Chữ Nôm trong hành trình di sản văn hóa dân tộc

Chữ Nôm trong hành trình di sản văn hóa dân tộc

Truyện Kiều một tác phẩm viết bằng chữ Nôm của Nguyễn Du (bản in năm 1926 tại Pháp). Nguồn: sưu tầm

  1. Chữ Hán:

Muốn biết chữ Nôm hình thành ra sao thì việc đầu tiên là phải biết nguồn gốc của chữ Hán.

Theo Lý Lạc Nghị trong cuốn sách “Tìm về cội nguồn của chữ Hán”: “Chữ Hán hay Hán tự (漢字) là loại văn tự ngữ tố xuất phát từ tiếng Trung Quốc. Chữ Hán sau đó du nhập vào các nước lân cận trong vùng bao gồm Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, tạo thành vùng được gọi là vùng văn hóa chữ Hán hay vùng văn hóa Đông Á. Tại các quốc gia này, chữ Hán được vay mượn để tạo nên chữ viết cho ngôn ngữ của dân bản địa ở từng nước. (1)

Trong các thư tịch, tiếng Hán được viết trước thời nhà Tần còn lưu truyền được đến ngày nay. Dựa trên các hiện vật khai quật được, chữ viết trên các mảnh xương thú vật được gọi là chữ giáp cốt, các nhà khảo cổ phỏng đoán rằng chữ viết (Hán) ở Trung Hoa ra đời muộn nhất là vào thời kỳ nhà Thương, khoảng 1800 năm trước Công nguyên.

Sự phát triển chữ Hán trải qua các thời kỳ như: Giáp cốt văn → Kim văn → Triện thư → Lệ thư → Thảo thư → Khải thư → Hành thư”.

Cũng theo Lý Lạc Nghị, ngày nay ở Trung Quốc đại lục, bộ chữ giản thể (简体字) đã thay thế cho bộ chữ phồn thể (繁體字). Công cuộc cải cách chữ viết được thực hiện sau khi nước CHND Trung Hoa thành lập (1949). Tháng 10 năm 1954 tại đại lục thành lập ủy ban cải cách chữ viết (中国文字改革委员会), cuộc cải cách nhằm đơn giản hóa chữ Hán để quần chúng nhân dân dễ dàng học biết chữ, xóa mù chữ, thống nhất nhân tự trên các khu vực vốn dĩ có nhiều khác biệt do điều kiện địa lí và lịch sử, đồng thời thúc đẩy việc dạy và học tiếng Hán đối với người nước ngoài. Các khu vực ngoài đại lục như Hồng Kông, Đài Loan, Ma Cao, và cộng đồng người Hoa ở hải ngoại hay các khu vực có sử dụng tiếng Hán như Singapore tiếp tục sử dụng chữ phồn thể, tuy nhiên cũng có những cải biến nhất định. (2)

Từ đầu công nguyên đến thế kỷ X, Việt Nam chịu sự đô hộ của phong kiến Trung Hoa, chữ Hán và tiếng Hán được giới quan lại cai trị áp đặt sử dụng. Theo cụ Ứng Hoè Nguyễn Văn Tố (1889-1947) trong cuốn “Đại Nam Dật Sử – Sử ta so với sử Tàu”: “Nước Việt bắt đầu có Hán học khi viên Thái thú Sĩ Nhiếp (137 – 226) dạy dân Việt thi thư. Trong khoảng thời gian hơn một ngàn năm, hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán”. (3)

Sang thời kỳ tự chủ sau chiến thắng Bạch Đằng năm 938 của Ngô Quyền, chữ Hán vẫn giữ địa vị là văn tự chính thức nhưng cách đọc đã phát triển theo hướng riêng, khác với sự phát triển tiếng Hán ở Trung Quốc, cách phát âm chữ Hán bị chi phối bởi cách phát âm của người Việt, từ đó tạo ra và củng cố dần âm Hán-Việt.

Do nhu cầu phát triển, người Việt đã sử dụng chữ Hán để tạo ra chữ viết riêng, tức chữ Nôm. Trong khi đó cổ văn Hán vẫn được coi là mẫu mực để noi theo.

  1. Chữ Nôm:

Học giả Đào Duy Anh viết trong sách “Chữ Nôm – Nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến”: “Chữ Nôm bắt đầu hình thành và phát triển từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 20. Tại giai đoạn này, chữ Nôm là công cụ thuần túy Việt Nam duy nhất ghi chép lịch sử, văn hóa dân tộc. Người Việt sáng tạo ra chữ Nôm và dùng để biểu đạt từ thuần Việt, kết hợp với chữ Hán dùng để biểu đạt từ Hán Việt và tạo nên một bộ chữ viết phổ thông cho tiếng Việt lúc đó. Sơ khởi, chữ Nôm thường dùng ghi chép tên người, địa danh, sau đó được phổ cập, tiến vào sinh hoạt văn hóa của quốc gia. Vào thời nhà Hồ ở thế kỷ 14 và nhà Tây Sơn ở thế kỷ 18, xuất hiện khuynh hướng dùng chữ Nôm trong văn thư hành chính. Đối với văn học Việt Nam, chữ Nôm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi là công cụ xây dựng nền văn học cổ truyền kéo dài nhiều thế kỷ”. (4)

Sau khi Việt Nam thoát khỏi ách đô hộ của Trung Quốc vào năm 939, chữ Nôm lần đầu tiên trở thành Quốc ngữ để diễn đạt tiếng Việt qua mẫu tự biểu ý. Gần một ngàn năm sau đó – từ thế kỷ 10 cho đến cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 – một phần lớn các tài liệu văn học, triết học, sử học, luật pháp, y khoa, tôn giáo và hành chính được viết bằng chữ Nôm. Dưới triều đại nhà Tây Sơn, toàn bộ các văn kiện hành chính được viết bằng chữ Nôm trong 24 năm, từ 1788 đến 1802.

Những văn bản như sổ sách, công văn, giấy tờ, thư từ, khế ước, địa bạ v.v. chỉ đôi khi có xen chữ Nôm khi không thể tìm được một chữ Hán mang nghĩa tương đương chỉ các danh từ riêng (như tên đất, tên làng, tên người), nhưng tổng thể vẫn là văn bản Hán-Việt bởi quan niệm sai lầm của giới sĩ đại phu các triều đại: “nôm na là cha mách qué”. Nói cách khác, chữ Nôm là công cụ thuần Việt ghi lại lịch sử văn hoá của dân tộc trong khoảng 10 thế kỷ, mặc dù đó là công cụ còn chưa chứng tỏ được tính hữu hiệu và phổ dụng của nó so với chữ Hán.

Phạm Huy Hổ trong bài “Việt Nam ta biết chữ Hán từ đời nào” cho rằng chữ Nôm có từ thời Hùng Vương. Văn Đa cư sĩ Nguyễn Văn San cho rằng chữ Nôm có từ thời Sĩ Nhiếp cuối đời Đông Hán thế kỷ thứ 2. Nguyễn Văn Tố dựa vào hai chữ “bố cái” trong cụm từ “Bố Cái đại vương” do nhân dân Việt Nam suy tôn Phùng Hưng mà cho rằng chữ Nôm có từ thời Phùng Hưng thế kỷ 8. Có ý kiến khác lại dựa vào chữ “cồ” trong quốc danh “Đại Cồ Việt” để đoán định chữ Nôm có từ thời Đinh Tiên Hoàng. Trong một số nghiên cứu những năm 90 của thế kỷ 20, các nhà nghiên cứu căn cứ vào đặc điểm cấu trúc nội tại của chữ Nôm, dựa vào cứ liệu ngữ âm lịch sử tiếng Hán và tiếng Việt, so sánh đối chiếu hệ thống âm tiếng Hán và tiếng Hán-Việt đã đi tới khẳng định âm Hán-Việt (âm của người Việt đọc chữ Hán) ngày nay bắt nguồn từ thời Đường, Tống thế kỷ 8-9. Nếu âm Hán-Việt có từ thời Đường, Tống thì chữ Nôm không thể ra đời trước khi hình thành cách đọc Hán-Việt (nếu xét chữ Nôm với tư cách hệ thống văn tự) mà chỉ có thể ra đời sau thế kỷ thứ 10 khi Việt Nam thoát khỏi nghìn năm Bắc thuộc với chiến thắng của Ngô Quyền vào năm 938.

Theo sách “Long cương văn tập” của Cao Xuân Dục, phải đến cuối thế kỷ XIX chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương mới đưa ra những quy định pháp lý bảo hộ chữ Latinh cho tiếng Việt thay thế chữ Hán và chữ Nôm, kể từ đó chữ Latinh cho tiếng Việt bắt đầu được gọi là chữ Quốc ngữ. Sang thế kỷ XX, người Pháp cho mở rộng chính sách dùng chữ Quốc ngữ ra Bắc Kỳ. Sau khi chữ quốc ngữ được phổ biến vào đầu thế kỷ 20, chữ Nôm dần dần mai một. Để tạo điều kiện cho chữ Quốc Ngữ phát triển, chính quyền thực dân Pháp khi đó đã có chính sách cấm dùng chữ Nôm trong bộ máy hành chính Nam Triều. (5)

Ngày nay, trên thế giới có rất ít người đọc được chữ Nôm. Bởi vậy, khối tài liệu Hán-Nôm của khoảng 10 thế kỷ đang bảo quản trong các cơ quan lưu trữ, các thư viện bao gồm tài liệu hành chính, tài liệu lịch sử, sách báo… chưa được khai thác hết.

Khoa Hán-Nôm của các trường đại học khoa học xã hội ngày nay vẫn đang đào tạo các cử nhân Hán-Nôm để thực hiện nhiệm vụ làm cầu nối giữa quá khứ với hiện tại và tương lai dân tộc để hạn chế sự đứt gãy lịch sử này.

Tài liệu tham khảo

(1), (2). Lý Lạc Nghị, Tìm về cội nguồn của chữ Hán. nxb Thế giới, HN, 1997.

(3). Nguyễn Văn Tố, Đại Nam Dật Sử – Sử ta so với sử Tàu, nxb. KHXH, HN, 2019.

(4). Đào Duy Anh, Chữ Nôm – Nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến, nxb HN, 1975.

(5). Cao Xuân Dục, Long cương văn tập. nxb Lao Động, HN, 2012.

Nguyễn Xuân Vượng (Tổng hợp & Giới thiệu)

Căn Cước Công Dân của Hàn Quốc phải ghi chú thêm họ & tên bằng chữ Hán.

Nhật Duy 

Bình luận của Nhật Duy :

Việt Nam rất may mắn so với dân Hàn Quốc (xem bài viết bên dưới) vì có chữ quốc ngữ La Tin hoá do các linh mục, tu sĩ Công giáo người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý Đại Lợi và Pháp như cha Alexader De Rhodes và cha Francisco De Pina vào VN thời Chúa Trịnh những năm 1500 giảng đạo và sáng chế ra chữ quốc ngữ La Tin hoá sử dụng tiện lợi gần 150 năm thay thế cho chữ Hán, chữ Nôm rất khó học, lại bất tiện.

Thế nhưng VC và những thằng thầy chùa cực đoan như Thích Nhật Từ, sử gia cộng sản Nguyễn Đắc Xuân… vô ơn với các nhà truyền giáo kể trên. Không có họ thì dân VN và tụi VC còn hú tiếng Hán của Tàu.

————-

ĐỂ HIỂU RÕ TÊN CỦA MÌNH, trong Căn Cước Công Dân của Hàn Quốc phải ghi chú thêm họ & tên bằng chữ Hán.

Tiếp theo phần trước “CHỮ QUỐC NGỮ VÀ NHỮNG ĐỨT GÃY VĂN HÓA”. Các nước Đồng Văn như Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc chịu ảnh hưởng bởi văn minh Trung Hoa cả ngàn năm nên việc sử dụng chữ Hán không có gì xa lạ. Bán đảo Triều Tiên là chư hầu của TQ trong một thời gian dài, chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa TQ nên người Hàn Quốc mặc dù nói tiếng Hàn nhưng không có chữ riêng mà họ viết bằng chữ Hán, nhưng vì chữ Hán khá khó nên lúc bấy giờ chỉ có các quan văn võ, nho sĩ mới có cơ hội học chữ Hán, còn dân thường hầu như không biết chữ.

Năm 1443, để xóa nạn mù chữ và phổ biến việc học chữ, vua “Sejong 세종” của triều đại Joseon đã tạo ra 24 ký tự với 14 phụ âm và 10 nguyên âm mà chủ yếu được viết bằng các khối âm tiết gồm 2 đến 5 thành phần. Khác với chữ Hán là chữ biểu ý tượng hình, Chữ Triều Tiên là chữ biểu âm (giống như Kana hay chữ Quốc ngữ VN). Điều đó có nghĩa là, nếu người Việt đọc chữ 男 là “nam”, viết theo chữ Quốc ngữ là “n + a + m = nam” thì người Triều Tiên cũng phát âm là “nam” và viết theo chữ Triều Tiên là ㄴ(n) + ㅏ(a) + ㅁ(m) = 남(nam) .

Mặc dù vua Sejong đã phát minh ra chữ Triều Tiên nhưng mục đích chính vào thời điểm đó không phải là “bài trừ chữ Hán”, mà là tạo ra một chữ viết mà mọi người có thể giao tiếp dễ dàng và có thể viết “tiếng Hàn thuần túy” ( Do đó, trong năm trăm năm kế tiếp, các tài liệu và ấn phẩm chính thức của Hàn Quốc, để phấn đấu cho độ chính xác, vẫn chủ yếu sử dụng chữ Hán và chữ Hàn chỉ là công cụ phụ trợ cho chữ Hán.

Cho đến năm 1906, 1 nhà ngôn ngữ học Ju Si-gyeong đã đưa ra học thuyết “Hàn Văn Độc Tôn Luận”, ông cho rằng các ký tự Trung Quốc là ký tự nước ngoài và Hàn Quốc nên đánh thức ý thức dân tộc thông qua việc bản địa hóa chữ Hàn. “Hàn Văn Độc Tôn Luận” của Ju Si-gyeong bắt đầu được thực hiện sau khi Hàn Quốc độc lập vào năm 1945. Kể từ đó, chính phủ Hàn Quốc đã phát động ba chiến dịch liên tiếp để loại bỏ chữ Hán .

Chữ Hán xuất hiện trong Căn Cước Công Dân của người Hàn : Thế hệ trẻ ở Hàn Quốc hiện nay gần như không hiểu gì về chữ Hán, sách báo cổ trong thư viện phải dịch lại sang chữ Hàn. Ngoài ra, do tiếng Hàn ngày nay được trình bày dưới dạng bính âm nên có nhiều cách phát âm giống nhau nhưng chúng có thể tương ứng với nhiều chữ Hán, ví dụ chữ “jung” được hiểu nôm na rất nhiều nghĩa tiếng Hán như 重、仲、中、眾 ; chữ “jae” được hiểu nôm na rất nhiều nghĩa tiếng Hán như 再、載、宰、才、栽、災 ; chữ “sa” được hiểu nôm na đến hơn có tới 54 chữ Hán, khiến người Hàn Quốc ghi chú thêm “họ và tên” bằng chữ Hán vào Căn Cước Công Dân của họ để tránh nhầm lẫn ý nghĩa “họ và tên”.

Sau khi TT Kim Dea-Jung (Kim Đại Trung) lên nắm quyền vào năm 1998, ông đã ban hành “Tuyên ngôn phục hồi chữ Hán”, khuyến khích học sinh học thêm chữ Hán. Năm 2009, “Liên đoàn xúc tiến giáo dục chữ Hán toàn quốc” , được thành lập bởi 20 cựu thủ tướng của Hàn Quốc, đã cùng đệ trình một đề xuất lên Nhà Xanh, ủng hộ việc Hàn Quốc nên bắt đầu dạy chữ Hán ở các trường tiểu học. Ngoài ra, 5 tổ chức kinh tế lớn của Hàn Quốc cũng đề nghị 190.000 công ty của họ phải vượt qua bài kiểm tra chữ Hán khi tuyển dụng nhân viên.

Mặc dù hiện nay ở Hàn Quốc, học chữ Hán vẫn chỉ là môn học tự chọn ở các trường trung học, nhưng hiện nay nhiều trường đại học Hàn Quốc quy định sinh viên phải đạt chứng chỉ chữ Hán cấp 2 hoặc vượt qua kỳ thi kiểm tra chữ Hán do trường tổ chức trước khi tốt nghiệp. Trong quá trình tuyển dụng nhân viên, các công ty lớn như Tập đoàn Samsung sẽ cộng thêm điểm cho những ứng viên có chứng chỉ trình độ chữ Hán.

…

Nguồn: Facebook An Nhiên

DI TÍCH TỬ ĐẠO GIỮA LÒNG SÀI GÒN

Giáo xứ Cần Giờ – DCCT

DI TÍCH TỬ ĐẠO GIỮA LÒNG SÀI GÒN

Thánh Tử đạo Việt Nam:

Thánh: MATTHÊU LÊ VĂN GẪM (1813 – 1847)

Tại : Giáo xứ Chợ Đũi , Giáo hạt Tân Định, Tổng Giáo phận Sài Gòn Chợ Quán

Địa chỉ : 47D, Nguyễn Trãi, Phường Bến Thành, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

  • Ngày 11.05.1847, vào lúc 15:00 chiều, Thánh Matthêu Lê Văn Gẫm đã bị trảm quyết và chết tại nơi đây, vì Đức Tin vào Đức Kitô.
  • Ngày 27.09.1857, Đức Giáo hoàng Piô XI tôn Ngài lên Bậc Đáng kính.
  • Ngày 27.05.1900, Đức Giáo hoàng Lêô XIII tôn phong Ngài lên bậc Chân phước Á thánh.
  • Ngày 19.06.1988, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II tôn phong Ngài lên bậc Hiển thánh cùng với 116 thánh Tử đạo tại Việt Nam

Nên minh bạch lý do Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc từ chức

Báo Tiếng Dân

Huy Đức

5-2-2023

“Gia đình tôi, vợ, các con tôi không tư lợi, tham nhũng liên quan đến Việt Á, chưa bao giờ gặp Giám đốc Việt Á”. Ông Nguyễn Xuân Phúc đã sử dụng cơ hội cuối cùng trong Phủ Chủ tịch để gửi tới toàn dân lời thanh minh. Nếu “điều này đã được Ủy ban Kiểm tra Trung ương (UBKT) kết luận” như tuyên bố của ông, thì UBKT Trung ương hoặc Ban Bí thư nên là bên đứng ra công bố, “đập tan” những “luận điệu” gọi bà Trần Thị Nguyệt Thu là “trùm cuối”.

Và tất nhiên, UBKT cũng nên cho dân chúng biết 3 vụ bắt giam: Phó chủ tịch tỉnh Quảng Nam Trần Văn Tân (tối 31-12-2022); Nguyễn Thị Thanh Thủy, Nguyễn Bạch Thùy Linh (tối 4-1-2023). Đặc biệt, Thủy và Linh đã “lợi dụng ảnh hưởng” của ai mà có thể “can thiệp, tác động lãnh đạo một số Bộ, ngành tạo điều kiện giúp Công ty Việt Á”.

Hẳn nhiều người còn nhớ: Chủ tịch nước hôm 16-11-2022 còn rạng rỡ bên cạnh phu nhân trong chuyến thăm Thái Lan; chiều 1-12-2022, báo chí còn đăng thông cáo của Bộ Ngoại Giao nói, 4 đến 6-12, “Chủ tịch nước sẽ thăm Hàn Quốc cùng phu nhân” nhưng tối hôm đó thì thông tin “cùng phu nhân” đã không còn nữa. Hai chuyến công du cuối cùng của ông “không có Thu”.

Danh dự của một nguyên thủ quốc gia là rất quan trọng nhưng dân chúng không chờ một lời thanh minh, không chờ ngay cả một lời xin lỗi mà chờ nghe sự thực. Sự thực về chính sách “Zero Covid”, chủ yếu được ban hành dưới thời Chính phủ của ông.

Bao nhiêu người bệnh Covid đã chết trong các “trại tập trung” thiếu sự chăm sóc vì quá tải. Bao nhiêu ánh mắt khắc khoải vì phút lâm chung không bóng người thân. Bao nhiêu người mắc những căn bệnh khác đã chết vì không thể đến bệnh viện, vì không thể ra ngoài mua thuốc. Bao nhiêu “F1” đã thành “F0” vì bị cách li tập trung trong những cơ sở tạm bợ, đối diện nhiều hơn với nguy cơ lây bệnh.

Dịch bệnh là một thảm họa mà loài người phải đối diện, ngay cả những quốc gia giàu có nhất cũng có hàng triệu người chết. Nhưng, không phải ở quốc gia nào, ngay giữa tâm dịch, dân chúng lại chịu đựng thêm nhiều bi kịch do chính chính sách chống dịch gây ra.

Cuối năm 2020, thế giới đã có vaccine, trước đó một số nhà sản xuất vaccine đã tiếp cận với Chính phủ Việt Nam. Nhưng, cho tới khi kết thúc nhiệm kỳ, Chính phủ của ông Nguyễn Xuân Phúc vẫn không hề có chiến lược vaccine. Quan sát thảm họa ở TP.HCM và tình hình dịch bệnh lan tới Hà Nội và các địa phương khi đã có vaccine mới thấy, dân chúng TP.HCM đã trả giá cho sự chậm trễ này trong đau đớn.

Thật khó mà quên hình ảnh của những nhà lãnh đạo say sưa với “Zero Covid”, ngạo nghễ với giải cứu, đánh bóng hình ảnh bằng “tự lực vaccine và test kit”.

Ngay bên cạnh Việt Nam, chính phủ Campuchia không điều động đội Airbus 350 hay Boeing 787 đi giải cứu. Nhưng, người Campuchia từ các vùng dịch trở về Phnom Penh chỉ mất 650 USD thay vì phải từ 2.500 – 3.000 USD như “tự hào người dân Việt Nam” [Đấy là con số chính thức trả cho tiền vé].

Tối qua, khi báo chí đưa lời thanh minh của “nguyên chủ tịch nước” Nguyễn Xuân Phúc, một người từng nằm 3 tuần cách li sau nhập cảnh nói, anh không thể nào quên được tiếng gào khóc của một đứa con phải bỏ ra cả trăm triệu bay về vì cha hấp hối, bị giữ ở cơ sở cách li, không có nhà chịu tang cha được.

Những người phải cố chen lên những chuyến bay giải cứu đều đang ở trong những hoàn cảnh ngặt nghèo. Không phải người “xuất khẩu lao động” hay sinh viên nào cũng thuộc gia đình khá giả. Nhiều bậc phụ huynh phải vay mượn để cho con trở về. Họ đâu biết, trong số những đồng tiền mà họ trả cho công cuộc giải cứu đó, phần lớn bị ăn chia. Họ đâu biết, có lợi ích của người phân bổ khách sạn và kéo dài thời gian cách li. Họ đâu biết, hàng triệu người dân bị ngoáy mũi, có người bị phá cửa, còng tay lôi ra… không chỉ để chống dịch mà còn để tăng doanh thu cho Việt Á.

Họ thực sự cần một ông chủ tịch nước bị truất phế đứng ra thanh minh?

Không phải bây giờ quan chức mới tham nhũng và cũng không thể căn cứ vào số quan tham bị xử lý để nói bây giờ tham nhũng nhiều lên hay ít đi. Điều khác là, trước đây tham nhũng an toàn hơn và nay, trong số các quan tham có nhiều người bị bắt.

Tuy nhiên, ở năm thứ năm của công cuộc chống tham nhũng do Tổng bí thư phát động mà tham nhũng vẫn vươn lên đến hàng… tối cao. Ngay trong thảm họa, mà người ta vẫn chia chác trên sinh mệnh của nhân dân. Thì, đó là tội ác chứ không phải đơn giản là tội phạm.

Hẳn nhiều người còn nhớ, ngày 19-11-2009, khi trả lời chất vấn trước Quốc hội về tham nhũng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói, “Hơn ba năm nay tôi làm thủ tướng cũng chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào”.

Tuyên bố trên đây của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng biểu tượng như tư lệnh phất cờ. “Sâu bọ” từ đấy nhung nhúc, tham nhũng từ đấy phát triển sâu rộng như một tầng “văn hóa”. Không phải tự nhiên nhiều quan chức khi đã đạt đến một vị trí nhất định, tin rằng mình có tham nhũng thì vẫn an toàn.

Việc Nguyễn Tấn Dũng đến nay vẫn chưa phải là mục tiêu của công cuộc “đốt lò” đã gửi đi một thông điệp sai lệch. Đặc biệt, gần đây, khi con gái của Nguyễn Tấn Dũng lấn sông [Rạch Đỉa, Nhà Bè] với một diện tích rộng gấp ba khuôn viên căn biệt thự cô ta sở hữu mà không hề bị chính quyền TP.HCM xử lý, càng gửi đi một thông điệp xấu. Hành vi vi phạm pháp luật này kéo dài hàng năm, báo Tuổi Trẻ phản ánh đã gần ba tháng nhưng chính quyền vẫn không dám triệu tập chủ nhà. Nghe nói, Huyện ủy Nhà Bè cũng chỉ dám có một báo cáo mà không ai đọc được vì “tối mật”.

Lấn chiếm 4.500m2 đất mặt sông là ăn cướp, là chiếm đoạt tài nguyên quốc gia chứ không phải vi phạm đơn thuần hành chánh. Bí thư Thành ủy Nguyễn Văn Nên vẫn được tiếng là giữ gìn khá sạch. Nhưng cương vị của ông không chỉ là giữ gìn trong sạch cho cá nhân. Việc chính quyền của ông bất lực trước “con gái nguyên thủ tướng” và thẳng tay với sai phạm của thường dân, đã nêu một hình ảnh xấu của cả ông và thành phố.

Hành vi coi thường nhà nước của Nguyễn Thanh Phượng và câu chuyện những người phụ nữ xung quanh Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc cho thấy, khi thiết lập ở tầng nấc nào đấy tính chất nửa vời, quan chức sẽ cố ngoi lên những nơi trú ẩn an toàn thay vì thôi tham nhũng.

Làm quan dưới thời Nguyễn Tấn Dũng thật khó để không bị nhem nhuốc. Nhưng hậu Tấn Dũng thì cần phải phân biệt loại quan chức biết sửa mình với loại quan chức vẫn “ăn của dân không từ một thứ gì”. Cần phân biệt những người khi ở cấp thấp cũng có phạm sai lầm nhưng càng lên cao thì càng biết sửa mình, biết khát vọng làm thay đổi hình ảnh cá nhân và quốc gia, với những người tưởng đã chễm chệ ở trên cao thì để quyền lực và lòng tham bịt tai bịt mắt.

Minh bạch lý do bị phế truất của ông Nguyễn Xuân Phúc là rất cần thiết. Nếu ông xin từ chức vì có nhiều cấp dưới bị sai phạm, vì trách nhiệm chính trị của người đứng đầu, thì trong hệ thống chính trị này, Chủ tịch nước chưa phải là người đứng đầu. Nếu những người xung quanh ông sử dụng ảnh hưởng của ông để trục lợi thì không nên tiễn ông bằng hoa và sụt sùi nước mắt.

Uy tín của một quốc gia không mất vì có nguyên thủ tham nhũng, uy tín quốc gia chỉ mất khi nguyên thủ tham nhũng mà quốc gia bó tay và nhân dân thì chẳng biết đâu là sự thật.

Khi kỷ luật đồng chí của mình, nếu hỏi, ai trong các đồng chí tin mình trong sạch xin hãy giơ tay, sẽ có bao nhiêu người giơ tay? Trong 7 năm qua, tuy đạt được những kết quả không thể không ghi nhận như bắt bớ, kỷ luật hoặc buộc thôi giữ chức hàng trăm cán bộ. Nhưng, gần như chưa có cải cách nào đáng kể, xây dựng trong tương lai một môi trường minh bạch để quan chức không muốn tham nhũng, không phải tham nhũng (cũng sống xứng đáng) và không thể tham nhũng.

Sự kiện Chủ tịch nước bị phế truất càng cho thấy, chúng ta đang vận hành công cuộc chống tham nhũng này với gần như chỉ có một bàn tay sạch. Điều này vui ít, lo nhiều. Vì, bất cứ sự nghiệp quốc gia nào lệ thuộc vào một người, dù đạt được bước tiến như thế nào, rồi cũng có ngày phải bắt đầu lại.

STTD Tưởng Năng Tiến – Bác Tổng

Tưởng Năng Tiến

STTD Tưởng Năng Tiến – Bác Tổng

Trong Chuyện Kể Năm 2000, tập II (nxb Câu Lạc Bộ Tuổi Xanh, California – U.S.A ) nơi trang 254 có câu: “Đồng chí Tổng Bí Thư nói nếu nhìn một phụ nữ đẩy xe bò mà trong lòng không xúc động thì không còn phải là người cộng sản nữa.”

Tôi hỏi tác giả:

Ông TBT nào nói thế?

– Quảng Cáo –

Bùi Ngọc Tấn cười nụ:

Thì ông nào mà chả nói thế!

Hoá ra, tất cả mọi đồng chí TBT đều thương dân cả. Yêu nước cũng thế, cũng là thuộc tính bất biến của những người Cộng Sản (nói chung) và qúi vị TBT (nói riêng) theo như lời ông Nguyễn Phú Trọng nói với cử tri – vào hôm 15 tháng 10 năm 2019:

“Hiện nay có một số phần tử cố tình kích động, to tiếng lên, lên gân lên, ra vẻ ta là anh hùng, ra vẻ ta là yêu nước, vậy còn Trung ương Đảng, Chính phủ, Tổng bí thư không yêu nước à? Vô trách nhiệm à?”

Nếu chỉ xét thời gian phục vụ thì quả là đúng thế. Chả thế mà ông Hồ Chí Minh hy sinh làm Chủ Tịch Đảng đến 24 năm trời, ông Lê Duẩn tại vị tới 25 năm, và ông Trường Chinh thì cũng chỉ vì dân vì nước mà phải nhận chức TBT đến hai lần lận.

Nhiệt tình cách mạng của qúi vị lãnh đạo cộng sản VN, rõ ràng, khó ai có thể phủ nhận. Chỉ có cái cách yêu nước và thương dân của họ mới là điều khiến cho thiên hạ phải phàn nàn, hoặc …đảo điên luôn:

Chỉ riêng phong trào Cải Cách Ruộng Đất, do ông Hồ Chí Minh nhập cảng từ nước lạ, đã khiến cho gần trăm ngàn nông dân VN bị hành hình. Ở bình diện quốc tế, cùng với Stalin, Mao Trạch Đông, Polpot, Lenin, Kim Nhật Thành, Kim Chính Nhật, Saddam Hussein… ông có tên trong danh sách (History’s Great Monsters) tội phạm chống lại nhân loại.

Ông Lê Duẩn cũng thế, cũng có tên trong danh sách tội phạm chống lại nhân loại ở mức đại trà (massive crimes against humanity). Ông nổi tiếng là người chủ chiến: “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc …”

Cùng với Trưởng Ban Tổ Chức Trung Ương Lê Đức Thọ, Lê Duẩn còn đánh luôn đồng đảng cho đến mức te tua hay bầm dập. Dù cả hai ông đều đã chết, chiến tích của Cuộc Đấu Tranh Chống Bọn Xét Lại vẫn còn sống âm ỉ trong lòng nhiều người dân Việt cho mãi đến hôm nay.

Tuy thời gian giữ chức TBT không dài nhưng ông Đỗ Mười vẫn để lại dấu ấn khó phai, qua hai trận đánh đẹp, có thể ghi thành sách: đánh tư sản ở miền Bắc (sau 1954) và ở miền Nam (sau 1975) khiến hằng triệu lương dân kẻ phải lâm vào cảnh tán gia bại sản.

Ngoài những thành tích dị biệt có tính cách cá nhân (thượng dẫn) điểm chung nổi bật trong cách quản trị và điều hành của tất cả các ông TBT là đều khiến cho đất nước trở nên … thiếu thốn và đói rách:

– Một năm hai thước vải thô

Làm sao che nổi cụ Hồ hỡi em?

– Miếng thịt lợn chao ôi là vĩ đại

Miếng thịt bò lại vĩ đại bằng hai

Chanh, muối, cam, đường, lạc, đỗ, gạo, khoai

Tất cả những gì người có thể nhai

Đảng mó tới tự nhiên thành vĩ đại (NCT)

Thời chiến hay thời bình “miếng thịt” cũng đều như thế cả. Có khác chăng là chỉ ở mức độ “vĩ đại” mà thôi. Tuy thế, mãi cho đến khi giữ chức vụ TBT lần hai – từ năm 1986 cho đến khi nhắm mắt – Trường Chinh mới biết là “lương của công nhân viên chức chỉ đủ để sống cho mười ngày” và bèn hô hoán:“Phải cứu giai cấp công nhân!”

Trường Chinh qua đời vào năm 1988, một phần ba thế kỷ đã qua, đất nước đã “sang tay” thêm nhiều đời TBT (thương dân – yêu nước) khác nhưng giai cấp công nhân vẫn chưa … được cứu. Họ vẫn cứ phải chung đủ “14 loại thuế phí qua một quả trứng gà” y như đám nông dân, hay công nhân viên nhà nước vậy thôi.

Nét đặc thù hay độc đáo của triều đại Nguyễn Phú Trọng là đã tạo ra một giai cấp mới mà ông là … tác nhân chính:

“Chiều 18-1-2011, khi điều khiển phiên họp toàn thể của Đại hội Đảng lần thứ XI biểu quyết lựa chọn giữa “chế độ công hữu về tư liệu sản xuất” và “quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”, ông Nguyễn Phú Trọng hứa với Đại hội “thiểu số sẽ phục tùng đa số”. Nhưng, tháng 5-2012, Ban Chấp hành Trung ương mà ông Nguyễn Phú Trọng là tổng bí thư vẫn quyết định duy trì “chế độ công hữu” với đất đai, “tư liệu sản xuất” quan trọng nhất.” (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập II. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

Từ đó, Việt Nam trở nên một “cường quốc của dân oan.” Giới người này vật vạ, la lết, lang thang, vất vưởng trên khắp mọi nẻo đường đất nước hoặc “co dúm thút thít” trong mảnh đất (còn lại) mà diện tích chỉ đủ dựng một túp lều, kỳ dư đã bị thu hồi với giá đền bù “mỗi m2 bằng giá một… cốc bia” – theo như ghi nhận của blogger Đào Tuấn.

Từ Thủ Thiêm, dân oan Nguyễn Thùy Dương cho biết:

Người đàn ông trong ảnh đang ngủ dưới nền đường nhựa nhỏ. Bà con có biết vị trí đó là ở đâu không ạ ? Đó là trước con đường độc đạo đi vào cổng Thanh Tra Chính Phủ cụm 3 tại thành phố Hồ Chí Minh. Để tôi kể bà con nghe vài kiếp người ở con đường độc đạo ấy .

Có một bà ngoại già hơn 80 tuổi sáng nào cũng đeo tấm bảng đòi nhà hơn chục năm qua . Bà là dân vô gia cư mất nhà do một chính sách chỉ có chính và sách là chính còn chữ tình thì tôi chưa thấy .

Một cô giáo đã nghỉ dạy sẽ ngồi kế bên bà ngoại. Trên ngực cô cũng đeo một tấm bảng đòi nhà, đòi con. Ở chế độ cũ gia đình cô thành lập trường tư thục ngay trên chính mảnh đất của mình. Thống nhất đất nước, chính sách thay đổi. Đất làm trường toàn bộ thuộc đất công. Họ thu hồi đất cô, cô ko đồng ý. Một buổi sáng năm 1997 trong lúc cô đang dạy học, Họ kéo rất đông đến nhà cô cưỡng chế.

Con trai cô lên 9 tuổi bị bệnh nên nằm nghỉ ở nhà. Họ vẫn mặc đứa trẻ, họ lao vào cưỡng chế. Đứa trẻ sợ quá lên cơn co giật đến khi mẹ về nó đã nằm đó. Người nó nóng ấm dịu trên tay mẹ. Cô ôm con gào thét. Họ vẫn cưỡng chế. Họ đền nhân mạng đứa nhỏ vài chục triệu rồi lấy nhà. Hơn 20 năm nếu đứa trẻ ngày ấy còn sống có lẽ đã trở thành một thanh niên vạm vỡ làm chỗ dựa cho mẹ già.

Câu nói của cô từng ám ảnh tôi:

– Sao họ ko giết cô chết luôn để cô sống chi mà đau khổ vậy? Cô muốn ôm con cô

Tôi cười với cô, nói: Cô ôm con một cái được không?

Cô ôm tôi rồi khóc, tôi vừa dỗ cô cũng vừa khóc. Cảm giác mình bất lực đến tận cùng…

Thỉnh thoảng có một cô người đen đủi đội nón lá, ngực đeo tấm bảng trình bày nỗi oan khuất. Cô bị cướp đất, bỏ tù. Ra tù về đất mất, vô gia cư. Cô ngày chửi, trưa chửi, tối chửi. Vừa đi nhặt ve chai kiếm đồng tiền đắp đổi. Muốn biết lòng người lãnh đạo hãy nhìn số lượng dân oan sẽ rõ. Đừng hỏi ai yêu nước, ai không?

Khi Lenin nói rằng lòng nhiệt tình cộng với sự ngu dốt bằng sự phá hoại – xem chừng – chính y cũng không thể ngờ được rằng tác phẩm bất hủ (Chủ Nghĩa Marxist Leninist Vô Địch Muôn Năm) của mình sẽ tạo ra một cái cơ chế “ghế ít đít nhiều” nên cái đít nó nhớ cái ghế, thế thôi, chứ có thằng (hay con) mả mẹ nào có nhiệt tình hay nhiệt huyết gì ráo trọi.

MÔ HÌNH CHAT GPT

Quyền Được Biết

Lộc Dương

Sáng 13 tết, ngày độc, mấy chú cháu hắn đi tắm biển ở Ninh Chữ, Phan Rang.

Trên đường đi, thằng cháu hắn nói chuyện về một trang web có tên là OpenAI (Trí tuệ nhân tạo mở). Trang này đang xây dựng một mô hình đối thoại thông minh có tên là ChatGPT. Không những ChatGPT có thể trả lời mọi câu hỏi được đặt ra, mà nó còn có khả năng chỉnh sửa lại những tư duy sai trái mà trước nay người ta cứ nghĩ là đúng.

Nghe hấp dẫn quá, cộng thêm lòng yêu đảng đầy ắp trong tim, hắn mới lim dim mắt tự hào bảo cháu hắn thử hỏi ChatGPT xem: Ai đã cho ta một mùa xuân đầy ước vọng? Không ngờ ChatGPT trả lời hết sức cà chớn: “Không có ai cho ta mùa xuân đầy ước vọng. Mùa xuân là một chu kỳ tự nhiên của năm, và ước vọng là một cảm xúc và suy nghĩ của riêng mỗi cá nhân…”

Thế có láo không cơ chứ. Từ thuở bé hắn đã được dạy dỗ rằng chỉ có đảng mới cho ta mùa xuân. Rằng đảng và mùa xuân dính chặt vào nhau giống như da thịt người bị tạt át xít, không thể tách rời ra được. Nhắc tới mùa xuân mà không nhắc tới đảng thì cũng như ăn thịt chó mà không có mắm tôm. Nhạt thếch thì nuốt làm sao?

Hắn tức lắm, bèn bảo cháu hắn hỏi thêm câu: Vậy ai đã cho ta sáng mắt, sáng lòng? Ngay lập tức ChatGPT trả lời còn cà chớn hơn: “Không có ai cho chúng ta sáng mắt, sáng lòng. Sáng mắt và sáng lòng là kết quả của quá trình học hỏi và trải nghiệm của mỗi cá nhân….”

Nghe tới đây hắn muốn điên lên. Làm sao có thể phủ nhận vai trò của đảng trên diện rộng như vậy. Không có đảng thì làm sao ta có tập đoàn Vượng Vin, làm sao có dự án Nhà Hát Giao Hưởng cao cấp cho dân nghe trên đất khổ Thủ Thiêm? Không có đảng thì mùa Covid vừa qua lấy đâu ra kít test Việt Á để ngoáy mũi nhân dân và không có đảng, ai sẽ bay vào tâm bão để thực hiện các chuyến bay giải cứu?

Hắn giận lắm. Lòng yêu đảng của hắn đã bị tổn thương. Tự ái của một Việt kiều yêu nước (đã từng được nhận quà tặng của Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc) như hắn đã bị đụng chạm. Hắn bèn giựt lấy cái ipad của cháu hắn và trút hết căm hờn vào câu hỏi đầy đe dọa: Mày biết bố mày là ai không? Ai dè thằng ChatGPT không sợ, lại còn trả lời hết sức mất dạy: “Tôi là một mô hình ngôn ngữ, được huấn luyện bởi OpenAI, tôi không có cha mẹ hoặc gia đình”.

Hắn tức ói máu trào đờm và hình như lúc giận quá có mất khôn đi một tí, bởi vì sau khi check in vào khách sạn, hắn hỏi cháu hắn: Cái ipad đâu rồi, đưa chú đọc lại coi. Cháu hắn mặt buồn buồn, bảo: Chú quăng nó xuống đường, khúc chạy qua Hòn Rơm rồi còn gì. Mà ipad này cháu mượn của vợ cháu, không biết rồi về sẽ ăn nói làm sao với nó đây.

Mỹ bắn hạ ‘khinh khí cầu do thám,’ Trung Quốc nói ‘rất bất mãn’

Báo Nguoi-viet

February 4, 2023

WASHINGTON, DC (NV) – Quân đội Mỹ bắn hạ khinh khí cầu của Trung Quốc bị nghi đang do thám quân đội Mỹ khi nó bay qua Đại Tây Dương hôm Thứ Bảy, 4 Tháng Hai, một giới chức Mỹ cho hay, theo CNN.

Chiều Thứ Bảy, quân đội Mỹ đang thu hồi mảnh vỡ ngoài khơi hai tiểu bang North Carolina và South Carolina nơi khinh khí cầu bị bắn hạ, giới chức này cho biết.

Khinh khí cầu Trung Quốc được phát giác trên bầu trời York County, South Carolina, sáng Thứ Bảy, 4 Tháng Hai. (Hình: York County Sheriff’s Office)

Quân đội Mỹ dùng chiến đấu cơ từ Căn Cứ Không Quân Langley ở Virginia để bắn hạ khinh khí cầu Trung Quốc lúc 2 giờ 39 phút trưa Thứ Bảy, giờ miền Đông, theo một giới chức cao cấp của quân đội.

Quân đội chỉ bắn một hỏa tiễn duy nhất, giới chức này cho hay. Quân đội dùng chiến đấu cơ F-22 và bắn hỏa tiễn AIM-9X.

Chiều Thứ Bảy, Tổng Thống Biden tuyên bố khinh khí cầu Trung Quốc bị bắn hạ thành công và ông là người ra lệnh Bộ Quốc Phòng bắn hạ ngay khi nào an toàn.

Xác khinh khí cầu sẽ được đưa tới phòng thí nghiệm của FBI ở Quantico, Virginia, để chuyên gia FBI và cơ quan tình báo phân tích, theo hai người được báo cáo vấn đề này.

Ông Travis Huffstetler, nhiếp ảnh gia ở Myrtle Beach, South Carolina, cho hay ông chứng kiến vụ bắn hạ khinh khí cầu từ tầng 15 khách sạn. Ông nói ông nhìn thấy nhiều phi cơ bay vòng quanh khinh khí cầu khoảng 20 tới 30 phút trước khi một phi cơ phóng hỏa tiễn trúng khinh khí cầu.

“Khinh khí cầu đó nổ như bong bóng,” ông Huffstetler cho CNN biết. “Đứng dưới bãi biển cũng nhìn thấy rất rõ.”

Bãi biển và đường phố xung quanh đầy nghẹt người chĩa camera lên trời quay phim và chụp hình vụ này, theo ông Huffstetler.

Khinh khí cầu đó lớn bằng khoảng ba chiếc xe buýt, bay trên cao 60,000 foot, được phát giác lần đầu tiên hôm Thứ Tư trên bầu trời tiểu bang Montana, nơi có nhiều hầm chứa hỏa tiễn nguyên tử của Mỹ.

Hôm Thứ Bảy, trước khi khinh khí cầu bị bắn hạ, Cơ Quan Hàng Không Liên Bang (FAA) đóng không phận nhiều nơi ở North Carolina và South Carolina, đồng thời ra lệnh ba phi trường ở Charleston (South Carolina), Myrtle Beach (South Carolina) và Wilmington (North Carolina) tạm ngưng hoạt động vì “nỗ lực an ninh quốc gia.” Ngay sau khi khinh khí cầu bị bắn hạ, FAA mở lại không phận ở hai tiểu bang này và cho phép ba phi trường hoạt động lại.

Tại South Carolina, Sở Cảnh Sát York County (YCSO) xác nhận khinh khí cầu Trung Quốc bay qua đó và cảnh cáo cư dân đừng bắn hạ.

“Không phải mặt trăng. Đúng, có báo cáo khinh khí cầu Trung Quốc đang bay qua khu vực của chúng ta,” YCSO viết trên Twitter. “Nó đang bay cao hơn 60,000 foot. Đừng cố bắn hạ!! Súng của quý vị không bắn tới đâu. Hãy có trách nhiệm. Cái gì bay lên sẽ rớt xuống, kể cả mấy viên đạn của quý vị.”

Từ Hagerstown Regional Airport ở Hagerstown, Maryland, Tổng Thống Joe Biden chúc mừng quân đội Mỹ bắn hạ thành công khinh khí cầu Trung Quốc hôm Thứ Bảy, 4 Tháng Hai. (Hình: Andrew Caballero -Reynolds/AFP via Getty Images)

Mặc dù thừa nhận khinh khí cầu đó không gây nguy hiểm gì “về quân sự hoặc cơ thể,” giới chức Mỹ cho biết nó được dùng để do thám, bác bỏ việc Trung Quốc tuyên bố đó là khinh khí cầu nghiên cứu thời tiết bị gió thổi bay lạc hướng.

Hôm Thứ Bảy, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc ra thông báo phản đối vụ bắn hạ khinh khí cầu, cho rằng Mỹ “phản ứng quá đáng” và “vi phạm nghiêm trọng thông lệ quốc tế.”

“Trung Quốc rất bất mãn và phản đối việc Mỹ dùng vũ lực tấn công khinh khí cầu dân sự không người lái. Mấy ngày qua, Trung Quốc liên tục thông báo với Mỹ khinh khí cầu đó dùng cho mục đích dân sự và bay vào không phận Mỹ do lạc hướng – hoàn toàn vô tình,” theo thông báo được Bộ Ngoại Giao Trung Quốc đăng sáng Chủ Nhật, giờ địa phương.

“Trung Quốc rõ ràng yêu cầu Mỹ giải quyết vụ này phù hợp, bình tĩnh, chuyên nghiệp và kiềm chế. Phát ngôn viên Bộ Quốc Phòng Mỹ cũng từng tuyên bố khinh khí cầu đó sẽ không gây nguy hiểm về quân sự hoặc cơ thể cho người ở dưới đất,” Bộ Ngoại Giao Trung Quốc viết.

Sau khi xảy ra vụ khinh khí cầu, ông Antony Blinken, ngoại trưởng Mỹ, hủy chuyến thăm Trung Quốc quan trọng đã lên kế hoạch cuối tuần này. Ông Blinken gọi vụ này là “hành động vô trách nhiệm.”

Tối Thứ Sáu, Bộ Quốc Phòng Mỹ loan báo họ phát giác thêm khinh khí cầu do thám khác của Trung Quốc ở Châu Mỹ La Tinh.

Chưa rõ khinh khí cầu thứ nhì này đang bay trên bầu trời nước nào, nhưng một giới chức Mỹ cho CNN biết dường như nó không bay tới Mỹ. (Th.Long)

CHÚT SUY TƯ VỀ THINH LẶNG – ĐS Vân Phong. CM

ĐS Vân Phong. CM

“Thiên Chúa, Người thầm lặng; tất cả những gì có giá trị trong thế giới đều chứa đầy thinh lặng.” – E.Mounier.

Trong thế giới ngày nay, tiếng ồn ào đã thâm nhập cuộc sống con người như một cơn sóng thần, âm thanh tràn ngập mọi ngóc ngách.  Phải công nhận rằng thời gian im lặng càng ngày càng trở nên hiếm hoi trong cuộc sống đời thường của đa số những con người ngày nay.  Họ hầu như bị chìm sâu trong làn sóng dư luận, bị chao đảo theo các ngọn gió tin tức truyền thông, rồi những tiếng ầm ầm của máy móc hay những âm thanh của máy vi tính, chuông điện thoại, tiếng ồn ào trong các quán ăn, nhà hàng… đã chiếm hết tâm trí của họ đến nỗi họ không còn biết mình từ đâu đến và sẽ đi đâu.  Sự hụt hẫng, trống rỗng, mà nhiều người ngày nay cảm nhận, chứng tỏ rằng họ đã bỏ sót một chiều kích của chính mình.[1]  

Họ đã quên mất con đường về căn nhà lương tâm và về mảnh vườn nội tâm của lòng mình, nơi có thể nói cho họ biết tất cả…  Thiếu thinh lặng, con người đang sống ngoài lề của chính mình và thậm chí còn thu hẹp mọi tương quan với người khác.

Sự thinh lặng cần thiết biết bao!  Không biết có ai đã bao giờ tự hỏi rằng: Tại sao bản nhạc lại phải có dấu lặng?  Hay đã bao giờ có ai đọc một bài văn mà không hề có dấu chấm, dấu phẩy?

Nếu một bản nhạc không có dấu lặng, chúng ta sẽ chẳng bao giờ nghe được tiếng vọng của thanh âm, và những ngân nga của một giai điệu du dương.  Cũng vậy, nếu một bài văn không có dấu chấm dấu phẩy, chắc chắn là người đọc sẽ đứt hơi, hoặc sẽ chẳng thể hiểu được trọn vẹn bài văn ấy.  Thinh lặng cũng giống như một nốt lặng của bản nhạc, giúp ta nghe rõ hơn nốt trước và nốt sau đó, và cũng giống như dấu chấm dấu phẩy trong một bài văn, giúp người đọc hiểu trọn vẹn hơn ý nghĩa của bài viết.

Trên phương diện nhân bản, thì chỉ có sự thinh lặng mới giúp ta thực sự lắng nghe để thấu hiểu và đón nhận người khác một cách chân thực như chính họ, và giúp ta bước vào những mối tương quan bền vững hơn.  “Người ta sẽ tin bạn không phải vì bạn nói nhiều, nhưng vì bạn biết thinh lặng để lắng nghe”(Paul Xardel).  

Còn trên phương diện tâm linh, thinh lặng càng cần thiết hơn, bởi vì tiếng ồn bên ngoài có thể gây biến động bên trong thay vì cho thấy những chiều sâu của tâm hồn[2].  

Có sự thinh lặng trong tâm hồn ta mới có thể tiến tới đời sống tâm linh cao vượt mà con người hằng khát khao mong mỏi.  Sự thinh lặng ấy tạo điều kiện quân bình cho đời sống và sự tăng trưởng của cá nhân mỗi người.

Trong cái thế giới ồn ào ngày nay, thiết nghĩ, cần phải sống thinh lặng nhiều hơn, bởi vì sự thinh lặng rất cần thiết để mỗi người nhìn lại chính mình.  Trong sự thinh lặng ta dễ dàng làm chủ bản thân, làm chủ giác quan, và khi thinh lặng ta buộc phải đối diện với chính mình.  Từ đó, ta có cơ hội tìm về nội tâm, tìm về với chính con người thật của mình để nhìn lại, tìm hiểu và suy xét bản thân…

Nhưng cũng cần phân biệt: thinh lặng khác với im lặng.  Ta có thể im lặng bởi ta không thèm nói.  Hoặc ta có thể im lặng vì đang tức giận đến tột độ, hoặc đau khổ đến nỗi không thể thốt nên lời.  Nhưng thực ra, ngay lúc đang im lặng đó lại là những lúc ta đang “nói” nhiều nhất.  Thinh lặng là một trạng thái hoàn toàn khác, thinh lặng là khi mặt hồ của tâm hồn không hề gợn sóng, và thinh lặng là khi ta đang lắng nghe, đang đắm mình trong một không gian bình an, tĩnh tại, phẳng lặng và dịu êm.

Nói như vậy, cũng thật là khó để giữ thinh lặng trong chúng ta, vì cuộc sống đầy những ồn ào và lộn xộn.  Vì thế, muốn có được thinh lặng ta cần phải rất cố gắng.  Trước hết, ta cần học biết lắng nghe, lắng nghe tiếng lòng và lắng nghe tiếng Chúa.  Đồng thời, chúng ta hãy chiêm ngắm một gương mẫu tuyệt vời của sự thinh lặng, đó chính là Chúa Giêsu.  Người là Ngôi Lời Thiên Chúa trong xác phàm, đã im lặng ba mươi năm trong số ba mươi ba năm cuộc đời trần thế.  Người cũng đã thinh lặng bốn mươi ngày trong sa mạc trước khi bắt đầu cuộc đời công khai.  Và trong suốt cuộc đời, Người luôn sống trong thinh lặng.

Tất nhiên, Chúa Giêsu không tìm kiếm sự thinh lặng để mà thinh lặng[3] nhưng để thiết lập một mối tương quan mật thiết với Chúa Cha, và để mở lòng đón nhận chương trình yêu thương của Ngài.  Giờ đây, Chúa Giêsu cũng vẫn luôn hiện diện cách trọn vẹn trong thinh lặng và chờ đợi chúng ta trong thinh lặng.  Chính trong thinh lặng chúng ta sẽ được gặp Người và Người sẽ nói với tâm hồn chúng ta.  Tuy nhiên, để có thể lắng nghe Chúa nói, chúng ta cần có tâm hồn trong sạch, thành tâm ăn năn sám hối và trở lại với Người.

Thầy Giêsu ơi, con đang đi tìm thinh lặng nhưng chẳng thấy thinh lặng ở đâu hết.  Có lẽ bởi vì tâm hồn của con vẫn còn ồn ào quá!  Như con người ngày nay vẫn cứ chạy theo những ồn ào xao động đến điên cuồng ở ngoài kia mà cố tình bỏ quên mất cõi lòng mình.  Và con, phải chăng con vẫn còn là một kẻ như con người ngày nay ở ngoài kia…?

ĐS Vân Phong. CM

[1] Michel Hubaut, Những nẻo đường thinh lặng, NXB Tôn giáo, 2007, tr 8

[2] Lm. Thái Nguyên, Thinh lặng sống tâm tình mùa chay, 2006

[3] Mẹ Teresa, Trên Cả Tình yêu, NXB Văn Hoá Sài Gòn 2009,  tr 19

From: Langthangchieutim

Linh mục bị bướu ở não được Đức Mẹ Lộ Đức chữa lành


Thông tấn xã Công Giáo Viêtcatholic

Linh mục bị khối u não cho biết ngài đã được chữa lành khi đến thăm Lộ Đức. Việc chữa lành diễn ra tức khắc, hoàn toàn không còn dấu vết bệnh tật, và không thể giải thích được về mặt y khoa.

Hãy ngợi khen Chúa vì sự tốt lành của Ngài!

Cha John Hollowell thuộc Tổng giáo phận Indianapolis đã thông báo vào ngày 30 Tháng Giêng rằng ngài đã được chữa khỏi bệnh u não khi đến thăm Lộ Đức, bên Pháp. Việc chữa lành cho ngài diễn ra tức khắc, hoàn toàn không còn dấu vết bệnh tật, và các bác sĩ nói họ không thể giải thích được về mặt y khoa.

Cha sở của Nhà thờ Công Giáo Truyền tin ở quận Brazil, của tiểu bang Indiana lần đầu tiên được chẩn đoán mắc bệnh u não vào đầu năm 2020. Ngài quyết định dâng tất cả những đau khổ của mình cho các nạn nhân bị giáo sĩ lạm dụng.

Trong thông báo video trên YouTube, Cha Hollowell cung cấp một lịch sử ngắn gọn và sự quan phòng của Chúa trong việc chẩn đoán và chữa lành của ngài.

Ngài đã nhận được chẩn đoán mắc khối u não vào ngày lễ Đức Mẹ Lộ Đức, 11 tháng 2 năm 2020 tại bệnh viện Mayo.

“Tôi phát hiện ra mình có một khối u não tại bệnh viện Mayo vào ngày 11 tháng 2, lễ Đức Mẹ Lộ Đức. Đêm đó, tôi đã thực sự có Thánh lễ trong Nhà nguyện Đức Mẹ Lộ Đức của bệnh viện này.”

Sau đó, cha Hollowell giải thích lịch sử của bệnh viện Mayo, bắt đầu sau tầm nhìn siêu nhiên của một nữ tu viện trưởng dòng Phanxicô.

“Viện trưởng đã nhìn thấy một bệnh viện và Chúa Giêsu bảo bà ấy đi vào thị trấn và tìm bác sĩ Mayo. Vì vậy, cô ấy đã làm, và đó là cách bệnh viện Mayo bắt đầu,” vị linh mục nói. “Các nữ tu là những y tá đầu tiên của bệnh viện. Bệnh viện Mayo thực sự được kết nối, và trong cùng tòa nhà với nhà nguyện Đức Mẹ Lộ Đức.”

Kể từ đó, vị linh mục đã trải qua phẫu thuật và điều trị, nhưng không lâu trước khi lên đường đến Lộ Đức, khối u của ngài tái phát. Tuy nhiên, ngài nói rằng ngài hài lòng với cái chết nếu Chúa muốn.

Ngài nói: “Kết quả chụp MRI cho thấy nó đang phát triển trở lại. Trên thực tế, chụp MRI cũng tìm thấy một khối u trên tuyến yên của tôi. Tôi không sao nếu tôi chết…Tôi sẵn sàng hy sinh cho những nạn nhân bị giáo sĩ Công Giáo ngược đãi”.

“Nhưng tôi nghĩ, nếu tôi đến Lộ Đức và tôi được chữa lành ở đó, thì điều đó có thể ảnh hưởng đến một số gia đình và bạn bè đã lìa xa Giáo Hội Công Giáo. Vì vậy, tôi đã đến đó và tôi đã được chữa lành,” ngài nói.

“Tạ ơn Chúa,” vị linh mục vui mừng. “Tôi rất phấn khích – dù thế nào thì tôi cũng rất vui, nhưng một lần nữa, tôi đã đến Lộ Đức và được chữa lành.”

Nhiều người dùng mạng xã hội đã vui mừng sau khi biết tin.

Nữ tu Veronica Paul đã viết: “Thật là một câu chuyện vinh quang tuyệt vời! Lạy Đức Mẹ Lộ Đức, xin cầu cho chúng con. Thánh Bernadette, xin cầu cho chúng con.”

Một người dùng mạng xã hội khác nói: “Ngợi khen Chúa, Thiên Chúa của chúng con! Cha Hollowell đã nằm trong danh sách cầu nguyện của tôi kể từ khi được chẩn đoán vì ngài là một linh mục nổi tiếng thánh thiện và đây là Tin Vinh Quang!!! Tạ ơn Chúa!!! Xin Chúa tiếp tục chúc lành cho Cha Hollowell, khi cha ấy phục vụ Chúa Giêsu và chúng ta hàng ngày!

“Tôi nhớ đến cha ấy! Thật là một ân sủng đẹp đẽ mà ngài đã nhận được. Ngài đúng là một linh mục thánh thiện.”

Người dùng Twitter Karolina Beccue cũng cho biết: “Thật là một tin tức quá hay! Tôi rất mừng cho ngài! Vâng, Đức Mẹ thật tuyệt vời…”

Lạy Đức Mẹ Lộ Đức, xin cầu cho chúng con!

Source:ChurchPOPPriest With Brain Tumor Says He Was Healed While Visiting Lourdes: “I’m Very Excited”

(Lại) Ba Người Khác – STTD Tưởng Năng Tiến

STTD Tưởng Năng Tiến

Nguyễn Đức Sơn
(Nguồn: nguyenmienthao.blog)

Tôi định có một ngày nào thật thảnh thơi
Leo lên trời
Ỉa.

(Nguyễn Đức Sơn)

Tác giả những câu thơ vừa dẫn, người có biệt danh là Sơn Núi, hiện đang tha thẩn đâu đó, trong khu rừng Đại Bình, ở B’ Lao. Sống trên núi cao, khi thảnh thơi, muốn leo lên trời (ỉa) quả là điều rất tiện.

Xét về cao độ thì Sơn Núi (Nguyễn Đức Sơn) ở thấp hơn nhiều bạn đồng nghiệp của mình – như Bùi Minh Quốc, Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh, Tiêu Dao Bảo Cự… – xa lắc. Những nhân vật này đều có thời là biên tập viên của tạp chí Lang Biang, tờ báo (đã bị đóng cửa) này lấy tên theo vùng cao nguyên lâm Viên mà họ đang sinh sống. Đỉnh Lâm Viên, ở Đà Lạt, cao đến hai ngàn bốn trăm mét lận. Từ đây, muốn leo lên trời (để đái, hay làm gì tùy thích) còn tiện hơn nhiều.

Ngoài lợi thế nhỏ nhặt này ra, những cư dân ở miền sơn cước gặp phải toàn là những điều (vô cùng) bất tiện. Họ xa cách (mịt mù) với thế giới văn minh, ở những đô thị miền xuôi. Tôm cá hì hục chở lên đến được đến cao nguyên (thường) đã bị ươn, và thông tin khi nhận được thì (ôi thôi) hoàn toàn đã cũ.

Sau khi cuốn Ba Người Khác đã xuất bản một thời gian khá lâu, được thiên hạ khắp nơi bàn tán cho tới chán, mãi đến ngày 9 tháng 4 năm 2007, ở mạng talawas mới thấy xuất hiện một bài viết về tác phẩm này – của một người dân miền núi: nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự.

Tuy chậm trễ (rành rành) như vậy mà tác giả không chịu vậy. Ông ấy vẫn cứ ồn ào, và lớn tiếng như thường:

Đến bây giờ tôi mới được đọc Ba Người Khác sau khi nhiều người đã đọc và có ý kiến. Tuy thế, đọc xong tác phẩm và những phát biểu góp ý phê bình, nhất là qua buổi toạ đàm về Ba Người Khác do Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức ngày 22/12/06, tôi vẫn thấy có vấn đề mới được đặt ra, xuất phát từ tác phẩm, liên quan đến tác giả, các nhà phê bình và trí thức nói chung.

Những “vấn đề mới” được Tiêu Dao Bảo Cự nói rõ, ngay ở tựa bài là: “Sự Liêm Khiết Tinh Thần Và Cái ‘Dũng’ Của Người Cầm Bút Hay Bi Kịch Của Trí Thức Việt Nam.”

Ối Giời! Chuyện “Cái ‘Dũng’ Của Người Cầm Bút Hay Bi Kịch Của Trí Thức Việt Nam” thì chắc phải nói cho tới tết, hay (không chừng) tới chết!

Bà nội mẹ tui cũng không dám lạm bàn đến những vấn đề xa xôi (và lôi thôi) cỡ đó. Phận thường dân, tôi chỉ xin được đề cập đến vài khía cạnh (nho nhỏ) có liên quan đến đám dân thường, hay còn gọi là dân đen, thế thôi.

Một trong những câu hỏi mà Tiêu Dao Bảo Cự nêu lên trong bài viết của ông, nguyên văn, như sau:

… ba cái anh lăng nhăng, thứ ‘đồ ba láp, không biết từ đâu đến lại có thể làm nên những chuyện đảo lộn trời đất? Có thực như vậy không? Hay mọi người đều biết những tên khốn nạn này do Đảng Cộng sản phái xuống làm công tác cải cách và cho chúng quyền uy đến mức nhân dân khiếp sợ phải gọi chúng là “nhất đội nhì giời.” Không có Đảng Cộng sản, chúng nó có thể lộng quyền, tác oai tác quái làm những chuyện kinh thiên động địa như thế không? Đảng Cộng sản Việt Nam được ‘lịch sử giao phó sứ mạng lãnh đạo đất nước’ và trong chuyện Cải cách ruộng đất này Đảng đã làm theo sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc với một phương thức tàn bạo, phi luân, làm đảo lộn mọi giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc Việt Nam và ảnh hưởng lâu dài trên lịch sử đất nước….

Tiêu Dao Bảo Cự và Nguyễn Đức Sơn trên rừng Đại Bình
(Nguồn: DCVOnline/Ảnh: Bao Loc Photo)

“Những tên khốn nạn” hay “đồ bá láp” là những đại danh từ mà Tiêu Dao Bảo Cự dùng để chỉ những cán bộ, trong đội Cải Cách Ruộng Đất. Nhà văn Nguyên Ngọc thì nhẹ lời hơn. Ông gọi họ là “ba cái anh lăng nhăng,” khi phát biểu trong buổi toạ đàm về Ba Người Khác:

“Hoá ra cái thảm kịch của đất nước, xã hội, là do ba cái anh lăng nhăng… Ba kẻ chẳng có kiến thức gì cả, tự nhiên làm đảo lộn hết cả xã hội…”

Trong những trang sổ tay trước, khi để cập đến “Tô Hoài Và Ba Người Khác”, tôi cũng đã (rụt rè) góp ý rằng:

“không hiểu sao ý kiến của Nguyên Ngọc về ba anh đội, ba nhân vật chính trong tác phẩm của Tô Hoài, lại khiến tôi nhớ đến những nhân vật chính khác – những người đã có thời mà quyền lực nhất họ nhì trời – trên sân khấu chính trường ở Việt Nam: Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Đỗ Mười…”

“Thì cũng đều là cái thứ ‘lăng nhăng’ và cũng chính là ‘thủ phạm’ đã làm ‘đảo lộn hết cả xã hội’ bằng nhiều chuyện kinh thiên động địa khác: Hợp Tác Hoá Nông Nghiệp, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Học Tập Cải Tạo, Kinh Tế Mới.”

Nếu chỉ kể tên Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Đỗ Mười (như thế) thì e thiếu vì đã bỏ sót rất nhiều anh đội khác cũng tăm tiếng (và tai tiếng) chả kém ai – như Trường Chinh, Lê Đức Anh, Tố Hữu, Lê Khả Phiêu… Danh sách này còn dài nhưng, theo tôi, không nhất thiết phải hài tên tuổi của tất cả ra đây vì thời của các vị ấy đã qua – và phần lớn đều đã chết.

Việt Nam, có vẻ như, đã bước vào thời kỷ đổi mới. Dân chúng cũng đã có người, và đã có lúc, đặt ít nhiều hy vọng vào những khuôn mặt quyền lực mới. Ông Nguyễn Thanh Giang là một người như vậy:

“Hồi ông Nông Đức Mạnh mới nhậm chức Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam năm 2001, cũng như nhiều người khác, người viết bài này từng cảm nhận một điều gì đó như là sự ngưỡng vọng hoan hỷ trước hình ảnh ông ta xúc động đặt tay lên ngực khi nói lời tuyên thệ”.

Tưởng vậy nhưng không phải vậy. Tưởng như vậy là tuởng bở, tưởng lầm, và là tưởng năng thối. Nguyễn Thanh Giang không cần phải chờ lâu để biết ra như thế:

Vậy mà! Chỉ sau đấy hai ngày, công an Hải Phòng chặn đường bắt cựu chiến binh chống Pháp-chống Mỹ Vũ Cao Quận, dẫn độ ông về nhà khám xét rồi tống giam ông. Liên tục sau đấy là hàng loạt người bị câu lưu, bị tra vấn: Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Nguyễn thị Thanh Xuân, Nguyễn Đắc Kính, Đào Quang Tiến, Hoàng Tiến, Dương Sơn, Dương Hùng, Nguyễn Đan Quế, Thích Quảng Độ, Lê Hồng Hà, Hà Sỹ Phu, Nguyễn Thanh Giang… Rồi Phạm Quế Dương, Trần Khuê, Trần Dũng Tiến, Lê Chí Quang, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn… lần lượt vào tù. Không khí nồng nực đến nỗi một phật tử đã tự thiêu ngay dưới chân một tượng đài lớn ở thành phố Đà Nẵng. Tổ chức “Quan sát Nhân quyền Quốc tế” gửi thư đề nghị các nhà tài trợ quốc tế cắt giảm tài trợ đối với Việt Nam, hạ viện Hoa Kỳ bỏ phiếu thông qua Đạo luật Nhân quyền cho Việt Nam với kết quả đa số tuyệt đối… Từ đấy, Việt Nam bị xếp vào một trong 13 nước kém nhất về tự do báo chí, ngôn luận và bị đưa vào danh sách các quốc gia đáng quan tâm đặc biệt vì thiếu sót về tự do tôn giáo.

Sau khi đặt tin tưởng (hụt) vào ông Nông đức Mạnh, thiên hạ – trong cũng như ngoài nước – bèn dồn kỳ vọng vào … “hai người khác.” Ông Nguyễn Tấn Dũng được Jonathan Pincus, người đứng đầu Chương trình Phát triển Kinh tế của Liên Hợp Quốc ở VN, mô tả như là có khuynh hướng cấp tiến.

Tương tự, Nguyễn Minh Triết được coi là người chống tham nhũng. “Và theo nhận xét chung thì ông sẽ năng nổ hơn người tiền nhiệm, đặc biệt trong lĩnh vực cải tổ kinh tế và pháp luật, làm nền cho VN gia nhập tổ chức WTO trong năm nay” (“And there is a widespread perception he will be more active than his predecessor, particularly in implementing economic and legal reforms that pave the way for Vietnam’s accession to the World Trade Organization”) – theo nguyên văn như lời của Karl D John, qua bài “Vietnam’s South Takes Leadership Wheel,” đọc được trên Asia Times, số ra ngày 28 tháng 6 năm 2006.

Rồi Việt Nam gia nhập WTO thật. Và ngay sau đó qúi ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết … đã có ngay những hành động (cụ thể) để chứng minh cho cả thế giới biết rằng mọi người (lại) đều lầm ráo.

Đây là hiện trạng ở Việt Nam – vẫn theo như lời tường thuật của ông Nguyễn Thanh Giang, vào tháng 5 năm 2007 – qua bài viết thượng dẫn:

Đợt đàn áp mới này không kém phần dữ dội và còn đang diễn tiến khôn lường. Đàn áp, đàn áp …lại đàn áp vốn là lẽ sống của một chính quyền lấy chuyên chính vô sản làm tôn chỉ.

Tuy nhiên người ta không thể không đặt nhiều câu hỏi về lý do, mức độ, mục đích của cuộc đàn áp này.

Trước hết là vấn đề thời điểm.

Vì sao đem xử linh mục Nguyễn văn Lý và một loạt: Nguyễn Phong, Nguyễn Bình Thành, Hoàng Thị Anh Đào, Lê Thị Lệ Hằng ngay lúc Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đang đi Mỹ để dàn xếp hai chuyến thăm Hoa Kỳ đầu tiên của chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Trong khi đó, đoàn đại biểu Tòa thánh Vatican đang viếng thăm Việt Nam?

Vì sao còng tay, tống giam nhà văn Trần Khải Thanh Thủy và bắt luật sư Lê Quốc Quân ngay sát trước ngày khai mạc cuộc Hội đàm Nhân quyền Hoa Kỳ – Việt Nam tại Washington?

Vì sao đã dự kiến chuyến thăm Hoa Kỳ của Chủ tịch nước vào 22 tháng 6 năm 2007 mà trong tháng 5/2007, đầu tháng 6/2007 lại đem xử án hàng loạt: luật sư Nguyễn văn Đài, luật sư Lê thị Công Nhân, nhà văn Trần Khải Thanh Thủy, doanh nhân Trương Quốc Huy và săn lùng tán loạn những: Trương Quốc Tuấn, Lê Trí Tuệ, Bạch Ngọc Dương …?

Vẫn là cái đồ ba láp, cái thứ lăng nhăng, khốn nạn.
(Nguồn: DCVOnline)

Sau chừng đó câu hỏi “tại sao,” ông Nguyễn Thanh Giang “tha thiết kêu gọi toàn dân, toàn Đảng” hãy “cảnh giác” về những thế lực và áp lực của Trung Cộng qua những việc làm tàn bạo và thất nhân tâm – của Đảng CSVN – như ông vừa kể.

Khi nhìn lại những hành động “tàn bạo, phi luân” của Đảng CSVN, hồi nửa thế kỷ trước, nhà văn Tiêu Dao Bảo Cự cũng thấy có vấn đề y như vậy:

Đảng Cộng sản Việt Nam đựợc “lịch sử giao phó sứ mạng lãnh đạo đất nước” và trong chuyện Cải cách ruộng đất này Đảng đã làm theo sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc với một phương thức tàn bạo, phi luân, làm đảo lộn mọi giá trị văn hoá tinh thần của dân tộc Việt Nam và ảnh hưởng lâu dài trên lịch sử đất nước…”

Lịch sử đang lập lại chăng? Xin đừng nói (đại) như vậy mà tội nghiệp cho… lịch sử! Thời Cải Cách Ruộng Đất đã qua bao giờ đâu mà lập lại, cha nội!

Qúi ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Minh Triết… – rõ ràng – ăn mặc (cũng như ăn nói) có dễ coi và dễ nghe hơn những anh đội trong thời kỳ Cải Cách Ruộng Đất nhưng cách hành xử, và bản chất của họ thì vẫn y chang như vậy. Vẫn là cái đồ ba láp, cái thứ lăng nhăng, khốn nạn. Nói tóm lại là cả nước lại vừa có thêm ba người khác nữa, thế thôi.

Tưởng Năng Tiến