Thiếu gì nhớ đấy: Pháp trị và ngoại lệ – Seppuku và danh dự

Nguyễn Ngọc Chu

9-12-2022

SEPPUKU VÀ DANH DỰ

Ngày 9/8/1945, Mỹ ném quả bom nguyên tử thứ hai xuống Nagasaki, Liên Xô đơn phương tuyên bố huỷ bỏ hiệp ước không tấn công lẫn nhau với Nhật, đưa hơn 1,5 triệu quân vượt biên giới tiến đánh một triệu quân Quan Đông Nhật Bản. 3 giờ sáng ngày 10/8/1945, Chính phủ Nhật gửi cho Mỹ, Anh, Liên Xô và Trung Quốc bản đề nghị đầu hàng vô điều kiện. Sau đó, Bộ trưởng Bộ quốc phòng Nhật Bản tự sát theo nghi lễ Seppuku.

Seppuku (tiếng Nhật: 切腹, Hán Việt: thiết phúc) có nghĩa là “mổ bụng”, là nghi thức tuẫn tiết mà người Nhật dùng để bảo vệ danh dự. Theo nghi thức này, một samurai sẽ tự mổ bụng mình nếu bị thất trận, thất hứa, hay không muốn bị nhục…

Không còn mấy ai tuân theo Seppuku vào thời đại kỹ thuật số này. Không ai yêu cầu giữ lời hứa bằng nghi thức Seppuku. Nhưng không có Seppuku không có nghĩa là không cần giữ danh dự, không cần giữ lời hứa.

Bởi coi nhẹ danh dự, nên mấy thập niên gần đây, đạo đức xã hội đang đi xuống, tinh thần kẻ sĩ quý tộc bị mối mọt sùng hà, lời hứa chẳng những không được giữ, mà sự dối trá lại gia tăng. Dối trá và thất hứa như những đợt lũ vô hồi ập tràn qua xã hội.

Dối trá không chỉ ở tầng lớp thiếu ăn, phải trộm gà cắp bánh mì, mà ở kẻ giàu vạn lạng vàng, cướp đoạt đất đai và tiền bạc qua dự án và trái phiếu. Dối trá không chỉ ở tầng lớp tiểu thương ngồi chợ, bất chấp người mua phải chịu hậu quả về hàng kém chất lượng, độc hại, mà còn lan sang cả thầy thuốc, nghệ sĩ rao bán thuốc giả, mặc thây con bệnh nan y đợi chờ sự diệu kỳ từ đống thuốc vô dụng. Dối trá không chỉ kẻ thiếu học đầu đường, mà còn ở tầng lớp giáo sư tiến sỹ vì tiền mà nhận bừa sáng chế phát minh về mình.

PHÁP TRỊ VÀ NGOẠI LỆ

Nhưng tất cả sự dối trá ở các giai tầng nêu trên, đều có nguồn gốc sâu xa không từ ở hạ tầng cơ sở mà từ thượng tầng kiến trúc. Thượng bất chính, hạ tất loạn. Khi thầy dối thì trò tất dối. Khi quan gian thì dân phải đối phó bằng sự không thật. Thượng tầng kiến trúc dối trá thì toàn xã hội dối trá.

Giá mà những người có địa vị cao biết giữ danh dự, biết giữ lời hứa, thì đã không nhiều quan chức phải ngồi tù, đã không có nhiều lời hứa suông với những con số viển vông. Không thể chống sự dối trá bằng đức trị, mà phải ngăn cản sự dối trá bằng pháp trị. Chỉ có thể dùng pháp luật mới chống lại được sự dối trá. Trước hết là pháp trị thượng tầng kiến trúc.

Đã pháp trị thì không ai có thể ở ngoài vòng pháp luật, hay đứng trên pháp luật. Nhưng ở nước ta lại có trường hợp đặc biệt. Pháp trị và ngoại lệ loại trừ nhau. Đã có trường hợp đặc biệt thì không có pháp trị.

Muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền thì không có trường hợp đặc biệt.

N.N.C.

From: Bauxite VietNam

Ukraine nói rằng “Các đồng minh phương Tây không nên sợ việc nước Nga tan rã” (Phần 2)

 Báo Tiếng Dân

The Wall Street Journal

Tác giả: Yaroslav Trofimov và Matthew Luxmoore

Cù Tuấn, dịch

9-12-2022

Tiếp theo Phần 1

Ông Kuleba từ chối thảo luận về các sự việc cụ thể, nhưng nói rằng thế giới không thể mong đợi Ukraine sẽ nương tay trong khi nước này đang tiến hành một cuộc chiến tranh.

“Chúng tôi trước hết tập trung vào việc tấn công các mục tiêu ở các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng của Ukraine, vào việc giải phóng lãnh thổ của chúng tôi. Nhưng tất nhiên, quan điểm cho rằng Nga có thể làm bất cứ điều gì họ có thể làm về mặt kỹ thuật ở Ukraine trong khi Ukraine không có quyền tấn công tương tự là sai về mặt khái niệm, đạo đức và quân sự”, ông Kuleba nói.

“Ukraine không nên trở thành nạn nhân mãi mãi. Chúng tôi là một quốc gia đang chiến đấu trên mọi mặt trận vì sự sống còn, vì sự toàn vẹn lãnh thổ của mình”, ông nói thêm. “Điều quan trọng nhất là không ai coi hành động của Ukraine – miễn là nó tuân thủ luật chiến tranh quốc tế – từ quan điểm rằng Nga có thể làm mọi thứ họ muốn, trong khi Ukraine phải tôn trọng những lằn ranh đỏ nhất định trong việc tự vệ.”

Ukraine đã cam kết với Mỹ sẽ không sử dụng vũ khí do Mỹ cung cấp để tấn công lãnh thổ Nga. Ông Kuleba nói rằng thỏa thuận đó không áp dụng cho Crimea, nơi được quốc tế công nhận là lãnh thổ của Ukraine. Mỹ cũng đã hạn chế cung cấp cho Ukraine Hệ thống Tên lửa Chiến thuật Lục quân, hay ATACMS, có tầm bắn khoảng 200 dặm, và đã sửa đổi các hệ thống pháo Himars mà họ đã cung cấp cho Ukraine để họ không thể bắn tên lửa ATACMS vào Nga, dù cho Ukraine có thể mua đạn ATACMS từ một nguồn khác.

Đối với ông Putin, việc sáp nhập Crimea – điều mà nhiều người Nga cho là đã được chuyển giao cho Ukraine thời Xô viết một cách không công bằng vào năm 1954 – là một phần quan trọng trong di sản của ông, và việc mất lãnh thổ này sẽ làm suy yếu nghiêm trọng khả năng lãnh đạo của ông. Ông Kuleba nói rằng điều đó không nên khiến Kiev bận tâm.

Ông nói: “Crimea không khác gì phần còn lại của Ukraine. Ukraine sẽ chiếm tất cả các lãnh thổ của mình bao gồm cả Crimea, một số bằng biện pháp quân sự và một số khác bằng biện pháp ngoại giao. Còn quá sớm để đưa ra bất kỳ dự báo nào về sự cân bằng giữa hai bên.”

Ông Kuleba nói thêm rằng bất chấp những tuyên bố lặp đi lặp lại của Matxcơva rằng họ đã tìm cách có được đàm phán hòa bình, hành vi của Nga cho thấy họ thực sự không quan tâm đến hòa bình chút nào. Kể từ khi rút khỏi Kherson, Nga đã chuyển quân tới khu vực phía đông Donbas, nơi họ đang đẩy mạnh việc tấn công thành phố Bakhmut. “Họ đang chuẩn bị cho những trận chiến mới, và cho các hoạt động tấn công mới, không phải cho các cuộc đàm phán. Vì vậy, không có gì cho thấy Nga đã sẵn sàng đối thoại”, ông Kuleba nói.

Ông Blinken, trong bài phát biểu của mình tại Hội nghị thượng đỉnh Hội đồng Giám đốc điều hành của Tạp chí Phố Wall hôm thứ Hai, bày tỏ sự hoài nghi tương tự về triển vọng đạt được kết quả đàm phán. Ông nói: “Trừ khi và cho đến khi Nga chứng tỏ rằng họ quan tâm đến thảo luận ngoại giao có ý nghĩa, còn không chuyện này sẽ không đi đến đâu cả.”

Ngoại trưởng Ukraine cho biết thêm, các thỏa thuận ngừng bắn Minsk năm 2014 và 2015, mà đã khiến các khu vực của Donetsk và Luhansk nằm dưới sự kiểm soát trên thực tế của Nga, cho thấy sự vô ích của các cuộc đàm phán với Matxcơva.

Ông Kuleba nói: “Vấn đề toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine là thứ không thể đàm phán. Chúng tôi đã phải chịu đựng quá nhiều trong 9 tháng qua – chúng tôi đã học được bài học về cái gọi là tiến trình Minsk đã hành hạ chúng tôi trong 8 năm – và giờ chúng tôi không nhượng bộ về lãnh thổ và chịu mất những người dân Ukraine sống ở đó nữa.”

Ông Kuleba cho biết hành vi của Nga cho thấy Matxcơva vẫn đang tìm kiếm một chiến thắng quân sự, bao gồm cả việc chiếm được toàn bộ Ukraine. “Putin và những người thân cận nhất của ông ấy đang hy vọng một phép màu sẽ xảy ra và lật ngược thế cờ”, ông nói, nhắc lại lời kêu gọi của Ukraine đối với các đồng minh cung cấp thêm vũ khí cho nước này, bao gồm cả xe tăng, máy bay chiến đấu phản lực và tên lửa ATACMS do phương Tây sản xuất.

Ông Kuleba cho biết, trong quá khứ, Mỹ và các đồng minh đã dỡ bỏ những điều cấm kỵ từ lâu đời và cung cấp cho Ukraine những loại vũ khí mà họ đã từ chối cung cấp trong quá khứ, chẳng hạn như pháo 155 mm hay Himars, khi cục diện cuộc chiến chuyển hướng sang khu vực Kiev.

Ông Kuleba nói rằng tại một cuộc họp của các bộ trưởng ngoại giao của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương ở Bucharest vào cuối tháng trước, ông đã kêu gọi những người đồng cấp của mình “thay đổi hoàn toàn quan điểm: Thay vì chờ đợi một cuộc khủng hoảng để họ đưa ra quyết định, họ phải đưa ra quyết định ngay từ bây giờ để tránh khủng hoảng xảy ra.”

Khi được hỏi về phản ứng của NATO đối với đề xuất này, long Kuleba cho biết các chính phủ NATO cần thời gian để suy nghĩ về nó.

HỊCH TƯỚNG SĨ thế kỷ 21

Thiên Đức

HỊCH TƯỚNG SĨ thế kỷ 21.

Sách văn học không cần dầy, in bài này là đủ!

***

Ta cùng các ngươi

Sinh ra phải thời bao cấp

Lớn lên gặp buổi thị trường.

Trông thấy:

Mỹ phóng Con thoi lên vũ trụ chín tầng

Nga lặn tàu ngầm xuống đại dương nghìn thước

Nhật đưa rô bốt na nô vào thám hiểm lòng người

Scôtlen dùng công nghệ gen chế ra cừu nhân tạo.

Thật khác nào:

Đem cổ tích mà biến thành hiện thực

Dùng đầu óc con người mà thay đổi thiên nhiên!

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa

Chỉ giận chưa thể đuổi kịp nước Nga, vượt qua nước Mỹ, mà vẫn chỉ hơn Lào, hao hao Băng la đét.

Dẫu cho trăm thân này phơi trên sao Hỏa, nghìn xác này bọc trong tàu ngầm nguyên tử, ta cũng cam lòng.

Các ngươi ở cùng ta,

Học vị đã cao, học hàm không thấp

Ăn thì chọn cá nước, chim trời

Mặc thì lựa May Mười, Việt Tiến

Chức nhỏ thì ta… quy hoạch

Lương ít thì có lộc nhiều.

Đi bộ A tít, Cam ry

Hàng không Elai, Xi pic.

Vào hội thảo thì cùng nhau tranh luận

Lúc tiệc tùng thì cùng nhau “dô dô”.

Lại còn đãi sỹ chiêu hiền

Giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, cử nhân, ai cũng có phần, không nhiều thì ít.

Lại còn chính sách khuyến khoa

Doanh nghiệp, giáo viên, trí thức, nông dân nhận cúp, nhận bằng còn thêm tiền thưởng.

Thật là so với:

Thời Tam quốc bên Tàu, Lưu Bị đãi Khổng Minh,

Buổi hiện đại bên Nga, Pu tin dùng Mét vê đép,

Ta nào có kém gì?

Thế mà, nay các ngươi:

Nhìn khoa học chậm tiến mà không biết lo

Thấy công nghệ thụt lùi mà không biết thẹn

Giáo sư ư? Biết “Thần đèn” chuyển nhà mà chẳng chạnh lòng

Tiến sỹ a? Nghe “Hai lúa” chế tạo máy bay sao không tự ái?

Có người lấy nhậu nhẹt làm vui

Có kẻ lấy bạc cờ làm thích

Ham mát xa giống nghiện “u ét đê”

Ghét ngoại ngữ như chán phòng thí nghiệm

Chỉ lo kiếm dự án để mánh mánh mung mung

Không thích chọn đề tài mà nghiên nghiên cứu cứu

Ra nước ngoài toàn muốn đi chơi

Vào hội thảo chỉ lo ngủ gật

Bệnh háo danh lây tựa vi rút com pu tơ

Dịch thành tích nhiễm như cúm gà H5N1

Mua bằng giả để tiến sỹ, tiến sy

Đạo văn người mà giáo sư, giáo sãi.

Thử hỏi học hành như rứa, bằng cấp như rứa, thì mần răng hiểu được chuyện na niếc na nô?

Lại còn nhân cách đến vậy, đạo đức đến vậy, thì có ham gì bút bút nghiên nghiên.

Cho nên:

“Tạp chí hay” mà bán chẳng ai mua

“Công nghệ tốt” mà không người áp dụng.

Đề tài đóng gáy cứng, chữ vàng, mọt kêu trong tủ sắt

Mô hình xây tường gạch, biển xanh, chó ị giữa đồng hoang.

Hội nhập chi, mà ngoại ngữ khi điếc, khi câm?

Toàn cầu chi, mà kiến thức khi mờ, khi tỏ?

Hiện đại hóa ư? vẫn bám đít con trâu

Công nghiệp hóa ư? toàn bán thô khoáng sản

Biển bạc ở đâu, để Vi na shin nổi nổi chìm chìm?

Rừng vàng ở đâu, khi bô xít đen đen đỏ đỏ?

Thật là:

“Dân gần trăm triệu ai người lớn

Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”!

Nay nước ta:

Đổi mới đã lâu, hội nhập đã sâu

Nội lực cũng nhiều, đầu tư cũng mạnh

Khu vực có hòa bình, nước ta càng ổn định

Nhân tâm giàu nhiệt huyết, pháp luật rộng hành lang

Thách thức không ít, nhưng cơ hội là vàng!

Chỉ e:

Bệnh háo danh không mua nổi trí khôn

Dịch thành tích chẳng làm nên thương hiệu.

Giỏi mánh mung không lừa nổi đối tác nước ngoài

Tài cờ bạc không địch nổi hắc cơ quốc tế.

Cặp chân dài mà nghiêng ngả giáo sư

Phong bì mỏng cũng đảo điên tiến sỹ.

Hỡi ôi,

Biển bạc rừng vàng, mà nghìn năm vẫn mang ách đói nghèo

Tài giỏi thông minh, mà vạn kiếp chưa thoát vòng lạc hậu.

Nay ta bảo thật các ngươi:

Nên lấy việc đặt mồi lửa dưới ngòi pháo làm nguy;

Nên lấy điều để nghìn cân treo sợi tóc làm sợ

Phải xem đói nghèo là nỗi nhục quốc gia

Phải lấy lạc hậu là nỗi đau thời đại

Mà lo học tập chuyên môn

Mà lo luyện rèn nhân cách

Xê mi na khách đến như mưa

Vào thư viện người đông như hội

Già mẫu mực phanh thây Gan ruột, Tôn Thất Tùng chắc cả trung đoàn

Trẻ xông pha mổ thịt Bổ đề, Ngô Bảo Châu cũng dăm đại đội

Được thế thì:

Kiếm giải “Phiu” cũng chẳng khó gì

Đoạt Nô ben không là chuyện lạ

Không chỉ các ngươi mở mặt mở mày, lên Lơ xút, xuống Rôn roi

Mà dân ta cũng hưng sản, hưng tâm, vào Vi la, ra Rì sọt.

Chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu

Mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng,

Chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí,

Mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm.

Chẳng những tên tuổi ta không hề mai một,

Mà thương hiệu các ngươi cũng sử sách lưu truyền.

Trí tuệ Việt Nam thành danh, thành tiếng

Đất nước Việt Nam hóa hổ, hóa rồng

Lúc bấy giờ các ngươi không muốn nhận huân chương, phỏng có được không?

Nay ta chọn lọc tinh hoa bốn biển năm châu hợp thành một tuyển, gọi là Chiến lược

Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này theo lời ta dạy bảo thì suốt đời là nhà khoa học chính danh.

Nhược bằng không tu thân tích trí, trái lời ta khuyên răn thì muôn kiếp là phường phàm phu tục tử.

Vì:

Lạc hậu, đói nghèo với ta là kẻ thù không đội trời chung

Mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn trừ hung, không lo rửa nhục

Chẳng khác nào quay mũi giáo mà đầu hàng, giơ tay không mà thua giặc.

Nếu vậy rồi đây khi nước Việt hóa hổ, hóa rồng, ta cùng các ngươi há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất này nữa?

Cho nên mới thảo hịch này

Xa gần nghiên cứu

Trên dưới đều theo!

Sưu tầm

Về thói khôn vặt của chúng ta – Trà Đóa

Báo Quyền Được Biết

   Báo Tiếng Dân

Có lẽ khôn vặt, láu cá,… là “bản sắc thực sự” của dân tộc ta, hay ít ra, đó cũng là tập quán trong tư duy của phần đông dân ta. Nói như vậy không phải để miệt thị, mà cốt để xới xuống tận đáy tâm thức lưu cữu của chúng ta, để rồi hy vọng có thể đổi thay.

Tâm thức của một dân tộc chứa đựng trong các khía cạnh văn hóa của dân tộc ấy, đặc biệt là trong ca dao, tục ngữ, ngạn ngữ. Trong bài viết này tôi thử phân tích một vài câu ngạn ngữ nổi tiếng trong kho tàng dân gian để thấy được cái tâm thức đó.
Câu ngạn ngữ đầu tiên mà tôi muốn nói đến chính là câu rất nổi tiếng “im lặng là vàng”.

Câu này mới nghe có vẻ “minh triết”, nhưng suy ngẫm một chút sẽ nhận ra cái chất cơ hội của nó. Tôi không biết câu này xuất phát từ đâu và “cái ngữ cảnh mà từ đó nó xuất hiện” là như thế nào, nhưng khi nó được trích dẫn độc lập như một câu độc nhất như trên thì nó hoàn toàn là một thứ ứng xử cơ hội.

Tôi từng có ít nhất hai “kinh nghiệm đau khổ” vì cái câu này. Lần thứ nhất là khi còn học phổ thông. Trong một lần họp lớp, chúng tôi, một nhóm nhỏ, quyết tâm phản đối cái gì đó. Để rồi khi giáo viên chủ nhiệm hỏi có ai phản đối không, tôi giơ tay, và chờ đợi đám bạn kia giơ tay. Nhưng hỡi ôi, chúng im thin thít, và chỉ còn mình tôi chịu trận. Bọn kia đã chọn im lặng.

Lần thứ hai cũng tương tự nhưng trong một cuộc họp ở công ty. Và cuối cùng cũng chỉ mình tôi phản đối. Và… chịu trận.

“Im lặng là vàng” nghĩa là bạn cho rằng bạn cứ im lặng và hưởng lợi từ sự lên tiếng của người khác. Một sự hưởng lợi rất an toàn và… đểu giả, nếu không đểu cũng hèn hạ.

“Khởi thủy là lời” và chung cuộc cũng là lời. Thế giới sẽ thế nào nếu không còn ai nói? Người ta chỉ không nói khi họ không có/còn gì để nói, hoặc không có trách nhiệm phải nói.

Cho nên, im lặng chẳng bao giờ là vàng. Đó là sự thối thác, sự hèn nhát, hay ít tệ hơn, sự vô trách nhiệm.

Câu ngạn ngữ thứ hai là một câu mà chất cơ hội của nó vô cùng trơ trẽn. Thật lạ khi nó lại phổ biến trong dân gian đến vậy, như một châm ngôn.

“Ăn giỗ đi trước, lội nước theo sau”.

Chắc chẳng cần phải phân tích phân tiếc làm gì cái câu này. Nó quá tệ, nó phản ảnh một tâm thức láu cá đến tồi bại.

Khi đọc câu này, bạn sẽ hiểu tại sao dân tộc ta lại hiếm khi có cái gì mới. Bởi cái mới là thứ đầy rủi ro (giống như lội nước vậy) nó đòi hỏi phải dám làm và dám thất bại đến cay đắng thì mới hy vọng thành công. Nếu không dám rủi ro làm gì có phát kiến.

Suốt cả ngàn năm chúng ta chẳng làm được gì đã đành, nhưng cũng chẳng học được gì cho ra trò. Nho giáo cũng chỉ là thứ bề ngoài lớt phớt để thi cử làm quan. Cả dân tộc chẳng có ai có tư tưởng riêng, chẳng ai dám nói cái gì lệch khỏi cái đã ghi trong sách. Đến kiến trúc cũng không có lấy một cái gì mới, xây rập khuôn như Tàu, nhưng nhỏ và xấu hơn. Hội họa thì trống trơn. Từ vua đến dân chủ yếu thích tử vi, bói toán.

Tuyệt vời làm sao cho một nền văn hiến mấy ngàn năm.

Giảm dần và thay đổi cái tật láu cá của một dân tộc nên là chiến lược quốc gia, bắt đầu từ giáo dục. Một nền giáo dục khai phóng sẽ là phương thuốc hiệu nghiệm. Rồi sau đó hẵn nói đến khai dân trí. Bởi cốt lõi của dân trí không ở tri thức/kiến thức, mà chính là phương thức tư duy. Khai dân trí chẳng là gì ngoài việc thay đổi thói quen tư duy thuần cảm tính, để tập dần thói quen tư duy có chiều sâu. Mọi thứ chỉ thay đổi khi thói quen tư duy thay đổi.

TÂM SỰ CỦA MỘT VIỆT KIỀU 

(Huỳnh Vũ)

Tôi không bênh vực những tiếp viên hàng không bằng lý do ngô nghê là họ phải đút lót để đựơc có việc làm trong Air VN nên họ phải buôn lậu chuyển hàng ăn cắp để gỡ vốn.

Tôi thực sự thương hại họ, vì “Quít trồng Giang Nam thì ngọt, trồng Giang Bắc lại chua”

Ngay khi chào đời, họ đã bị sinh ra trong một bệnh viện “ăn cắp”, khi lớn lên, họ lại đi học trong những trường học “ăn cắp”, giáo sư “ăn cắp” công trình trí tuệ của người khác, học sinh, sinh viên “ăn cắp” bảng điểm, “ăn cắp” bằng cấp bằng phong bì.

Khi bắt đầu bước vào xã hội, bước đầu tiên, họ đã bị lãnh đạo “ăn cắp” tiền đút lót để được có việc làm, nên họ phải tiến vào quĩ đạo ăn cắp, họ ăn cắp dự án, ăn cắp đất của nông dân, họ ăn cắp tiền phạt giao thông, họ ăn cắp sinh mạng của người dân bằng tra tấn, nhục hình.

Vì vậy , khi tôi nhìn thấy những cô ca sĩ, hoa hậu, người mẫu, vênh váo khoe khoang quần áo, túi xách, giầy dép hàng hiệu, xe khủng , nhà khủng, tôi thương hại họ quá, họ cũng bị “ăn cắp” trinh tiết, bị “ăn cắp” phẩm giá, anh ạ.Tôi có con gái, và con gái tôi may mắn, được giáo dục tại trường học phân biệt điều phải, điều trái, được tôn trọng nhân phẩm.

Khi về VN, nhiều lần, xe người bạn chở tôi đi, bị công an thổi còi, rồi công an vòi vĩnh, xòe tay cầm tiền hối lô. Tôi rơi nước mắt, họ còn nhỏ tuổi hơn con trai tôi. Con trai tôi có công ăn việc làm, nuôi con cái bằng chính sức lao động của mình, dạy con, làm gương cho con bằng chính nhân cách của mình. Những người công an trẻ đó cũng bị “ăn cắp” lương tâm?

Khi những người công an, đánh người, giết người, họ được bố thí trả công bằng vài bữa ăn nhậu, chút đồng tiền rơi rớt.

Khi những phóng viên, bẻ cong ngòi bút, viết xuống những điều trái với lương tâm, sự thật để được bố thí trả công bằng những nấc thang chức vị, những đồng lương tanh tưởi, nhà văn Vũ Hạnh đã gọi đó là “Bút Máu”.

Khi những quan tòa, đổi trắng thay đen, cầm cán cân công lý có chứa thủy ngân như trong truyện cổ Việt Nam, họ cũng bị “ăn cắp” nhân tính mất rồi.

Trong xã hội, toàn là “ăn cắp”, vậy thì kẻ cắp là ai? Ai cũng biết, nhưng giả vờ không biết, vì văn hóa “giả vờ” là đồng lõa cho xã hội ăn cắp.

Cán bộ lãnh lương 200 đô la một tháng, xây nhà chục triệu nhưng “giả vờ” đó là công sức lao động tay chân và trí tuệ hay quà tặng của cô em “kết nghĩa”. Tôi muốn xin cô em đó cho tôi được làm “con kết nghĩa ” của cô ta quá. Thế mà có những lãnh đạo, ủy viên Trung Ương Đảng, Đại biểu Quốc Hội, Ban Nội Chính, UỶ Ban Diều Tra, Quan Tòa “Thiết Diện Vô Tư”, Phóng viên Lề phải, Thành Đoàn, Quân Đội Nhân Dân, Chiến sĩ Công An, Trí thức Yêu Nước, Việt Kiều Yêu Nước sẽ sẵn sàng giả vờ tin vào quà tặng của “cô em kết nghĩa” đó!

Còn có thể trong tương lai, sẽ có nhiều quan chức sẽ nhận được nhà khủng, quà tặng của ông anh kết nghĩa, bà chị kết nghĩa, ông bố kết nghĩa, ông cố nội kết nghĩa, khi không tìm ra con người nữa, sẽ tiếp theo con chó kết nghĩa, con trâu kết nghĩa…

Công chúa mặc áo đầm hồng ưỡn ẹo trên đôi giày cao gót hồng đi thị sát công trường xây dựng, theo sau là một đoàn chuyên viên già tuổi tác, thâm niên công vụ, nhưng ai nấy vui vẻ, hớn hở, giả vờ công chúa là một chủ tịch tài năng thiên phú, không cần đi học, không cần kinh nghiệm.

Thượng bất chính, hạ tắc loạn.

“Thanh tra, thanh mẹ, thanh gì?

Hễ có phong bì thì nó “Thank you”

Tôi buồn lắm, có đôi khi quá tuyệt vọng, tôi tự hỏi, mình có nên quên mình là người VN như con đà điểu vùi đầu trong cát, như quả chuối ngoài vàng, trong trắng, vì tôi yêu nước Mỹ quá rồi.

Nước Mỹ chưa, và có lẽ không bao giờ hoàn hảo, nhưng ở đây, ít nhất không ai có thể “ăn cắp” lương tâm, phẩm giá và nhân tính của tôi. Tôi được sống như một “CON NGƯỜI” không phải chỉ “giả vờ ” “làm người” đang sống.

From: TRUONG LE

SỢ…

Amy Truc Tran

SỢ…

Dù tự hào là phe thắng cuộc nhưng đã nửa thế kỷ trôi qua rồi mà họ vẫn sợ, sợ tất cả những gì thuộc về Việt Nam Cộng Hoà, từ màu cờ cho đến bài hát, và giờ thì ai cũng biết là họ còn sợ luôn cả ngôn từ.

Họ thà để cho dư luận cãi nhau om sòm giữa Đại Học và Trường Đại Học chứ khăng khăng không dám dùng lại từ “Viện Đại Học”, một từ mà Giáo Dục VNCH đã sử dụng rất chuẩn. Dưới Viện Đại Học thì có các Trường Đại Học, đơn giản dễ hiểu mà đầy đủ ý nghĩa.

Cái gì hay, cái gì đẹp thì phải học, phải theo, cho dù là của “thế lực thù địch”, chẳng phải là con cháu các ông cũng đã được Tây, đi Mỹ học hết rồi sao. Đã bao nhiêu năm hô hào chiến thắng vẻ vang “đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào” thì còn gì mà phải sợ. Bản chất nó vốn là Viện Đại Học thì cứ gọi là Viện Đại Học. Mình đã “trong veo” thì sợ cái gì chứ?? Cứ cố chấp, bảo thủ khiến cho nền giáo dục ngày càng nát bét.

Amy Truc Tran

 

 

 

Tại sao người cộng sản sợ Việt Nam Cộng Hòa như sợ ma?

Tien Cuong Nguyen  Sự Thật Lề Đường

Nguyễn Tiến Cường

Ma – theo sự hiểu biết thông thường của đa số là người chết không hoặc chưa được siêu thoát, thường hiện hình quấy phá người ở dương thế. Thành ngữ Đi Đêm Có Ngày Gặp Ma ngụ ý cảnh cáo những kẻ gian manh, trộm cướp, lừa bịp, phá làng phá xóm…nên cải tà quy chánh, kẻo rồi có lúc bị cảnh sát bắt hay bị nạn nhân gài bẫy, tóm được. Người được gặp, thấy ma rất hiếm và thường chỉ vào ban đêm hoặc lúc trời chạng vạng tối hay khi bình minh chưa tới. Tuy nhiên, nghe nói tới ma thì chí ít cũng phải 70-80% người bình thường nổi gai ốc, lạnh sống lưng.

Chế độ Việt Nam Cộng Hòa ở miền Nam sụp đổ đã hơn 47 năm, nôm na là chết lâu rồi. Với hầu hết những người trẻ tuổi sinh từ đầu thập niên 70 thế kỷ trước cho đến nay, những chữ Việt Nam Cộng Hòa là những gì thật mơ hồ. Trừ một thiểu số rất ít được cha, anh kể lại cho nghe hoặc do tìm hiểu về cuộc chiến tranh Quốc-Cộng qua sách vở báo chí, truyền thông hải ngoại, số còn lại không hề có một khái niệm gì về mấy chữ Việt Nam Cộng Hòa hoặc nếu có thì hiểu biết cũng rất giới hạn qua sách báo tuyên truyền gian trá, sai sự thật của chế độ cộng sản.

Đối với người cộng sản Việt Nam, có thể nói Việt Nam Cộng Hòa là Ma với biểu tượng duy nhất còn tồn tại là lá cờ vàng ba sọc đỏ, được sử dụng vào những lễ kỷ niệm của cộng đồng người Việt hải ngoại như Giỗ Tổ Hùng Vương, Tết, ngày quân lực VNCH 19.06…

Cụm từ Việt Nam Cộng Hòa vẫn là nỗi ám ảnh không nguôi trong lòng bất cứ một đảng viên cộng sản nào, từ cán bộ hạ tầng đến lãnh đạo trung ương. Ra hải ngoại công tác, làm việc, gặp gỡ ngoại giao…hễ nghe nói đến, nhìn thấy lá cờ vàng là người cộng sản hoảng hốt, lo sợ như…gặp ma, thiếu điều muốn tè trong quần. Ngay cả khi có những cuộc gặp gỡ ngoại giao chính thức ở cấp lãnh đạo quốc gia với các nướcÂu, Mỹ…, được hàng rào cảnh sát, lực lượng an ninh bảo vệ vòng ngoài vòng trong, người cộng sản luôn luôn tìm cách né tránh, hoặc lén lút, đi ngõ sau để tránh nhìn thấy…ma.

Còn trong nước thì sao? Nỗi sợ hãi VNCH đã khiến chế độ cộng sản kết án 3 phụ nữ, bà Ngô Thị Minh Ước 57 tuổi, Nguyễn Thị Trí 58 tuổi, Nguyễn Thị Bé Hai 57 tuổi – dân oan bị cướp mất đất đai, phất cờ vàng biểu tình đòi đất trước tòa lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn – tổng cộng 10 năm tù (1), cũng như kết án thanh niên Nguyễn Viết Dũng 7 năm tù về tội tàng trữ 4 lá cờ vàng và tội tuyện truyền chống nhà nước Cộng Hòa XHCNVN. (1)

Nỗi sợ hãi đó còn lan truyền đến “hậu duệ” người cộng sản. Du sinh Dương Đức Thịnh, tuổi đời chưa đến 20, người Hải Phòng, qua Úc du học, trên đường đi bộ với một nhóm bạn, thấy cờ vàng treo trên đường phố thì nổi điên, giật xuống, dẫm đạp. Kết quả là Dương Đức Thịnh…”tự ý” về nước và “cam kết” với chính quyền không bao giờ quay trở lại vì không muốn thấy ma trên đường phố nước Úc thêm lần nào nữa. (2)

Đâu là nguyên nhân khiến chế độ cộng sản sợ hãi ma Việt Nam Cộng Hòa quá đáng như vậy?

Tất cả chỉ bắt nguồn tự sự bất chính, mặc cảm tự ti cũng như tâm trạng của kẻ gian manh đi ăn cướp khi xua quân tấn công xâm chiếm miền Nam. Thua sút về trí tuệ, yếu kém về văn hóa, kiến thức…khiến người CSVN tìm đủ mọi cách, mọi biện pháp, thủ tiêu mọi liên hệ, dấu tích…nhắc nhở đến một chế độ nhân bản, một nền văn minh, một chế độ giáo dục tự do, khai phóng hơn họ một trời một vực.

Tuy nhiên càng tìm cách xóa bỏ, người cộng sản Việt Nam càng thất bại. Dù trăm phương, ngàn kế, từ bôi nhọ, phỉ báng, vu khống, nhục mạ, tuyên truyền láo xược, gian manh… Chế độ cộng sản với chiến dịch quét sạch “tàn dư văn hóa” Mỹ, Ngụy năm 1975 cũng không thể xóa được những hình ảnh tốt đẹp, những dấu ấn nhân văn của một chế độ tự do, dân chủ trong lòng những người từng sinh ra, lớn lên, trưởng thành ở miền Nam trước tháng tư năm 1975.

Sách báo, tranh, ảnh, nghệ thuật, văn hóa miền Nam đã bị thủ tiêu, đốt phá, huỷ diệt tưởng chừng sẽ vĩnh viễn không thể khôi phục nay đã hồi sinh ngày càng mạnh mẽ. Những bản nhạc vàng bolero, tango, chachacha, nhạc tình ca của miền Nam mà chế độ cộng sản từng lên án là thứ nhạc ủy mị, yếu đuối đã và đang từng bước thay thế loại âm nhạc mang nặng hận thù, kích động chiến tranh, giết chóc…Điều này khiến lãnh đạo cộng sản ngày càng sợ hãi.

Do không có chính danh nên người cộng sản VN rất sợ hãi khi phải công khai đối thoại. Có mấy ai còn nhớ, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam Việt Nam đã được cộng sản Hà Nội khai sinh năm 1960 chỉ với mục đích thực hiện bước đầu xâm lược miền Nam trước khi chính thức xua quân vượt vĩ tuyến 17 năm 1972, vi phạm hiệp định Genevè 1954. Sau đó khi chữ ký của hiệp định Paris 1973 chưa ráo mực, cộng sản Bắc Việt đã lập tức mở các cuộc tấn công vào các đơn vị VNCH. Chiếm được hoàn toàn miền Nam, cộng sản Bắc Việt lặng lẽ bóp mũi, giết chết đứa con sinh năm 1960, đám tang MTGPMNVN thật lặng lẽ, không kèn không trống, cũng chẳng còn ai nhắc nhở sau đó.

Hơn 47 năm đã trôi qua, dù năm nào đến ngày 30.04, chế độ CSVN vẫn tưng bừng, rầm rộ tổ chức ăn mừng chiến thắng nhưng chưa một lần nào họ đủ can đảm, thật sự bình thản, an nhiên, tự tại nhìn lá cờ vàng ba sọc đỏ như chứng tích của một thời chiến tranh, một cuộc nội chiến giữa những người Việt với nhau. Họ ra rả kêu gọi người Việt hải ngoại hòa hợp hòa giải nhưng chưa bao giờ thực tâm muốn thực hiện lời kêu gọi. Đó chính là nguyên nhân gây ra sự sợ hãi trầm kha của người cộng sản VN khi nhìn thấy, nghe nói về lá cờ vàng ba sọc đỏ – Bóng ma chế độ VNCH.

TNLT Nguyễn Năng Tĩnh được trao Giải thưởng Lê Đình Lượng 2022

Đài Á Châu Tự Do

Nhà hoạt động xã hội dân sự, tù nhân lương tâm Nguyễn Năng Tĩnh được tổ chức Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng (tức đảng Việt Tân) trao giải thưởng Lê Đình Lượng năm nay với chủ đề “Bảo vệ Chủ quyền trước Nguy cơ Trung Quốc.”

Ông Nguyễn Năng Tĩnh là một giảng viên âm nhạc tại một trường cao đẳng ở tỉnh Nghệ An, bị bắt giam hồi tháng 5/2019 và hiện đang phải thụ án tù 11 năm với tội danh “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.”

Tiến sỹ Đông Xuyến, phát ngôn nhân của Việt Tân cho biết, ông Tĩnh vượt qua nhiều ứng cử viên nặng ký khác trong một cuộc bình chọn bởi một hội đồng có nhiều thành viên uy tín trong và ngoài nước, trong đó có Dân biểu Hạ viện Canada- bà Judy Sgro hay Giám đốc tổ chức Whistleblower Aid- bà Libby Liu, Chủ tịch Phong trào Dân chủ hoá Châu Á- Giáo sư Kojima Takayuki…

#RFAVietnamese #ledinhluong #nguyennangtinh #viettan

Giảng viên âm nhạc Nguyễn Năng Tĩnh tại phiên toà ở Nghệ An hôm 15/11/2019

RFA.ORG

TNLT Nguyễn Năng Tĩnh được trao Giải thưởng Lê Đình Lượng 2022

Cựu phụ tá tiết lộ Putin sẽ chạy sang Nam Mỹ nếu thất trận ở Ukraine

Báo Nguoi-Viet

MOSCOW, Nga (NV) – Ông Vladimir Putin, tổng thống Nga, lên kế hoạch chạy sang Nam Mỹ tị nạn nếu thất trận ở Ukraine, cựu phụ tá của ông ta cho hay, theo Business Insider hôm Thứ Năm, 8 Tháng Mười Hai.

Chính phủ Nga bắt đầu soạn kế hoạch dự phòng, đặt tên “Con Thuyền Noah,” hồi mùa Xuân năm nay, ông Abbas Gallyamov, nhà cố vấn chính trị và từng là người soạn diễn văn cho ông Putin, viết trên Telegram hôm Thứ Ba.

Ông Vladimir Putin, tổng thống Nga. (Hình minh họa: Karen Minasyan/AFP via Getty Images)

Ông Gallyanov dẫn lời một số người trong cuộc cho thông tin vừa nêu, nhưng không nêu danh tánh những người đó. Ông không làm việc cho ông Putin từ năm 2010 đến nay và bản thân cũng đang sống lưu vong ở Israel. Ông gọi kế hoạch di tản của ông Putin là kế hoạch cực kỳ khẩn cấp.

Nhìn chung, giới phân tích cho rằng ông Putin sẽ không bị truất phế, bất chấp những thất bại nặng nề hiện tại trong cuộc xâm lăng Ukraine.

Hồi Tháng Mười, nhiều cựu giới chức chính phủ và ngoại giao Tây phương cho Reuters hay ông Putin vẫn đang nắm quyền chắc chắn. Trước đó, hồi Tháng Năm, giới chức Mỹ cho CNN biết không có triển vọng tức thì nào ông Putin bị truất phế.

Mục đích kế hoạch nêu trên là “tìm vùng đất mới có thể tới sinh sống nếu quê hương trở nên hoàn toàn không thoải mái,” theo ông Gallyamov.

“Đám tùy tùng của nhà lãnh đạo này không loại trừ ông ta sẽ thất trận, mất quyền lực và sẽ phải di tản khẩn cấp tới nơi khác,” ông Gallyamov thêm.

Ông còn cho hay, ban đầu, ông Putin cân nhắc kế hoạch chạy sang Trung Quốc, nhưng rồi bỏ ý tưởng đó vì lý do cơ hội chính quyền Trung Quốc “hợp tác” với ông ta hầu như rất thấp.

“Trung Quốc quá cảnh giác và quá xem thường người khác – nhất là kẻ thất bại. Bây giờ đã rõ ràng rằng, với họ, chỉ hy vọng thôi là không đủ,” ông Gallyamov viết.

Argentina và Venezuela hiện là hai quốc gia hàng đầu để ông Putin chạy sang tị nạn, ông Gallyamov nhận xét, cho biết thêm rằng nhà tài phiệt Igor Sechin của Nga quen thân với ông Nicolas Maduro, tổng thống Venezuela.

Ông Sechin, cánh tay phải của ông Putin, được giao phụ trách kế hoạch di tản đó, theo ông Gallyamov.

Ông Gallyamov tiết lộ thông tin này giữa lúc tin tức cho hay quân Nga tiếp tục bại trận và mất lãnh thổ chiếm được ở Ukraine.

Đọc diễn văn trên truyền hình hôm Thứ Tư, ông Putin thừa nhận cuộc chiến ở Ukraine có thể sẽ rất dài, đồng thời cảnh báo nguy cơ chiến tranh nguyên tử ngày càng tăng. (Th.Long) 

Hệ thống tự vỡ nguy hiểm hơn ‘đá tự vỡ’

Báo Tiếng Dân

Blog VOA

Trân Văn

9-12-2022

Vỉa hè lát đá tự nhiên ‘có độ bền 70 năm’ ở Hà Nội vỡ nát sau khi sử dụng một thời gian ngắn là vì ‘mưa xuống đá giãn nở nên tự vỡ’…

Tuần này, phát biểu của một số viên chức hữu trách từ trung ương (như phát biểu của ông Vũ Đức Đam – Phó Thủ tướng: Chuyên gia các nước phát triển ước ‘quay lại, phát triển theo định hướng Việt Nam’ [1]) đến địa phương,… tiếp tục hun nóng mạng xã hội Việt ngữ, khiến thiên hạ sôi sùng sục nhưng góp nhiều nhiệt nhất có lẽ là ý kiến của ông Võ Nguyên Phong – Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội (Vỉa hè lát đá tự nhiên ‘có độ bền 70 năm’ ở Hà Nội vỡ nát sau khi sử dụng một thời gian ngắn là vì ‘mưa xuống đá giãn nở nên tự vỡ’ [2])…

Không thể đếm xuể đã có bao nhiêu người bình luận về những phát biểu kiểu đó. Có một điểm đáng chú ý là những phát biểu theo logic hết sức khác thường ấy không làm công chúng ngạc nhiên nữa. Tuy sôi sùng sục nhưng các bình luận về những phát biểu khác thường ấy chỉ thể hiện hai điểm chung – mỉa mai đầy vẻ khinh miệt và ngán ngẩm, kiểu như: Nghe giải thích xong bỗng nhớ tới ‘đá cá, lăn dưa’. ‘Đá tự vỡ vì giãn nở sau mưa’ đi với ‘đá cá, lăn dưa’ rất hợp quy hoạch (3).

Một số trong số những bình luận thường là rất ngắn dẫu không dài lắm nhưng đủ để khái quát vấn đề . Ví dụ như bình luận của ông Kim Van Chinh: Đá tự nhiên không phải đá nào cũng làm được vật liệu xây dựng, dù chỉ là đá lát vỉa hè. Đại để đá xây dựng có hai loại chính. Đá marble có cấu trúc không định hình, cho vân đẹp, độ nhám tốt, nhưng kém chịu lực, dễ bị phong hóa ố màu, hoặc ngấm nước tự vỡ… Đá granite có kết cấu chắc hơn nhưng lại hay có thớ dọc ngang theo tấm, bề mặt cứng nhưng lại trơn trượt nếu bề mặt bào mòn hay mài bóng. Do vậy, dùng đá tự nhiên làm vật liệu lát đường, vỉa hè, sân nhà, bia mộ cần nghiên cứu rất cẩn thận và đặt hàng, sản xuất, nghiệm thu rất nghiêm chỉnh chứ không phải chuyện đùa giỡn hoặc ngu ngốc vô học cho rằng cứ đá là bền, cứ đá là chắc, cứ đá là sang… Các nước có nền văn hóa dùng đá lâu đời và nền khoa học – sản xuất đá có kinh nghiệm họ thường lấy đá granite ốp, xây tường, làm cột chịu lực,… dùng đá marble làm đá trang trí lát sàn trong nhà, ốp tường… rất đẹp với sức bền hàng thế kỷ. Riêng đá làm đường họ có thể dùng marble hay granite nhưng họ hay dùng đá chẻ thành cục vuông và để thô. Mới lát trông lổn nhổn và nhám nhưng đi lại hàng chục năm, hàng trăm năm… dần dần viên đá mòn nhẵn nhưng vẫn không trơn (do đá chẻ miếng nhỏ lát có mạch, có khi chỉ ghép lại với nhau, không có mạch vữa vẫn bám cứng…).

Dự án đá hóa vỉa hè Hà Nội là dự án lớn kinh khủng nhưng những người làm dự án là một lũ vô học và cẩu thả. Chúng cứ nghĩ đá là bền, là đẹp như các nước họ đã làm… Hỡi ôi, giờ thì nát bét hết cả vỉa hè Hà Nội rồi. Đá 70 năm thì hai năm đã vỡ toác. Chỗ cần nhám (vỉa hè, gờ đường cho xe máy lên xuống) thì chúng lát đá trơn, ngã cứ oành oạch… Chỗ cần đá chẻ thì chúng lát đá phiến. Chỗ cần granite thì chúng lát marble. Chỗ cần marble thì chúng lát granite. Chỗ không được gắn vữa cứng thì chúng trét xi măng đóng cứng… Hết giám đốc này đến giám đốc khác, hết chủ tịch này đến chủ tịch khác nhưng quyết tâm đá hóa vỉa hè không hề thay đổi… Lần này, Giám đốc Sở Xây dựng có khá hơn là công bố nguyên nhân của đá vỉa hè vỡ là do “đá gặp mưa tự giãn nở rồi vỡ” giống hệt ông nào ngày xưa trả lời đê vỡ là do mưa quá to, có gì đâu, vỡ đê là vẫn theo kế hoạch. Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo xưa là kỹ sư vật liệu xây dựng đấy. Còn Võ Nguyên Phong, tân Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội, sinh năm 1969, quê quán tại Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị thì là cán bộ ngành xây dựng với chuyên ngành quản lý đô thị. Ông Phong từng là Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội, Phó Bí thư quận Đống Đa, Chủ tịch quận Đống Đa (5).

***

Khác với đa số, thêm chuyện ‘Đá tự vỡ vì giãn nở sau mưa’ , ông Nguyễn Trường Sơn không giễu cợt để mỉa mai mà nêu thắc mắc, dân chúng còn bị sỉ nhục đến bao giờ: Tôi nghĩ không có gì là quá đáng khi người dân đòi hỏi công chức làm tròn trách nhiệm tối thiểu của họ. Trong đó bao gồm hoàn thành các trọng trách mà công việc yêu cầu, có thái độ làm việc chuyên nghiệp, ứng xử với dân một cách văn minh và ân cần, nói năng theo cách mà ai cũng có thể hiểu. Bởi bản thân mỗi chúng ta khi đi làm cũng đều được yêu cầu phải làm được những điều căn bản này. Không có doanh nghiệp nào muốn giữ lại một nhân viên mà ngay cả những điều đơn giản như vậy cũng không làm được. Do vậy chúng ta có quyền yêu cầu chí ít công chức cũng phải làm được như chúng ta, chứ chưa nói là phải làm tốt hơn. Bởi sau cùng, chúng ta muốn tự hỏi bản thân rằng số tiền mà chúng ta bị trừ hàng tháng, hay phải trả thêm mỗi lần mua hàng (gọi chung là thuế), rốt cuộc có đáng hay không nếu người thụ hưởng nó lại không làm tròn trách nhiệm?Ấy thế mà. Hết lần này đến lần khác, chúng ta bị sỉ nhục bởi những người vẫn hàng tháng ngửa tay lãnh lương từ tiền thuế mà chúng ta phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt mới kiếm ra. Nào là ‘đá vỉa hè bị nứt do mưa’, rồi ‘Việt Nam không cần quá giàu’,…

Ông Nguyễn Trường Sơn nhấn mạnh: Hết lần này đến lần khác, dân chúng bị đối xử như trẻ ranh, bị cợt nhả và không coi ra gì bởi những phát ngôn coi thường phát ra từ miệng công chức. Những lời nói này không chỉ tự thân chúng bộc lộ sự yếu kém về năng lực của công chức xứ ta mà đằng sau nó là một vấn đề trầm trọng hơn rất nhiều, đó là những người làm công ăn lương ở nước ta mang trong họ thái độ coi thường đối với công việc và khinh bỉ đối với dân chúng. Vì nếu là một công chức coi trọng chức trách và có trách nhiệm với sự tín nhiệm của người dân, thì sẽ suy nghĩ trước khi mở miệng. Một bộ máy nhà nước đầy rẫy những công chức không coi công việc và người dân ra gì thì sẽ không thể vận hành một cách trơn tru và càng không thể tạo ra sự phát triển cho đất nước. Cũng giống như một doanh nghiệp với những nhân viên rệu rã, làm việc với thái độ dửng dưng, coi khách hàng là cỏ rác thì sẽ không thể thành công. Cái chết ở đây đó là bộ máy nhà nước thì sẽ tạo ra hệ lụy nghiêm trọng hơn một doanh nghiệp rất nhiều. Một doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả thì đối mặt với phá sản, cùng lắm là ảnh hưởng đến những người làm việc cho nó nhưng một bộ máy nhà nước với những công chức vô năng, vô tri thì hệ luỵ vô cùng lớn.

Do vậy, ông Sơn lưu ý: Không chỉ quốc gia bị tụt hậu bởi sự vô dụng của các cơ quan nhà nước, mà người dân còn chịu khổ bởi nạn tham nhũng và thói hách dịch từ công chức, cùng với đó là dịch vụ công đắt đỏ và kém chất lượng. Mỗi một lần công chức đưa ra những phát ngôn chướng tai thì sẽ nhận lại sự cười cợt từ dân chúng. Người dân coi đó là một màn tấu hài, là dịp để cả xã hội được phen cười vào mặt quan chức cho hả hê những khổ ải mà chúng ta phải chịu đựng bấy lâu nhưng theo tôi đó là thái độ sai lầm. Bởi cười cợt sẽ không mang lại bất cứ sự thay đổi nào, rồi đâu lại hoàn đó, những bất công và ngang trái vẫn sẽ đè lên đầu lên cổ chúng ta. Thay vào đó, chúng ta cần phải cảm thấy bị sỉ nhục, phải cảm thấy tự ái và nhục nhã mỗi khi những người nắm giữ trọng trách trong bộ máy nhà nước có những phát ngôn như vậy. Thử hỏi có cay không khi những kẻ ăn trên ngồi trốc từ tiền thuế của chúng ta lại quay sang khinh bỉ chúng ta? Rốt cuộc thì có đáng không khi chúng ta nai lưng ra làm để bị thu thuế nhưng cái chúng ta nhận được lại là sự coi thường (6)?

Chú thích

(1) https://thanhnien.vn/di-toyota-con-hon-di-lexus-ma-song-nhanh-tan-pha-tat-ca-post1529228.html

(2) https://tuoitre.vn/giam-doc-so-xay-dung-ha-noi-da-via-he-nut-mot-phan-do-mua-xuong-da-gian-no-tu-vo-20221208105950279.htm

(3) https://www.facebook.com/khanhtuanng/posts/pfbid02fo7oXsJvMLVUkTj19zE2L1Uf4QZKJ45QTPFxCbm8ng8TymB2TSdtMdDGJZYVqUJKl

(4) https://www.facebook.com/100005487228403/posts/pfbid06BHGyRXnqM7HScnUZkZX5BNCvLAuiUQUMfS2kRjmE6rBdjFZ4hc5372ZVoydoqu8l/?mibextid=Nif5oz

(5) https://www.facebook.com/kimvanchinh/posts/pfbid0umnW8Fy3ETcmky9NcEKFdcdXK4DK6hpZR46gX5PNn2BPnaUz1i4myXwxcTCZyswwl

(6) https://www.facebook.com/truongson.nk/posts/pfbid0D5KRd2mMHqNMsL6o3SSn9tzNnzX82NjuJ8SNeegdQDYCS7aamo9iF8fS43aLQFfMl​

Thánh Juan Diego (St. Juan Diego), 1474-1548

Hôm nay Giáo Hội mừng kính Thánh Juan Diego (St. Juan Diego), 1474-1548. Mừng bổn mạng đến những ai chọn ngài làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Friday 9/12/2022

Lúc đầu người ta gọi ngài là Cuauhtlatohuac (“Con đại bàng cất tiếng”), tên Juan Diego thì mãi mãi đi liền với Ðức Mẹ Guadalupe vì chính ngài là người được Ðức Mẹ hiện ra ở đồi Tepeyac lần đầu tiên vào ngày 9/12/1531. 

Ông là một thổ dân nghèo hèn, 57 tuổi, goá vợ, tên thật là Cuatitlatoatzin và sau khi rửa tội có tên là Juan Diego. Vào buổi sáng thứ Bảy, 9 tháng Mười Hai 1531, ông đến nhà nguyện gần đó để tham dự lễ kính Ðức Mẹ. Khi đang đi trên ngọn đồi gọi là Tepeyac thì ông nghe có tiếng nhạc du dương như tiếng chim hót. Sau đó một đám mây sáng chói xuất hiện, đứng trên đám mây là một trinh nữ người thổ dân mặc y phục như công chúa của bộ lạc Aztec. Trinh nữ nói chuyện với ông bằng tiếng bản xứ và sai ông đến với Ðức Giám Mục của Mexico, là một tu sĩ dòng Phanxicô tên Juan de Zumarraga, và yêu cầu đức giám mục xây cất một nguyện đường nơi Trinh Nữ hiện ra.

Dĩ nhiên vị giám mục không tin, và bảo Juan Diego xin Trinh Nữ cho một dấu chỉ. Trong thời gian này, người chú của ông bị bệnh nặng. Ðiều đó khiến ông cố tránh né không muốn gặp Trinh Nữ. Tuy nhiên, đức trinh nữ tìm ông, đảm bảo với ông là người chú sẽ khỏi bệnh, và bảo ông hái các bông hồng quanh đó để làm bằng chứng với vị giám mục. Lúc ấy là mùa đông thì không thể có bông hoa nào mọc được, nhưng lạ lùng thay, gần chỗ Trinh Nữ hiện ra lại đầy dẫy những hoa hồng tuyệt đẹp. Và ông đã dùng chiếc áo tơi của mình để bọc lấy các bông hồng đem cho vị giám mục.

Trước sự hiện diện của đức giám mục, ông Juan Diego mở áo tơi ra và bông hồng đổ xuống tràn ngập khiến vị giám mục phải quỳ gối trước dấu chỉ lạ lùng ấy. Lạ lùng hơn nữa, trên chiếc áo tơi lại có in hình Ðức Trinh Nữ như ngài đã hiện ra với ông ở đồi Tepeyac. Ðó là ngày 12 tháng 12 năm 1531.

Sau đó, người ta không đề cập gì nhiều đến Juan Diego. Có lúc ông sống gần một ngôi đền được dựng ở Tepeyac, được mọi người kính trọng như một giáo lý viên thánh thiện, vô vị lợi và đầy lòng nhân ái qua lời nói cũng như gương mẫu. Ông Juan Diogo qua đời vì già yếu bệnh tật ngày 30 tháng 5 năm 1548 tại Guadalupe, Mexico.

Juan Diego được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong Chân Phước tại Vatican ngày 09 tháng 4 năm 1990. Trong chuyến công du đến Mễ Tây Cơ ngày 06 tháng 5 năm 1990, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã xác nhận lại một nghi thức có từ lâu đời nhằm vinh danh Juan Diego qua việc phong chân phước cho ông. Ngài được nâng lên bậc hiển thánh ngày 31 tháng 7 năm 2002 trong một buổi lễ được tổ chức long trọng tại Vương cung Thánh đường Ðức Mẹ Guadelupe, Mexico với khoãng 4.3 triệu người tham dự.

Trong bài giảng Lễ tuyên phong Chân Phước, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói: “Cũng như các nhân vật trong phúc âm xưa đại diện chung cho mọi dân tộc, chúng ta cũng có thể nói rằng Juan Diego đại diện cho những người thổ dân đã chấp nhận Tin Mừng của Ðức Giêsu, nhờ sự trợ giúp của Mẹ Maria, là người luôn luôn sát cánh với hành động của Con Mẹ và sự phát triển của Giáo Hội, như khi ngài hiện diện với các Tông Ðồ trong ngày Hiện Xuống” (Nguồn: Người Tín Hữu Online)

From: Đỗ Dzũng

Góp nhặt buồn vui thời điêu linh: Đốt sách

Hồi Ức Một Đời Người: Nguyễn Ngọc Chính

“Nơi nào người ta đốt sách thì họ sẽ kết thúc bằng việc đốt sinh mạng con người”.

Theo Sử ký Tư Mã Thiên, sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Hoa, thừa tướng Lý Tư đã đề nghị dẹp bỏ tự do ngôn luận để thống nhất chính kiến và tư tưởng. Lý Tư chỉ trích giới trí thức dùng ‘sự dối trá’ qua sách vở để tạo phản trong quần chúng.

Chủ trương Đốt sách, Chôn nho (Phần thư, Khanh nho) của Tần Thủy Hoàng được thực hiện từ năm 213 trước Công nguyên. Qua đó, tất cả những kinh điển từ thời Chư tử Bách gia (trừ sách Pháp gia, trường phái của Lý Tư) đều bị đốt sạch. Lý Tư còn đề nghị đốt tất cả thi, thư, sách vở, trừ những quyển được viết vào thời nhà Tần. Sách trong lĩnh vực triết lý và thi ca, trừ những sách của Bác sĩ (cố vấn nhà vua) đều bị đốt. Những nho sinh dùng sử sách để chỉ trích chính quyền đều bị hành hình. Những ai dựa vào chế độ cũ để phê phán chế độ mới sẽ bị xử tội chém ngang lưng.

Lý Tư tấu: “Thần xin rằng sử sách không phải do Tần ghi chép đều bị đem đốt. Ngoại trừ quan chức không phải là tiến sĩ thì trong thiên hạ không ai được phép cất giữ Thi, Thư, sách của Bách gia, tất cả đều phải đem đốt. Nếu dám dùng những lời ngụ ngôn trong Thi, Thư thì chém bêu đầu ở chợ. Lấy xưa mà chê nay thì giết cả họ. Quan lại thấy mà không tố cáo sẽ bị coi là đồng phạm. Nay lệnh trong ba mươi ngày mà không đem đốt, sẽ bị xăm mặt và bắt đi xây dựng trường thành”.

Năm 212 TCN, Tần Thuỷ Hoàng phát hiện ở Hàm Dương có một số nho sinh đã từng bình phẩm về mình liền hạ lệnh bắt để thẩm vấn. Các nho sinh không chịu nổi tra khảo, lại khai ra thêm một loạt người khác. Tần Thuỷ Hoàng hạ lệnh đem tất cả trên 460 nho sinh đó chôn sống ngoài thành Hàm Dương. Đốt sách, chôn Nho là hành vi được người đời sau coi là tàn bạo nhất của Tần Thủy Hoàng. Đó cũng là tội danh hàng ngàn năm sau vẫn còn ghi nhớ. Không riêng gì người Hán mà cả nhân loại lên án.

Trong thâm tâm, Tần Thủy Hoàng cũng như Lý Tư đều biết rất rõ, lệnh đốt sách không thể nào xóa sạch những tư tưởng trong đầu óc dân chúng, những cuốn sách ‘khó đốt’ nhất là nằm trong tinh thần con người. Như vậy, việc đốt sách thực tế chỉ là một thủ đoạn chứ không tạo được tác dụng triệt để trong việc xóa sạch vết tích văn hóa-chính trị như mong muốn.

***

Việt Nam vốn tự hào là quốc gia có hơn 4000 năm văn hiến, nhưng sách vở của người xưa để lại thì rất ít. Nguyên nhân chính là vì quân nhà Minh bên Tàu đã ra lệnh hủy hết sách vở ngay trong những ngày đầu đô hộ nước ta để dễ bề cai trị. Sau này, cuộc Cách mạng Văn hóa tại Trung Hoa từ năm 1953 đến 1966 cũng đã gây nhiều ảnh hưởng đến miền Bắc. Do đó, xét về mặt lịch sử, Việt Nam đã trải qua rất nhiều thời kỳ sách vở bị tiêu hủy cho phù hợp với những thay đổi qua các giai đoạn chính trị.

Trên thực tế, tại miền Bắc, ngay sau khi tiếp quản Hà Nội, việc kiểm duyệt sách báo, bài viết trước khi đem phổ biến ra công chúng đã được thực hiện ngay từ năm 1954. Đối với các loại sách báo đã in ra từ trước 1954 dưới thời Pháp thuộc cũng đã bị đốt. Thế cho nên, việc đốt sách tại miền Nam năm 1975 chỉ là rập khuôn của chính sách cũ năm 1954.

Hồi ký của Một người Hà Nội ghi lại sự kiện đốt sách năm 1954 khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp quản miền Bắc: “Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi tìm thầy xưa, bạn cũ, hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng, Tú tài 2, cùng một số ‘lớp Chín hậu phương’, năm sau sẽ sáp nhập thành ‘hệ mười năm’. Số học sinh ‘lớp Chín’ này vào lớp không phải để học, mà là ‘tổ chức Hiệu đoàn’, nhận ‘chỉ thị của Thành đoàn’ rồi ‘phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!’. Họ truy lùng… đốt sách!

Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải, Hiệu đoàn ‘kiểm tra’, lục lọi, từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quý, mang ‘tập trung’ tại Thư viện phố Tràng Thi, để đốt. Lửa cháy bập bùng mấy ngày, trong niềm ‘phấn khởi’, lời hô khẩu hiệu ‘quyết tâm’, và ‘phát biểu của bí thư Thành đoàn’: Tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn là… ‘cực kỳ phản động!’. Vào lớp học với những ‘phê bình, kiểm thảo… cảnh giác, lập trường”.

***

Tại miền Nam, trong thời điêu linh ngay sau ngày 30/4/1975, việc đốt sách được thể hiện qua chiến dịch Bài trừ Văn hóa Đồi trụy-Phản động. Tự bản thân khẩu hiệu trong chiến dịch đã nêu rõ 2 mục đích: (1) về chính trị, bài trừ các luồng tư tưởng phản động chống đối chế độ và (2) về văn hóa, xóa bỏ hình thức được coi là ‘đồi trụy theo hình thức tư bản’.

Một trong những việc làm cấp thiết của chính quyền mới khi miền Nam sụp đổ là niêm phong, tịch thu sách tại các thư viện. Những tác phẩm của nhà in, nhà xuất bản và nhà sách lớn tại Sài Gòn như Khai Trí, Sống Mới, Độc Lập, Đồng Nai, Nam Cường, Trí Đăng… đều bị niêm phong và cấm lưu hành.

Xuống đường Bài trừ Văn hóa Đồi trụy & Phản động trong thời điêu linh

Đội ngũ những người cầm bút miền Nam phải nói là rất đông và bao gồm nhiều lãnh vực. Về triết học phương Tây có Lê Tôn Nghiêm, Trần Văn Toàn, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Văn Trung, Trần Bích Lan… Triết Đông có Nguyễn Đăng Thục, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Khắc Kham, Nghiêm Toản, Kim Định, Nhất Hạnh…

Phần biên khảo có Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Lê Ngọc Trụ, Lê Văn Đức, Lê Văn Lý, Trương Văn Chình, Đào Văn Tập, Phạm Thế Ngũ, Vương Hồng Sển, Thanh Lãng, Nguyễn Ngu Í, Nguyễn Văn Xuân, Lê Tuyên, Đoàn Thêm, Hoàng Văn Chí, Nguyễn Bạt Tụy, Phan Khoang, Phạm Văn Sơn, Nguyễn Thế Anh, Nguyễn Khắc Ngữ, Nguyễn Văn Sâm…

Về thi ca có Nguyên Sa, Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng, Tô Thùy Yên, Đinh Hùng, Bùi Giáng, Viên Linh, Hoàng Trúc Ly, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Phạm Thiên Thư, Nguyễn Đức Sơn, Du Tử Lê…. Phê bình văn học có Tam Ích, Cao Huy Khanh, Lê Huy Oanh, Đỗ Long Vân, Đặng Tiến, Uyên Thao, Huỳnh Phan Anh…

Đông đảo nhất là văn chương với Võ Phiến, Mai Thảo, Vũ Khắc Khoan, Doãn Quốc Sỹ, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu, Bình Nguyên Lộc, Mặc Thu, Mặc Đỗ, Thanh Nam, Nhật Tiến, Nguyễn Thị Vinh, Phan Du, Đỗ Tấn, Nguyễn Mạnh Côn, Sơn Nam, Võ Hồng, Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Minh Đức Hoài Trinh, Nguyễn Đình Toàn, Chu Tử, Viên Linh, Duyên Anh, Phan Nhật Nam, Nguyên Vũ, Vũ Hạnh, Y Uyên, Cung Tích Biền, Duy Lam, Thế Uyên, Lê Tất Điều, Hoàng Hải Thủy, Văn Quang, Nguyễn Thụy Long, Phan Lạc Tiếp, Thế Nguyên, Thế Phong, Diễm Châu, Thảo Trường, Nguyễn Xuân Hoàng, Nguyễn Mộng Giác, Ngô Thế Vinh…

Toàn bộ sách ấn hành tại miền Nam của những tác giả nêu trên (còn một số người nữa mà người viết bài này không thể nhớ hết) đều bị ‘đánh đồng’ là tàn dư Mỹ-Ngụy, văn hóa nô dịch, phản động và đồi trụy. Các cấp chính quyền từ phường, xã, quận, huyện, thành phố ra chỉ thị tập trung tất cả các loại sách vở, từ tiểu thuyết, biên khảo cho đến sách giáo khoa để hỏa thiêu.

Không có con số thống kê chính thức nhưng người ta ước đoán có đến vài trăm ngàn sách báo và băng, đĩa nhạc bị thiêu đốt trong chiến dịch truy quét văn hóa phẩm đồi trụy-phản động tại Sài Gòn. Sách báo trên kệ sách trong nhà của tư nhân bị các thanh niên đeo băng đỏ lôi ra hỏa thiêu không thương tiếc. Tại các cửa hàng kinh doanh, sách báo bị thu gom để thiêu hủy, coi như đốt cháy cả cơ nghiệp lẫn con người những cá nhân có liên quan. Tất nhiên, những người có sách bị đốt cũng có phản ứng quyết liệt. Trong hồi ký Viết trên gác bút, nhà văn Nguyễn Thụy Long ghi lại một diễn biến trong vụ đốt sách năm 1975:

“Một cửa hiệu chuyên cho thuê truyện tại đường Huỳnh Quang Tiên bên cạnh nhà thờ Ba Chuông tại Phú Nhuận phát nổ khi đoàn thu gom sách mang băng đỏ xâm nhâp tiệm. Ông chủ nhà sách mời tất cả vào nhà. Rồi một trái lựu đạn nổ. Chuyện xảy ra không ai ngờ. Đương nhiên là có đổ máu, có kẻ mạng vong. Những chú nhỏ miệng còn hôi sữa, những cô bé chưa ráo máu đầu là nạn nhân vô tội. Trên cánh tay còn đeo tấm băng đỏ, quả thật súng đạn vô tình! Cả chủ tiệm cũng mạng vong”.

Nguyễn Thụy Long là cháu ruột nhà văn Nguyễn Bá Học nổi tiếng với câu “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông”. Những tiểu thuyết của Nguyễn Thụy Long như Loan mắt nhung, Kinh nước đen cũng gian truân không kém cuộc đời của tác giả, chúng được xếp vào loại ‘văn hóa nô dịch’ nên phải lên giàn hỏa.

Năm 1975, Duyên Anh (Vũ Mộng Long) bị chính quyền mới coi như ‘một trong mười nhà văn nguy hiểm nhất của miền Nam’ với hơn 50 tác phẩm văn chương, trong đó nổi bật có Luật hè phố, Dzũng Đakao, Điệu ru nước mắt, Vẻ buồn tỉnh lỵ, Thằng Vũ, Thằng Côn, Con Thúy. Chế độ mới cấm ông viết lách và bắt giam không xét xử suốt sáu năm qua các nhà tù và trại tập trung.

Vượt biển sang Pháp, Duyên Anh tiếp tục viết và cho xuất bản gần hai mươi tác phẩm, trong đó có Un Russe à Saigon và La colline de Fanta do nhà Belfond xuất bản. Báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình Pháp viết nhiều, nói nhiều về ông. Sử gia Piere Chaunu, giáo sư Đại học Sorbonne, coi Duyên Anh là ‘nhà thơ lớn, vinh quang của quốc gia’.

Đầu năm 1997, Duyên Anh từ trần tại Pháp. Dù muốn dù không, nhiều người ngậm ngùi nghĩ đến tác giả của truyện ngắn đọc đến mủi lòng, có tựa đề là Con sáo của em tôi đăng trên Chỉ Đạo năm 1956. Những truyện ngắn, truyện dài thật trong sáng của tuổi ô mai như Dưới dàn hoa thiên lý hoặc du côn du đãng như Dzũng Dakao… Tất cả lần lượt được hóa kiếp bằng ngọn lửa.

Trong cuốn Những tên biệt kích của chủ nghĩa thực dân mới trên mặt trận văn hóa – tư tưởng xuất bản sau năm 1975 có đoạn viết:

“… Một số người như Duyên Anh, Nhã Ca… chấp nhận chủ nghĩa chống Cộng với một thái độ hoàn toàn tự nguyện. Nhưng nếu xét gốc rễ thái độ thù địch của họ đối với cách mạng, thái độ đó có nguyên nhân ở sự tác động của chủ nghĩa thực dân mới. Họ vừa là kẻ thù của cách mạng, của nhân dân. Nhưng nếu xét đến cùng họ cũng vừa là một nạn nhân của đường lối xâm lược tinh vi, xảo quyệt của Mỹ.

Dù xét dưới tác động nào, hoạt động chống Cộng bằng văn nghệ của đội ngũ những cây bút này cũng là những hoạt động có ý thức. Ý thức đó biểu hiệu trước hết trong thái độ chấp nhận trật tự xã hội thực dân mới, chống lại một cách điên cuồng chủ nghĩa Cộng Sản…

Họ cho văn nghệ là sự chọn lựa một phạm vi hoạt động, một phương tiện để đạt mục đích và tự nguyện dùng ngòi bút của mình phục vụ cho chế độ. Thái độ tự nguyện của họ cũng đã có nhiều người tự nói ra. Vũ Hoàng Chương tự ví mình là ‘viên gạch để xây bức tường thành ngăn sóng đỏ’, Doãn Quốc Sĩ coi mình như một ‘viên kim cương, răng Cộng Sản không sao nhá được’…”

Trong vụ án được mệnh danh là Nhũng tên Biệt kích Cầm bút năm 1986, một số nhà văn ra tòa tại Sài Gòn với tội ‘gián điệp’. Chính quyền mới muốn dựng một vụ án điển hình để đe dọa các nhà văn miền Nam nhưng bất thành vì áp lực từ bên ngoài. Theo kịch bản được dàn dựng, họ muốn xử Doãn Quốc Sĩ mức án tử hình hay chung thân, Hoàng Hải Thủy (từ chung thân đến 20 năm),  Dương Hùng Cường (18 năm), Lý Thụy Ý (15 năm), Nguyễn Thị Nhạn (12 năm), Hiếu Chân Nguyễn Hoạt (10 năm) và  Khuất Duy Trác cùng Trần Ngọc Tự (8 năm).

Tính ra Hoàng Hải Thủy (còn có bút danh Công tử Hà Đông, Con trai bà Cả Đọi…) ngồi tù ngót nghét 10 năm sau đó tìm đường vượt biên sang Mỹ. Tác phẩm của ông gồm đủ thể loại: tiểu thuyết đăng nhiều kỳ trên các báo, truyện phóng tác, bình luận, phiếm luận… Bây giờ tuy đã già nhưng vẫn còn viết rất hăng ở Rừng Phong (Virginia) trên blog http://hoanghaithuy.wordpress.com/.

Những nhà văn như Hoàng Hải Thủy, Duyên Anh, Nguyễn Thụy Long thường sinh sống bằng nghề viết báo bên cạnh việc viết văn. Trong lãnh vực báo chí, Sài Gòn vẫn được coi là trung tâm của báo chí với những nhật báo lớn đã xuất hiện từ lâu như tờ Thần Chung (sau đổi thành Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai), Sài Gòn Mới của bà Bút Trà… Khi người Bắc di cư vào Nam có thêm tờ Tự Do, tiếp đến là Ngôn Luận. Đó là những nhật báo lớn có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng. Hoạt động báo chí ở Saigòn càng ngày càng phát triển, theo Vũ Bằng, đến tháng 12/1963, ở Sài Gòn có tới 44 tờ báo ra hàng ngày.

Nhật báo Tiếng Chuông

Một đặc điểm của văn học miền Nam là việc hình thành các nhóm văn học. Nhóm Quan Điểm do Vũ Khắc Khoan thành lập với Nghiêm Xuân Hồng, Mặc Đỗ. Quan Điểm (cũng là tên nhà xuất bản do Mặc Đỗ điều hành) được người đương thời gọi là nhóm ‘trí thức tiểu tư sản’, bởi tác phẩm của họ, trong những ngày đầu chia cắt đất nước sau hiệp định Genève, thường có những nhân vật mang nỗi hoang mang, trăn trở của người trí thức tiểu tư sản trước ngã ba đường: theo bên này, bên kia, hay đứng ngoài thời cuộc?

Theo Trần Thanh Hiệp, nhóm Sáng Tạo là một nhóm sinh viên hoạt động trong Tổng hội sinh viên Hà Nội, trước 1954, gồm bốn người: Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sĩ, Thanh Tâm Tuyền và Trần Thanh Hiệp. Di cư vào Sài Gòn, họ tiếp tục hoạt động văn nghệ với tuần báo Dân Chủ (do Trần Thanh Hiệp và Thanh Tâm Tuyền phụ trách), rồi tờ Người Việt (tiền thân của tờ Sáng Tạo). Sau đó Mai Thảo gia nhập nhóm với truyện ngắn Đêm giã từ Hà Nội, rồi đến Lữ Hồ, Ngọc Dũng, Duy Thanh, Quách Thoại.

Trên tạp chí Sáng Tạo, ngoài những tên tuổi kể trên người ta còn thấy Nguyên Sa, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên, Dương Nghiễm Mậu, họa sĩ Thái Tuấn. Sáng Tạo số đầu ra tháng 10/1956 và tạm ngưng ở số 27 (tháng 12/58). Sáng Tạo bộ mới chỉ đến số 7 (tháng 3/62).

Tạp chí Sáng Tạo (1958)

Nhóm Bách Khoa ra đời tháng 1/1957 và sống đến ngày Sài Gòn sụp đổ. Bách Khoa là nguyệt san văn học nghệ thuật có tuổi thọ dài nhất với 426 số. Bách Khoa do Huỳnh Văn Lang điều hành trong những năm đầu. Đến 1963, khi Ngô Đình Diệm đổ, Huỳnh Văn Lang bị bắt, bị tù, nên giao hẳn cho Lê Ngộ Châu.

Bách Khoa quy tụ được nhiều tầng lớp nhà văn khác nhau thuộc mọi lứa tuổi. Những cây bút nổi tiếng cộng tác thường xuyên với Bách Khoa là Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, Nguyễn Ngu Ý, Vũ Hạnh, Võ Hồng, Đoàn Thêm, Nguyễn Văn Xuân, Bình Nguyên Lộc…. Theo Võ Phiến, trong thời kỳ cực thịnh, tức là khoảng 1959-1963, mỗi số Bách Khoa bán được 4500 đến 5000 bản.

Tạp chí Bách Khoa (1962)

Đắt khách nhất là tạp chí Văn của Nguyễn Đình Vượng, ra đời ngày 1/1964 và sống đến 1975. Văn do Trần Phong Giao trông nom trong 10 năm đầu, đến 1974 chuyển lại cho Mai Thảo. Văn cũng quy tụ được nhiều nhà văn ở nhiều lứa tuổi thuộc nhiều khuynh hướng, từ Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền đến Thế Uyên, Nguyễn Mạnh Côn, Bình Nguyên Lộc… Văn đặc biệt quan tâm đến việc dịch thuật và giới thiệu văn học nước ngoài. Trần Phong Giao cũng là một dịch giả nổi tiếng, còn có thêm Trần Thiện Đạo, sống ở Paris, dịch và viết về những phong trào văn học đang thịnh hành ở Pháp.

Tạp chí Văn

Tạp chí Văn hoá Ngày nay của Nhất Linh ra đời ngày 17/6/1958, được 11 số thì đình bản. Nguyễn Thị Vinh tiếp tục chủ trương tiếp các tờ Tân Phong, Đông Phương, theo chiều hướng Văn hoá Ngày nay.

Tạp chí Đại học, tờ báo của Viện đại học Huế do Linh mục Cao Văn Luận, viện trưởng, làm chủ nhiệm, ra đời năm 1958 ở Huế, và sống đến năm 1964. Trên Đại học, xuất hiện những bài đầu tiên của Nguyễn Văn Trung, người sau này có ảnh hưởng lớn đến thế hệ sinh viên và trí thức.

Về các nhóm, Viên Linh trong cuốn Chiêu niệm văn chương, cho biết: “Các nhà văn xuất hiện thường xuyên, trên nhật báo, qua các nhà xuất bản, nhất là trên các báo định kỳ, và thành từng nhóm. Lý lịch văn chương và sắc thái địa phương của họ rất tương đồng, tùy theo nhóm tạp chí trên đó họ góp mặt”.

Đa số các nhà văn miền Nam qui tụ trên các tờ tuần báo Đời Mới, Nhân Loại, và nhật báo như Tiếng Chuông, Sàigon Mới (Hồ Hữu Tường, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Kiên Giang, Lưu Nghi, Thẩm Thệ Hà, Trang Thế Hy…). Các nhà văn gốc miền Trung xuất hiện trên tờ Văn Nghệ Mới, Bách Khoa (Võ Thu Tịnh, Nguyễn Văn Xuân, Võ Phiến, Đỗ Tấn, Vũ Hạnh, Bùi Giáng, Võ Hồng, Nguyễn Thị Hoàng); các nhà văn ‘di cư’ có mặt trên các tờ Đất Đứng, Sáng Tạo, và trên các nhật báo như Tự Do, Ngôn Luận (Đỗ Thúc Vịnh, Nguyễn Hoạt, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng, Nguyễn Sỹ Tế, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền) hay Văn Nghệ (Lý Hoàng Phong, Dương Nghiễm Mậu, Viên Linh, Nguyễn Đức Sơn), Hiện Đại (Nguyên Sa, Trần Dạ Từ, Nhã Ca). Tờ Chỉ Đạo, Phụng Sự, Tiền Tuyến quy tụ các nhà văn quân đội hay quân nhân đồng hoá như Nguyễn Mạnh Côn, Mặc Thu, Thanh Nam, Phan Nhật Nam, Thảo Trường…

Nhật báo Tiền Tuyến

Khuynh hướng Phật giáo có các tờ Tư Tưởng, Vạn Hạnh với Tuệ Sỹ, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện, Nguyễn Hữu Hiệu; khuynh hướng Thiên chúa giáo La mã có Hành Trình, Đối Diện với Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Ngọc Lan, Diễm Châu, Thế Nguyên. Mặc dù khi đó đảng Cộng Sản bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, song các nhà văn theo Cộng Sản như Nguyễn Ngọc Lương, Minh Quân, Vũ Hạnh vẫn tạo được diễn đàn riêng trên Tin Văn hay hiện diện trong tổ chức Văn Bút dưới thời linh mục Thanh Lãng làm chủ tịch.

Những tờ như Văn, Phổ Thông, Văn Học, qui tụ các nhà văn không có lập trường chính trị rõ rệt, họ thuần túy làm văn thơ cổ điển như Đông Hồ, Mộng Tuyết, Nguyễn Vỹ, Bùi Khánh Đản, hay văn nghệ thời đại, sinh hoạt thành phố như Nguyễn Đình Toàn, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Túy Hồng. Những tờ về nghệ thuật hay về phụ nữ quy tụ các nhà văn như Tùng Long, An Khê, Lê Xuyên, Nguyễn Thụy Long, Hoàng Hải Thủy, Văn Quang…

Về giới cầm bút sau 1963, Nguyễn Văn Trung viết: “Giới cầm bút sau 1963, họ là những người hồi 1954 trên dưới mười tuổi theo gia đình vào Nam hoặc sinh trưởng và lớn lên ở miền Nam hầu hết có tú tài và tốt nghiệp đại học. Số lượng giới trẻ cầm bút này càng ngày càng đông đảo theo đà thành lập các đại học ở các tỉnh Huế, Đà Lạt, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Long Xuyên, Tây Ninh và các đại học tư ở Sàigòn như Vạn Hạnh, Minh Đức…”

Những nhà văn trẻ đã trưởng thành về tuổi đời và nhận thức sau 1963, trong hoàn cảnh nhiều xáo trộn chính trị-xã hội, chiến tranh mở rộng với sự can thiệp ồ ạt của quân đội nước ngoài. Thời cuộc và chính trị ảnh hưởng trực tiếp đến họ vì bị động viên hay quân dịch… Do đó, họ có lối nhìn thời cuộc đất nước và nghệ thuật văn học khác hẳn với lối nhìn của những đàn anh viết từ trước 1963… Thơ văn giới trẻ viết sau 1963 thường theo một xu hướng chung, phản ánh vũ trụ Kafka, như tên đặt cho một số đặc biệt về thơ văn của Hành Trình, hoặc phản ánh thân phận những nhân vật Việt Nam tương tự những nhân vật trong tiểu thuyết Giờ thứ hai mươi lăm của Gheorghiu.

Nhờ hệ thống báo chí phát triển, quần chúng độc giả bao gồm nhiều thành phần trong khi các nhà văn nổi tiếng như Mai Thảo, Bình Nguyên Lộc, Túy Hồng, Nhã Ca, Duyên Anh, Chu Tử, Thanh Nam… đều sống bằng ngòi bút một cách dư giả. Họ là những người viết chuyên nghiệp, thậm chí nhiều nhà văn có nhà xuất bản riêng.

Nguyễn Hiến Lê trong 30 năm biên khảo và dịch thuật đã viết được 100 quyển sách trước 1975, và 20 cuốn thời gian sau đó. Nguyễn Văn Trung, ngoài lượng sách về triết học, văn học, in trước 1975, trong những công trình sau 1975, có bộ Lục Châu Học, nghiên cứu về văn học miền Lục tỉnh Nam Kỳ. Những nhà văn như Hồ Hữu Tường, Bình Nguyên Lộc, Mai Thảo… cũng đều có những số lượng tiểu thuyết trên dưới 30 cuốn. Về sáng tác, số lượng tỷ lệ nghịch với chất lượng và đó là cái giá mà nhà văn phải trả.

Về đối tượng độc giả, có thể nói, lớp trẻ ‘bụi đời’ thích đọc Duyên Anh, lớp sống vũ bão thích Chu Tử. Phụ nữ thích Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca vì họ phản ảnh đời sống người phụ nữ tân tiến. Lớp trí thức thích cách đặt vấn đề của Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng. Lớp trẻ lãng mạn giao thời thích đọc Mai Thảo. Tuy nhiên, Thanh Tâm Tuyền, Dương Nghiễm Mậu là những tác giả đòi hỏi người đọc một trình độ trí thức cao. Quần chúng bình dân thích Lê Xuyên, Tùng Long… Học sinh trường Tây đọc văn chương ngoại quốc qua tiếng Pháp, tiếng Anh. Học sinh trường Việt đọc các tác phẩm ngoại quốc qua bản dịch hoặc phóng tác.

Nhà văn Chu Tử qua Vũ Uyên Giang

Bộ sách Văn Học Việt Nam Nơi Miền Đất Mới của Nguyễn Q. Thắng xuất bản sau năm 1975 có đề cập tới 53 ‘văn gia’ của VNCH, mỗi người được tác giả gắn cho một nhãn hiệu. Chẳng hạn, Nguyễn Văn Trung là ‘nhà văn nhập cuộc’, Cao Xuân Hạo ‘nhà lập thuyết ngữ học’, Nguyễn Ngọc Lan ‘nhà văn Công giáo, nhà báo dấn thân’, Thanh Việt Thanh (?) ‘nhà văn cần cù’, Thế Uyên ‘nhà văn nhập cuộc’, Viên Linh ‘hoàng đế’, ‘nhà độc tài’ văn học’ (!?), Hồ Trường An ‘dược sĩ (?), nhà văn’…

Những nhà văn nữ như Nguyễn Thị Thụy Vũ được khoác cho cái nhãn ‘nhà văn nữ giầu tình dục’, Túy Hồng ‘nữ văn sĩ giầu tính nhục cảm’, Nguyễn Thị Hoàng ‘nhà văn trẻ của tình lụy’, Thu Vân (?) ‘nhà văn dùng tính dục để giải quyết vấn đề’…

Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ dưới mắt họa sĩ Chóe

Nhà văn Túy Hồng dưới mắt họa sĩ Chóe

Nhà văn Nguyễn Thị Hoàng dưới mắt họa sĩ Chóe

Một điều không ai có thể phủ nhận là miền Nam trước khi có chiến dịch đốt sách năm 1975 rất phong phú về sách báo, từ sáng tác đến dịch thuật, từ chính luận đến phiếm luận. Điều chắc chắn là trong số các tác phẩm đó ‘có vàng’ nhưng cũng ‘có thau’. Người đọc đủ sáng suốt để lọc ra những gì với họ là tinh túy để giữ lại, hoặc dấu nếu cần.

Khi người Bắc di cư vào Nam năm 1954, họ rất ngạc nhiên khi thấy những người đạp xe xích lô đến buổi trưa, tìm chỗ mát nghỉ ngơi. Họ ngồi gác chân đọc nhật trình. Người bình dân miền Nam có truyền thống đọc sách báo mà ở ngoài Bắc không có. Ngay từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 miền Nam đã là vùng đất của tiểu thuyết và báo chí trong khi ngoài Bắc, sách vở, báo chí phần lớn chỉ dành cho người có học.

Miền Nam vào những thập niên 60-70 lại có hiện tượng giao thoa giữa hai nền văn hóa Pháp và Mỹ với sự du nhập ồ ạt của các loại sách Livre de poche của Pháp và các loại sách soft cover của Mỹ. Giá sách nói chung tương đối rẻ vì mục đích chính là phổ biến văn hóa, thương mại chỉ là phụ.

Người đọc có thể tìm loại sách IC (Information & Culture) dưới hình thức sách bỏ túi (Livre de Poche) của Pháp bày bán tại các nhà sách Sài Gòn trước 1975 một cách dễ dàng. Nếu có chút vốn liếng về tiếng Pháp, người ta có thể tìm đọc những tác phẩm cổ điển của Platon, Homère hoặc các tác phẩm đương đại của Albert Camus, Jean-Paul Sartre, Saint Exupéry, Francoise Sagan…

Quân đội Mỹ ào ạt đổ bộ vào miền Nam, nhưng văn hoá Mỹ có vai trò áp đảo hay không? Theo giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch, “Thời chiến tranh lạnh, với thế lưỡng cực trên thế giới, miền Nam nằm trong vùng ảnh hưởng Mỹ, và như vậy là có thêm tác nhân mới. Tuy nhiên, văn hoá Mỹ, theo gót đoàn quân viễn chinh, cũng chưa thể gọi là có ảnh hưởng gì sâu đậm. Ở lối sống, ở những giai tầng thấp thì có thể gọi là có ảnh hưởng một cách xô bồ, nhưng ở thượng tầng thì chưa”.

Hoa Kỳ thành lập cơ quan thông tin-văn hóa JUSPAO (Joint United States Public Affairs Office) và tạp chí Thế giới Tự do được phát hành miễn phí cho mục đích tuyên truyền. Đây là báo ảnh, được in ấn bằng phương tiện tối tân nên rất hấp dẫn người đọc.

Cũng có một nguồn cung cấp sách tiếng Anh hoàn toàn miễn phí nhưng rất ít người biết để đem về kệ sách riêng của mình. Đó là sách của Asia Foundation (Cơ quan Viện trợ Văn hóa Á Châu) một tổ chức phi mậu dịch, tặng không cho người đọc là quân nhân, công chức với số lượng hạn chế mỗi lần 5 quyển cách nhau 3 tháng.

Tôi là ‘khách hàng’ thường xuyên của Asia Foundation. Sách của Asia Foundation là loại sách viện trợ thuộc đủ mọi lĩnh vực, trên sách có đóng dấu bằng 2 thứ tiếng “Not for sale” và “Xin đừng bán”. Nếu gặp may, bạn có thể gặp những sách thuộc loại ‘quý, hiếm’.

Tôi còn giữ được một bộ 2 cuốn World Masterpieces (dày khoảng 3000 trang in lại những kiệt tác văn chương của thế giới qua các thời kỳ như Iliad của Homer, Don Quixote của Miguel de Cervantes, Hamlet của William Shakespeare, Thoughts (Les Pensées) của Blaise Pascal, Faust của Von Goethe, The Death of Iván Ilyich của Leo Tolstoy, Theseus (Thésée) của Andre Gide, Remembrance of  Things Past của Marcel Proust, No Exit của Jean-Paul Sartre…

Sách do Asia Foundation tặng

Một số sách xuất bản ở miền Nam trước 1975 nay đã được in lại, và càng ngày càng có một nhu cầu muốn tìm hiểu và phục hồi lại nền văn học đã mai một này. Hơn nữa, tên tuổi và tác phẩm của những nhà văn nổi tiếng ở miền Nam đã xuất hiện khá nhiều trên Internet. Sau 1975, Từ điển văn học bộ mới cũng được phép in một số mục từ về Bình Nguyên Lộc, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu, Cung Trầm Tưởng, Bùi Giáng…

Chỉ tiếc một điều là một số sách báo xưa đã biến mất sau đại họa 1975 và chỉ còn lưu giữ rất hạn chế tại các thư viện tại hải ngoại dưới hình thức microfilm. Rồi người ta cũng quên đi ‘bữa tiệc BBQ’ nhưng vấn đề là những thế hệ sau này sẽ mất hẳn sợi dây liên lạc bằng sách báo với quá khứ.

Kết thúc bài viết này, tác giả xin mượn ý thơ của Vũ Đình Liên than thở cho thân phận ông đồ trước cảnh tàn lụi của nền nho học:

Năm nay đào lại nở

Không thấy sách báo xưa

Ngọn lửa nào năm cũ

Lạc về đâu bây giờ?