỵ dân. Tôi sẽ cương quyết ban hành một chính sách khắc khổ. Tôi sẽ bắn bất cứ kẻ nào ăn cắp của công dù chỉ một đồng”.

Nói là làm, những quyết sách lớn được ban hành. Ông biến cả nước thành công trường và nông trường, làm việc làm việc và làm việc, không có chỗ cho hưởng thụ, thuốc lá ngoại và café bị cấm, mỗi tuần nhịn ăn một bữa, tivi chỉ phát những chương trình dạy làm giàu, v.v.. Với sự quyết đoán bằng một tầm nhìn và tài năng vượt trội, sau gần 20 năm, Park Chung Hee cùng đồng bào mình đã lột xác Hàn Quốc, biến quốc gia nghèo đói này thành một con hổ ở châu Á, khiến cả thế giới phải ngỡ ngàng và kinh ngạc.

Nhưng đó chỉ là một nửa sự thật, về Park Chung Hee và “Kỳ tích sông Hàn”.

“Bê sách giáo khoa của Nhật bản về” đó chỉ là một thứ thần thoại, do những người Việt Nam quá tin vào sức mạnh ảo ảnh của giáo dục trường ốc tạo ra. Chính độc tài “kiểu Park Chung Hee” đã góp phần đắc lực khiến Hàn Quốc phát triển. Tuy nhiên, đó là thứ độc tài dân tộc, lấy lợi ích quốc gia làm mục đích tối thượng, chứ không phải độc tài phe nhóm. Nó không chỉ hà khắc với dân chúng mà còn sắt máu với chính quan chức trong bộ máy, “bắn bất cứ kẻ nào ăn cắp của công dù chỉ một đồng”.

Điều này đã mang đến sự phát triển thần kỳ về mặt kinh tế, tuy nhiên chính “cha đẻ” của nó đã bị căm ghét và bị giết chết bằng một phát súng vào năm 1979. Không phải vì “vô ơn”, người ta giết Park Chung Hee còn vì khao khát được làm người.

Dưới thời cai trị của ông, người dân phải làm việc như những lao động khổ sai với 12 – 14 giờ mỗi ngày nhưng phải sống kham khổ với đồng lương mạt rệp, mọi quyền con người đều bị rẻ rúng, bất cứ ai khác ý kiến với chính phủ đều bị đàn áp không thương tiếc. Cảnh sát mang thước ra đường, đo tóc của người dân và cắt phăng, phụ nữ bị đối xử thô bạo nếu dám cả gan mặc váy…

Sự bóp nghẹt và đàn áp của Park Chung Hee còn đẩy lên đến mức có tính chất phát-xít khi năm 1972 ông ban bố thiết quân luật và đưa ra hiến pháp mới chấm dứt bầu cử trực tiếp và chính thức tự suy tôn mình làm Tổng thống trọn đời. Các quyền cơ bản như tự do hội họp, tự do lập hội, tự do bày tỏ ý kiến… đều bị cấm đoán và chà đạp tàn bạo.

Dưới thời Park Chung Hee quyền con người bị bóp nghẹt, tính nhân văn bị hủy hoại. Ám sát ông và sau đó là những cuộc đảo chính, biểu tình và bất ổn với máu và nước mắt khoảng 10 năm đầy sóng gió đã dần đưa Hàn Quốc thoát khỏi độc tài và trở thành một nước dân chủ. Tất nhiên, mọi việc không dễ dàng khi các đời tổng thống Hàn Quốc kể từ sau Park Chung Hee, người thì đi tù, người tự sát, kẻ bị tử hình, dường như hiếm có ai “hạ cánh an toàn”. Rốt cuộc là vì nỗi sợ độc tài và ám ảnh về một thời kỳ phát triển rực rỡ nhưng vô nhân đạo của “nền kinh tế chỉ huy” do Park Chung Hee xây dựng.

Park Chung Hee với 18 năm tại vị, là một nhân vật lịch sử với công trạng to lớn, là tổng tổng thống được biết ơn nhiều nhất nhưng cũng bị ghê sợ và căm ghét nhiều nhất. Huyền thoại về sách giáo khoa nên được cất đi và nhìn vào lịch sử Hàn Quốc với những gì nó đã trải qua, để học lấy điều cần học và tránh những gì nên tránh, phải tránh.

Về thời đại Park Chung Hee, GS.TS Hồ Sĩ Quý, nguyên Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học Xã hội, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, viết trên Tạp chí “Nghiên cứu Đông Bắc Á” số 10 (128)/2011: “Cái giá phải trả cho phát triển kinh tế không thể là sự vô nhân đạo ở quy mô lớn, không thể là sự hy sinh cả sinh mạng và phẩm giá của một vài thế hệ, và cũng không thể dễ dàng xóa sạch di chứng tệ hại ở các thế hệ kế tiếp”.

Trở về với hiện tại. Báo Thanh Niên ngày 8.8.2023 đăng một bài báo gây đau buồn có tên “Chỉ 26,2% người lao động có điều kiện ăn thịt, cá hàng ngày”: “Theo khảo sát của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, chỉ hơn 24% người lao động có tiền lương và thu nhập vừa đủ đáp ứng chi tiêu cơ bản; có đến 75,5% người lao động thu nhập không đáp ứng nhu cầu, có người thu nhập chỉ đáp ứng 45% nhu cầu”. Tôi không muốn bình luận gì thêm nữa về thông tin này, vì tự nó đã là một lời bình luận thống thiết. Nói nữa sẽ chỉ thành vô duyên và thêm xấu hổ.

Love Story, Bản Tình Ca Bất Hủ và Chuyện Tình Muôn Thuở

Vương Trùng Dương

(Đặc San Lâm Viên)

“Un amour éternel en un moment conçu”

(Félix Arvers)

“Tình trong giây phút mà thành thiên thu”

(Khái Hưng)

Trong bài thơ Ngập Ngừng của nhà thơ Hồ Dzếnh, in trong thi phẩm Quê Ngoại năm 1943, đến nay đã tròn 80 năm. Trong đó có mấy câu, nhiều người đã nhớ:

“Tình mất vui khi đã vẹn câu thề

Ðời chỉ đẹp những khi còn dang dở

… Cho nghìn sau… lơ lửng với nghìn xưa”.

Tập thơ nầy đã tái bản ở Sài Gòn năm 1969, và bài thơ được nhạc sĩ Trần Thiện Thanh phổ nhạc thành ca khúc Chuyện Hẹn Hò, nhạc sĩ Anh Bằng phổ thành bài hát Anh Cứ Hẹn… Ngoài ra, vài bài thơ của ông đã phổ nhạc: Hoa Mẫu Đơn (Anh Bằng) “Ước chi sống lại thời xưa ấy. Để ta trẻ mãi, để hẹn nhau”, Chiều (Dương Thiệu Tước) “Nhớ nhà châm điếu thuốc. Khói huyền bay lên cây”.

Trong ca khúc Khi Đã Yêu của nhạc sĩ Phượng Linh (Nguyễn Văn Đông) có câu: “Bao ước mơ còn trong đợi chờ. Cho nghìn sau nối lại nghìn xưa”.

Từ xưa đến nay và Đông, Tây có nhiều tác phẩm đề cập đến tình yêu ngang trái (diabolik lovers), đó cũng là lẽ thường tình trong cuộc sống. Trong các bộ tiểu thuyết kiếm hiệp của nhà văn Kim Dung trong chốn võ lâm, thu hút độc giả không chỉ chuyện đấu chưởng, kiếm pháp, bí kiếp độc tôn thiên hạ… mà những mối tình ngang trái. Không có mối tình nào ngang trái trong đời sống đầy oan nghiệt như trong truyện kiếm hiệp. Nào là cuộc tình xảy ta giữa hai phái hắc/bạch, thù hận không đợi trời chung giữa các môn phái, hận thù chủng tộc, hiềm khích bởi là con, đệ tử của kẻ thù, cuộc tình tay ba ôm hận trong lòng… (Hai thập niên trước, tôi có viết về Những Mối Tình Ngang Tái Trong Tác Phẩm Kim Dung). Chính những cuộc tình ngang trái oái ăm nầy đã lôi cuốn độc giả từ chương nầy đến chương khác.

Ngày 16/12/1970, phim Love Story (Chuyện Tình) với nhạc phẩm chủ đề của Francis Lai được trình chiếu đầu tiên ở Hoa Kỳ thu hút khán giả trong 4 tuần liên tục. Nhiều nhà phê bình cho rằng Love Story là bản nhạc xuất sắc, xứng đáng được liệt vào hàng kiệt tác. Theo bình chọn của American Film Institute, nhạc phẩm Love Story của Francis Lai, nằm trong 100 bản nhạc phim hay nhất mọi thời đại. Nhạc phim Love Story đứng hạng thứ 9, chỉ thua các nhạc phim kinh điển như Casablanca, Cuốn Theo Chiều Gió, West Side Story, Bác Sĩ Zhivago… nhưng lại vượt qua mặt My Fair Lady.

Phim Love Story lần đầu tiên được chiếu tại rạp Rex ở Sài Gòn vào tháng 3/1971, khán giả đông nghẹt suốt 6 tuần lễ, hầu hết ở giới trẻ… tuy thời kỳ chinh chiến nhưng trào lưu lãng mạn từ phương Tây dã ảnh hưởng đến miền Nam VN vào thập niên 1960s.

Tác phẩm Love Story, tiểu thuyết lãng mạn của nhà văn người Mỹ Erich Segal, nhà xuất bản Harper & Row, ra mắt đúng ngày Lễ Tình Yêu, 14 tháng 2 năm 1970. Tác phẩm gồm 22 chương, vừa ấn hành đã thuộc loại best seller, bán chạy nhất trong năm 1970 tại Mỹ và được dịch ra hơn 25 ngôn ngữ (Chuyện Tình qua bản dịch của Phan Lệ Thanh).

Thông thường thì đạo diễn dựa vào tác phẩm ăn khách để dựng thành phim nhưng kịch bản của Erich Segal viết cho hãng phim Paramount Pictures về cuộc tình lãng mạn và bi thương giữa đôi tình nhân trẻ Oliver (tài tử Ryan O’Neal) và Jenny (minh tinh Ali MacGraw) thời còn sinh viên. Sau đó, hãng Paramount Pictures và đạo diễn Arthur Hiller đã yêu cầu Erich Segal viết thành tiểu thuyết để giới thiệu với độc giả, vì vậy tác phẩm xuất hiện cùng năm 1970, trước khi phim ra mắt.

Nhạc sĩ người Pháp Francis Lai (1932-2010) theo học tại đại học Harvard, Yale ở Hoa Kỳ, giáo sư văn học ở đại học Princeton, Dartmouth… đại học Oxford ở Anh, đại học Munich ở Đức. Nhưng tên tuổi ông lừng lẫy với nhạc sĩ sáng tác, khoảng 600 nhạc phẩm và hơn 100 ca khúc cho phim.

Phim Love Story được đề cử 7 giải Oscar năm 1970 nhưng chỉ đoạt được 1 giải cho nhạc phim. Lúc đó, nhạc phim không có lời, khi phim được trình chiếu, lời của Carl Sigman (dựa theo tình tiết trong phim để viết thành ca khúc) với tiếng hát của danh ca Andy Williams trở thành tình khúc bất hủ.

Tại giải Trái Cầu Vàng 1971, phim Love Story được đề cử 7 giải (phim hay nhất, đạo diễn, kịch bản, nam nữ diễn viên vai chính, nam diễn viên vai phụ, nhạc phim) và đoạt 5 giải (phim hay nhất, đạo diễn, kịch bản, nữ diễn viên vai chính, và nhạc phim).

Trong khi đó tác phẩm Love Story, khoảng 130 trang, được bán chạy nhất ở Hoa Kỳ và qua các bản dịch cũng thuộc loại best seller nhưng không có nhà phê bình văn học nào ca ngợi đến nó.

Điều trùng hợp giữa nhạc sĩ Francis Lai và nhà văn Erich Segal đều mất cùng năm 2010.

Theo lời kể của nhạc sĩ Francis Lai, nguồn cảm hứng của ông tìm được khúc nhạc Love Story vào lúc nửa khuya. Ca khúc Love Story với giai điệu và tiết tấu nhẹ nhàng, khoan thai, lâm ly, réo rắt… hình dung được nỗi buồn man mác.

Nhạc phẩm Love Story của Farncis Lai được Phạm Duy chuyển sang ca khúc Chuyện Tình, ấn hành trước năm 1975, in cả 3 tiếng Việt, Pháp và Anh.

Biết dùng lời rất khó, để mà nói rõ

Ôi biết nói gì, cuộc tình lớn quá

Chuyện tình đáng nhớ, tuy cũ như là biển già trắng xoá

Cuộc tình quý giá như những ngọc ngà nàng dành cho ta

Ôi biết nói gì ?

Với một lời quý mến, mà nàng nói đến

Khi bước chân vào cuộc đời vắng ngắt

Cuộc tình thứ nhất, muôn kiếp muôn đời là tình vĩnh viễn

Vì nàng đã hiến đôi cánh tay mềm nghìn đời quyến luyến

ĐK:

Lòng ta đầy kín, lòng ta đầy kín

Là muôn nghìn chuyện yêu đương, câu hát thần tiên

Và những mộng huyền mênh mang, đầy kín hồn hoang

Man mác tình duyên

Thôi hết cuộc đời im tiếng

Ðời lẻ loi đã tan, ta đã được nàng

Làm gì còn tiếng than, nắm đôi tay thiên thần

Ði suốt mùa Xuân…

Sẽ còn được biết mấy? Một đời luyến ái

Yêu sẽ lâu dài hoặc là quá ngắn? Thật là khó đoán

Nhưng vẫn cho rằng cuộc đời có hết, loài người có chết

Sao sáng trên trời ngày nào sẽ tắt

Em vẫn gần ta!

Với cuộc tình bi thương muôn thuở, tác phẩm Love Story của Erich Segal cũng na ná như những tác phẩm cổ điển với cuộc tình thơ mộng của giới trẻ nhưng gặp ngang trái bởi gia đình còn quan niệm lạc hậu “môn đăng hộ đối” (Oliver, con nhà quý tộc, Jenny giai cấp bình dân, gốc Italy, thân phụ là tù binh Italy, được đưa sang Mỹ và sau đó xin lưu trú) nhưng với sức mạnh của tình yêu đã vượt qua vòng cương tỏa đó. Cuối cùng khi Jenny sang Paris, tiếp tục theo học cao học về âm nhạc nhưng không may bị bệnh hoại huyết (leukemia) không có tiền chữa trị. Oliver ở Hoa Kỳ linh cảm điều gì không may xảy ra cho người yêu nên sang Paris, nhưng Jenny từ chối việc nhờ vả bên gia đình chồng và chỉ cần được sống những ngày cuối đời bên nhau.

Khi ông Barett, cha của Ollier biết được hoàn cảnh bệnh tình của Jenny và con trai xin tiền chữa trị cho vợ, ông mang theo số tiền lớn cho con, nhưng đã muộn.

Tại bệnh viện, Oliver gặp cha, cho biết “Jenny chết rồi!”. Ông Barett tỏ lời ân hận, nhưng đã muộn!. Bóng tối phủ kín!. (Nếu) Jenny được cứu sống thì không có 3 tác phẩm (truyện, phim và ca khúc) để lại cho đời. Trước đó chuyện tình Lan và Điệp trong tác phẩm Tắt Lửa Lòng của nhà văn Nguyễn Công Hoan (1933), với ca khúc của các nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng. Và, tuồng cải lương làm đẫm lệ. Hay chuyện tình Lương Sơn Bá, Chúc Anh Đài vào thế kỷ thứ tư đời Đông Tấn với tuồng cải lương buồn da diết.

Thấm thoát đã gần sáu thập niên, lúc đó ở phố cổ Hội An, người bạn thân với tôi đang có mối tình rất đẹp với cô nữ sinh học dưới hai lớp, khi anh khoác áo chiến y thì gia đình ngăn cấm không muốn con gái sớm chít khăn tang, cuộc tình tan vỡ! Anh tình nguyện phục vụ trong đơn vị tác chiến ở núi rừng Tây nguyên, nơi đó sống chết với đồng đội cho bớt cô đơn “Nhưng không chết người trai khói lửa. Mà chết người em nhỏ hậu phương” (Chuyện Hoa Sim – Anh Bằng). Thời gian trôi qua với bao thăng trầm nhưng “cái thuở ban đầu” đó vẫn “Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên” (Thế Lữ). “Aimer c’est mourir un peu!.. C’est la vie”.

Nay quý cụ, tuổi già thường mất ngủ, trằn trọc làm gì cho khổ tâm, lấy iPhone, vào YouTube, hoài cố nhân với Love Story “Cố nhân xa rồi, có ai về lối xưa” (Hoài Cảm – Cung Tiến) và cho giấc mơ “lơ lửng với nghìn xưa”.

Little Saigon Aug 2023

Vương Trùng Dương

(Đặc San Lâm Viên)

Nghe nhạc phẩm Love Story với tiếng Violin và Piano:

Thánh Clara (St. Clare of Assisi, 1194-1253)

Chúc bình an, hôm nay 11/8, Giáo Hội mừng kính Lễ Thánh Clara, đồng trinh. Ngài là bổn mạng của Giáo Xứ mình đó. Xin bạn một lời cầu nguyện cho giáo dân của mình và cho công việc mục vụ trong giáo xứ. Mừng Bổn Mạng đến tất cả mọi người nhé.

Cha Vương

Thứ 6: 11/08/2023

Thánh Clara (St. Clare of Assisi, 1194-1253) là thiếu nữ xinh đẹp của một gia đình giầu có ở Assisi. Khi mười tám tuổi, ngài được khích động bởi một bài giảng của Thánh Phanxicô Assisi, và cương quyết noi gương các tu sĩ Phanxicô, thề sống khó nghèo, tận hiến cho Thiên Chúa. Gia đình ngài hoảng sợ, dùng sức lực ép buộc ngài phải trở về nhà; nhưng một đêm kia, trong một hành động vừa có tính cách khôn khéo và ý nghĩa, ngài lẻn ra khỏi nhà qua “cánh cửa người chết” (cánh cửa nhỏ để khiêng người chết ra ngoài), và đến với các tu sĩ Phanxicô.

Trong một nhà nguyện nhỏ bé ở ngoại ô, Thánh Phanxicô đã cắt mái tóc của Clara và trao cho thánh nữ chiếc áo nâu thô kệch làm chiếc áo dòng. Sau đó, thánh nữ sống với các nữ tu dòng Bênêđíctô cho đến khi có thêm sự gia nhập của các phụ nữ khác, trong đó có cả người mẹ goá bụa của ngài và các phụ nữ thuộc gia đình quý tộc ở Florence.

Cộng đoàn nhỏ bé ấy dần dà được biết đến dưới tên Các Chị Em Hèn Mọn (các tu sĩ Phanxicô là Anh Em Hèn Mọn) hoặc dòng Clara Khó Nghèo. Khi tu hội được thành lập, Thánh Phanxicô đề nghị Clara làm bề trên, nhưng ngài từ chối cho đến khi được hai mươi mốt tuổi. Các nữ tu trong dòng tận tụy trong việc cầu nguyện, chăm sóc bệnh nhân và thi hành việc bác ái cho người nghèo và người bị ruồng bỏ.

Họ sống theo một quy luật khắc khổ hơn bất cứ tu hội phụ nữ nào khác trong thời ấy, và tuyệt đối khó nghèo, cả về phương diện cá nhân cũng như cộng đoàn. Họ đi chân đất, không có giường, mà nằm trên các khúc gỗ được đan lại và chăn mền là vỏ cây gai dệt thành. Gió mưa tha hồ lọt qua các vết nứt ở mái nhà cũng như vách gỗ. Họ ăn rất ít và không bao giờ ăn thịt. Thực phẩm của họ là tất cả những gì xin được. Bất kể sự khắc khổ của đời sống, những người theo Thánh Clara lại là những thiếu nữ xinh đẹp nhất Assisi và lúc nào họ cũng có niềm vui vì được sống gần Thiên Chúa.

Thật vậy, Thiên Chúa đã gìn giữ họ khỏi sự nguy hiểm khi bọn lính hung dữ đến tấn công Assisi và dự định bố ráp tu viện này trước hết. Lúc ấy, dù đang đau nặng, Thánh Clara đã gắng gượng quỳ xuống trước cổng, tay nâng Mình Thánh trong mặt nhật và ngài cầu xin, “Lạy Chúa, xin hãy gìn giữ các nữ tu mà con không thể nào bảo vệ nổi.” Sau đó, dường như có tiếng trả lời: “Ta sẽ luôn gìn giữ họ” và đồng thời ngay lúc ấy, quân lính cảm thấy vô cùng sợ hãi và họ chạy tán loạn.

Thánh Clara làm bề trên tu viện trong bốn mươi năm mà hai mươi chín năm ấy ngài trong tình trạng đau yếu. Nhưng lúc nào ngài cũng vui vẻ vì cho rằng đó là sự phục vụ Thiên Chúa. Nhiều người cho rằng các nữ tu đau yếu là vì quá khắc khổ. Ngài nói, “Họ nói chúng tôi quá nghèo khổ, nhưng một tâm hồn có được Thiên Chúa vĩnh cửu thì có thực sự nghèo không?”

Thánh Clara từ trần ngày 11 tháng Tám 1253. Chỉ hai năm sau, ngài đã được Ðức Giáo Hoàng Alexander IV tôn phong lên bậc hiển thánh.

Sau đây là những câu nói của Thánh Clara, mời Bạn đọc và suy niệm để noi gương yêu mến Chúa của ngài:

❦ Các Chị Em Hèn Mọn sống tuyệt đối khó nghèo… Nhiều người cho rằng các nữ tu đau yếu là vì quá khắc khổ. Ngài nói, “Họ nói chúng tôi quá nghèo khổ, nhưng một tâm hồn có được Thiên Chúa vĩnh cửu thì có thực sự nghèo hay không?”

❦  Yêu mến Chúa, phụng sự Chúa; mọi thứ đều ở trong đó.

❦  Yêu mến Người thì sẽ say mê, chiêm ngưỡng thì được thêm sức mạnh. Lòng nhân hậu của Người làm ta no thoả, sự dịu dàng của Người làm ta ngây ngất.

❦  Nỗi ưu phiền là thuốc độc đối với lòng sùng kính. Khi gặp thử thách, chúng ta cũng nên hân hoan hơn vì chúng ta đang được GẦN CHÚA hơn.

Thánh nữ Clara, cầu cho chúng con.

From: Đỗ Dzũng

Con Yêu Chúa. Ca sĩ: Khắc Thiệu

MỘT SỰ TỒN TẠI PHỒN SINH – Lm. Minh Anh, Tgp, Huế

Lm. Minh Anh, Tgp, Huế

“Ai muốn theo Tôi, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Tôi!”.

Trong cuốn “Going For The Gold”, “Đi Tìm Vàng”, Joe Wall viết, “Người ta có thể tự hỏi, “Làm sao một người có thể trả hết án phạt đời đời vì ‘vô ngần’ tội lỗi của ‘vô số’ người chỉ trong một vài giờ trên thập giá?”. Đức Kitô đã có thể làm điều đó vì hai lý do: Ngài quý giá ‘vô hạn’ nên có thể thế chỗ cho ‘vô tỷ’ người. Thứ hai, Ngài công chính ‘vô cùng’, nên có thể chuốc lấy án tử cho ‘vô vàn’ tội nhân!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Ngài công chính ‘vô cùng’, nên có thể chuốc lấy án tử cho ‘vô vàn’ tội nhân!”. Ý tưởng của Joe Wall được gặp lại trong Tin Mừng hôm nay khi Chúa Giêsu nói đến thập giá mà mỗi người sẽ vác lấy nếu họ muốn theo Ngài. Bởi lẽ, với Chúa Giêsu, chính tình yêu tự hiến qua thập giá mới đem lại ‘một sự tồn tại phồn sinh!’.

“Ai muốn theo Tôi, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Tôi!”. Nghịch lý này hàm chứa một quy tắc vàng: chỉ tình yêu mới mang lại ý nghĩa và hạnh phúc cho cuộc sống! Ai dành tài năng, sức lực và thời gian của mình chỉ để vun quén, bảo vệ và hoàn thiện bản thân… trên thực tế, người ấy đang phá sản, đánh mất chính mình; vì điều này chỉ dẫn đến một ‘sự tồn tại buồn bã, cằn cỗi’. Ngược lại, khi sống cho Chúa, đặt cuộc sống mình trên tình yêu Ngài, như Chúa Giêsu, chúng ta có thể vui hưởng một niềm vui đích thực, cuộc sống sẽ không cằn cỗi nhưng là ‘một sự tồn tại phồn sinh’.

Khá trùng hợp, bài đọc Đệ Nhị Luật hôm nay nói đến việc sống cho Chúa và tình yêu Ngài bằng việc tuân giữ lề luật. Qua Môsê, Chúa nói với dân, “Hãy tuân giữ các thánh chỉ và mệnh lệnh của Người mà hôm nay tôi truyền cho anh em; như vậy anh em và con cháu anh em sau này sẽ được hạnh phúc, và sẽ được sống lâu trên đất mà Chúa, Thiên Chúa của anh em, vĩnh viễn ban cho anh em!”.

Cám dỗ thường xuyên của bạn và tôi là tìm kiếm một Đức Giêsu không có thập giá; chúng ta muốn một ‘thứ Kitô giáo’ dễ dãi, hợp thời. Thế nhưng, cần nhận ra rằng, Tin Mừng Đức Kitô là một Tin Mừng khổ chế; không để rao giảng nhưng để sống, thực thi và làm chứng; nghĩa là chết đi chính mình để chân lý và tình yêu toả rạng. Không như thế, Tin Mừng sẽ mơ hồ, thập giá thành đồ trang sức, và giáo lý là một mớ lý thuyết!

Anh Chị em,

“Hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Tôi!”. Chúa Kitô từ bỏ chính mình mỗi ngày trên bàn thờ. Mỗi lần cử hành Thánh Thể, chúng ta sống lại mầu nhiệm Thập Giá; không chỉ tưởng nhớ, chúng ta tưởng niệm Hy Tế cứu chuộc; “Ngài quý giá ‘vô hạn’ nên có thể thế chỗ cho ‘vô tỷ’ người”. Trên bàn thờ, Đức Kitô hoàn toàn đánh mất chính mình để được Chúa Cha đón nhận cách mới mẻ và nhờ đó, nuôi dưỡng và tìm kiếm mỗi người chúng ta, những kẻ đã lạc mất. Thịt Máu Ngài được ban như của ăn của uống, để chúng ta đủ sức bước theo Ngài trên con đường phục vụ anh chị em mình. “Ngài công chính ‘vô cùng’, nên có thể chuốc lấy án tử cho ‘vô vàn’ tội nhân!”. Sống mầu nhiệm Thánh Lễ, cuộc sống của bạn và tôi quả là ‘một sự tồn tại phồn sinh!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con hèn nhát trốn chạy thập giá; cho con can đảm đối diện nó, ôm lấy nó và yêu lấy nó!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp, Huế

From: KimBang Nguyen

Phim ‘Ba! Con Không Muốn Làm Người Cộng Sản’ và sách ‘Ngày Tháng Buồn Hiu’ gây nhiều xúc động

Báo Nguoi-viet

August 6, 2023

Văn Lan/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Chiều Thứ Bảy, 5 Tháng Tám, Viện Việt Học và Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đồng tổ chức công chiếu phim tài liệu “Ba! Con Không Muốn Làm Người Cộng Sản,” đồng thời ra mắt sách “Ngày Tháng Buồn Hiu,” tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, với đông người tham dự.

Giây phút xúc động trong ngày ra mắt sách “Ngày Tháng Buồn Hiu” của Trần Ngọc Ánh. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Cuốn phim nói về cuộc đời của bà Trần Ngọc Ánh, người trải qua 11 năm trong ngục tù Cộng Sản sau 1975 vì tội “âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân” và quyển sách “Ngày Tháng Buồn Hiu,” cũng của tác giả Trần Ngọc Ánh. Cả hai đều kể lại câu chuyện thật đời mình, khi bà Ánh có cha và chị đi theo Cộng Sản. Sau 1975, cha của bà khi đó là một cán bộ, đã ép bà đi theo con đường Cộng Sản mà thời đó mọi người đều lầm lẫn.

Sau những lần xung đột gia đình, bà dứt khoát bỏ nhà và thoát ly để theo chồng, ông Trần Thắng Tài, một quân nhân VNCH, và đã dứt khoát bồng con nhỏ mới 1tuổi theo chồng vào tù.

Bà Trần Ngọc Ánh kể về chuyện những ngày tháng trong tù. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Lần đầu tiên, trong bộ phim, người xem được nghe và thấy những chuyện do chính bà Trần Ngọc Ánh kể lại, oái ăm thay bà lại chính là con gái của một gia đình cán bộ, cha mẹ và các em đều theo Cộng Sản.

Người tham dự cũng được xem triển lãm, từ những hiện vật của ông Trần Thắng Tài, chồng bà Ánh, cùng những trang nhật ký của bà, cùng với hình ảnh của đứa con trai Trần Thắng Vy Dân với căn bệnh đã tàn phá cuộc đời của em từ khi theo mẹ vào tù lúc 1 tuổi!

Từ trái, cô Từ Ái, giáo viên tiểu học De Mille; bà Trần Ngọc Ánh và ông Châu Thụy, giám đốc Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Cuốn phim dài khoảng gần hai giờ đồng hồ, do chính người nữ tù kể lại đời mình, từ một cô gái ngây thơ, cựu học sinh Hoàng Diệu, Sóc Trăng, sống và hít thở không khí miền Nam tự do thanh bình, đến sau ngày 30 Tháng Tư 1975 đầy nghiệt ngã, cả nước chìm đắm trong những đói khổ, bệnh tật, kinh tế bi thảm, đã khiến hàng triệu người Việt phải liều chết tìm đường vượt biển, nhưng bà cùng chồng chọn con đường ở lại chiến đấu cho tự do. Khi chồng bị bắt, bà thà bồng con thơ vào tù, chia sẻ những lao khổ tù đày cùng chồng cho đến khi ông bị tử hình, còn hơn là bị áp đặt một lý tưởng để sống an nhàn trong sự bảo bọc của cha và chị mình.

Cuốn phim này nằm trong dự án lịch sử qua chuyện kể của Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, ghi lại những câu chuyện sống sót của những nhân chứng, kể lại biết bao nhiêu gian khổ trong lao tù Cộng Sản và trên bước đường đi tìm tự do, để làm chứng tích lịch sử cho hiện tại và mai sau.

Ông Trần Chí Hồng Tiên, đại diện Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt và bà Trần Ngọc Ánh nhận bằng tưởng lục từ TNS Janet Nguyễn, do ông David Nguyễn trao tặng. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Sau buổi chiếu phim, Viện Bảo Tàng Lịch Sử Người Việt có triển lãm những hiện vật của ông Trần Thắng Tài, cựu quân nhân VNCH, đã dấn thân vào con đường đấu tranh cho tự do dân chủ của tổ quốc Việt Nam cho đến ngày ông hy sinh dưới làn đạn của Cộng Sản, lúc 38 tuổi đời, ngày 14 Tháng Sáu năm 1982 tại Phan Thiết.

Cô Kim Ngân, giám đốc Viện Việt Học, chia sẻ: “Cô Trần Ngọc Ánh là người đơn giản, tính chất rất bình dị, ẩn chứa một ý chí và sự phấn đấu phi thường, tiêu biểu tinh thần của người phụ nữ Việt Nam. Lớn lên dưới chế độ Cộng Sản sau 1975, với những chuyện xảy ra trong gia đình cô cho chính cô và người chồng. Cô đã ở tù Cộng Sản và viết văn, quyển nhật ký của cô đã đi theo con đường của các trại tị nạn, theo các thuyền nhân ra tới hải ngoại, và có những người khi đọc lại tác phẩm ấy đã tìm lại được cô. Và cô tiếp tục viết câu chuyện đã xảy ra, đây là một sự hy sinh rất lớn, khi cô đã can đảm kể lại cho các thế hệ sau được nghe, và rút tỉa kinh nghiệm qua bài học của cô.”

Một số hiện vật dưới đáy mộ ông Trần Thắng Tài, kế bên là cột xử bắn, và ngôi mộ của ông tại Phan Thiết. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Ông Sơn Rotha, hội trưởng Hội Ái Hữu Tương Tế Sóc Trăng tại Hoa Kỳ, cho hay ông rất hãnh diện vì là đồng hương Sóc Trăng và cũng là đồng môn cựu học sinh Hoàng Diệu, Sóc Trăng.

“Tôi đã được đọc cuốn sách này, với nhiều cảm xúc khi một phụ nữ vì lý tưởng tự do dám hy sinh tất cả. Nếu chị chịu nghe theo lời khuyên của cha mình, có thể giờ này chị đã có một chức lớn rồi. Nhưng chị đã từ bỏ hết tất cả để đi theo công cuộc chiến đấu chống lại Cộng Sản. Đây là vị anh thư nước Việt thời hiện đại, tôi rất tự hào.”

Nhóm hiện vật của bà Trần Ngọc Ánh, gồm những tập nhật ký trong tù, để sau này hình thành quyển “Ngày Tháng Buồn Hiu,” trong buổi ra mắt. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

“Những câu chuyện như thế này phải cần thiết lưu truyền bằng mọi phương tiện truyền thông, nếu có thêm bản dịch tiếng Anh càng tốt. Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt đã thực hiện chương trình này thật quý, để cho mọi người hiểu rõ được bản chất của người Cộng Sản Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ sau này hiểu thêm một góc nhìn khác của thời VNCH.”

Không khí như chùng xuống khi cuộn phim vừa khép lại, chấm dứt trong sự thổn thức nghẹn ngào của người xem.

Giấy ra trại của bà Trần Ngọc Ánh, với tội danh “Âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân”. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Tiếp đến, quyển hồi ký “Ngày Tháng Buồn Hiu” tác giả Trần Ngọc Ánh, được giới thiệu, với bút pháp rất đơn giản nhẹ nhàng nhưng đầy sức mạnh, biểu cảm của một phụ nữ với sức sống mãnh liệt, đứng lên tiếp nối cuộc chiến đấu của người chồng trên đường tìm tự do. Và tất cả tiền bán sách được tặng hết cho Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, để làm công việc duy trì và bảo tồn những di tích của người Việt tị nạn sau 1975.

Bà Phương Lê, cựu nữ sinh Gia Long, chia sẻ: “Khi nghe cô Ngọc Ánh kể lại cuộc đời, đó là một chứng nhân của lịch sử, rất quan trọng khi đất nước đã đổi chủ sau năm 1975. Cô Ngọc Ánh là người chứng kiến cuộc sống của người Việt ở hai bên giới tuyến của hai miền Nam và Bắc. Cô nói thật chính xác khi miền Bắc xâm lược tấn công vô Nam, cướp lấy vùng đất trù phú giàu có và yên bình, trong khi miền Nam chỉ chiến đấu để bảo vệ quê hương, chứ không bao giờ tấn công ra miền Bắc.”

Tác phẩm “Ngày Tháng Buồn Hiu” sau bao năm trăn trở, nay được đến tay bạn đọc. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

“Tôi khâm phục cô là người dũng cảm khi trả lời trước phiên tòa rằng: Tôi yêu nước, yêu đồng bào tôi, đó không phải là tội!’ Câu trả lời đanh thép trước tòa án rất ít người dám nói và kết quả là án tử của chồng, và con trai phải chịu sống kiếp người không bình thường khi ở tù cùng mẹ. Tôi đã xem phim này hai lần, và đã không kìm được nỗi xúc động vô bờ với cô, người chiến sĩ can trường. Chỉ vì tham vọng của miền Bắc khiến xảy ra chiến tranh, thế rồi phe thắng cuộc với những chính sách trả thù tàn bạo khiến bao gia đình VNCH phải tan cửa nát nhà, tù đày giết chóc, mà trường hợp cô Ngọc Ánh là một điển hình. Những câu chuyện như thế này rất cần lưu truyền cho hậu thế, nhất là giới trẻ để hiểu biết người Cộng Sản là thế nào.”

Toàn thể nhân viên Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, cùng Viện Việt Học, trong ngày chiếu phim, ra mắt sách “Ngày Tháng Buồn Hiu”. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Trong nhạc phẩm “Sầu Lẽ Bóng,” nhạc sĩ Anh Bằng nói lên tâm trạng của một cô gái đau khổ khi bước vào đường tình yêu, chỉ khác trong trường hợp này, người con gái Trần Ngọc Ánh đã chịu nhiều đau khổ khi bước vào tình yêu đất nước, yêu đồng bào, yêu dân tộc bị mất tự do! Và bà đã nói: “Nếu còn kiếp sau, tôi vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến khi Việt Nam không còn Cộng Sản!” [kn]

ĐƯỢC LẠI CẢ ĐỒNG LÚA – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ai yêu sự sống mình, sẽ mất!”.

 Phó tế Laurensô Giáo Hội kính nhớ hôm nay đã từ bỏ mọi sự theo đúng nghĩa đen, kể cả mạng sống. Tháng 8 năm 258, sau khi giết Giáo Hoàng Sixtô II, họ bắt Laurensô, buộc ngài giao mọi tài sản của Giáo Hội. Trình diện, Laurensô mang theo không phải của cải vật chất, vốn đã phân phát tất cả, mà là ‘của cải thật’; đó là những người khổ đau, tàn tật. Laurensô tuyên bố, “Giáo Hội thực sự giàu có và người nghèo là ‘kho báu’ đích thực của Giáo Hội”. Tức giận, quan tổng trấn tuyên án tử hình bằng lửa, Laurensô lãnh phúc tử đạo.

Kính thưa Anh Chị em,

“Ai yêu sự sống mình, sẽ mất; ai ghét sự sống mình ở đời này, sẽ giữ được nó cho sự sống đời đời!”. Tin Mừng hôm nay sử dụng cụm từ “yêu” và “ghét”; và như Thầy Giêsu, hạt lúa Laurensô đã “ghét” sự sống mình, và về sau, ‘được lại cả đồng lúa’.

“Yêu” và “ghét” ở đây không hiểu theo cách bình thường. Chúa Giêsu sử dụng từ “yêu” để chỉ sự ích kỷ, tự cho mình là trung tâm; “ghét” để chỉ lòng vị tha và quên mình. Nói cách khác, ai ích kỷ, cuối cùng, sẽ mất tất cả; ai thực sự xả thân cho người khác, sống vị tha, cuối cùng, sẽ được lại tất cả, ‘được lại cả đồng lúa!’.

Giáo huấn sâu sắc của Chúa Giêsu sẽ thật khó hiểu nếu chúng ta không được giáo huấn bởi ân sủng của Thánh Thần. Đành rằng, sống vị tha là tốt, nhưng lý trí lại mách bảo, trước hết và tốt hơn hết là phải ‘nâng cao bản thân’, và hạnh phúc được tìm thấy khi giàu của cải, có địa vị, quyền lực và sự tôn trọng. Thế nhưng, lấy mình làm trung tâm, dẫu hấp dẫn đến đâu, thực ra vẫn là ‘con đường phá sản’ tất cả những gì tốt đẹp, những gì vĩnh cửu.

Ngược lại, khi chúng ta cho phép ân sủng Thánh Thần dạy cho lý trí biết rằng, sống vị tha mới là điều tốt nhất, lòng chúng ta sẽ luôn hướng về điều lành cho người khác; cam kết phụng sự Chúa và phục vụ Ngài trong tha nhân bất cứ giá nào… thì đó mới là cách duy nhất để Ngài ban lại cho chúng ta nhiều gấp bội. Trong thư Côrintô hôm nay, Phaolô nói, “Thiên Chúa yêu thương kẻ cho cách vui lòng. Ngài có quyền cho anh em được dư tràn mọi ân phúc: để anh em vừa luôn sung túc mọi mặt, vừa còn được dư dật để làm các việc lành”. Thánh Vịnh đáp ca cũng đồng tình, “Phúc thay người biết cảm thương và cho vay mượn!”. Như Chúa Giêsu, Laurensô chịu mục nát, và đã ‘được lại cả đồng lúa!’.

Anh Chị em,

“Ai yêu sự sống mình, sẽ mất!”. Chúa Giêsu không yêu sự sống mình, nên Ngài đã mang lại sự sống và niềm hy vọng cho thế giới. Ngài đã làm như vậy theo cách của hạt giống: trở nên nhỏ bé; từ bỏ ngai trời để làm người. Nhưng điều này vẫn chưa đủ. Để sinh hoa trái bằng một tình yêu trọn vẹn, Ngài đã để cái chết xé nát mình như hạt giống tự nứt dưới lòng đất. Chính ở đó, ở điểm thấp nhất của sự hạ mình – cũng là điểm cao nhất của tình yêu – niềm hy vọng bùng lên. Ngài chọn yêu bằng cách “ghét” sự sống mình, nên hạt lúa mục nát trong không gian, thời gian và luật lệ trần gian. Để có thể mục nát như Ngài, bạn và tôi không cậy sức mình, nhưng cậy vào ân sủng Chúa và sức mạnh của Ngài.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con mất cả ‘giống’ lẫn ‘phân’ khi chỉ biết ky cóp cho mình. Cho con dám mục nát mỗi ngày để cũng có thể ‘được lại cả đồng lúa!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế 

CON BÒ BIẾT KHÓC!

Bạch Cúc

Người tù đầu gấu nhất trong một trại tù ở Mỹ là một người đàn ông khổng lồ với đầu tóc và râu ria rậm rạp. Trên thân thể anh ta là hàng trăm hình xăm với những vết sẹo chằng chịt do đ.âm ch.ém trong nhiều năm là giang hồ và tù tội. Anh ta được giao làm “đồ t.ể” lò mổ trong nhà tù, nghĩa là giữ nhiệm vụ chính trong việc gi.ế.t mổ heo, bò, cừu…để cung cấp thực phẩm cho toàn trại và các nhà tù lân cận.

Lò mổ được làm bằng thép siêu cứng, một đầu rộng như cái phễu để lùa gia súc vào, đường ra càng lúc càng hẹp cho tới khi chỉ còn một lối đi nhỏ vừa đủ rộng để một con vật đi qua. Người đồ tể đứng chờ trước lối ra này, tay anh ta cầm một khẩu súng điện lăm lăm sẵn để thực hiện công việc gi.ế.t chóc. Gia súc bò, heo, cừu được dồn vào cái phễu này bởi những con chó hung tợn và những ngọn đòn roi quất túi bụi để bắt buộc phải tiến lên và phải có một con chui tuột qua cái đường ống ra ngoài. Đàn gia súc ngửi thấy mùi ch.ế.t chóc nên mặc con nào con nấy đều la hét dữ tợn và nhất quyết không muốn bước tới. Chúng vùng vẫy theo mỗi kiểu riêng khác nhau để kéo dài sự sống hay cố tìm cách chạy toán loạn để tìm đường trốn. Khi có một con dần tiến đến lối thoát, chúng cảm nhận được cái ch.ế.t gần kề nên đều la hét quằn quại, rên rỉ rất lớn và luôn muốn quay đầu tìm cách thoát thân nhưng không thể!…

Người đ.ồ t.ể được giao cầm một súng điện có công suất lớn, chỉ cần một lần bắn là có thể gi.ế.t ch.ế.t ngay một con bò lớn nhưng khốn thay…anh ta không bao giờ nhắm được chính xác trong một lần bắn bởi mọi con vật đều lồng lên, xoay người liên tục vì thế anh ta luôn phải bắn hai phát. Phát đầu tiên là làm cho con vật nghe thấy sợ ch.ế.t khiếp mà đứng yên bất động, phát thứ 2 mới là phát thật sự gi.ế.t chết nó. Cứ thế, một phát là để cho kinh sợ và một phát là để lấy m.ạ.ng, hết con này tới con khác, hết ngày này tới ngày khác…

Vào một ngày nọ, người đ.ồ t.ể hung tợn này bỗng trở nên “kích động” dữ dội. Anh ta nhất quyết không chịu làm công việc hàng ngày mà mồm luôn gào thét, chửi bới và nhất quyết đòi gặp một Thiền sư. Nhà tù đành phải phái đến một người cho anh ta gặp. Vừa gặp Thiền sư, người đ.ồ t.ể liền quỳ xuống, miệng vẫn chửi bậy và thề thốt với Thiền sư rằng: tất cả những điều anh sắp nói là sự thật và xin hãy tin anh ta…

“Hôm ấy nhà tù cần gi.ế.t bò cung cấp cho các nhà tù gần đó và tôi vẫn làm công việc như thường lệ: cứ từng con, từng con bước lên và “Đoàng, đoàng”, thế là xong một m.ạ.ng nhưng…

Có một con bò bước lên với sự im lặng lạ kì. Thậm chí không có một tiếng khụt khịt hay rên rỉ hay quay tới quay lui cái đầu như những con bò khác. Con bò này cúi đầu, chân nó bước từng bước một cách chắc nịch, chậm rãi và tự nguyện tiến đến sát gần chỗ tôi đứng. Nó không rên la, không quằn quại, không tìm cách trốn thoát, không gì cả…

Khi đã tiến đến đúng vị trí, con bò này ngẩng đầu lên và nhìn chằm chặp vào mắt tôi, nó cứ đứng im như thế tới cả phút.

Tôi chưa bao giờ thấy một chuyện kì lạ như thế, sự việc trước mắt khiến tôi rùng mình và đờ đẫn. Tâm trí tôi bỗng hỗn loạn, bối rối vô cùng tận. Tôi không thể nào giơ súng lên được và cũng không thể nào rời khỏi cặp mắt của con bò. Thế là nó và tôi cứ trân trân nhìn nhau và tôi thấy:

Trong mắt trái của con bò, phía trên mi mắt dưới, nước bắt đầu tụ lại. Lượng nước đó càng lúc càng lớn cho đến khi mi mắt của con bò không thể nào ngăn được nữa và từng dòng nước lăn dài chậm chạp xuống mặt nó. Bên mắt phải cũng vậy, nước bắt đầu đọng lại và nhỏ từng giọt, từng giọt và chảy xuống ngày càng nhiều hơn…

Con bò đang khóc!…”

Người đồ tể này vẫn quỳ dưới chân nhà Thiền sư và anh ta bỗng òa khóc nức nở. Anh ta nói rằng sau bao nhiêu năm đ.â.m ch.é.m có cả gi.ế.t nhiều m.ạ.ng người, chưa có điều gì chạm tới trái tim anh ta và khiến nó đau đớn đến mức vậy. Anh ta đã quăng cây súng điện và gào lên ầm ĩ rằng: “Nhà tù này muốn làm gì anh ta cũng được nhưng bắt buộc phải để cho con bò này được sống”!

Từ đó, anh ta ăn chay trường và “Con bò biết khóc” đã dạy cho người đàn ông bạo lực nhất biết ý nghĩa của “Sự sống”!

Vậy còn những tên “đ.ồ t.ể” đang dồn ép biết bao người vào cảnh oan trái, đến bao giờ chúng biết lặng người quay đầu nhìn lại, để cảm thấy run sợ, để cảm thấy lương tâm cắn rứt khi nhìn thấy cảnh:

– Cha mẹ già của T.ử tù Nguyễn Văn Chưởng với 17 năm ròng miệt mài viết hàng ngàn lá đơn, có những lá đơn thẫm đẫm m.á.u và nước mắt kêu cứu cho con trong vô vọng!

– Người mẹ già của Hồ Duy Hải với thân cò héo hắt gầy mòn, đôi mắt quầng thâm đen chất chứa đau khổ, lê la kêu cầu công lý cho con trong mòn mỏi tuyệt vọng!

– Và đang có hàng trăm, hàng ngàn gia đình oan khuất khác đã tạo nên hàng đoàn Dân Oan đông nghìn nghịt với lời kêu cứu thấu trời xanh. Họ đứng trước cửa công quyền bất chấp dãi dầu mưa nắng, ăn lề đường, ngủ hè phố, van xin “ơn trên” xoi xét ở một đất nước mà khẩu hiệu tuyên truyền được dán khắp nơi: “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc!”

Người đ.ồ t.ể ở trại tù Mỹ trong câu chuyện nói trên là người hung tợn với một quá khứ đ.âm ch.é.m gi.ết người mà còn biết buông s.úng, quỳ xuống tạ tội khi nhìn thấy một con bò biết khóc. Khoảnh khắc nhìn thấy những giọt nước mắt của con bò, ông như được cứu vớt cả cuộc đời để nhận biết ý nghĩa của “Sự sống”!

Vậy còn những người đang nắm trong tay sinh mệnh của T.ử tù Nguyễn Văn Chưởng và Hồ Duy Hải, những người quyền cao chức trọng, họ có biết:

Mọi sinh vật trong cuộc đời này đều có quyền được sống, huống chi là một con người! Nếu không oan khiên oan khuất, có lẽ Nguyễn Văn Chưởng và Hồ Duy Hải đã không còn sức để sống, để chờ đợi cho tới ngày hôm nay. 17 năm đã qua họ vẫn kiên cường trong ngục tối, không ngừng hy vọng tết những con Giống. Những con Giống này có thể không biết khóc nhưng thấm đẫm m.áu và nước mắt oan khuất của người t.ử tù. Chúng còn chất chứa bí mật oan khiên, không phải một mà là hàng chục con Giống đã được gửi ra ngoài với những lá thư được nhét bên trong cầu cứu trong vô vọng!

Đến bao giờ sự thật và công lý mới chiếu rọi xuống đất nước này, để những người đang cố ý lấy đi sinh m.ạng Nguyễn Văn Chưởng, Hồ Huy Hải hiểu rằng: cứu một người là phúc đẳng hà sa, cố ý gi.ết một người là trời không dung, đất không tha và chắc chắn họ sẽ phải trả giá, ch.ết cũng không thể nhắm mắt!

Một con bò biết khóc mà còn được cứu, vậy 17 năm qua gia đình T.ử tù Nguyễn Văn Chưởng và Hồ Duy Hải đã khóc bao nhiêu ngàn lần mà vẫn chưa được cứu giúp? Vì vậy:

Tôi kêu gọi công lý cho T.ử tù Nguyễn Văn Chưởng và Hồ Duy Hải!

Đề nghị bãi bỏ án T.ử h.ình ở Việt Nam!

Còn bạn?