Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
“Vào khoảng canh tư, Người đi trên mặt biển mà đến với các môn đệ”.
“Thiên Chúa bắt chúng ta chờ đợi để làm lớn lên lòng khát khao; và khi khát khao đủ lớn, Ngài mở rộng tâm hồn để đón nhận điều sắp ban!” – Augustinô.
Kính thưa Anh Chị em,
Có những đêm đợi chờ không vì Thiên Chúa vắng mặt, nhưng vì Ngài đang làm lớn lên nỗi khát. Tin Mừng hôm nay kể về một đêm như thế. Phải chăng ‘Chúa thường muộn?’.
Ngay từ đầu trình thuật, Matthêu đã kín đáo gieo một chi tiết mà chúng ta dễ bỏ qua. Sau phép lạ hoá bánh, Chúa Giêsu buộc các môn đệ xuống thuyền sang bờ bên kia trước. Bản Hy Lạp viết proagein – đi “trước”. Nhưng “trước” ở đây không chỉ là trước về không gian hay thời gian; đó là một hành trình dẫn vào một điều lớn hơn. Các môn đệ chưa biết đêm ấy sẽ gặp điều gì; họ vâng lời. Chỉ khi bão nổi, họ mới hiểu: Chúa Giêsu không đưa họ sang một bờ bên kia nào khác, nhưng vào mầu nhiệm của chính Ngài; điều chỉ có thể hiểu được khi đã đi qua: “Quả thật, Ngài là Con Thiên Chúa!”.
Nhưng tại sao Chúa Giêsu để các môn đệ đi trước, rồi mãi đến canh tư mới xuất hiện? Phải chăng Ngài ‘thường muộn?’. Không! Ngài không muộn, cũng không hề bỏ họ một mình giữa biển đêm. Ngài vẫn ở bên; chỉ có điều họ không nhận ra. Chỉ khi sức người chạm tới giới hạn, họ mới khám phá Đấng tưởng như vắng mặt chưa bao giờ rời xa. Điều con người gọi là ‘muộn’, nhiều khi lại chính là giờ của Thiên Chúa – giờ họ nhận ra Ngài. Bởi lẽ, Ngài không đến sau sức người, nhưng luôn đến trước tuyệt vọng. “Ai tin thì không bao giờ cô độc!” – Bênêđictô XVI.
Thiên Chúa không chỉ có “giờ”, mà còn có “cách” của Ngài. Êlia đã không gặp Chúa như mình chờ – bài đọc một; Phaolô không thấy lời hứa được thực hiện như mình mong – bài đọc hai. Con người tưởng Thiên Chúa vắng mặt nhiều khi không phải vì Ngài muộn, nhưng vì Ngài hiện diện không theo cách họ ước. Bởi vậy, Thánh Vịnh đáp ca trở thành lời cầu của mọi thời: “Lạy Chúa, xin tỏ cho chúng con thấy tình thương của Chúa!”.
Phần chúng ta, điều cần đổi không phải là “giờ” của Thiên Chúa, nhưng là cách đọc cuộc đời. Chúng ta vội xem im lặng là vắng mặt, chậm trễ là bỏ quên, bão tố là vắng Chúa; đang khi Ngài vẫn ở bên. Chỉ khi ngoảnh lại, chúng ta mới nhận ra: Thiên Chúa chưa bao giờ muộn; chỉ có đức tin của chúng ta đến muộn. ‘Canh tư’ muộn màng hoá ra lại là khoảnh khắc chính xác nhất để ơn thánh ngỏ lời.
Anh Chị em,
Với Đức Kitô, trên thập giá, mọi sự đều như quá muộn: lời hứa, phép lạ, ngay cả sự sống. Nhưng chính nơi tưởng như Chúa Cha vắng mặt nhất, bình minh phục sinh đã dần hé rạng. Từ đó, giữa những ‘canh tư’ của cuộc đời, người Kitô hữu không còn hỏi: ‘Chúa thường muộn?’; cũng không còn đòi Chúa sớm cất dông bão, nhưng xác tín rằng giữa mọi phong ba, Ngài vẫn ở bên – Emmanuel. “Chờ đợi không phải là thụ động; đó là tin rằng điều đang xảy ra còn lớn hơn điều ta thấy!” – Henri Nouwen.
Chúng ta có thể cầu nguyện,
“Lạy Chúa, đừng để con bỏ cuộc giữa những ‘canh tư’; chỉ biết trung thành với lối Chúa dẫn. Vì cuối mọi bờ bên kia là chính Đức Kitô – bến hẹn đời con!”, Amen.
Lm. Minh Anh, Tgp. Huế
*****
LỜI CHÚA CHÚA NHẬT XIX TN, NĂM A:
Ai nấy đều ăn và được no nê.
✠ Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.
13 Khi ấy, được tin ông Gio-an Tẩy Giả chết, Đức Giê-su xuống thuyền đến một chỗ hoang vắng riêng biệt. Nghe biết vậy, đông đảo dân chúng từ các thành đi bộ mà theo Người. 14 Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su trông thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương, và chữa lành các bệnh nhân của họ.
15 Chiều đến, các môn đệ lại gần thưa với Người : “Nơi đây hoang vắng, và đã muộn rồi, vậy xin Thầy cho dân chúng về, để họ vào các làng mạc mua lấy thức ăn.” 16 Đức Giê-su bảo : “Họ không cần phải đi đâu cả, chính anh em hãy cho họ ăn.” 17 Các ông đáp : “Ở đây, chúng con chỉ có vỏn vẹn năm cái bánh và hai con cá !” 18 Người bảo : “Đem lại đây cho Thầy !” 19 Rồi sau đó, Người truyền cho dân chúng ngồi xuống cỏ. Người cầm lấy năm cái bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra, trao cho môn đệ, và môn đệ trao cho đám đông. 20 Ai nấy đều ăn và được no nê. Những mẩu bánh còn thừa, người ta thu lại được mười hai giỏ đầy. 21 Số người ăn có tới năm ngàn đàn ông, không kể đàn bà và trẻ con.
