HAI CON NGƯỜI

HAI CON NGƯỜI

TRM THIÊN THU

Trong mỗi chúng ta đều có hai con người – hai bộ mặt. Một con người luôn hướng thiện với lương tâm tốt, nhân chi sơ tính bổn thiện, đó là tiếng nói động viên của Thiên Chúa: “Hãy hoàn thin như Cha trên tri (Mt 5:48). Một con người theo hướng ác với lương tâm lệch lạc, đó là tiếng nói xúi giục của ma quỷ: “Chng chết chóc gì đâu! (St 3:4). Hai con người, nhưng chỉ một cuộc đời. Vì thế, với hai con người đó, chúng ta gọi là “hai nửa cuộc đời”.

Hai con người hoặc hai “nửa” đó luôn giằng co khiến chúng ta phải thực sự can đảm và dứt khoát mới có thể hành động đúng. Khó thật! Thánh Phaolô đã phải than thở: “Điu tôi mun, thì tôi không làm, nhưng điu tôi ghét, thì tôi li c làm (Rm 7:15).

Mỗi chúng ta có hai con người nên mỗi chúng ta cũng có hai bộ mặt và hai tính cách: Hiền và dữ, tươi cười và nhăn nhó, đẹp và xấu, mềm và cứng, đen và trắng,…

Trình thuật Lc 15:11-32 là dụ ngôn “Người Cha Nhân Hậu” (trước đây gọi là dụ ngôn “Đứa Con Hoang Đàng”). Đây là dụ ngôn điển hình nhất trong ba dụ ngôn về Lòng Chúa Thương Xót, và là dụ ngôn rất thực tế – hai dụ ngôn kia là “Con Chiên Bị Mất” (Lc 15:4-7; Mt 18: 12 -14) và “Đồng Bạc Bị Mất” (Lc 15:8-10).

Trong dụ ngôn “Người Cha Nhân Hậu” có hai người con, một BƯỚNG BỈNH và một NGOAN NGOÃN. Đó là hình ảnh “hai con người” trong chúng ta. Tuy nhiên, chúng ta thường chỉ “nhắm” vào tội của người con thứ mà “làm ngơ” tội của người con trưởng (con cả).

Một hôm, khi thấy các người thu thuế và các người tội lỗi đều lui tới với Đức Giêsu để nghe Ngài giảng, những người Pha-ri-sêu và các kinh sư bèn xầm xì với nhau: “Ông này đón tiếp phường ti li và ăn ung vi chúng (Lc 15:2). Có thể chúng ta không nói ra, nhưng có lẽ chúng ta cũng đã từng “liếc mắt sắc như dao cau” hoặc dè bỉu, hoặc có các động thái tương tự câu nói đó của họ.

Nghe họ rỉ tai nhau như vậy, Chúa Giêsu kể một hơi dài với ba dụ ngôn về Lòng Thương Xót. Một trong ba dụ ngôn (Lc 15:11-32) là câu chuyện “rất quen” như thế này…

Một người kia có hai con trai. Người con thứ nói với cha: “Thưa cha, xin cho con phn tài sn con được hưởng. Và người cha đã chia ca ci cho hai con. Ít ngày sau, người con thứ thu góp tất cả rồi trẩy đi phương xa. Ở đó anh ta sống phóng đãng, phung phí tài sản của mình.

Khi anh ta đã ăn tiêu hết sạch, thì lại xảy ra trong vùng ấy một nạn đói khủng khiếp. Và anh ta bắt đầu lâm cảnh túng thiếu, nên phải đi ở đợ cho một người dân trong vùng; người này sai anh ta ra đồng chăn heo. Anh ta ao ước lấy đậu muồng heo ăn mà nhét cho đầy bụng, nhưng chẳng ai cho. Bấy giờ anh ta hồi tâm và tự nhủ: “Biết bao nhiêu người làm công cho cha ta được cơm dư go tha, mà ta đây li chết đói! Thôi, ta đng lên, đi v cùng cha và thưa vi người: Thưa cha, con tht đc ti vi Tri và vi cha, chng còn đáng gi là con cha na. Xin coi con như mt người làm công cho cha vy. Thế ri anh ta đng lên đi v cùng cha.

Bấy giờ người con nói rằng: “Thưa cha, con tht đc ti vi Tri và vi cha, chng còn đáng gi là con cha na. Nhưng người cha liền bảo các đầy tớ rằng: “Mau đem áo đp nht ra đây mc cho cu, x nhn vào ngón tay, x dép vào chân cu, ri đi bt con bê đã v béo làm tht đ chúng ta m tic ăn mng! Vì con ta đây đã chết mà nay sng li, đã mt mà nay li tìm thy. Và họ bắt đầu ăn mừng.

Lúc ấy người con cả của ông đang ở ngoài đồng. Khi anh ta về gần đến nhà, nghe thấy tiếng đàn ca nhảy múa, liền gọi một người đầy tớ ra mà hỏi xem có chuyện gì. Người ấy trả lời: “Em cu đã v, và cha cu đã làm tht con bê béo, vì gp li cu y mnh kho. Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà. Nhưng cha cậu ra năn nỉ. Cậu trả lời cha: “Cha coi, đã bao nhiêu năm tri con hu h cha, và chng khi nào trái lnh, thế mà chưa bao gi cha cho ly được mt con dê con đ con ăn mng vi bn bè. Còn thng con ca cha đó, sau khi đã nut hết ca ci ca cha vi bn điếm, nay tr v, thì cha li giết bê béo ăn mng!.

Nhưng người cha nói với anh ta: “Con à, lúc nào con cũng vi cha, tt c nhng gì ca cha đu là ca con. Nhưng chúng ta phi ăn mng, phi vui v, vì em con đây đã chết mà nay li sng, đã mt mà nay li tìm thy.

Vâng, chẳng cần đọc lại hoặc nghe lại vì chắc hẳn tất cả chúng ta đã “thuộc lòng” dụ ngôn này rồi, càng nhiều tuổi càng nghe nhiều. Người cha không dùng quyền mà ép nó. Thiên Chúa hoàn toàn cho chúng ta tự do, không hề bắt buộc, thế nên chúng ta không thể trốn tránh trách nhiệm hoặc tự biện hộ với bất cứ lý do gì – nghĩa là chúng ta không thể việc cớ “tại, vì, bởi, nếu, giá mà…”.

B MT TH NHT: NGƯỜI CON TH

Bản chất con người luôn muốn chứng tỏ “bản lĩnh” của mình, nghĩa là chúng ta muốn nổi dậy, thích tự do, không muốn bị gò bó. Người con thứ là “bản chất xấu” trong chúng ta. Lúc nào nó cũng tìm dịp để nổi dậy, sơ hở một chút là nó vùng lên ngay. Nó biết “đi hoang” là sai trái, nhưng nó có nhiều lý do để chống chế, tự biện hộ, và tự cho là mình hành động đúng. Trong khi đó, thằng quỷ kiêu ngạo lại cứ rỉ rả bên tai: “Chng chết chóc gì đâu mà s! (St 3:4). Thế là chúng ta cứ “vô tư” mà phạm tội!

Cám dỗ nào cũng ngọt ngào, cám dỗ nào cũng đẹp, không ngọt ngào và không đẹp thì làm sao lôi cuốn? Cũng như quảng cáo nào cũng bắt mắt, bùi tai, mua và dùng rồi mới biết là… bị lừa! Những người đi lừa người khác luôn khéo nói, như thế mới có thể chiếm dụng tài sản của người khác, như thế nhiều người mới mắc lừa.

Miệng ăn, núi lở. Tiền rừng cũng hết, bạc biển cũng cạn. Sau khi ăn chơi phung phí và trác táng, không còn một xu dính túi, người con thứ mới nhận thấy mình… sai, vì sống khổ sở quá, đến nỗi thèm cám heo cũng không ai cho mà ăn. Đắn đo, nghĩ tới nghĩ lui, hết cách, bị triệt buộc, chỉ còn “đường binh” cuối là trở về với cha mà thôi.

Sự trở về nghe chừng đơn giản, ngắn gọn, nhưng thực ra không hề dễ dàng, cam go lắm. Trước khi cất bước trở về, người con thứ phải chiến đấu với chính mình rất dữ dội, giằng xé nát lòng, suy nghĩ nát óc. Đi xa về mà te tua tơi tả thì ai mà coi được! Phải “mặt dày” lắm mới có thể trở về. Một sự giằng co nữa là ngại với cha, xấu hổ lắm, không biết cha có nhận mình về hay lại đuổi đi. Gay go thật!

Vì ở bước đường cùng, người con thứ phải quyết trở về để tìm đường sống, bất đắc dĩ phải làm vậy thôi. Nó không dám mong gì hơn, chỉ dám hy vọng mong manh là cha sẽ nhận nó như đầy tớ hoặc người làm công thôi. Nhưng thật bất ngờ, người cha không chỉ tha thứ tội lỗi cho nó mà còn phục hồi cương vị làm con yêu dấu và mở tiệc liên hoan y như nó là quan trạng vinh quy bái tổ vậy. Nước mắt vẫn chảy xuôi. Tình phụ tử kỳ diệu thật!

B MT TH NHÌ: NGƯỜI CON TRƯỞNG

Người con trưởng là con cả hoặc anh hai. Chúng ta tưởng đứa con này khôn ngoan, lễ phép, nhưng không phải vậy, có thể có “khôn” nhưng chưa “ngoan”. Tại sao? Nó đã nhẫn tâm phủ nhận tình huynh đệ, tình máu mủ ruột rà, lại còn kiêu ngạo khi tự nhận mình là đứa con hiếu thảo, đồng thời so đo và đố kỵ: “Cha coi, đã bao nhiêu năm tri con hu h cha, và chng khi nào trái lnh, thế mà chưa bao gi cha cho ly được mt con dê con đ con ăn mng vi bn bè. Còn thng con ca cha đó, sau khi đã nut hết ca ci ca cha vi bn điếm, nay tr v thì cha li giết bê béo ăn mng!. Rõ ràng anh ta ở bên cha nhưng không hề thật lòng yêu thương cha, chỉ nhắm tới gia tài. Vì thế, khi thấy thằng em “trời đánh” trở về và được cha mở tiệc mừng, thằng anh ghen tức, sợ phần gia tài còn lại sẽ bị thằng em “ăn chia”.

Không chỉ ghen tương và đố kỵ, thằng anh còn mặc nhiên coi thường tình phụ tử, nó ở gần cha mà lòng lại xa cha. Nhìn người con trưởng, chúng ta thấy nó có vẻ bình thường và là đứa con ngoan ngoãn, nhưng thực ra nó nhiều tội lắm! Loại “con người” này cũng vẫn thường xuất hiện ở trong mỗi chúng ta. Có thể chúng ta không nói ra bằng lời, nhưng qua các động thái, chúng ta vẫn ngầm cho mình là người đạo đức hơn người khác: Tưới cây trong khu nhà thờ, quét nhà thờ, tham gia hội đoàn Legio, huynh đoàn Đa-minh, hội Con Đức Mẹ, hội Phạt Tạ Thánh Tâm, hội Cầu Nguyện, cộng đoàn Lòng Chúa Thương Xót, ca đoàn, giúp lễ, đọc sách thánh, làm việc từ thiện,… Tham gia như vậy cũng rất tốt, nhưng hãy coi chừng: Đừng chỉ chú trọng bề nổi mà thiếu chiều sâu. Hãy hoạt động để sáng danh Chúa thực sự chứ đừng “đánh bóng” chính mình!

Điều MUỐN và điều CẦN không giống nhau. Có rất nhiều điều chúng ta ước muốn lắm, nhưng trong số đó vẫn có những điều thực sự không cần thiết. Ví dụ, chúng ta mua quần này, áo nọ, giày nọ, dép kia, thay đổi điện thoại đời mới, máy chụp hình,… Thế nhưng có những thứ đó hoàn toàn là lãng phí, chỉ là đua đòi, chứ thực sự chưa hoặc không cần thiết. Chúng ta thường bị ảo giác trước vẻ hào nhoáng của các vật, bị chúng làm lóa mắt, do đó mà chúng ta sẵn sàng “vung tay quá trán” và hoang phí. Đó là chúng ta bị những ham muốn lừa dối. Về lĩnh vực tâm linh cũng tương tự!

Cuộc đời như sân khấu vậy, người ta hóa trang đủ kiểu khiến người khác khó nhận biết. Các sản phẩm ngày nay cũng khó nhận ra cái nào thật hoặc giả, hàng hiệu hoặc hàng nhái. Trong cuộc sống tâm linh cũng vậy, chúng ta vẫn có nhiều loại “mặt nạ”. Phải thực sự can đảm mới đủ sức lột mặt nạ để có thể luôn luôn cứ là chính mình!

Trong chúng ta cũng có hai “con người” như hai người cầu nguyện tại Đền Thờ – người thu thuế và người Pha-ri-sêu (x. Lc 18:9-14). Ước gì chúng ta “mặc lấy” con người của người-thu-thuế-khiêm-nhường, nhưng “cởi bỏ” con người của người-Pha-ri-sêu-kiêu-ngạo.

Mùa Chay, chúng ta hãy cùng nhau “lột xác” theo lời khuyên của Thánh Phaolô: “Anh em phi ci b con người cũ vi nếp sng xưa, là con người phi hư nát vì b nhng ham mun la di, anh em phi đ Thn Khí đi mi tâm trí anh em, và phi mc ly con người mi, là con người đã được sáng to theo hình nh Thiên Chúa đ tht s sng công chính và thánh thin (Ep 4:22-14).

Ly Thiên Chúa giàu lòng thương xót, xin cho con biết Chúa và biết con, đ con sng đúng theo Thánh Ý Ngài và nhân t vi tha nhân; xin giúp con can đm chết cho ti li đ được sng li vinh quang vi Đc Kitô Giêsu. Amen.

TRM THIÊN THU

Bài này đã được đăng trong BÌNH LUẬN- SỰ KIỆN, TÔN GIÁO. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.