CÂU CHUYỆN VỀ CÔ BÉ 7 TUỔI CỨU SỐNG HÀNG TRIỆU TRẺ EM Ở CHÂU PHI

 CÂU CHUYỆN VỀ CÔ BÉ 7 TUỔI CỨU SỐNG HÀNG TRIỆU TRẺ EM Ở CHÂU PHI

Đây là câu chuyện có thật về cô bé ấy có tên là Katherine Commale:

– Vào ngày 6/4/2006, cô bé Katherine Commale ở Mỹ xem đoạn phóng sự ở châu Phi trên TV, trong đó có nói ở châu Phi trung bình mỗi 30 giây sẽ có một đứa trẻ tử vong do bệnh sốt rét.

Cô bé 5 tuổi ngồi trên sô pha đếm số bằng tay 1, 2, 3,… 30. Khi đếm đến 30, cô bé hoảng sợ nói: “Mẹ ơi, có một bạn nhỏ ở châu Phi chết rồi, chúng ta nhất định phải làm gì đó!”.

Vài ngày sau, mẹ của Katherine nhận dược điện thoại của cô giáo mẫu giáo nói rằng cô bé không đóng tiền ăn nhẹ.

Khi mẹ hỏi tiền đâu thì Katherine nói: “Mẹ ơi, nếu con không ăn đồ ăn nhẹ ở trường, bình thường không ăn vặt, cũng không mua búp bê nữa, vậy thì có đủ để mua một chiếc mùng không ạ?”

Mẹ đưa cô bé đến siêu thị, mua một chiếc mùng chống muỗi lớn có thể sử dụng cho 4 trẻ em có giá mười mấy đô la. Sau đó cô gọi điện thoại cho tổ chức làm từ thiện ở châu Phi hỏi cách làm thế nào để gửi được chiếc mùng đến đó.

Rất nhanh sau đó họ đã tìm cho cô tổ chức Nothing But Nets chuyên gửi mùng đến châu Phi cho trẻ em. Katherine tự tay gửi chiếc mùng đi, một tuần sau, cô bé nhận được thư cảm ơn từ tổ chức Nothing But Nets, trong thư họ cho biết cô bé là người quyên góp nhỏ tuổi nhất và nếu cô bé quyên góp 10 chiếc mùng thì sẽ được giấy chứng nhận.
Katherine yêu cầu mẹ cùng mình ra chợ bán đồ cũ để bày bán sách cũ, đồ chơi cũ, quần áo cũ của cô bé để lấy tiền quyên góp mùng. Nhưng bán cả một ngày mà không ai mua. Katherine nghĩ: “Mình quyên tiền mua mùng, tổ chức Nothing But Nets sẽ cho mình giấy chứng nhận. Vậy người khác mua đồ của mình, đưa cho mình tiền, họ cũng nên nhận được giấy chứng nhận mới đúng chứ.”

Thế là cô bé bắt đầu tự làm giấy chứng nhận, mẹ giúp mua vật liệu, bố giúp sắp xếp phòng làm việc, em trai giúp vẽ trái tim. Mỗi tờ giấy chứng nhận đều có dòng chữ “Nhân danh bạn, chúng ta mua một chiếc mùng để gửi đến châu Phi” do chính Katherine viết tay, đương nhiên còn có chữ ký chứng nhận của cô bé.

Chỉ cần quyên góp 10 đô la để mua một chiếc mùng là sẽ nhận được một tờ giấy chứng nhận. Hàng xóm nhìn thấy giấy chứng nhận của cô bé, họ cảm thấy vừa ngây thơ vừa cảm động, cô bé nhanh chóng bán được 10 tờ giấy chứng nhận. Katherine gửi tiền cho tổ chức từ thiện và nhận được “Giấy chứng nhận danh dự” đặc biệt làm riêng cho cô bé từ tổ chức Nothing But Nets, họ phong cho Katherine là “Đại sứ mùng chống muỗi”.
Vào ngày 8/6/2007, Katherine nhận được thư gửi đến từ làng Stiga, các bạn nhỏ trong làng viết: “Cảm ơn mùng mà bạn đã gửi cho chúng mình, chúng mình đã thấy ảnh của bạn, mọi người đều cảm thấy bạn rất xinh!”. Katherine vui lắm khi nhận được sự khích lệ này, khiến cô bé có động lực lớn hơn, cô và các “đồng đội” cùng chung tay làm 100 tờ giấy chứng nhận để gửi cho mỗi tỷ phú trong bảng xếp hạng của tạp chí Forbes mỗi người một tờ.

Trên một lá thư có viết: Kính gửi ông Bill Gates, không có mùng chống muỗi, các bạn nhỏ ở châu Phi sẽ bị mất mạng do bệnh sốt rét. Họ cần tiền, nhưng nghe nói tiền đều ở chỗ của ông…

Ngày 5/4/2011, Quỹ từ thiện Bill Gates tuyên bố quyên góp 3 triệu đô la cho tổ chức Nothing But Nets. Bill Gates cho biết ông nhận được một tờ giấy chứng nhận cùng một lá thư, trong thư nói rằng số tiền mà trẻ em ở châu Phi cần để mua mùng chống muỗi đều ở chỗ ông. Có vẻ như ông “không đưa tiền ra là không được đâu”.

Năm 2008, Quỹ từ thiện Bill Gates đã quay một bộ phim tài liệu công ích có tên là “Trẻ em cứu trẻ em”, nhờ đó mà Katherine đã đến châu Phi. Cô bé nhìn thấy các bạn nhỏ dùng bút viết lên mùng chữ “Katherine”, các bạn đều gọi những chiếc mùng cứu mạng này là “mùng Katherine”. Chiếc mùng đầy tình yêu thương này sẽ bảo vệ cho các bạn mỗi đêm. Làng Stiga bây giờ có tên là “Làng mùng Katherine”!.

Cho đến năm 10 tuổi, Katherine đã gây quỹ trên 180.000 USD, tương đương với 18.000 chiếc màn chống muỗi đã được gửi tới các gia đình châu Phi. Không lâu sau dấu mốc quan trọng này, cô bé nhận được tin tức rằng con số cứ 30 giây lại có một đứa trẻ ra đi vì sốt rét đã được cải thiện thành 45 giây. Hiện nay, con số này đã được nâng lên thành 60 giây.

 Nguồn: Vì Hoà Bình

From: Phong Dương

TẠI SAO NGƯỜI VIỆT LẠI CHỌN TIỂU BANG TEXAS LÀ NƠI ĐỂ ĐỊNH CƯ LÂU DÀI?

TẠI SAO NGƯỜI VIỆT LẠI CHỌN TIỂU BANG TEXAS LÀ NƠI ĐỂ ĐỊNH CƯ LÂU DÀI?

Nước Mỹ là một thiên đường mà nhiều người dân mong muốn được nhập cư để được sinh sống và làm việc tại đây, trong đó phải kể đến người Việt Nam. Trong nhiều năm trở lại đây, đông đảo người Việt đã và đang định cư tại Hoa Kỳ với nhiều diện khác nhau và sống rãi rác ở nhiều tiểu bang khác nhau tại Mỹ, nhưng có 05 tiểu bang phổ biến nhất, đó là: tiểu bang California, tiểu bang Texas, tiểu bang Washington, tiểu bang Florida và tiểu bang NewYork. Những nơi ấy đã tạo thành một cộng đồng dân cư Người Việt sống chan hòa và đoàn kết. Theo xu hướng gần đây, đại bộ phận người Việt đều mong muốn đến sống tại tiểu bang Texas. Vậy nơi đây có những sức hút đặc biệt nào gây chú ý, vậy chúng ta hãy cùng tìm hiểu qua bài viết sau.

Tiểu bang Texas nơi sống lý tưởng của cộng đồng dân cư người Việt

Texas là một tiểu bang nằm ở khu vực trung tâm vùng Tây Nam của Hoa Kỳ, có lượng dân số người Việt sinh sống đứng thứ hai tại Mỹ. Với người việt ở Mỹ sống tại bang Texas, mùa đông là thời điểm có khí hậu dễ chịu nhất trong năm. Khu vực này có khí hậu nhiệt đới ẩm, ở các vùng gần bờ biển khí hậu có phần ôn hòa hơn và chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm không quá lớn. Vào mùa hè, cái nóng bao phủ trên khắp tiểu bang Texas, đỉnh điểm của sự nóng nực có khi lên đến 35 độ C.

Tiểu bang Texas nổi tiếng là rộng lớn, ồn ào, và kiêu ngạo. Các cư dân tại đó tôn thờ tiểu bang quê hương của họ và không sợ phải biểu lộ điều đó. Tiểu bang Texas, thường được gọi là tiểu bang Ngôi Sao Đơn Độc (Lone Star State), vì có một ngôi sao trên lá cờ của Cộng Hòa Texas sau khi ly khai khỏi Mexico vào năm 1836 và tuyên bố độc lập.

Texas gia nhập liên bang vào năm 1845 với tư cách tiểu bang thứ 28 của Hoa Kỳ. Dù bạn là một người ưa thích lịch sử hay một người say mê thể thao, Texas cung cấp đủ thứ cho mọi người. Sau đây là một vài sự kiện vui về vùng đất rộng lớn và đa dạng này.

Những điều đặc biệt mà tiểu bang Texas gây sức hút với cộng đồng dân cư người Việt tại Mỹ là gì?

Thứ nhất, đó là giá cả, chi phí sinh hoạt

Người Việt định cư tại Mỹ từ California đang có xu hướng chuyển sang định cư ở Texas do giá nhà cửa rẻ hơn và nhiều cơ hội việc làm hơn. Nhiều người Việt bị hấp dẫn bởi giá nhà cửa và sinh hoạt rẻ cùng với nếp sống văn hoá nhộn nhịp tại tiểu bang Texas đã kéo nhau tới định cư tại đô thị ven biển này. Từ trước đến nay, quận Cam thuộc tiểu bang California vốn vẫn là nơi có cộng đồng người Việt đông đảo nhất ở nước Mỹ. Tuy nhiên, thời điểm này, với giá cả đắt đỏ và ít cơ hội làm ăn, quận Cam đang bị mất dần ưu thế nhường lại vị trí cho thành phố Houston của tiểu bang Texas giàu có nổi tiếng nhờ dầu hoả này.

Nhiều người Việt khi định cư tại California rất nhiều năm những họ vẫn không đủ tiền để mua một căn nhà, họ đã quyết định thay đổi nơi sống và họ đã có được ngôi nhà như mong ước khi chuyển đến vùng ngoại ô của thành phố Houston thuộc tiểu bang Texas. Họ cho rằng, giá nhà cửa ở đây rẻ hơn, giá sinh hoạt thấp, các cơ hội làm ăn tốt hơn và đặc biệt cũng có đông đảo cộng đồng dân cư người Việt sinh sống tại đây.

Những nhà kinh doanh gốc Việt tại California cũng mở rộng hoặc dịch chuyển hoạt động kinh doanh của họ sang Houston, cố gắng khai thác cộng đồng người Việt đang gia tăng tại đây, trong khi thị trường nơi đây chưa bị cạnh tranh khốc liệt như ở Little Saigon đông đúc.

      Thành phố Hoston – nơi phồn vinh của Texas

Nhiều người Việt sống lâu năm ở Houston cho biết họ chứng kiến số lượng người Việt đến đây từ California trong những năm trở lại đây đã tăng vọt, chính yếu do giá nhà cửa khá rẻ. Mặc dù sau cơn bão Katrina, nhiều người mất nhà cửa từ Lousiana đã tới đây nhưng con số định cư đến từ California vẫn đông hơn.

Thứ hai, về lịch sử Texas

Tiểu bang Texas tràn đầy lịch sử. Tiểu bang đã nằm dưới ảnh hưởng của Tây Ban Nha, Pháp, Mexico và Hoa Kỳ trong suốt lịch sử ngắn ngủi của nó, và là chiến trường của một số trận đánh nổi tiếng. Địa điểm lịch sử được thăm viếng thường xuyên nhất là Alamo ở San Antonio. Texas cũng là nơi tọa lạc Trung Tâm Phi Thuyền Không Gian Có Người Điều Khiển của NASA, nơi phi thuyền Apollo 11 được phóng đi, đánh dấu chuyến bay đầu tiên của con người lên mặt trăng.

Là tiểu bang được tiếng là dễ sống, có 3 trong 5 thành phố phát triển thịnh đạt nhất Hoa Kỳ nằm ngay tại Texas: Austin, Dallas và Houston. Trong số 20 thành phố lớn nhất quốc gia, thì có đến 6 cũng thuộc Texas: Houston, Dallas, San Antonio, Austin, Fort Worth, và El Paso. Trên nhiều khảo sát uy tín quốc gia, Texas thường được xếp hạng cao về môi trường làm ăn thuận lợi.

Thứ ba, thuế tại Texas

Texas là một trong những tiểu bang của Hoa Kỳ không thu thuế lợi tức tiểu bang. Đối với những người lo ngại về tài chính, đây chắc chắn sẽ là một điểm hấp dẫn. Ngoài ra, phí tổn sinh hoạt ở Texas là một trong những phí tổn thấp nhất trong nước Mỹ. Nếu bạn trở thành một cư dân của Texas, tiền bạc của bạn chắc chắn sẽ phục vụ cho bạn khi bạn sinh sống tại đây.

Ngoài không đánh thuế thu nhập cá nhân, nói chung các chính sách thuế khóa của Texas nhẹ nhàng và ít luật lệ ràng buộc vào bậc nhất Hoa Kỳ. Tòa án Texas hiếm có các vụ kiện tụng kéo dài nhiều năm. Đây cũng là tiểu bang có nguồn nhân lực hữu hiệu, giàu sáng kiến, nổi tiếng có nhiều ý tưởng táo bạo, được huấn luyện từ các trường đại học Texas, cũng như từ các kỹ nghệ vốn là lợi thế của xứ cao bồi như dầu hỏa, không gian… Mức sống và nhất là giá nhà cửa tại Texas cũng rất phải chăng.

Thứ tư, về nhạc sống tại Texas

Austin của Texas được coi như thủ đô nhạc sống của thế giới. Vùng đô thị đang phát triển này tổ chức nhiều lễ hội âm nhạc khác nhau quanh năm và thu hút các du khách từ khắp nơi trên thế giới. Điều tốt đẹp về Austin là địa điểm trung tâm của nó đối với phần còn lại của tiểu bang. Hầu hết các cư dân đều chỉ cần 4 đến 5 giờ lái xe tới thành phố nổi tiếng này. Nếu bạn yêu nhạc, đây chắc chắn là một đặc điểm hấp dẫn để bạn sinh sống.

                                                  Austin – nhạc sống của Texas

Thứ năm, các công công viên của tiểu bang

Nếu bạn là một người thích phiêu lưu, bạn sẽ thích sống ở Texas. Có hơn 120 công viên thuộc tiểu bang trên khắp Texas và hầu hết các công viên đều mở cửa cho công chúng miễn phí hoặc với một lệ phí nhỏ. Vài trong số những công viên nổi tiếng nhất gồm có Palo Duro Canyon, Longhorn Caverns State Park, và Garner State Park. Mỗi công viên đều cung cấp một sự khám phá độc đáo về phong cảnh đa dạng của tiểu bang.

                         Vườn Tiểu bang Palo Duro Canyon – hẻm núi lớn thứ hai trong cả nước nằm ở trung tâm của Texas Panhandle

Ngoài ra, Texas còn có khoảng 624 dặm bờ biển lộng lẫy dọc theo Vịnh Mexico. Có nhiều thứ để mọi người chiêm ngưỡng và thực hiện cho tinh thần thám hiểm của mình.

Điểm hút cuối cùng là các môn thể thao tại Texas

Thể thao là một phần đáng kể của truyền thống Texas, đến độ tiểu bang có hai đội bóng chày nhà nghề (Houston Astros và Texas Rangers), hai đội bóng bầu dục nhà nghề (Dallas Cowboys và Houston Texans), và ba đội bóng rổ nhà nghề (San Antonio Spurs, Houston Rockets, và Dallas Mavericks). Cũng có những môn như đua ngựa nhà nghề, khúc côn cầu trên băng (ice hockey) và túc cầu. Nếu bạn là một người mê thể thao, chắc chắn bạn sẽ có dịp thưởng thức mọi thứ mà Texas cung cấp trong lãnh vực này.

Đây là một tiểu bang khổng lồ, là môt trong những nơi hùng vĩ của Mỹ. Nơi đây trong thời gian tới sẽ có nhiều công ty hãng xưởng chọn làm ăn tại Texas, càng thêm nhiều công ăn việc làm, thêm thu nhập cho các gia đình, thêm thuế cho các địa phương và cả tiểu bang. Thị trường địa ốc cũng nhộn nhịp hơn vì có thêm người săn lùng mua nhà… Với các chánh sách hữu hiệu, Texas ngày càng phát triển mạnh, khiến không ít dư luận gọi là vùng đất “tương lai của Hoa Kỳ”.

From: TU-PHUNG

ĐẦU GIOAN TẨY GIẢ

ĐẦU GIOAN TẨY GIẢ

LM Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Ngày sinh nhật của một người lại dẫn đến cái chết của một người khác.  Nếu sự kiện xảy ra đúng như truyền thống mà Máccô nhận được và ghi lại thì thật là khủng khiếp.  Ai có thể tưởng tượng nổi chuyện trong bữa tiệc sinh nhật của Hêrôđê, một cô bé dám bưng mâm, trên có cái đầu vừa bị chặt của một người, máu còn chảy ròng ròng, mắt đang nhắm hay mở?  Cô bưng và vui vẻ trao cho mẹ cô.  Mẹ cô sẽ bưng và trao cho ai cái đầu của Gioan, người mà bà căm ghét?

Bài Tin Mừng hôm nay cũng cho ta một số kinh nghiệm của Hêrôđê.  Trước hết là kinh nghiệm bị giằng co giữa cái tốt và cái xấu.  Hêrôđê Antipas đã bắt ông Gioan tẩy giả và xiềng ông trong ngục.  Lý do vì Gioan đã cản trở cuộc hôn nhân sai trái của ông với Hêrôđia.  Dầu vậy Hêrôđê vẫn biết Gioan là người công chính thánh thiện, vẫn sợ ông và che chở ông khỏi sự trả thù của Hêrôđia (cc. 19-20).  Hêrôđê còn lương tâm khi ông thích nghe Gioan nói, dù rất bối rối khi nghe.

Kế đến là kinh nghiệm về sự thiếu chín chắn của Hêrôđê khi thề hứa.  Cái gì đã xui khiến ông nói câu dại dột này với cô bé Salômê: “Con xin gì ta cũng cho, dù một nửa nước của ta cũng được” (c. 23)?  Bầu khí cuồng nhiệt của bữa tiệc sinh nhật, hay điệu vũ đẹp mê hồn, hay rượu đã ngà ngà say, hay muốn chứng tỏ mình đầy quyền lực?  Hay sự cộng hưởng của mọi yếu tố trên?  Có những lời nói vội vã mà sau đó ta phải hối tiếc và trả giá.

Cuối cùng là kinh nghiệm về sự mất tự do trước khi quyết định.  Khi cô bé xin cái đầu của Gioan, Hêrôđê hẳn đã sửng sốt ngỡ ngàng.  Ông buồn hết sức vì mình đã lỡ thề hứa như vậy (c. 26).  Ông có thể rút lại lời đã nói không?  Dĩ nhiên là có.  Nhưng nỗi sợ đã khiến ông không dám làm.  Sợ từ chối cô bé, làm cho cô buồn và mẹ cô nổi giận, sợ bị mang tiếng là nuốt lời trước mặt bá quan văn võ.  Nói chung ông sợ mất danh dự của mình, mất thiện cảm của người khác.  Bởi vậy, dù Hêrôđê thấy việc giết Gioan là điều sai trái, ông vẫn không dám xin rút lại lời thề thiếu suy xét của mình.  Cần can đảm để giữ lời hứa, nhưng có khi cần can đảm hơn để không giữ.  Danh dự hão của Hêrôđê được mua bằng máu của một vị ngôn sứ lớn.

Hêrôđê đã can dự vào cái chết của Gioan.  Ông chịu áp lực từ khách dự tiệc và mẹ con  Hêrôđia.  Philatô đã can dự vào cái chết của Đức Giêsu.  Ông này chịu áp lực từ dân chúng và các thượng tế.  Cả hai ông đều không có tự do, không có can đảm để tha cho người vô tội.  Cả hai ông đều nghĩ đến mình, cái ghế của mình, danh dự của mình.  Quyền lực được sử dụng như bạo lực, khiến người lành phải chết oan.  Chúng ta xin cho mình luôn có tự do, để mọi quyết định phù hợp với ý Chúa.

***

Lạy Chúa Giêsu,
sám hối không phải là điều dễ dàng,
bởi lẽ chúng con không đủ khiêm tốn
để nhận mình lầm lỗi.

Chúng con ngỡ ngàng
khi thấy Chúa là Đấng vô tội
mà lại đứng chung với các tội nhân,
chờ Gioan ban phép Rửa.

Chúa đã muốn nên bạn đồng hành
với phận người mỏng dòn yếu đuối chúng con.

Xin cho chúng con biết thường xuyên điều chỉnh
lối nghĩ và lối sống của mình,
tỉnh táo để khỏi rơi vào ảo tưởng,
thành thật để khỏi tự dối mình.

Ước gì Chúa ban cho chúng con ơn hoán cải,
dám đi đến những hành động cụ thể,
và chấp nhận những cắt tỉa đớn đau.
Nhưng xin đừng quên ban cho chúng con
niềm vui của Giakêu,
hạnh phúc vì được tự do và được yêu mến.

LM Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

From: Langthangchieutim

Tích Cực Sống Ðức Tin

Tích Cực Sống Ðức Tin

 Tác giả:Huệ Minh

          Tin mừng theo thánh Matthêu hôm nay đề cập đến chuyện khôn – dại ở đời. Bằng một ví dụ cụ thể về câu chuyện mười trinh nữ đi dự tiệc cưới. Trong số đó có 5 cô khôn ngoan và năm cô khờ dại. Nhưng chỉ có “Top 5 cô khôn ngoan” đón được chàng rể và vào dự tiệc cưới.

          Theo văn hóa Do Thái, nghi lễ hôn nhân được tổ chức vào ban đêm và vào giờ thời gian bất ngờ không ai được biết trước. Vì thế mọi người phải canh thức chờ đợi. Tác giả Tin Mừng cho biết, tất cả mười cô trinh nữ đều cầm đèn trong tay chờ đợi, nhưng chỉ có 5 cô khôn ngoan biết mang theo dầu để dự trữ. Chuyện khôn dại là lẽ thường trong đời. Ví như câu đồng dao:

          Thiên đàng hỏa ngục hai bên

          Ai khôn thì dại, ai dại thì khôn

          Ranh giới giữa khôn và dại rất “mỏng”, khó mà phân biệt rạch ròi. Bởi lẽ chỉ cần ta tích chứa “một chút dầu” ắt sẽ trở thành người khôn, trái lại chỉ cần lơ là quên “một chút dầu”, ta trở thành kẻ dại khờ bất hạnh. Và sâu xa hơn nữa, cái khôn ngoan theo kiểu thế gian lại là cái dại dột đối với Thiên Chúa. Và cái dại dột của thế gian mới thật là cái khôn ngoan mà Thiên Chúa đòi hỏi.

          Đọc “Câu chuyện dòng sông” của Hermann Hesse, văn hào Đức đã đoạt giải Nobel văn chương thế giới, chúng ta càng thấy rằng con đường tìm đến Chân lý phải là quá trình dài đầy thử thách. Tất Đạt Đa, nhân vật chính của tác phẩm đã trải qua nỗi cô đơn tâm linh trên con đường giải thoát. Anh là hình ảnh con người thời đại, nỗi thao thức triền miên của những tâm hồn khát khao đi tìm một chân trời mới cho đời mình và nhất là những nỗ lực vô hạn để vươn lên mọi ràng buộc của thân phận làm người.

          Cuối cùng anh đã tìm ra con đường giải thoát qua âm thanh vọng lại từ dòng sông, một tiếng “OM” đầy vi diệu. Trọn tác phẩm của Hermann Hesse là lời thánh ca bay vút lên chín tầng trời, vọng lên nỗi đau đớn vô cùng của kiếp sống và lòng hướng vọng nghìn đời của con người, dù bơ vơ bất lực mà vẫn luôn luôn tha thiết đi tìm giải thoát ra ngoài mọi giới hạn tầm thường của đời sống tẻ nhạt. Điều đó càng cho thấy kiến thức có thể được dạy, nhưng sự thông thái về tâm linh phải đến từ kinh nghiệm.

          Một lần nữa Tin Mừng đặt ra cho chúng ta một giá trị phải chọn lựa. Đó là chọn khôn ngoan theo kiểu loài người hay theo kiểu của Thiên Chúa. Sự khôn ngoan của Nước Trời đó là thái độ sẵn sàng và tỉnh thức, sống trọn vẹn giây phút hiện tại, chu toàn bổn phận hàng ngày với lòng yêu mến. Là sống như lời Thánh Phaolô khuyên nhủ giáo đoàn Ephêsô: “Anh em hãy cẩn thận xem xét cách ăn nết ở của mình, đừng sống như kẻ khờ dại, nhưng hãy sống như người khôn ngoan biết tận dụng thời buổi hiện tại vì chúng ta đang sống giữa những ngày đen tối” (Ep 5, 15-16).

          Muốn cho ngọn đèn đức tin luôn cháy sáng, chúng ta phải nỗ lực “châm dầu” vào. Một giọt dầu của hy sinh nhỏ bé âm thầm, giọt dầu của sự cho đi, tiêu hao vì bổn phận. Có thể đó là dầu của những trái ý, những giằng xé trong tâm hồn khi phải đối diện và chọn lựa giữa điều tốt và điều xấu. Giọt dầu đó phải được châm vào mỗi ngày, bền bỉ và tha thiết trong cầu nguyện, tận tụy và vẹn tròn trong bổn phận. Giọt dầu ấy có thể khô cạn vì những đam mê của tính xác thịt, vì những ươn hèn do bản tính yếu đuối mỏng dòn của thân phận con người nhưng nếu không có nó chúng ta sẽ bị loại khỏi Nước Trời.

          Dụ ngôn mười trinh nữ chờ đợi chàng rể đến lúc bắt đầu tiệc cưới mà Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay, làm nổi bật thái độ tỉnh thức đợi chờ, nghĩa là các trinh nữ hướng về chàng rể với tâm hồn yêu thương, với đèn dầu để cháy sáng.

          Chúa Giêsu được mô tả qua dung mạo chàng rể và tiệc cưới là Nước Thiên Chúa. Chàng rể đến chậm và vào lúc bất ngờ, tức là việc Chúa Kitô đến trong vinh quang vào lúc cuối cùng lịch sử là điều bất ngờ, không ai có thể đoán trước được. Các trinh nữ được bước vào tiệc cưới với đèn cháy sáng. Ðèn cháy sáng là dấu chỉ của một đức tin sống động. Các trinh nữ khôn ngoan đã lãnh lấy và chu toàn trách nhiệm của mình để giữ đèn của mình được luôn cháy sáng, cho đến khi chàng rể là Chúa Kitô đến, dù chàng rể có đến chậm.

          Những chi tiết của dụ ngôn cho hiểu thêm trách nhiệm của cá nhân trong việc giữ cho đèn đức tin được luôn cháy sáng. Mỗi Kitô hữu phải tích cực sống đức tin, chứ không thể vay mượn hay nhờ người khác làm thay được; mỗi Kitô hữu cần đến sự khôn ngoan của Thiên Chúa để vượt qua mọi thử thách trong cuộc đời, để luôn sống trong hy vọng, sống theo ánh sáng sự sống, chứ không bị mê hoặc bởi những cám dỗ của thời đại đã bị trần tục hóa và đầy tinh thần hưởng thụ.

          Ðời người là một cuộc đợi chờ và đợi chờ nào cũng bao hàm tình yêu trong đó. Ðợi chờ chính là một cuộc thử nghiệm tình yêu, bởi vì con người chỉ hết lòng đợi chờ mong mỏi người nào hoặc điều gì mà mình hết lòng yêu thương hoặc quí chuộng. Với ý nghĩa đó, đợi chờ phải là một cuộc chuẩn bị thực sự.

          Xin Chúa mở rộng đôi mắt chúng ta để nhận ra sự hiện diện của Chúa trong lịch sử. Xin ban sức mạnh để chúng ta chu toàn bổn phận cho phù hợp với thánh ý Chúa.

TÌNH CHỈ ĐẸP KHI CÒN DANG DỞ.

Hoai Linh Ngoc Duong

TÌNH CHỈ ĐẸP KHI CÒN DANG DỞ.

Ngày nay trên đường phố nước Mỹ thỉnh thoảng ta vẫn bắt gặp hai ông bà cụ dắt tay nhau qua đường, cụ bà nắm tay cụ ông sợ chồng thất lạc, vào tiệm nail làm chân cụ bà đỡ cho chồng ngồi lên ghế yên vị rồi mới lo đến mình hoặc trong nhà dưỡng lão có những cặp vợ chồng già sống bầu bạn với nhau đến cuối đời, nếu một người ra đi trước thì người còn lại cũng lặng lẻ đi theo sau không lâu. Có những người phụ nữ khi chồng còn sống thường hay cãi nhau với chồng nhưng khi chồng mất rồi lại giấu con cái đem ảnh chồng ra ngồi một góc phòng để hồi tưởng và rơi nước mắt nhớ những kỷ niệm ngày mới quen nhau. Trên đời có những cái chỉ khi mất đi rồi mới cảm thấy tiếc. Hạnh phúc đơn giản không phải là những thứ tiền tài vật chất cao xa, hạnh phúc chỉ ra sự dung hòa giữa 2 cá tính.Gieo tính cách gặt số phận. Nhiều người sống cô độc và chết trong cô đơn vì có cái tôi cá nhân quá lớn.

Khi phong trào nữ quyền lan rộng trên toàn thế giới người phụ nữ có nhiều quyền bình đẳng với nam giới thì tỷ lệ các vụ ly hôn cũng xuất hiện nhiều hơn. Xã hội càng hiện đại thì ly hôn được xem như là mốt .Trong khi đó ở xã hội truyền thống thì mối quan hệ gia đình bền chặt hơn, không hề có chuyện con anh con tôi con chúng ta. Và bài hát ” Rồi mai tôi sẽ đưa em đến cuối cuộc đời” có triển vọng thành sự thật hơn. Còn bây giờ người ta chỉ đưa nhau đến nửa cuộc đời hay chỉ một vài năm.

Đa số các trường hợp ly dị vì có người thứ ba xen vào. Nhưng trước khi có người thứ ba thì đó là hai cái tôi quá lớn không thể chung sống hòa bình dưới cùng một mái nhà.

Xã hội truyền thống gạt đi một trong hai cái tôi hoặc là những bà vợ chiều chồng hoặc là những người đàn ông sợ vợ như MC Nguyễn Ngọc Ngạn vẫn hay đem ra làm đề tài mua vui.Nếu cả hai mỗi người chịu nhường một bước như bài hát” Làm lại từ đầu” “Hãy thứ tha cho nhau thì con người sẽ không bao giờ hối hận vì đã lạc mất nhau trong cuộc đời này.

Đi đến nửa cuộc đời tóc đã điểm bạc để rồi làm lại từ đầu với một cá thể khác và cũng lặp lại những cái tôi y như cũ và những bi kịch như cũ để rồi hối hận khi những đứa con không thể có một gia đình trọn vẹn cũng là điều đáng suy ngẫm. Nhưng đa phần những người ly hôn không bao giơ nhớ đến những đêm trăng hò hẹn, những đêm ngồi nói chuyện thâu đêm suốt sáng hay những ngày rau cháo nghèo khổ hoạn nạn có nhau. Người nào cũng sẽ đổ lỗi cho người kia để thỏa mãn tự ái của mình. Ta nhất định đúng địch nhất định sai. Và kẻ nào nhường bước nhất định sẽ bị kẻ kia đè đầu.

Trên thực tế những cặp vợ chồng như của Trần Huỳnh Duy Thức, Trương Duy Nhất hay của một số tù nhân lương tâm khác lại vượt qua được những cái tôi cá nhân này. Bởi họ có cùng lý tưởng và vượt lên trên những ham muốn vật chất tầm thường.

Suy cho cùng người phụ nữ nào cũng muốn có những ông chồng giàu có, có địa vị để nhàn hạ tấm thân. Nhưng theo quy luật bù trừ những người giàu có quyền lực lại đâm ra tha hóa, ngoại tình có nhân tình,vợ lẻ lung tung. Và họ phải chịu sự rẻ rúng của quyền lực để rồi đau khổ. Thế nhưng đàn bà vẫn không thích “hai trái tim vàng,một túp lều lý tưởng”. Họ thích được như Trần Lệ Xuân huênh hoang trên đỉnh cao quyền lực, tuyên bố vung vít ngay cả tổng thống cũng sợ ,cha mẹ cũng lắc đầu tuyên bố từ con, để rồi cuối đời phải chứng kiến quả báo và phải sám hối vì tham vọng của mình.

Và cũng có những người chồng gia trưởng, độc đoán cờ bạc rượu chè phá gia chi tử trai gái lăng nhăng, bạo hành gia đình để chứng tỏ quyền uy rồi cũng phải hối hận khi thất cơ lỡ vận.

Để dung hòa hai cái tôi nhằm nắm tay nhau đi đến cuối cuộc đời như các cụ già cũng là một bài toán khó giải khi con người vẫn tâm niệm” Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ kiên quyết không chịu làm nô lệ”. 

NỀN GIÁO DỤC LẤY TÍN NGƯỠNG & ĐẠO ĐỨC LÀM CỐT LÕI

NỀN GIÁO DỤC LẤY TÍN NGƯỠNG & ĐẠO ĐỨC LÀM CỐT LÕI

Bài: Thu Hiền – Hồng Liên.

Trong các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, nếu như Phần Lan coi trọng “công bằng và miễn phí”, nước Đức nhấn mạnh “bình đẳng giữa mọi người”, và Mỹ đề cao “quyền tự do của công dân”, thì giáo dục của người Nhật lại coi đạo đức là cốt lõi, là bài học đầu đời của mỗi người.

Đối với người Nhật, một nền giáo dục tiên tiến phải thực hiện được tiêu chí “mỗi học sinh sẽ trở thành cá nhân hoàn thiện đạo đức”. Do đó, khác với nhiều nước coi giáo dục đạo đức chỉ là một môn học, thì Nhật Bản “dạy người” qua tất cả các môn cũng như trong sinh hoạt hàng ngày.

Ví dụ như giờ ăn trưa của học sinh Nhật Bản không chỉ là để ăn trưa, mà còn là một tiết học về tính tự lập, cách phục vụ bạn bè và lòng biết ơn. Trẻ được phân công mang đồ ăn cho các bạn, mặc đồng phục như một người phục vụ thật sự: Giáo viên sẽ múc thức ăn vào bát, rót sữa vào ly, và trẻ sẽ bưng đến bàn cho từng bạn… Sau đó, những trẻ phục vụ sẽ cùng đứng trước lớp đồng thanh chúc các bạn ăn ngon miệng, còn các bạn sẽ đồng thanh nói cảm ơn.

Trẻ em Nhật không chỉ được tìm hiểu về thế giới tự nhiên, mà quan trọng hơn là học cách yêu thương muôn loài và có ý thức bảo vệ môi trường. Ví dụ như khi gieo hạt trồng cây, các em được hướng dẫn nói những lời tình cảm: “Cây ơi, hãy lớn lên nhé”, “Hãy nở hoa thật đẹp nhé”. Một cách tự nhiên, trẻ em Nhật đã hình thành nhân cách thiện lương, không chỉ quan tâm và yêu thương mọi người xung quanh, mà còn biết nâng niu cả cây cỏ và những đồ vật vô tình.

Có người hỏi, vì sao người Nhật lại coi trọng giáo dục đạo đức đến vậy? Đó là bởi, Nhật Bản là một dân tộc có tín ngưỡng và đức tin, và tín ngưỡng ấy cũng chính là chiếc chìa khoá hướng con người tới các chuẩn mực đạo đức cao.

Gốc rễ của nền giáo dục đạo đức chính là tín ngưỡng và đức tin

Đa số người Nhật theo Thần đạo (Shinto) và đạo Phật. Theo thống kê của Tổng cục văn hóa Nhật Bản vào năm 2006, có 84% người dân Nhật Bản theo Thần đạo và 70% người dân theo đạo Phật, nghĩa là có những người sẽ thực hành theo cả hai đức tin.

Thần đạo là tín ngưỡng chỉ có riêng ở Nhật Bản. Tư tưởng chính của Thần đạo là khuyên con người hướng tới sự trong sáng và tránh làm điều ác. Giết chóc bị coi là điều ác, nên con người không được sát sinh, trừ khi là vì sự sống còn của bản thân. Vậy nên, trước khi ăn người Nhật luôn cảm ơn các sinh linh đã nguyện hy sinh để trở thành thức ăn cho mình. Đây cũng là lý do vì sao trên những cánh đồng ở Nhật luôn còn một góc để nguyên, không thu hoạch. Nông dân Nhật không bao giờ gặt hái toàn bộ nông sản mà họ luôn để lại 5-10% sản lượng cho các loài chim, thú trong tự nhiên.

Thần Đạo có rất nhiều các vị Thần, có đến 8 triệu Thần, đa phần có liên quan đến thiên nhiên như linh hồn của đất, trời, Mặt Trăng, cây cỏ, hoa lá, núi sông… Ngay cả đá, núi, hay động vật như cáo, gấu và người quá cố đã trở thành linh hồn cũng được xem là Thần. Tất cả mọi vật đều có linh hồn và có tiếng nói của riêng mình. Người Nhật tin rằng con người chẳng qua chỉ là một phần trong thế giới tự nhiên, do đó mà phải yêu thương và tôn trọng muôn loài. Nhưng không chỉ thực vật hay động vật, mà còn cần tôn trọng cả những vật vô tri, bởi kami, tức linh hồn, có thể trú ngụ ở bất cứ nơi đâu.

Ngoài ra Nhật Bản cũng chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng Nhân-Nghĩa-Lễ-Trí-Tín của Nho giáo (do Khổng Tử đề xướng). Với những ai sống ở các quốc gia bị ảnh hưởng bởi thuyết vô Thần thì khi nói đến “đức tin” họ sẽ chỉ bật cười, đơn giản bởi vì họ không còn tin nữa, mà không nghĩ rằng bản thân mình đã bị học thuyết vô Thần tẩy não cắt đứt mất mối liên hệ với cội nguồn văn hóa truyền thống, đến mức không còn hiểu tin để làm gì.

Còn tại Nhật Bản thì đức tin đó là tự nhiên và đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi người. Người Nhật đã áp dụng đức tin của mình khi đối mặt tất cả những vấn đề trong cuộc sống, kể cả những tình huống hiểm nguy nhất.

Nếu thiếu mất tín ngưỡng và đức tin, con người sẽ mất đi cội rễ của đạo đức. Nếu thay thế tín ngưỡng bằng các học thuyết đấu tranh, con người sẽ xem nhau như thù địch, đối đãi với nhau bằng trái tim lạnh giá, vô tình.

Chỉ khi sống có tín ngưỡng, có đức tin, thì dân tộc ấy mới có chuẩn mực đạo đức làm thước đo, mới có thể phân biệt tốt-xấu, thiện-ác, chính-tà. Chỉ khi có đạo đức, có đức tin, con người mới có thể trở về, tìm lại bản tính ban sơ thuần thiện của mình.

Vì sao người Nhật có thể làm nên nhiều kỳ tích, có thể sinh ra những công dân sống ý thức và giữ gìn phẩm giá của mình? Bí quyết chẳng đâu xa, bởi tất cả chỉ nằm ở điều mà họ vẫn gìn giữ, nhưng chúng ta thì đang dần mai một!

Đó chính là tín ngưỡng và đức tin của mỗi người.

Nguồn: Câu chuyện giáo dục

fb LE KHAC AI

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ngy Thanh

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ngy Thanh

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

Dù cùng viết cho tờ Thời Báo nhiều năm, và dù cả hai cũng đã từng chung tay với chủ bút Đỗ Nghi thực hiện đôi việc từ thiện nhỏ, tôi chưa bao giờ có cơ hội được gặp Ngy Thanh (NT) cả. Chỉ đọc ông thôi thì tôi cũng có thể đoán rằng nhân vật này chắc lớn hơn mình cỡ vài ba tuổi, chứ không nhiều. Tuy thế, dường như trên mọi nẻo đường đời, ông đều đi trước tôi vài bước – hơi dài!

Mãi đến 2015, tôi mới lò dò đặt chân đến Đế Thiên – Đế Thích trong khi NT đã tới nơi đây gần chục năm trước lận, và đã thu vào ống kính rất nhiều hình ảnh tuyệt vời của cả Angkor Wat lẫn Angkor Thom.

Vốn là một nhiếp ảnh gia và phóng viên chuyên nghiệp nên NT không chỉ dừng chân ở những nơi có kỳ quan hay thắng cảnh mà còn lang bạt khắp xứ Chùa Tháp, chả sót một xó xỉnh nào. Ông len lỏi vào tận “Thánh Địa Ấu Dâm” và ghi lại những dòng chữ nát lòng về tình cảnh bi phẫn của lắm đứa trẻ thơ:

“Svay Pak là làng điếm truyền thống gồm những căn nhà vừa gạch vừa bê tông làm nơi chứa gái bán dâm đến từ Việt Nam, công khai mời chào ‘boom boom’ (làm tình với bé gái) và ‘yum yum’ (khẩu dâm với bé trai) với giá mạt hạng chỉ 5 đô trong những vuông phòng chật hẹp được ngăn ra bằng ván ép xập xệ…

NT cũng đã từng vác máy đến bãi rác Stung Meanchey, nơi được nhật báo The Guardian mô tả là “the world’s most famous rubbish dumps” của thế kỷ XX. Khi tôi tìm đến nơi thì “bãi rác nổi tiếng nhất thế giới” này đã bị dẹp bỏ nhưng hình ảnh của đám trẻ con bần cùng, khốn khổ mà ông đã chụp được tại đây vẫn khiến cho tôi bứt rứt và … ấm ức!

Tưởng bở nên tôi cũng mang máy nhẩy xổ vào một bãi rác khổng lồ khác (cũng ở Phnom Penh) vì muốn được nhìn tận mắt cái thứ “địa ngục trần gian” này. Tới nơi, tôi dặn taxi trở lại đón sau chừng vài tiếng nhưng vừa hăm hở mở cửa xe là đã bị “oẹ” liền. Không khí nồng nặc mùi hôi thối khiến tôi chui vội lại vào bên trong, và ra dấu cho tài xế chạy ngay tức khắc. May mà tôi không có thói quen ăn sáng nên chưa đến nỗi nôn mửa ra xe của người ta.

Rời Miên, tôi băng qua Nam Lào bằng cửa khẩu Stung Treng. Rồi tà tà lội từ Si Phan Don lên Paske, Vientiane, Vang Vieng, Luang Prabang, Luang Namtha, đến tuốt Muang Sing – một thị trấn heo hút ở cực Bắc – giáp giới với Tầu. Sau chuyến đi xuyên suốt này, tôi vội vã kết luận rằng: “Không thấy người Lào không bóp còi xe, và cũng chả gặp ai đi ăn xin cả.”

Nói vừa dứt câu thì tôi lại tình cờ nhìn được bức hình cha con một người ăn mày, đang băng qua đường (giữa thủ đô Vạn Tượng) của NT trên trang mạng Trekearth – nơi tụ tập của nhiều nhiếp ảnh gia quốc tế!

Hóa ra, NT cũng đã đến Lào từ lâu và đôi mắt nhà nghề của ông chả bỏ sót một hình ảnh thương tâm nào cả. Phải công nhận là “thằng chả” rất chịu đi, và luôn luôn lên đường rất sớm, kể cả khi lao vào … chỗ chết!

Mãi đến ngày 10 tháng 10 năm 1972, tôi mới lò dò đến Trung Tâm Xã Hội Sài Gòn để trình diện nhập ngũ nhưng binh nhất NT và hạ sỹ Đoàn Kế Tường (với vai trò là phóng viên cho quân đội và ký giả chiến trường) đã có mặt giữa Mùa Hè Đỏ Lửa rồi:

“Phái viên Ngy Thanh và Đoàn Kế Tường của Sóng Thần cho hay họ đã vượt sông Mỹ Chánh để tới một đoạn đường dài 10 cây số Đông Nam Quảng Trị gọi là ‘đoạn đường máu’, nơi đây còn hàng trăm xác quân xa chở đồng bào Quảng Trị di tản trong ngày 1-5, cháy xém nằm la liệt, bên cạnh còn thấy những xác của đồng bào bị lính BV pháo kích chết cách đây hơn 2 tháng. Những xác nầy nay đã rữa thối, chỉ còn trơ xương.”  (“Xác Dân Tỵ Nạn Trơ Xương Nằm Dài 2 CS Trên Quốc Lộ I.” Sóng Thần 02 July 1972).

Trong tác phẩm mới vừa xuất bản, NT cho biết thêm đôi ba chi tiết về biến cố hãi hùng này:

“Với các bản tin như trên và tương tự, cùng với hình ảnh chúng tôi gửi về toà báo hằng ngày, ban chủ biên đã bàn bạc, thảo luận ngay chương trình ‘Thác Một Nấm Mồ’ cho các nạn nhân bị giết bởi bom đạn trên Đại Lộ Kinh Hoàng, bằng cách lạc quyên từ độc giả của tờ báo …

Kết cuộc lại, năm 1972 anh chị em báo Sóng Thần chúng tôi đã đến, đã thấy, đã vận động những người hảo tâm đóng góp, để tìm gặp và thu lượm được trong các đợt hốt xác, mang về trường tiểu học Mỹ Chánh tẩm liệm và mai táng ở nghĩa trang Đồng Bào Chiến Nạn Quảng Trị 1.841 thi thể, từ tháng 8/1972 đến tháng 1/1973. Những tưởng thế là xong việc. Nhưng ngày 22/06/2016, chúng tôi đi tìm để vận động nâng cấp, mới biết nghĩa trang đã bị xóa sổ”. (Ngy Thanh. Đại Lộ Kinh Hoàng. San Jose: Nhân Ảnh, 2022.)

Từ 1972 đến 2016 là một khoảng thời gian không ngắn. Trong gần nửa thế kỷ, NT đã tận tụy làm trọn nhiệm vụ của một công dân, đối với đồng bào cũng như đồng đội. Cuộc đời của cá nhân ông, nếu chỉ kể đến đây (tưởng) cũng đã đủ dài, và đủ đẹp rồi, nhưng chuyện về Đại Lộ Kinh Hoàng thì e còn thiếu.

Năm 2008, nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân cho ra đời một cuốn nhật ký chiến tranh (Mùa Hè Cháy) của Đại Tá Nguyễn Quý Hải. Ông chính là vị sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn 2, trung đoàn 38 Pháo Binh Bông Lau – đơn vị đã nã pháo vào đám đông thường dân và binh lính miền Nam trên Đại Lộ Kinh Hoàng – hồi năm 1972. 

Tuy thế, trong tác phẩm này, tác giả chỉ ghi lại sự kiện trên bằng một câu văn ngắn: “Dọc đường số 1 hàng trăm xe ngổn ngang, địch bỏ chạy. Máy bay địch thâm độc thả bom vào những đoàn xe để phi tang, bất kể lính của chúng bị thương còn ngổn ngang. Xe cháy nghi ngút.”

Thế mới biết xóa sổ một cái nghĩa trang với hàng ngàn xác người chỉ là chuyện nhỏ, rất nhỏ, đối với người cộng sản VN. Họ còn có thể xóa sạch mọi tội ác đã gây ra bằng một thủ thuật rất quen thuộc, và vô cùng giản dị (gắp lửa bỏ tay người) cứ đổ vấy hết cho Mỹ/Ngụy là xong!

Là người lính và là nhân chứng hiếm hoi có mặt trên Đại Lộ Kinh Hoàng, NT đã đặt nghi vấn:

“Thứ nhất, hố bom do máy bay thả xuống và hố đạn pháo binh sau khi bị kích hỏa, tôi nghĩ là không thể trộn lẫn với nhau… Là người đi suốt chiều dài tử lộ từ sông Bến Đá đến sông Nhung, tôi khẳng định với người anh hùng Bông Lau rằng, trên mặt đường nhựa ấy, chỉ có xác chết và xác xe, không có một hố bom, dù là loại bom nhỏ nhất.”

Không chỉ “khẳng định” suông như thế, NT còn biên soạn cả một tác phẩm (Đại Lộ Kinh Hoàng) gần năm trăm trang đầy ắp dữ kiện, hình ảnh, tài liệu, chứng từ … Ông cũng đã thư từ với Đại Tá Nguyễn Quý Hải, và nhận được hồi đáp (vào hôm 17 tháng 5 năm 2019) như sau:

“Trong đoạn nhật ký của tôi bạn trích ở trên, rõ ràng tôi viết chưa chuẩn vì tôi không trực tiếp nhìn thấy, chỉ là nghe các quan sát viên nói lại rồi suy diễn… trong lần tái bản tới tôi sẽ bỏ đoạn: ‘Dọc đường số 1 hàng trăm xe ngổn ngang, địch bỏ chạy. Máy bay địch thâm độc thả bom vào những đoàn xe để phi tang, bất kể lính của chúng bị thương còn ngổn ngang. Xe cháy nghi ngút.” (S.đ.d. tr. 351).

Thật là giản dị, dễ dàng, lẹ làng, gọn gàng hết sức!

Ông Quý Hải (nói riêng) và những người CSVN (nói chung) xem chừng khó mà hiểu được điều giản dị này: “Chỉ cần làm chết một người khi người ấy không vũ khí phòng thân … cũng đủ để trở thành tội ác.” Câu văn thượng dẫn được viết vào ngày 2 tháng 6 năm 2022, đây là dòng chữ cuối cùng mà NT đã dùng để làm kết cho tác phẩm (Đại Lộ Kinh Hoàng) mới nhất của ông.

Lòng tốt hiếm có của 3 sinh viên Mỹ

Lê Hoàng Nam

Lòng tốt hiếm có của 3 sinh viên Mỹ

Ba sinh viên tại Mỹ đã rất may mắn khi mua lại chiếc ghế sofa cũ với giá 20 đô la từ một cửa hàng từ thiện. Thật không ngờ là họ đã phát hiện ra 41 nghìn đô được giấu bên trong chiếc ghế cũ này. Tuy nhiên, cả 3 người sau đó lại có một quyết định không ngờ khiến nhiều người ngưỡng mộ.

Không phải mua vé số, cũng không tham gia một trò chơi may mắn nào, ba sinh viên này đã “nhận” được 41 nghìn đô la (tương đương 900 triệu đồng) khi mua về một món đồ cũ.

Được biết, ba sinh viên này cùng thuê một căn hộ sống cùng nhau ở thành phố New York (Mĩ). Và chiếc ghế sofa cũ với giá 20 đô la được mua tại cửa hàng từ thiện, đã vô tình mang đến cho họ số tiền khá lớn, khiến cả ba người đều không thể tin vào sự thật này.

Ban đầu, họ phát hiện ra 700 đô la từ chiếc ghế sofa, nhưng vì nghi ngờ nó có thể sẽ chứa một kho báu lớn hơn thế, nên ba sinh viên này đã tiếp tục tìm kiếm. Quả không sai khi họ đã tìm thấy 41 nghìn đô ngay sau đó. Lúc ấy, cả ba sinh viên đều không thể kìm nén sự bất ngờ và vui mừng.

Thế nhưng, sau vài phút lấy lại bình tĩnh, họ bắt đầu nghĩ đến việc sẽ làm gì với số tiền lớn này. Với một số tiền được xem là từ trên trời rơi xuống, và không phải do trộm cắp có được, cả ba người đã nghĩ đến chuyện tiêu số tiền này vào những thứ mình thích.

Tuy nhiên, chiếc phong bì có ghi tên phía ngoài đã thức tỉnh họ rằng đây không phải là số tiền có thể lấy đi tùy tiện, và nó cần được trở về tay chủ nhân của mình. Vậy nên, cả ba người đã quyết định đem câu chuyện này kể cho ba mẹ mình để nhờ người lớn tư vấn cách xử lí tốt nhất. Và ba mẹ đã cho họ lời khuyên rằng nên giữ im lặng, và đi tìm người chủ của số tiền.

Cuối cùng, họ cũng biết được số tiền này là của một bà lão. Và đây là số tiền mà người chồng quá cố của bà đã để lại cho vợ mình. Nhưng thật không may, trong thời gian bà buộc phải nhập viện để thực hiện ca phẫu thuật, thì các con bà lại mang chiếc sofa cũ bán đi để thay vào một chiếc khác mới hơn.

Bà đã rất vui mừng khi nhận lại được số tiền tưởng chừng như không cách nào có thể tìm lại được nữa. Với bà, đây chính là một sự may mắn thật đặc biệt. Và bà đã hậu tạ ba bạn trẻ tốt bụng bằng một bữa tối cùng 3000 đô la thay cho lời cảm ơn.

Tiền là thứ khiến người ta có thể dễ bị làm mờ mắt và nổi lòng tham. Nhưng không phải vì thế mà nó có thể điều khiển nhân cách của một con người. Ba bạn sinh viên trong câu chuyện này chính là những tấm gương sáng về lòng trung thực và dũng cảm vượt qua những lợi ích cá nhân để nghĩ về người khác.

hoalyly@ sưu tầm

www.gotacoffee.vn share từ FB Chau Nguyen

4 người chết trong vụ ông bị đuổi nhà ở Houston nổi lửa, bắn hàng xóm

4 người chết trong vụ ông bị đuổi nhà ở Houston nổi lửa, bắn hàng xóm

August 28, 2022

HOUSTON, Texas (NV) – Cảnh sát cho hay một người thuê nhà lâu năm đã đốt lửa ở mấy nơi quanh căn nhà có nhiều phòng cho thuê ở vùng Tây Nam Houston, rồi bắn vào hàng xóm khi họ tháo chạy ra ngoài, làm thiệt mạng ba người trước khi bị cảnh sát bắn chết, theo bản tin của tờ báo địa phương Houston Chronicle.

Giới hữu trách nói rằng hung thủ là một người đàn ông ngoài 40 tuổi, chờ sẵn vào lúc 1 giờ sáng ở khu nhà số 8000 đường Dunlap, trong lúc người sống trong các căn phòng cho thuê tại căn nhà một tầng này hoảng hốt chạy ra khỏi nhà khi thấy lửa cháy.

Khu vực xảy ra vụ nổ súng. (Hình: Google View)

Các lính cứu hỏa thuộc Sở Cứu Hỏa Houston khi đến nơi đã phải tìm nơi ẩn nấp vì có tiếng súng. Cảnh sát nhìn thấy hung thủ, mặc đồ toàn đen, tay cầm khẩu shotgun, đã bắn chết người này.

Hai nạn nhân, tuổi ngoài 60, chết tại hiện trường và một nạn nhân khác, tuổi ngoài 40, chết tại bệnh viện. Một người khác được đưa vào bệnh viện do trúng đạn vào tay.

Một người hàng xóm, ông Robin Ahrens đang chuẩn bị đi làm thì nghe thấy tiếng nổ mà lúc đầu ông cứ nghĩ là tiếng pháo.

Ông Ahrens nói “Tôi thật may mắn là đã không bước ra ngoài, nếu không thì cũng bị ông ta bắn rồi.”

Nhân viên sở cứu hỏa Houston đến hiện trường một vụ cháy. (Hình minh họa: Mark Felix/AFP via GettyImages)

Ông Ahrens, người ở nơi này từ 15 năm qua, nói rằng khu vực thường yên tĩnh và chưa hề có vụ nổ súng như thế này.

Theo ông Ahrens, hung thủ bị ung thư ruột, không trả được tiền nhà và cũng không có việc làm. Người này mới đây được thông báo là bị đuổi nhà.

Ông Ahrens nói rằng “Chắc có điều gì đó xảy ra trong vài ngày qua, đến mức mà ông ta trở nên bất cần, để có hành động này.”

Sau vụ nổ súng, người sống nơi đây vẫn trong tình trạng hốt hoảng, hoang mang, nhặt nhạnh đồ đạc bị cháy, hỏi thăm hàng xóm và cũng phải tìm kiếm các con thú cưng biến mất trong cơn hỗn loạn. (V.Giang)

Thánh Augustine (354-430)

28 Tháng Tám
Thánh Augustine (354-430)

Là Kitô Hữu lúc 33 tuổi, làm linh mục lúc 36 tuổi, được tấn phong giám mục lúc 41 tuổi: ai ai cũng quen thuộc với tiểu sử tóm lược của Thánh Augustine Hippo, một tội-nhân-trở-thành-thánh-nhân. Nhưng có thực sự biết về cuộc đời thánh nhân thì điều đó mới có giá trị.

Dù khi xa cách Thiên Chúa hay hướng về Thiên Chúa, đời sống của ngài mau chóng đạt đến mức độ mãnh liệt. Nước mắt của mẹ ngài, những lời huấn đức của Thánh Ambrôsiô và, trên hết mọi sự, chính Thiên Chúa nói với ngài qua Kinh Thánh đã thay đổi tính đam mê thế gian của Augustine thành một cuộc đời đầy bác ái.

Từng đắm chìm trong sự cao ngạo về cuộc đời mình trong thời niên thiếu và từng say sưa cặn bã cay đắng của cuộc đời, nên người ta không ngạc nhiên khi thấy Augustine, khi quay trở về, ngài đã phải chống trả với sự tấn công của ma quỷ bằng sự thánh thiện quyết liệt. Thời đại của ngài thực sự sa sút — về chính trị, xã hội và luân lý. Người ta vừa sợ và vừa mến ngài, giống như Thầy Giêsu. Ngài bị chỉ trích không bao giờ cùng: là bản tính khắt khe của loài người.

Cuộc đời ngài, do thiên ý, ngài đã chu toàn nhiệm vụ của một ngôn sứ. Như ngôn sứ Giêrêmia và các vị đại ngôn sứ khác, ngài bị bó buộc nhưng không thể giữ im lặng. “Tôi tự nhủ, tôi sẽ không nhắc đến Người, tôi sẽ không nhân danh Người mà lên tiếng nữa. Nhưng rồi như lửa bừng cháy trong tim, giam hãm thân thể tôi; và tôi cầm hãm không nổi, chịu đựng không thấu” (Giêrêmia 20:9).

Lời Bàn

Trong thời đại chúng ta, Thánh Augustine vẫn còn được xưng tụng và vẫn còn bị kết án. Ngài là vị ngôn sứ của thời đại ngày nay, thúc giục chúng ta phải từ bỏ khuynh hướng thoát ly thực tế và can đảm đối diện với trách nhiệm và phẩm giá của mỗi một người.

Lời Trích

“Thật quá trễ để con yêu mến Ngài, ôi Ðấng Tuyệt Mỹ của ngày xa xưa ấy, nhưng mới lạ hơn bao giờ hết! Thật quá muộn để con yêu mến Ngài! Và đây, Ngài ở bên trong, con ở bên ngoài, và con đi tìm Ngài; con bị méo mó, đắm chìm trong những hình dáng đẹp đẽ mà Ngài đã dựng nên. Ngài ở với con, nhưng con không ở với Ngài. Nhiều thứ đã giữ con xa Ngài – những thứ mà nếu chúng không ở trong Ngài, thì chẳng là gì cả. Ngài kêu lớn và gào thét vào sự ngơ điếc của con. Ngài lấp lánh và chiếu sáng vào sự mù quáng của con. Ngài thở hương thơm và con bị lôi cuốn – và con khao khát Ngài. Con đã nếm thử, và con đói khát. Ngài chạm đến con, và con đã bừng cháy vì sự bình an của Ngài” (Tự Thú của Thánh Augustine).

Trích từ NguoiTinHuu.com

Tướng Giáp, Nhạc Phi … Tần Cối

Chiếm 5,5ha đất lúa Bắc bộ, lăng vua cộng sản Trần Đại Quang hoành tráng xa hoa hơn mọi lăng vua suốt 4.000 năm lịch sử dân tộc.

—-

* Mời đọc thêm:

THỨ NĂM, 10 THÁNG 10, 2013

Tướng Giáp, Nhạc Phi … Tần Cối

* VÕ VĂN TẠO

Nhân đọc bài “Tôi trung” của Huỳnh Ngọc Chênh trên blog của anh, nhất là câu kết cuối bài: “Hôm nay thì ông (tướng Giáp) vĩnh viễn ra đi, để lại đàng sau một hệ thống. Cái hệ thống mà ông là bậc khai quốc công thần, ông là vị tôi trung hiếm có. Một hàng người dài bất tận xếp hàng chờ vào viếng ông với sự thành kính tận đáy lòng. Những người ấy mến mộ công trạng của ông và cũng có thể kèm thêm lòng thương cảm vì những gì ông phải chịu đến cuối đời. Ông như một Nhạc Phi.

Nhà nước cũng quyết định làm quốc tang trọng thể cho ông. Tôi chợt thấy khó hiểu, tại sao cả Nhạc Phi lẫn Tần Cối đều được hệ thống vinh danh như nhau?”, tự nhiên thấy phải có đôi lời.

Trong lịch sử Trung Hoa, câu chuyện Nhạc Phi – Tần Cối nhà Nam Tống rất đặc biệt, đã thành điển tích.

Nhạc Phi (1103-1142) là đại danh tướng văn võ song toàn, đánh 26 trận, toàn thắng giặc Kim xâm lấn, trong bối cảnh phái chủ hòa lấn át triều đình, Tống Cao Tông bạc nhược. Ganh ghét, Thừa tướng bán nước Tần Cối đặt điều ly gián các trung thần, gièm pha vu khống Nhạc Phi, khiến Tống Cao Tông ngờ vực, bãi chức và triệu cha con Nhạc Phi về kinh, tống ngục. Nguyên soái Hàn Thế Trung đòi Tần Cối trưng ra chứng cứ khép tội Nhạc Phi. Tần Cối phán: “Mạc tu hữu!” (Cần gì có!). Thấy thả ra cũng gay, theo mưu vợ là Vương Thị xúi giục, Tần Cối bí mật ra tay hạ độc, bức tử cha con Nhạc Phi. Án oan lòa nhật nguyệt. Hậu thế có người cho rằng, uy danh và thế lực Nhạc Phi quá lớn, Tống Cao Tông mượn tay Tần Cối sát hại, đề phòng nguy cơ bị đoạt ngôi(?).

Hiếu Tông (1163-1189) lên ngôi, minh oan, cải táng Nhạc Phi tại đất Ngạc, lập miếu thờ, phong tước hiệu “Trung liệt”. Năm 1211 (đời Ninh Tông), truy phong tước hiệu Ngạc Vương. Từ đó, chữ “mạc tu hữu” gắn với tên Nhạc Phi, đi vào tiếng Trung như sự buộc tội vô căn cứ.

Người Trung Hoa đến nay vẫn tôn kính Nhạc Phi như anh hùng dân tộc, bậc sĩ phu dũng liệt trung thần.

*

Trong chuyến thăm thú Hàng Châu – tiên cảnh nơi hạ giới Trung Hoa, người viết bài này có dịp thăm cụm di tích miếu thờ và lăng cha con Nhạc Phi bên bờ Tây Hà – lầu son gác tía thấp thoáng rèm liễu rủ. Bên ngoài ngôi miếu hoành tráng thờ Nhạc Phi là tượng vợ chồng Tần Cối đúc bằng gang, tay bị còng sau lưng, quỳ trong cũi sắt, hướng về phía ngôi mộ tròn lớn xanh cỏ của Nhạc Phi. Hướng dẫn viên giải thích, trước đây người ta đúc đôi tượng này để đây cho bách tính đến viếng Nhạc Phi xong, ra khạc nhổ lên đầu vợ chồng Tần Cối. Nay để giữ vệ sinh, xin du khách đừng khạc nhổ. Nhiều du khách trong đoàn không nén được cảm xúc khinh tởm, vẫn chúm miệng phun, xì mũi (khô) phì phì. Người Hoa đời sau nguyền rủa, tin rằng món quẩy (cặp bột quấn lấy nhau, chiên dầu) là tượng trưng vợ chồng Tần Cối bị trói vào nhau, ném vạc dầu.

Ra khỏi cụm di tích, cứ mải miết với ý nghĩ, người Trung Hoa cư xử với vợ chồng Tần Cối như thế, có lẽ lại hay. Vinh danh người có công có đức, phải đi liền với lên án, nguyền rủa kẻ có tội. May ra hậu thế lấy đó làm gương, chùn bàn tay tội ác. Lại nghĩ chuyện Liên Xô cũ, không biết bây giờ hết thời cộng sản, Nga và những quốc gia thuộc Liên Xô cũ có còn giữ cái lệ phân biệt đối xử như trước? Theo đó, cứ dịp kỷ niệm ngày chiến thắng Phát xít Đức, mọi người đều được nhà nước cấp tiền ăn mừng, trừ dân chúng các thành phố từng đầu hàng. Lưu học sinh nước ngoài tại các thành phố này cũng “vạ lây”. Nhục, vinh còn nhắc đến mai sau.

*

Trở lại chuyện tướng Giáp, Huỳnh Ngọc Chênh thắc mắc: “Tại sao cả Nhạc Phi lẫn Tần Cối đều được hệ thống vinh danh như nhau?”. Điều trớ trêu ấy, có lẽ mai sau mới sửa sai, nhưng có mấy quan trọng? Hàng vạn người tự tấm lòng thôi thúc, cứ đội nắng, dầm sương không dứt cả tuần nay trước tư dinh tướng Giáp; và câu chuyện mộ phần kẻ đầu têu hãm hại ông ở Nghĩa trang Mai Dịch bị liên tục ném phân, phải âm thầm cất bốc dời đi… mới là chuyện. Dân ta chẳng có câu: “Cọp chết để da, người ta chết để tiếng”?

Cao hơn, chuyện đời có “minh trung”, lại có “ngu trung”. Với hàng thức giả, dám liều thân phất cờ đại nghĩa, diệt lũ sâu dân mọt nước, cứu dân khỏi vòng tai họa, mới thật là bậc anh hùng, đại nhân, đại trí, đại dũng, chói danh muôn thuở. Vạn nhất, việc lớn bất thành như Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Thái Học… người đời đâu dễ quên?

V.V.T.

CHỌN CHỖ CUỐI-TGM Giuse Vũ Văn Thiên

CHỌN CHỖ CUỐI

 TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Sống khiêm tốn là một lời khuyên thường thấy trong kho tàng văn hoá Đông cũng như Tây, kim cũng như cổ.  Sống giữa trời đất mênh mông, con người thật nhỏ bé, cần phải thành thật nhận ra sự nhỏ bé ấy.  “Khiêm tốn bao nhiêu cũng chưa đủ, tự kiêu một chút cũng là thừa” – người xưa nói thế.  Cuộc đời chính là sự tôi luyện để biết học khiêm tốn và tránh xa tự kiêu.  Chỉ một chút tự kiêu cũng có thể làm người ta danh bại thân liệt đổ vỡ sự nghiệp không thể cứu vãn.  Lão Tử lấy hình ảnh nước để nói về sự khiêm tốn: “Bậc trọn lành giống như nước.  Nước khéo làm ích cho muôn loài mà không tranh giành, ở chỗ mọi người đều ghét, cho nền gần Đạo” (Đạo Đức Kinh, chương 8).  Bậc thánh nhân cũng phải như vậy, phải sống cuộc đời khiêm cung từ tốn, quên mình vì người, không tự cao tự đại, có như thế mới gần Đạo gần Trời. 

Sống khiêm tốn cũng là chủ đề chính của các bài đọc Lời Chúa hôm nay, dù mỗi bài đọc khai thác đề tài này ở một góc nhìn khác nhau.  Sách Huấn Ca của người Do Thái là một cuốn sách thuộc thể loại “văn chương khôn ngoan.”  Nội dung sách này cũng tựa như những ca dao tục ngữ của người Việt chúng ta.  Điều khác biệt ở chỗ đây là Sách Thánh, tức là được Thần Linh Chúa soi sáng cho các tác giả viết ra.  Tác giả vừa như một bậc thầy khôn ngoan giáo huấn, vừa như một người cha nhẹ nhàng khuyên răn, với mục đích giúp con cái nên người.  Những lời khuyên chân tình này sẽ đi cùng với các con trải dài suốt năm tháng, để góp phần hình thành nhân cách và giúp con nên người hoàn thiện.  “Càng làm lớn, con càng phải tự hạ.”  Lời khuyên này sẽ được nhắc lại trong giáo huấn của Chúa Giêsu: “Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em.  Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em” (Mt 20, 27).  Nét độc đáo được nêu trong sách Huấn Ca, là “Thiên Chúa được tôn vinh nơi các kẻ khiêm nhường.”  Hãy chiêm ngưỡng Chúa Giêsu, Người là Thiên Chúa cao sang đã hạ mình sống thân phận con người như chúng ta, và Thiên Chúa đã được tôn vinh qua sự khiêm nhường, nhất là qua cuộc khổ nạn và phục sinh vinh quang của Người.  Khi sống khiêm nhường, chúng ta nên giống Chúa Giêsu, để rồi nhờ Người mà đến cùng Chúa Cha.  Thiên Chúa được nhận biết, được yêu mến và được tôn vinh qua sự khiêm nhường của chúng ta là những con cái của Ngài. 

Khiêm nhường là gì?  Thánh Tôma Aquinô trả lời: “Đó là một nhân đức đặc biệt, hệ tại ở sự tuân phục của con người đối với Thiên Chúa, và vì Thiên Chúa, hạ mình vâng phục những người khác.”  Theo Thánh Tôma, cách đối xử với tha nhân chỉ được gọi là khiêm nhường đích thực, khi nó được thực hiện “vì Thiên Chúa.” 

Trong truyền thống Kinh Thánh, người khiêm nhường cũng là người khó nghèo và là người công chính.  Họ luôn tín thác cậy trông nơi Thiên Chúa.  Tác giả Thánh vịnh 67 đã diễn tả niềm vui và hạnh phúc của người công chính (Đáp Ca). Họ là những người được Chúa chúc phúc và nâng đỡ chở che. Cuộc đời họ sẽ luôn thư thái và an bình. Họ sẽ dễ dàng vượt qua những gian nan thử thách, vì có Chúa luôn ở cùng. 

Thánh Luca đã kể lại sự việc Chúa Giêsu đi dự tiệc.  Nhân dịp này, Chúa giáo huấn các tông đồ về sự khiêm nhường.  Trong xã hội Việt Nam, xưa cũng như nay, chỗ ngồi dự tiệc còn quan trọng hơn cả thực phẩm trên bàn tiệc, vì nó khẳng định vị thế của người được mời.  Thực ra, Chúa dùng hình ảnh chỗ ngồi trong bữa tiệc để giáo huấn chúng ta về sự khiêm nhường trong cuộc sống.  Trong thực tế, đôi khi chúng ta giả bộ khiêm nhường, mà chưa chắc đã thực tâm sống nhân đức ấy. 

Trong phần cuối của bài Tin Mừng, Chúa Giêsu còn dẫn chúng ta đi xa hơn, với lời mời gọi thực thi bác ái và quan tâm đến những người bất hạnh, những người bị lãng quên.  Những của cải làm phúc cho người nghèo sẽ không bị rơi vào quên lãng, nhưng được Thiên Chúa ghi nhận và Ngài sẽ thưởng công cho người nào rộng rãi đối với tha nhân.

Khuynh hướng tự nhiên nơi con người bao giờ cũng muốn thể hiện mình.  Ngày nay, nhiều người khoe khoang học thức và bằng cấp (nhiều khi lại là bằng cấp mua!).  Thực tế, “con người không giá trị ở cái mình có, nhưng giá trị ở điều mình là” (ngạn ngữ Pháp).  Giá trị đích thực không ở bằng cấp, nhưng là ở con người có kiến thức và biết sử dụng kiến thức đi liền với bằng cấp ấy.  Khiêm tốn bao nhiêu cũng không đủ, tức là còn phải khiêm tốn suốt đời.  Cũng vậy, người tín hữu không bao giờ tự cho là đã đạt được sự hoàn hảo nơi bản thân, nhưng còn phải gắng sức phấn đấu để đạt tới mức “hoàn hảo như Cha trên trời” như Chúa Giêsu mời gọi. 

Ông John Wooden (1910-2020), huấn luyện viên nổi tiếng môn bóng rổ người Mỹ, đã viết như sau: 

Tài năng do Chúa Trời cho, hãy khiêm tốn.
Danh tiếng do người khác cho, hãy biết ơn.
Tính tự phụ do tự ta cho, hãy cẩn thận
 

“Chọn chỗ cuối” là một cách nói gợi hình, không chỉ là một vị trí hoặc một không gian, nhưng đúng hơn là một thái độ sống trong cuộc đời.  Một cách thiết thực, chọn chỗ cuối là biết thu mình lại để Chúa được tôn vinh, và cũng giúp anh chị em được hạnh phúc.  Xin Mẹ Maria giúp chúng ta biết sống khiêm tốn, để có thể thân thưa với Chúa lời “xin vâng” như Mẹ. 

TGM Giuse Vũ Văn Thiên