Ở tuổi 70, tôi không cầu sống lâu: chỉ âm thầm giữ 3 “ĐƯỜNG LUI” để thân tâm luôn an hòa

Những câu chuyện Nhân Văn

Ở tuổi 70, tôi không cầu sống lâu: chỉ âm thầm giữ 3 “ĐƯỜNG LUI” để thân tâm luôn an hòa

Cô bác, anh chị thân mến,

Già đi là lẽ thường. Nhưng sống sao cho nhẹ lòng, không làm phiền ai… thì tôi muốn chuẩn bị từ sớm. Bác sĩ Phương không sợ già, chỉ sợ lúc yếu lại khiến người thân lo lắng. Nên nhiều năm nay, tôi âm thầm chuẩn bị cho mình ba “đường lui”, để tuổi 70 được sống bình yên, tự chủ:

  1. Một thân thể đủ khỏe

Tôi không mong sống lâu, chỉ mong tự lo được cho mình. Ăn uống vừa phải, vận động đều, ngủ sớm… để mỗi ngày trôi qua vẫn thấy mình còn là chính mình. Một cơ thể khỏe là nền tảng để đi nhẹ nhàng qua tuổi già.

  1. Một khoản riêng để phòng thân

Tôi không dư dả, nhưng luôn cố gắng dành một khoản tiền riêng – không nhiều nhưng đủ để không bối rối khi đau ốm hay có việc đột xuất. Có tiền phòng thân giúp tâm vững, không phụ thuộc con cháu, không lo lắng khi gặp chuyện bất ngờ.

  1. Một người bên cạnh để nương nhau qua ngày

Tôi vẫn hay nói với chồng: “Hai người già ở với nhau, quan trọng nhất là không làm khổ nhau.” Ở tuổi này, chẳng cần gì lớn lao, chỉ cần có người cùng ăn bữa cơm, cùng nhắc chuyện xưa mà thấy nhẹ lòng. Bạn đời không phải chỗ dựa duy nhất, nhưng là bến đỗ tinh thần cuối cùng.

Cô bác, anh chị à, ba đường lui không phải để trốn tránh tuổi già, mà để đi vào nó nhẹ nhàng, tự chủ, và biết ơn. Tôi không mong sống lâu, chỉ mong sống vui, sống sao cho người bên mình thấy dễ chịu, người nhớ về mình không tiếc nuối.

Cô bác anh chị có đồng tình với tôi không?

TTƯT, Bác sĩ Lê Phương

 


 

LIÊN MINH KỲ LẠ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Nhóm Pharisêu lập tức bàn tính với phe Hêrôđê, để tìm cách giết Đức Giêsu”.

“Đoàn kết không có chân lý là âm mưu chống lại chân lý!” – Thomas Merton.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, khi sự thật trở thành bất tiện, con người dễ đoàn kết và hình thành một ‘liên minh kỳ lạ!’.

Nhóm Pharisêu giữ luật, phe Hêrôđê giữ quyền – không chung đường – nay chung quyết định loại Chúa Giêsu, Đấng đặt sự sống con người trên mọi cơ chế. Thế giới hôm nay không xa lạ với hình ảnh ấy. Những lá phiếu “vì hoà bình” tại Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đôi khi chỉ vì quyền lợi của vài nước lớn. Công lý được nhắc, nhưng bị treo lơ lửng vì những cái bắt tay sau hậu trường – thậm chí công khai. Có những sự đồng thuận hợp pháp, nhưng không hẳn vì nhân quyền.

Giữa những cơ chế, Chúa Giêsu không chọn thương lượng để an toàn, không chọn im lặng để được chấp nhận. Ngài tiếp tục làm điều lành, dù biết sẽ dẫn tới xung đột. Ở đây, ba cám dỗ sa mạc hiện hình – an toàn thay vì tín thác, quyền lực thay vì phục vụ, thoả hiệp thay vì bị loại trừ. Ngài không để bất cứ liên minh nào làm trệch hướng; Ngài chỉ để ý muốn Chúa Cha và sự sống con người dẫn đường. “Chính trực là làm điều đúng ngay cả khi điều đó khó khăn!” – W. Clement Stone.

Xót xa hơn, điều này cũng có thể hình thành ngay trong đời sống Giáo Hội. Không cần âm mưu, chỉ cần cùng im lặng – né tránh để khỏi rắc rối, lờ đi để giữ yên ổn, chấp nhận những điều chưa đúng để khỏi đối diện phải đổi thay. Không cần đồng ý về điều sai; chỉ cần đừng ai nói đến điều đúng! Và thế là có thể rất trật tự, rất “êm”, nhưng lại bị trói bởi một ‘liên minh kỳ lạ’ – để giữ nguyên trạng, hơn là để trung thành với Tin Mừng.

Trong chính hiện sinh của mỗi người, cũng có những thoả thuận ngầm giữa đức tin và tiện nghi, giữa lương tâm và sợ hãi, giữa sĩ diện và bình an. Không ai chối Chúa, nhưng trì hoãn để ân sủng Ngài chạm tới những vùng tối. Chúng ta tự thương lượng: lần này thôi, để sau, miễn sao cuộc sống vẫn trôi êm. Và như thế, bạn và tôi sống một đức tin đủ để yên tâm, chưa đủ để hoán cải. “Trong khoảnh khắc quyết định, điều tốt nhất bạn có thể làm là làm điều đúng; điều tốt thứ hai là làm sai; và tệ nhất là không làm gì cả!” – Theodore Roosevelt.

Anh Chị em,

Theo Chúa Giêsu không cho phép ai đứng về phía số đông, nhưng dám đứng về phía sự thật, cả khi điều đó khiến chúng ta lạc lõng. Ngài không chọn an toàn, vì lối an toàn thường dẫn tới thoả hiệp; Ngài chọn con đường tình yêu phải trả giá, và đường ấy đưa Ngài lên thập giá – ngai toà đỏ máu của một tình yêu không bị mua chuộc. Mỗi ngày, bạn và tôi đứng trước cùng một chọn lựa: trung thành với Tin Mừng, hay với những thoả thuận giúp mình khỏi đổi thay? “Mỗi khi bạn thấy mình đứng về phía đa số, đó là lúc dừng lại và tự suy nghĩ!” – Mark Twain.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con im lặng cho yên ổn, lay con khỏi thoả hiệp; khi con chọn đường dễ, kéo con về thập giá; khi con giữ chặt an toàn, xin bẻ con cho tình yêu!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

************************

Lời Chúa Thứ Tư Tuần II Thường Niên, Năm Chẵn

Ngày sa-bát, được cứu mạng người hay giết đi ?

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 3,1-6

1 Khi ấy, Đức Giê-su lại vào hội đường. Ở đó có một người bị bại tay. 2 Họ rình xem Đức Giê-su có chữa người ấy trong ngày sa-bát không, để tố cáo Người. 3 Đức Giê-su bảo người bại tay : “Anh đứng dậy, ra giữa đây !” 4 Rồi Người nói với họ : “Ngày sa-bát, được phép làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay giết người ?” Nhưng họ làm thinh. 5 Đức Giê-su giận dữ rảo mắt nhìn họ, buồn bực vì lòng họ chai đá. Người bảo anh bại tay : “Anh giơ tay ra !” Người ấy giơ ra, và tay liền trở lại bình thường. 6 Ra khỏi đó, nhóm Pha-ri-sêu lập tức bàn tính với phe Hê-rô-đê, để tìm cách giết Đức Giê-su.


 

Năm 1985, các bác sĩ nói với Jane Hawking rằng chồng bà đang hấp hối

My Lan Pham is with Chuyện Nhân Văn.

Năm 1985, các bác sĩ nói với Jane Hawking rằng chồng bà đang hấp hối. Họ khuyên nên ngừng duy trì sự sống. Bà từ chối. Stephen Hawking đã sống lâu hơn mọi dự đoán suốt hai mươi hai năm, và bà không định để câu chuyện của ông kết thúc ở đó.

Geneva, mùa hè năm 1985.

Stephen đến đó để nghiên cứu thì mắc viêm phổi. Với hầu hết mọi người, viêm phổi nguy hiểm nhưng có thể sống sót. Với một người mắc ALS giai đoạn nặng, không thể cử động, ho hay tự làm sạch phổi, đó thường là bản án tử.

Tình trạng của ông xấu đi rất nhanh. Chỉ trong vài ngày, ông rơi vào hôn mê, phải thở máy, phổi dần suy kiệt.

Các bác sĩ nói thẳng với Jane. Stephen sẽ không hồi phục. Cơ thể ông đang ngừng hoạt động. Lựa chọn nhân đạo nhất, theo họ, là tắt máy móc và để ông ra đi trong yên bình.

Jane lúc đó bốn mươi mốt tuổi. Bà đã kết hôn với Stephen hai mươi năm. Bà đã chứng kiến ALS lấy đi của ông từng chút một: dáng đi, sự độc lập, khả năng tự ăn uống, viết lách, đứng thẳng. Đến năm 1985, ông chỉ còn cử động được vài ngón tay và một phần khuôn mặt.

Suốt hai thập kỷ, bà vừa là người chăm sóc ông, vừa nuôi dạy ba đứa con, giữ gìn gia đình, vừa nâng đỡ một người đàn ông mà thế giới nay công nhận là một trong những bộ óc vĩ đại nhất, dù căn bệnh được cho là sẽ giết ông trong vòng hai năm.

Các bác sĩ đang đưa ra một lối thoát.

Chấm dứt sự kiệt quệ.

Chấm dứt gánh nặng trách nhiệm không ngừng nghỉ.

Chấm dứt việc nhìn người mình yêu bị giam cầm trong một cơ thể đang suy tàn.

Bà hoàn toàn có thể đồng ý. Không ai trách bà.

Jane nói không.

Bà yêu cầu họ làm mọi cách để cứu ông. Các bác sĩ giải thích điều đó có nghĩa là gì. Stephen sẽ cần một ca mở khí quản khẩn cấp, đặt ống thở vĩnh viễn qua cổ họng. Ông sẽ không bao giờ nói chuyện tự nhiên được nữa. Ông sẽ không bao giờ tự thở. Ông sẽ còn phụ thuộc nhiều hơn nữa.

Jane không do dự.

Hãy làm đi.

Ca phẫu thuật đã cứu mạng ông. Nhưng nó cũng lấy đi một thứ không thể thay thế.

Suốt hai mươi hai năm, dù ALS tàn phá cơ thể, Stephen vẫn còn nói được. Giọng ông chậm và ngọng, nhưng đó là giọng của ông. Ca mở khí quản đã phá hủy nó hoàn toàn.

Trở về Cambridge, Stephen giao tiếp bằng cách nhướng lông mày khi có người chỉ vào các chữ cái trên bảng. Một lần nhướng là “có”. Hai lần là “không”. Từ ngữ được ghép lại từng chữ một. Đau đớn. Chậm chạp.

Với một con người mà toàn bộ cuộc sống xoay quanh ý tưởng, giải thích và giao tiếp, đó là cú đánh tàn khốc.

Rồi một kỹ sư máy tính tên Walt Woltosz nghe nói về ông. Woltosz đã tạo ra một chương trình gọi là Equalizer, cho phép người dùng tạo câu với rất ít cử động. Ông tặng nó cho Stephen miễn phí.

Stephen học cách sử dụng nó với một công tắc nhỏ ở tay, chọn từ trên màn hình để máy tính đọc lên. Ban đầu, tốc độ vô cùng chậm, khoảng một từ mỗi phút.

Nhưng đó là một giọng nói.

Và Stephen Hawking quay trở lại với công việc.

Điều khiến khoảnh khắc này trở nên phi thường là đến năm 1985, Stephen đã vượt xa mọi dự đoán y khoa.

Được chẩn đoán ALS năm 1963 khi mới hai mươi mốt tuổi, ông được cho là chỉ sống được hai năm. Hai năm.

Ông kết hôn với Jane Wilde năm 1965, hoàn toàn ý thức rằng mình có thể chết sớm. Họ có ba người con trong khi Stephen dần mất toàn bộ chức năng vận động.

Trong thời gian đó, ông làm thay đổi vật lý lý thuyết. Năm 1974, ông chứng minh rằng hố đen phát ra bức xạ, nay được gọi là bức xạ Hawking, làm thay đổi cách chúng ta hiểu về vũ trụ.

Vào lúc nằm trên giường bệnh ở Geneva, ông đã phải ngồi xe lăn, cần được chăm sóc liên tục và phụ thuộc vào người khác trong hầu hết mọi việc.

Và ông vẫn đang tạo ra khoa học làm thay đổi thế giới.

Vì thế, khi các bác sĩ đề nghị kết thúc sự sống của ông, họ không chỉ yêu cầu Jane buông tay chồng mình. Họ đang hỏi liệu thế giới có nên mất đi một trí tuệ vẫn chưa hoàn thành sứ mệnh hay không.

Jane biết ông chưa xong.

Và bà đã đúng.

Sau khi hồi phục và thích nghi với giọng nói điện tử, Stephen hoàn thành dự án mà ông ấp ủ suốt nhiều năm: một cuốn sách nhằm giải thích vũ trụ cho người bình thường.

A Brief History of Time được xuất bản năm 1988.

Nó trở thành điều không ai ngờ tới.

237 tuần trong danh sách bán chạy nhất.

Được dịch ra bốn mươi ngôn ngữ.

Bán hơn hai mươi lăm triệu bản.

Cuốn sách đưa hàng triệu người đến với hố đen, Vụ Nổ Lớn và bản chất của thời gian, không công thức, không hù dọa, với sự hài hước và rõ ràng.

Không điều gì trong số đó tồn tại nếu Jane nói “có” vào năm 1985.

Và Stephen vẫn chưa dừng lại.

Ông sống thêm ba mươi ba năm.

Viết thêm nhiều sách. Xuất hiện trong Star Trek và The Simpsons. Trở thành tiếng nói toàn cầu cho quyền của người khuyết tật. Cho thế giới thấy rằng giới hạn thể chất không giới hạn sức mạnh trí tuệ. Sống đủ lâu để chứng kiến sóng hấp dẫn được phát hiện, xác nhận những ý tưởng mà công trình của ông góp phần định hình.

Ông qua đời năm 2018, ở tuổi bảy mươi sáu.

Năm mươi lăm năm sau tiên lượng ban đầu.

Jane và Stephen ly hôn năm 1995. Áp lực chăm sóc, sự hiện diện thường trực của y tá, và sự tiến triển không ngừng của ALS đã để lại những vết nứt mà không phiên bản lãng mạn nào của câu chuyện thừa nhận. Không ai hiểu công việc chăm sóc lại phán xét bà vì điều đó.

Nhưng vào năm 1985, bà đã đưa ra lựa chọn quan trọng nhất.

Stephen từng nói ca mở khí quản vừa là điều tồi tệ nhất vừa là điều tốt đẹp nhất xảy ra với ông. Tồi tệ vì ông mất giọng nói tự nhiên mãi mãi. Tốt đẹp vì giọng nói tổng hợp cho phép ông giao tiếp rõ ràng hơn nhiều so với những năm trước.

Hãy tưởng tượng một lịch sử khác.

Stephen Hawking qua đời ở tuổi bốn mươi ba.

Một nhà vật lý được kính trọng. Những bài báo quan trọng. Chủ yếu được biết đến trong giới học thuật.

Không có A Brief History of Time.

Không có giọng nói biểu tượng.

Không có cây cầu nối khoa học với công chúng.

Không có hàng thập kỷ truyền cảm hứng cho người khuyết tật.

Không có ba mươi ba năm khám phá thêm.

Tất cả bị xóa bỏ vì một người phụ nữ chọn cái kết dễ dàng hơn.

Jane đã chọn con đường khó hơn.

Bà không chọn vì danh tiếng. Không chọn vì lịch sử. Bà chọn vì bà biết Stephen chưa thôi đặt câu hỏi.

Đó là tình yêu đích thực.

Không điện ảnh. Không nhẹ nhàng.

Là thứ tình yêu nói rằng điều này sẽ tàn khốc, và anh vẫn xứng đáng.

Jane Hawking đã cứu Stephen Hawking hai lần.

Một lần vào năm 1965, khi bà kết hôn với một người đàn ông được cho là chỉ sống hai năm.

Và một lần vào năm 1985, khi bà từ chối để các bác sĩ quyết định rằng câu chuyện của ông đã kết thúc.

Cả hai lần, bà đều chọn con đường khó hơn.

Vũ trụ được hưởng lợi từ cả hai lựa chọn ấy.

Stephen Hawking đã thay đổi cách chúng ta hiểu về thực tại.

Jane Hawking đã trao cho thiên tài ấy thêm ba mươi ba năm tồn tại.

Và tất cả bắt đầu từ một khoảnh khắc trong bệnh viện ở Geneva.

Một lời khuyên.

Một sự từ chối.

Jane Hawking đã nói không với cái chết.

Và Stephen Hawking có thêm ba thập kỷ để khám phá vô hạn.


 

 Trong trại tử thần, họ cho ông một con số: 119104

My Lan Pham

Nhưng điều mà họ cố giết chết nhất lại chính là thứ đã cứu sống hàng triệu con người.

Năm 1942. Vienna.

Viktor Frankl 37 tuổi, là một bác sĩ tâm thần được kính trọng, có phòng khám riêng đang phát triển, một bản thảo gần hoàn thành, và một người vợ tên Tilly với tiếng cười có thể làm bừng sáng cả căn phòng.

Ông có cơ hội trốn sang Mỹ.

Một tấm visa.

Một lối thoát.

Nhưng cha mẹ ông đã già và không thể đi cùng.

Vì thế, ông ở lại.

Chỉ vài tháng sau, Đức Quốc xã ập đến bắt tất cả.

Theresienstadt. Rồi Auschwitz. Rồi Dachau.

Bản thảo mà ông đã dành nhiều năm viết , được khâu cẩn thận vào lớp lót áo khoác ,bị giật mất chỉ vài giờ sau khi ông đến trại.

Công trình cả đời.

Mục đích sống.

Bị thiêu rụi thành tro.

Quần áo bị tước đi.

Tóc bị cạo sạch.

Tên tuổi bị xóa bỏ.

Trên tờ giấy nhập trại, chỉ còn một con số: 119104.

Nhưng có một điều mà lính canh không hiểu:

Bạn có thể lấy đi bản thảo của một người đàn ông.

Bạn có thể lấy đi tên tuổi của ông.

Bạn có thể lấy đi mọi thứ ông sở hữu.

Nhưng bạn không thể lấy đi điều ông biết.

Và Viktor Frankl biết một điều về tâm trí con người ,thứ đã giữ ông sống sót và khai sinh ra một cuộc cách mạng trong tâm lý học.

Ông nhận ra một quy luật.

Trong các trại tập trung, con người không chỉ chết vì đói hay bệnh tật.

Họ chết vì buông xuôi.

Khoảnh khắc một tù nhân đánh mất lý do để sống , cái “tại sao” của mình , cơ thể họ sẽ suy sụp chỉ trong vài ngày.

Các bác sĩ gọi hiện tượng này là: “bệnh bỏ cuộc”.

Nhưng những người bám víu vào một điều gì đó , một người vợ để tìm lại, một đứa con để gặp lại, một cuốn sách chưa viết xong, một món nợ cần trả, một lời hứa phải giữ họ chịu đựng được những đau khổ không tưởng.

Sự khác biệt không nằm ở thể lực.

Mà ở ý nghĩa sống.

Vì thế, Frankl bắt đầu một thí nghiệm.

Không phải trong phòng thí nghiệm.

Mà trong các barrack.

Ông tiếp cận những người đang bên bờ tuyệt vọng và thì thầm:

“Có ai đang chờ anh không?”

“Công việc nào của anh còn dang dở?”

“Nếu là con trai anh, anh sẽ nói gì để nó sống sót qua điều này?”

Ông không thể cho họ thức ăn.

Không thể hứa hẹn tự do.

Ông chẳng có gì vật chất để trao.

Nhưng ông trao cho họ thứ mà lính canh không bao giờ tịch thu được:

một lý do để sống đến ngày mai.

Một người nhớ đến con gái mình. Anh sống sót và tìm lại được con.

Một người khác nhớ đến một vấn đề khoa học còn dang dở. Anh sống sót để giải quyết nó.

Còn Frankl , ông sống sót bằng cách tái dựng bản thảo đã mất trong tâm trí, từng trang, từng đoạn, trong bóng tối của trại giam.

Tháng 4 năm 1945. Giải phóng.

Viktor Frankl chỉ còn nặng 38 kg.

Xương sườn lộ rõ dưới làn da.

Tilly đã mất.

Mẹ ông đã mất.

Anh trai ông đã mất.

Mọi thứ ông yêu thương đều đã bị sát hại.

Ông có mọi lý do để tuyệt vọng. Mọi lý do để buông xuôi.

Nhưng thay vào đó, ông ngồi xuống và bắt đầu viết.

Chín ngày.

Chỉ mất chín ngày để ông tái tạo toàn bộ bản thảo từ trí nhớ , bản thảo mà Đức Quốc xã đã phá hủy ba năm trước.

Nhưng lần này, nó có thêm một điều mà bản gốc chưa từng có:

Bằng chứng.

Bằng chứng sống động, không thể chối cãi rằng lý thuyết của ông là đúng.

Ông gọi nó là Liệu pháp ý nghĩa (Logotherapy) ,chữa lành bằng ý nghĩa sống.

Nền tảng của nó đơn giản nhưng mang tính cách mạng:

Con người có thể sống sót qua hầu như mọi thứ, nếu họ có một lý do “tại sao”.

“Ai có lý do để sống thì có thể chịu đựng gần như mọi hoàn cảnh.”

(Ông mượn câu nói của Nietzsche ,nhưng ông đã chứng minh nó trong địa ngục.)

Năm 1946. Cuốn sách được xuất bản.

Bản tiếng Đức có tựa đề:

“…trotzdem Ja zum Leben sagen”

“…Dẫu vậy, vẫn nói Có với cuộc đời.”

Bản tiếng Anh mang tên: “Man’s Search for Meaning”

(Đi tìm lẽ sống).

Ban đầu, thế giới chưa sẵn sàng đón nhận nó.

Nhiều nhà xuất bản từ chối:

“Quá u ám”, họ nói.

“Ai muốn đọc về trại tập trung chứ?”

Nhưng rồi, chậm rãi, lặng lẽ, cuốn sách lan tỏa.

Các nhà trị liệu đọc và bật khóc.

Tù nhân đọc và tìm thấy hy vọng.

Những người đối diện với ly hôn, bệnh tật, phá sản, trầm cảm ,họ đọc và nhận ra rằng nỗi đau của mình có thể mang ý nghĩa.

Tác động của nó là chấn động.

Cuốn sách được dịch ra hơn 50 ngôn ngữ.

Bán hơn 16 triệu bản.

Thư viện Quốc hội Mỹ xếp nó vào 10 cuốn sách có ảnh hưởng nhất tại Hoa Kỳ.

Nhưng điều quan trọng hơn những con số bán ra là điều này:

Vô số con người ,những người mà chúng ta sẽ không bao giờ biết tên — đã cầm cuốn sách này trong khoảnh khắc tăm tối nhất của đời mình và tìm được lý do để tiếp tục sống.

Bởi vì Viktor Frankl đã chứng minh một điều mà Đức Quốc xã muốn phủ nhận:

Bạn có thể tước đi mọi thứ của một con người —

tự do, gia đình, thức ăn, tương lai, hy vọng —

nhưng vẫn còn một tự do cuối cùng không ai có thể lấy được:

Tự do lựa chọn ý nghĩa của tất cả những điều đó.

Bạn không thể kiểm soát những gì xảy đến với mình.

Nhưng bạn luôn có thể kiểm soát cách bạn đối diện với nó.

Hôm nay, Viktor Frankl đã không còn.

Nhưng trong phòng bệnh, trong phòng trị liệu, trong nhà tù, trong những khoảnh khắc yên lặng khi ai đó đang phân vân giữa bỏ cuộc hay tiếp tục — lời của ông vẫn ở đó:

“Khi ta không còn khả năng thay đổi hoàn cảnh, ta được thách thức để thay đổi chính mình.”

“Mọi thứ có thể bị lấy đi khỏi một con người, ngoại trừ một điều:

tự do cuối cùng của con người ,lựa chọn thái độ của mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào.”

Đức Quốc xã cho ông một con số.

Lịch sử trao cho ông sự bất tử.

Bởi vì người đàn ông mất tất cả đã dạy cho thế giới rằng:

ý nghĩa là thứ không ai có thể cướp đi.

Tù nhân 119104 không chỉ sống sót.

Ông biến chính nỗi đau thành nguồn chữa lành.

Và đâu đó tối nay, sẽ có một người đang ở bên bờ sụp đổ đọc những dòng chữ của ông ,và quyết định cố gắng thêm một ngày nữa.

Đó không chỉ là sự sống sót.

Đó là chiến thắng trước cái chết.

Chia sẻ từ trang Native American Heritage

My Lan Phạm


 

CHỨNG “QUÊN TẠM THỜI” HAY CHỈ LÀ DẤU HIỆU CỦA TUỔI TÁC?

Những Câu Chuyện Thú Vị

Nếu bạn đã bước sang tuổi 50 hoặc hơn, đừng lướt qua nhé! Hãy dành chút thời gian đọc bài viết này…

Dạo gần đây, có bao giờ bạn đang nói chuyện bỗng dưng khựng lại vì quên mất mình định nói gì không? Trước đây, tôi rất sợ đó là dấu hiệu sớm của bệnh Alzheimer… nhưng sau khi đọc bài này, tôi đã hoàn toàn yên tâm.

Có một sự thật là: Nếu bạn còn nhận thức được mình đang gặp vấn đề về trí nhớ, thì đó CHƯA PHẢI là Alzheimer.

Tôi quên tên họ của người quen…

Tôi không nhớ mình đã cất đồ đạc ở đâu…

Ở những người từ 50 tuổi trở lên, việc phàn nàn về trí nhớ kém là chuyện rất thường tình. Thực tế là: “Thông tin vẫn nằm trong não bộ, chỉ là bộ vi xử lý (processor) của chúng ta đang chạy chậm lại một chút mà thôi.”

Y học gọi đây là chứng Anosognosie – hay đơn giản là sự “quên tạm thời”. Có đến một nửa số người trên 50 tuổi gặp phải các triệu chứng do tuổi tác hơn là do bệnh tật. Những trường hợp phổ biến nhất là:

Quên tên một người bạn mới gặp.

Đi vào một căn phòng rồi đứng ngẩn ngơ không nhớ mình vào đó để làm gì.

Đột nhiên “trắng bộ nhớ” khi định nhắc tên một bộ phim hay một diễn viên.

Tốn thời gian đi tìm kính mắt hoặc chìa khóa dù chúng vừa ở trên tay.

Sau tuổi 60, những biểu hiện này càng rõ rệt hơn. Nhưng hãy nhớ: đây là một đặc điểm của thời gian, không phải là bệnh lý.

Giáo sư Bruno Dubois, Giám đốc Viện Trí nhớ và Bệnh Alzheimer (IMMA), đã trấn an rằng: “Càng phàn nàn nhiều về việc mất trí nhớ, bạn càng ít có nguy cơ mắc các bệnh về trí nhớ thực sự. Bởi vì những người mắc bệnh Alzheimer thật sự thường không hề nhận ra những gì đang xảy ra với mình.”

BÀI KIỂM TRA THẦN KINH NHỎ

(Lưu ý: Chỉ dùng mắt để tìm nhé!)

  1. Tìm chữ C trong bảng dưới đây: OOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOCOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOO
  2. Nếu đã thấy chữ C, hãy tìm số 6 dưới đây: 999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999699999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999
  3. Cuối cùng, tìm chữ N (khó hơn một chút đấy): MMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMNMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMM

Kết quả: Nếu bạn vượt qua 3 bài test này một cách dễ dàng:

Chúc mừng! Bộ não của bạn vẫn đang hoạt động rất tốt.

Bạn có thể tạm quên việc đi khám thần kinh định kỳ đi.

Bạn còn cách Alzheimer rất xa!

Hãy chia sẻ thông tin này để người thân và bạn bè cùng yên tâm nhé!

TG Văn Chương


 

CỰU CHÁNH ÁN TAND CẤP CAO ĐÀ NẴNG BỊ BẮT: VẤN ĐỀ KHÔNG CHỈ NẰM Ở MỘT CÁ NHÂN

Chân Trời Mới Media

Việc bắt tạm giam cựu Chánh án TAND Cấp cao tại Đà Nẵng Nguyễn Văn Bường về tội “nhận hối lộ” đánh dấu bước mở rộng đáng chú ý của vụ án tham nhũng tư pháp nghiêm trọng tại Việt Nam những năm gần đây. Sự việc này phơi bày một mạng lưới “chạy án” có tổ chức, tồn tại xuyên suốt trong ban lãnh đạo cơ quan xét xử cao nhất khu vực miền Trung và Tây Nguyên.

Tính đến nay, toàn bộ dàn lãnh đạo chủ chốt của đơn vị này trong cùng giai đoạn công tác đều đã liên đới hình sự. Trước ông Bường, hai cựu Phó Chánh án là Phạm Việt Cường và Phạm Tấn Hoàng đã lần lượt nhận án 7 năm và 3 năm tù vào tháng 12/2025.

Từ hồ sơ vụ án cho thấy thực trạng đáng báo động của một “thị trường” môi giới tư pháp. Với quy mô hơn 11 tỷ đồng tang vật được xác định từ 20 vụ sai phạm. Có 16 trong số 20 vụ án thực hiện giao dịch qua ngân hàng điện tử với giá trị mỗi lần chuyển từ vài trăm triệu đến vài tỷ đồng, cho thấy sự tự tin của các đối tượng trước các cơ chế kiểm soát dòng tiền. Hình thành mạng lưới trung gian phức tạp tác động vào kết quả án hình sự, dân sự và thương mại. Có trường hợp cần tới 5 cấp môi giới để thực hiện hành vi.

Việc một loạt cán bộ tư pháp cấp cao bị xử lý hình sự trong cùng một chuỗi vụ án đang đặt ra những câu hỏi về hiệu quả của cơ chế giám sát nội bộ trong hệ thống tòa án, cơ chế kiểm soát quyền lực và minh bạch của ngành tư pháp. Đặc biệt ở các cấp có thẩm quyền xét xử cao nhất, khi các sai phạm kéo dài nhiều năm và liên quan đến nhiều địa phương.

#chantroimoi


 

Giáo Chủ Ali Khamenei trước chén rượu độc-Trúc Phương/Người Việt

Ba’o Nguoi-Viet

January 19, 2026

Trúc Phương/Người Việt

Trong khi bộ máy an ninh Iran truy bắt và giết ít nhất 5,000 người biểu tình tính đến ngày 18 Tháng Giêng, bản thân Giáo Chủ (Ayatollah) Ali Khamenei 86 tuổi phải trốn mất biệt vào hầm bí mật. Ông luôn là mục tiêu số một của điệp viên Mossad (Israel); và với sự kiện biệt kích Mỹ bắt sống Tổng Thống Venezuela Nicolás Maduro vẫn còn nóng hổi, Ali Khamenei càng phải trốn kỹ. Tuy nhiên, việc bảo vệ sinh mạng Ali Khamenei xem ra còn dễ hơn so với việc bảo vệ một chế độ đang chao đảo trên bờ vực.

Một người biểu tình ở London, Anh Quốc, hôm 14 Tháng Giêng, đốt hình Giáo Chủ Ali Khamenei. (Hình minh họa: Dan Kitwood/Getty Images)

Chén rượu khó nuốt

Lịch sử Iran đang đứng trước khúc quanh định mệnh. Sau gần bốn thập niên cầm quyền, Giáo Chủ Ali Khamenei – người nắm giữ quyền lực tuyệt đối tại quốc gia Hồi Giáo này – đang đối mặt với những thách thức mang tính tồn vong mà ngay cả những người lạc quan nhất trong hàng ngũ trung thành cũng phải lo sợ. Chế độ thần quyền mà Ali Khamenei xây dựng, dựa vào nền móng “bê tông cốt thép” của người tiền nhiệm – Giáo Chủ Ruhollah Khomeini – tưởng vững như bàn thạch giờ đây đang rung bần bật từng ngày trước cơn địa chấn phẫn nộ của hàng triệu người dân.

Khi Giáo Chủ Khomeini qua đời năm 1989, Ali Khamenei – tổng thống Iran từ 1981 đến 1989 – nổi lên như ứng cử viên bộ máy thần quyền ủng hộ cho vị trí lãnh đạo tối cao. Là giáo sĩ cấp trung, Ali Khamenei thiếu những bằng cấp tôn giáo cao quý cần thiết cho vai trò mới. Do vậy, giới tăng lữ đã phong ông làm “ayatollah” (giáo chủ, không phải “đại giáo chủ” – grand ayatollah – như một số báo viết). Năm 1994, ông được nâng lên vị trí “marja” – một “giáo hoàng” trong thế giới Hồi Giáo, được xem là “tấm gương” để tất cả tín đồ Hồi giáo noi theo. Ngoài ra, Ali Khamenei còn mang danh hiệu “Vali Faqih” – người giám hộ cao nhất của đức tin Hồi Giáo Shia.

Khi quyền lực trong tay, Ali Khamenei trở thành tiếng nói cuối cùng trong mọi vấn đề. Ông kiểm soát tuyệt đối hệ thống tư pháp; bổ nhiệm người đứng đầu đài truyền hình nhà nước; đích thân chọn các thành viên Hội Đồng Giám Hộ chịu trách nhiệm xem xét các ứng cử viên “dân cử.” Ali Khamenei cũng bổ nhiệm các vị trí chủ chốt trong nội các, đặc biệt bộ trưởng Nội Vụ, Quốc Phòng, Ngoại Giao và Tình Báo. Bộ máy chỉ huy Lực Lượng Vệ Binh Cách Mạng và Basij (lực lượng vũ trang được thành lập như một kiểu dân quân) cũng phải được ông chỉ định.

Bằng cách này, Ali Khamenei vượt qua mọi bão táp thời đại suốt gần 40 năm, từ áp lực cấm vận của phương Tây đến nhiều đợt nổi dậy của người dân. Tuy nhiên, lần này, ngay cả khi lực lượng an ninh có thể dập tắt làn sóng biểu tình, Ali Khamenei cũng đang cạn kiệt khả năng xoay sở chính trị. Nếu không chấp nhận thỏa hiệp và thay đổi, ông sẽ đối mặt với hiểm họa mà không chỉ cá nhân ông không thể toàn mạng mà chế độ thần quyền cũng có nguy cơ sụp đổ.

Iran chỉ có thể giải quyết các vấn đề kinh tế – nguyên nhân dẫn đến sự phẫn nộ công chúng – nếu các lệnh trừng phạt quốc tế được dỡ bỏ. Để có điều này, trước hết Ali Khamenei phải giảm hoặc ngưng các chương trình phát triển nguyên tử năng. Tuy nhiên, việc từ bỏ chương trình nguyên tử năng không khác gì giương cờ đầu hàng. Tình cảnh Ali Khamenei khiến người ta nhớ đến một quyết định khó khăn mà người tiền nhiệm của ông, Giáo Chủ Ruhollah Khomeini, từng đối mặt. Lúc đó, Ruhollah Khomeini mô tả viễn cảnh một thỏa thuận ngừng bắn với Iraq là điều nhục nhã chẳng khác gì bị ép phải uống chén rượu độc. Cuối cùng, Ruhollah Khomeini phải “uống,” khi không có lựa chọn nào khác ngoài việc ngừng chiến với Iraq vào năm 1988 sau tám năm giao tranh tàn khốc.

Ai thay thế Ali Khamenei?

Áp lực nội tại lên Teheran là rất lớn. Không chỉ chính trị. Tháng Mười Một, Tổng Thống Masoud Pezeshkian nói rằng Iran có thể phải “dời đô” vì Teheran gần như không thể chịu nổi cuộc khủng hoảng nguồn nước. Dù là một trong những quốc gia giàu dầu mỏ nhất thế giới, Iran không còn khả năng cung cấp điện cho người dân 24 giờ một ngày. Tổng Thống Pezeshkian phải thốt lên: “Ai làm được gì thì làm đi. Tôi chịu hết nổi rồi. Đừng nguyền rủa tôi.”

Tình hình kinh tế tồi tệ xảy ra đúng vào thời điểm “vận rủi” liên tục bủa vây Ali Khamenei, đặc biệt từ sau cuộc tấn công của Hamas vào Israel ngày 7 Tháng Mười, 2023. Chiến dịch quân sự trả đũa khốc liệt của Israel và Mỹ đã gây thiệt hại vô kể cho Iran. Nhiều nhân vật thân cận Ali Khamenei bị giết. Các nhà máy nguyên tử năng bị phá tan tành. Một trong những đồng minh quan trọng nhất của Ali Khamenei – Tổng Thống Syria Bashar al-Assad – phải trốn sang Nga.

Muốn hay không, người ta không thể không tính đến “hậu sự” cho Ali Khamenei. Lãnh đạo đầu tiên của Cộng Hòa Hồi Giáo Iran, Ruhollah Khomeini, qua đời ở tuổi 86. Ali Khamenei bước sang tuổi 87 vào Tháng Tư. Vấn đề là việc thay thế nhà lãnh đạo tối cao không hề đơn giản.

Ali Khamenei không phải là một “viên chức” hay “nguyên thủ.” Ông là nhân vật tôn giáo, tự nhận mình có vị thế chẳng khác gì Giáo Hoàng Công Giáo, cai quản hàng triệu người Hồi Giáo Shia khắp thế giới. Hàng chục năm qua, không chỉ cai trị quốc gia bằng bàn tay sắt, Ali Khamenei còn loại bỏ bất kỳ giáo sĩ nào có thể tranh giành vị trí “ayatollah.” Hiện khoảng 20% cử tri trong 61 triệu dân vẫn trung thành ủng hộ chế độ thần quyền.

Bản thân Ali Khamenei ý thức được sự mong manh của ông. Giữa năm 2025, khi chiến dịch ám sát của Israel khiến nhiều viên chức cấp cao Iran thiệt mạng, từ trong hầm trú bí mật, Ali Khamenei đã chọn người thay thế ông (“Sheltering in a Bunker, Iran’s Supreme Leader Prepares for the Worst”/The New York Times). Ông đã chỉ thị Hội Đồng Chuyên Gia (Majles-e Khobregan – cơ quan đặc biệt có vai trò then chốt trong cấu trúc quyền lực của Cộng Hòa Hồi Giáo Iran) chọn người kế nhiệm từ ba cái tên mà ông đưa ra. Chẳng ai có thể biết chính xác người nào đã được chọn.

Hội Đồng Chuyên Gia (Majles-e Khobregan) gồm 88 giáo sĩ được chọn ra trong các cuộc bầu cử toàn quốc tám năm một lần. Một nguồn tin chính trị cấp cao ở Teheran nói với Amwaj.media: “Khi Imam [lãnh đạo cách mạng Ayatollah Ruhollah Khomeini] qua đời [năm 1989], người kế nhiệm đã được bầu trong vòng 24 giờ. Chúng tôi có các thủ tục sẵn có, chẳng hạn triệu tập một hội đồng để chọn người kế nhiệm, để bảo đảm quá trình chuyển giao có trật tự.”

Vấn đề kế vị giáo chủ Iran luôn là chủ đề tế nhị và gai góc, gần như không bao giờ được thảo luận công khai ngoài những suy đoán và tin đồn hành lang. Theo The New York Times, con trai của Giáo Chủ Ali Khamenei, Mojtaba – bản thân cũng là giáo sĩ và rất thân cận với Lực Lượng Vệ Binh Cách Mạng Hồi Giáo, từng được đồn đoán là ứng cử viên hàng đầu – không nằm trong danh sách này. Cựu Tổng Thống Ibrahim Raisi, trước đây cũng được xem là ứng cử viên sáng giá, nhưng ông đã thiệt mạng trong một tai nạn trực thăng vào năm 2024.

Iran giai đoạn “hậu Ali Khamenei”

Một khi Ali Khamenei ra đi, chuyện gì sẽ xảy ra? Theo Karim Sadjadpour (thuộc Carnegie Endowment for International Peace) trong bài viết trên Foreign Affairs (“The Autumn of the Ayatollahs”), hệ tư tưởng toàn trị của Cộng Hòa Hồi Giáo có thể sụp đổ thành chủ nghĩa độc tài chuyên chế vốn là đặc trưng của nước Nga hậu Xô Viết. Hoặc Iran tương tự Trung Quốc sau cái chết Mao Trạch Đông, tức tái điều chỉnh hệ thống bằng cách thay thế hệ tư tưởng cứng nhắc bằng lợi ích quốc gia thực dụng. Tuy vậy, Teheran cũng có thể tiếp tục cai trị bằng bàn tay sắt và duy trì chính sách cô lập, với mức độ thậm chí nghiêm trọng hơn, tương tự Bắc Hàn.

Trước mắt, có vẻ như Iran khó có thể chứng kiến làn sóng dân chủ. Điều này một phần do yếu tố lịch sử của họ. Trong quá khứ, Iran luôn tự hào họ thừa kế một đế chế vĩ đại nhưng lại bị nhiều vết nhục lịch sử “ám quẻ” lên dân tộc mình. Thế kỷ 19, Iran mất gần một nửa lãnh thổ vào tay những láng giềng hung hãn và phải nhượng lại cho Nga vùng Caucasus (trong đó có Armenia, Azerbaijan, Georgia và Dagestan ngày nay), rồi nhường Herat cho Afghanistan dưới áp lực của Anh. Đến đầu thế kỷ 20, Nga và Anh lại chia cắt Iran thành những khu vực riêng của họ. Còn nữa, năm 1953, Mỹ và Anh đã dàn dựng cuộc đảo chính lật đổ Thủ Tướng Mohammad Mosaddeq.

Với những thăng trầm như vậy, Iran sản sinh nhiều thế hệ lãnh đạo luôn nghi kỵ. Họ nhìn thấy âm mưu mọi nơi, trong lẫn ngoài. Ở Trung Đông, Teheran luôn có thái độ dè chừng với láng giềng. Với phương Tây, họ càng ác cảm, đặc biệt Mỹ, nơi từng “chơi” họ nhiều vố đau điếng trong quá khứ lẫn luôn có thái độ thù địch với họ ở hiện tại. Tâm lý nghi kỵ này ăn sâu vào huyết mạch nền chính trị Iran. Nó giải thích một phần lý do tại sao Iran chọn đứng một mình.

Quá trình chuyển đổi chế độ độc tài thường khó đoán. Dù vậy, cái chết hoặc sự mất khả năng điều hành của Ali Khamenei chắc chắn là yếu tố kích hoạt mạnh nhất cho sự thay đổi, đặc biệt trong bối cảnh Iran hứng chịu các cú sốc bên ngoài lẫn bên trong. Vấn đề bây giờ không phải là người Iran có thật sự muốn thay đổi hay không mà là không có ai để họ có thể tin và dựa vào. Phe đối lập gần như không tồn tại ở đất nước này.

Với Ali Khamenei, có thể ông sẽ không giống người tiền nhiệm Ruhollah Khomeini. Cho đến thời điểm này, có vẻ như Ali Khamenei sẵn sàng đá văng chén rượu độc trước mặt. Ông chấp nhận “đấu” đến cùng với người dân mình lẫn với ngoại bang còn hơn chịu thỏa hiệp để thay đổi. [kn]


 

Khi tôi mang thai, các bác sĩ đã nói rõ ràng về rủi ro

Chi NguyenNhững Câu Chuyện Thú Vị

Bởi vì chúng tôi lã những người lùn, các bác sĩ đã cảnh báo chúng tôi không hy vọng – nhưng con gái chúng tôi đã phớt lờ mọi dự đoán đó…

Evan và tôi đều sinh ra với gen lùn. Khi tôi mang thai, các bác sĩ đã nói rõ ràng về rủi ro. Cơ thể của tôi không được xây dựng để mang thai dễ dàng. Có vẻ như là những phức tạp.Vấn đề giải phẫu được thảo luận sớm. Mỗi cuộc hẹn đều có cảnh báo và kế hoạch dự phòng. Chúng tôi đã có một quyết định để đưa raTránh xa thai kỳ – hoặc chấp nhận rủi ro và trở thành cha mẹ Chúng tôi đã chọn tiếp tục. Việc có bầu đã được theo dõi chặt chẽ. Tôi đã nhập viện hai lần. Quinn về nhỏ nhưng ổn định, giao theo kế hoạch phẫu thuật.

Sau sinh, có chuyện bất ngờ đã xảy ra Quinn phát triển với tỷ lệ điển hình. Lượt truy cập tiếp theo trở nên ít thường xuyên hơn. Các kế hoạch y tế đã bị bỏ đi một cách lặng lẽ. Bước ngoặt đã tới khi bác sĩ chuyên khoa nhi của chúng tôi cho biết con gái tôi đã ra khỏi việc giám sát đặc biệt…

Hôm nay Quinn cao hơn cả hai chúng tôi và sống khoẻ mạnh như bao đứa trẻ bình thường khác …

(Giờ Thì Bạn Biết Rồi)

ST.


 

Triết gia Nga khuyên Putin hãy quăng bỏ luật quốc tế như ý Trump

Hai Phan

Triết gia Nga khuyên Putin hãy quăng bỏ luật quốc tế như ý Trump: chia 3 thế giới, sẵn sàng bom nguyên tử, đưa xe tăng Nga chiếm thêm 7 nước Armenia, Georgia, Azerbaijan, Kazakhstan, Uzbekistan, Tajikistan và Kyrgyzstan bên cạnh Ukraine.

Theo tin từ báo The Daily Express: Nga được khuyên “hãy quăng bỏ luật pháp quốc tế” và hãy tuyên bố chủ quyền đối với những vùng đất mới trong kế hoạch bành trướng mới. Bài viết của hai phóng viên Will Stewart, John O’Sullivan.

Đồng minh trí thức khét tiếng nhất của Vladimir Putin đã công khai tuyên bố Nga nên xâm lược thêm bảy quốc gia có chủ quyền khác ngoài Ukraine.

Alexander Dugin – nhà tư tưởng cực đoan thường được gọi là “bộ não của Putin” – lập luận rằng Điện Kremlin phải tận dụng tham vọng của Donald Trump đối với Greenland làm lý do để tạo ra một đế chế Nga mở rộng rộng lớn.

Nhà triết học này đã thúc giục Moscow xây dựng lại phần lớn Liên Xô cũ và cố tình từ bỏ các chuẩn mực pháp lý toàn cầu trong quá trình đó. Dugin thậm chí còn ám chỉ sẵn sàng sử dụng vũ lực hạt nhân để đạt được mục tiêu của Nga. Điều này diễn ra sau khi một người đọc khẩu hình tiết lộ lời hứa 3 từ đáng sợ mà Donald Trump đã thì thầm vào tai Vladimir Putin.

“Nga buộc phải làm điều gì đó khủng khiếp để khôi phục uy tín của mình,” Dugin viết trên X.

“Thật đáng buồn khi chúng ta phải sử dụng những lập luận như vậy. Nhưng chúng ta không có lựa chọn nào khác. Chỉ có sự tàn bạo, vũ lực, sự hủy diệt hàng loạt và sự tàn ác mới có ý nghĩa trong thế giới kiểu Trump.”

Theo những gì ông mô tả là một trật tự toàn cầu mới do Trump dẫn dắt, Dugin nói rằng các sư đoàn thiết giáp của Nga nên tiến vào Armenia, Georgia, Azerbaijan, Kazakhstan, Uzbekistan, Tajikistan và Kyrgyzstan – các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ hiện là các quốc gia độc lập. Ông tuyên bố việc sáp nhập các quốc gia này sẽ giúp Nga có thêm 27% lãnh thổ so với toàn bộ Liên minh châu Âu, đồng thời đảm bảo quyền tiếp cận các nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ.

Dugin tuyên bố: “Trong tình huống này, chúng ta không có lựa chọn nào khác ngoài việc tuyên bố Nga là một đế chế [và] vứt bỏ luật pháp quốc tế. Bây giờ tất cả những gì còn lại là thừa nhận [thực tế mới] và bắt đầu hành động – tôi sẽ nói, giống như Trump, bởi vì chúng ta không có lựa chọn nào khác.

“Vì vậy, ông ấy nói, ‘Đây là lãnh thổ của tôi, nó sẽ thuộc về Mỹ’. Và chúng ta nói, ‘Đây là lãnh thổ của chúng ta; nó sẽ thuộc về Nga, Á-Âu’. Ông ấy nói, ‘Chúng ta đang khẳng định sự thống trị ở Tây bán cầu’. Chúng ta nên nói, ‘Và chúng ta, cùng với Trung Quốc và Ấn Độ, chẳng hạn, tuyên bố sự thống trị của chúng ta đối với Đông bán cầu’.

“Vì vậy, phương Tây dành cho người phương Tây, và phương Đông dành cho người phương Đông.” Và đó là tất cả.”

Nhà lý luận theo chủ nghĩa dân tộc – từ lâu được coi là kiến ​​trúc sư tinh thần cho thế giới quan địa chính trị cực đoan của Putin – khẳng định Nga phải trở thành một cực quyền lực thống trị trong hệ thống toàn cầu đang bị chia rẽ.

“Mục tiêu của chúng ta là tồn tại, trở thành trung tâm quyền lực quan trọng nhất trong thế giới ba cực này – chủ quyền, tự do, độc lập và rộng lớn,” ông nói với nhà báo Mikhail Kuznetsov.

“Và bất kỳ lãnh thổ nào chúng ta không kiểm soát sẽ không giữ được vị thế trung lập, chúng sẽ không trở thành những Thụy Sĩ yên bình, ngọt ngào. Chúng sẽ trở thành tiền đồn của các cực khác, và trước hết là của cực gây xung đột nhất – Hoa Kỳ.

“Vì vậy, chúng ta không thể chấp nhận sự tồn tại của một Armenia có chủ quyền, hay một Georgia có chủ quyền, hay một Azerbaijan có chủ quyền, một Kazakhstan có chủ quyền, một Uzbekistan, Tajikistan, hay Kyrgyzstan có chủ quyền.

“Không có gì có chủ quyền có thể tồn tại trong mô hình mới này. Hoặc chúng sẽ nằm dưới sự kiểm soát của chúng ta, trong phe của chúng ta, là một phần của Liên minh thống nhất của chúng ta, hoặc chúng sẽ trở thành chỗ đứng cho phương Tây.

“Liên minh châu Âu, hoặc Mỹ, hoặc, trong một số trường hợp nhất định, Trung Quốc.”

Những bình luận của Dugin được đưa ra khi Putin tiếp tục cuộc xâm lược Ukraine trong khi bác bỏ các nỗ lực hòa bình do Mỹ hậu thuẫn. Chúng cũng xuất hiện giữa lúc Nga ngày càng mất ảnh hưởng ngoài phạm vi ảnh hưởng trực tiếp của mình, với các đồng minh cũ như Syria, Venezuela và ngày càng cả Iran đang dần xa rời.

Ông đã kêu gọi Putin chính thức tuyên bố “Học thuyết Monroe Á-Âu – ‘Á-Âu cho người Á-Âu'” và cảnh báo chống lại việc phản đối Trump bằng luật pháp quốc tế.

Thay vào đó, nhà lãnh đạo Kremlin phải “tham gia vào việc phân chia lại thế giới này”. Dugin hình dung một tương lai bị chi phối bởi ba cường quốc toàn cầu: Nga, Trung Quốc và Hoa Kỳ.

“Nhân tiện, số phận của châu Âu hoàn toàn không thể đoán trước được, bởi vì cuộc chiến tiếp theo sẽ là giữa Mỹ và NATO, tức là về Greenland. Ít nhất, đó là điều mà Liên minh châu Âu muốn,” ông tuyên bố.

Dugin hiện đang lãnh đạo Trường Chính trị Cao cấp Ilyin (Ilyin Higher Political School) và Phong trào Á-Âu Quốc tế (International Eurasian Movement). Vào tháng 8 năm 2022, con gái ông, Darya Dugina, 29 tuổi – một nhân vật truyền thông nổi bật ủng hộ Kremlin – đã thiệt mạng trong một vụ đánh bom xe gần Moscow, một vụ tấn công mà các quan chức Nga đổ lỗi cho các đặc vụ Ukraine.

Các nhà điều tra tin rằng chính Dugin có thể là mục tiêu được nhắm đến.

XEN XEM: https://vietbao.com/a324292/t


 

GIỚI THIỆU CHÚA KITÔ – ĐGM Vũ Duy Thống

 ĐGM Vũ Duy Thống

Nếu khởi đầu Mùa Quanh Năm là sự nhận diện thiên tính của Chúa Giêsu khi Người chịu phép Rửa nơi sông Giođan và cũng là nhận diện phẩm giá Kitô hữu khởi đi từ ngày họ lãnh phép Rửa Tội, thì Chúa Nhật thứ hai Thường Niên được xem như một khai triển phẩm giá ấy về mặt sứ vụ.  Thật vậy, đảm nhận cuộc sống làm người và đón nhận cuộc đời làm con Chúa, tín hữu không chỉ sống đơn lẻ mà còn sống giữa những người khác, thế nên nét tươi tắn nhất trong sứ vụ của họ là giới thiệu Chúa Kitô cho những kẻ xung quanh mình.  Nhưng vấn đề là phải làm sao để giới thiệu Chúa Kitô cho có hiệu quả. 

Dựa trên trang Tin Mừng hôm nay về việc Gioan Tẩy Giả giới thiệu Chúa Kitô cho những kẻ đương thời, ta gặp thấy những tiêu chuẩn xác định hiệu quả cho việc giới thiệu ấy. 

1) Giới thiệu Chúa Kitô bằng kinh nghiệm bản thân 

Đây là tiêu chuẩn quan trọng có khả năng đi vào lòng người, bởi lẽ “con người hôm nay ít thích nghe những lời dạy cho bằng nghe những chứng tá” (Gioan Phaolô II).  Nếu chỉ giới thiệu Đức Kitô như một học thuyết, thì dẫu chủ quan mình có nắm vững và say mê, Đức Kitô ấy vẫn chỉ là một lý tưởng còn xa lạ chưa đụng chạm thiết thực với đời người.  Nếu chỉ giới thiệu Đức Kitô như một hệ thống tín điều, thì dù cho có xác tín đến đâu, Đức Kitô ấy vẫn còn xa vời, chưa phải là điểm quy chiếu thiết thân cho cuộc sống. 

Thế nên, tiêu chuẩn hàng đầu là cần giới thiệu Đức Kitô như một Đấng mà mình đã tiếp cận, gặp gỡ và kết thân.  Hiện nay mình đang sống trong Người như kiểu nói của thánh Phaolô: “Tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi,” và do thúc bách bởi sự sống ấy mà mình giới thiệu Người cho người khác.  Người là khởi điểm đồng thời cũng là đích điểm cho việc giới thiệu này.

Với kinh nghiệm bản thân, ta giới thiệu sự xác tín của ta vào Đức Kitô và đó cũng chính là sự khả tín của điều ta giới thiệu. 

Gioan Tẩy Giả trong Tin Mừng đã không làm điều gì khác ngoài việc giới thiệu qua chứng từ về một kinh nghiệm ở ngôi thứ nhất số ít: “Tôi đã thấy và tôi xin làm chứng.” 

2) Giới thiệu Đức Kitô là Đấng Cứu Độ 

Có một thực tế không thể phủ nhận là khi giới thiệu Đức Kitô, thường ta hay rơi vào một trong hai thái cực: 

Hoặc quá chủ quan: giới thiệu một Chúa Kitô không như Người như mình tưởng, mình nghĩ.  Coi chừng!  Thiên Chúa tạo dựng con người “giống hình ảnh Thiên Chúa”, nhưng xem ra con người lại có khuynh hướng nắn đúc một Thiên Chúa theo như mình nghĩ, “giống hình ảnh con người.”  Có lẽ chuyện dân Do Thái ở Ai Cập năm xưa lấy hình ảnh bò vàng làm tượng thờ phải được xem như một kinh nghiệm đau lòng. 

Hoặc quá chung chung: giới thiệu một Chúa Kitô không minh bạch xác đáng, có nguy cơ giản lược đánh đồng coi Kitô giáo cũng chỉ là một trong nhiều tôn giáo ngang hàng, và Đức Kitô không còn là Đấng Cứu Độ duy nhất nữa.  Có lần đến thăm nhà một tân tòng, tôi gặp thấy cảnh tổng hợp nhiêu khê: truyền thống gia đình ông bà cha mẹ theo Phật Giáo, con trai theo Tin Lành, cô gái vào Công Giáo, còn cậu em là đối tượng một đảng nên không theo tôn giáo nào.  Bà mẹ gia đình nói trổng như muốn phân bua về việc tự do chọn lựa niềm tin của con cái: “Ôi! Đạo nào cũng tốt, đều dạy ăn ngay ở lành cả ấy mà.”  Trong suy nghĩ của người mẹ này, Đức Kitô cũng ngồi chung chiếu với những vị cổ võ đạo đức nhân sinh.  Thế thôi. 

Thiết nghĩ, giới thiệu Đức Kitô là phải trình bày cho thấy Người là Thiên Chúa cứu rỗi nhân loại, là Đấng Cứu Độ trần gian, là Đấng từ trời xuống để đem ơn giải thoát đến tất cả mọi người và đạt tới từng người.  Nét độc sáng của Kitô giáo chính là đây.  Và Đức Kitô sở dĩ thiết thân đối với người đời bởi Người chính là Đấng Cứu Thế. 

Gioan Tẩy Giả trong Tin Mừng đã dứt khoát giới thiệu Đức Kitô cho dân chúng bằng một hình ảnh đặc biệt cho thấy Người là Đấng Cứu Độ: “Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian.” 

3) Giới thiệu Đức Kitô nhờ Thánh Thần 

Giới thiệu Đức Kitô là công cuộc dài hơi, thậm chí là công việc một đời, vì thế đòi hỏi người giới thiệu không chỉ như kẻ chào hàng tiếp thị, mà phải đầu tư để học biết và học hiểu, học tập và học hành, học ngang và học dọc, học tới và học lui; nghĩa là phải nỗ lực hợp tác với ơn thánh bằng vận dụng hết công suất những khả năng Chúa ban mà chu toàn nghĩa vụ cũng là ý nghĩa cuộc đời mình.  Ngày nào còn là Kitô hữu, ngày đó còn phải gắn bó và giới thiệu Đức Kitô cho người khác.  Đó là yếu tố thuộc về căn tính. 

Giới thiệu Đức Kitô cũng là một công trình thuộc về sứ vụ truyền giáo của mọi thành viên trong Giáo Hội, nghĩa là thuộc về lẽ công bình.  Ai đã nhận được lẽ sống Đức Kitô thì cũng canh cánh bên lòng một đòi buộc phải tiếp nối sứ mạng giới thiệu sự sống ấy cho những người mình gặp gỡ trong mọi cảnh ngộ cuộc đời.  Chả thế mà sứ vụ cũng đồng nghĩa với sự lên đường.  Đồng quà tấm bánh có thể giữ lại chứ sự sống mà giữ lại thì cũng đồng nghĩa với sự thui chột ngột ngạt ngay trong vòng tay ôm chặt của người sở hữu. 

Giới thiệu Đức Kitô như thế cũng là cuộc hiến thân làm chứng, đón nhận hy sinh, chấp nhận thiệt thòi, quên mình xóa mình, thao thức miệt mài, “làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm.”  Không dễ dàng, không dễ dãi và không dễ chịu.  Thế nên đó là một công trình sức người tự mình không làm nổi ngoài ơn của Thánh Thần.  Vả chăng chính Thánh Thần mới giữ vai trò chủ động trong công trình lớn lao này, còn con người dẫu hết lòng hết sức cũng chỉ là dụng cụ góp phần. 

Nếu hôm qua Gioan Tẩy Giả trong Tin Mừng đã dựa vào dấu chỉ Thánh Thần để nhận biết Đấng Cứu Thế: “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì đó chính là Đấng làm phép Rửa trong Thánh Thần”, thì hôm nay tín hữu cũng dựa vào Thánh Thần để chu toàn sứ mạng giới thiệu Đức Kitô cho người đồng thời với mình. 

Tóm lại, giới thiệu Chúa Kitô bằng kinh nghiệm bản thân, giới thiệu Chúa Kitô là Đấng Cứu Thế và giới thiệu Chúa Kitô nhờ Thánh Thần.  Đó là những tiêu chuẩn giúp cho việc giới thiệu này mang lại hiệu quả mong muốn. 

Vì thế, Kitô hữu không chỉ là người mang Chúa Kitô trong mình, không chỉ thuộc về Chúa Kitô mà còn là người phải giới thiệu Chúa Kitô cũng như biết cách giới thiệu Chúa Kitô làm sao cho có hiệu quả nữa.  Như một người chào hàng không mệt mỏi, như một chứng nhân luôn trung thành, và như một lẽ sống hạnh phúc, ta quyết chí lên đường. 

Trong buổi chia sẻ của những tân tòng lớp trước dành cho lớp sau, một cô gái mười sáu tuổi đã chân thành cho biết lý do mình gia nhập đạo Công Giáo: “Tôi theo đạo vì lúc nhỏ học chung với một người bạn Công Giáo.  Bạn ấy rủ tôi đi lễ, tôi đi theo dẫu chẳng hiểu gì.  Nhưng vì bạn ấy đối xử tốt với tôi, nhất là trong những lúc ngặt nghèo, nên qua gương sống đức tin của bạn ấy, dần dà tôi hiểu ra lẽ đạo và cuối cùng tôi tìm đến với lớp giáo lý khai tâm, và hôm nay được nhận Bí tích Thanh Tẩy.” 

Mong rằng đây không chỉ là chuyện cá biệt mà là chuyện điển hình đã được nhân lên trong mọi cộng đoàn tín hữu. 

ĐGM Vũ Duy Thống

From: Langthangchieutim


 

CƠN ĐÓI BIẾT NÓI – Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

“Đavít đã làm gì, khi ông và thuộc hạ bị thiếu thốn và đói bụng?”.

“Một cái bụng đói thì không thể lắng nghe!” – La Fontaine.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay tiết lộ những gì mà một ‘cơn đói biết nói’ dám nói. Rất hiện sinh – các môn đệ đói nên bứt lúa mà ăn – vì “Một cái bụng đói thì không thể lắng nghe!”.

Ở đây, ‘cơn đói biết nói’ không chỉ nói đến cái bụng trống, mà còn nói về những khoảng rỗng khác trong đời sống đức tin: đói được cảm thông, được đón nhận, sống thật với chính mình. Chúng ta đến nhà thờ rất đúng giờ, giữ tốt mọi quy định, nhưng lại mang trong lòng những cơn đói không ai hỏi tới. Chúng ta thấy người khác “không đúng”, liền xét đoán, mà quên hỏi – phải chăng họ đang đói một điều gì đó? Vấn đề không nằm ở chỗ luật sai, mà ở chỗ con người dùng luật để khỏi chạm vào “nỗi thiếu của nhau”, để tự hỏi, “Ai đang cần được cứu?”. Bấy giờ, Kitô giáo trở thành một thứ “tôn giáo trang điểm” – không nhìn thấy những con người đang rách nát – cả xác lẫn hồn – ngay trước mắt mình!

‘Cơn đói biết nói’ còn nói với chính chúng ta về những khát khao mà mỗi người cố giữ cho im lặng: khát được nghỉ ngơi, khát được thở, được yếu đuối mà không bị phán xét. “Sự yếu đuối là ngôn ngữ của tâm hồn và là tiếng nói của trái tim!” – Virginia Burges. Nhiều lúc, chúng ta giữ cho nhịp sinh hoạt đều đặn, chu toàn các bổn phận, nhưng trong lòng thì đã cạn khô; và vì sợ bị coi là thiếu sốt sắng, chúng ta không dám để cho những cơn đói ấy lên tiếng. Chúng ta chọn im lặng, rồi dần dần, thôi không còn mong được ai lắng nghe, cũng như không còn biết đến nhu cầu của ai khác.

Chính ở đó, lời Chúa Giêsu vang lên như một lời giải phóng, “Con Người làm chủ luôn cả ngày Sabbat”; nghĩa là, không thực hành tôn giáo nào được phép trói buộc con người chịu đựng một tình trạng sống trong cô độc; Sabbat không là nơi để che giấu những thiếu thốn, mà là nơi để sự sống được ưu tiên! Luật “được giữ” không bao giờ quan trọng hơn việc được sống; luật “được đúng” không bao giờ quý hơn việc được chữa lành. Nếu một cộng đoàn chỉ giúp làm tròn các nghi thức nhưng không giúp bớt cô đơn, thì có lẽ, Giáo Hội đang có đủ lễ nghi mà thiếu một trái tim!

Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay không chỉ kể lại một chuyện xưa về những bông lúa vào một ngày Sabbat. Tin Mừng đang hỏi chúng ta, giữa bao nhiêu điều phải giữ, bạn và tôi có còn đủ tự do để nghe tiếng của những cơn đói đang cần được đáp lại? Cơn đói của người bên cạnh, và cả cơn đói – rất kín kẽ – trong chính lòng mình. Bởi lẽ, rất có thể, từ những tiếng nói mong manh ấy, Thiên Chúa đang chờ được nhận ra – không trong sự hoàn hảo của hình thức, mà trong sự thật của những thân phận đang khao khát được sống. “Được lắng nghe gần như là được yêu – đến nỗi với người bình thường, hai điều ấy hầu như không thể phân biệt!” – David Augsburger.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con mệt, cho con được ở lại trong Ngài; khi con đói, cho con biết đói mà không xấu hổ. Để con có thể ở lại bên những ai không còn sức!”, Amen.

Lm. Minh Anh,Tgp. Huế

****************************************************

Lời Chúa Thứ Ba Tuần II Thường Niên, Năm Chẵn

Ngày sa-bát được tạo nên cho con người, chứ không phải con người cho ngày sa-bát.

✠Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô. Mc 2,23-28

23 Vào một ngày sa-bát, Đức Giê-su đi băng qua cánh đồng lúa. Dọc đường, các môn đệ bắt đầu bứt lúa. 24 Người Pha-ri-sêu liền nói với Đức Giê-su : “Ông coi, ngày sa-bát mà họ làm gì kia ? Điều ấy đâu được phép !” 25 Người đáp : “Các ông chưa bao giờ đọc trong Sách sao ? Ông Đa-vít đã làm gì, khi ông và thuộc hạ bị thiếu thốn và đói bụng ? 26 Dưới thời thượng tế A-bi-a-tha, ông vào nhà Thiên Chúa, ăn bánh tiến, rồi còn cho cả thuộc hạ ăn nữa. Thứ bánh này không ai được phép ăn ngoại trừ tư tế.”

27 Người nói tiếp : “Ngày sa-bát được tạo ra cho loài người, chứ không phải loài người cho ngày sa-bát. 28 Bởi đó, Con Người làm chủ luôn cả ngày sa-bát.”