HOA TRÁI CỦA MỘT TÌNH YÊU MÃNH LIỆT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

HOA TRÁI CỦA MỘT TÌNH YÊU MÃNH LIỆT

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thứ Tư Tuần XXVIII – Mùa Thường Niên

“Khốn cho các ngươi, hỡi những người biệt phái!”.

Nathaniel Hawthorne nói, “Không một người nào, trong một khoảng thời gian đáng kể nào, lại có thể mang một khuôn mặt cho mình, cùng lúc, một khuôn mặt khác cho công chúng, mà cuối cùng không cảm thấy hoang mang về cái nào là thật. Bởi lẽ, những gì là nhân văn, những gì là trung thực và bác ái chỉ có thể là ‘hoa trái của một tình yêu mãnh liệt’ tự bên trong!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Ý tưởng của Nathaniel Hawthorne sẽ được gặp lại trong Tin Mừng hôm nay, khi chúng ta biết rằng, lời lẽ cứng rắn của Chúa Giêsu dành cho những người biệt phái, “Khốn cho các ngươi!”, “Khốn cho các ngươi!”, chính là ‘hoa trái của một tình yêu mãnh liệt’ và khao khát sự cứu rỗi cho những người mà Ngài đã nặng lời, chứ không phải là một sự cay đắng dữ dội dành cho họ.

Có bao giờ bạn thấy mình bắt nhịp với Chúa Giêsu trong những đoạn Tin Mừng tương tự? “Chúa cứ nguyền rủa đi! Họ xứng với điều này!”. Thử tưởng tượng bạn và tôi đang có mặt ở đó, chúng ta khoanh tay, nghiêm nghị, lắc đầu ngao ngán trước hạng đạo đức giả; sau đó, suy nghĩ của chúng ta chuyển sang một người quen biết vốn cũng nên nhận được “sự chì chiết tốt lành này!”; có thể là một Linh mục, một Giám mục, đối tượng của sự trách móc tinh thần này.

Tuy nhiên, sẽ sâu sắc và thú vị hơn, nếu chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh của những con người mà bấy lâu chúng ta hết sức ngưỡng mộ. Thì ra tôi cũng có một trái tim chai sạn và khô cằn không hơn gì những người biệt phái! Và dẫu có thể cùng Chúa Giêsu kết án họ, nhưng tôi đã không yêu họ như Ngài yêu. Chúng ta quên rằng, Chúa Kitô cũng đã hiến mạng cho những người Pharisêu, vốn là những con người mà Ngài đang tìm kiếm, kêu gọi họ hoán cải; thậm chí, nếu họ là những người duy nhất cần cứu, thì Ngài cũng đến để cứu! Mở lời phê phán thật dễ, nhưng một lời mời biến đổi lại chỉ có thể đến từ một trái tim biết yêu vốn ấp ủ chồi lộc để trổ sinh những ‘hoa trái của một tình yêu mãnh liệt!’. Đó là “hoa trái của Thánh Thần” mà thánh Phaolô đề cập trong thư Galata hôm nay, “Yêu thương, vui mừng, bình an, nhẫn nại, nhân từ, hiền lành, khoan dung, dịu hiền, trung trực, đức hạnh, tiết độ, trinh khiết”.

Suy nghĩ đến đây, chúng ta liên tưởng đến một cụm từ khá ‘thời sự’, “Hiệp Hội Những Người Công Giáo Quạu Cọ”. Ai mà không phát hiện ra ít nhất một điều sai trái trong giáo xứ hoặc giáo phận mình? Một số là nhìn thấy, cầu nguyện và tìm hướng giải quyết khó khăn; số khác là ‘chằm hăm’ đến chúng! Nhóm hai này là “Hiệp Hội” chúng ta đang nói. Với chuỗi Mân Côi, họ suy gẫm “các mầu nhiệm Nguyền Rủa”; Chúa Giêsu nguyền rủa cây vả; Ngài cầm roi tẩy uế đền thờ; kết án các kinh sư… Tôi có thể là một thành viên ẩn danh; hay ít nữa, một người ủng hộ hiệp hội này. Đừng quên, Chúa Giêsu đã dùng những lời lẽ cứng rắn, nhưng chúng chỉ là ‘hoa trái của một tình yêu mãnh liệt’ và khao khát cứu rỗi các linh hồn. Nếu có điều gì cay đắng trong lòng, tôi cần xin Chúa ban ơn tha thứ và biết tha thứ như Ngài.

Anh Chị em,

“Khốn cho các ngươi!”. Chúa Giêsu, một nhà sư phạm, một nhà giáo dục bậc thầy; Ngài biết cách đưa các linh hồn theo tiến trình ‘từng chút’, từng chút theo tốc độ và mức độ họ lãnh hội. Là Kitô hữu, chúng ta được kêu gọi để soi sáng lương tâm những người chung quanh bằng ánh sáng Chúa Kitô. Thánh Vịnh đáp ca thật ý nghĩa, “Lạy Chúa, ai theo Ngài sẽ nhận được ánh sáng ban sự sống”, sự sống cho mình, sự sống cho người! Tuy nhiên, nếu việc soi sáng của chúng ta chỉ đơn thuần là những lời lẽ hoa mỹ để kết án họ ‘càng nghiêm khắc càng tốt’ thì chúng ta cần xem xét, liệu Lời Chúa hôm nay có áp dụng cho chúng ta không, “Chất lên người ta những gánh nặng không thể vác, mà chính các ngươi dù một ngón tay cũng không động tới”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin ban cho con một trái tim nhu mì, khiêm nhượng như trái tim Chúa; để những lời con nói, những việc con làm, chỉ là ‘hoa trái của một tình yêu mãnh liệt!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

KHÔNG NẢN CHÍ – Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

KHÔNG NẢN CHÍ

  Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Ngày 14-10-2010 là ngày vui đối với người dân Chilê.  Ba mươi ba người thợ mỏ bị sụp hầm sâu gần 700 m, được giải cứu.  Mười bẩy ngày đầu họ sống trong bóng tối, cạn kiệt lương thực.  Họ còn phải sống gần hai tháng nữa mới được cứu lên khỏi mặt đất.  “Tôi ở giữa Thiên Chúa và quỷ sứ.  Tôi bị giằng co giữa hai bên.  Tôi nắm chặt lấy bàn tay Chúa, và Chúa đã cứu tôi.”  Đó là câu nói của anh Mario Sepulveda, người thợ mỏ thứ hai được đưa lên khỏi “địa ngục.”  Khi còn ở dưới hầm, Jimmy Sanchez, anh thợ trẻ nhất nhóm đã viết lên: “Ở đây chúng tôi có 34 người, vì Chúa chẳng bao giờ bỏ rơi chúng tôi.”  

Dù người ta nhắc đến khoa học như chìa khóa cho thành công, nhưng chính việc cầu nguyện đã cho họ sức mạnh để đứng vững. 

“Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí.”  Đó là điều Đức Giêsu nhắn nhủ chúng ta qua dụ ngôn bà góa quấy rầy.  Bà là người không còn chỗ dựa vững chãi của người chồng.  Bà lại còn là nạn nhân đáng thương của một sự bất công chèn ép.  Nhất quyết không để mình bị bóc lột, bà đã nhiều lần đến gặp quan tòa để xin ông minh xét cho (c. 3).  Tiếc thay ông này lại là một vị quan tòa bất chính (c. 6), nên vụ kiện bị ngâm trong một thời gian khá lâu.  Nhưng bà không hề nản chí, và cuối cùng bà đã thắng.  Ông quan tòa đã phải đem ra xử vụ kiện, chỉ vì bị bà quấy rầy liên tục.

Đức Giêsu đã táo bạo khi kể dụ ngôn trên.  Ngài dám so sánh Thiên Chúa với ông quan tòa bất chính.  Dĩ nhiên, Thiên Chúa thì tốt lành và chăm lo cho con người, ngược hẳn với ông quan tòa chẳng coi ai ra gì (c. 2).  Nhưng cả hai lại có một nét chung.  Nhiều khi chúng ta có kinh nghiệm về một Thiên Chúa như hững hờ, như không muốn đáp lại tiếng kêu của những người chịu bất công áp bức.  Có biết bao tiếng kêu như thế vang vọng từ khắp địa cầu.  Có biết bao người chịu bách hại mà không thể lên tiếng.  “Đối phương tôi hại tôi, xin ngài minh xét cho” (c. 3).  Đó vẫn là lời kêu nài muôn thuở của những người thấp cổ bé miệng.  Chúng ta ngỡ ngàng khi thấy Thiên Chúa không lên tiếng bênh vực, không hành động gì để giải cứu, giải oan. 

Đức Giêsu mong chúng ta đừng thất vọng trước sự bất công trên thế giới, đừng nản lòng khi lời cầu nguyện của chúng ta có vẻ rơi vào quên lãng.  Hãy tiếp tục cầu nguyện, vì Thiên Chúa tốt hơn ông quan tòa nhiều.  Nếu quan tòa cuối cùng còn xử kiện cho bà góa chỉ vì tránh bị quấy rầy, thì huống hồ là Thiên Chúa, Đấng sẽ làm rõ trắng đen vì lòng cảm thương.  Lẽ nào Người bắt những kẻ Người tuyển chọn, những kẻ ngày đêm kêu cứu với Người phải chờ đợi mãi? (c. 7).  Lòng tin của chúng ta vẫn bị thách đố ngày nào còn bất công trên thế giới.  Chỉ mong ta vẫn giữ được lòng tin như người thợ mỏ ở trong hầm tối.

 Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

 ***

Lạy Cha, con phó mặc con cho Cha, xin dùng con tùy sở thích Cha.  Cha dùng con làm chi, con cũng xin cảm ơn.  Con luôn sẵn sàng, con đón nhận tất cả.  Miễn là ý Cha thực hiện nơi con và nơi mọi loài Cha tạo dựng, thì, lạy Cha, con không ước muốn chi khác nữa.  Con trao linh hồn con về tay Cha.  Con dâng linh hồn con cho Cha, lạy Chúa Trời của con, với tất cả tình yêu của lòng con, Vì con yêu mến Cha, vì lòng yêu mến thúc đẩy con phó dâng mình cho Cha, thúc đẩy con trao trọn bản thân về tay Cha, không so đo, với một lòng tin cậy vô biên, vì Cha là Cha của con.

 Chân phước Charles de Foucauld

Trời là gì?-Cha Vương

Một ngày an lành trong niềm hy vọng vào Chúa Cứu Thế nhân hậu nhé.

Cha Vương

Thứ 5: 13/10/2022

GIÁO LÝ: Trời là gì? Trời là thời gian vô tận của tình yêu không bao giờ còn xa cách nữa giữa Thiên Chúa và lình hồn đã yêu mến và tìm kiếm Người suốt đời. Được hiệp nhất với tất cả các thiên thần và tất cả các thánh, linh hồn được vui hưởng hạnh phúc luôn luôn ở gần Chúa và với Chúa. Trời là Thiên đường. (YouCat, số 158)

SUY NIỆM: Đôi bạn trẻ nhìn nhau với đôi mắt tình tứ, một em bé đang bú mẹ tìm đến cái nhìn của mẹ nó, như muốn giữ gìn mỗi nụ cười đó mãi mãi…. đó là những thí dụ có thể cho ta một ý niệm nhỏ về trời hay thiên đường. Được nhìn thấy Thiên Chúa mặt đối mặt là như thời gian độc nhất của tình yêu kéo dài đến vô tận. (YouCat, số 158 t.t.)

❦ Một người có thể mất hết của cải đời này trái với ý muốn của mình, nhưng không bao giờ họ mất của cải đời đời nếu không hoàn toàn do ý muốn của mình. (Thánh Augustinô)

LẮNG NGHE: Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi. (1 Cr 13:12)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, là con người thì có lẽ ai cũng có những lần lo âu xao xuyến, nhất là khi con đang sống trong một thế giới bất ổn, xin Chúa cũng cố niềm tin cho con để con luôn xác tín vào lời Chúa dạy: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó.” (Ga 14:1-3)

THỰC HÀNH: Để hưởng hạnh phúc muôn đời với Chúa, bạn cần phải sạch tội. Tội nào đang làm bạn xa lìa Chúa? Hãy cố gắng tránh xa dịp tội hôm nay nhé.

From: Đỗ Dzũng

KINH CẦU XIN HÒA BÌNH

Mời đọc để tìm thấy BÌNH AN

KINH CẦU XIN HÒA BÌNH

Lạy Chúa là Thiên Chúa Hòa Bình, Chúa đã dựng nên loài người theo lượng từ bi Chúa, để chúng con được thông phần vào vinh quang Chúa.

Chúng con chúc tụng và cảm tạ Chúa, vì Chúa đã sai Con Yêu Dấu Chúa, là Đức Giêsu Kitô, đến thế gian; Người đã từ cõi chết sống lại, là Đấng Cứu Độ, là nguồn gốc hòa bình và là mối dây nhân ái.

Chúng con chúc tụng và cảm tạ Chúa, vì Chúa Thánh Thần, là Thần Trí Hòa Bình của Chúa, đã làm nảy sinh trong thời đại chúng con những khát vọng, những nỗ lực và những công việc, để tình thương thay thế hận thù, cảm thông thay thế đố kỵ, hợp nhất thay thế chia rẽ.

Lạy Chúa là Cha đầy tình thương xót, xin thương đến tất cả những ai đang hy sinh, đau khổ và phải chết, để làm cho thế giới được sống trong tình bác ái anh em.

Chúng con biết rằng chúng con không thể xây dựng hòa bình, nếu chính chúng con không có tâm hồn bình an. Kinh Thánh dạy: ơn phúc của Chúa Thánh Thần là yêu thương, vui mừng, bình an. Xin cho chúng con có trái tim yêu thương khi phục vụ mọi người, có cuộc sống vui tươi khi biết mình là con cái Chúa, và có tâm hồn bình an khi không vướng mắc tội lỗi.

Lạy Chúa, Con Chúa đã hứa ban bình an cho chúng con. Xin Chúa cho mọi dân tộc, thuộc mọi màu da, mọi tiếng nói, được sống trong Nước công chính, yêu thương và bình an của Chúa. Xin cho Tổ quốc và Giáo hội Việt Nam được bình an thịnh vượng, cho thế giới được hòa bình bền vững lâu dài. Lạy Chúa là Thiên Chúa chúng con, Danh Chúa thật cao cả trên khắp địa cầu. Amen.

 Bố tôi có tất cả 3 đời vợ

Kimtrong Lam

 Bố tôi có tất cả 3 đời vợ.

Mẹ tôi là người đầu tiên ông kết hôn và chỉ vài tháng sau khi nên vợ thành chồng, mẹ tôi là người đệ đơn ly hôn. Lúc đó bà đang mang thai đứa con duy nhất là tôi.

Hơn 40 năm sống trên đời, tôi chưa từng nghe thấy mẹ than vãn, oán hận hay trách móc gì chồng cũ. Có lẽ bởi vậy nên tôi, đứa con chỉ gặp bố với số lần đếm trên đầu ngón tay cũng không cảm thấy quá uất ức khi bố mình chẳng có chút xíu trách nhiệm nào với con cái.

Mẹ tôi ở vậy nuôi tôi thành người. Mặc dù là phụ nữ nhưng tôi luôn tự nhủ mình phải có trọng trách chăm sóc bà cả đời. Thật may mắn, khi lập gia đình chồng tôi rất hiều và thông cảm cho vợ. Thậm chí, anh còn coi mẹ tôi như mẹ đẻ vì mẹ anh mất sớm.

Tuy không ở với bố và cũng không gặp ông nhiều nhưng vì ở cùng một thành phố, đôi khi tôi vẫn nghe được rất nhiều thông tin về ông. Có lẽ vì hoàn cảnh tác động, giữa tôi và bố dường như chẳng có nổi một sợi dây liên kết nào…

Sau khi ly hôn với mẹ tôi, ông cũng rất nhanh chóng tìm kiếm được hạnh phúc mới. Bố tôi và người vợ thứ hai có đến 3 mặt con. Những tưởng cuộc hôn nhân này đã viên mãn nhưng bất ngờ thay bố tôi và người vợ thứ 2 cũng ly hôn sau gần chục năm chung sống.

Nếu tôi nhớ không nhầm thì vào năm ông ở tuổi ngũ tuần liền quyết định cưới thêm một lần nữa. Điều đáng nói, người vợ thứ 3 của ông bằng tuổi tôi. Thật là oan gia ngõ hẹp khi “mẹ kế” này và tôi lại làm cùng một công ty.

Tôi và đồng nghiệp kia chưa kịp nếm trải những khó xử khi thường xuyên phải đối mặt với nhau ở nơi làm việc thì bố tôi và người vợ thứ ba này đã nhanh chóng đường ai nấy đi. Khi biết tôi là con cả của ông, “mẹ kế” ban đầu còn ái ngại nhưng cổ nhân có câu “kẻ thù của kẻ thù là bạn mình” nên dần dà cô ấy bắt đầu coi tôi là đối tượng để tâm sự.

Có lẽ vì cô ấy nghĩ chắc hẳn mẹ con tôi cũng hận thù bố tôi như cái cách mà 3 mẹ con cô ấy đã phải chịu đựng nên luôn tìm tôi để kể tội ông ấy. Cũng bởi vì những màn nói xấu chồng cũ không hồi kết này của “mẹ kế” mà tôi biết được lý do vì sao mẹ tôi lại quyết tâm ly hôn khi bụng mang dạ chửa.

Bố tôi là một người đàn ông trăng hoa.

Mẹ tôi vì biết chuyện bố có qua lại với người phụ nữ khác, cũng chính là người vợ thứ hai của ông sau này nên đã quyết tâm đơn phương ly hôn. Thì ra đây là lý do mà ông rất nhanh chóng tìm đến cuộc hôn nhân mới khi tôi chỉ mới vừa tròn 1 tháng tuổi.

Chuyện này tương tự lặp lại với người mẹ kế thứ hai. Và kết thúc cũng không khác với lần đầu tiên là mấy.

Không thể phủ nhận rằng cô đồng nghiệp của tôi lấy người đáng tuổi bố mình với mong ước thoát khỏi cuộc đời lam lũ. Nhưng kể cả có là như vậy thì cô cũng chưa từng làm chuyện có lỗi với chồng và 2 đứa con.

Cứ tưởng rằng bố tôi lấy vợ trẻ thì phải tối ngày lo giữ vợ thế nhưng mọi chuyện lại ngược lại hoàn toàn. Khi sinh bé thứ hai, “mẹ kế” này của tôi bàng hoàng phát hiện bố tôi đã có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác, thậm chí kẻ đó cũng đã sinh cho ông 1 đứa con.

Tôi không còn nghe được những thông tin về “chiến tích” của bố mình nữa vào năm ông bước qua tuổi 60. Gần đây, tôi thấy người ta bảo bố tôi sức khoẻ yếu đi nhiều rồi, thi thoảng phải nhập viện vì nhiều căn bệnh tuổi già. Mỗi lần đều tự đi một mình, tự về một mình, chẳng có ai chăm sóc.

Vậy là ở cái tuổi tóc hoa râm, người đàn ông có 3 đời vợ, 7 đứa con cả trong và ngoài giá thú lại chỉ có thể lẻ loi một mình. Tôi không biết trong những ngày cô độc như thế, ông ấy đã nghĩ gì, liệu có hay không 1 lần hối hận vì tuổi trẻ phóng khoáng của mình?

Chiều nay, tôi tăng ca nên đi làm về khá muộn. Mở cửa liền thấy mẹ đang tết tóc cho đứa cháu lớn, thằng út thì mè nheo đòi bà chiên gà cho nó ăn. Những bộn bề cuộc sống bỗng trở nên thật nhẹ nhàng vào khoảnh khắc này.

Tôi chưa từng oán hận bố mình nhưng để có thể ở bên cạnh chăm sóc ông thì tôi không thể sẵn sàng…

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT…

Những Câu Chuyện Thú Vị – Ncctv.net

Thanh Bùi  ·   · 

CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT…

Năm 1980, Mike Wells, một phóng viên ảnh tài liệu đã chụp lại bức ảnh gây xúc động mạnh mẽ về hình ảnh bàn tay của một cậu bé.

Bức ảnh “vô tình” đạt giải thưởng trong cuộc thi Ảnh báo chí thế giới năm 1980 đã khiến cho toàn thế giới bị ám ảnh và gây ra một sự ph*ẫn n*ộ rất lớn trong dư luận.

Tác phẩm này đã khiến tên tuổi của Mike Wells vươn ra ngoài thế giới nhưng cũng khiến ông dành cả phần đời còn lại của mình trong sự xấu hổ và dằn vặt. Bức ảnh ghi lại một bàn tay nhỏ bé, gầy gò, thậm chí nếu nhìn qua thì có vẻ như bàn tay đó không phải là bàn tay của một con người.

Nhiều người cho rằng nó giống như bàn tay của một người ngoài hành tinh. Và khi nhìn cho thật kĩ, sẽ thật đau xót khi thấy đó là bàn tay của một đứa trẻ bị suy dinh dưỡng nặng.

Trái ngược với đó là một bàn tay của người da trắng, khỏe mạnh, vạm vỡ. Bức ảnh cho thấy sự tương phản rõ nét và cũng phản ánh chân thực những gì đang diễn ra.

Nguồn: ĐI TÌM LẼ SỐNG

Vĩnh biệt anh Ngô Vĩnh Long

Vĩnh biệt anh Ngô Vĩnh Long

Joaquin Nguyễn Hòa, gửi từ San Jose, California

Tôi biết tin anh Long qua đời qua trang Facebook của anh Nguyễn Hữu Liêm ở San Jose. Giáo sư Trần Hữu Dũng ở Ohio xác nhận với tôi rằng anh Long qua đời vì bệnh ung thư gan lúc 5:30 sáng ngày 12/10/2022, thọ 78 tuổi.

Anh Ngô Vĩnh Long là giáo sư sử học, trường đại học Maine, anh tốt nghiệp đại học lừng danh Harvard, anh là bình luận gia nhiều vấn đề quan hệ quốc tế và Việt Nam, anh là thủ lĩnh phong trào phản chiến trong chiến tranh Việt Nam, anh từng chiếm đóng tòa lãnh sự Việt Nam Cộng hòa tại San Francisco,…

Tất cả những điều ấy, mọi người đều biết, và cũng có nhiều người chỉ trích, mắng chửi,…

Tôi không muốn lặp lại những điều ấy, chỉ xin kể lại đây những kỷ niệm cá nhân với anh Long.

Tôi biết anh Long khi còn làm phóng viên cho trang RFA Việt ngữ, khi cần những bình luận về tình hình Việt Nam, cũng như quan hệ của Việt Nam với Hoa Kỳ và Trung Quốc. Điều tôi ấn tượng nhất khi phỏng vấn anh Long, hoặc khi chuyện vãn bên lề, là anh có hai nét bề ngoài có vẻ rất mâu thuẫn với nhau, một giọng nói khá yếu, đến mức có khi như thều thào, và một giọng cười rất sảng khoái và mạnh mẽ.

Chỉ sau vài lần trò chuyện, có lẽ anh Long cũng có cảm tình với tôi, anh mời tôi đến chơi với anh ở Bangor, Maine.

Anh đón tôi vào một ngày cuối đông. Từ trong sân bay, tôi thấy anh xăm xăm bước qua đống tuyết còn bề bộn, đi vào sảnh, dáng đi hồn nhiên như một đứa trẻ. Anh chở tôi đến ngay một tiệm bán … tôm hùm. Và buổi trưa hôm đó câu chuyện dài dằng dặt của chúng tôi, đúng hơn là câu chuyện của anh, bắt đầu, kéo dài đến gần một tuần, bên ly rượu Sauternes, một loại vang cất từ nho mốc trên cành, mà anh cho tôi biết là rất “bắt” với tôm hùm và… lẫu mắm.

Tên của anh được đặt theo tên cái thị xã mà anh sinh ra, thị xã Vĩnh Long, nơi cha anh theo kháng chiến chống Pháp trong mặt trận Việt Minh. Ông cụ không phải là một đảng viên cộng sản, mà còn xa hơn nữa, sau năm 1954, cụ trở thành một tín hữu Tin Lành. Chính ông cụ là người bày cho anh cách học thuộc lòng các cuốn tiểu thuyết bằng Anh ngữ để học tiếng Anh. Và bằng cách đó anh đã đủ tiếng Anh để đại học Harvard lừng danh của Mỹ chấp nhận.

Ngoài chuyện có bố là người theo đạo Tin Lành, cũng không có nhiều người biết rằng trong gia đình anh Long còn có một nữ sĩ quan công binh, Danielle Ngô, vị chỉ huy một lữ đoàn công binh là nữ giới đầu tiên của quân đội Hoa Kỳ. Bà Danielle Ngô gọi anh Long là cậu ruột. Gia đình bà bỏ chạy khỏi Sài Gòn đúng ngày 30/4/1975, và được anh Long bảo trợ đến Mỹ. Đó là những năm rất vất vả với người tị nạn Danielle Ngô mới được vài tuổi, mà cũng là những năm rất vất vả với người phản chiến Ngô Vĩnh Long, hết bị dính tới vụ án Trương Đình Hùng (con trai bác sĩ Trương Đình Dzu từng là ứng viên tổng thống Việt Nam Cộng hòa), rồi lại bị ám sát hụt trong khuôn viên đại học Harvard.

Sau đó, Hà Nội lại cấm cửa không cho Ngô Vĩnh Long về nước, mà cũng không rõ lý do gì (những chuyện như thế thường không có lý do!). Anh Long kể với tôi rằng anh thoát bàn tay công an Việt Nam trong gang tấc nhờ một người bạn che chở trong một lần về Việt Nam.

Chuyện nước là thế, chuyện nhà cũng không suông sẻ gì với cuộc hôn nhân đầu tiên gãy đổ. Nhưng có lẽ trời cũng bù lại cho tính cách hồn nhiên của anh bằng những đứa con rất giỏi giang, hai người con lớn rất thành đạt, còn cậu út, cũng tài hoa như cha, một tay guitar cự phách, và tốt nghiệp đại học chỉ sau hơn hai năm.

Dĩ nhiên đối với kẻ hậu sinh như tôi, thì những câu chuyện về các nhân vật phản chiến luôn là một sự hấp dẫn. Câu chuyện anh Long kể về nhân vật Nguyễn Thái Bình (bị an ninh Mỹ bắn chết vì cáo buộc cướp máy bay), làm tôi ngạc nhiên với lời bình luận của anh, “Bình tốt lắm, nhưng giao du với các nhóm quá tả”. Dần về sau, giữa những biến động xã hội, chính trị Mỹ, tôi thậm chí thấy rằng Ngô Vĩnh Long chưa chắc đã tả bằng nhiều thanh thiếu niên người Mỹ gốc Việt hiện nay.

Câu chuyện thứ hai làm tôi rõ hơn tính cách Ngô Vĩnh Long đến từ giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng ở Virginia. Lần đó giáo sư Hùng cho tôi xem những thư từ qua lại giữa chính quyền Mỹ với một số nhân sĩ trí thức người Mỹ gốc Việt, để chuẩn bị lộ trình bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Tôi thấy có một bức thư ủng hộ kế hoạch H.O. (Humanitarian Operation) của người Mỹ nhằm đưa những người tù “cải tạo” sang Mỹ, trong số những chữ ký tôi thấy có Ngô Vĩnh Long. Kể chuyện này với anh Long, anh cười rất hồn nhiên như mọi khi, “các ông H.O. cứ réo tên tôi mà mắng chửi suốt ngày”.

Cách đây hơn một tháng, anh Long có sang San Francisco dự một cuộc hội thảo. Tôi có gọi cho anh để càm ràm là bạn bè gì tệ quá, sang mà không gặp. Anh cười hì hì giữa một cơn đau lạ đang hành hạ, anh kể với tôi là cô con gái lớn hoạt động xã hội ở Oakland, vẫn còn giận anh gì đó nên hai cha con không gặp nhau được. Hai anh em lại hẹn nhau lần sau với chai Sauternes, mà phải là lẫu mắm, chứ không phải tôm hùm.

Và sáng nay anh ra đi.

Anh Long không chính thức theo một tôn giáo nào, nhưng có lần chúng tôi đồng ý với nhau về tính hiện sinh của triết học Phật giáo. Anh có nhắc với tôi một số kỷ niệm với các nhà sư Việt Nam, như thiền sư Thích Nhất Hạnh. Anh không nổi tiếng như thiền sư, nhưng cũng có một số phận giữa hai làn nước từa tựa như thiền sư.

Có lần tôi hỏi ông T., một nhân vật nổi tiếng chống cộng tại Mỹ, nghĩ thế nào về Ngô Vĩnh Long? Ông T. nói: “Anh Long là một người yêu nước”.

HÌNH: – Giáo sư Ngô Vĩnh Long

  AO LÀNG, BIỂN CẢ VÀ GIẢI NOBEL VĂN CHƯƠNG – Tác giả: Đào Hiếu.

Tiểu Luận Đào Hiếu

  AO LÀNG, BIỂN CẢ VÀ GIẢI NOBEL VĂN CHƯƠNG

Tác giả: Đào Hiếu.

***

Ai cũng biết: giải Nobel văn chương là giải thưởng lớn nhất và danh giá nhất mà nhà văn nào trên thế giới cũng đều mơ ước. Từ nhà văn của các nước nhỏ, lạc hậu, nghèo nàn Á, Phi – thường được ví von một cách miệt thị là “ao làng” – cho đến những nhà văn của các nước văn minh hiện đại, giàu có như Mỹ và châu Âu đều thèm nhỏ dãi!

Ngày nọ, có anh chàng nhà văn Giao Chỉ qua sống bên Mỹ (chẳng biết cậu ta làm nghề ngỗng gì), nhưng có lẽ vì thấy mình đang sống trong một xã hội rộng lớn, và văn minh quá nên tưởng tượng mình đang bơi trên biển, cạnh mấy con cá nhà táng, bạch tuộc khổng lồ… và nghĩ thương cho các đồng nghiệp mình đang ngụp lặn trong cái “ao làng” Việt Nam bên cạnh mấy con cá rô, mấy con nhái bén… mà thốt lên những lời cao ngạo.

Thực ra tác phẩm văn chương vừa là con cá nhà táng, con bạch tuộc, nhưng cũng có thể là con cá rô, con nhái bén vì chúng đều là những kiệt tác của tạo hóa nên không thể đem cân ký lô để xác định giá trị được.

Trong thiên “Tề Vật Luận” của Nam Hoa Kinh, Trang tử có đưa ra hình ảnh của “Con Chim Bằng” và “Con Chim Sẻ”. Ông viết đại khái: “Chim bằng có sải cánh dài muôn trượng, bay một lúc đến sáu tháng mới nghỉ, còn chim sẻ chỉ nhảy lách tách trong sân nhà, nhưng chim Bằng muốn làm chim sẻ cũng không được mà chim sẻ muốn làm chim Bằng cũng chào thua”.

“Văn chương” là như vậy đó.

Khi bàn đến văn chương đừng bao giờ nói đến “văn chương nhà giàu” hay “văn chương nhà nghèo” “văn chương da trắng” hay “văn chương da màu”, càng không nên phân biệt văn chương của thời đại kỹ thuật số với văn chương của thời Homère hay Xuân Thu, Chiến Quốc.

Đâu cần phải có laptop mới viết được văn chương. Đâu cần phải khoác áo “Hậu hiện đại”, “Hiện thực huyền ảo” hay “Tân hình thức”… mới có giá trị. Trang Tử, La Quán Trung, Vương Thực Phủ, Lý Bạch, Tô Đông Pha, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nam Cao, Lỗ Tấn… chỉ có mỗi cây bút lông.

Tôi đọc Nam Hoa Kinh, Thi Kinh Tập Truyện, Đường Thi Tam Bách Thủ, Tạp Thuyết Tứ… từ hồi con là cậu sinh viên 20 tuổi, tôi thấy cách đây hàng ngàn, hàng trăm năm mà những tác phẩm ấy vẫn rất mới. Mới trong ngôn ngữ lẫn bút pháp. Ngày nay, đã có mấy nhà văn hiện đại (kể cả những người từng đoạt giải Nobel) sử dụng được ngôn ngữ và bút pháp độc đáo như trong Thánh Kinh của đạo Ki-Tô hay Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Chưa kể nhiều nhà phê bình văn học vẫn coi kinh Coran của Đạo Hồi là một kiệt tác văn học.

Tôi muốn nói thêm rằng: Văn chương không phải là một cái “mốt” (mode). Văn chương là một SINH VẬT. Nó sống giữa loài người và sống trong cảm nhận của mỗi người.

Văn chương cũng không phải là thời trang cho nên đừng bao giờ khoác cho nó bộ trang phục của Christian Dior, Armani, Pière Cardin hay Hậu Hiện Đại, hay Hiện thực XHCN, hay Siêu Thực, hay Tân Hình Thức…

Văn chương là… văn chương.

Nó tự do tuyệt đối.

Nó muốn thể hiện kiểu nào tùy thích, miễn là độc đáo, mới lạ, bất ngờ và làm ta xúc động, làm ta rung chuyển tận gốc rễ, đến nỗi có thể khiến ta thay đổi nhận thức, thay đổi cảm xúc và thậm chí thay đổi cả nhân cách.

Các trường phái nghệ thuật chỉ để làm dáng.

Văn chương phải ĐƯỢC lột sạch quần áo.

Phải trần truồng.

Sẽ rất thô kệch. Hoặc sẽ rất quyết rũ.

NHƯ VẬY, BẢN CHẤT CỦA VĂN CHƯƠNG LÀ:

-Tự do tuyết đối -Một người điên -Một nhà hiền triết -Một kẻ lên đồng -Một người thầy của mọi thế hệ.

MÔI TRƯỜNG CỦA VĂN CHƯƠNG LÀ TẤT CẢ

-Từ ao làng tới đại dương, bầu trời, núi rừng và mặt đất -Từ ổ chuột đến phố phường -Từ lũy tre làng đến chân trời góc biển -Từ cái loa Phường cho tới điện thoại thông minh, vệ tinh viễn thông….

NHÂN VẬT CỦA VĂN CHƯƠNG LÀ:

-Từ kẻ mù chữ cho tới bác học, triết gia -Từ Đạo Chích tới Khổng Tử -Từ con voi tới con chuột -Từ Thị Nở cho tới Marilyn Monroe -Từ Chí Phèo, Ả Q cho tới Zarathustra, Renaud Sarti…

*

Kinh nghiệm viết văn cho biết, nhà văn sống trong môi trường càng nghèo đói, càng bị áp bức thì vốn sống càng nhiều, văn chương càng phong phú, đề tài càng đa dạng.

Bạn không tin? Hãy thử đọc Chuyện Kể Năm 2.000 của Bùi Ngọc Tấn, Ba Người Khác của Tô Hoài, Tháng Ba Gãy Súng của Cao Xuân Huy, Mùa Hè Đỏ Lửa của Phan Nhật Nam… bạn sẽ thấy những tác phẩm ấy là BIỂN CẢ của những bi kịch man rợ, khốc liệt mà trong đó con người bị chà đạp và dìm chết không thương tiếc. Đó là chưa kể Sơn Nam cũng là một đại dương mênh mông về con người Nam Bộ, về phong tục tập quán, sông núi, rừng rậm và những mảnh đời… Đó là chưa kể những tác phẩm ngoài luồng đang trôi dạt trong giang hồ của nhiều cao thủ.

Những đại dương ấy, những biển cả ấy, nghịch lý thay, lại nằm gọn trong cái AO LÀNG Việt Nam nhỏ bé.

Tất nhiên là tôi cũng đã đọc nhiều tác phẩm Nobel văn chương trên thế giới. Có truyện hay, có chuyện cũng tầm tầm, thậm chí là dở, nhưng được khoác cho chiếc áo triết lý hay ý nghĩa nhân bản nào đó.

Có lẽ tôi sẽ trở lại với tác phẩm Rừng Na-uy của Murakami trong một bài khác để nói rằng đó là một sản phẩm rất “trung bình” hoàn toàn không xứng đáng với một nước Nhật đang vươn lên mạnh mẽ từ nỗi đau của hai trái bom nguyên tử.

Còn Solzhenitsyn, (Nobel 1970)? Đọc “Bất ngờ tại nhà ga Krechtovka” thì lòng vòng, buồn ngủ gần chết.

Hermann Hesse (Nobel 1946) với “Câu Chuyện Dòng Sông” một đề tài có thể là “mới” đối với dân châu Âu nhưng lại rất cũ với môi trường Phật giáo. Để viết cuốn đó, nhà văn không cần vốn sống và trí tưởng tượng. Đó chỉ là những cóp nhặt hành trình của thái tử Siddhartha được tiểu thuyết hóa. Ờ Việt Nam có người viết tiểu thuyết về đề tài Phật Giáo sâu sắc, đa dạng và sáng tạo hơn rất nhiều.

Còn “văn chương” của Naguib Mahfouz của Ai Cập (Nobel 1988) thì “buồn ngủ” gấp mười lần Solzhenitsyn.

Nhưng Mạc Ngôn (Nobel 2012), với “Báu Vật Của Đời” lại là một hiện tượng. Tôi cho rằng ông là nhà văn Nobel xứng đáng nhất. Tôi sẽ viết thêm về ông, vì tác phẩm của ông cũng đã ra đời trong cái “ao làng” nhưng nó mang tầm vóc của biển cả. Cái ao làng đó là huyện Cao Mật thuộc tỉnh Sơn Đông, nhưng ngòi bút của Mạc Ngôn đã khắc họa vô cùng sinh động và kinh hoàng cả một bối cảnh Trung Quốc từ triều đại Tưởng Giới Thạch sang Mao Trạch Đông với vô số những biến động, những bi kịch tàn bạo, khốc liệt và bi thảm nhất.

***

Cho nên nếu nghĩ rằng sống ở châu Âu hay Mỹ sẽ viết văn hay hơn sống ở châu Phi hay Đông Nam Á thì đó là chuyện rất buồn cười.

Bạn có thể vặn lại tôi: Thế sao nước Mỹ, và châu Âu có nhiều nhà văn đoạt giải Nobel quá vậy? Xin thưa, đó là một chuyện dài, một cái tệ nạn có tên là Closed Club of the Whites (Câu lạc bộ khép kín của người da trắng). Một cụm từ mà trước đây có người dùng để tặng cho giải Nobel văn chương.

Xin thêm một câu để khép lại bài này: “Tôi đang ở trong ao làng hay trong biển cả không quan trọng, quan trọng là tôi có biết bơi không. Nếu tôi bơi giỏi thì biển cả cũng chỉ là cái ao làng, ngược lại nếu tôi không biết bơi thì ao làng cũng có thể dìm chết tôi, nói chi tới biển cả. Không biết bơi, tôi sẽ không dám và không thể ra khơi. Và thế là tôi chẳng hiểu gì về biển. Làm sao có thể viết điều gì hay ho về nó? Tôi chỉ có thể ngồi trên bờ mà nghịch cát như đứa trẻ con”.

Ngày 10/10/2022

ĐÀO HIẾU

CHÚ THÍCH ẢNH:

– Mạc Ngôn

-Hermann Hesse

-Phan Nhật Nam.

-Sơn Nam.

GÓC SUY GẪM… Bỏ Qua Oán Hờn

 

Van Pham

GÓC SUY GẪM…

Bỏ Qua Oán Hờn

Một thương gia trong một thị trấn nhỏ nọ, có hai người con trai sinh đôi. Hai chàng trai cùng làm việc tại cửa hàng của cha mình. Khi ông qua đời, họ thay ông trông coi cửa hàng đó. Mọi việc đều êm đẹp cho đến một ngày kia, khi một tờ giấy bạc biến mất.

Người em đã để tờ giấy bạc đó trên máy đếm tiền rồi đi ra ngoài với khách hàng. Khi anh quay lại, tờ giấy bạc đã biến mất.

Người em hỏi người anh:

– Anh có thấy tờ giấy bạc đâu không ?

Người anh đáp:

– Không.

Tuy thế người em vẫn không ngưng tìm kiếm và gạn hỏi:

– Anh không thể không đụng đến nó. Tờ giấy bạc không thể tự đứng dậy và chạy đi được! Chắc chắn anh phải thấy nó !

Sự buộc tội phảng phất trong giọng nói của người em. Căng thẳng bắt đầu tăng lên giữa hai anh em họ. Sự oán giận cũng theo đấy mà len vào. Không lâu sau một hố ngăn cách gay gắt và sâu thẳm đã chia cách hai chàng trai trẻ. Họ không thèm nói với nhau một lời nào.

Cuối cùng họ quyết định không làm chung với nhau và một bức tường ngăn cách đã được xây ngay giữa cửa hàng. Sự thù địch và oán giận cũng lớn lên tiếp theo 20 năm sau đó, lan đến cả gia đình của họ.

Một ngày nọ, một người đàn ông đỗ xe ngay trước cửa hàng. Ông ta bước vào và hỏi người bán hàng:

– Anh đã ở đây bao lâu rồi .

Người bán hàng đáp rằng anh đã ở đây cả cuộc đời. Vị khách nói tiếp:

– Tôi phải nói với anh điều này. 20 năm trước tôi đã đi xe lửa và tạt vào thị trấn này. Lúc đó tôi đã không ăn gì suốt ba ngày. Khi tôi đến đây bằng cửa sau và thấy tờ giấy bạc trên máy tính tiền, tôi đã bỏ vào túi mình rồi ra ngoài. Những năm qua tôi không thể quên điều đó. Tôi biết nó không phải là món tiền lớn nhưng tôi phải quay lại đây và xin anh thứ lỗi .

Người đàn ông lạ mặt ngạc nhiên khi thấy những giọt nước mắt lăn trên má của người bán hàng trạc tuổi trung niên này. Anh ta đề nghị:

– Ông có vui lòng sang cửa bên và kể lại chuyện này cho người đàn ông trong cửa hàng đó được không ?

Rồi người đàn ông lạ càng ngạc nhiên hơn khi thấy hai người đàn ông trung niên, trông giống nhau, ôm nhau khóc ngay trước cửa hàng. Sau 20 năm, rạn nứt giữa họ đã được hàn gắn. Bức tường thù hận chia cắt hai anh em họ đã được đập bỏ.

Trong cuộc sống có những điều nhỏ nhặt vẫn thường xảy ra và vô tình chia cắt con người với nhau, những lời nói vội vàng không suy nghĩ, những lời chỉ trích, buộc tội hay những lời trách cứ oán hờn.

Và khi đã bị chia cắt, họ có thể không bao giờ quay lại với nhau được nữa. Phương cách tốt nhất để tránh những tình huống gây tổn thương này là bỏ qua những lỗi lầm nhỏ của nhau.

Điều này không dễ dàng nhưng cũng chẳng phải là quá khó khăn. Bỏ đi những bực dọc rồi bạn có thể sẽ ngạc nhiên khi thấy mình chẳng mất bao nhiêu năng lượng để xây dựng sự gắn bó với những người bạn yêu mến.

Chúng ta có phải chịu xét xử sau khi chết không?-Cha Vương

Chúng ta có phải chịu xét xử sau khi chết không?

Một ngày an lành đến với bạn và gia đình, đừng để những ảnh hưởng trần tục làm bạn rời xa Chúa hôm nay nhé.

Cha Vương

https://youtu.be/wESgj5oaSJw

Thứ 4: 12/10/2022

GIÁO LÝ: Chúng ta có phải chịu xét xử sau khi chết không? Có. Sau khi chết, mỗi người tức khắc sẽ chịu cuộc xét xử. Cuộc xét xử này được gọi là cuộc xét xử riêng. Còn đến ngày sau hết, sẽ xảy ra một cuộc xét xử được gọi là cuộc xét xử chung, khi Chúa Kitô trở lại trong vinh quang của Người. (YouCat, số 157)

SUY NIỆM: Khi chết, mỗi người đi tới giờ của sự thật. Lúc đó không gì có thể bị gạt đi và che giấu nữa. Ta phải đối mặt với cuộc xét xử của Chúa, Đấng công nhận sự công chính của ta, vì Thiên Chúa gần gũi ta, ta chỉ có thể hoặc là công chính như Chúa muốn khi Người tạo dựng ta. Hoặc có thể ta cần phải qua một tiến trình thanh luyện chăng, hoặc có thể ta được đón ngay vào vòng tay của Chúa chăng? Nhưng cũng có thể ta đầy tội ác, hận thù, từ chối tất cả; ta sẽ từ chối vĩnh viễn bộ mặt của Tình yêu, bộ mặt của Thiên Chúa. (YouCat, số 157 t.t.)

❦  Xét xử. Việc xét xử riêng hay cá nhân sẽ xảy ra lúc mỗi người chết. Việc xét xử chung tất cả cũng gọi là xét xử sau cùng sẽ xảy ra khi tận thế lúc Chúa trở lại. 

❦ Khi đời đã về chiều, ta sẽ chịu xét xử về tình yêu của ta. (Thánh Gioan Thánh giá, 1542-1591, nhà thần bí Tây ban nha, tiến sĩ Hội Thánh và thi sĩ)

LẮNG NGHE: Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người, và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái… Thế là họ ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sống muôn đời. (Mt. 25:31,32,33,46)

 CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa là vị thẩm phán công minh, và là vị Vua tình yêu. Chính vì tình yêu mà Chúa đã xuống thế làm người để cứu độ nhân loại. Sống trong thân phận con người, Chúa luôn thông cảm chạnh lòng thương xót và giải thoát con người khỏi những đau khổ mà họ đang gánh chịu, xin cho con biết kết hiệp với Chúa trong mọi hoàn cảnh để khỏi bị án phạt đời đời.

THỰC HÀNH: “Đến cuối đời, chúng ta sẽ bị phán xét về tình yêu.” Bạn đã và đang yêu mến Chúa và tha nhân đến mức nào?

From: Đào & Trắng

Tin giả tràn ngập trong các cộng đồng thiểu số vào mùa bầu cử Mỹ

Thiện Lê/Người Việt

LOS ANGELES, California (NV) – Mùa bầu cử chỉ còn chưa đến một tháng, cử tri cần rất nhiều thông tin quan trọng về các ứng cử viên hay về thủ tục bỏ phiếu. Tuy nhiên, những tin tức sai lệch, hay tin giả, gây không biết bao nhiêu nguy hiểm trong nhiều cộng đồng.

Quá nhiều nguồn tin làm cử tri không biết tin tưởng vào nguồn nào. (Hình minh họa: Angela Weiss/AFP via Getty Images)

Để giúp cử tri tránh bị tin giả tấn công, hôm Thứ Sáu, 7 Tháng Mười, tổ chức Dịch Vụ Truyền Thông Thiểu Số (EMS) mời các diễn giả thảo luận về tin giả, những nguồn tin và tình trạng hiện nay không có nhiều nỗ lực để ngăn chặn các nguồn tin giả đó.

Diễn giả đầu tiên là bà Mekela Panditharatne, cố vấn của tổ chức bất vụ lợi Brennan Center thuộc Đại Học Luật New York.

Bà cho biết tin giả là một vấn đề đã có từ lâu trong lịch sử bầu cử của Hoa Kỳ, muốn lường gạt nhiều cộng đồng để họ không bỏ phiếu bằng cách đưa ra những thông tin sai lệch về các thủ tục bỏ phiếu. Những cộng đồng bị tin giả tấn công nhiều nhất là người thiểu số, không biết tiếng Anh.

“Tin giả xuất hiện nhiều nhất khi có quá nhiều nhu cầu cho tin tức chính xác, mà không đủ nguồn tin để cung ứng,” bà Panditharatne nói.

Ngoài những nguồn tin giả mang đến cho các cộng đồng thiểu số nhiều thông tin sai lệch, bà còn cho biết có đến 21 tiểu bang thông qua các đạo luật giới hạn quyền bầu cử.

Những đạo luật đó thường nhắm vào và gây ảnh hưởng cho cộng đồng người Latino hay người gốc Phi Châu, với nhiều cử tri mới ghi danh là người Latino.

Nhiều cử tri mới chắc chắn sẽ gặp nhiều thông tin sai lệch trên các nguồn tin tiếng Tây Ban Nha, và họ thường nghe tin qua đài phát thanh nhiều nhất.

Các hệ thống mạng xã hội giúp tin giả lan truyền nhanh hơn. (Hình minh họa: Oliver Douliery/AFP via Getty Images)

Diễn giả thứ hai là bà Tamoa Cazadilla, tổng thư ký tổ chức Factchequeado chuyên kiểm tra thông tin của các nguồn tin tiếng Tây Ban Nha. Bà Cazadilla cho biết tổ chức này được thành lập vào Tháng Tư năm nay, với sự hỗ trợ của Google và có đến 30 đối tác truyền thông để kiểm tra thông tin của các nguồn tin tiếng Tây Ban Nha.

Bà Calzadilla còn là cựu giám đốc phụ trách kiểm tra thông tin của Univision, hệ thống truyền hình tiếng Tây Ban Nha lớn nhất Hoa Kỳ.

Vì vậy, bà nhấn mạnh sự quan trọng của tin tức chính xác trong cộng đồng Latino, vì từng có nhiều tố cáo gian lận bầu cử năm 2020 rất thường thấy, cùng nhiều tin tức sai lệch nhắm vào cộng đồng này.

Bà Mekela Panditharatne (trái) và bà Tamoa Cazadilla. (Hình: Chụp từ màn hình Zoom)

Bà đưa ra một câu chuyện từng được nhiều đài phát thanh ở Florida nói đến là Sở Thuế Hoa Kỳ mua đạn để tấn công nhà dân và lấy tiền của họ.

Hai tin tức sai lệch khác lan truyền rộng rãi trong các cộng đồng nói tiếng Tây Ban Nha là các vấn đề ở biên giới và giả thuyết Hoa Kỳ đang cho người nhập cư bất hợp pháp dễ dàng vào Mỹ để thay thế người da trắng.

Bà cho hay cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ đều điều khiển tin tức để có lợi, nhưng đa số tin tức về tội phạm và di trú đa số đến từ các nguồn tin bảo thủ. Di trú là vấn đề được cộng đồng Latino quan tâm đến nhiều nhất, và các nguồn tin đó muốn lợi dụng điều này.

Không chỉ có cộng đồng Latino, nhiều cộng đồng thiểu số khác cũng phải đối mặt tin giả, trong đó có cộng đồng người Hoa.

Bà Rong Xiaoqing (trái) và bà Vanessa Cardenas. (Hình: Chụp từ màn hình Zoom)

Diễn giả thứ ba là bà Rong Xiaoqing, ký giả của nhật báo Sing Tao Daily ở New York, thảo luận về tin giả trong cộng đồng người Hoa qua các hệ thống mạng xã hội.

Bà cho hay cộng đồng người Hoa sử dụng WeChat nhiều nhất, với nhiều thông tin sai lệch về hệ thống dân chủ của Hoa Kỳ vì chính phủ Trung Quốc muốn cho người dân thấy Hoa Kỳ đang sập đổ.

Một điều đáng ngạc nhiên là chính phủ Trung Quốc không chặn đứng hay điều khiển nhiều thông tin về đại dịch COVID-19 vì muốn người dân trong nước và hải ngoại chích ngừa.

Một vấn đề khác cũng được cộng đồng người Hoa quan tâm là di trú, với nhiều nguồn tin cho biết chính quyền Biden cấp thẻ xanh tạm thời cho di dân bất hợp pháp. Điều đó làm cộng đồng người Hoa bất mãn vì họ xin thẻ xanh theo đúng thủ tục.

Cả hai phía cấp tiến và bảo thủ đều điều khiển tin tức cho có lợi. (Hình minh họa: Eva Marie Uzcategui/Getty Images)

Diễn giả cuối cùng là bà Vanessa Cardenas, phó giám đốc tổ chức kêu gọi cải cách di trú America’s Voice, nói về tình trạng tin giả đã có từ lâu trong nguồn tin tức ở Hoa Kỳ.

Bà cho hay tin giả đã có từ lâu, nhưng cách cử tri tìm tin tức thay đổi rất nhiều, làm tin giả lan truyền rất nhanh, và trở thành một “quái vật” không thể điều khiển được.

Với nhiều trang mạng xã hội như Facebook và Twitter, tin tức sai lệch có thể lan truyền đến hàng triệu người chỉ trong chốc lát.

Bà Cardenas còn nói về đài Fox News đưa ra nhiều thuyết âm mưu, nhiều thông tin sai lệch về di trú, tôi phạm và kinh tế để khán giả xem liên tục trong mùa bầu cử.

Theo bà, đài truyền hình bảo thủ đó tạo ra nhiều hình ảnh tiêu cực về người nhập cư và liên tục nhắc đến những tố cáo gian lận bầu cử. [qd]

—–
Liên lạc tác giả: le.thien@nguoi-viet.com