10 ĐIỀU NÊN HỌC TỪ PHƯƠNG TÂY

Oanh Vy Lý

10 ĐIỀU NÊN HỌC TỪ PHƯƠNG TÂY

‘Phương Tây’ ở đây là chỉ những người ở các nước như Tây Âu, Bắc Âu, Anh, Mĩ, Canada, Úc, Tân Tây Lan, v.v. Những điều dưới đây tôi rút ra từ kinh nghiệm thực tế trong giao tiếp với người phương Tây. Còn ‘Mười điều’ thì chỉ là cách nói tượng trưng thôi, vì trong thực tế tôi nghĩ chúng ta có thể học từ họ cả … trăm điều.

Điều thứ nhứt: Sự bao dung

Trái lại với nhiều người nghĩ Tây chúng nó ích kỉ và quỉ quyệt, trong thực tế Tây rất rộng lượng và bao dung. Người Mĩ, người Úc, người Canada có thể chẳng quen biết gì với người Việt chúng ta, nhưng họ lại sẵn sàng bảo trợ và nâng đỡ rất nhiều gia đình gốc Việt trong thời gian sau 1975. Ở cấp độ lớn hơn, các nước phương Tây đã mở rộng cánh cửa đón hàng triệu người tị nạn, không phải chỉ từ Việt Nam mà còn từ nhiều nước Đông Âu và Phi châu nữa, và họ đón với tấm lòng chân thành. Ngay cả những nước mà đất hẹp (như Thuỵ Sĩ và Bắc Âu) và chẳng liên hệ gì nhiều với Việt Nam, nhưng họ lại đón nhận hàng vạn người Việt trong thời tị nạn.

Không chỉ đón nhận ‘người dưng’ vào nước họ định cư, họ còn tạo điều kiện để người dưng được tiến thân trong môi trường mới. Từ nhà ở đến cái áo mặc đều được lo lắng chu đáo. Tôi nghĩ nhiều khi ngay cả người Việt cũng chưa chắc gì cư xử với người Việt như người phương Tây cư xử với người Việt.

Họ còn tích cực giúp đỡ các nước nghèo khó nữa, và Việt Nam là một trong những nước nhận rất nhiều giúp đỡ từ phương Tây. Họ tài trợ không hoàn lại để Việt Nam xây cầu, xây đường xá, họ hỗ trợ về kĩ thuật và công nghệ, họ giúp Việt Nam vào các thiết chế kinh tế thế giới, v.v. Trong trận đại dịch vừa qua, họ cấp vx miễn phí cho rất nhiều nước trên thế giới. Trong giáo dục, họ cấp học bổng cho mấy nước nghèo qua nhiều năm liền. Đó không là rộng lượng thì là gì?

Điều thứ 2: Đạo đức xã hội

Hồi còn ở Việt Nam, tôi thường nghe nói rằng ở mấy nước phương Tây người ta sống phóng đãng lắm, họ rất suy đồi, hay nói chung là chẳng có đạo đức gì đâu. Sai. Sai nghiêm trọng. Người phương Tây sống rất đạo đức, có khi còn hơn cả người phương Đông. Họ rất quan trọng đến con người, và lấy con người làm gốc cho mọi quyết sách. Họ cũng rất quan tâm đến chữ ‘lễ’ trong giao tế hàng ngày.

Người phương Tây, cũng giống như chúng ta, rất biết kính trên và nhường dưới. Họ có những qui chuẩn về lễ nghi rất lâu đời. Hãy nhìn các buổi lễ thụ phong huân chương do Nữ Hoàng Anh tiến hành, hay những buổi lễ tốt nghiệp đại học, chúng ta sẽ thấy họ có truyền thống ‘lễ’ rất lâu đời, và đáng nể là họ vẫn duy trì những lễ nghi đó cho đến ngày nay.

Không chỉ quan tâm đến con người, người phương Tây còn hơn chúng ta ở chỗ quan tâm đến thú vật. Cách họ cư xử với gia cầm và thú vật có thể làm cho nhiều người phương Đông kinh ngạc. Đó không phải là hình thức ‘hoa hoè’, mà là tôn trọng với thực chất. Trong thí nghiệm khoa học, nếu làm trên chuột là phải qua sự phê chuẩn của một uỷ ban đạo đức khoa học.

Không chỉ với thú vật, họ cũng rất quan tâm đến môi trường, cây cỏ. Đến những nước như Bắc Âu và Úc, chúng ta sẽ thấy chánh phủ và người dân ở những nước này gìn giữ môi trường ra sao. Không phải gìn giữ môi trường bằng khẩu hiệu; họ đưa vào đời sống những đạo luật và chương trình giáo dục ngay từ tuổi thiếu niên để các em biết trân quí môi trường sống.

Điều thứ 3: Tôn trọng phụ nữ

Một khác biệt lớn lớn nhứt giữa Việt Nam và phương Tây là cách xã hội cư xử với phụ nữ. Ở Việt Nam, người ta quen thói ‘trọng nam khinh nữ’ và thói gia trưởng, nên xã hội đối xử với nữ giới có thể nói là tệ. Trước đây, nữ giới trong các xã hội phương Tây từng bị đối xử rất tệ, nhưng họ đã biết lỗi lầm và chỉnh sửa. Do đó, ngày nay ở xã hội phương Tây, nữ giới được đối xử với sự tôn trọng.

Các chánh phủ phương Tây làm đủ mọi cách để bình đẳng hoá giới tính trong mọi hoạt động xã hội. Từ sự hiện diện của nữ giới trong Quốc hội đến các chức vụ trong đại học và tập đoàn kinh tế, họ có những qui định và chánh sách rất thực tế để bình đẳng hoá giới tính. Họ làm thật chớ không hô hào khẩu hiệu. Nên học họ về vấn đề nâng cao sự hiện diện của nữ giới trong mọi hoạt động.

Tôi cũng làm một phần của mình trong chiến lược này. Labo tôi có nữ và nam bằng nhau. Đó là một chủ trương cá nhân. Có lúc, tôi còn bị phê bình là dành ưu tiên cho nữ nhiều quá, nhưng tôi không hề nhân nhượng. Lí do đơn giản là mình thấy má mình, dì mình, em mình và cháu mình trong đó thì làm sao hối tiếc gì. Nên học Tây về cách cư xử với nữ giới.

Điều thứ 4: Tôn trọng quyền cá nhân

Người Việt chúng ta nhìn chung rất quan tâm đến cá nhân. Gặp nhau lần đầu, người ta hay tìm hiểu người nói chuyện là ai, giữ chức vụ gì, quan điểm chánh trị ra sao, v.v. Họ đánh giá người đối thoại dựa trên những thông tin về cá nhân. Rất tiêu biểu cho câu “trông mặt đặt tên”. Nói chung là người phương Đông thích soi mói đời tư cá nhân.

Người Tây thì khác: họ chẳng quan tâm đến mình là ai, đến từ đâu, quan điểm chánh trị là gì hay theo đảng phái nào. Họ chỉ quan tâm đến ý kiến và hàm lượng tri thức, hay nói theo họ là ‘merit’.

Tôi làm việc chung với một hội đồng trong một hiệp hội khoa học cả 10 năm mà họ không biết tôi là ‘boat people’. Sếp tôi phải 10 năm sau mới biết tôi từng làm phụ bếp ở bệnh viện mà tôi đang làm. Không có giấu diếm gì cả; họ không hỏi thì mình cứ giữ im lặng. Họ không hỏi, có lẽ là tôn trọng sự riêng tư.

Người Tây không đánh giá một cá nhân qua quan điểm chánh trị hay niềm tin tôn giáo; họ đánh giá qua việc làm và chất lượng. Chính tôi trong vai trò người đánh giá, chưa bao giờ tôi tự hỏi họ là ai, đến từ đâu hay xuất thân từ ‘danh gia vọng tộc’ nào. Tôi nghĩ cách làm như vậy rất bình đẳng và khách quan. Chúng ta nên học họ về việc tôn trọng quyền riêng tư và cá nhân.

Điều thứ 5: Sự tử tế và lời nói “Cám ơn”

Sự tử tế của người phương Tây có thể thấy qua chữ ‘Cám ơn’. Có thể nói ‘cảm ơn’ là câu nói đầu môi của người phương Tây. Được giúp đỡ thì nói cảm ơn đã đành, họ giúp người khác mà cũng cảm ơn luôn! Cám ơn ở đây không chỉ là lời nói ghi ơn, mà còn là một appreciation — ghi nhận. Mệnh đề ‘cám ơn’ đã thành một nét văn hoá đẹp của người Tây. Chúng ta nên học họ.

Đã có nhiều nghiên cứu tâm lí học cho thấy nói lời cám ơn là một hành vi tích cực. Hành vi này làm cho người thốt ra câu nói cảm thấy hạnh phúc. Nhiều người nói câu cảm ơn là một cách tạo ra nguồn năng lượng tích cực cho cộng đồng. Thành ra, cảm ơn vừa có lợi ích cho cá nhân, vừa tạo ra một cộng đồng tử tế.

Ngày xưa, khi còn theo học, sếp tôi nhắc nhở chúng tôi khi đi dự hội nghị, phải đến quầy của các công ti dược để nói lời cảm ơn vì họ đã tài trợ cho chuyến đi. Trong báo cáo khoa học cũng phải có một slide cảm ơn mọi người đã giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu. Sau này, tôi cũng nhắc nhở các em nghiên cứu sinh trong lab làm như vậy. Nói ra lời cảm ơn, mình thấy thoải mái làm sao.

Người Việt chúng ta rất ít nói lời cảm ơn. Có khi họ nói ‘cám ơn’ cho có lệ chớ không thực lòng. Việt Nam chúng ta cần học người phương Tây về cảm ơn.

Điều thứ 6: Tôn trọng chánh kiến khác (sống với dị biệt)

Có lần, một anh bạn giáo sư kinh tế, người Úc, rất sùng cánh tả, hỏi tôi về quan điểm chánh trị. Tôi nói rằng chưa bao giờ bầu cho đảng Lao Động và chưa bao giờ thích mấy ứng cử viên của phe Dân Chủ và dứt khoát không thích anh Bảy Đờn và phe Pelosi. Anh ấy nói tôi có xu hướng right wing. Cười hoà.

Đặc điểm quan trọng của xã hội phương Tây là đa sắc tộc, đa nguyên và đa đảng. Ngay từ thời tiểu học, học sinh đã được dạy phải tôn trọng ý kiến khác mình. Học sinh được dạy để biết sanh hoạt đa đảng ra sao. Do đó, trong công việc, họ hoàn toàn không có kì thị đảng phái.

Tôi mới đọc hồi kí của Clive Hamilton, một giáo sư hữu khuynh, mà trong đó tôi học cách ứng xử của giới khoa bảng Úc. Giáo sư Hamilton kể rằng lúc trẻ ông là một tay tả khuynh (left wing), mê xã hội chủ nghĩa. Ông tốt nghiệp tiến sĩ và xin việc tại một khoa kinh tế nổi tiếng hữu khuynh. Ông nghĩ mình sẽ không được phỏng vấn. Nhưng ngạc nhiên thay, ông được phỏng vấn và nhận vào làm việc. Ông cho biết sau này bà khoa trưởng thổ lộ rằng bà muốn có ý kiến ngược lại số đông nên sẵn sàng nhận ông vào làm nghiên cứu. Ông cho biết thời gian ở cái khoa hữu khuynh đó ông học rất nhiều và xem là thời gian đáng nhớ nhứt trong đời.

Điều thứ 7: Dí dỏm

Hồi còn ở Việt Nam tôi say mê chương trình hài của ‘Sạc Lô’ mà sau này tôi mới biết tên thật là Charlie Chaplin. Ông ấy không nói gì nhưng trong thực tế thì nói rất nhiều, rất hay. Khi qua Úc tôi mê chương trình Benny Hill trên tivi. Không phải mê vì mấy cô gái đẹp đóng chung với ổng (Hill), mà là những câu đối thoại vừa ý nhị vừa hài hước ghê nơi. Có những câu nói ra mình chưa biết ý nghĩa là gì, nhưng nghĩ một hồi thì cười ha hả.

Tôi thấy người phương Tây có óc hài hước chẳng kém dân Việt mình. Mark Twain từng nói “The human race has one really effective weapon, and that is laughter” (Con người có một vũ khí rất hiệu quả: đó là tiếng cười). Hài hước là một đức tính rất hay và được xem là một hành vi tích cực. Nó (hài hước) giúp chúng ta đối phó với những khó khăn và phiền toái trong cuộc sống. Có lẽ chính vì vậy mà người Tây rất hài hước.

Người tiêu biểu về tính hài hước là mấy ông sếp cũ của tôi. Một ông sếp cũ của tôi là một giáo sư về thần kinh học là một người hài hước đáo để. Ổng là viện trưởng, nhưng lần nào họp viện ổng đều mở đầu bằng một câu nói hay một câu chuyện làm cho khán phòng cười nghiêng ngả. Cái tánh hài hước của tôi chính là bị ông này ‘lan truyền’.

Điều thứ 8: “Give and take”

Rất khó dịch thành ngữ ‘Give and take’, nhưng nó tương đương với câu ‘Có qua có lại mới toại lòng nhau’ trong cách nói của chúng ta. Người phương Tây rất trọng ‘Give and take’ vì đó là một thể hiện của sự công bằng (fairness). Công bằng là một nguyên lí rất quan trọng trong xã hội phương Tây, và hầu như chánh sách hay chủ trương nào cũng được xây dựng trên nguyên lí này.

Người Việt ngày nay hay có thói “có lợi gì cho tôi”. Bất cứ một đề nghị nào, dù tốt cỡ nào, giới lãnh đạo hay hỏi ‘có lợi gì cho tôi’. Rất hẹp hòi. Chỉ nghĩ đến mình mà không nghĩ đến người khác. Tôi thấy Tây khác ta: họ lúc nào cũng nghĩ ‘mình đem lợi gì cho người và cho mình’ hay nói theo tiếng Anh là công bằng (cho và nhận). Nên học cách suy nghĩ ‘give and take’ của Tây.

Điều thứ 9: Làm chậm mà chắc

Người Việt chúng ta hay tự hào là làm nhanh. Họ hay so sánh kiểu một công trình Tây làm 2 năm, nhưng Việt Nam làm chỉ 6 tháng. Trong thực tế và đó đây thì đúng là có sự việc như vậy. Hay trong y khoa, có những thuật mà Tây không dám làm, nhưng Việt Nam dám làm; chẳng những dám làm, mà còn quảng bá rùm beng.

Nhưng vấn để không phải là làm được hay làm nhanh. Tây họ rất cẩn thận và suy nghĩ lâu dài. Làm cái gì họ cũng tham vấn nhiều người từ nhiều chuyên ngành khác nhau. Làm một cái giường cho bệnh nhân, họ không chỉ tham khảo ý kiến của chuyên gia mà còn hỏi ý kiến của bệnh nhân. Làm một con lộ cao tốc, họ phải nghiên cứu tác động môi trường cả 2 năm trời để đánh giá tác hại đến cư dân ra sao. Ngay cả triển khai một nghiên cứu thành hiện thực họ cũng phải xem xét lợi và tác hại có thể cho bệnh nhân.

Người phương Tây làm chậm không phải họ dở, mà là họ quan tâm đến chất lượng và lâu dài. Chúng ta nên học họ về tầm nhìn xa và phẩm chất.

Điều thứ 10: Tinh thần cách tân

Người phương Đông chúng ta trọng tĩnh, nhưng người Tây trọng động. Họ lúc nào cũng nghĩ đến cách tân hay làm mới một ý tưởng cũ. Ở viện tôi công tác, năm nào cũng có ‘retreat’. Và, mỗi retreat, sếp tôi hay hỏi ‘vấn đề lớn hiện nay là gì và chúng ta phải làm gì mới để giải quyết vấn đề.’ Năm nào câu hỏi đó cũng được đặt ra. Riết rồi, chúng tôi buộc phải suy nghĩ đến cái mới. Tinh thần cách tân thật là đáng học.

Trong thời đại cạnh tranh khoa học và công nghệ, tinh thần cách tân rất quan trọng vì nó giúp mình đứng đầu. Các nước mới nổi ở Châu Á họ hay mời chúng tôi sang nói chuyện. Có khi một bài nói chuyện chỉ 30-40 phút, nhưng họ biết được hướng mới là gì. Trả có 10 ngàn đôla mà có ý tưởng mới thì quả là quá rẻ.

****

Tôi có hứng chia sẻ vài ý nghĩ trong cái note này nhân một câu nói của cô phát ngôn viên Bộ Ngoại giao về nước Nga. Cô ấy nói rằng [1]: “Tôi gắn bó với nước Nga vì tiếng Nga là ngôn ngữ tôi học từ bé. Nước Nga của những áng thi ca và các tác phẩm nghệ thuật bất diệt. Tôi đã đọc hầu hết các tác giả Nga và Liên Xô, đi thăm các bảo tàng Tretchiacov và Hermitage nhiều lần. Nhưng nước Anh để lại trong tôi nhiều ấn tượng vô cùng sâu sắc. Đó không chỉ là cái nôi của văn minh châu Âu mà còn là văn hóa đa sắc tộc, hiện đại nhưng cũng rất bản sắc.”

Cô ấy nói nước Anh là ‘cái nôi của văn minh châu Âu’? Wow! Thiệt vậy sao? Kiến văn của một phát ngôn viên ngoại giao là vậy?

Bất cứ nền văn hoá và văn minh nào cũng có nhiều điều để chúng ta học hỏi. Người phương Tây có một nền văn minh rất lâu đời (chẳng kém gì văn minh phương Đông), và họ đã có rất nhiều thành tựu vật chất và phi vật chất. Tôi nghĩ người phương Tây cũng muốn học từ văn hoá phương Đông, chứ không phải sự học chỉ diễn ra 1 chiều.

Sống trong xã hội phương Tây chỉ 40 năm thôi, nhưng tôi thấy mình phải học họ nhiều lắm. Mười năm đầu tôi chưa ‘thấm’ đâu, phải 20 năm sau mới bắt đầu biết chút chút. Mười điều tôi nêu trên đây chỉ là những điều hiển nhiên và mang chút cá nhân tánh. Tôi tin rằng các bạn có thể rút ra nhiều nhiều hơn những gì tôi liệt kê. Tôi nghĩ những giá trị như bao dung, sự tử tế, tôn trọng quyền cá nhân, tôn trọng nữ giới, tôn trọng chánh kiến khác, và tinh thần cách tân là những gì chúng ta có thể soi rọi và tự làm mới mình.

FB NGUYỄN TUẤN

 

Hun Sen- STTD Tưởng Năng Tiến

Hun Sen

Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh vừa có nhận định ngắn, về một vị quan chức cao cấp của xứ sở láng giềng (“Hunxen là nhà cai trị hiểu biết và bản lĩnh”) và đã nhận được không ít những lời lẽ tán đồng nồng nhiệt:

  • Đình Ấm Nguyễn: Chính xác.Một thời tôi đã hiểu sai về anh này.
  • Phuong Lam: Nếu ko bản lĩnh thì ông ấy ko tồn tại đến hôm nay ạ.
  • Nguyễn Ngoc Anh: Ông ấy là kẻ thức thời.
  • Tran Trong Duc: Campuchia là một nước nhỏ nhưng có một nhà lãnh đạo mang tầm vóc thời đại làm rạng rỡ dân tộc.

Tất cả quí vị thức giả thượng dẫn – tiếc thay – đều rất kiệm lời, không ai chịu nói thêm (đôi câu) về “bản lĩnh” của ông Samdech Hun Sen để người đọc được dịp mở mang tầm mắt. Tôi chưa bao giờ có dịp đặt chân đến London, Moscow, New York, Paris, Varsovie … (và cũng không cảm thấy hào hứng lắm, khi nghĩ đến những nơi xa xôi như thế) duy Kampuchea thì tôi có dịp lui tới rất nhiều lần nhưng chưa bao giờ nhận ra được cái “tầm vóc thời đại làm rạng rỡ dân tộc” của vị thủ tướng của đất nước này.

Lần gần nhất tôi ghé qua Cambodia là hồi đầu tháng 11 năm 2022, trước khi khai mạc Hội Nghị Cấp Cao Asean – kỳ thứ 40 và 41, tại Phnom Penh – chừng độ một tuần. Bộ mặt thủ đô của xứ sở này, giờ đây, đã hoàn toàn đổi khác.

Phố xá ngăn nắp và sạch sẽ hơn thấy rõ, nhất là con đường Preah Sisowath Quay và khu công viên (Riverside Park) nằm ngay mé sông Tonle Sap. Lũ trẻ con trần truồng, đen đủi, nhếch nhác (vẫn thường lê la chơi đùa trước Hoàng Cung) đều đã … đi chỗ khác chơi. Những kẻ vô gia cư hay nằm vật vã trên ghế đá cũng không còn nữa. Đám hành khất cũng thế, cũng biến mất tiêu. Cứ như thể là họ chưa bao giờ có mặt trên đất nước này, dù chỉ một ngày.

Sự đổi thay không chỉ diễn ra ở Phnom Penh. Dọc Quốc Lộ 1, hằng trăm bức ảnh của Hun Sen (khi ngồi, lúc đứng) đã được gỡ bớt và thay bằng chân dung của hoàng gia: Quốc vương Norodom Sihamoni, phụ vương Norodom Sihanouk, và hoàng thái hậu Norodom Monineath.

Dù chậm – cuối cùng – Hun Sen cũng đã hiểu ra rằng ngoài giới tăng lữ, ông còn cần thêm một liên minh chính thống (một ông vua làm cảnh kề bên) để bộ mặt của chế độ quân phiệt trông bớt phần tệ hại!

Cả ngàn bảng hiệu Cambodian People’s Party (Đảng Nhân Dân Cam Bốt) của Hun Sen cũng thế, cũng không còn xuất hiện trên từng cây số nữa. Xen vào đó là tên hiệu của dăm bẩy cái đảng dấm dớ nào đó: Candlelight Party, Youth Party, Liberty Party … Tuy không ai tin rằng Kampuchea đang thực thi chính sách đa nguyên hay đa đảng nhưng cái mớ hoa giả này cũng giúp cho không khí toàn trị ở Phnom Penh đỡ khó thở hơn – chút xíu!

Quốc lộ 5, dài hơn 400 KM – nối liền Nam Vang với Thái Lan – kể như đã hoàn tất. Không còn những đoạn lởm chởm ổ gà, và mịt mù bụi đỏ, như những năm trước nữa. Chạy suốt một mạch từ thủ đô cho đến tỉnh Pursat, gần cả dặm trăm đường (êm ru bà rù) nhưng tuyệt nhiên không có một cái BOT nào ráo trọi, và cũng chả thấy bóng dáng của một anh cảnh sát giao thông nào sất.

Ngay cả đến hương lộ (ngã rẽ vào làng nổi, Kampong Luong Floating Village, ở cuối Biển Hồ) cũng đã được sửa sang. Dù chỉ “tân trang” chút đỉnh thôi nhưng vẫn đỡ “gập ghềnh” thấy rõ.

Tôi hớn hở khoe những thành tích mà mình vừa chứng kiến với dăm ba tân hữu nhưng không nhận được chút đồng tình nào (ráo) mà còn bị chọc quê:

– Mày còn ở đây bao lâu nữa?
– Vài bữa nữa.
– Sao không ở luôn cho qua ngày hội nghị rồi hãy đi.
– Ở chi lâu dữ vậy, mấy cha?
– Để thấy đất Kampuchea sẽ trở về … nguyên trạng, sau cái màn trình diễn rất ngoạn mục và vô cùng tốn kém này của Hun Sen!

Thương nhau củ ấu cũng tròn, ghét nhau thì quả bồ hòn cũng vuông. Những người bạn trẻ trí thức mà tôi quen biết ở Cambodia – xem ra – chả mấy ai có cảm tình gì với vị thủ tướng (trường trị muôn năm) của đất nước họ nên mọi “thiện ý” của ông ta, nếu có, cũng đều bị nhìn với cặp mắt nghi ngờ hay dè bỉu.

Giới bình dân thì khác. Hun Sen, xem chừng, được họ dành cho nhiều thiện cảm hơn vì không chỉ hứa hẹn (suông) mà còn thực hiện được – đôi điều – thiết thực. Ông tuyên bố: Kể từ năm 2016, người lái xe grab, xe tuk-tuk, xe công nông, và ghe thuyền sẽ không phải đóng thuế nữa. Kẻ buôn thúng bán mẹt cũng thế, cũng được miễn thuế luôn. (Kang Sothear, “Hun Sen Announces Broad Cuts of Petty Taxes,” Cambodia Daily: October 23, 2015).

Khi có dịp tiếp xúc với vài vị đồng hương, đang lênh đênh trên Hồ Tonlé Sap, tôi còn được nghe nhiều lời tán thưởng về sự nới lỏng trong luật lệ di trú (vốn rất khắt khe) dành cho thân phận nổi trôi của họ. Có người còn bắt đầu nhen nhúm chút hy vọng là sẽ có lúc được sống (và chết) trên bờ, như đa phần nhân loại.

Chưa hết, gần triệu dân Việt ở Cambodia đều tin chắc chắn rằng cuộc sống tha phương cầu thực của họ sẽ khốn khổ và khốn nạn hơn nhiều, nếu Sam Rainsy (đối thủ chính trị của Hun Sen) có cơ hội cầm quyền.

Trong những ngày qua, Hun Sen còn vừa nhận được hàng loạt tràng pháo tay không ngớt của rất nhiều người (chứ chả riêng chi người Việt) vì đã công khai lên án Nga xâm lăng Ukraine và ngang nhiên bỏ phiếu chống lại Putin. Hun Sen, rõ ràng, không chỉ là một tay bản lãnh mà còn là một kẻ thức thời.

Ông có niềm tin vào tương lai (ít nhất thì cũng là tương lai của gia tộc và phe nhóm) với kỳ vọng là “không chỉ con mà đến cháu mình cũng sẽ thành thủ tướng Campuchia.” Và có lẽ vì thế nên đương sự không vơ vét hết ngân quỹ và tài sản quốc gia như quí vị lãnh đạo (vốn vừa đồng chí, vừa là anh em) bên nước láng giềng.

Ngoài những điểm son vừa kể, hồ sơ của Hun Sen – tất nhiên – không ít những điểm đen:

  • Chính phủ của Hun Sen đã chịu trách nhiệm việc cho thuê 45% tổng diện tích đất ở Campuchia, chủ yếu cho các nhà đầu tư nước ngoài, trong những năm 2007- 08, làm hơn 150.000 người Campuchia bị đe dọa trục xuất.
  • Hun Sen có liên quan đến tham nhũng tài nguyên dầu mỏ và tài nguyên khoáng sản của Campuchia, trong báo cáo Global Witness 2009.
  • Còn theo ước tính của Global Witness 2016 thì Hun Sen và gia đình đã  thâu tóm khoảng từ 500 triệu đến 1 tỷ Mỹ Kim, và bọn thủ hạ thì cũng hốt làm của riêng một mớ không phải ít. (Hun Sen and his family were estimated to have amassed between US$500 million and US$1 billion by Global Witness in 2016, and a number of allies have also accumulated considerable personal wealth during his tenure.)

Bằng cách nào mà gia tộc Hun Sen có thể hốt được tiền tỷ (U.S. Dollar) một cách dễ dàng, gọn gàng như thế? Câu trả lời có thể tìm được qua hai dữ kiện sau:

  • Hun Sen và đảng chính trị của ông, CPP, đã nắm giữ quyền thống trị gần như toàn bộ trên các phương tiện truyền thông chính thống trong phần lớn thời gian cai trị.
  • Tất cả 125 dân biểu quốc hội đều là người của Đảng Nhân Dân Cam Bốt, 58 trong số 62 thượng nghị sỹ cũng vậy, cũng đều nằm trong túi áo của Hun Sen tuốt luốt.

Khó mà phủ nhận được rằng Hun Sen là một tay bản lĩnh (có thừa) nhưng bản lĩnh của ông – tiếc thay – đã không giúp được cho dân tộc Khmer có đủ áo cơm, dù đã phải cầm cố gần nửa phần (45%) đất đai của Cambodia!

Tưởng Năng Tiến
11/2022

Cái sợ nay ngả về phía độc tài

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả:  Nguyễn Thị Cỏ May

Dân Trung Quốc xuống đường với những tờ giấy trắng. Ảnh Onet

Một phong trào biểu tình chống chế độ và chống Xi, do dân chúng và phần đông giới trẻ, sinh viên các Đại học, phát động hôm 24/11/22, nhiều người cho là lớn nhứt từ 33 năm nay. Dân chúng các thành phố lớn, sinh viên từ nhiều Đại học, xuống đường tố cáo biện pháp ác ôn  « Zéro Covid »  của Xi chống dịch vũ hán là giết người, trong lúc thế giới cũng chống dịch nhưng không ai làm như vậy.

Biện pháp Zéro Covid mà Xi trong Đại hội đảng cộng sản tàu thứ XX vẫn đề cao là độc đáo và hiệu quả tuyệt vời nên Xi tiếp tục duy trì. Những người biểu tình qui thẳng trách nhiệm làm chết người, làm suy thoái đời sống xã hội chính là đảng cộng sản và Xi vừa chiếm thêm một nhiệm kỳ Tổng Bí Thư đảng nữa.

Trước khí thế hùng hậu và căm ghét của người biểu tình, nhà cầm quyền phải chấp nhận nới lỏng biện pháp « Zéro Covid » ở vài nơi và ban hành lại chiến dịch chích ngừa cho người lớn tuổi, sau một loạt bắt bớ, đàn áp.

Tức nước vở bờ

Mọi người ai cũng nói biểu tình. Nhưng Xi không cho nói « biểu tình » mà hảy gọi đó là những « sự cố tập thể » . Tiếng gọi chánh thức những cuộc biểu tình của dân chúng tàu chống chế độ. Cũng như kéo quân, dàn trận đánh chiếm nước độc lập Ukraine mà Poutine gọi đó là cuộc  «hành quân đặc biệt »!  Cùng gốc Sịt (Staline) nên ngôn ngữ của 2 tay độc tài giống nhau tuy Á-Âu, chủng tộc khác nhau, nhưng vì bản chất lại giống nhau!

Ở Tàu, cũng như ở Nga, ở Hà nội hay ở bất kỳ xứ Độc tài nào khác, biểu tình là tuyệt đối bị cấm.

Thế mà ở Tàu, từ năm 2005, theo thống kê được phổ biến năm đó, người ta thấy có 87 000 cuộc biểu tình. Tới năm 2010, con số biểu tình tăng gắp đôi, trung bình 500 vụ mỗi ngày.  Như vậy chế độ Xi hiểu rỏ biểu tình và cũng biết rỏ cách đàn áp biểu tình hơn ai hết.

Tuy có kinh nghiệm nhiều năm về biểu tình nhưng nay Đảng-Nhà nước vẫn thấy hụt hẫng trước phong trào biểu tình hiện nay bắt đầu từ vụ cháy nhà ở Urumqi, Thủ đô của xứ Ouigour, làm chết hằng mươi người ouigours theo tin chánh thức, theo tin của các hội phi chánh phủ (ONG) thì số nạn nhơn phải lên tới nhiểu chục người. Nhiều gia đình bị chết cháy hết cả nhà. Họ đều là người ouigours. Nguyên nhơn rất đơn giản. Lửa cháy, người ở trong nhà, nhơn viên cứu hỏa không vào chữa được vì cửa đều bị khóa cứng theo biện pháp « Zéro Covid », ngõ vào khu nhà ở bị xe cộ bỏ nằm ngổn ngang ngăn cản lưu thông.

Một làn sóng phẫn nộ ập xuống chế độ Xi, đánh tan cái sợ cố hũu, cái tâm lý ngoan ngoãn nghe theo nhà cầm quyền, biến đại bộ phận dân chúng thành những người biểu tình quyết tâm và gan lì .

Nhiều người nhận xét xưa nay, người tàu chánh gốc ít khi tỏ ra thương xót cho người ouigours khi bị áp bức, đánh đập. Họ vẫn có thể dửng dưng trước nạn bị diệt chủng của dân ouigour từ những năm 2017 . Nhưng lần này, tất cả lớp dân tàu chánh gốc trung bình cùng ở những tòa nhà tương tự nhà bị cháy gần đó bỗng cảm thấy như chính mình là nạn nhơn. Họ đồng cảm sâu sắc và cùng phản ứng chống nhà cầm quyền như để bảo vệ chính mình vậy. Từ đó mà cuộc biểu tình nổi dậy cùng khắp nước Tàu.

Giáo sư Yasheng Huang ở MIT giải thích « Xưa nay, biểu tình chẳng mấy khi xảy ra ở Tàu vì thiếu những bộ phân phối hợp như tôn giáo, hội đoàn, mạng kỹ thuật. Thật mỉa mai là cái « Zéro Covid », chính nó đã thay thế cái bộ phận phối hợp đang thiếu vắng đó mà chuyển tải làn sóng biểu tình tràn lan từ tỉnh  thành đi khắp nước Tàu».

Một cơn ác mộng đen cho Xi chớ không phải là «giấc mơ tàu  như xưa nay Xi từng ôm ấp. Biểu tình không phải từng khu vực để có thể dập tắt, sau  đó truy tìm những người xách động thanh toán làm gương. Mà động lực phát động phong trào là sự giận dữ, sự căm phẫn của cả nước, không phân biệt thành phần xã hội, địa phương, chỉ nhằm thẳng vào chế độ, vào Xi. Với một mục tiêu chung là dẹp bỏ ngay cái «Zéro Covid».

Nhiều sinh viên và giới trẻ nghĩ là sau Đại hội đảng cộng sản, Xi sẽ bỏ cái «Zéro Covid », thứ đã làm chết người, tê liệt xã hội, nhưng không. Nó, không ai biết nó sẽ còn tới bao giờ. Tests, cô lập tập thể, khóa cửa nhà, cửa chung cư, … được tăng cường mạnh thêm  Ngay cả những khu sang trọng ở Bắc kinh.

Từ đó sự thất vọng, một sớm một chiều đã biến thành sự điên tiết của toàn xã hội. Thế là người người tự động đồng loạt xuống đường.

Giới trẻ và sinh viên biểu tình không chỉ nhằm đòi hỏi đơn giản tháo gỡ cái « Zéro Covid » mà chủ yếu nhằm đòi hỏi nhà cầm quyền phải thực thi nguyện vọng chánh đáng của họ là tôn trọng «Tự do», «Dân chủ», «Nhà nước pháp trị », những đòi hỏi mà người ta không được nghe từ cuộc biểu tình của sinh viên ở Thiên An môn.

Họ hô khẩu hiệu «Đả đảo đảng cộng sản». Họ dường như đang say men gan lì nên không còn biết sợ bạo quyền nữa. Và ở một nơi khác, giới trẻ và sinh viên, cùng hô lớn một khẩu hiệu độc đáo, chưa bao giờ có ở Tàu từ năm 1949 «Đả đảo Xi» . Ở cửa sổ trên lầu của một Đại học xá, một biểu ngữ vải trắng với hàng chữ vắn tắc « Xi, một tên khốn nạn». Lần đầu tiên một nhơn vật lãnh đạo đảng tối cao được nêu đích danh và bị đả đảo! Ở Thiên An môn, Đặng Tiểu bình cũng không bị chỉ măt gọi tên như vậy nữa.

Đúng là một sự phạm thượng đáng tội chết!

Liệu Xi, một con người vốn kém hiểu biết, cao ngạo và tàn bạo, sẽ phản ứng như thế nào? Nhượng bộ để giữ ghế ? Hay ra tay dẹp loạn như Mao và Sịt?

Dân chúng biểu tình trên khắp nước Tàu từ hôm 24/11/22 còn do một nguyên nhơn khác nữa. Khi đá banh ở Qatar khai mạc, dân tàu mê đá banh tụ tập trước TV của café ở khu phố theo dõi trận đấu.

Bỗng ở đâu đó, có một trường hợp bị lây nhiểm virus Vũ hán xảy ra, lập tức cả khu vực bị phong tỏa.

Nhà cửa, hàng quán đều phải đóng cửa. Thú mê đá banh bị cụt hứng, hàng quán thua lỗ làm cho mọi người nổi điên lên. Nhà xã hội học huê kỳ Jeffrey Vasserstrom ở Đại học Californie gọi hiện tượng này là « trận bão hoàn hảo »

Ngoài sự mất hứng, dân mê coi đá banh còn lấy làm khó chịu khi nhìn thấy những cầu thủ đá banh, khán giả của các nước, ai nấy đều không mang mặt nạ, còn bắt tay nhau, ôm nhau, vui cười hớn hở mỗi khi kết thúc một màn trên sân cỏ. Trong lúc đó, dân tàu lại bị khủng bố để tránh bị lây nhiễm covid .

Người ta hiểu ngay biện pháp của Xi đang áp dụng triệt để ở đây là hoang tưởng, không thật sự hiệu quả .

Một cuộc «Cách mạng tờ giấy trắng»

Những tờ giấy trắng xuất hiện ở khắp nơi, trên tay người biểu tình hoặc trên tay người hưởng ứng. Nhà cầm quyền bắt đầu hiểu ý nghĩa của tờ giấy trắng là kiểm duyệt sạch trơn. Ở Tàu chỉ có một tiếng nói duy nhứt của đảng và Nhà nước. Cái gì khác hơn đều bị kiểm duyệt. Sạch trơn như tờ giấy trắng!

Nhưng giới trẻ vẫn xoay sở được tin tức thiệt về xứ Tàu và thế giới bằng cách liên hệ với hải ngoại qua hệ thống mạng xã hội rồi truyền cho nhau.

Điều gì sẽ xảy ra ở Tàu trong những ngày tới? Theo bà Cai Xia, Giáo sư trường đảng, tỵ nạn ở Huê kỳ, thì rất khó đoán cho chính xác được.

Tánh tình của Xi, con người kém hiểu biết mà lại cao ngạo và tàn bạo, rất có thể đưa Xi tới cứng đầu trong mọi phản ứng. Xi quan niệm quyền lực thì mọi khoan nhượng đều là biểu hiện của sự yếu kém.

Hơn nữa xung quanh hắn ta chỉ có những kẻ tuân phục, không có ai dám có ý khiến khác hơn hắn.

Vụ Thiên An môn năm 1989 ngày nay vẫn còn ám ảnh nhiều người trong đảng. Nó vẫn bị cấm nhắc tới và xuất hiện trong ngôn ngữ hằng ngày. Vụ Thiên An môn lúc đầu cũng động viên một nhóm sinh viên, trong thời gian ngắn, nó kết thành một phong trào rộng lớn, đòi hỏi hảy thay đổi chế độ độc tài, chuyển qua Dân chủ Tự do. Mặc dầu thất bại và thất bại trong xương máu nên vụ Thiên An môn vẫn còn ám ảnh chế độ độc tài và là hồn ma linh thiêng của giới trẻ và sinh viên.

Nhưng từ sau vụ Thiên An môn, nhà cầm quyền độc tài Bắc kinh đã học được bài học mới. Họ tăng cường ngân sách an ninh, trang bị mạnh và tối tân lực lượng an ninh để khi có biểu tình đòi Dân chủ, họ sẽ ra tay đàn áp hữu hiệu và nhanh chóng mà không cần tới quân đội và chiến xa nữa.

Nhiều người nghĩ là rất có thể Xi sẽ ra tay dẹp mau phong trào biểu tình này sau vài tương nhượng nhỏ như đã làm đối với công nhơn lả trả lương cho họ trong những ngày xí nghiệp đóng cửa theo lệnh phong tỏa, hay làm ngơ cho một số công nhơn khác phá rào nơi phong tỏa, ra đi bộ về quê quán.

Thực tế ai cũng thấy Zéro Covid không mang lại hiệu quả mong muốn mà số người được chích ngừa lại quá ít. Nên con số người được miễn nhiễm quá it. Thuốc chích ngừa lại kém hiệu quả. Nay là lúc covid đang lây lan mạnh. Mọi biện pháp cực đoan, chỉ nhằm mục tiêu chánh trị, thiếu bảo đảm y tế, chắc chắn sẽ làm cho dân tàu chết không dưới 1, 5 triêu người ngay đợt đầu tiên, theo những nhà khoa học ước tính.

Một thảm nạn y tế có khả năng làm rung chuyển mọi chế độ.

Về mặt kinh tế, Xi vẫn tự hào là Tàu sẽ vượt qua Mỹ trong nay mai. Nhưng xưa nay, cây cổ thụ thường không làm sao vươn lên tới trời được. Chánh sách « Zéro Covid » mà Xi từng khoe khoang – một thời Hà Nội bắt chước, nhưng một hôm bỗng khôn ra, vội tháo gỡ – đã làm cho kinh tế tàu nghẹt thở . Từ tăng trưởng 8, 1% năm trước, năm nay xuống còn 3, 2% trong lúc mức tăng trưởng trong vùng là 4, 4% .

Trong lúc đó, dân số Tàu già nua mau mà thế hệ nối tiếp không kịp và không đủ thay thế . Đây là một hiểm họa cho tương lai không xa của Tàu.

Trước thục tế và viễn ảnh không xa đó, liệu Xi vẫn kiên quyết bảo vệ đường lối độc tôn có một không hai hay thay đổi để đất nước khá lên và Xi còn vào nhà dưỡng lão?

Nguyễn thị Cỏ May

Ca nhiễm COVID-19 tăng, Los Angeles có thể yêu cầu đeo khẩu trang trở lại

Báo Nguoi-Viet

December 3, 2022

LOS ANGELES, California (NV) – Chính quyền Los Angeles County có thể sẽ sớm áp dụng trở lại quy định đeo khẩu trang tại các không gian trong nhà khi các ca nhiễm và nhập viện vì COVID-19 liên tục tăng trong khu vực, theo ABC News hôm Thứ Sáu, 2 Tháng Mười Hai.

Trong cuộc họp báo hôm Thứ Năm, 1 Tháng Mười Hai, bà Barbara Ferrer, giám đốc y tế công cộng LA County, cho biết hiện mức độ lây nhiễm COVID-19 tại đây đang ở mức “trung bình.” Nếu lên mức “cao,” chính quyền sẽ áp dụng quy định đeo khẩu trang.

Chích ngừa COVID-19 ở Los Angeles. (Hình minh họa: Frederic J. Brown/AFP via Getty Images)

Dữ liệu cho thấy kể từ ngày 1 Tháng Mười Hai, LA ghi nhận trung bình 2,490 ca nhiễm COVID-19 mới mỗi ngày, cao nhất kể từ 26 Tháng Tám. Bà Ferrer tin rằng con số thực tế có thể cao hơn, vì nhiều người xét nghiệm dương tính ở nhà nhưng không báo cáo, hoặc vì họ không xét nghiệm.

Bên cạnh đó, LA cũng ghi nhận 1,164 ca nhập viện vì COVID-19, cao nhất kể từ 11 Tháng Tám. Tỷ lệ tử vong vẫn thấp, ở mức 14 ca mỗi ngày. Tuy nhiên con số có thể tăng lên vì xu hướng tử vong thường sẽ chậm hơn vài tuần so với xu hướng nhiễm bệnh và nhập viện.

Hai tuần trước, giới chức LA đề nghị người dân nên đeo khẩu trang ở các không gian công cộng trong nhà, tuy nhiên chưa bắt buộc khi tỷ lệ nhiễm bệnh tiến hơn mức 100 trên 100,000 cư dân.

Hiện tại tỷ lệ ca nhiễm hằng tuần của LA là 185 trên 100,000. Tỷ lệ được xem là “cao” khi chạm mức 200 trên 100,000. Nếu ca nhiễm tăng theo tốc độ như cũ, thì LA sẽ đạt đến mức “cao” trong tuần tới.

Theo bà Ferrer, ngoài đeo khẩu trang, mọi người có thể hạn chế lây nhiễm và nhiễm bệnh bằng cách chích ngừa.

Dữ liệu cho thấy LA có 73% cư dân được chích ngừa đầy đủ, tuy nhiên tỷ lệ lại rất khác nhau theo độ tuổi. Người từ 65 tuổi trở lên có tỷ lệ chích ngừa cao nhất, 92%. Trong khi đó trẻ em từ sáu tháng đến bốn tuổi có tỷ lệ chích ngừa thấp nhất với chỉ 6%. (V.Giang)

NGOÀI RÌA THÀNH PHỐ

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Có vẻ Thiên Chúa ưu ái người không có quyền lực, người không được chú ý, trẻ em, người ngoài rìa, người tị nạn không nơi nương tựa không có gì để bám víu.

Vì thế Chúa Giêsu mới sinh ra bên ngoài thành phố, trong hang lừa, không ai chú ý, xa những gì phô trương ầm ĩ, xa truyền thông và xa những con người cũng như sự kiện được cho là quan trọng vào thời đó, một Chúa Giêsu khiêm hạ và vô danh.  Thiên Chúa làm việc như thế.  Tại sao?

Trong vở rock opera Siêu sao Giêsu Kitô (Jesus Christ Superstar), câu hỏi đó đã được đặt ra cho Chúa Giêsu.  Tại sao Ngài lại chọn một thời xa xưa, ở một vùng đất xa lạ như thế?  Nếu Ngài đến hôm nay, Ngài có thể vươn đến cả một quốc gia.  Israel vào năm 4, làm gì có truyền thông đại chúng.

Kinh Thánh trả lời bằng cách bảo chúng ta rằng cách thức của Thiên Chúa không như chúng ta, và cách thức của chúng ta không phải của Thiên Chúa.  Đúng là thế.  Chúng ta có khuynh hướng hiểu sức mạnh qua cách nó tác động trên thế giới.  Sức mạnh có nơi tầm đại chúng, nơi truyền thông đại chúng, nơi đặc quyền có từ xưa, nơi thế lực tài chính, nơi giáo dục cao, nơi tài năng cá nhân, và thậm chí là nơi sự hung hăng, tham lam, và lãnh đạm trước nhu cầu của tha nhân và tự nhiên.

Nhưng chỉ cần lướt qua Kinh thánh, là đủ thấy đấy không phải cách làm của Thiên Chúa.  Thiên Chúa mà Chúa Giêsu thể hiện không hoành tráng đi vào thế giới, không sinh ra trong hoàng tộc với biết bao kỳ vọng và được công bố khắp nơi, không cùng cha mẹ xuất hiện trên khắp các mặt báo, không được cả thế giới trông chờ một tương lai vĩ đại và đầy ảnh hưởng, không có đặc quyền học cao và nằm trong nhóm những người quyền lực và uy thế.

Rõ ràng, quá rõ ràng, Chúa Giêsu không sinh ra như thế, và cuộc đời của Ngài cũng không như thế.  Như Kinh thánh chỉ rõ, Thiên Chúa hành động một cách vô danh hơn là nổi bật trên những trang nhất, Thiên Chúa hoạt động qua người nghèo hơn là người quyền thế, và qua những người ngoài rìa hơn là nhóm quyền lực.  Khi nhìn vào cách Thiên Chúa hành động, chúng ta thấy được, không phải ngẫu nhiên mà Chúa Giêsu sinh ra ở bên ngoài thành phố, và sau khi chịu tử nạn Ngài cũng được chôn bên ngoài thành phố.

Việc Thiên Chúa làm trong thế giới chúng ta thường không lên trang nhất các mặt báo.  Thiên Chúa không bao giờ đi vào thế giới hay đi vào lương tâm của chúng ta với kiểu hoành tráng đầy uy thế.  Thiên Chúa hành động kín đáo hơn, âm thầm chạm đến linh hồn, đến lương tâm, chạm đến những gì sâu trong lòng chúng ta đã từng được Ngài chạm đến từ rất xa xưa, nơi chúng ta vẫn vô thức lưu giữ một ký ức mơ hồ về việc mình được Thiên Chúa sáng tạo, chạm đến, nâng niu và yêu thương.  Vì thế mà Chúa Kitô sinh ra trong thế giới này trong hình hài một đứa trẻ chứ không phải một siêu sao, Ngài sinh ra với một sức mạnh duy nhất là chạm đến và làm êm dịu những tâm hồn quanh Ngài.  Trẻ em không mạnh hơn ai về mặt thể lý hay tri thức.  Trẻ em chỉ nằm đó, không có quyền lực, khóc để được yêu thương chăm sóc.  Thế mà, ngược đời thay, xét cho cùng, trẻ em lại mạnh hơn tất cả.  Không một sức mạnh thể lý hay trí thức nào, có thể chạm đến lương tâm con người cho bằng một em bé, một nét vô lực ngây thơ cũng phần nào có nơi một chú chim bị thương, một chú mèo bị bỏ rơi, một đứa trẻ đứng một mình khóc.  Bản tính thiện trong chúng ta được thổi bùng lên trước sự vô lực và ngây thơ.

Đấy chính là cách Thiên Chúa đến với chúng ta, thật nhẹ nhàng không huyên náo.  Không có kiểu hoành tráng.  Và đấy cũng là lý do Thiên Chúa thường bỏ qua những nhóm người quyền thế để ưu ái những người bị bỏ rơi và dễ bị tổn thương.  Chẳng hạn trong Tin Mừng, thánh Luca đã kể lại ơn Chúa đến với Gioan Tẩy giả thế nào.  Thánh Luca liệt kê tên mọi lãnh đạo nhà nước và tôn giáo thời đó (các quan lại La Mã, các vua Palestina và các thượng tế) rồi nói rõ rằng Lời Chúa bỏ qua họ mà đến với Gioan đang sống đơn độc trong hoang địa.  (Lc 3, 1-3) Theo Tin Mừng, hoang địa là nơi dễ tìm thấy và cảm nghiệm sự hiện diện của Chúa nhất, bởi Thiên Chúa thường bỏ qua các trung tâm quyền lực để tìm một nơi trong lòng những người không nằm trong các nhóm quyền thế đó.

Các bạn cũng có thể thấy điều này qua nhiều lần Đức Mẹ hiện ra, những lần đã được Giáo hội công nhận.  Có điểm chung nào giữa những lần hiện ra đó?  Đức Mẹ không bao giờ hiện ra cho một tổng thống, giáo hoàng, một lãnh đạo tôn giáo, một ông chủ ngân hàng ở Wall Street, người điều hành các công ty lớn, hay thậm chí là một nhà thần học.  Không một ai như thế.  Đức Mẹ hiện ra cho các trẻ em, cho một phụ nữ chẳng có quyền thế gì, cho một nông dân mù chữ, và cho nhiều người khác chẳng có địa vị nào.

Chúng ta có khuynh hướng xem sức mạnh nằm ở nơi tiềm lực tài chính, uy thế chính trị, tài năng lỗi lạc, ảnh hưởng truyền thông, sức mạnh thể chất, năng lực siêu phàm, nơi nhan sắc, sức khỏe, trí khôn và quyến rũ.  Nhìn qua thì thấy như vậy có vẻ đúng, và thật sự là những điều đó chẳng có gì là xấu.  Nhưng nhìn sâu hơn, như khi xem lại việc Chúa Kitô sinh hạ, chúng ta thấy được Lời Chúa bỏ qua những người quyền thế mà đến với tâm hồn của những người ngoài rìa thành phố.

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

Thánh Phanxicô Xavie Linh mục dòng Tên truyền giáo Tây-ba-nha (1506-1552)

Thánh Phanxicô Xavie Linh mục dòng Tên truyền giáo Tây-ba-nha (1506-1552)

Hôm nay 3/12 Giáo Hội mừng kính Thánh Phanxicô Xavie Linh mục dòng Tên truyền giáo Tây-ba-nha (1506-1552). Ngài được mệnh danh là Phaolô thế kỷ XVI. Mừng quan thầy đến những ai chọn thánh nhân làm quan thầy nhé.

Cha Vương

Thứ 7: 3/12/2022

1- Gia đình, quê quán: Phanxicô Xavier sinh ngày 7 tháng Tư năm 1506, tại Tây Ban Nha trong một gia đình quý tộc trong lãnh địa dòng Navarre . Cậu là em út của 6 anh chị lớn. Cha cậu là Juan de Jasso, cố vấn vua John III dòng Navarre. Khi Xavier lên 9 thì cha cậu chết. Lên 19 tuổi, Xavier đi học tại đại học Paris. Cậu lãnh Cử nhân văn chương. Tại đây anh chung phòng với Ignatiô Loyola . Ban đầu Phanxicô không thích Ignatiô, nhưng chính Ignatio nhận ra tài năng của Phanxicô: đó là con người nhiều tham vọng, có thể thành giáo sư giỏi, lãnh đạo tốt. Ignatio thay đổi cuộc đời Phanxicô khi nhắc lại lời Chúa Giêsu :” Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn nào có ích gì?” (Mt 16, 26). Trong một thời gian lâu, chàng chiến đấu với tư tưởng: chọn danh vọng thú vui ở đời, hay chọn hi sinh. Cuối cùng (năm 1540) nhóm 7 người liên kết lập Tu hội Chúa Giêsu (Society of Jesus, viết tắt là S.J)  để phục vụ giáo hội. Phanxicô thụ phong linh mục năm 1537, khi anh được 31 tuổi.

2- Làm linh mục và đi truyền giáo tại Ấn, Nhật: Ignatiô làm bề trên Tu hội, ông cử 2 người đi truyền giáo bên Ấn độ. Một trong hai đã ngã bệnh nặng, Phanxicô được cử đi thay. Trong 5 tháng vượt biển, Phanxicô luôn say sóng nằm mê man. Năm 1542, tại thành Goa nước Ấn, Phanxicô học tiếng để có thể dạy họ về giáo lý Chúa Kitô. Ngài dạy trẻ em trước rồi đến người nghèo, người bệnh, người bận rộn công việc, người trong tù.  Ông sống với người nghèo, chia sẻ đồ ăn, lều ở như họ. Ngài chinh phục được cả ngàn người trở lại đạo Chúa. Ông viết thư cho bề trên Ignatiô:

”Từ khi đến đây, tôi chẳng ngừng nghỉ lúc nào. Tôi rảo khắp các làng, rửa tội cho nhiều trẻ em…Khi tôi đến các làng ấy, trẻ em không để cho tôi đọc kinh nguyện, ăn uống, nghỉ ngơi, nếu tôi chưa dạy cho chúng một kinh cầu nguyện. Vì thế tôi hiểu tại sao nước trời lại là của những người giống như chúng”.

Một lần kia Phanxicô Xavier rửa tội cho một em nhỏ gần chết, con của một người Ấn Độ nghèo nàn.  Khi em nhỏ chết, thánh nhân liền bật khóc trong nỗi hân hoan với lời tạ ơn Chúa. Lấy làm lạ, người ta hỏi tại sao khi thân nhân em bé đau đớn khóc than thì ngài lại khóc vì vui quá như vậy.  Thánh nhân đáp:

– Nay tôi đã được đền đáp đủ cho mọi cuộc hành trình gian khổ  từ ngày tôi đến xứ này tới giờ.  Tôi đã gởi về  trời thêm một con trẻ để tôn vinh Chúa!

Năm 1548, Phanxicô vượt biển qua nước Nhật. Người Nhật giúp ngài làm nhà thờ, ngài dạy đạo và Rửa tội nhiều người trong đám họ.

Chúng ta biết được nhiều điều về người Nhật, nhờ những thư ngài viết về cho bề trên Ignatiô và anh em dòng. Ngài bận rộn, cô đơn, khó khăn. Trên tất cả, Phanxicô vui trong niềm vui tinh thần. Ngài thích cầu với Chúa lời này:” Xin ban cho con các linh hồn”.

3- Chết ở bờ biển nước Tàu: Mộng của ngài là tới Trung hoa, nước lớn nhất, để rao giảng Tin mừng. Sau những năm vất vả ở Nhật. Năm 1552, trên đường qua Trung hoa, ngài bị bệnh, thuỷ thủ cho ngài lên hòn đảo gần đấy để ngài có thể thấy được Trung hoa. Một người đánh cá gặp thấy ngài nằm gần chết trên bờ biển, đem ngài về lều.

Ngày 3 tháng 12 năm 1552, Phanxicô qua đời vì bệnh sốt rét lúc 46 tuổi. Ngài được chôn nơi đất lạ quê người, nhưng rồi Chúa thưởng công lớn cho ngài.  Phanxicô Xavier được ĐTC Gregoriô 15 nâng lên hiển thánh ngày 12 tháng 3 năm 1622, cùng lúc với Bề trên Ignatio Loyola. Giáo hội coi thánh Xavier như Bổn mạng các xứ truyền giáo. Nhiều quốc gia và trường học do các linh mục Dòng Tên điều khiển kính thánh Phanxicô như Bổn mạng của mình. (Nguồn: Dân Chúa)

Cha Barreto viết về Thánh Phanxicô Xaviê như sau: “Chân bước đi trên đất, miệng nói chuyện trên trời… hình như lúc nào cũng mỉm cười, nhưng lại cầm trí và thanh thoát đến nỗi có thể nói không bao giờ ngài cười.”

Nhờ lời chuyển cầu của Thánh Phanxicô Xaviê, xin cho miệng con luôn nói những chuyện trên trời. Amen.

Mời bạn suy niệm những câu danh ngôn của ngài nhé:

❦ Càng là bạn tốt của nhau chừng nào, anh em càng nói thẳng với nhau chừng nấy… (Thánh Phanxicô Xavier)

❦ Tất cả đau khổ phiền muộn là nguồn vui sướng cho tôi. (Thánh Phanxicô Xavier)

❦ Nếu bạn đang gặp nguy hiểm, nếu trái tim bạn đang bối rối, chạy đến Mẹ Maria! (Thánh Phanxicô Xavier)

Câu nào đánh động bạn nhất? Tại sao?

From: Đỗ Dzũng

Bakhmut đã phơi bày điểm yếu cốt tử của quân đội Nga

Bakhmut đã phơi bày điểm yếu cốt tử của quân đội Nga

Steve Strazer, nhà phân tích quân sự

Kim Văn Chính  lược dịch

2-12-2022

Quân đội Ukraine trên một chiếc xe tăng Nga đã được sửa chữa trong một khu rừng bên ngoài thành phố Kharkiv, Ukraine ngày 26-9-2022. Ảnh minh họa. Nguồn: Paula Bronstein/ Getty

Nỗ lực suốt 4 tháng qua của quân đội Nga để chiếm một thành phố không có tầm quan trọng chiến lược như Bakhmut mà không thành công, chứng tỏ tại sao Putin sẽ không thể chống lại được NATO.

Bakhmut là thành phố có 70.000 dân ở vùng Donetsk của Ukraine, nơi diễn ra một số cuộc giao tranh ác liệt nhất trong toàn bộ cuộc chiến. Kể từ đầu tháng 8 năm nay, các lực lượng Nga đã cố tấn công nhưng không thể chiếm được nó mặc dù có hàng chục cuộc tấn công hàng ngày.

Tưởng chừng thành phố này không có tầm quan trọng chiến lược nhưng Vladimir Putin vẫn coi đây là ưu tiên hàng đầu. Và nhìn vào Bakhmut trên bản đồ, thật dễ hiểu tại sao nó không có giá trị chiến lược. Nó không nằm gần bất kỳ tuyến đường thủy chính nào, không có cơ sở sản xuất và không tham gia vào bất kỳ hoạt động kinh tế lớn nào khác. Đó là một vùng nước tù đọng không có ý nghĩa thực sự về quân sự. Nó nằm gần nửa đường giữa các thành phố quan trọng chiến lược Donetsk và Luhansk, nhưng việc giành được nó sẽ không phải là yếu tố quyết định của thế trận toàn khu vực.

Vậy tại sao những nỗ lực kỳ lạ của Nga để chiếm giữ thành phố tầm thường này lại có thể dẫn đến kết luận quan trọng là Nga không thể chống lại NATO?

Đầu tiên, những nỗ lực chiếm thành phố, mặc dù có một số thành công tối thiểu trước kẻ thù đông hơn, cho thấy sự mất phương hướng trên diện rộng về người, thiết bị và vũ khí, và điều này đặc biệt đúng khi quân đội Nga đang gặp vấn đề nghiêm trọng về nguồn cung ứng.

Nó cũng cho thấy mức độ kém cỏi đáng kể của giới lãnh đạo quân sự Nga và bản thân Putin, đồng thời chỉ ra khả năng chiến lược của Nga đối với Ukraine có thể rất rời rạc, nếu không muốn nói là hoàn toàn rời rạc.

Thiết bị quân sự của Nga rất không hoàn hảo về nhiều mặt

Chiến tranh không chỉ giành chiến thắng nhờ hậu cần tuyệt vời, chiến thuật tốt và hỏa lực tuyệt đối, mà còn nhờ những nhà lãnh đạo giỏi, những người có thể cẩn thận vạch ra một chiến lược chiến thắng và thực hiện nó. NATO có tất cả. Và, với số lượng lớn để triển khai ở nhiều mặt trận.

Ngoài ra, NATO có vũ khí vượt trội về chất lượng, dù số lượng có thể nhỏ hơn, và điều này đã được các lực lượng Ukraine nhiều lần chứng minh thành công khi sử dụng thành công bộ vũ khí như vậy của NATO.

Một điều hiển nhiên ngay từ khi bắt đầu cuộc chiến, và trong suốt thời gian nó đang diễn ra, đó là thiết bị quân sự của Nga rất không hoàn hảo về nhiều mặt. Để so sánh, nhiều nền tảng vũ khí cũ của NATO cũng còn có công năng hơn vũ khí của Nga rất nhiều. Ví dụ, ngay cả xe tăng chiến đấu chủ lực M1 Abrams thế hệ đầu tiên 30 tuổi được trang bị pháo 120mm và đạn uranium nghèo (DU) cũng có thể dễ dàng đối đầu với các phiên bản nâng cấp mới nhất của xe tăng T-72 và T-80 cổ đại của Nga.

Chuẩn bị cho chiến đấu tốt cũng đóng một vai trò. Đây là những gì NATO đang cung cấp tích cực và thành công cho Ukraine. Ngược lại, chiến thuật và huấn luyện của quân đội Nga không có thay đổi đáng kể kể từ sau Chiến tranh Lạnh. Một điểm khác biệt quan trọng nữa là hầu hết các hệ thống vũ khí của Nga ngày nay đều được phát triển trong thời kỳ Xô Viết bởi các ủy ban hoạt động theo các kế hoạch 5 năm, rất chung chung, nặng về số lượng, chỉ chú ý đến việc đạt được các mục tiêu chính trị nhất định hơn là cung cấp cho các lực lượng vũ trang những công cụ tốt nhất có thể.

Một lý do là sự sụp đổ của Liên Xô đã làm gián đoạn nghiêm trọng nền kinh tế Nga và góp phần vào sự trỗi dậy của một tầng lớp đầu sỏ có xu hướng vơ vét ngân khố nhà nước nhằm giành lấy mọi thứ có thể. Tất nhiên, Nga hầu như không có cải cách rõ rệt trong việc nâng cấp hiện đại hóa các lực lượng vũ trang. Các vấn đề văn hóa và lỗi hệ thống lâu đời là một lời giải thích khác cho sự tụt hậu của ngành công nghiệp-quân sự Nga.

Thậm chí ngày nay, sơ đồ tài chính và hỗ trợ các dự án quân sự ở Nga vẫn còn nhiều vấn đề. Đây là lý do chính tại sao Nga vẫn không thể sản xuất bất kỳ số lượng đáng kể nào siêu xe tăng T-14 Armata mới của mình, mặc dù nó đã được phát triển trong khoảng một thập kỷ rồi.

Thế giới đã hoàn toàn thay đổi trong 40 năm qua, nhưng tư duy quân sự của người Nga vẫn bị mắc kẹt trong quá khứ. Đây là vấn đề chính của quân đội Nga. Nhà sử học quân sự người Mỹ Max Boot đã phân tích về lý do tại sao người Nga chiến đấu rất tệ.

Tôi có xu hướng quan tâm đến vấn đề hậu cần khi thảo luận về cuộc chiến ở Ukraine, mặc dù trên thực tế đây cũng là một chủ đề có tầm quan trọng đặc biệt. Ai cũng biết rằng quân đội Nga đang gặp phải những vấn đề hậu cần nghiêm trọng cản trở hoạt động chiến đấu và gây ra những hậu quả bất lợi. Và điều này cũng ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh với NATO ngay cả trong các hoạt động phòng thủ thuần túy.

Trên thực tế, các quốc gia NATO, mặc dù gần đây có tỏ ra yếu kém về quân sự, nhưng vẫn có hệ thống tiếp cận các hệ thống hậu cần tích hợp cao, ưu việt và một hệ thống sản xuất liên kết nhau để có thể sản xuất số lượng lớn vũ khí, đạn dược và làm được nhiều loại đạn dược khác sau một thời gian ngắn. Việc sử dụng các công nghệ sản xuất tiên tiến như CAD/CAM, gia công CNC, trí tuệ nhân tạo và in 3D đã được ứng dụng và góp sức rất tốt. Còn ở Nga, vẫn chưa có tiến bộ gì mấy trong các lĩnh vực này và đang ở thế bất lợi đáng kể về mặt này.

NATO cũng duy trì khả năng sử dụng các mạng lưới giao thông tuyệt vời. Do tính chất nhỏ gọn về mặt địa lý của Trung Âu, các mạng lưới đường bộ và đường sắt được tích hợp tốt này có thể đưa mọi thứ dự định đến tiền tuyến rất nhanh chóng.

Trong khi đó, Nga rất rộng lớn về lãnh thổ, và mất nhiều thời gian hơn để hàng hóa đến được chiến trường từ các nhà máy. Chưa nói hệ thống giao thông cũng bị ngăn cản do thiếu nguyên liệu thô và quản lý kém.

Cuối cùng, NATO có công nghệ thông tin tuyệt vời và tài nguyên thu thập thông tin tình báo mà người Nga thiếu.

Như vậy, việc Nga không có khả năng đánh bại NATO từ ví dụ Bakhmut phần nhiều là do công nghệ yếu kém và khả năng lãnh đạo yếu kém, cũng như năng lực quân sự cơ bản yếu.

Nguồn bản dịch:  baotiengdan.com

Hai cuốn sách, hai góc nhìn và một kết quả

Báo Tiếng Dân

Đỗ Ngà

2-12-2022

Cuốn sách “Tại sao các quốc gia thất bại” (Why nations fail?) của đồng tác giả Daron Acemoglu và James Robinson là một cuốn sách nói về lịch sử, kinh tế chính trị rất hay. Hai tác giả này cho rằng, nguyên nhân thất bại của một quốc gia không do địa lý, không do văn hóa v.v… mà là do thể chế chính trị. Bởi thể chế chính trị quyết định thể chế kinh tế quốc gia đó. Và đây là lý do quốc gia đấy giàu mạnh hay đói nghèo.

Hai vị giáo sư này phân biệt hai loại thể chế kinh tế rất rõ ràng, đó là thể chế kinh tế có tính dung nạp và thể chế kinh tế có tính bòn rút. Độc tài dù là loại độc đảng như Cộng sản hay độc tài cá nhân đều là loại thể chế chính trị ích kỷ, vì lợi ích của một cá nhân hay một nhóm người có cùng quyền lợi.

Kiểu thể chế kinh tế dung nạp khuyến khích mọi thành phần kinh tế, cho họ phát huy mọi tài năng cống hiến và quyền lực được chia sẻ, chứ không tập trung vào một thành phần doanh nghiệp có lợi thế, đặc biệt là lợi thế được quyền lực chính trị bảo kê như lợi ích nhóm của Việt Nam. Để có được thể chế kinh tế dung nạp thì nền tảng về thể chế chính trị phải tương xứng. Luật pháp phải bảo đảm tính công bằng và được thượng tôn.

Tại Việt Nam, Đảng Cộng Sản điên cuồng chống lại việc đa đảng, là một thứ chủ nghĩa ích kỷ. Vì ý đồ bòn rút trên đầu trên cổ dân tộc nên họ nhất quyết không chia sẻ quyền lực chính trị cho bất kỳ tổ chức chính trị nào khác. Tự ra Hiến pháp cho phép chỉ có mình mới đủ tư cách lãnh đạo đất nước.

Cái gọi là “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” là một loại thể chế kinh tế lai căng, nó muốn được phát triển như các nước tư bản nhưng lại cũng muốn bảo vệ lợi ích nhóm. Nhà nước giữ độc quyền các ngành mang tính thiết yếu tạo ra độc quyền nhà nước, buộc dân phải chấp nhận.

Trong Chính phủ có một “siêu ủy ban”, đó là Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, ủy ban này quản lý nguồn vốn đến 5 triệu tỷ đồng, tức khoảng 200 tỷ đô la Mỹ. Ủy ban này được lập ra để cho đảng luôn được bảo đảm phần hơn trong miếng bánh kinh tế đất nước, bất chấp nền kinh tế có bị ảnh hưởng tiêu cực thế nào.

Nhân đây tôi cũng nói về một quyển sách mà nếu ai quan tâm đến tâm linh cũng nên đọc. Đó là quyển Power vs Force của tác giả David R. Hawkins. Tựa tiếng Việt khá dài, đó là “Trường năng lượng và những nhân tố quyết định tinh thần, sức khỏe con người”. Quyển sách có hơi hướng tâm linh nhưng tâm linh được lý giải dưới góc độ khoa học. Khó có cuốn sách về tâm linh nào thuyết phục bằng cuốn sách này. Tác giả phân các tầng nhận thức của con người tương ứng với mức năng lượng khác nhau.

Ở khía cạnh phân loại tầng nhận thức theo mức năng lượng thì con người chứa “tham – sân – si” trong nhận thức thì được liệt ở mức năng lượng thấp, mức năng lượng phá hủy. Nói về bản thân con người thì ai cũng dễ dàng nhận thấy điều đó. Khó ai vứt bỏ được “tham – sân – si” nhưng ở mỗi con người, mức độ “đậm đặc” của “tham – sân – si” là hoàn toàn khác nhau do mức tu tập hoặc mức giáo dục đạo đức khác nhau. Càng có giáo dục thì mức “tham – sân – si” càng thấp (giáo dục khác với học vấn, học vấn cao chưa chắc gì có giáo dục), chính vì thế mức năng lượng của họ cũng khác nhau.

****

Nói về xã hội Việt Nam thì tôi có thể dùng một từ là “kinh khủng”. Ở xã hội chúng ta không hề có lòng tin, con người lừa gạt nhau mà sống, trộm cướp khắp nơi. Trên từng mét vuông đều có thể bị cướp giật. Kẻ thấp kém thì cướp giật hay lừa đảo bất kỳ món đồ nào có thể quy đổi ra tiền được dù  giá trị thấp. Tầng trên, những đại gia nhìn vẻ bề ngoài đạo mạo, đáng kính, nhiều tiền và hay lên tiếng dạy đời thiên hạ thì té ra không ít trong đó lại là những tên siêu lừa thất đức.

Ở xã hội Việt Nam, con người sống vô cảm, chỉ biết quan tâm tới mình còn quyền lợi người khác thì mặc kệ v.v… Những gì đang diễn ra như thế, cho thấy tầng năng lượng của quốc gia chúng ta rất thấp. Ở xã hội Việt Nam, mùi “tham – sân – si” nồng nặc, mà “tham – sân – si” càng đậm đặc thì xã hội càng bất an.

Có thể nói rằng tầng năng lượng của Việt Nam là thước đo cho nguyên khí quốc gia. Nguyên khí quốc gia bị phá hủy và bị kìm hãm bởi một con người tự xưng “đi tìm đường cứu nước”. Đảng Cộng sản chính là là thủ phạm làm cho nguyên khí quốc gia bị kìm giữ ở mức thấp, chứ không ai khác. Điều thực tế ai cũng có thể nhận ra, đó là quốc gia càng giàu thì xã hội càng nhân bản chứ không phải “càng giàu càng xấu xa” như tư tưởng đấu tranh giai cấp của Cộng sản được tuyên truyền bao năm qua.

Ở hai cuốn sách, khi đọc, nó cho tôi cái nhìn đất nước Việt Nam ở hai góc độ khác nhau. Cuốn sách đầu cho tôi cái nhìn lý tính, cái nhìn logic. Cuốn thứ nhì giúp tôi nhìn đất nước mình dưới góc độ tâm linh. Dù cho ở góc độ nào thì nó đều dẫn đến một kết quả như nhau. Đó là đất nước nát, nát từ kinh tế chính trị đến nát về xã hội. Rất khó để nước ta bước ra khỏi vùng tối u ám với tình trạng năng lượng cực thấp như thế này.

Có lẽ, mỗi người cần đọc, cần lắng nghe để sửa mình nhằm cải thiện mức năng lượng cho bản thân là khả năng dễ thực hiện hơn. Nếu tích đủ lượng thì chất ắt sẽ tự biến đổi.

HỒN SỎI ĐÁ…- Song Như

Kimtrong Lam SONG NHƯ  LVC HỒN SỎI ĐÁ… Đêm nghe sỏi đá tự tình Giấu trong bóng nguyệt u minh biển sầu Người thương nay đã về đâu Cô đơn trống vắng biển sâu rì rào Nhớ xưa thuở ấy ngọt ngào Trăng nghiêng ghềnh đá trăng vào đáy tim Bây giờ trăng muộn vẫn tìm Người đi biền biệt như chim bạt ngàn Bờ khô sỏi đá ngổn ngang Ta nghe thương nhớ ngập tràn lối sang Lăn tăn sóng gợn vội vàng Dã tràng se cát dưới hàng phi lao Tình yêu còn đó hư hao Mà sao yêu mãi mà sao lỡ làng… Liverpool. 1-12-2022. Song Như

LỜI CẢM ƠN MUỘN MÀNG – Việt phương

Viet Phuong LỜI CẢM ƠN MUỘN MÀNG Việt phương Tôi đặt chân đến phi trường Dallas/ Fort Worth vào cuối thu. Cái lạnh khiến tôi tỉnh táo người hơn, khi buổi sáng phải bị thức dậy sớm ở Los Angeles để kịp chuyến bay về Dallas như trong lịch trình. Thành phố Dallas nhìn từ trên cao khi trời đang ren rén vào đông, thật buồn. Những thảm cỏ ngút ngàn đã đổi thành màu da bò trông lành lạnh. Ra đón tôi là người anh cả cùng chị dâu tôi. Anh chị trẻ và đẹp hơn những tấm hình đã gửi về. Trong cái dè dặt ôm anh, tôi thấy cả một bầu trời yêu thương. May quá, tôi không đến nỗi bơ vơ trên xứ người. Tuần lễ đầu tiên, anh tôi tập cho tôi lái xe, đi thi lấy bằng viết, rồi bằng lái. Tôi còn trẻ nên việc “tiếp thu” cũng không đến nỗi chậm chạp. Sau một tuần là tôi đã có được bằng lái xe tạm để đi làm. Anh chị tôi cho tôi mượn chiếc xe Oldsmobile đời 1975 màu hoàng đồng, cũ và thô kệch như một chiếc xe tăng. Anh tôi dẫn tôi xin việc trong một hãng tiện. Tôi được nhận vào làm ngay. Hôm sau, một mình tôi lái xe đi làm. Vì ra lộn exit, bị lạc đến nửa ngày. Rồi lại mò về nhà. Lạc đường muốn khóc. Tôi ngồi trên xe mà như ngồi trên ổ kiến lửa. Tôi chạy vòng quanh. Trời ơi, đường xá gì mà như màng nhện. Xe cộ chạy ào ào như thác lũ. Kinh hãi quá! Tôi lại bị cuốn trong dòng thác ấy, không biết đường nào ra. Về tới nhà. Anh tôi an ủi tôi. Chú chạy được về nhà là giỏi lắm rồi. Ngày hôm sau, đích thân anh dẫn tôi vào nói chuyện với superintendent, xin cho tôi được tiếp tục làm việc. Bắt đầu mùa học, anh tôi dẫn tôi vào trường làm thủ tục ghi danh. Anh chỉ cho tôi môn học nào cần lấy trước. Những bước đầu tiên chập chững ấy, đều có anh tôi nâng đỡ, lo lắng. Anh như người cha. Bởi anh là anh cả, trong khi tôi thua anh đúng 10 tuổi và ở vào hàng thứ năm. Anh nghiêm trang, ít đùa giỡn; hơn nữa khoảng cách tuổi tác khiến tôi không gần gũi anh như một người bạn. Có thể tâm sự với anh những điều tôi suy nghĩ trong đầu. Tuy nhiên, tình cảm anh dành cho các em và gia đình lúc nào cũng tràn đầy, lai láng. Chúng tôi hiểu điều ấy. Tôn trọng, và yêu thương anh cũng từ điều ấy. **** Mùa lễ Thanksgiving đầu tiên, tôi được hãng thưởng cho một con gà tây nặng cỡ 20 lbs. Tôi hớn hở mang con gà tây về nhà. Anh tôi cười: “Con gà tây nặng sấp sỉ bằng chú rồi đó.” Tôi cười, vì mới từ đảo qua, vẫn còn da bọc xương: “Không biết mình làm gì với con gà bự khủng khiếp này?” “Chú đừng lo. Anh sẽ chế biến ra món ngon chú chưa từng được ăn bao giờ.” Thế là tôi giúp anh tôi “xả đá” con gà. Trước tiên, anh bảo tôi bỏ gà vào trong nước lạnh, cứ 30 phút là thay nước một lần cho đến khi gà rả hết đá, da thịt đã mềm. Rồi anh ngâm gà trong nước muối, để cách đêm. Hôm sau, anh mang gà ra khỏi tủ lạnh, anh bóp gà với ít muối tiêu, sau đó anh lấy cọ phết nước bơ chung quanh con gà, anh nói làm cách này da gà sẽ trở thành màu vàng nâu rất đẹp sau khi nướng. Anh lấy chanh cắt thành tám cho vào bụng gà, và sau đó cho thêm gia vị ground spices chà sát vào da gà. Anh gọi đó là massage cho thịt gà được mềm. Anh đổ 2 cups nước cốt gà vào khay, xong đặt gà vào, anh để con gà nằm ngửa. Tênh hênh. Trần truồng. Đút gà vào oven, anh vặn lửa lên 350 độ F, mỗi 45 phút, anh mang gà ra khỏi lò nướng, lấy nước juices từ gà tiết ra dội lại khắp hết con gà cho đều, rồi bỏ vào nướng tiếp. 45 phút sau cùng anh mang gà ra lần cuối, bôi thêm bơ đã được làm tan chảy vào thân gà một lần nữa. Lần này anh nói để da gà giòn hơn, và sẽ đổi thành màu golden brown rất đẹp và hấp dẫn. Anh nướng gà tới 4 tiếng đồng hồ, thật công phu. Anh lấy cây nhiệt độ kế đâm vào ức gà để đo nhiệt độ. Khi thấy nhiệt độ thân gà cỡ 165 độ F, anh bảo gà đã chín rồi. Anh mang gà ra khỏi lò nướng, Cầm gà chúc xuống, cho nước trong con gà chảy ra hết xuống khay, anh dùng nước gà này để làm nước sốt (gravy) ăn với khoai tây nghiền. Sau đó, anh đặt con gà vào một khay khác, lấy aluminum foil bọc lại. Đêm Thanksgiving năm ấy. Trên bàn đã được chị dâu bày biện mỹ thuật: nào là khoai tây nghiền trắng với nước gravy nâu lóng lánh chút bơ và mỡ gà tây, nào là mứt cranberry đỏ tươi trên đĩa men sứ trắng, rồi bánh bí đỏ, bánh mì Pháp, chính giữa là con gà tây màu da vàng rượm nằm khiêu khích tuyến nước miếng của tôi. Tất cả những món ăn trước đó tôi chưa bao giờ được dùng tới. Chị dâu tôi còn cẩn thận làm thêm mấy món Việt Nam cho tôi nhỡ tôi ăn không được thức ăn Mỹ. Tôi nghĩ tới đồng bào ở Việt Nam lúc bấy giờ đang sống trong giai đoạn “quá độ”, vẫn còn ăn cơm độn khoai mỗi ngày. Tôi nói với anh tôi: “Lãng phí quá. Chỉ một con gà và bàn tiệc như thế này ở Việt Nam làm đám giỗ, chắc ăn tới cả làng.” Ba chúng tôi cùng cười vui vẻ. Vâng, chỉ ba người chúng tôi cũng có được một đêm thật ấm cúng gia đình bên con gà tây vàng rượm, nhớ đời. **** Để tiện cho công việc học hành, tôi dọn vào ở chung với các bạn cùng trường. Tôi không còn ở với anh chị tôi nữa. Nhưng cứ đến mỗi Thanksgiving, tôi lại nhớ đến anh tôi, đến con gà tây anh làm cho tôi dạo nào. Ngày tháng cứ vun vút trôi. Anh em chúng tôi không gặp nhau thường xuyên lắm, nhưng trong tâm tôi, anh lúc nào cũng chiếm một vị trí quan trọng. Tôi chưa bao giờ nói với anh tiếng cảm ơn mà nước Mỹ đã dạy cho tôi trên đầu môi. Tại sao hai chữ Thank you tôi nói quá dễ dàng trong mỗi xã giao hàng ngày. Nhưng đối với anh tôi, hai chữ cảm ơn lại khó thoát ra khỏi cổ họng đến dường ấy. Với tôi, hai chữ cảm ơn như một sáo ngữ khi nói với anh tôi. Tôi thương anh tôi, nó nằm ở trong tim tôi, chứ không phải ở đầu môi. Tôi nghĩ thế. Nhưng liệu anh tôi có biết là tôi thương anh tôi đến chừng nào? Những cuốn Tuổi Hoa, Thằng Bờm anh đã mua cho tôi từ dạo bé, tôi không bao giờ quên. Những cuốn sách đã dẫn tôi tập tễnh bước vào thế giới văn chương, trong đó công anh hai tôi không phải là nhỏ. Thế nhưng tôi chưa bao giờ nói với anh hai tiếng cảm ơn. Tôi coi như đó là bổn phận của anh tôi. **** Ngày anh hai báo cho tôi biết anh bị ung thư lá lách, tôi không thể nào tin được. Nhìn anh vẫn còn mạnh khỏe, da dẻ vẫn hồng hào. Tôi hy vọng đó chỉ là giả thuyết của bác sĩ mà thôi. Rồi anh đi mổ. Tôi đến bệnh viện thăm anh, anh nói với tôi giọng rất lạc quan: “May quá, bác sĩ phát hiện sớm, nên cục u đã được cắt bỏ.” Tôi hỏi nguyên nhân bệnh ung thư của anh, anh nói bác sĩ bảo đó là di hại của chất độc da cam. Phải rồi! Năm 1968 gia đình tôi di cư từ Huế vào Nha Trang. Anh tôi phải ở lại Huế để học xong tú tài toàn phần. Thời gian này, anh đã bị nhiễm chất độc da cam. Anh bảo tôi thế. Anh đã cùng sinh viên, học sinh đi đến những làng mạc xa xôi để cứu trợ. Và, tôi tin anh. Tôi tin bác sĩ. Cục u đã được cắt bỏ. Không thấy phát triển thêm. Anh xuất viện, an tâm đi làm lại. Nhưng sự thật không dễ dàng như thế. Vài tháng sau lại nghe tin anh phải chấp nhận làm Chemotherapy. Tóc anh đã bắt đầu rụng, da anh không còn hồng hào như xưa. Nhưng anh vẫn lạc quan. Không sao cả. Tình hình không trở nên tồi tệ đâu chú ạ. Đó là lời anh an ủi tôi, thay vì tôi phải nói với anh. **** Tôi nghe anh ngày mai phải đi bệnh viện để mổ, liền gọi cho anh. Anh nói chú đừng lo. Chỉ đến để cắt cục u nhỏ như trước thôi, đây là tiểu phẫu, không thành vấn đề đâu. Tôi nghe xong thở phào nhẹ nhõm. Anh làm em lo quá. Không sao đâu chú, ngày mai chú không cần đến bệnh viện đâu. Cứ đi làm như thường lệ nhé. Bác sĩ bảo bệnh tình anh đã được ổn định, có thể sống thêm nhiều năm nữa. Anh cười. Tiếng cười anh vẫn rõ đầu dây, không có dấu hiệu mệt mỏi. Tôi yên tâm gác máy. Hôm sau, chị dâu tôi hốt hoảng gọi tôi. Tôi vội vàng phóng xe vào bệnh viện. Anh tôi đang nằm trong phòng cấp cứu. Tôi nói chuyện với bác sĩ. Anh tôi trong lúc giải phẫu, đã bị vỡ mạch máu. Máu chảy ngược lên não làm não bị hư hại trầm trọng. Tôi nói đây không phải là cuộc giải phẫu lớn, chỉ cắt bỏ cục u như đã làm lần trước, thế thôi. Sao lại để sự việc xảy ra như thế này? Bác sĩ bảo “chúng tôi” đã theo đúng “procedure”. Rồi làm ra vẻ bận rộn, ông quay lưng, vội vã bước đi. Tôi đứng bên giường bệnh. Anh tôi nằm mang ống dưỡng khí. Tôi nghĩ anh tôi đang chiến đấu với cơn đau dữ dội. Bác sĩ bảo luật Texas, không được tháo ống dưỡng khí nếu bệnh nhân còn một chút hơi thở. Tôi nhìn anh, đau đớn. Không nói nên lời. Chết lặng. Rồi anh trút hơi thở cuối cùng. Trước khi anh đi, tôi không hiểu sao, một người nằm bất động đã mấy ngày, bỗng nhiên giơ tay cao, nắm lấy bàn tay tôi rất chặt. Anh có rất nhiều điều muốn nói với tôi. Cái nắm tay của anh. Như luồng điện chạy qua tay tôi, dẫn vào tim, làm tim tôi co thắt. Tê liệt. Cái nắm tay truyền ngàn lời muốn nói. Tôi hiểu. Tôi cam đoan tôi hiểu anh muốn nói điều gì. Tôi khóc như mưa. Bàn tay anh xiết chặt. Bàn tay làm nhói đau tim tôi. Rồi tay anh nới lỏng ra. Rơi xuống giường.Tuyệt vọng. Tôi khóc. Tôi vẫn chưa có cơ hội nói hai tiếng cảm ơn với anh. Tối hôm đó, tôi và hai người chị ruột của tôi (một người từ Hòa Lan sang, và một người theo chồng sang Mỹ diện H.O.) được một bác sĩ trực mời vào phòng riêng. Ông bảo nhỏ, đây là sơ suất của bác sĩ trong lúc giải phẫu. Tôi bàn với hai chị tôi, nên làm sáng tỏ vấn đề. Nhưng hai chị tôi cản. Hãy để cho anh ấy ra đi bình an. Mấy người đồng nghiệp Mỹ trong sở tôi (có người đã từng tham chiến ở Việt Nam) cũng khuyên tôi nên “kiện” bệnh viện. Hơn nữa, chính phủ Hoa Kỳ đã nói họ chịu trách nhiệm về những di hại của chất độc da cam mà họ đã sử dụng trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Chị tôi bảo người chết thì hết. Đừng làm anh tôi phải chết thêm lần nữa, về những cuộc khảo nghiệm không cần thiết. Hãy để cho anh thanh thản ra đi. Ngày đưa tiễn anh đi, tôi đọc điếu văn. Không hiểu sao, trong bài điếu văn ấy cũng không có hai tiếng cảm ơn anh. **** Mùa Lễ Tạ Ơn, đối với tôi có những ý nghĩa thật sâu sắc. Từ món gà tây đút lò anh tôi đã dạy cho tôi. Và bữa tiệc Tạ Ơn đầu tiên trên đất Hoa Kỳ, bên người anh vì cuộc chiến đã không được chung sống cùng nhau 14 năm, từ năm 1968. Khi anh ở lại Huế một mình. Rồi lại qua Mỹ một mình sau biến cố 1975. Lễ Tạ Ơn đối với người Việt tị nạn cũng là lễ Tạ Ơn Chúa Trời đã cho chúng ta được sống sót trên những chiếc thuyền mỏng manh để đến xứ sở này. Như ngày xưa, ở những năm đầu thế kỷ 17 (tháng 11, 1620). Người dân Pilgrims vì bảo vệ tôn giáo đã vượt thoát từ Anh Quốc trên đường đi tìm Tân Thế Giới. Họ đến bãi Cape Cod nay thuộc tiểu bang Massachusetts bằng chiếc thuyền Mayflower. Mùa đông năm ấy, vì không chịu đựng được cái giá lạnh trên xứ lạ, một nửa số người trên chiếc thuyền Mayflower đã chết. Họ được Thổ dân da đỏ dạy cho cách săn bắn, trồng trọt. Và đúng một năm sau, gặt hái được mùa, họ mời Thổ dân da đỏ đến và tổ chức lễ Tạ Ơn đầu tiên năm 1621. Chúng ta được thừa hưởng một ngày lễ thật ý nghĩa của dân tộc Pilgrims. Cảm ơn dân tộc Pilgrims. Cảm ơn Thổ dân da đỏ. Cảm ơn bố mẹ đã sinh ra, nuôi lớn và dạy dỗ yêu thương tôi. Cảm ơn bạn bè, thầy cô. Cảm ơn Việt Nam, đất nước tôi đã được sinh ra. Cảm ơn anh chị em đã cùng tôi lớn lên trong một gia đình đông đúc. Cảm ơn anh tôi đã bảo trợ cho tôi qua Mỹ từ trại tị nạn Hongkong, dắt tôi đến trường khi tôi ngu ngơ như cậu bé của Thanh Tịnh trong sách giáo khoa ngày xưa. Cảm ơn chị dâu tôi đã cho tôi sống trong gia đình chị những tháng ngày mới đến Mỹ định cư. Cảm ơn chị đã san sẻ tình thương của anh cho tôi. Cảm ơn anh hai, chị ba tôi đã cùng tôi vượt qua đau khổ bên này đại dương, khi nghe tin bố tôi mất ở quê nhà. Cảm ơn hai người chị của tôi đã có mặt cùng tôi, chia sẻ đau buồn trong những ngày anh hai tôi hấp hối ở bệnh viện. Cảm ơn vợ con đã ở cạnh kề mỗi ngày, cho tôi mái ấm gia đình và những nụ cười hạnh phúc. Cảm ơn những người bạn cùng sở dù đôi lúc có những đấu tranh ngấm ngầm vì miếng cơm. Cảm ơn đất nước Hoa Kỳ đã cưu mang, đã cho tôi tiền học phí để tiếp tục học hành. Cảm ơn đồng bào Việt Nam đã cùng chung tiếng nói. Cảm ơn những người bản xứ chung quanh đã sống tử tế với tôi. Đây không phải là ngày lễ Tạ ơn của bất cứ tôn giáo hay tín ngưỡng nào. Nó đã trở thành ngày lễ Tạ Ơn chung cho tất cả mọi người ở Mỹ và Canada (dù khác ngày). Tôi hy vọng đây sẽ là một ngày Lễ Tạ Ơn cho tất cả mọi người trên toàn thế giới. Cùng đến với nhau một ngày. Môt ngày gần nhau như con chuột và bàn phím cùng thế giới cận kề yêu thương, hòa bình trên mỗi monitor. Chúng ta có quá nhiều bài học yêu thương. Hãy học để biết yêu thương người khác. Sống tử tế với người khác. Chỉ có trái tim hòa ái, mới có thể sống tử tế với mình và với người. Tôi là người Phật giáo, mùa lễ Tạ Ơn, tôi lại nhớ đến câu chuyện: Một người nghèo hỏi Đức Phật: “Tại sao con nghèo như thế?” Phật nói: “Vì con chưa học được cách bố thí cho người khác.” Người ấy nói: “Con không có thứ gì cả, thì lấy gì con bố thí.” Đức Phật dạy: “Cho dù con hoàn toàn không có cái gì, con vẫn có thể thực hiện bố thí 7 điều này”:
  1. Nhan thí – Bố thí nụ cười.
  2. Ngôn thí – Bố thí ái ngữ, nói lời hay.
  3. Tâm thí – Bố thí tâm hòa ái, lòng biết ơn.
  4. Nhãn thí – Bố thí ánh mắt nhìn thẳng hiền từ.
  5. Thân thí – Bố thí hành động nhân ái.
  6. Tọa thí – Bố thí nhường chỗ cho người cần.
  7. Phòng thí – Bố thí lòng bao dung.
Tôi, lòng trần, mắt thịt. Học và thực hành được 7 điều trên không phải là chuyện dễ. Nhưng trước mắt. Tôi nhủ lòng. Hãy đối xử tốt với người bên cạnh mình. Hãy nói cảm ơn trước khi mọi việc đã quá muộn màng. Mùa Lễ Tạ Ơn năm nay, tôi viết bài này như một lời cảm ơn mà tôi đã “nợ” của anh tôi. Lời cảm ơn chưa nói như thứ mặc cảm tội lỗi đã theo tôi một chặng đường dài gần 20 năm, từ khi anh mất. Cảm ơn anh. Anh hai của em. Tôi biết anh tôi không cần tôi cảm ơn. Nhưng lần này tôi vẫn nói. Và, xin lỗi anh vì lời cảm ơn đã quá muộn màng. VP

NGUỒN SÁNG ĐÁNG ĐỢI TRÔNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

NGUỒN SÁNG ĐÁNG ĐỢI TRÔNG Lm. Minh Anh, Tgp. Huế Thứ Sáu Tuần I – Mùa Vọng “Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi!”. Một đan sĩ qua đời, người ta đọc được những lời này trong nhật ký, “Trong Chúa Kitô, chúng ta có: “Một tình yêu không bao giờ hiểu thấu; một cuộc sống không bao giờ chết; một lẽ thật không bao giờ nghi nan; một bình an không bao giờ mất; một chốn an nghỉ không bao giờ bị quấy rầy; một niềm vui không bao giờ vơi; một hy vọng không bao giờ tắt; một vinh quang không bao giờ lu mờ; một sự thanh khiết không bao giờ vấy bẩn; một vẻ đẹp không bao giờ tàn phai; một sự khôn ngoan không bao giờ bối rối; một tài nguyên không bao giờ cạn kiệt; một hải đăng không bao giờ bị che khuất. Chúa Kitô là nguồn sáng, một ‘nguồn sáng đáng đợi trông!’”. Kính thưa Anh Chị em, “Chúa Kitô là nguồn sáng, một ‘nguồn sáng đáng đợi trông!’”. Ý tưởng của vị đan sĩ được gặp lại qua Lời Chúa hôm nay, khi chúng ta bước vào những ngày tối nhất của đông, khi đêm dài hơn và ngày ngắn lại, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng; khi cuộc chiến Ukraine đang phủ khắp năm châu một tấm màn ảm đạm, thì Lời Chúa nêu bật chủ đề ánh sáng, Chúa Kitô, ‘nguồn sáng đáng đợi trông!’. Thánh Vịnh đáp ca xác tín, “Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi!”. Bài đọc thứ nhất hứa hẹn một tương lai tràn đầy hy vọng. Isaia trình bày kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa dưới dạng những sự kiện khó có thể xảy ra trong những những ngày tăm tối, “Núi Ly Băng sẽ lại thành vườn cây ăn trái, và vườn cây ăn trái sẽ sum sê như một cánh rừng”. Nhưng đáng chú ý hơn cả là người điếc sẽ được nghe, người mù sẽ được thấy. Người thấp cổ bé miệng, không có quyền lực hay ảnh hưởng, sẽ tìm thấy niềm vui tươi mới trong Thiên Chúa; và người thiếu thốn nhất sẽ mừng vui trong Ngài, ‘nguồn sáng đáng đợi trông’ của họ. Những gì Isaia tuyên sấm, nay ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu. Tin Mừng tường thuật việc Chúa Giêsu chữa cho hai người mù; Ngài đưa họ từ u minh ra ánh sáng, từ tăm tối ra ánh quang. Tuy nhiên, để có thể chữa họ, Ngài yêu cầu họ trả lời một điều, “Các anh có tin là tôi làm được điều ấy không?”. Họ đáp, “Thưa Ngài, chúng tôi tin!”. Trước khi chữa cho họ chứng mù loà thể lý, Ngài mời họ hãy có cho mình một cái nhìn đức tin. Đây là một cái nhìn hết sức căn bản: nhận ra Chúa Giêsu là Đấng mà qua Ngài, Thiên Chúa đang hành động một cách mạnh mẽ trong thế giới! Chính thị lực đức tin của hai người mù, tức khả năng nhìn thấy Giêsu, Con Thiên Chúa, là ‘nguồn sáng đáng đợi trông’ của họ, mà nhờ đó, Ngài đã có thể trả lại cho họ tầm nhìn thể chất. Anh Chị em, “Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi!”. Chớ gì suốt cả cuộc đời, mỗi chúng ta vẫn có thể cậy trông Thiên Chúa cách bền bỉ. Thật an ủi, khi chúng ta già đi, tầm nhìn thể chất có thể sa sút, thì tầm nhìn đức tin lại có thể trở nên sâu sắc hơn. Quá trình lão hoá có thể có một tác động ngược so với tầm nhìn đức tin. Chúng ta có thể khó khăn khi nhìn xem mọi sự thế gian vì thị lực xấu đi nhưng lại dễ dàng quan chiêm Thiên Chúa, ‘nguồn sáng đáng đợi trông’ sau một đời theo Ngài. Chỉ cần nghĩ đến những nhân vật vĩ đại trong các chương đầu của Phúc Âm Luca! Đó là cụ già Simêon và Anna. Phaolô cũng đã nói đến điều này trong thư Côrintô, “Dù con người bên ngoài có tiêu tan đi, thì con người bên trong của chúng ta vẫn ngày càng đổi mới”. Vậy mà, suốt cuộc đời mỗi người, Chúa Giêsu không ngừng đặt cho bạn và tôi câu hỏi Ngài đã đặt cho hai người mù, “Con có tin không?”. Và mỗi lần được hỏi, chúng ta lại có cơ hội để trả lời ‘Có’ một cách vang dội hơn, thừa nhận Ngài là ‘nguồn sáng đáng đợi trông’ của mình! Chúng ta có thể cầu nguyện, “Lạy Chúa, đừng để con chạy theo những ảo ảnh phù hoa; một chỉ dõi mắt theo Ngài, ‘nguồn sáng đáng đợi trông’ của con, một nguồn sáng ban ơn cứu độ đời đời!”, Amen. Lm. Minh Anh, Tgp. Huế From: Kim Bang Nguyen

Nhà Giáo: – Ai Cho Tôi Lương Thiện – Thái Hạo

Van Pham

NGÀY NHÀ GIÁO MỚI TỔ CHỨC CÁCH NAY ĐÚNG 10 NGÀY ĐỂ RỒI TRỞ THÀNH “NGÀY MẤT DẠY” **** Nhà Giáo: – Ai Cho Tôi Lương Thiện Thái Hạo Tôi chính thức bước chân vào nghề giáo từ năm 2013, đến năm 2020 thì bước ra, có lẽ là mãi mãi, trong khoảng thời gian ấy có bị gián đoạn vài lần, vì bỏ việc. Nhưng ở đây, tôi không muốn nói về câu chuyện của mình, mà là chuyện của những đồng nghiệp tôi. Đi dạy được vài năm, trường thiếu giáo viên, đúng hơn là thiếu giáo viên giỏi, vì đó là trường chuyên. Tôi lục lại trong trí nhớ và hỏi han tìm kiếm. Cuối cùng cũng tìm lại được một người bạn vong niên học trước tôi mấy khóa, thông minh, giỏi giang. Lúc ấy, anh đang dạy tại thành phố Biên Hòa, đã vợ con và có cuộc sống yên ổn như bao người. Tôi dùng biết bao nhiêu lý lẽ về việc cùng nhau “làm một cái gì đó” cho thế hệ trẻ, cuối cùng anh đồng ý, bỏ thành phố mang theo vợ con lên vùng thị xã miền cao để cùng nhau thực hiện một “cuộc cách mạng”. Hơn 1 năm sau, tôi bỏ việc trước, anh bỏ sau. Lại dắt díu vợ con trở lại Biên Hòa. Tôi ở nhà 2 năm thì hiệu trưởng cũ gọi, nói “Mày quay lại giúp tao một chuyến”. Tôi ra điều kiện, rằng tôi phải được tự chủ về chuyên môn cho cả tổ và phải được quyền tuyển người. Đồng ý. Thế là lại hăm hở, lập kế hoạch đổi mới, xây dựng chương trình, thay đổi phương pháp… Lúc đó chương trình 2018 cũng sắp được ban hành… Tôi tìm được một người bạn học khác, một kẻ say mê văn chương và nghiêm cẩn trong công việc. Ông thầy giáo này cũng từng đi dạy và đã bỏ dạy, hiện đang đi làm một công việc chẳng liên quan gì. Nghe lời ngon ngọt của tôi, anh ấy khăn gói từ thành phố lên. Nhưng giáo viên vẫn còn thiếu, vì dường như năm nào cũng có người bỏ việc, tôi liên hệ khắp nơi, cuối cùng cầu cứu thầy tôi, hiện là trưởng khoa của một đại học lớn. Thầy nói có 2 bạn này, tốt lắm. Hai thầy giáo tương lai ấy từ Huế lên đường vào Nam. Ngay sau ngày đầu tiên vào trường, một người đã không bao giờ quay lại nữa. Bạn ấy nói, “Có lẽ em không hợp”. May là một người đã ở lại cùng chúng tôi, với thư viện sách của cậu ấy. Mấy ngày trước, ngồi lướt FaceBook thấy người bạn “say mê văn chương” kia đăng hình đang ở sân bay, nơi đến là Nhật Bản. Đi xuất khẩu lao động. Còn cậu giáo viên trẻ từ Huế vào thì cũng đã xuống Sài Gòn 2 năm rồi, từ giã nghề giáo, cũng có lẽ là vĩnh viễn. Hai hôm trước tôi gặp lại người bạn vong niên, người đầu tiên đã bỏ việc ở Biên Hòa đến với chúng tôi. Anh nói, hết năm nay anh nghỉ, kiên trì đến bây giờ là quá đáng lắm rồi. Hết năm mới nghỉ được vì đã trót hứa với ông giám đốc. Mình đã làm một công việc vô nghĩa quá lâu, chỉ nhồi nhét để thi. Thương học trò lắm nhưng trong cái hệ thống vận hành kiểu này của giáo dục thì không còn lựa chọn nào khác. Không thay đổi được nó thì đành phải dứt mình ra thôi. Tôi hỏi anh, vậy anh làm gì để sống; anh bảo làm gì chẳng được, có khi còn dễ sống hơn là đi dạy. Vậy là những người đồng nghiệp mà tôi “cầu hiền”, đến nay tất cả đã rời bỏ giáo dục. Không ai còn có ý quay lại con đường ấy. Họ nói với tôi rằng, lên lớp là thợ dạy, ở trường là culi; vừa bị người ta coi thường, vừa kiếm cơm một cách cay đắng. Họ là những người hiếm hoi còn đọc sách trong những giáo viên mà tôi biết, và còn có tủ sách. Họ yêu nghề, yêu văn chương. Là thầy cô giáo nhưng họ làm thơ, viết truyện đăng báo, xuất bản sách; họ suy tư và trăn trở, họ đau nhức với nghề nghiệp. Và chính họ lại là những người rời khỏi giáo dục sớm nhất. Tôi phải đứng nhìn những người đồng nghiệp giỏi giang và có nhân cách lần lượt ra đi. Mà không chỉ bạn tôi, lâu lâu lại nghe tin một người mà mình từng biết và tôn trọng nghỉ việc. Tôi tự hỏi, giáo dục sẽ còn ai, ai ở lại với trẻ em? Nhiều năm nay vẫn đều đặn nghe các vị lãnh đạo nói về việc “ưu tiên dạy người”. Tôi lại tự hỏi, ai dạy, dạy bằng cách nào khi mà chính họ, những thầy cô giáo, còn chưa được đứng đường hoàng để mà làm người? Giáo viên phải ngoan ngoãn im lặng, có ai đó trung thực thẳn thắn thì bị hành cho ra bã, có khi còn công khai cho “tinh giản biên chế”. Muốn yên thân thì phải hèn đi, phải giả câm giả điếc, phải giả lả mà cười cười nói nói. Chỉ trong năm 2022 đã có 16000 giáo viên bỏ việc. Sự mất giá của nghề giáo không phải chỉ là chuyện lương, mà là lương thiện, “ai cho tôi lương thiện”? Nếu không có một cuộc cải tổ về bộ máy trong hệ thống giáo dục, không có công đoàn độc lập để bảo vệ nhà giáo, không phân chia lại quyền lực trong nhà trường để cân bằng, thì mọi lời hay ý đẹp chỉ là khẩu hiệu trống rỗng để lừa bịp…. Và giáo dục, theo thời gian, cứ phải sa mạc hóa dần đi, không thể cưỡng lại được…