Năm 1985, các bác sĩ nói với Jane Hawking rằng chồng bà đang hấp hối

My Lan Pham is with Chuyện Nhân Văn.

Năm 1985, các bác sĩ nói với Jane Hawking rằng chồng bà đang hấp hối. Họ khuyên nên ngừng duy trì sự sống. Bà từ chối. Stephen Hawking đã sống lâu hơn mọi dự đoán suốt hai mươi hai năm, và bà không định để câu chuyện của ông kết thúc ở đó.

Geneva, mùa hè năm 1985.

Stephen đến đó để nghiên cứu thì mắc viêm phổi. Với hầu hết mọi người, viêm phổi nguy hiểm nhưng có thể sống sót. Với một người mắc ALS giai đoạn nặng, không thể cử động, ho hay tự làm sạch phổi, đó thường là bản án tử.

Tình trạng của ông xấu đi rất nhanh. Chỉ trong vài ngày, ông rơi vào hôn mê, phải thở máy, phổi dần suy kiệt.

Các bác sĩ nói thẳng với Jane. Stephen sẽ không hồi phục. Cơ thể ông đang ngừng hoạt động. Lựa chọn nhân đạo nhất, theo họ, là tắt máy móc và để ông ra đi trong yên bình.

Jane lúc đó bốn mươi mốt tuổi. Bà đã kết hôn với Stephen hai mươi năm. Bà đã chứng kiến ALS lấy đi của ông từng chút một: dáng đi, sự độc lập, khả năng tự ăn uống, viết lách, đứng thẳng. Đến năm 1985, ông chỉ còn cử động được vài ngón tay và một phần khuôn mặt.

Suốt hai thập kỷ, bà vừa là người chăm sóc ông, vừa nuôi dạy ba đứa con, giữ gìn gia đình, vừa nâng đỡ một người đàn ông mà thế giới nay công nhận là một trong những bộ óc vĩ đại nhất, dù căn bệnh được cho là sẽ giết ông trong vòng hai năm.

Các bác sĩ đang đưa ra một lối thoát.

Chấm dứt sự kiệt quệ.

Chấm dứt gánh nặng trách nhiệm không ngừng nghỉ.

Chấm dứt việc nhìn người mình yêu bị giam cầm trong một cơ thể đang suy tàn.

Bà hoàn toàn có thể đồng ý. Không ai trách bà.

Jane nói không.

Bà yêu cầu họ làm mọi cách để cứu ông. Các bác sĩ giải thích điều đó có nghĩa là gì. Stephen sẽ cần một ca mở khí quản khẩn cấp, đặt ống thở vĩnh viễn qua cổ họng. Ông sẽ không bao giờ nói chuyện tự nhiên được nữa. Ông sẽ không bao giờ tự thở. Ông sẽ còn phụ thuộc nhiều hơn nữa.

Jane không do dự.

Hãy làm đi.

Ca phẫu thuật đã cứu mạng ông. Nhưng nó cũng lấy đi một thứ không thể thay thế.

Suốt hai mươi hai năm, dù ALS tàn phá cơ thể, Stephen vẫn còn nói được. Giọng ông chậm và ngọng, nhưng đó là giọng của ông. Ca mở khí quản đã phá hủy nó hoàn toàn.

Trở về Cambridge, Stephen giao tiếp bằng cách nhướng lông mày khi có người chỉ vào các chữ cái trên bảng. Một lần nhướng là “có”. Hai lần là “không”. Từ ngữ được ghép lại từng chữ một. Đau đớn. Chậm chạp.

Với một con người mà toàn bộ cuộc sống xoay quanh ý tưởng, giải thích và giao tiếp, đó là cú đánh tàn khốc.

Rồi một kỹ sư máy tính tên Walt Woltosz nghe nói về ông. Woltosz đã tạo ra một chương trình gọi là Equalizer, cho phép người dùng tạo câu với rất ít cử động. Ông tặng nó cho Stephen miễn phí.

Stephen học cách sử dụng nó với một công tắc nhỏ ở tay, chọn từ trên màn hình để máy tính đọc lên. Ban đầu, tốc độ vô cùng chậm, khoảng một từ mỗi phút.

Nhưng đó là một giọng nói.

Và Stephen Hawking quay trở lại với công việc.

Điều khiến khoảnh khắc này trở nên phi thường là đến năm 1985, Stephen đã vượt xa mọi dự đoán y khoa.

Được chẩn đoán ALS năm 1963 khi mới hai mươi mốt tuổi, ông được cho là chỉ sống được hai năm. Hai năm.

Ông kết hôn với Jane Wilde năm 1965, hoàn toàn ý thức rằng mình có thể chết sớm. Họ có ba người con trong khi Stephen dần mất toàn bộ chức năng vận động.

Trong thời gian đó, ông làm thay đổi vật lý lý thuyết. Năm 1974, ông chứng minh rằng hố đen phát ra bức xạ, nay được gọi là bức xạ Hawking, làm thay đổi cách chúng ta hiểu về vũ trụ.

Vào lúc nằm trên giường bệnh ở Geneva, ông đã phải ngồi xe lăn, cần được chăm sóc liên tục và phụ thuộc vào người khác trong hầu hết mọi việc.

Và ông vẫn đang tạo ra khoa học làm thay đổi thế giới.

Vì thế, khi các bác sĩ đề nghị kết thúc sự sống của ông, họ không chỉ yêu cầu Jane buông tay chồng mình. Họ đang hỏi liệu thế giới có nên mất đi một trí tuệ vẫn chưa hoàn thành sứ mệnh hay không.

Jane biết ông chưa xong.

Và bà đã đúng.

Sau khi hồi phục và thích nghi với giọng nói điện tử, Stephen hoàn thành dự án mà ông ấp ủ suốt nhiều năm: một cuốn sách nhằm giải thích vũ trụ cho người bình thường.

A Brief History of Time được xuất bản năm 1988.

Nó trở thành điều không ai ngờ tới.

237 tuần trong danh sách bán chạy nhất.

Được dịch ra bốn mươi ngôn ngữ.

Bán hơn hai mươi lăm triệu bản.

Cuốn sách đưa hàng triệu người đến với hố đen, Vụ Nổ Lớn và bản chất của thời gian, không công thức, không hù dọa, với sự hài hước và rõ ràng.

Không điều gì trong số đó tồn tại nếu Jane nói “có” vào năm 1985.

Và Stephen vẫn chưa dừng lại.

Ông sống thêm ba mươi ba năm.

Viết thêm nhiều sách. Xuất hiện trong Star Trek và The Simpsons. Trở thành tiếng nói toàn cầu cho quyền của người khuyết tật. Cho thế giới thấy rằng giới hạn thể chất không giới hạn sức mạnh trí tuệ. Sống đủ lâu để chứng kiến sóng hấp dẫn được phát hiện, xác nhận những ý tưởng mà công trình của ông góp phần định hình.

Ông qua đời năm 2018, ở tuổi bảy mươi sáu.

Năm mươi lăm năm sau tiên lượng ban đầu.

Jane và Stephen ly hôn năm 1995. Áp lực chăm sóc, sự hiện diện thường trực của y tá, và sự tiến triển không ngừng của ALS đã để lại những vết nứt mà không phiên bản lãng mạn nào của câu chuyện thừa nhận. Không ai hiểu công việc chăm sóc lại phán xét bà vì điều đó.

Nhưng vào năm 1985, bà đã đưa ra lựa chọn quan trọng nhất.

Stephen từng nói ca mở khí quản vừa là điều tồi tệ nhất vừa là điều tốt đẹp nhất xảy ra với ông. Tồi tệ vì ông mất giọng nói tự nhiên mãi mãi. Tốt đẹp vì giọng nói tổng hợp cho phép ông giao tiếp rõ ràng hơn nhiều so với những năm trước.

Hãy tưởng tượng một lịch sử khác.

Stephen Hawking qua đời ở tuổi bốn mươi ba.

Một nhà vật lý được kính trọng. Những bài báo quan trọng. Chủ yếu được biết đến trong giới học thuật.

Không có A Brief History of Time.

Không có giọng nói biểu tượng.

Không có cây cầu nối khoa học với công chúng.

Không có hàng thập kỷ truyền cảm hứng cho người khuyết tật.

Không có ba mươi ba năm khám phá thêm.

Tất cả bị xóa bỏ vì một người phụ nữ chọn cái kết dễ dàng hơn.

Jane đã chọn con đường khó hơn.

Bà không chọn vì danh tiếng. Không chọn vì lịch sử. Bà chọn vì bà biết Stephen chưa thôi đặt câu hỏi.

Đó là tình yêu đích thực.

Không điện ảnh. Không nhẹ nhàng.

Là thứ tình yêu nói rằng điều này sẽ tàn khốc, và anh vẫn xứng đáng.

Jane Hawking đã cứu Stephen Hawking hai lần.

Một lần vào năm 1965, khi bà kết hôn với một người đàn ông được cho là chỉ sống hai năm.

Và một lần vào năm 1985, khi bà từ chối để các bác sĩ quyết định rằng câu chuyện của ông đã kết thúc.

Cả hai lần, bà đều chọn con đường khó hơn.

Vũ trụ được hưởng lợi từ cả hai lựa chọn ấy.

Stephen Hawking đã thay đổi cách chúng ta hiểu về thực tại.

Jane Hawking đã trao cho thiên tài ấy thêm ba mươi ba năm tồn tại.

Và tất cả bắt đầu từ một khoảnh khắc trong bệnh viện ở Geneva.

Một lời khuyên.

Một sự từ chối.

Jane Hawking đã nói không với cái chết.

Và Stephen Hawking có thêm ba thập kỷ để khám phá vô hạn.


 

CHỨNG “QUÊN TẠM THỜI” HAY CHỈ LÀ DẤU HIỆU CỦA TUỔI TÁC?

Những Câu Chuyện Thú Vị

Nếu bạn đã bước sang tuổi 50 hoặc hơn, đừng lướt qua nhé! Hãy dành chút thời gian đọc bài viết này…

Dạo gần đây, có bao giờ bạn đang nói chuyện bỗng dưng khựng lại vì quên mất mình định nói gì không? Trước đây, tôi rất sợ đó là dấu hiệu sớm của bệnh Alzheimer… nhưng sau khi đọc bài này, tôi đã hoàn toàn yên tâm.

Có một sự thật là: Nếu bạn còn nhận thức được mình đang gặp vấn đề về trí nhớ, thì đó CHƯA PHẢI là Alzheimer.

Tôi quên tên họ của người quen…

Tôi không nhớ mình đã cất đồ đạc ở đâu…

Ở những người từ 50 tuổi trở lên, việc phàn nàn về trí nhớ kém là chuyện rất thường tình. Thực tế là: “Thông tin vẫn nằm trong não bộ, chỉ là bộ vi xử lý (processor) của chúng ta đang chạy chậm lại một chút mà thôi.”

Y học gọi đây là chứng Anosognosie – hay đơn giản là sự “quên tạm thời”. Có đến một nửa số người trên 50 tuổi gặp phải các triệu chứng do tuổi tác hơn là do bệnh tật. Những trường hợp phổ biến nhất là:

Quên tên một người bạn mới gặp.

Đi vào một căn phòng rồi đứng ngẩn ngơ không nhớ mình vào đó để làm gì.

Đột nhiên “trắng bộ nhớ” khi định nhắc tên một bộ phim hay một diễn viên.

Tốn thời gian đi tìm kính mắt hoặc chìa khóa dù chúng vừa ở trên tay.

Sau tuổi 60, những biểu hiện này càng rõ rệt hơn. Nhưng hãy nhớ: đây là một đặc điểm của thời gian, không phải là bệnh lý.

Giáo sư Bruno Dubois, Giám đốc Viện Trí nhớ và Bệnh Alzheimer (IMMA), đã trấn an rằng: “Càng phàn nàn nhiều về việc mất trí nhớ, bạn càng ít có nguy cơ mắc các bệnh về trí nhớ thực sự. Bởi vì những người mắc bệnh Alzheimer thật sự thường không hề nhận ra những gì đang xảy ra với mình.”

BÀI KIỂM TRA THẦN KINH NHỎ

(Lưu ý: Chỉ dùng mắt để tìm nhé!)

  1. Tìm chữ C trong bảng dưới đây: OOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOCOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOOO
  2. Nếu đã thấy chữ C, hãy tìm số 6 dưới đây: 999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999699999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999999
  3. Cuối cùng, tìm chữ N (khó hơn một chút đấy): MMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMNMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMMM

Kết quả: Nếu bạn vượt qua 3 bài test này một cách dễ dàng:

Chúc mừng! Bộ não của bạn vẫn đang hoạt động rất tốt.

Bạn có thể tạm quên việc đi khám thần kinh định kỳ đi.

Bạn còn cách Alzheimer rất xa!

Hãy chia sẻ thông tin này để người thân và bạn bè cùng yên tâm nhé!

TG Văn Chương


 

Khi tôi mang thai, các bác sĩ đã nói rõ ràng về rủi ro

Chi NguyenNhững Câu Chuyện Thú Vị

Bởi vì chúng tôi lã những người lùn, các bác sĩ đã cảnh báo chúng tôi không hy vọng – nhưng con gái chúng tôi đã phớt lờ mọi dự đoán đó…

Evan và tôi đều sinh ra với gen lùn. Khi tôi mang thai, các bác sĩ đã nói rõ ràng về rủi ro. Cơ thể của tôi không được xây dựng để mang thai dễ dàng. Có vẻ như là những phức tạp.Vấn đề giải phẫu được thảo luận sớm. Mỗi cuộc hẹn đều có cảnh báo và kế hoạch dự phòng. Chúng tôi đã có một quyết định để đưa raTránh xa thai kỳ – hoặc chấp nhận rủi ro và trở thành cha mẹ Chúng tôi đã chọn tiếp tục. Việc có bầu đã được theo dõi chặt chẽ. Tôi đã nhập viện hai lần. Quinn về nhỏ nhưng ổn định, giao theo kế hoạch phẫu thuật.

Sau sinh, có chuyện bất ngờ đã xảy ra Quinn phát triển với tỷ lệ điển hình. Lượt truy cập tiếp theo trở nên ít thường xuyên hơn. Các kế hoạch y tế đã bị bỏ đi một cách lặng lẽ. Bước ngoặt đã tới khi bác sĩ chuyên khoa nhi của chúng tôi cho biết con gái tôi đã ra khỏi việc giám sát đặc biệt…

Hôm nay Quinn cao hơn cả hai chúng tôi và sống khoẻ mạnh như bao đứa trẻ bình thường khác …

(Giờ Thì Bạn Biết Rồi)

ST.


 

CÁCH CHỮA GÚT (Gout) ĐƠN GIẢN mà HIỆU QUẢ

Xuyên Sơn

CÁCH CHỮA GÚT (Gout) ĐƠN GIẢN mà HIỆU QUẢ

Mình bị bệnh gút đã 20 năm nay, Nhưng vào loại nhẹ. Thỉnh thoảng năm, sáu tháng lại bị một lần.

Lần đầu tiên vào năm 2000,

ngón chân cái bị sưng đỏ, nhức nhối, đau giật thon thót. Đau quá nhưng không biết là bệnh gì cứ uống thuốc, xoa bóp linh tinh… Khi đến bệnh viện khám bác sĩ bảo bị gout, Cho uống thuốc colchicin 6-7 ngày thì khỏi.

Từ đó mỗi lần bị gút:

Lúc thì sưng ngón chân cái bên này, lúc sưng ngón chân cái bên  kia; rồi sưng đến đầu gối, cổ chân, khuỷu tay … mỗi lần như vậy lại đi mua thuốc Colchicine về uống.

Biết rằng thuốc này có nhiều độc tố nhưng có bệnh thì cứ phải uống mới khỏi. Cũng nghe nhiều người mách uống nước lá tía tô, nước khế, vân vân. Nhưng không ăn thua gì, vẫn phải dùng Colchicine mới khỏi.

Mình vào Sài Gòn được sáu tháng thì xuất hiện gút ở ngón chân út.

Ngón chân sưng đỏ mọng và rất nhức nhối…

Bà xã mình bảo, em có cách chữa rất hiệu quả. Bà bảo đọc trên báo an ninh thế giới lâu rồi, có một chuyên gia người Mỹ sang Việt Nam bị gút và một bạn Việt Nam chữa cho bằng cách ăn củ hành tím.

Ông ta thấy tuyệt vời quá, khi về Mỹ đã mua ba cân hành tím đem về và viết bài đăng trên báo Mỹ.

Báo an ninh thế giới dịch và đăng lại.

Đúng là cực kỳ đơn giản mà hiệu quả. Bà xã mình lấy ba nhánh hành tím bầm nhỏ cho vào bát hòa với nước ấm bảo mình uống.

Thú thật mình không tin tưởng lắm, nhưng cứ uống xem sao.

Hơi bị khó uống vì cay, hắc…

Nhưng sáng hôm sau thấy bớt sưng và không giật đau thon thót nữa! Hôm sau uống hai lần thấy hết sưng; ngày thứ ba uống hai lần nữa thì thấy khỏi hẳn…

(Những lần sau không hoà hành băm với nước, mà xúc hành băm cho vào miệng rồi uống nước ực cái dễ chịu hơn).

Uống ba ngày, mỗi ngày hai lần sáng và tối thấy khỏi hẳn.

Đúng là tuyệt vời, thật đơn giản và hiệu quả. Vì vậy mình vội chia sẽ kinh nghiệm này cho những bạn bị gút. Nhưng cơ địa mỗi người một khác, nên có thể có bạn không thấy hiệu quả gì cũng là chuyện bình thường. Tuy nhiên các bạn cứ thử một lần xem sao nhé, vì nguyên liệu rất dễ kiếm mà rất rẻ.

27/11/2020

MvT

Nguồn fb Mạc Văn Trang


 

Số người bị nhồi máu cơ tim tăng cao nhất vào mùa lễ cuối năm

Ba’o Nguoi-Viet

December 23, 2025

SACRAMENTO, California (NV) – Mùa lễ cuối năm nổi tiếng là thời gian vui chơi, gặp gỡ người thân, bạn bè, và ăn mừng, nhưng bác sĩ cho hay đây cũng là thời gian sức khỏe tim mạch có thể gặp nguy hiểm, theo đài KCRA hôm Thứ Hai, 22 Tháng Mười Hai.

Giữa lúc nhiều người khoác thêm áo ấm và bận rộn với lịch vui chơi, chuyên gia y tế cảnh báo Tháng Mười Hai và Tháng Giêng là hai tháng đông bệnh nhân bị bệnh tim đi cấp cứu nhất.

Uống nhiều rượu bia làm tăng rủi ro bị nhồi máu cơ tim. (Hình minh họa: Storyblocks)

Theo nghiên cứu của Hiệp Hội Tim Hoa Kỳ, số người chết liên quan tới tim lên cao nhất trong thời gian Noel và Năm Mới, nhiều hơn bất cứ lúc nào khác trong năm.

Nguyên nhân là gì?

Bác sĩ nêu ra một loạt yếu tố kết hợp: Thời tiết lạnh hơn làm tim căng thẳng, món ăn ngày lễ nhiều muối và chất béo, đi đường dài, ngủ không điều độ, và căng thẳng cảm xúc.

Thậm chí sự tất bật của mùa lễ cũng có thể làm hại sức khỏe.

Nhưng tin vui là chuyên gia y tế cho biết có thể phòng ngừa nhiều rủi ro gây hại cho tim vào mùa lễ.

Bác sĩ tim mạch khuyên ăn điều độ, uống nước đầy đủ, ưu tiên ngủ, kiểm soát tình trạng căng thẳng, và đừng quên dùng thuốc mà bác sĩ đã chỉ định.

Những cách đơn giản như đi dạo sau khi ăn tối, hạn chế rượu bia, và dành thời gian nghỉ ngơi cũng có thể rất hữu ích.

Bác sĩ cũng khuyến cáo mọi người đừng bỏ qua triệu chứng như tức ngực, khó thở, choáng váng, hoặc mệt mỏi bất thường. (Th.Long)[dt]


 

ĐOẠN TUỔI NGUY HIỂM NHẤT.

Dieu Le

(Bài viết dành riêng cho người độ tuổi 70 – 79)

Khi về già mọi người muốn có một cuộc sống khỏe mạnh. Họ nhận ra rằng ′′Sức khỏe là của cải”. Nhưng để có được trường thọ, trong 10 năm từ 70 đến 79 tuổi rất quan trọng!

Học giả Israel đã phát hiện ra điều đó, 70 -79 tuổi là giai đoạn nguy hiểm. Trong giai đoạn này, nhiều cơ quan khác nhau của cơ thể giảm nhanh chóng. Đây là một thời kỳ thường xuyên mắc các bệnh lão khoa khác nhau, và thông thường dễ bị tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp và tiểu đường.

Sau khi bước vào độ tuổi 80, những căn bệnh trên sẽ giảm đi, sức khỏe tinh thần và thể chất có thể trở lại ở như độ 60 – 69 tuổi.

Có nghĩa là, tuổi từ 70 đến 79 tuổi được gọi là

′′nhóm tuổi nguy hiểm”. Việc chăm sóc sức khỏe 10 năm từ 70 đến 79 tuổi là rất quan trọng.

Dưới đây là một số bước đơn giản được gọi là ′′Làm mười điều mỗi ngày′′ Điều này sẽ giúp bạn vượt qua giai đoạn ′′nhóm tuổi nguy hiểm′′ của cuộc đời mình.

  1. Nước

Nước là ′′thức uống tốt nhất và rẻ nhất cho sức khỏe”. 3 thời điểm quan trọng với mỗi lần 1 ly nước:

Cốc đầu tiên: Sau khi ra khỏi giường. Bạn có thể uống một ly nước trong một cái bụng rỗng. Ngay cả khi chúng ta không cảm thấy khát nước sau khi thức dậy, máu ở trạng thái bị đặc do thiếu nước. Do đó, sau khi ra khỏi giường, bạn phải từ từ bổ sung nước càng sớm càng tốt.

Cốc thứ hai: Sau khi tập thể dục. Một bài tập thể dục phù hợp là một trong những nền tảng của trường thọ. Tuy nhiên, sau khi tập thể dục, đặc biệt chú ý cần phải bổ sung và thay thế nước. Điều này đực biệt khuyến khích đối với người già.

Cốc thứ ba: Trước khi đi ngủ. Một cốc nước trước khi đi ngủ có thể làm giảm độ nhớt của máu một cách hiệu quả và làm chậm quá trình lão hóa. Giúp chống lại đau thắt ngực, nhồi máu cơ tim và các bệnh khác.

  1. Cháo

Trung Quốc Daily Online đã công bố một nghiên cứu 14 năm do Đại học Harvard thực hiện trên 100,000 người. Thấy rằng mỗi ngày một bát cháo ngũ cốc nguyên hạt khoảng 28 gram giảm 5% đến 9% tử vong và giảm cơ hội mắc bệnh tim mạch. Các loại ngũ cốc nguyên hạt như gạo lứt, ngô và tam giác mạch dường như đã tránh được tất cả các bệnh, đặc biệt là bệnh tim.

  1. Một cốc sữa

Sữa được gọi là ′′huyết trắng ′′ và có trong cơ thể con người. Giá trị dinh dưỡng của nó được biết đến với rất nhiều canxi, chất béo và protein. Sữa và các sản phẩm từ sữa được khuyến nghị dùng hàng ngày là 300 gam. Khuyên nghị uống một hoặc hai bình sữa 200 ml hoặc gói sữa mỗi ngày.

  1. Một quả trứng

Trứng có thể nói là loại thực phẩm thông dụng nhất của con người. Tỷ lệ hấp thụ protein trứng của cơ thể có thể cao hơn 98 %.

  1. Một quả táo

Nghiên cứu hiện đại tin rằng táo có tác dụng hạ mỡ máu, giảm cân, ngăn ngừa ung thư, ngăn ngừa lão hóa, tăng cường trí nhớ, và làm cho da mịn màng và mềm mại. Lợi ích sức khỏe của táo màu khác nhau:

Táo đỏ có tác dụng hạ lipid máu và làm mềm mạch máu

Táo xanh có tác dụng dưỡng gan và giải độc, chống trầm cảm nên thích hợp hơn cho người trẻ.

Táo vàng có tác dụng tốt trong việc bảo vệ thị giác.

  1. Một củ hành

Hành có giá trị dinh dưỡng rất cao và có nhiều chức năng, bao gồm việc giúp hạ đường huyết, giảm mỡ máu, ngăn ngừa ung thư, bảo vệ tim mạch và các bệnh về não, và chống vi khuẩn, ngăn ngừa cảm cúm, bổ sung canxi và xương. Ăn hành tây ít nhất ba hoặc bốn lần một tuần.

  1. Một miếng cá

Các nhà dinh dưỡng Trung Quốc đã cảnh báo rằng ăn “bốn chân” còn tệ hơn ăn “hai chân”, ăn “hai chân” còn tồi tệ hơn ăn “không có chân”.

′′Không có chân′′ chủ yếu đề cập đến cá và nhiều loại rau khác nhau. Các protein chứa trong cá dễ dàng được tiêu hóa và hấp thụ. Lượng axit béo không bão hòa trong chất béo, đặc biệt là axit béo đa năng, tương đối tốt cho cơ thế.

  1. Bước đi nhẹ nhàng

Đây có tác dụng chống lão hóa thần kỳ. Khi người cao tuổi đi bộ (khoảng 1 km hoặc ít hơn) đều đặn trong hơn 12 tuần, sẽ đạt được hiệu quả về dáng và vòng eo, và cơ thể trở nên dẻo dai và không dễ bị mệt mỏi. Ngoài ra, tập thể dục bằng cách đi bộ cũng có lợi cho việc chữa đau đầu, đau lưng, đau vai., và có thể thúc đẩy giấc ngủ.

Các chuyên gia tin rằng đi bộ 30 phút mỗi ngày có thể thoát khỏi nguy hiểm của ′′bệnh người cao tuổi”. Những người đi 10,000 bước một ngày sẽ giảm nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch và mạch máu não.

  1. Một sở thích

Có một sở thích, dù là trông hoa, nuôi chim, sưu tầm tem, câu cá, hay vẽ tranh, hát, chơi cờ, và du lịch, đều có thể giúp người già duy trì sự tiếp xúc rộng rãi với xã hội và thiên nhiên. Điều này làm mở rộng những thú vị của người già. Họ sẽ yêu và trân trọng cuộc sống.

  1. Tâm trạng vui vẻ

Người già nên duy trì cảm xúc tốt vì những điều này cực kỳ quan trọng đối với sức khỏe của họ. Các bệnh mãn tính thường gặp ảnh hưởng đến người già có liên quan chặt chẽ đến những cảm xúc tiêu cực của người già:

Nhiều bệnh nhân mắc bệnh tim, mạch vành, bị nhồi máu cơ tim do kích thích các cảm xúc bất lợi dẫn đến tử vong đột ngột; Tính nóng là điều ′′xấu′′ dẫn đến huyết áp cao. Trong trường hợp kéo dài và nghiêm trọng sẽ có thể gây ra đột quỵ, suy tim, tử vong đột ngột,.; Các cảm xúc tiêu cực như tức giận, lo lắng và đau buồn có thể khiến lượng đường huyết tăng lên, gây rối loạn chuyển hóa trong cơ thế.

Điều này cho thấy tâm trạng tối quan trọng như thế nào!

FB CA THƯƠNG


 

 1 cú ngã… rồi nằm liệt vài năm…

Ths.BS Nguyễn Vũ Bình

 1 cú ngã… rồi nằm liệt vài năm… và rời xa thế giới, rời xa con cháu.

Đó là kịch bản buồn, nhưng lại là kết thúc của rất nhiều người lớn tuổi – đặc biệt là phụ nữ.

Nghe thì quá đơn giản. Nhưng tôi đã chứng kiến nó lặp lại nhiều đến mức… trở thành nỗi sợ thật sự.

Vì sao chỉ một cú ngã lại cướp đi phần đời cuối cùng của mẹ?

Phụ nữ sau 50 tuổi mất xương nhanh gấp nhiều lần đàn ông.

Cơ bắp yếu dần, chân tay run, thăng bằng kém, phản xạ chậm đi. Huyết áp thất thường, chóng mặt, bước hơi nhanh cũng có thể chao đảo.

Và rồi, chỉ cần

– Trượt chân trong nhà tắm,

– Vấp cái thảm cạnh giường,

– Bước hụt ở cầu thang,

– Hoặc đứng dậy quá nhanh…

Gãy cổ xương đùi, gãy tay, gãy vai – những chấn thương nghe quen đến mức… đau lòng.

Điều đáng sợ không phải là gãy.

Điều đáng sợ là họ không đứng dậy lại được.

Nằm lâu> yếu cơ >loét tì đè >viêm phổi > suy kiệt.

Từ một người từng đi chợ, nấu ăn, tưới cây… mẹ trở thành người nằm bất động, hoàn toàn phụ thuộc.

Có người nằm 1–2 năm.

Có người chỉ vài tháng.

…Rồi  rời xa con cháu của mình.

TÔI TỪNG THẤY…

Tôi từng gặp nhiều bà cụ U70–U80, hôm trước vẫn còn cười nói, hôm sau đã nằm trên giường bệnh.

Tôi nhớ một cụ bà nói với tôi:

“Tôi không đau đâu bác sĩ… tôi chỉ buồn.

Hôm qua tôi còn tự rửa bát. Hôm nay lại thành người phải nhờ con bồng bê’.”

Cụ nhìn ra cửa, nơi cô con gái đứng, đôi mắt đỏ hoe vì thương mẹ và vì biết mình sắp bước vào những tháng ngày chăm sóc chưa có hồi kết.

Chỉ một cú trượt chân…

Nhưng nó lấy đi sự độc lập, phẩm giá, và cả niềm vui sống của một người mẹ.

TẠI SAO???

Lý do khiến phụ nữ dễ rơi vào bi kịch này:

– Loãng xương, thoái hoá khớp

– Thiếu cơ, ít vận động, ngồi nhiều

– Thiếu vitamin D, omega 3, canxi, nội tiết, glu.tathione… và nhiều chất khác..

– Chóng mặt do huyết áp hoặc nội tiết

– Ở nhà một mình

– Nhà tắm trơn, ánh sáng yếu

– Và quan trọng nhất:họ tiết kiệm đến mức hà tiện cho bản thân mình…

Phụ nữ cả đời hi sinh, làm việc, chăm chồng, chăm con…

Nhưng đến lúc già, họ lại ngã gục vì những điều nhỏ bé nhất.

Có một chị khoảng 40 tuổi đưa mẹ đến khám.

Chị nói nhỏ:

“Mẹ chị từ sau cú ngã 2 năm trước… không còn là mẹ nữa.

Bà ít nói, ít cười, sợ đi lại, sợ cả buổi tối.”

Tôi nhìn mẹ chị, gương mặt hiền, ánh mắt buồn nhưng cam chịu.

Cụ bảo:

“Giá mà hồi trẻ tôi chịu ăn uống đủ chất, chịu tập thể dục…thì chắc giờ đỡ khổ cho con.”

Nỗi ân hận muộn màng ấy, tôi nghe rất nhiều.

Mà càng nghe, càng thấy thương.

TÔI MUỐN NÓI…

Điều tôi muốn nhắn gửi…

Nếu bạn còn mẹ, còn bà – hãy chuẩn bị cho họ ngay từ bây giờ:

Đừng để họ thiếu canxi, vitamin D, omega 3, nội tiết, gluta.thione

Khuyến khích mẹ đi bộ, tập chân nhẹ, tăng cơ.

Lắp thanh vịn nhà tắm, chống trơn nhà vệ sinh.

Để ánh sáng đủ sáng, dọn bỏ thảm dễ vấp.

Cho mẹ khám xương khớp định kỳ.

Và quan trọng nhất: đừng để mẹ ở nhà một mình quá lâu.

Một cú ngã có thể cướp đi cả phần đời cuối cùng của một người già.

Nhưng chỉ vài thay đổi nhỏ lại có thể giữ họ ở bên ta thêm nhiều năm: khoẻ mạnh, tự chủ, và vẫn là chính họ.

Chúng ta không thể ngăn thời gian.

Nhưng ta có thể ngăn… cú ngã định mệnh ấy.


 

18 Hiểu Lầm Phổ Thông Trong Lĩnh Vực Sức Khỏe  – Huỳnh Chiếu Đẳng

Huỳnh Chiếu Đẳng

Nguồn tin và chi tiết: https://www.cnet.com/health/do-eggs-cause-high-cholesterol-plus-17-other-health-myths-were-busting/

HCD : Tóm tắt nội dung bài báo (có thể bản dịch nguyên văn nằm dưới phần tóm tắt) Bài báo “Do Eggs Cause High Cholesterol? Plus, 17 Other Health Myths We’re Busting” của Amanda Capritto (CNET) nói về 18 hiểu lầm phổ biến trong lĩnh vực sức khỏe — những điều từng được nhiều người tin tưởng nhưng đã bị khoa học hiện đại bác bỏ hoặc làm sáng tỏ.

Dưới đây là bản tóm tắt chi tiết và dễ hiểu từng “huyền thoại sức khỏe”: 

1. Tập thể dục ban đêm làm mất ngủ – Sai

Lầm tưởng: Tập thể dục buổi tối sẽ làm hỏng giấc ngủ.

Sự thật: Không phải với tất cả mọi người. Một số bài tập như yoga hoặc cử tạ có thể không ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ. Với một số người, tập thể dục trước khi ngủ thậm chí còn giúp họ ngủ ngon hơn.

2. Trứng và Cholesterol Cao

Lầm tưởng: Ăn trứng gây tăng cholesterol trong máu.

Sự thật: Trứng hầu như không ảnh hưởng đến lượng cholesterol trong máu của bạn. Khuyến nghị cũ (năm 1968) rằng người lớn không nên ăn quá ba quả trứng mỗi tuần đã bị bác bỏ. Nghiên cứu gần đây thậm chí còn cho thấy ăn trứng có thể cải thiện sức khỏe tim mạch.

3. Uống Nước Hàng Ngày

Lầm tưởng: Bạn phải uống 64 ounce (khoảng 2 lít, tương đương 8 cốc 8 ounce) nước mỗi ngày.

Sự thật: Mỗi người có nhu cầu cấp nước khác nhau. Mặc dù nước rất quan trọng, nhưng quy tắc “8×8” là lỗi thời và không chính xác cho tất cả mọi người. Bạn nên điều chỉnh lượng nước nạp vào dựa trên mức độ hoạt động và các dấu hiệu mất nước của cơ thể.

4. Lượng Bước Đi Lý Tưởng

Lầm tưởng: 10.000 bước là chìa khóa để có một cơ thể khỏe mạnh.

Sự thật: Đó không phải là con số cố định cho mọi người. Đi bộ là một bài tập tuyệt vời, nhưng mục tiêu 10.000 bước không phù hợp với tất cả mọi người vì việc tập luyện không phải là “một kích cỡ vừa cho tất cả”. Việc kết hợp chế độ ăn uống lành mạnh và đáp ứng các hướng dẫn vận động chung có thể quan trọng hơn.

5. Cơ Bụng Sáu Múi

Lầm tưởng: Cơ bụng sáu múi là đỉnh cao của sức khỏe.

Sự thật: Sáu múi là kết quả của gen nhiều hơn là chỉ độ khỏe. Mặc dù cần tập luyện và ăn kiêng, nhưng đối với một số người, để có sáu múi có thể cần phải ăn kiêng quá mức hoặc hạn chế calo. Mục tiêu tốt hơn là hướng tới một bắp thịt mạnh mẽ thay vì chỉ chú trọng vào mặt thẩm mỹ.

6. Chất Béo Bão Hòa và Bệnh Tim

Lầm tưởng: Ăn chất béo bão hòa trực tiếp gây ra bệnh tim.

Sự thật: Vẫn còn nhiều tranh cãi trong tài liệu y khoa. Một số nghiên cứu cho rằng chất béo bão hòa không làm tắc nghẽn động mạch và nguy cơ cholesterol LDL “xấu” đã bị thổi phồng. Tuy nhiên, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) vẫn khuyến nghị nên hạn chế (nhưng không loại bỏ hoàn toàn) chất béo bão hòa.

7. Thực Phẩm Hữu Cơ

Lầm tưởng: Thực phẩm hữu cơ (organic) tốt cho sức khỏe hơn.

Sự thật: Bằng chứng rất hạn chế. Chưa có đủ bằng chứng khoa học hợp lệ cho thấy nông sản hữu cơ bổ dưỡng hơn nông sản thông thường. Việc hữu cơ không sử dụng thuốc trừ sâu tổng hợp có thể giảm tiếp xúc với dư lượng thuốc trừ sâu, nhưng tác động lâm sàng đến sức khỏe con người vẫn chưa rõ ràng.

8. Đường “tự nhiên” tốt hơn đường tinh luyện – Sai

Lầm tưởng: Đường tự nhiên (mật ong, mật mía,…) tốt hơn đường tinh luyện.

Sự thật: Đường vẫn là đường. Cơ thể bạn xử lý tất cả các loại đường đơn giản (như đường dừa, mật hoa agave, đường mía, mật ong,…) theo cùng một cách. Điểm khác biệt duy nhất là đường có trong trái cây đi kèm với chất xơ, vitamin và chất chống oxy hóa, làm cho nó bổ dưỡng hơn.

9. Cà Phê và Tăng trưởng

Lầm tưởng: Uống cà phê làm hạn chế sự phát triển chiều cao.

Sự thật: Di truyền quyết định chiều cao của bạn. Không có bằng chứng khoa học hợp lệ nào cho thấy cà phê có thể làm hạn chế sự phát triển của một người. Cà phê không liên quan đến bất kỳ tình trạng y tế nào ngoại trừ việc tăng nhẹ, tạm thời huyết áp.

10. Thực phẩm biến đổi gen (GMO) gây ung thư – Sai

Lầm tưởng: Thực phẩm biến đổi gen (GMO) gây ung thư.

Sự thật: Không phải vậy. Không có bằng chứng khoa học nào cho thấy GMO gây ung thư hoặc bất kỳ vấn đề sức khỏe nào khác. Thực phẩm GMO tương đương về mặt dinh dưỡng với các loại không biến đổi gen và được coi là an toàn.

11. Lầm tưởng: lò microwave gây ung thư.

Sự thật: Không. Lò vi sóng chỉ làm nóng thức ăn. Chúng phát ra bức xạ không ion hóa (tương tự sóng điện thoại), loại bức xạ này không đủ mạnh để thay đổi cấu trúc tế bào và không gây ung thư ở người. Bức xạ cũng được chứa trong tường lò vi sóng. 

12. Lầm tưởng: Chất chống mồ hôi (antiperspirants) gây ung thư vú.

Sự thật: Không có bằng chứng mạnh mẽ. Mặc dù có những lo ngại về nhôm, nhưng các nghiên cứu dịch tễ học và Hiệp hội Ung thư Mỹ đều khẳng định không có mối liên hệ rõ rệt nào giữa việc sử dụng chất chống mồ hôi và nguy cơ ung thư vú.

13. Bữa sáng là bữa quan trọng nhất trong ngày – Không hẳn

Lầm tưởng: Bữa sáng là bữa ăn quan trọng nhất trong ngày.

Sự thật: Bỏ bữa sáng vẫn ổn. Việc bỏ bữa sáng không gây hại. Khoa học đằng sau nhịn ăn gián đoạn thậm chí còn gợi ý rằng việc bỏ bữa sáng có thể có lợi cho một số người, miễn là bạn kiểm soát được cơn đói.

14. Thời tiết lạnh khiến bạn bị cảm – Sai

Lầm tưởng: Thời tiết lạnh gây cảm lạnh.

Sự thật: Thời tiết không trực tiếp làm bạn bị ốm. Cảm lạnh là do virus. Lý do mọi người ốm nhiều hơn vào mùa lạnh là vì họ dành nhiều thời gian ở trong nhà kín (virus dễ lây lan hơn) hoặc không khí khô làm virus lây lan dễ dàng hơn, và thời tiết lạnh có thể làm suy yếu tạm thời hệ thống miễn dịch.

15. Ai cũng cần ngủ 8 tiếng mỗi ngày – Không đúng

Lầm tưởng: Mọi người đều cần ngủ 8 tiếng.

Sự thật: Mỗi người là khác nhau. Mặc dù 7 đến 9 giờ là khuyến nghị tiêu chuẩn cho người lớn, nhưng mỗi người có một nhịp sinh học độc đáo quyết định thời gian ngủ tối ưu. Hãy ngủ đủ để cảm thấy tốt nhất, không phải theo một con số cứng nhắc.

16. Tắm nắng an toàn hơn nằm giường tắm nắng – Sai 

Lầm tưởng: Ánh nắng mặt trời an toàn hơn giường tắm nắng (tanning beds).

Sự thật: Cả hai đều phát ra tia UV gây ung thư da. Cả tắm nắng ngoài trời và trong giường tắm nắng đều làm lộ da bạn trước tia cực tím, gây lão hóa sớm và là nguyên nhân gây ung thư da.

17. Bẻ khớp tay gây viêm khớp – Sai

Lầm tưởng: Bẻ khớp ngón tay gây viêm khớp (arthritis).

Sự thật: Đó chỉ là sự giải phóng khí vô hại từ dịch khớp (synovial fluid), chất lỏng bôi trơn các khớp của bạn.

18. Cơ thể cần “thanh lọc” bằng nước ép hoặc detox – Sai

Lầm tưởng: Cơ thể cần liệu pháp nước ép (juice cleanses) để thải độc.

Sự thật: Cơ thể bạn tự làm sạch. Gan, thận, da, hệ tiêu hóa và hệ bạch huyết sẽ tự hoàn thành nhiệm vụ thải độc. Bạn có thể hỗ trợ cơ thể bằng cách ăn uống lành mạnh, tập thể dục và uống đủ nước. Liệu pháp nước ép có thể gây hại vì làm cơ thể thiếu hụt các chất dinh dưỡng thiết yếu.

Huỳnh Chiếu Đẳng (Quán ven đường)

From: Tu-Phung


 

NHỮNG NGUY HIỂM KHI TRẺ EM DÙNG ĐIỆN THOẠI MẤT KIỂM SOÁT – Trần Mỹ Duyệt

Trần Mỹ Duyệt

Những quan tâm mà cha mẹ phải để ý đến trẻ em là tình trạng béo phì, tiểu đường, cận thị, lười học, tâm lý bất ổn, và gần đây là thói quen dùng điện thoại (cell phone, Iphone, smart phone). Trong khi nhiều cha mẹ không biết hoặc thả lỏng việc dùng điện thoại, vào năm 2019 Cell đã thực hiện cuộc khảo cứu 1135 phụ huynh tại Mỹ có con từ 4 và 14 tuổi. Kết quả cho thấy: 4 trong 10 phụ huynh để con dùng điện thoại vì không muốn chúng “làm phiền hoặc để chúng im lặng”. Điều này có nghĩa 40% phụ huynh thừa nhận cho phép con cái dùng điện thoại để đổi lấy sự yên thân. 57% trẻ con dùng điện thoại để chơi game.

Xã hội năm 2019 và hiện nay đã có rất nhiều thay đổi về lối sống, những phát minh khoa học, và ảnh hưởng của xã hội, do đó, vấn đề trẻ em dùng điện thoại ngày càng trở thành vấn đề liên quan đến nhiều khía cạnh như giáo dục, đạo đức xã hội, ảnh hưởng tâm lý và sức khỏe thể lý. Những khảo cứu gần đây cho biết nửa số trẻ em ở tuổi 11, và hầu hết trẻ vị thành niên đều có điện thoại riêng.

Tại Hoa Kỳ, khoảng 53% trẻ em có điện thoại riêng ở tuổi 11, và 88-95% ở tuổi vị thành niên. Do việc cha mẹ hoặc phụ huynh dễ dãi, chiều con nên các em có thể đòi hỏi để có điện thoại một cách dễ dàng. Nhiều em mới lên 8 tuổi đã được cha mẹ mua cho điện thoại. 

Trẻ em và trẻ vị thành niên dùng điện thoại của chúng mọi nơi, mọi lúc. Trung bình các em xem hoặc lướt điện thoại trên 100 lần mỗi ngày.Chúng còn dùng điện thoại ngay cả trong giờ học. Dưới 13 tuổi, trẻ em dùng điện thoại để xem, đọc những thông tin xã hội, xem bài vở, và cả những hình ảnh gợi cảm, khiêu dâm của người lớn. Hậu quả mang lại nhiều nguy hiểm tiềm ẩn. Ở tuổi này các em dùng điện thoại thường gặp những vấn đề liên quan đến tâm lý, thí dụ, thiếu tự tin, có tư tưởng tự tử, những dấu hiệu trầm cảm và lo lắng, cách riêng đối với các trẻ em nữ. Một trong những báo cáo đặc biệt là trẻ em dễ dàng trở thành nạn nhân của bạo hành trên mạng (cyberbullying). 

 Nguy hiểm khi trẻ em dùng điện thoại

Sau đây là 10 ảnh hưởng tiêu cực và nguy hiểm đối với các trẻ em khi dùng điện thoại quá mức hoặc không có sự kiểm soát của cha mẹ: 

Hại mắt và tăng nguy cơ những vấn đề về thị lực: Nguy cơ ảnh hưởng đến mắt và thị lực gồm nhức đầu, mờ mắt, khô mắt, và mỏi mắt. 

Giấc ngủ kém và nguy cơ mất ngủ: Mất giấc ngủ, thường hay thức giấc, và giac ngủ không đầy. 

Chậm phát triển về trí khôn và khả năng ngôn ngữ: Giảm thiểu khả năng đối diện mặt đối mặt, giới hạn khả năng ngôn ngữ và giao tiếp với cha mẹ, anh chị em, và những người chung quanh. Khả năng ngữ vựng, những chữ mới và đối thoại bị giảm.

Nghiện điện thoại sẽ làm giảm sự chú ý: Khi nghiền và lệ thuộc vào điện thoại, khả năng chú ý bị giảm thiểu, mất hứng thú với những sinh hoạt xã hội và thể thao. Dễ dẫn đến việc nghiện chơi games.

Nguy cơ béo phì và những vấn đề về sức khỏe: Béo phì hoặc yếu khả năng miễn nhiễm trong cơ thể. Các em càng chăm chú vào điện thoại càng không thích những sinh hoạt ngoài trời. Bệnh tiểu đường và tim có nguy cơ xảy ra. 

Ảnh hưởng sức khỏe tâm thần: Dùng điện thọai nhiều có liên quan đến những vấn đề thuộc sức khỏe tâm thần như xáo trộn tình cảm, trầm cảm hoặc lo lắng, cáu giận, bẳn gắt, nóng nảy. 

Xem những nội dung thiếu lành mạnh và dễ bị bạo hành: Dễ bị dụ dỗ vào những con đường tội phạm xã hội, bị lạm dụng và bạo hành trên mạng. Không có khả năng nhận định những tin tức trung thực và lành mạnh. 

Xa tránh xã hội và giảm thiểu khả năng giao tiếp: Mất khả năng giao tiếp, khả năng đối thoại, và tạo những mối tương quan lành mạnh. Dễ bị bạn bè xa tránh, sống mặc cảm. Mất đi bầu khí vui vẻ, lành mạnh của gia đình và người thân.

Học hành kém và khả năng học hỏi bị hạn chế: Hậu quả rõ ràng của việc nghiền điện thoại dẫn đến mất khả năng chú ý và tập trung, trí nhớ kém dẫn đến việc học hành gặp khó khăn. Mất khả năng suy nghĩ, phân tích, và những thói quen học hỏi. 

Nguy cơ bị ảnh hưởng chất phóng xạ: Nhiều khảo cứu cho rằng phóng xạ phát ra từ màn hình có thể làm teo xương sọ, có nguy cơ ảnh hưởng đến khả năng của óc. Các nhà chuyên môn khuyên không nên để sát điện thoại vào tai khi nghe. [1]

 Những ý kiến chuyên môn

Đối với các nhà chuyên môn, việc trẻ em cắm mắt, chúi mũi vào chiếc cellphone, iphone, ipad, smartphone là điều không mấy ngạc nhiên. Douglas Gentile, giáo sư tâm lý tại đại học Iowa, người đã nghiên cứu những ảnh hưởng về việc dùng truyền thông đối với trẻ em nhận xét:

“Không có gì ngạc nhiên khi chúng ta nhìn chung quanh mình, và có thể thấy. Tôi có thể thấy ở phi trường, ở nhà hàng, và tôi có thể thấy ngay ở trong nhà mình, ở đó những đứa trẻ dán mắt vào không phải là màn hình TV, mà màn hình trên chiếc điện thoại của chúng”.

 Với chiếc điện thoại, ngoài chuyện chơi games, chat, twitter…trẻ con còn có thể: 

– Truy cập được những websites. Đây là cửa ngõ để đi vào chỗ tốt cũng như chỗ xấu.

– Truy cập các ứng dụng như Facebook, Youtube…nói chung là “mạng xã hội” (social media). Đây cũng là những cửa ngõ khác rất thông dụng dẫn trẻ em vào một thế giới ảo trong giao tiếp.

 Trong thực tế, trẻ em thường không có khả năng nhớ, và hiểu những gì xuất hiện trên màn hình cho đến khi chúng được 15 tới 18 tháng tuổi, theo Dr. Jenny Radesky, giáo sự trợ giảng về phát triển thái độ của trẻ em tại Đại Học Michigan CS. Mott Bệnh Viện Nhi Khoa, và cũng là tác giả chính của American Academy of Pediatrics’ đã gợi ý: “Tôi thường xuyên khuyên các gia đình đừng cho trẻ em hoàn toàn quyền sử dụng phone, iphone, ipad – ngược lại, chúng phải xin phép dùng. Không cất giữ hoặc charge chúng trong phòng con mình, và phải ra luật khi nào hoặc lúc nào chúng được xử dụng những thứ ấy.”

 Một nhà chuyên môn khác, Amy Williams, trong bài phân tích “How Do Smartphones Affect Childhood Psychology?” cũng cho rằng càng lớn lên, trẻ em thường cảm thấy nhu cầu dùng kỹ thuật cốt để đạt tới đỉnh cao trong những tiến bộ. Nhưng kỹ thuật và những thời gian với màn hình đã cung ứng một đường dây điện tử mới trong óc của chúng. Có thể nói, càng tăng nhiều giờ trên màn hình, càng kém về phương pháp học tập truyền thống như đọc, viết, và tập trung.

Điện thoại và Internet cũng ảnh hưởng khả năng giao tiếp và sự phát triển tình cảm. Nếu một đứa trẻ lệ thuộc vào những phương tiện điện tử để giao tiep, chúng có nguy cơ yếu kém về khả năng giao tiếp và tình cảm ngoài xã hội. 

 Trí óc của một người chỉ phát triển khi có thể dễ dàng khuôn đúc, mô phỏng những nối kết và bắt chước những gì đang xảy ra chung quanh. Tuy nhiên, cũng có một số nhà chuyên môn và giáo dục lại có những nhận xét trái ngược khi cho rằng dùng điện thoại thông minh và các dụng cụ điện tử có thể giúp gia tăng những nhận thức học hỏi, nói năng giao tiếp, và bạn bè cùng sở thích. [2]

 Gợi ý cho phụ huynh

Nuôi dạy con cái ở thế kỷ 21 đồng nghĩa là phải biết hướng dẫn chúng làm quen với những tiến bộ của khoa học, với truyền thông, và với những kinh nghiệm của nền văn minh hiện đại. Vai trò phụ huynh, cha mẹ thời nay không giống như những thế hệ của cha ông đơn giản chỉ là sinh con, nuôi con, hướng dẫn con về luân lý, đạo đức theo truyền thống, và gửi con tới trường. 

Sau đây cũng là một số lời khuyên dành cho phụ huynh để hướng dẫn con cái trong việc sử dụng điện thoại theo khảo cứu của Amy Williams:

Trẻ em dưới 2 tuổi không nên cho phép dùng những màn hình hoặc những trò chơi điện tử.

Phụ huynh nên chơi hoặc sử dụng cùng với con mình.

Không để điện thoại ảnh hưởng đến những cơ hội trẻ em chơi hoặc có thêm bè bạn ngoài xã hội.

Giới hạn việc sử dụng từ 1 đến tối đa 2 giờ mỗi ngày. Thời gian này bao gồm điện thoại, TV, computers…

Khuyến khích những bữa ăn gia đình và chia sẻ chung.

Tìm kiếm những chương trình trong đó giúp nhận thức, khả năng toán học, ngôn ngữ, văn chương và kiến thức khoa học cho con.

Không cho phép trẻ em giữ điện thoại trong phòng ngủ riêng.

 Khảo cứu cho thấy ở năm 2025 gần 98% người Hoa Kỳ dùng điện thoạikhoảng 91% có điện thoại thông minh. Trung bình họ mất sáu, bẩy giờ mỗi ngày trên điện thoại, và rà soát hoặc vào thăm các thiết bị điện tử trên 200 lần mỗi ngày. Theo tường trình của viện Gallup năm 2022, có đến 72% người Hoa Kỳ đi ngủ với chiếc điện thoại bên mình. Điều này có nghĩa là phụ huynh, người lớn tuổi cũng cần phải kiểm soát việc sử dụng iphone, ipad, smartphone, cellphone và computer của mình. Bởi vì con cái sẽ học từ cha mẹ, và gia đình là một học đường tốt nhất, sớm nhất nơi con cái học để sống, và để phát triển.

__________

 Tài liệu:

  1. 10 Harmful Effects of Mobile Phones on Children’s Health.

https://arca.co.in/blogs/harmful-effects-mobile-phones-children/#:~:text=Mobile%20phone%20addiction%20in%20kids%20results%20in,disrupted%20sleep%2C%20decreased%20physical%20activity%2C%20eye%20strain%2C

  1. How Do Smartphones Affect Childhood Psychology? Amy Williams, Last updated: 8 Oct 2018, Psychcentral.com)

Tiến Sĩ Tâm Lý Trần Mỹ Duyệt

From: Ngoc Bich & KimBang Nguyen


 

Trầm cảm: Nguyên nhân, đối tượng và cách điều trị

 Trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần phổ biến nhất trên toàn thế giới. Rối loạn trầm cảm nặng ảnh hưởng đến khoảng 163 triệu người (2% dân số thế giới) vào năm 2017. Đây là rối loạn khá nguy hiểm, tác động nhiều đến mặt tinh thần, thể chất, chức năng sống và cả niềm vui trong đời sống của bệnh nhân.

Trầm cảm là gì?

Trầm cảm là một trong những rối loạn tâm thần. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cứ 20 người bình thường sẽ có một người đã từng bị một giai đoạn trầm cảm trong năm trước. Mỗi năm trung bình 850.000 người chết vì trầm cảm. Rối loạn trầm cảm không phân biệt giới tính hay độ tuổi, nhưng tỷ lệ mắc chứng trầm cảm ở phụ nữ gấp đôi nam giới.

Những người bị trầm cảm có thể đã phải trải qua những biến cố lớn của cuộc đời như: phá sản, thất nghiệp, nợ nần, ly hôn… hoặc cũng có những cá nhân mắc rối loạn trầm cảm nhưng không nhất thiết phải qua những biến cố lớn, mà đó có thể là những thay đổi trong đời sống hằng ngày: thăng chức, thay đổi môi trường sống, đổi công việc, kết hôn… những sự kiện này tác động mạnh đến đời sống cá nhân hoặc tinh thần của họ, thách thức sự thay đổi ở họ.

Rối loạn trầm cảm không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe tinh thần của người bệnh mà còn ảnh hưởng tới các mối quan hệ gia đình và xã hội.

Đối tượng nào dễ mắc rối loạn trầm cảm?

Rối loạn trầm cảm có thể đến với mọi người, tuy nhiên lứa tuổi phổ biến vào khoảng 18-45 tuổi, ngoài ra, độ tuổi trung niên và tuổi già cũng dễ gặp rối loạn này. Đây là nhóm sẽ đối diện với nhiều yêu cầu từ xã hội, và các thay đổi trong cuộc sống (tìm việc làm, kết hôn, sinh con vào độ tuổi vị thành niên, về hưu …). Tuy nhiên, nghiên cứu y khoa thống kê còn rất nhiều đối tượng dễ mắc rối loạn trầm cảm, họ thuộc các nhóm sau:

  • Nhóm người bị sang chấn tâm lý: họ trải qua biến cố lớn, đột ngột của cuộc đời như: phá sản, bị lừa đảo mất hết tiền của, nợ nần, mất đi người thân, hôn nhân đổ vỡ, con cái hư hỏng, áp lực công việc quá lớn…
  • Nhóm phụ nữ vừa sinh con: Đây là giai đoạn nhạy cảm, và nhiều nguy cơ đối với phụ nữ, những thay đổi nhanh chóng về hocmon, vai trò trong gia đình, thay đổi lối sống (thiếu ngủ…) hoặc những bất ổn trong cuộc sống trước đó cũng góp phần làm tăng nguy cơ trầm cảm ở phụ nữ sau sinh.

Phụ nữ có nguy cơ mắc trầm cảm gấp 2 lần nam giới

  • Nhóm học sinh, sinh viên: áp lực học tập quá lớn, thi cử dồn dập, áp lực từ cha mẹ thầy cô, sự đánh giá kết quả học tập.
  • Nhóm người bị tổn thương cơ thể: người bị tai nạn phải cắt bỏ bộ phận cơ thể, chấn thương sọ não, ung thư, mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.
  • Nhóm đối tượng lạm dụng rượu bia, chất kích thích trong thời gian dài.
  • Nhóm đối tượng thiếu nguồn lực trong cuộc sống: thiếu các mối quan hệ hỗ trợ, thiếu giao tiếp, thiếu cách ứng phó với stress, hoặc những khó khăn khác: kinh tế, công việc.

Các mức độ trầm cảm

Trầm cảm được chia bởi 3 mức độ: nhẹ- vừa- nặng
Để được chẩn đoán có mắc bệnh trầm cảm hay không phải có ít nhất một trong hai triệu chứng của bệnh trầm cảm cốt lõi đó là:
Trong vòng hai tuần, hầu như mỗi ngày:
Bạn có khí sắc trầm nhược/hoặc mất hứng thú cộng với ít nhất 4 trong các triệu chứng:

  • Giảm hoặc lên cân, giảm hoặc tăng cảm giác ngon miệng.
  • Mất ngủ hoặc ngủ triền miên.
  • Kích động hoặc trở nên chậm chạp.
  • Mệt mỏi hoặc mất sức.
  • Cảm giác vô dụng, vô giá trị hoặc mặc cảm tội lỗi.
  • Giảm khả năng tập trung, do dự.
  • Hay nghĩ đến cái chết, có ý tưởng hoặc hành vi tự sát.

Các triệu chứng trầm cảm ở trẻ em và thanh thiếu niên

  • Tự đánh giá thấp bản thân
  • Có những hành vi gây hấn, kích động
  • Rối loạn giấc ngủ
  • Có các khó chịu, than phiền về cơ thể
  • Mất năng lượng
  • Chán học hoặc học tập sa sút
  • Hay một số trẻ trở nên ngoan quá mức, tách biệt, lãnh đạm

Dựa vào những triệu chứng trên và mức độ mà Bác sĩ tâm thần kinh hoặc Tâm lý gia sẽ phân loại trầm cảm nhẹ, vừa, nặng. Đôi khi họ sẽ mời bệnh nhân làm một số bài test trầm cảm để hỗ trợ chẩn đoán thêm chính xác. Một dạng trầm cảm khác cũng được quan tâm nhiều là rối loạn trầm cảm sau sinh.

Trầm cảm sau sinh: Trầm cảm sau sinh thường gặp ở các bà mẹ lần đầu sinh con, hoặc những bà mẹ sinh quá nhiều con nhưng thiếu sự hỗ trợ từ gia đình hoặc xã hội. Người mẹ rơi vào tâm trạng lo lắng, thiếu ngủ, cáu gắt, hoặc khóc lóc, có thể khó kiểm soát hành vi, làm đau em bé, hoảng sợ khi con khóc… (1)

Nguyên nhân nào gây bệnh trầm cảm ?

Trầm cảm được gọi là rối loạn vì không thể xác định nguyên nhân cụ thể, ta chỉ có thế xác định yếu tố nguy cơ, tức là cá nhân đó trải qua những điều này thì nguy cơ gặp trầm cảm sẽ cao hơn những đối tượng khác. Các nguy cơ trầm cảm có thể bao gồm:

  • Do bệnh lý hoặc chấn thương: Người có tiền sử mắc bệnh não như viêm não, u não, chấn thương sọ não dễ mắc bệnh trầm cảm do tổn thương cấu trúc não.
  • Sử dụng chất kích thích:Người bệnh dễ trầm cảm nếu hút thuốc lá, rượu bia, sử dụng chất kích thích tổn hại thần kinh như ma túy, ma túy đá..
  • Trầm cảm do căng thẳng kéo dài: công việc áp lực kéo dài, áp lực gia đình, xung đột, môi trường sống căng thẳng…
  • Trầm cảm chưa rõ nguyên nhân (nội sinh): Nguyên nhân trầm cảm xảy ra do rối loạn hoạt động của các chất dẫn truyền thần kinh có trong não bộ như Noradrenaline, Serotonin…Nhìn chung, các yếu tố liên quan đến các nhóm sinh học (di truyền, thay đổi chất dẫn truyền ở não…), môi trường (căng thẳng kéo dài, thiếu nguồn lực xã hội…) tâm lý (quá khứ từng có sang chấn….) đều có thể góp phần tăng nguy cơ trầm cảm. (2)

Stress là một trong những nguyên nhân dẫn đến trầm cảm

Nguon: https://tamanhhospital.vn/benh/tram-cam/

 25/07/2021