Ngoại giao cây tre (Phần cuối)

Ba’o Tieng Dan

Nguyễn Thông

6-10-2023

Tiếp theo: Phần 1 — Phần 2 — Phần 3 và Phần 4

Ngoại giao tức là quan hệ (giao) với bên ngoài (ngoại). Nhà này với nhà kia có mối đi lại với nhau cũng là ngoại giao, dù chỉ láng giềng cách nhau bờ dậu mùng tơi hoặc bức tường gạch cắm mảnh chai, mảnh sành. Nhiều người đã nhầm khi cho rằng đã nói tới ngoại giao thì chỉ ở tầm quốc gia.

Trong mối giao tiếp hàng xóm láng giềng đời thường đã đầy phức tạp, huống hồ giữa nước này với nước khác. Con người là thứ động vật nhiều mưu mẹo nhất trong muôn loài, và điều này được thể hiện rõ nhất ở ngoại giao. Đám cầm quyền mỗi quốc gia dùng đủ mọi thủ đoạn để giật lợi ích về cho nước mình, bất kể sự trơ tráo thủ đoạn hay mềm mỏng khéo léo. Dù nó có hiệu quả gì đi nữa thì cũng chẳng đáng khen. Không thể khen cái thứ trái với lương tâm, đạo đức con người.

Làm ngoại giao phải chân thật, lấy sự chân thật đặt lên hàng đầu. Mà không chỉ ngoại giao, mảng nào việc nào cũng vậy.

Tôi còn nhớ đã đọc đâu đó chuyện về ông Nguyễn Thọ Chân từng làm đại sứ đặc mệnh toàn quyền tại Liên Xô. Khi ông nhận nhiệm vụ với đôi chút lăn tăn thắc mắc, cụ Hồ có nói với ông rằng “Làm ngoại giao nhưng đừng có ngoại giao quá, đừng có lễ tân lắm. Cốt nhất là ở lòng chân thành của mình với người ta”. Theo tôi, điều này thì cụ Hồ đúng. Cứ phải chân thành, tin nhau. Hay hớm gì cái thói mưu mẹo, xảo trá, lừa miếng, lật lọng.

Người ta vẫn thường tuyên truyền và khen chủ trương “vừa đánh vừa đàm” của người cộng sản hồi nội chiến Bắc – Nam trước 1975. Ông anh ruột tôi, một thương binh thời ấy, đảng viên đàng hoàng, tuy là đảng viên nhưng mà tốt, có lần cười bảo hay ho cái đếch gì, đánh là đánh, đàm là đàm, đánh thì thôi đàm, đàm thì thôi đánh, làm quái gì có cái kiểu nện cho ra bã, “giết, giết, giết, bàn tay không chút nghỉ” nhưng lại kêu gào muốn hòa bình, bắt tay nhau. Giả dối.

Hình như sự giả dối đã ăn sâu vào não giới cầm quyền xứ này, từ lâu chứ không phải chỉ bây giờ. Giờ họ thực hành ngoại giao cây tre “làm bạn với tất cả” nhưng thử coi trong cuộc chiến tranh đang diễn ra ở Ukraine họ đã tre pheo thế nào. Cả thiên hạ, toàn địa cầu, cả thế giới đều biết phân biệt thế nào là chiến tranh xâm lược, kẻ xâm lược, chính nghĩa, phi nghĩa, ngay chính những đám ủng hộ bọn xâm lược Nga cũng hiểu rõ điều ấy.

Họ đã từng ở vào hoàn cảnh của Ukraine “hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta/ thì ta còn phải chiến đấu quét sạch nó đi”, nếm mùi sự tàn khốc của chiến tranh, nhưng vẫn cứ lửng lơ tre pheo, mà thực ra đã ngầm đứng về một phía. Thà như đám độc tài ở Triều Tiên, Cuba, Iran, Venezuela công khai theo đóm ăn tàn, ngưu tầm ngưu mã tầm mã, đằng này lại ở những người luôn tự nhận mình chính nghĩa.

Những tuyên bố không theo phe, không đứng về bên nào, chỉ ủng hộ chính nghĩa… chỉ là sáo rỗng, giả tạo, lời nói gió bay. Thiên hạ hiểu cả, qua thực tế phơi bày. Những phiếu trắng, những phát biểu chung chung kiểu quan ngại này quan ngại nọ chả giấu được ai. Nói đâu xa, cứ xem họ chỉ đạo đám báo chí mậu dịch thì biết chẳng tre pheo gì. Thà đám Quang lùn, Mẫu, Cương, Thống đã đi một nhẽ, không ai thèm chấp cá nhân. Đằng này đó là “tiếng nói” của hệ thống chính trị.

Đến ngay tên gọi thực chất của cuộc chiến tranh xâm lược cũng không dám chỉ ra, chỉ uốn éo thành “chiến dịch quân sự”, chiến tranh bị hạ thấp thành “xung đột”, ồn ào tin Nga thắng thế lọ thế chai, dựa vào truyền thông Nga để đem “tin vui bay đến tận bản làng”, háo hức trước tàn phá của bọn xâm lược đối với Ukraine… khiến người dân Việt không phân biệt được hay, dở, tốt, xấu, trắng, đen, phải, trái.

Ảnh: “Ngoại giao cây tre” Việt Nam. Nguồn: VnEconomy

Ngay cả những “tờ” tưởng chừng nghiêm túc như Giáo dục & thời đại (Bộ Giáo dục), Thế giới & Việt Nam (Bộ Ngoại giao), báo Nghệ An (tiếng nói của đảng bộ và nhân dân Nghệ An), đài tivi Nghệ An… mọi người cứ mở thử xem, chúng nịnh bọn xâm lược, tâng bốc bọn xâm lược đến mức Cương, Mẫu, Thống phải tôn bằng cụ. Cây tre kiểu vậy làm nhơ bẩn cả hình ảnh cây tre cứng cỏi bất khuất thẳng thắn. Bây giờ con người có thể bị lừa bởi bộ máy tuyên giáo nhưng với lịch sử thì không dễ lừa. Sau này sẽ là nỗi nhục.

Ở những quốc gia dân chủ văn minh, điều may mắn cho người dân là không có tuyên giáo, không có báo mậu dịch, và quan trọng nhất, hầu hết những người cầm quyền là con người tử tế, chân thật.


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Đông Du

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả:  Tưởng Năng Tiến

Theo Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia:

Phong trào Đông Du là một phong trào cách mạng ở Việt Nam đầu thế kỷ 20. Phong trào có mục đích kêu gọi thanh niên Việt Nam ra nước ngoài (Nhật Bản) học tập, chuẩn bị lực lượng chờ thời cơ cho việc giành lại độc lập cho nước nhà…

Ngày 20 tháng Giêng năm Ất Tỵ (1905), Phan Bội Châu, Đặng Tử Kính, Tăng Bạt Hổ (một thành viên cũ của phong trào Cần vương, làm người dẫn đường) xuống tàu thủy tại Hải Phòng, theo đường biển bí mật sang Quảng Đông, Hồng Kông, Thượng Hải rồi đi tới Hoành Tân (Yokohama) thuộc Nhật Bản…”

“Để làm tan rã phong trào Đông Du, Pháp còn ký với Nhật hiệp ước vào tháng 9 năm 1908. Theo đó, Pháp cho Nhật vào Việt Nam mua bán; đổi lại, Nhật sẽ không cho các nhà cách mạng và lưu học sinh Việt Nam ở Nhật nữa.

Như vậy (là) kể như xong!

Tới cuối thế kỷ, cũng từ Hải Phòng, Việt Nam lại phát động một phong trào Đông Du khác – ngó bộ – rầm rộ và khí thế hơn nhiều. Đợt này thì Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia (Hà Nội) chưa kịp cập nhật, tôi cũng chỉ biết được (phần nào) là nhờ nghe qua nhà văn Bùi Ngọc Tấn.

Ông kể lại mẫu chuyện nhỏ của một vị bác sĩ, một ông công nhân và một chàng thủy thủ – cả ba đều là nhân viên thuộc công ty Liên Hợp Hải Sản Biển Đông – và chuyến Đông Du ngắn ngủi của họ (vào năm 1990) khi Nhà Nước Việt Nam vừa quyết định mở cửa ra với thế giới bên ngoài:

“Ngày thứ ba ở Nhật là chủ nhật rồi. Các cửa hàng Ô sa ka vẫn đóng cửa. Không mua được gì. Leo lên boong đứng vơ vẩn, gặp Đay to sù như một con gấu nhô từ cầu thang lên cùng với một thuỷ thủ.

“Sáng nay trực à, bác sĩ ?”

“Không. Các ông đi đâu đấy ?”

“Lên phố xem có cái gì không ? Nằm mốc ở tầu làm gì.”

“Chờ tí. Tôi đi với.”

Bá chạy vội về buồng khoác cái túi giả da tòn ten một bên vai chạy ra… Ba người đi. Đi xem phố xá, xem người Nhật sống như thế nào. Và cũng cầu may, biết đâu mua được thứ gì đó. Gọi là lang thang nhưng đâu phải vô mục đích. Và vẫn cứ dán mắt vào các nhà hai bên phố.

Người ta cũng mở cửa đấy nhưng không bán hàng. Và nhà nào cũng có một túi ni lông đen để ở lòng đường sát với vỉa hè. Túi đựng rác. Bá tò mò nhìn trước nhìn sau không có ai ngoài hai người bạn, cúi xuống mở một túi ra xem: Ba chiếc cốc pha lê cực đẹp. Có chân, hoa văn vàng óng, và những mảnh vỡ của chiếc cốc thứ tư. Rác là như vậy đấy. Anh nhặt ba chiếc cốc đút vào chiếc túi tuỳ thân, mặc cho hai người bạn đồng hành chế riễu:

“Thưa bác sĩ, sao bác sĩ mất vệ sinh thế. Nhặt ở túi rác đem về uống.”

Bá cười:

“ Đẹp thế mà chỉ vỡ một chiếc họ đã vất đi thì phí quá. Đem về bày tủ li.”

Đúng là vậy. Anh không tham. Chỉ thấy không thể để ba chiếc ly pha lê nằm trong đống rác. Một sự lãng phí chẳng thể nào tha thứ.

Bỗng nhiên hiện ra trước mắt ba người một bãi rác khổng lồ. Tủ đứng, tủ nằm. Xa lông. Máy giặt. Nồi cơm điện cũ. Rồi ghế xoay. Bá ngồi ngay lên chiếc ghế xoay. Xoay một vòng. Bốn bánh xe dưới chân đưa anh đi một quãng. Chà chà. Thật mê ly. Có cái ghế xoay này đặt trong nhà ngồi thư giãn, xem sách, đọc báo hay nghe nhạc thật tuyệt vời. Bảo đảm cả thành phố không ai có.

Đang thả tâm hồn bay bổng, nhìn theo Đay và Niệm đi sâu hơn nữa vào bãi rác, bỗng nghe tiếng reo, anh giật mình đứng lên bước nhanh về phía họ: Một đống quạt bàn hiện ra trước mắt.

Cái nào cũng còn nguyên bảo hiểm, cánh, cả giây và phích điện dù có chiếc bảo hiểm đã rỉ và bầu thì đã tróc sơn. Chỉ nhìn nét mặt họ, anh cũng biết anh không có phần ở đống quạt cũ này. Vì lúc họ tìm ra, anh không có mặt, anh còn đang đu đưa với chiếc ghế xoay. Cái ghế xoay chết tiệt! Đay cùng anh thuỷ thủ nhặt quạt bàn xếp thành một hàng rồi tìm ra một chiếc gậy gỗ xâu gần chục chiếc quạt lại.

Thật sung sướng khi nghe Niệm nói: “Phần ông Bá một chiếc, thôi, cứ xâu cả vào đây, khiêng về tầu, ông ấy lấy sau.”

Thật là một tấm lòng vàng…

Khiêng vác trên vỉa hè, gặp người Nhật và cả những người mắt xanh mũi lõ sải bộ trên hè, không ai bảo ai cả ba đều cúi gầm mặt. Niệm kêu to, trấn an bạn và cũng là để trấn an chính mình:

– Làm đéo gì mà xấu hổ. Họ biết mình là ai.

Rồi trừng mắt hỏi Bá :

– Ông là người nước nào. Tôi là người Ma lai xi a. Quốc tịch Ma lai xi a chính hiệu.

Đay cười nhạt:

– Thôi. Cứ nói Căm pu chia cho xong. Dân Mã lai nó đếch thèm những thứ này đâu. Sang đây mới thấy mình là cuối hạng người. Có phải không bác sĩ ?

Bá gật đầu :

– Đúng là cuối hạng người…

Ấy thế mà khi về đến Việt Nam chúng mình lại là nhất. Chúng mình là đầu hạng người. Ai nhìn chúng mình cũng nể. Ai cũng thèm được như chúng mình. Chúng mình chon von chót vót…

Khi anh có quyết định xuống tầu vận tải nước ngoài, dù vẫn còn ở trên bờ, dù anh vẫn y xì là anh, chẳng có tí gì thay đổi, anh đã thấy mọi người nhìn anh bằng con mắt khác rồi, anh đã là một con người khác, chính anh cũng cảm thấy mình đã là một con người khác (và vợ anh càng khác nữa).

Ngay chuyến này thôi, với những ngày vắng mặt ở Việt Nam để đi sang nước Nhật này, trở về với mấy món hàng cũ trong tay, anh thực sự ở một mặt bằng khác, một nấc thang giá trị khác, một tầng lớp khác, một tầm cao khác. Đúng. Chỉ cần vắng mặt ở Việt Nam ít ngày thôi rồi trở về, anh đã là một con người khác” (Bùi Ngọc Tấn. Biển Và Chim Bói Cá. Hội Nhà Văn. Hà Nội: 2008, 458 – 461).

Cuộc Đông Du thứ hai, xem ra, quá khoẻ khi so với chuyến đi hồi đầu thế kỷ. Lần này, chả ai phải đi chui nữa. Dân Việt đường đường chính chính dong thuyền qua đến xứ người. Họ đi từ một đất nước Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc, và được trang bị bởi Chủ Nghĩa Bách Chiến Bách Thắng Vô Địch Muôn Năm nên chả còn phải cần cầu viện ai hay cầu học (thêm) điều gì nữa ráo.

Chỉ cần đi ra nước ngoài vài hôm, rồi “trở về với mấy món hàng cũ trong tay” là nghiễm nhiên đã “thực sự ở một mặt bằng khác, một nấc thang giá trị khác, một tầng lớp khác, một tầm cao khác.”

Đúng là một phép lạ!

Phép lạ này cũng đã được ông (cựu) chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết phát biểu tại Đại Hội Việt Kiều, vào hôm 22 tháng 11 năm 2009 (“Chưa bao giờ mình lại cất cao tiếng nói như thế … và vị thế của mình bây giờ cũng ngang hàng với người ta, nói năng cũng đúng mức, đàng hoàng.”) và đã được ông TBT kiêm CTN Nguyễn Phú Trọng ân cần nhắc lại vào hôm 26/01/2017: “ Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.”

Trước đó, ý tưởng lạc quan tương tự cũng đã được tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa diễn đạt cách khác (bóng bẩy và thâm thúy hơn) là “bay cùng đàn sếu,” khi ông đề cập đến chuyến công du của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng – tại Nhật Bản, hồi năm 2006 – với rất nhiều hy vọng và tin tưởng: “… về một nước VN sải cánh bay cùng các quốc gia đồng văn.”

Sự hy vọng, và tin tưởng này (e) khó có thể trở thành tựu dưới chế độ hiện hành. Làm sao chúng ta có thể “bay cùng đàn sếu” khi người dân Việt vẫn còn cúi mặt xuống những bãi rác và quí vị lãnh đạo thì túi đã nặng chặt Mỹ Kim mà mắt vẫn cứ láo liên hăm hở cố … kiếm thêm chút nữa!


 

Mưa lớn khiến đường phố Kon Tum chìm trong biển nước

Ba’o Nguoi-viet

October 9, 2023

KON TUM, Việt Nam (NV) – Cơn mưa kéo dài vài giờ vào sáng 9 Tháng Mười khiến các con đường Phan Đình Phùng, Trần Hưng Đạo, Bà Triệu, Lê Hồng Phong, Phan Chu Trinh, Lê Lợi… ở thành phố Kon Tum bị ngập gần cả mét, khiến xe cộ chết máy, việc kinh doanh, buôn bán bị đình trệ.

Theo báo VNExpress, nước ngập sâu làm giao thông đình trệ, một số xe cộ chết máy người dân phải dắt bộ. Nhiều hộ dân sống hai bên đường phải dùng tấm gỗ, tôn chắn trước cửa để ngăn các đợt sóng tràn vào nhà khi xe chạy qua.

Nhiều tuyến đường ở thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum, bị ngập sâu hôm 9 Tháng Mười. (Hình: Ngọc Oanh/VNExpress)

Theo nhiều người dân sống ở đường Trần Hưng Đạo, dân ở khu vực này chủ yếu là kinh doanh, buôn bán nên mỗi khi mưa lớn, ngập lụt đều phải đóng cửa, thất thu.

Trước đó hồi năm 2022, tình trạng “mưa là ngập” đã bị người dân phản ảnh và Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Kon Tum đã yêu cầu thành phố Kon Tum “khẩn trương xử lý tình trạng ngập các tuyến đường.” Tuy nhiên, tình trạng ngập lụt vẫn tiếp diễn mỗi khi mưa lớn kéo đến.

Nước lũ cô lập thôn Mơ Năng 2 ở xã Kim Tân, huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai. (Hình: L.N/Tuổi Trẻ)

Mưa lớn kéo dài nhiều giờ cũng khiến nước từ thượng nguồn suối Đắk Pi Hao đổ về, làm ngập các thôn của xã Chư Răng và xã Kim Tân, huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai, khiến hơn 500 gia đình với khoảng 2,000 dân bị chia cắt. Hàng trăm học sinh phải nghỉ học tạm thời.

Nói với báo Tuổi Trẻ, ông Nguyễn Hữu Thành, chủ tịch xã Chư Răng, cho biết đến tối 9 Tháng Mười, thôn Plei Du vẫn bị cô lập chia cắt về giao thông. Giới chức địa phương phải dùng ca nô đưa một phụ nữ chuyển dạ đến Trung Tâm Y Tế Huyện Ia Pa để sinh con. (Tr.N) 


 

Cần biết lắng nghe và sửa sai (Kỳ 1)

Ba’o Tieng Dan

Nguyễn Thông

9-10-2023

Cách nay 69 năm, ngày 10.10.1954, những người lính Pháp cuối cùng xếp hàng ngay ngắn rời khỏi Hà Nội, theo lối cầu Long Biên do chính họ xây dựng, để về Hải Phòng tập kết 300 ngày chờ rút hết về nước. Nay ở bãi biển Đồ Sơn vẫn còn di tích bến Nghiêng, nơi quân Pháp xuống tàu hồi hương.

Pháp rút, quân ta vào tiếp quản thủ đô Hà Nội trong sự chào đón của nhân dân. Đoàn xe chở tướng Vương Thừa Vũ – Chủ tịch Ủy ban quân chính (quân quản) Hà Nội, bác sĩ Trần Duy Hưng – Chủ tịch Ủy ban hành chính Hà Nội đã cùng bộ đội vào nội thành qua 5 cửa ô một cách hòa bình, không một tiếng súng nổ nào.

Ảnh: Bác sĩ Trần Duy Hưng, Chủ tịch Ủy ban Hành chính Hà Nội trở về tiếp quản thủ đô trong sự chào đón nồng nhiệt của dân chúng, dĩ nhiên không một tiếng súng, và không phải là hành vi giải phóng. Nguồn: Tư liệu internet

Nhạc sĩ Nguyễn Thành viết “Khi đoàn quân tiến về mùa thu ấy/ Nhịp trống rung ba mươi sáu phố phường“. Ngày 10.10 được lịch sử gọi bằng cái tên chính xác với thực tế, “ngày tiếp quản thủ đô”. Lứa chúng tôi khi học phổ thông (từ lớp 1 tới lớp 10) sách giáo khoa và lời thầy cô, lời cán bộ đều ghi rõ, nói rõ là “ngày tiếp quản thủ đô 10.10”.

Chả hiểu do đâu, và cũng không biết từ khi nào, người ta, vốn quen xuyên tạc lịch sử, kiêu ngạo cộng sản, háo thắng, ngạo nghễ, đã đổi lát cắt lịch sử ấy thành “ngày giải phóng thủ đô”, “ngày thủ đô giải phóng”. Cả Hải Phòng cũng vậy, khi quân Pháp ở đó 300 ngày kể từ khi đình chiến để lần lượt rút về nước, người dân sống chung với những kẻ trước kia là quân xâm lược trong gần 1 năm hòa bình, không hề gây gổ.

Ảnh chụp màn hình/ báo Tiền Phong

Làng tôi là nơi tạm trú kiểu KT3 gần tiểu đoàn Pháp, họ đóng ở đình làng và lập doanh trại gần đó, họ khoan giếng máy lấy nước dùng, cho cả dân dùng, khi kéo nhau ra bến Nghiêng Đồ Sơn còn bàn giao đầy đủ, không phá bỏ thứ gì. Thày tôi kể, dân làng giao dịch buôn bán hàng tạp hóa với họ, họ dạy trẻ con tiếng Pháp, cho nông dân những hạt giống rau quả su hào, súp lơ, cà chua… từ Pháp gửi sang để bà con mình trồng trọt.

Nói chung là chả đánh nhau, chẳng giải phóng giải phiếc gì. Nhưng rồi cũng theo trào lưu mới tự sướng/ xuyên tạc lịch sử, người ta cũng gọi ngày 13.5.1955 là “ngày Hải Phòng giải phóng”, “ngày giải phóng Hải Phòng”, mỗi năm đến ngày này cứ um cả lên. Ông anh tôi có lần bảo, có đánh nhau đếch đâu mà giải mí chả phóng.

Giải phóng là gì? Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ do GS Hoàng Phê chủ biên, giải phóng là hành động làm cho được tự do, cho thoát khỏi tình trạng bị nước ngoài chiếm đóng; giải thoát con người bị kiềm chế, giam cầm. Giải phóng hoàn toàn khác sự tiếp quản, nhận những thứ được bàn giao. Cũng không thể lý sự rằng trước đó quân ta đã đánh nhau, đã chiến thắng, đã có trận Điện Biên nên Pháp bị thua, ta tiến vào thủ đô thì cũng là giải phóng. Vậy thì nên xóa những sự kiện lịch sử, như Hội nghị Geneve (Geneva), hội nghị Trung Giã ra khỏi biên niên sử, dù nó có ý nghĩa lập lại hòa bình, chấm dứt đánh nhau.

Vẫn biết việc tôn trọng lịch sử khách quan và việc thực hiện ý đồ chính trị luôn chỏi nhau, luôn xung khắc, thậm chí lịch sử chịu thua trong những chặng nhất định, nhưng không thể vì thế mà cứ im lặng mãi. Hỡi các nhà viết sử mậu dịch, các vị chắc đều biết tích anh em nhà Thái Sử Bá thời Chiến quốc chép sử thế nào. Nhà viết sử chân chính, chết còn không sợ, vậy các vị sợ cái gì mà không dám lên tiếng, hay là nghề sử chỉ để ấm thân mình.

KHI CHÚNG TA VỀ GIÀ …

Quỳnh Chi 

Năm tháng vô tình, đến một ngày nào đó ai rồi cũng phải già đi, cho dù đó là người giàu có hay bình thường, đều không ngoại lệ. Những năm tháng sung mãn trẻ trung không bao giờ trở lại, cũng như một ngày không thể có hai buổi bình minh. Thời gian không đợi người…

Khi chúng ta già đi, trải qua mấy chục năm cố gắng, kinh nghiệm phong phú đầy mình, tấm lòng rộng rãi. Đã từng tranh giành, đã từng chiến đấu, đã từng đắc ý, đã từng thất ý, những gì nên có đều đã có, cũng không còn ham muốn những thứ không thuộc về mình nữa, hết thảy đều đã quen rồi.

Khi về già, tôi lựa chọn mỉm cười.

Mỗi sáng sớm thức dậy rửa mặt, việc đầu tiên là soi gương, khi ta cười với nó thì nó cũng cười với ta. Thế là cả một ngày ta mỉm cười.

Mỗi sáng sớm thức dậy rửa mặt, việc đầu tiên là soi gương, khi ta cười với nó thì nó cũng cười với ta. Thế là cả một ngày ta mỉm cười. (Pixabay)

Khi về già, lựa chọn thay đổi.

Không phải là thay đổi người khác, mà là thay đổi chính bản thân mình, thay đổi tâm tính, thay đổi phong cách sống và thay đổi thói quen ăn uống của mình.

Khi về già, lựa chọn thong dong.

Bữa ăn nên ăn từng miếng một, việc làm nên làm từng chút một. Không có việc nào có thể làm xong trong một sớm một chiều, mọi thứ đều phải có quá trình. Đừng suốt ngày mệt mỏi kiệt sức, hãy sống bình tĩnh thong dong.

Khi về già, lựa chọn coi nhẹ.

Nếu chốn sơn hào hải vị, mỹ tửu giao bôi mà ẩn giấu người lừa kẻ gạt, thì sao bằng dăm ba người tri kỷ, chén trà nhạt hàn huyên.

Khi về già, lựa chọn sức khỏe.

Có một câu nói rằng: Lúc sự nghiệp có thành tựu chính là lúc cần trân quý thân thể của chính mình, lúc sự nghiệp thất bại chính là lúc cần phải làm cho mình khỏe mạnh hơn.

Du sơn ngoạn thủy, nuôi dưỡng tuổi trời, tận hưởng trọn vẹn cuộc đời lúc hoàng hôn của chính mình. Để bù đắp sự thiếu hụt của thế hệ, tìm lại tự ngã đã mất. (Pixabay)

Khi về già, lựa chọn du lịch.

Du sơn ngoạn thủy, nuôi dưỡng tuổi trời, tận hưởng trọn vẹn cuộc đời lúc hoàng hôn của chính mình. Để bù đắp sự thiếu hụt của thế hệ, tìm lại tự ngã đã mất.

Khi về già, lựa chọn nghỉ ngơi.

Đến tuổi này rồi, có thể không cần phải đóng góp thêm cho xã hội, không còn phải vất vả vì cháu con, không cần phải đi kiếm tiền, cũng không cần tích lũy di sản nữa.

Khi về già, lựa chọn độc lập.

Đừng quá nặng thân tình. Có câu “ở bên giường bệnh lâu ngày thì không có con hiếu thảo”. Vì vậy, cần phải chuẩn bị tinh thần để tự mình vượt qua khó khăn.

Khi về già, lựa chọn nói “có” ít, nói “không” nhiều.

Đừng làm những việc căng thẳng và nặng nề, và nên giảm những công việc cố định trong thời gian cố định.

Khi về già, lựa chọn cách đối xử tốt với bản thân và những người xung quanh.

Đối xử với bản thân tốt một chút, vì cuộc đời không dài, đối xử với mọi người xung quanh tốt một chút, vì có thể kiếp sau sẽ không còn gặp lại.

Đối xử với bản thân tốt một chút, vì cuộc đời không dài, đối xử với mọi người xung quanh tốt một chút, vì có thể kiếp sau sẽ không còn gặp lại. (Pixabay)

Khi về già, mong giữ được một trái tim trẻ trung và trong sáng.

Điều thay đổi chỉ là dung nhan, điều không thay đổi chính là tôi vẫn có một trái tim nhiệt huyết, trẻ trung, đầy đam mê. Vẫn mong muốn ngây thơ và đáng yêu như một đứa trẻ, duy trì một trái tim trẻ trung và trong sáng. Bất kể cuộc đời này là thống khổ, ưu thương hay là thất bại, hết thảy những điều này, thị phi thành bại đều đã thành hư không, yêu thương hay đau đớn đều đã là quá khứ.

Khi về già, sẽ có người thỉnh thoảng còn nhớ nhung và lo lắng trong lòng. Khi ta chống nạng, còng lưng, ngồi trên ghế đá công viên, mỉm cười nhìn mọi thứ xung quanh, sẽ có người chăm chú dõi theo và để ý, sẽ có người nguyện ý đi cùng ta, dìu lấy ta, cùng ta tản bộ chuyện trò.

Khi về già, hy vọng tự mình còn có thể lo được cho mình, đôi khi phơi nắng, chợp mắt bên bếp lửa, khẽ nhắm mắt nhớ lại con đường đời đã đi qua, nhớ về người thân, bè bạn, đôi lúc mỉm cười, và đôi khi thở dài.

Khi về già, tai điếc, răng rụng, tóc bạc, mong rằng người bạn đời vẫn còn ở bên, cùng chơi đùa, cùng nhau hồi tưởng về quãng thời gian cùng nhau trải qua, còn có thể nắm tay nhau đi trong ánh hoàng hôn, mỉm cười và ôm nhau khóc, nương tựa vào nhau, sẽ không rời xa.

Khi về già, tai điếc, răng rụng, tóc bạc, mong rằng người bạn đời vẫn còn ở bên, cùng chơi đùa, cùng nhau hồi tưởng về quãng thời gian cùng nhau trải qua, còn có thể nắm tay nhau đi trong ánh hoàng hôn. (Pixabay)

Khi về già, không còn thích náo nhiệt, thức khuya, chỉ muốn làm một khán giả tĩnh lặng, để thời gian cho bản thân một mình suy nghĩ, sống chậm lại, tĩnh tâm, lắng nghe tiếng nụ hoa hé nở, cứ như vậy lặng lẽ ngắm mọi thứ quen thuộc xung quanh rồi lặng lẽ rời đi.

Quả thật, cuộc đời của tôi quá đỗi bình thường như vậy, không oanh oanh liệt liệt, không kinh thiên động địa, nhưng tôi đã sống thật lòng, nhẹ nhàng ra đi, cũng như lúc nhẹ nhàng đến…

Mỗi người trong hơn nửa đời người đều đang theo đuổi:

Tuổi thơ theo đuổi sự thuần chân, tiện tay bôi bẩn những bức vẽ đầy màu sắc. Tuổi học trò theo đuổi lý tưởng, chăm chỉ không ngừng dệt những giấc mơ. Khi đi làm theo đuổi sự nghiệp và tình yêu, cảm nhận sự ngọt ngào và khó khăn của cuộc sống. Dần dần, cuối cùng, chúng ta bắt đầu truy cầu một cõi đi về, truy cầu một bến cảng bình yên và sự luân hồi của sinh mệnh!

Minh bạch được những điều này, cuộc sống tự nhiên sẽ nhẹ nhàng và hạnh phúc!

Quỳnh Chi 

From: tabard & NguyenNThu

KHÔNG THỂ TRỐN CHẠY – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy đi và làm như vậy!”.

Trong cuốn “Facing Loneliness”, “Đối Mặt Với Cô Đơn”, J. O. Sanders viết, “Vòng lẩn quẩn của các thú vui hoặc thu tích của cải đều là ‘những nỗ lực hoài hơi’ nhằm chạy trốn những nỗi đau dai dẳng! Triệu phú thường cô đơn hơn người nghèo; vua hài thường bất hạnh hơn khán giả! Bạn không thể trốn chạy cô đơn, nếu không biết yêu thương!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Không thể trốn chạy cô đơn, nếu không biết yêu thương!”. Lời Chúa hôm nay chứng thực nhận định của J. O. Sanders! Đó là câu chuyện dài của một Giôna ‘vùng vằng’; đó còn là câu chuyện ngắn của một người Samaria ‘mủi lòng’. Điều thú vị ở đây, là dù vùng vằng hay mủi lòng, hai nhân vật này vẫn ‘không thể trốn chạy’ yêu thương!

Bài đọc thứ nhất mở đầu cho ‘chuyện dài nhiều tập’ của Giôna. Thoạt tiên, Chúa sai Giôna đi Ninivê, một thành thù nghịch của Ngài, “Hô cho dân thành biết rằng sự gian ác của chúng đã lên thấu tới Ta”. Giôna bất tuân lệnh Chúa, ông chạy trốn Ngài! Thay vì lên Ninivê, hướng đông; ông xuống tàu ngược qua Tarshish, hướng tây. Chúa không để yên, Ngài theo Giôna đến cùng! Người ta ném ông xuống biển; một con cá đã chực sẵn, nuốt ông. Cá nhả ông lên bờ, Chúa gọi ông lần hai. Cuối cùng, vì ‘không thể trốn chạy’ và cô đơn mãi, ông đến Ninivê, mang cho họ thông điệp sám hối. Họ ăn năn và được thứ tha.

Nếu Giôna trốn Thiên Chúa để khỏi yêu thương kẻ nghịch, thì người Samaria vô danh kia đã nghe ‘tiếng Trời’ qua lương tâm mà phục vụ kẻ thù. Ông cứu một người Do Thái sống dở, chết dở bên đường. Nếu Giôna là sứ giả ‘bất đắc dĩ’ cho Ninivê, người Samaria là sứ giả ‘tình nguyện’ cho kẻ thù. Câu chuyện của con người tốt lành này là câu trả lời của Chúa Giêsu cho chất vấn của một luật sĩ, “Ai là người thân cận của tôi?”. Và để kết thúc cuộc phỏng vấn, Chúa Giêsu nói với nhà thông luật, “Hãy đi và làm như vậy!”.

“Hãy đi và làm như vậy!”. Chúa Giêsu đã đi và làm như vậy! Và kìa, người Samaria, ‘một người lương’ đại diện cho Ngài; và nạn nhân, đại diện cho cả nhân loại, cho mỗi người chúng ta. Khi con người không thể tự cứu mình, đang trầy trụa, ghẻ lạnh vì tội lỗi; Chúa Giêsu đã rời trời, xuống thế, lưu lại để cứu chúng ta. Chúng ta ‘sống dở, chết dở’ hay đã ‘chết một nửa!’. Ngoài cái chết thể chất, chúng ta có thể ‘chết một nửa’ theo nghĩa tinh thần khi lửa đã tắt trong tim và chỉ còn ‘sống một nửa’ khi đang lây lất ‘sống qua ngày, đợi qua đời’ lúc không còn một chút nhiệt huyết cho bất cứ điều gì! Chính trong tình trạng đó, Chúa Giêsu vực chúng ta lên; đưa chúng ta ra khỏi huyệt. Thánh Vịnh đáp ca thật thâm trầm, “Lạy Chúa, Ngài đã đưa con lên khỏi huyệt để con được sống!”.

Anh Chị em,

“Hãy đi và làm như vậy!”. Có người nói rằng, người có đạo vào nhà thờ để yêu Chúa và ra ngoài để yêu người lân cận. Đức Bênêđictô XVI nhấn mạnh, chương trình của Kitô hữu – chương trình của người Samaritanô nhân hậu, chương trình của Chúa Giêsu – là “một trái tim có thể nhìn thấy”. ‘Không thể trốn chạy’, nhưng là xem và dừng lại! Đây là lý do Chúa Giêsu khiển trách giới biệt phái “Các ông có mắt mà không thấy!”. Người Samaritanô thấy và dừng lại, ông có lòng thương xót và nhờ đó cứu được mạng sống của người bất hạnh và ‘cứu được chính mình’. Bạn và tôi cũng “Hãy đi và làm như vậy!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, bao lần, con thật cô đơn khi con trốn chạy yêu thương. Dạy con bài học “Hãy đi và làm như vậy!” để con bớt cô đơn mỗi ngày!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

Tại sao Giáo hội phải chăm sóc cách riêng cho người bệnh?

Chúc bình an! Ngày Thứ 2 đầu tuần tốt lành và mạnh khoẻ nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 09/10/2023

GIÁO LÝ: Tại sao Giáo hội phải chăm sóc cách riêng cho người bệnh? Chúa Giêsu cho ta biết: Thiên đàng đau khổ với ta khi ta đau khổ dưới đất. Thiên Chúa còn muốn chúng ta nhận ra Người nơi “người anh em bé mọn nhất” (Mt 25, 40). Đó là lí do tại sao, Chúa Giêsu muốn việc chăm sóc người bệnh, người nghèo phải là nhiệm vụ chính của các môn đệ. Người truyền dạy: “Hãy chữa lành bệnh tật” (Mt 10, 8), và Người hứa ban quyền thiêng liêng cho môn đệ “Nhân danh Thầy, họ sẽ trừ quỷ, sẽ đặt tay chữa lành bệnh nhân” (Mc 16,17). (YouCat, số 242)

SUY NIỆM: Một trong những đặc tính nổi bật của Kitô giáo là luôn luôn dành trọng tâm chăm sóc bệnh nhân, người già và những người nghèo túng. Mẹ Têrêsa là người đón nhận những người đang hấp hối ở đường phố Calcutta chỉ là một Kitô hữu như mọi Kitô hữu khác, nhưng Mẹ đã nhìn thấy Chúa Kitô trong những người bị mọi người loại bỏ và chạy trốn. Nếu Kitô hữu là Kitô hữu đích thật, thì từ nơi họ sẽ toát ra một ước muốn an ủi, nâng đỡ, được thực hiện trong hành động. Họ có thể giúp người khác khỏi bệnh phần xác, nhờ sức mạnh của Thánh Thần. (YouCat, số 242 t.t.)

❦  Việc lo lắng cho người nghèo phải là một ưu tiên: cần phải giúp đỡ họ như họ là chính Chúa Kitô vậy. (Thánh Benoît de Nursie, khoảng 480 – 547, đấng sáng lập dòng

Biển Đức)

❦  Và chúng tôi còn có lời thề là hứa trở nên người tận tâm phục vụ các người bệnh tật của Chúa chúng ta. (Luật dòng thánh Jean de Malte)

 LẮNG NGHE: Các ông trừ được nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh. (Mc 6:13)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin mở tâm trí con để con ý thức rằng những gì con làm cho người bé nhỏ nhất, chính là con làm cho Chúa Giêsu. Xin giúp con biết phóng ra khỏi mình để gặp Chúa nơi những người anh em đau yếu ốm đau bệnh tật.

THỰC HÀNH: Cầu nguyện cách riêng cho những người chăm sóc bệnh nhân

Xin Tỏ Lòng Từ Bi 2- Thánh Vịnh 84

Chuyện đời bèo bọt của các bà “chế độ cũ”

Ba’o Saigon nhỏ

Ảnh minh họa: Unsplash/Bady-abbas

Mấy bà thuộc “chế độ cũ” ở quê tôi là vợ sĩ quan, con lai, nhà có của để dành trong thể chế Việt Nam Cộng Hòa. Sau năm 1975, có bà thì lặng lẽ nuôi con trong khi chồng đi cải tạo, có bà thì lầm lũi, có bà thì hóa điên vì chế độ mới tịch thâu gia sản.

Dù rời xa làng quê để lên Sài Gòn tìm kế sinh nhai đã lâu nhưng tôi vẫn còn nhớ rõ mấy bà thuộc “chế độ cũ” trong xóm. Đó là bà Mười Tiều, dì Năm Thiếu Úy, dì Tám Quyện, dì Bảy, chị Lệ. Hồi tôi khoảng 9 tuổi thì bà Mười Tiều ngoài 70 tuổi, dì Năm Thiếu Úy, dì Tám Quyện và dì Bảy ngoài 30 tuổi, chị Lệ ngoài 20 tuổi.

Trước hết là câu chuyện về bà Mười Tiều. Hàng xóm láng giềng kể lại là trước năm 1975 bà Mười Tiều giàu có lắm. Việt Cộng vô một cái, tịch thâu hết vàng bạc. Cho dầu bả giấu vàng trong cái nồi, bỏ vào cái rế, treo lên giàn bếp nhưng Việt Cộng vẫn tìm ra được.

Khi tôi lớn lên, bả đã hóa điên rồi. Ban ngày, bả đóng cửa im ỉm ở trong nhà với ông chồng; còn con cái sống ở xa, lâu lâu mới về. Thỉnh thoảng tôi nghe tiếng cãi lộn của ông bà.

Chiều xuống, bả bắt đầu ra khỏi nhà trong bộ dạng nguyên bộ đồ trắng, đi chùa. Khi bả đi chùa xong thì trời đã sụp tối. Lúc đó bả chui vô mấy cái bụi tầm vông, bụi tre, bụi trúc, canh me có ai đi ngang qua, phóng ra hù người ta cho hết hồn chơi.

Ông Chín Rô trong xóm – người làm ruộng trong hợp tác xã, kể là có hôm ổng vác cuốc ngoài ruộng về nhà, đi ngang qua bụi tầm vông thì bị bả phóng ra hù. Ổng tưởng ma nên mém xáng cán cuốc xuống đầu bả. Tức thời bả la làng lên: “Tui đây!  Mười Tiều Đây!”. Ông Chín Rô kịp dừng tay lại.

Có lần tôi đi thả diều về ngang qua bụi tầm vông ngay góc trường học, bả mặc nguyên bộ đồ trắng phóng ra hù mà hết cả hồn. Rồi chắc nhờ bả đi chùa nhiều nên một thời gian sau bả tịnh tâm lại, hết hù người ta và sống thọ hơn 100 tuổi. Tui chắc hẳn đã có khoảng thời gian dài dằng dặc bả sống trong tiếc nuối vì mất của cải một cách lãng xẹt.

***

Tiếp đến là câu chuyện về dì Năm Thiếu Úy. Sở dĩ mọi người gọi dì là bà Năm Thiếu Úy vì hồi trước dì là vợ một sĩ quan thiếu úy trong chế độ cũ. Sau Tháng Tư 1975, ông thiếu úy bị đưa đi cải tạo nên dì lấy ông Phèo – một người Hoa, để nương tựa.

Ông Phèo thì không có con riêng, hơn dì khoảng 20 tuổi, tạng người bự chảng, không có hai hàm răng, cái miệng lúc nào cũng ngồm ngoàm như đang nhai một thứ gì đó.

Dì Năm Thiếu Úy có hai đứa con trai riêng với ông thiếu úy. Một đứa lớn hơn tôi vài tuổi, đứa kia thì bằng tuổi tôi. Cả hai đứa đều học chung với tôi từ năm lớp 1 đến năm lớp 3 thì tụi nó nghỉ học. Nhà dì Năm Thiếu Úy ở ven chợ. Hằng ngày dì bán gạo.

Gạo của dì có hai loại: gạo cũ và gạo mới. Gạo cũ là loại gạo khi được nấu lên thì nở tét bét cho ra nhiều cơm. Những gia đình đông con thì mua loại gạo này để nấu được nhiều cơm, đặng chia đủ cơm cho tất cả thành viên trong gia đình. Gạo mới là loại gạo khi đem nấu lên thì không nở mấy nhưng được cái là cơm dẻo và ngon hơn.

Trong khi đó, ông Phèo hằng ngày bán bánh mì. Ổng có cái tủ bánh mì đựng tùm lum thứ như là bánh mì, thịt ba rọi xắt nhỏ, ngò gai, ngò rí, dưa leo, dao rạch bánh mì, thớt để xắt thịt, nước tương, giấy báo cũ để gói bánh mì v.v.

Sáng sáng và xế xế ổng chở cái tủ bánh mì trên xe đạp lượn vòng quanh xóm. Có điều ngộ là thay vì rao hàng thì ổng dùng một cái kèn có trái bóng bóp phát ra tiếng kêu “tò tí toe”. Ai muốn ăn bánh mì thì chạy ra trước cổng kêu “ông Phèo”.

Dì Năm Thiếu Úy đếm thời gian qua từng lần đong gạo bằng cái lon 1 lít (lon 1 lít bằng ba lon sữa Ông Thọ) để bán cho dân quê, còn ông Phèo đếm thời gian qua từng lần bóp kèn “tò tí toe”.

Cho đến khi tôi 18 tuổi mà vẫn chưa thấy ông Năm Thiếu Úy về, có thể là ổng đã chết trong tù hoặc là ổng đã ra tù nhưng không về xóm tôi, vì dì Năm Thiếu Úy lúc bấy giờ đã là vợ người ta?!

Kế đến là câu chuyện về dì Tám Quyện. Tui không chắc tên dì là Quyện hay Huyện vì ở quê người ta phát âm phụ âm “h” giống như phụ âm “qu” thành ra “quờ” hết trơn hết trọi. Nhà dì Tám Quyện ở sát bên nhà dì Năm Thiếu Úy.

Dì Tám Quyện có hai đứa con gái. Đứa đầu lai Mỹ. Tui không biết tên thật của nó là gì nhưng mà mọi người cứ gọi nó là “con Mỹ”. Con Mỹ không đi học vì nó sợ đám con nít trêu chọc nó bằng những từ bậy bạ.

Sáng nào nó cũng phụ dì Tám Quyện đổ bánh kẹp để bán ở chợ. Dì Tám Quyện và con Mỹ ngồi chèm bẹp dưới đất, sát bên mấy cái thúng gạo của dì Năm Thiếu Úy.

Khi con Mỹ độ chừng đâu 12 tuổi thì dì Tám Quyện cho nó đi ở đợ xa nhà. Mấy năm sau đó tôi có thấy nó trở về xóm, đi bộ ngang qua nhà tôi vài lần. Có lần nó banh hàng rào chui qua sân nhà tôi cốt để đi tắt từ phía sau nhà tôi ra con đường lộ, hòng tránh đám con nít trêu chọc nó bằng những từ bậy bạ. Sau cái lần đó thì tôi không thấy nó nữa.

Không biết là nó có đi Mỹ theo diện con lai hay không?! Liệu rằng nó còn trốn đám con nít cho khỏi nghe những lời chọc ghẹo?!

Chị Lệ ngoài 20 tuổi cũng lai Mỹ. Mọi người thường gọi chị là “Lệ Khùng”. Thật ra chị không có hành vi nào bất thường và cũng không la hét quấy phá ai. Chỉ vì trên người chị lúc nào cũng lấm lem bùn đất, chị không bao giờ cười hay nói chuyện với bất cứ ai, có lẽ vì thế người ta gọi chị là “Lệ Khùng”?

Hằng ngày chị cùng chồng đi bộ quanh xóm để đào giếng hay vét giếng cho người ta. Vai chị vác cuộn dây thừng, tay cầm cái nón cối của lính Mỹ. Ông chồng thì vác cuốc, xẻng, xà beng.

Tui xin phép dừng chuyện của chị Lệ một chút để giải thích thêm về cách lấy nước từ giếng lên. Quê tôi thuộc vùng cao nên người ta phải đào giếng sâu xuống khoảng 20 mét thì mới có nước ngầm.

Hồi ấy, tụi tôi kéo nước từ giếng lên bằng cái thùng cột sẵn vào dây mũi (loại dây được bện bằng sợi nylon, và người ta thường dùng loại dây này để cột mũi con bò mà dắt đi).

Cứ mỗi lần muốn lấy nước, người ta dùng dây mũi cột sẵn thùng nhôm hay thùng mủ vào, thả thùng xuống giếng, kéo từng đoạn dây lên. Có khi cái thùng lên khỏi miệng giếng thì trong thùng không còn miếng nước nào, do thùng bị lủng hoặc bị lắc lư cho nên nước tạt hết ra ngoài rồi.

Đến mùa nắng, giếng bắt đầu cạn nước. Khi đó người ta phải mướn vợ chồng chị Lệ vét giếng sâu xuống nữa thì mới có nước lên trở lại. Tui chưa từng tận mắt thấy vợ chồng chị Lệ đào giếng nhưng vài lần tôi có thấy họ vét giếng cho nhà tôi.

Họ thay phiên nhau đu dây thừng xuống đáy giếng đã cạn nước. Một người ở dưới đáy giếng đào, múc đất sét bỏ vào cái nón cối lính Mỹ được cột vào dây thừng. Người ở trên miệng giếng kéo nón đất sét lên, bỏ đất qua một bên.

Người ở dưới đáy giếng được một lúc sẽ bị ngộp thở nên người kia phải thay phiên đu dây xuống đáy giếng. Họ vét từ trưa đến chiều thì mạch nước ngầm sẽ phún lên. Chị Lệ chỉ làm việc mà không nói cười, còn ai muốn nói gì thì nói với chồng của chị.

Nhà chị Lệ ở trong một con hẻm. Mà đúng hơn là chòi. Cái chòi được cất tạm bợ bằng tre trúc lá dừa. Người ta cho anh chị ở đậu trong khoảnh sân phía trước nhà. Khi anh chị sinh được một bé trai, họ lại ẵm con theo, đặt thằng nhỏ nằm trên tấm nylon ở chỗ mát trong khi họ làm việc.

Khi độ chừng đâu 8 tuổi, thằng nhỏ đi lẽo đẽo theo sau họ để phụ giúp công việc. Đến bây giờ tôi cũng không biết là chị Lệ đã thoát khỏi cái hố sâu dìm phận đời đứa con lai trong chế độ mới chưa?!

Liệu rằng chị đã gột rửa sạch lớp bùn đất lấm lem trên người và có thể cười nói để người đời không còn gọi chị bằng cái tên “Lệ Khùng”?!

***

Khác với vẻ mặt âu sầu của chị Lệ, dì Bảy luôn luôn lúc nào cũng tươi cười nói chuyện hoạt bát. Chồng dì Bảy cũng bị đưa đi cải tạo giống như chồng của các bà vợ sĩ quan khác.

Dì Bảy có hai đứa con: thằng con trai nhỏ hơn tôi một tuổi, đứa con gái thua tôi ba tuổi. Dì Bảy mở một sạp bán bánh kẹo và đồ chơi cho con nít bên trong trường học. Con nít bên ngoài trường hay con nít học trong trường đều có thể đến sạp của dì để mua mấy thứ mà chúng thích.

Hồi thời ấy, dì Bảy có bán xổ số đồ chơi: đồ chơi được treo trên một tấm bìa giấy cứng, bên dưới là những miếng giấy nhỏ có ghi số được gấp lại, con nít muốn chơi thì đưa dì Bảy 50 xu, rồi rứt một miếng giấy, mở ra thấy số nào thì lấy món đồ chơi có đánh dấu số đó; mở ra trống trơn không có số thì coi như trật lất, mất toi 50 xu.

Hai đứa con của dì Bảy học rất giỏi, năm nào tụi nó cũng được lãnh thưởng. Có lần tụi nó khoe với tôi rằng mẹ nó nói ba nó giỏi tiếng Anh lắm, bất cứ từ vựng tiếng Anh nào mới, ba nó đều đọc được. Hồi đó tụi tôi học dở tiếng Anh lắm vì ngay cả thầy cô giáo dạy tụi tôi còn đọc sai bét thì tụi con nít chúng tôi làm gì mà đọc đúng được?

Khoảng đâu thời gian thằng con trai dì Bảy học hết lớp 9 thì ba tụi nó về. Chồng dì Bảy về trong dáng vẻ gầy guộc, nước da xanh lè xanh lét, mặt hóp xọp trơ xương hai bên gò má. Đùng một cái, tụi nó bỏ học, cả nhà nó dọn nhà đi đâu mất tiêu. Cái thời đó cho dù có học giỏi thì hai con của dì Bảy cũng không học lên cao được với lý do “con của sĩ quan ngụy không được đi thi đại học”.

Tuy mỗi bà “chế độ cũ” xóm tôi có hoàn cảnh riêng nhưng tất cả họ đều có điểm chung là chịu đựng phận đời bèo bọt trong chế độ mới sau Tháng Tư 1975. Và ngay cả con cái của họ cũng gánh chung phận đời bị chế độ mới trù dập cho te tua tơi tả!

VẪN CHIẾN THẮNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường!”.

Thống Tướng Douglas MacArthur, Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ thập niên 1930, đã để lại một câu nói bất hủ, “In war, there is no substitute for victory!”, “Trong chiến tranh, không gì thay được chiến thắng!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Dụ ngôn “Tá Điền Vườn Nho” của Chúa Nhật hôm nay nằm trong bối cảnh Chúa Giêsu nhất quyết tiến lên Giêrusalem như tiến vào một trận chiến mà với Ngài, không gì thay được chiến thắng! Và dù kết cuộc có thế nào đi nữa, Ngài ‘vẫn chiến thắng!’.

Tiếng hò reo của dân chúng ngày ấy đã khiến giới lãnh đạo tôn giáo lo sợ đến nỗi họ tìm cách giết Ngài. Vì lý do đó, Chúa Giêsu đã kể ra một loạt dụ ngôn; đặc biệt dụ ngôn tá điền vườn nho, nhằm ám chỉ rằng, nếu họ tiếp tục chống lại Ngài, họ sẽ thua. Và dù có giết chết Ngài, Ngài ‘vẫn chiến thắng!’; một chiến thắng của tình yêu!

Mượn lại hình ảnh vườn nho là nhà Israel mà Isaia đã báo trước, bài đọc một, Chúa Giêsu nói đến sự thất vọng của Thiên Chúa chủ vườn khi vườn không sinh trái ngọt mà chỉ sinh quả chua. Với Ngài, đó còn là một vườn nho kinh khủng với sự nổi loạn của các tá điền, những kẻ chỉ muốn chiếm đoạt cả vườn. Họ đã giết chết các tôi tớ được sai đến, tức là các ngôn sứ; và sau cùng giết luôn con trai của chủ, chính Ngài, Con Thiên Chúa!

Trích dẫn Thánh Vịnh 117, Chúa Giêsu sánh mình với viên đá bị loại vốn trở nên đá tảng góc tường. Không chỉ dừng lại ở những câu trích – mà kẻ thù Ngài hẳn đã thuộc lòng – Chúa Giêsu còn ám chỉ việc Thiên Chúa sẽ chiến đấu cho tôi tớ Ngài. Như thể Chúa Giêsu thách thức họ rằng, “Các người không thể đánh bại Tôi cả khi các người giết tôi! Cha Trên Trời của Tôi sẽ không bỏ rơi Tôi. Ngài sẽ chiến đấu vì Tôi, và Tôi, sẽ trở thành đá tảng. Tốt hơn hết, các người nên nghe Tôi và cộng tác với Tôi!”. Vì viên đá bị loại sẽ trở thành ‘nền đá ân sủng’, “Đó chính là công trình của Chúa!”, và “Tôi ‘vẫn chiến thắng!’”.

Chúa Giêsu đã chiến thắng và cho đến ngày nay, Ngài tiếp tục giành chiến thắng. Kẻ thù của Ngài chỉ cứ đập mình thành từng mảnh. Lịch sử cho thấy những gì đã xảy ra với hết nhóm này đến nhóm khác chống lại Chúa Giêsu và Giáo Hội Ngài! Họ biến vào quên lãng! Và Giêsu là tương lai của thế giới! Ngài chiến thắng, tiếp tục chiến thắng, để cuối cùng, giành chiến thắng! Vì thế, sự tiến bộ của nhân loại chỉ có thể là sự tiến bộ hướng về Ngài, hướng về nền văn minh tình thương, công lý và bình an mà Ngài muốn thiết lập.

Anh Chị em,

“Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường!”. Điều đáng kinh ngạc nhất từng xảy ra trên thế giới là cái chết của Con Thiên Chúa. Thật đáng kinh ngạc khi Chúa Cha để Con Ngài bị bọn ác nhân sát hại một cách dã man! Thật đáng kinh ngạc khi Chúa Con không gọi các thiên thần chấm dứt cuộc đàn áp! Thật đáng kinh ngạc khi Ngài đã nói những lời thứ tha từ thập giá… Nhưng có lẽ khía cạnh đáng kinh ngạc nhất là từ đó, ‘món quà cứu rỗi đời đời’ được thực hiện! Một Thiên Chúa, dù thất vọng vì những lỗi lầm và tội lỗi của con người, vẫn không quên giữ Lời, Ngài không bỏ cuộc; và trên hết, không tìm cách báo thù. Bất chấp sự tàn độc của con người, tình yêu Ngài ‘vẫn chiến thắng!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dù thế gian có loại con ra ngoài, giúp con sinh nhiều hoa trái tốt tươi, hầu trở nên ‘nền đá ân sủng’ Chúa cho toàn thế giới! Và như thế, con ‘vẫn chiến thắng!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

Giải Nobel Hoà Bình năm nay được trao cho nhà đấu tranh cho nữ quyền Narges Mohammadi

Ba’o Tieng Dan  

Vũ Ngọc Yên

6-10-2023

Ngày 6-10-2023,Ủy ban Nobel Na Uy thông báo, giải Nobel Hòa bình năm 2023 được trao cho Nhà hoạt đông nữ quyền Iran, cô Narges Mohammadi. Bà Berit Reiss-Andersen, Chủ tịch Ủy ban Nobel Na Uy, cho biết tại thủ đô Oslo là cô Mohammadi được vinh danh vì những nỗ lực dấn thân cho quyền phụ nữ ở Iran và thúc đẩy nhân quyền và tự do cho tất cả mọi người…

Ảnh: Cô Narges Mohammadi chụp ảnh tại nhà ở Iran trong thời gian ra tù hồi năm 2021 vì lý do y tế. Nguồn: Reihane Taravati

Có 351 ứng cử viên cho giải Nobel Hòa bình năm 2023, trong đó có 259 cá nhân và 92 tổ chức. Theo ban tổ chức, 351 là số ứng cử viên cao thứ hai từ trước đến nay. Tính cả năm nay, số lượng ứng cử viên đã vượt quá 300 trong 8 năm liên tiếp, với kỷ lục 376 ứng viên được đề cử vào năm 2016. Theo quy định, tên của những người được đề cử, cũng như những người đề cử giải Nobel Hòa bình sẽ không được tiết lộ cho đến 50 năm sau, trừ trường hợp người đề cử tự tiết lộ.

Nhà đấu tranh cho nữ quyền

Cô Mohammadi, 51 tuổi, đã đấu tranh suốt 30 năm qua để mang lại thay đổi căn bản cho Iran, thông qua giáo dục và các biện pháp hòa bình khác. Mohammadi đã bị bắt 13 lần, bị kết án 5 lần với tổng án tù 31 năm. Ngay cả khi ở trong tù, cô cũng kịch liệt lên tiếng phản đối các điều kiện giam giữ đối với các nữ phạm nhân.

Narges Mohammadi đã viết sách về tra tấn tù nhân, trong đó cô mô tả trải nghiệm của chính mình và của những phụ nữ bị giam cầm khác. Năm 2011, Narges Mohammadi bị kết án sáu năm tù chỉ vì hoạt động nhân quyền ôn hòa của cô tại Trung tâm Bảo vệ Nhân quyền. Trong một phiên tòa bất công khác hồi tháng 4 năm 2016, cô bị kết án thêm 16 năm tù. Niềm tin của cô chỉ dựa trên công việc nhân quyền của cô. Đầu tháng 10 năm 2020, Narges Mohammadi được trả tự do sớm, rời khỏi Nhà tù Zanjan ở Iran.

Sau khi được trả tự do, Narges Mohammadi tiếp tục con đường bảo vệ nhân quyền không ngày nghỉ. Ngày qua ngày, cô đấu tranh cho các tù nhân chính trị, gia đình họ và những người sống sót, cũng như cho quyền của phụ nữ ở Iran. Với nhiệm vụ này, một lần nữa cô bị chính quyền Iran nhắm tới.

Vào ngày 16 tháng 11 năm 2021, Narges Mohammadi lại bị bắt giữ một cách tùy tiện và bạo lực tại Karaj, tỉnh Alborz, khi cô ấy đang tham dự một buổi lễ tưởng niệm. Trong tù, cô bị tra tấn và ngược đãi bởi các quan chức thực thi pháp luật theo lệnh của Bộ Tình báo. Cô đã bị từ chối chăm sóc sức khỏe đầy đủ; họ trừng phạt cô vì hoạt động nhân quyền của cô. Cô cũng phải đối mặt với 154 đòn roi. Cô bị kết án tổng cộng 10 năm 8 tháng tù giam, cũng như 154 roi và các biện pháp trừng phạt khác trong hai vụ án riêng biệt.

Hành quyết, tra tấn và đàn áp là phương tiện để chế độ độc tài Hồi giáo ở Iran đe dọa người dân và duy trì quyền lực. Mức độ vi phạm nhân quyền ở Iran là đáng báo động. Chúng bao gồm việc sử dụng tùy tiện hình phạt tử hình, tra tấn có hệ thống trong nhà tù và các hình phạt về thể xác tàn bạo, vô nhân đạo và hạ nhục như đánh roi và những màn đánh đập khác.

Chế độ Tehran là một trong những nước vi phạm nhân quyền tồi tệ nhất trên thế giới. Các biện pháp đàn áp tàn bạo, bắt bớ và tra tấn trong nhà tù là mệnh lệnh của độc tài Hồi giáo. Không có tự do ngôn luận hay tín ngưỡng ở Iran. Dấn thân cho dân chủ và nhân quyền bị đàn áp dã man.

Các Giải Nobel khác

Hôm thứ hai 2-10, Katalin Karoko và Drew Weissman được vinh danh là người thắng giải Nobel Y Sinh năm 2023, nhờ nghiên cứu công nghệ mRNA, mở đường tạo ra các loại vaccine ngăn ngừa Covid-19 hiệu quả.

Ngay ngày hôm sau 3.10, Ban tổ chức giải cho biết, Pierre Agostini, Ferenc Krausz và Anne L’Huillier đã đoạt giải Nobel Vật lý 2023, nhờ “các phương pháp thử nghiệm tạo ra xung ánh sáng attosecond để nghiên cứu động lực học điện tử trong vật chất”.

Ngày 4-10, ba nhà khoa học Moungi Bawendi, Louis Brus và Alexei Ekimov được Ủy Ban Nobel về hóa học ca ngợi là “những người tiên phong trong việc khám phá thế giới nano”. Ngày 5-10, Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố, tiểu thuyết gia và nhà viết kịch Na Uy Jon Fosse, 64 tuổi giành được giải Nobel văn học cho các tác phẩm “lên tiếng cho những điều không thể nói”.

Tất cả các giải thưởng Nobel có giá trị khoảng 11 triệu Krone Thụy điển, tương đương 986.000 USD. Lễ trao giải Vật lý, Hóa học, Y khoa và Văn chương được tổ chức tại thủ đô Stockholm (Thụy Điển) ngày 10-12, ngày Alfred Nobel qua đời.

Riêng giải Nobel Hòa bình là giải Nobel duy nhất không trao ở Stockholm, mà được Ủy ban Nobel của Quốc hội Na Uy trao tại thủ đô Oslo, cũng vào ngày 10-12. Giải này được coi là giải thưởng chính trị danh giá nhất thế giới.

Trong di chúc, nhà sáng lập giải Nobel nêu nguyện vọng giải thưởng lập ra để trao cho những cá nhân hay tổ chức góp phần xây dựng tình hữu nghị, huynh đệ giữa các dân tộc, cũng như giải thể hay cắt giảm quân đội ở mọi quốc gia trên thế giới.

Bài tập nâng cao sờ-ku-rờ-ty…

Ba’o Tieng Dan

Chu Mộng Long

8-10-2023

Ảnh tư liệu

Tôi nhiều lần lên tiếng yêu cầu bãi bỏ ngay quy định phiên âm tiếng nước ngoài trong sách giáo khoa. Cách phiên âm trên sách giáo khoa trước đây và cho đến bây giờ rất tùy tiện, thậm chí đọc lên nghe rất tục tĩu, phản văn hoá, vô giáo dục. Thực chất đó là tiếng bồi của kẻ vô học ở ngoài Bắc chứ tiếng bồi vô học ở trong Nam trước 1975 cũng không kinh dị như vậy.

Cách đây vài mươi năm, có thể chấp nhận cách phiên âm đó để thầy và trò dễ đọc. Nay chính Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện Đề án ngoại ngữ quốc gia rồi phổ cập tiếng Anh từ lớp 1 đến lớp 12. Riêng học đại học, sau đại học và chuẩn năng lực thầy cô giáo đều bắt buộc phải có trình độ và chứng chỉ ngoại ngữ tiêu chuẩn châu Âu hoặc bậc của khung trình độ quốc gia. Vậy mà hà cớ gì cứ phải đọc tên nước, tên địa phương, tên người của người ta bằng thứ tiếng bồi của đứa vô học?

Lẽ nào các loại bằng cấp, chứng chỉ ngoại ngữ tiêu tốn hàng ngàn ngàn tỉ đồng lâu nay đều là giả?

Hội nhập mà gọi tên người ta như thứ ngôn ngữ mách qué thì có mạo phạm người ta không?

Tôi thật ngạc nhiên là trong Chương trình 2018, ông Thuyết, ông Thống còn bắt buộc đưa vào sách bài học, bài tập riêng về cách viết phiên âm. Cả hệ thống sách giáo khoa phiên âm rất tùy tiện, không thống nhất trên một quy tắc nào cả. Khi thì phụ âm kép, nguyên âm đôi bị tách ra thành 2 âm tiết độc lập (chẳng hạn Xít-ta-lin, Anh-sờ-tanh, Xi-át-tơn…), khi thì ghép một âm (chẳng hạn Ốt-strây-lia, Pát-scan, Stiêng…), khi thì âm cuối ng giữ nguyên (King, Sing, Hê-ming-way…), khi thì biến thành nh (Kinh, Xinh, Râu-linh, Hê-minh-uê…). Kể cả thích thì bỏ dấu thanh (sắc, huyền, nặng – U-nai-tịch, Oai-chịch, Uy-lích, Mai-cồ..), không thích thì không bỏ dấu thanh. Các phụ âm khi thì S khi thì X tùy tiện, bừa bãi. Bất quy tắc như vậy thì học sinh chỉ có thuộc lòng và nhớ mặt chữ ư? Trong khi ngay ở một tập sách, chỉ một tên người, tên đất mà phiên âm thành nhiều chữ khác nhau, khi thì phiên âm theo cách đọc tiếng Pháp, khi thì theo cách đọc tiếng Anh, loạn cả lên. Tổ chức học hành như vậy thì có làm loạn não trẻ em không?

Tác hại rõ nhất là khi học tiếng Anh, trẻ em đang thẩm âm và phát âm chuẩn theo người bản ngữ thì đến khi học tiếng Việt với cách đọc phiên âm méo mó của ông Thuyết, ông Thống, tiếng Anh của trẻ em bị méo mó theo và hỏng hết.

Tôi đề nghị ông Thuyết, ông Thống chấm dứt ngay việc áp đặt tiếng bồi của các ông vào tai, vào mắt, vào não bọn trẻ. Thứ tiếng đó không chỉ làm hỏng tiếng Anh mà còn hỏng cả tiếng Việt. Sờ-ku-rờ-ty là thứ tiếng của văn hoá con heo!