NGÀY MAI VÀ NGÀY MAI-Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Trong Tự thú của Thánh Augustinô, ngài mô tả việc trở lại đạo của ngài liên quan đến hai khoảnh khắc ân sủng riêng biệt, khoảnh khắc đầu tiên thuyết phục ngài về mặt trí tuệ, Kitô giáo là đúng, và khoảnh khắc thứ hai giúp ngài sống theo những gì ngài tin.  Phải mất gần chín năm trôi qua giữa hai lần trở lại này và trong chín năm này, ngài đã có lời cầu nguyện nổi tiếng: Lạy Chúa, xin Chúa làm cho con thành người tín hữu Kitô tốt và khiết tịnh – nhưng chưa phải bây giờ.

Thật lạ lùng, Thánh Ephraim người Syria (306-373), một người cùng thời với ngài cũng viết lời cầu nguyện tương tự: Hỡi người yêu dấu của tôi, mỗi ngày tôi làm sai rồi tôi lại ăn năn.  Trong một giờ tôi xây và giờ sau đó tôi phá những gì tôi đã xây.  Buổi tối, tôi nói, ngày mai tôi sẽ ăn năn, nhưng khi sáng mai đến, tôi vui vẻ lãng phí một ngày.  Rồi đến tối, một lần nữa tôi nói, tôi sẽ thức suốt đêm và tôi sẽ xin Chúa thương xót tội lỗi của tôi.  Nhưng khi đêm đến, tôi lại ngủ say.

Điều mà Thánh Augustinô và Thánh Ephraim mô tả là rõ ràng (không phải không có chút hài hước), một trong những khó khăn chúng ta thực sự gặp trong cuộc đấu tranh để lớn lên trong đức tin và trong sự trưởng thành của con người, là thói quen để cuộc đời qua đi khi nói: “Đúng, tôi cần phải làm tốt hơn.  Tôi cần phải chịu đựng và cố gắng khắc phục những thói quen xấu của mình, nhưng chưa phải bây giờ!”

Và thật an ủi khi chúng ta biết đã có những thánh đấu tranh vất vả trong nhiều năm với sự tầm thường, lười biếng, với thói hư tật xấu trong nhiều năm, họ cũng nhún vai chịu thua như chúng ta: “Ngày mai, tôi sẽ bắt đầu một khởi đầu mới!”  Trong vài năm, một trong những câu nói của Thánh Augustinô là, “ngày mai và ngày mai!”

“Đúng, phải thay đổi, nhưng chưa!”  Điều này nói lên con người của chúng ta như thế nào?  Tôi muốn là người tốt, là người tín hữu Kitô tốt.  Tôi muốn sống theo đức tin nhiều hơn, bớt lười biếng, bớt ích kỷ, độ lượng với người khác hơn, chiêm niệm hơn, bớt giận dữ, bớt cay đắng, hoang tưởng và phán xét người khác.  Tôi muốn dừng việc ngồi lê đôi mách và vu khống.  Tôi muốn đóng góp nhiều hơn vào công lý.  Tôi muốn có một đời sống cầu nguyện tốt hơn.  Tôi muốn dành thời gian cho mọi việc, dành nhiều thời gian hơn cho gia đình, thưởng thức hương hoa, lái xe chậm hơn, kiên nhẫn hơn và ít vội vã hơn.  Tôi có một số tật xấu cần phải thay đổi, tâm hồn tôi vẫn còn cay đắng, tôi đã lỗi lầm quá nhiều thứ, tôi thật sự cần phải thay đổi, nhưng chưa phải lúc này.

Trước tiên, tôi phải giải quyết một mối quan hệ cụ thể, tôi lớn lên, thay đổi công việc, kết hôn, nghỉ ngơi, có được sức khỏe, học xong, có thì giờ đi nghỉ hè vì rất cần thiết, để một số vết thương lành lại, để con cái tự lập, nghỉ hưu, dọn đến một giáo xứ mới, và thoát khỏi tình trạng này – sau đó tôi sẽ nghiêm túc xem lại việc thay đổi những chuyện xấu này.  Lạy Chúa, xin làm cho con trở nên người trưởng thành hơn và là một tín hữu Kitô, nhưng chưa phải lúc này!

Cuối cùng, đó không phải là lời cầu nguyện tốt.  Thánh Augustinô nói với chúng ta, trong nhiều năm, khi đọc lời cầu nguyện này, ngài đã hợp lý hóa sự tầm thường của mình.  Tuy nhiên, một trận đại hồng thủy bắt đầu dấy lên trong tâm hồn ngài.  Chúa đã vô cùng kiên nhẫn với chúng ta, nhưng sự kiên nhẫn của chúng ta với chính mình cuối cùng cũng cạn kiệt và đến một lúc nào đó, chúng ta không thể tiếp tục như trước nữa.

Trong quyển 8 của bộ sách Tự thú, Thánh Augustinô kể, một ngày nọ, khi đang ngồi trong vườn, ngài bị choáng vì sự thiếu trưởng thành và tầm thường của mình và “một cơn bão to lớn ập đến trong tôi, tôi bật khóc sướt mướt…  Tôi gieo mình xuống gốc cây vả và để cho nước mắt tuôn trào… tôi khóc trong nỗi đau khổ: ‘Cho đến lúc nào tôi vẫn còn nói ngày mai, ngày mai đây.  Tại sao không phải bây giờ?’” Khi ngài đứng lên, cuộc đời ngài đã thay đổi; ngài không còn chấm dứt lời cầu nguyện với câu “nhưng chưa” dù là manh nha trong đầu.

Chúng ta tất cả đều có một số thói quen nào đó trong cuộc sống mà chúng ta biết là xấu, nhưng vì nhiều lý do (lười biếng, nghiện ngập, thiếu sức mạnh tinh thần, mệt mỏi, tức giận, hoang tưởng, ghen tuông, bị áp lực của gia đình, của bạn bè) chúng ta không chịu ngưng.  Chúng ta cảm nhận sự tầm thường của mình, nhưng tự an ủi, cho rằng mọi người (trừ các thánh) thường tự bào chữa, nói ra hoặc không nói ra trong lời cầu nguyện của họ: “Đúng, thưa Chúa, nhưng chưa phải lúc này!”

Thật vậy, trong lời cầu nguyện này có một an ủi xác đáng, nó nhận ra một điều gì đó quan trọng bên trong sự hiểu biết và lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa.  Tôi ngờ rằng Chúa đối phó với những lỗi lầm của chúng ta tốt hơn là chúng ta đối phó với lỗi lầm của mình và những người khác đối phó với chúng ta.  Tuy nhiên, giống như Thánh Augustinô, ngay cả khi chúng ta nói, “ngày mai và ngày mai”, một cơn bão vẫn tiếp tục dấy lên trong lòng chúng ta, sớm hay muộn, sự tầm thường của chính chúng ta sẽ làm cho chúng ta phát điên lên để nói: “Tại sao không phải bây giờ?”

Khi tác giả Thánh vịnh viết: “Hãy hát lên một bài ca mới”, chúng ta tự hỏi, bài ca cũ là gì?  Đó là lời cầu nguyện kết thúc, Đúng, lạy Chúa, nhưng chưa phải bây giờ!

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

BỊNH TRẦM CẢM – Bs Lê Ánh

Bs Lê Ánh

       

III-Cách phòng ngừa và trị liệu bịnh trầm cảm

Những nghiên cứu của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (World Health Organization) tiên đoán rằng tới năm 2020 thì bịnh trầm cảm (major depression) sẽ trở thành căn bịnh thứ nhì dẫn đến tàn tật (disability) trên toàn thế giới và căn bịnh thứ nhứt dẫn đến tàn tật ở những nước đang phát triển.

Bịnh trầm cảm là một bịnh rất phổ biến. Cứ 100 người có đến 10 người bị bịnh này và xác suất bị bịnh này trong đời người (lifetime prevalence) có thể đến 15%. Hiện thời chưa có những thống kê về bịnh trầm cảm ở người Việt Nam. Có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng cuộc sống gây căng thẳng tinh thần hay những biến cố tạo khủng hoảng trong cuộc sống là nguyên nhân gây bịnh trầm cảm.

Theo kinh nghiệm của người viết thì bịnh trầm cảm xảy ra ở người Việt Nam có xác suất cao hơn người Mỹ bản xứ. Lý do là đa số người Việt Nam sống ở hải ngoại là người tị nạn và họ đã trải qua rất nhiều biến cố, khủng hoảng trong đời sống. Những khủng hoảng đó là chiến tranh Việt Nam, tù cải tạo, thuyền nhân vượt biển, nhiều khó khăn đáp ứng với văn hóa nước ngoài và đời sống kinh tế không tốt đẹp.

Ta có thể ước lượng rằng xác suất của thế hệ thứ nhứt, sanh trưởng tại Việt Nam và di tản định cư ở hải ngoại, bị trầm cảm có thể gấp 2 hay 3 lần người bản xứ. Đây là thế hệ đã trải qua rất nhiều biến cố, khủng hoảng như đã kể trên. Một số người vì mưu sinh, sống còn đã vượt qua được những triệu chứng trầm cảm lần đầu tiên. Nhưng vài năm sau đó, hệ thống thần kinh bị suy nhược sẵn, chỉ có một biến cố nhẹ hơn trong cuộc sống (thí dụ như xích mích vợ chồng hoặc con cái rời nhà sống riêng) cũng có thể gây ra bịnh trầm cảm nặng (major depression).

Thế hệ thứ 1.5, sinh tại Việt Nam di tản và định cư theo cha mẹ ở nước ngoài lúc còn nhỏ, cũng có những căng thẳng riêng của họ. Đó là những mâu thuẫn về nguồn gốc của mình. Họ không hẳn là người Việt cũng không hẳn là người bản xứ hoàn toàn nên có nhiều khó khăn trong việc đáp ứng kết hợp văn hóa bản xứ với văn hóa của gia đình. Nếu theo phong tục của bạn thì về nhà phụ huynh không vừa lòng, còn theo phong tục gia đình thì khó đáp ứng được với bạn bè cùng trang lứa.

I-Những dấu hiệu của bịnh trầm cảm

Người Á châu ít chịu công nhận những triệu chứng của bịnh trầm cảm vì những lý do văn hóa. Hiện thời có rất nhiều sự hiểu lầm về bịnh trầm cảm. Xã hội tin rằng những người bị trầm cảm là những người lười biếng với ý chí bị suy kém. Người ta còn tin rằng bịnh trầm cảm là một bịnh tưởng tượng vì bác sĩ gia đình không tìm được nguyên do thể chất của những triệu chứng đau nhức của bịnh trầm cảm. Một số khác nghĩ rằng bịnh nhân trầm cảm có “tánh xấu” vì họ hay bực bội cau có gây gổ với mọi người.

Bịnh trầm cảm không giống như bịnh cảm, ta ngủ một đêm sáng thức dậy thấy mệt mỏi và nghẹt mũi. Bịnh trầm cảm xảy ra rất chậm cho nên đôi lúc bịnh nhân không nhìn ra được những dấu hiệu của nó vì những triệu chứng trầm cảm tăng từ từ. Đến lúc bịnh trầm cảm trở thành nặng, người bịnh không đi làm được hay không sinh hoạt bình thường trong gia đình thì mới tìm bác sĩ để trị bịnh.

Vì những lý do trên mà những bịnh nhân Á châu khi khai những triệu chứng trầm cảm, họ ít khi chịu khai những triệu chứng tâm lý mà liệt khai những triệu chứng thể xác đánh lạc hướng chẩn đoán của bác sĩ gia đình. Theo cách chẩn đoán của khoa tâm thần thì hai triệu chứng chính để chẩn đoán trầm cảm là: buồn sầu (depression) và mất sự hứng thú trong đời sống (anhedonia). Những triệu chứng này ít thấy những người bịnh nhân Á châu than phiền. Nếu có than phiền về sự mất hứng thú thì họ hay ghép vào đó một nguyên nhân chính đáng như cơ thể bị đau nhức kinh niên chẳng hạn. Vì thế một số đông bịnh nhân Á châu không được chẩn đoán và trị liệu đúng mức.

Những triệu chứng trầm cảm thường được thấy ở những bịnh nhân Á châu là những cơn đau nhức bất thường, giấc ngủ bị thay đổi (mất ngủ hay ngủ li bì), người hay mệt kinh niên, xáo trộn trong khẩu vị (ít ăn, xuống cân), hay quên, không tập trung tư tưởng được, người hay “tự ái”, dễ bực bội (irritability). Ngay cả triệu chứng bực bội cũng được che đậy qua những lý do như những căng thẳng ở sở làm, con cái không vâng lời, người hôn phối không đối xử tốt với mình. Chính vì thế mà khi mới nghe bịnh nhân kể lể, bác sĩ gia đình ít khi nghĩ đến bịnh trầm cảm. Thật ra những căng thẳng trong cuộc sống ai cũng có, nhưng đối với người bị trầm cảm căng thẳng được cảm nhận nhiều hơn bình thường.

Những nghiên cứu gần đây cho thấy rằng khoảng 60% bịnh nhân trầm cảm bị đau nhức trong người. Gần 1/3 (30%) bịnh nhân đau kinh niên bị bịnh trầm cảm. Ở nước Mỹ, hàng năm có khoảng 400 triệu chuyến khám bác sĩ (clinic visits) thì gần phân nửa là vì đau nhức. 90% những bịnh nhân có những triệu chứng tâm lý được chẩn đoán đúng mức. Nhưng chỉ có 50% bịnh nhân trầm cảm có triệu chứng thể xác được bác sĩ gia đình chẩn đoán và nhận ra bịnh trầm cảm. Nếu những bịnh nhân này có kèm theo những bịnh về thể xác thì xác suất nhận ra bịnh bịnh trầm cảm chỉ có 20% mà thôi.

Theo cách chẩn đoán của khoa Tâm Thần thì chỉ cần 2 tuần lễ có những triệu chứng trầm cảm kể trên thường xuyên ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình và xã hội là hội đủ điều kiện của bịnh trầm cảm. Tuy nhiên trên thực tế, bịnh nhân chờ đợi rất lâu, cả tháng đến cả năm trời mới chịu đi khám bác sĩ. Thời gian chần chờ chữa trị lâu hơn ở bịnh nhân Á châu vì họ rất sợ bị gán cho cái bịnh tâm thần (mental illness). Khi chần chờ lâu thì hệ thống thần kinh bị suy thoái nhiều gây rắc rối cho việc chữa trị. Ngoài ra khi bịnh trầm cảm trở nên nặng thì bịnh nhân thường có những ý nghĩ chán đời, không muốn sống và thậm chí có ý định tự tử.

II-Bịnh trầm cảm có cơ sở thần kinh học (neurology)

Những nghiên cứu chụp hình não mới nhất cho thấy rằng bịnh trầm cảm không phải là một bịnh “tưởng tượng” vì nó gây ra rất nhiều biến đổi trong sự hoạt động của não bộ. Những cơ cấu thần kinh (brain structures) và mạch thần kinh (neural circuits) điều hòa những triệu chứng căng thẳng thể xác được dùng chung với bịnh trầm cảm. Chính vì thế mà khi bị trầm cảm, bịnh nhân có nhiều triệu chứng tâm lý lẫn thể xác. Cái khác biệt là bịnh nhân Á châu lọc ra những triệu chứng tâm lý, chỉ khai với bác sĩ những triệu chứng thể xác.

Những nghiên cứu chụp hình não bằng PET scan hay fMRI cho thấy rằng khi bị trầm cảm, hệ thống limbic (limbic system) hoạt động quá độ từ đó sinh ra những triệu chứng căng thẳng tinh thần như cau có, lo âu phiền não, mất ngủ,… Hệ thống cortex (cortical system) hoạt động yếu, sinh ra những triệu chứng như thiếu sự chăm chú, mất khả năng suy xét, mất sự nhậy bén lanh lẹ,… Khi bịnh trầm cảm được điều trị thì những mất quân bình kể trên đổi chiều và bình thường trở lại.

Khi bị trầm cảm lâu ngày, sự căng thẳng thường xuyên sẽ tạo ra những kích thích tố xấu (glucocorticoids) làm giảm những chất nuôi dưỡng tế bào thần kinh (Brain derived nerve growth factor, viết tắt BDNF). Khi glucocorticoids tăng và BDNF giảm thì sẽ làm hư hỏng một số tế bào thần kinh. Nhóm tế bào thần kinh kết cấu tạo thành vùng hippocampus rất nhậy cảm với glucocorticoids. Khi những tế bào thần kinh chết dần, cấu trúc này bị thoái hóa (atrophy). Vùng hippocampus của óc rất quan trọng trong việc giúp ta có trí nhớ ngắn hạn. Vì thế khi bị căng thẳng hay trầm cảm lâu ngày không trị liệu thì trí nhớ sẽ bị ảnh hưởng xấu. Lạm dụng xì ke ma túy cũng có tác động tương tự lên vùng hippocampus.

Có rất nhiều nguy cơ xảy ra khi bịnh trầm cảm không được điều trị đúng mức. Nguy cơ ở cá nhân thì như đã kể ở bài trước, khi bị căng thẳng (stress) lâu ngày thì sẽ làm hư hỏng nhiều phần của não bộ. Mới đầu ta chỉ thấy sự xáo trộn trong sự phân phối hoạt động của các vùng trong não bộ, như vùng limbic hoạt động quá độ còn vùng cortex hoạt động kém hơn. Khi để lâu sự mất quân bình này dẫn đến sự xáo trộn về chất thần kinh giao nối (neurotransmitter imbalance) và sau đó dẫn đến sự xáo trộn về nội tiết (endocrine imbalance). Khi nội tiết bị xáo trộn thì hiện nay chưa có cách trị hữu hiệu vì khoa học chưa phát minh ra thuốc trị nội tiết mất quân bình.

Bịnh trầm cảm ảnh hưởng xấu đến các bịnh thể xác khác một cách gián tiếp và trực tiếp. Căng thẳng của chứng trầm cảm làm bịnh nhân cảm thấy đau nhức nhiều hơn người không bị trầm cảm. Khi uống thuốc thì họ bị phản ứng phụ nhiều hơn vì sự căng thẳng làm giảm sự chịu đựng của cơ thể họ, do đó mà các bịnh khác không được trị đúng mức. Khi bị trầm cảm nặng, bịnh nhân chán chường nên bỏ bê việc uống thuốc thường xuyên, không tập thể dục và ăn uống bất thường làm các bịnh như tiểu dường hay cao máu nặng hơn. Ngoài ra trầm cảm cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thống miễn nhiễm (immune system), các bịnh tim mạch, đường ruột, hô hấp làm triệu chứng của các bịnh này nặng hơn.

Ở nam giới bịnh trầm cảm không được chữa trị dễ dẫn đến lạm dụng rượu, hút thuốc và xì ke ma túy. Sự nghiện ngập hút xách sẽ làm bịnh trầm cảm nặng hơn. Nó sẽ dẫn đến sự sụp đổ gia đình rất nhanh. Những nghiên cứu cho thấy sự bạo hành gia đình tăng lên với người bị trầm cảm. Nguy cơ tử vong khi tự tử rất cao ở nam giới bị trầm cảm. Nguy cơ này cao hơn nữa nếu bịnh nhân trầm cảm hút xách và mất tự chủ. Ngoài ra còn có nguy cơ làm hại sinh mạng kẻ khác khi trong lúc say rượu và tuyệt vọng, bịnh nhân giết con cái hay hôn phối của mình.

Về gia đình thì người bịnh trầm cảm bỏ bê sinh hoạt gia đình, thích ở trong phòng một mình, hay gây gỗ với người thân, họ bị tự ái quá độ, tình cảm mất quân bình, dễ la lối khóc lóc vì thế mà quan hệ gia đình rất căng thẳng. Một số người mất sự thích thú tình dục, không thích chưng diện, không chăm sóc người phối ngẫu, làm quan hệ hôn nhân bị lung lay. Nếu là phụ huynh thì sự chăm sóc con cái bị suy giảm, khiến người phối ngẫu phải làm việc nhiều hơn, đó cũng là một nguyên nhân đưa đến sự xung đột trong gia đình. Phụ huynh bị trầm cảm không dằn được cơn bực bội hay la mắng, thậm chí đánh đập con cái rồi sau đó họ bị mặc cảm tội lỗi dày vò. Nguy cơ ly dị ở người bị trầm cảm cao hơn bình thường.

Người bịnh trầm cảm không đáp ứng được với những nhu cầu của công việc. Họ dễ bị căng thẳng khi bị đồng nghiệp hay chủ sở phê bình. Họ làm việc chậm hơn người thường vì thiếu chăm chú và hay quên. Họ hay mất ngủ và sáng vào sở uống cà phê thật nhiều. Lạm dụng cà phê sẽ làm cơ thể căng thẳng hơn và sau đó họ sẽ lâm vào trường hợp mệt mỏi và hay bị lo âu quá độ. Lâu ngày tinh thần sẽ sa sút càng nhiều và những căng bịnh thể xác như nhức mỏi, nhức đầu sẽ ngày càng nhiều. Đến mức độ nào đó họ sẽ mất khả năng làm việc hữu hiệu và bị đuổi sở. Khi mất việc làm thì bịnh trầm cảm sẽ qua giai đoạn nặng, có nguy cơ tự tử.

Nói tóm lại những cảnh địa ngục trần gian sẽ tránh được khi bịnh trầm cảm được chẩn đoán và điều trị đúng mức.

Bịnh trầm cảm không phải lúc nào cũng phải được trị bằng thuốc men. Ta có thể thay đổi cuộc sống và lối suy suy nghĩ để tránh bịnh trầm cảm trở thành nặng. Một số người khi thay đổi cách suy nghĩ và lối sống thì căng thẳng (stress) giảm đáng kể, từ đó mà các triệu chứng trầm cảm bớt đi và có thể hết. Thí dụ như giảm công việc lại, làm ít giờ hơn, có nhiều thời gian sinh hoạt với gia đình, dành nhiều thời giờ đối thoại với người phối ngẫu để san bằng cái hố hiểu lầm. Nếu là sinh viên thì giảm số giờ học (units) lại, tăng thời gian nghỉ ngơi và ăn ngủ điều độ. Tránh lạm dụng cà phê hay rượu chè. Tập thể dục thể thao cũng có khả năng làm giảm trầm cảm. Tập thể thao thường xuyên sẽ làm tăng chất BDNF (Brain Derived Neutrophic Factor), giúp những tế bào thần kinh sống lâu hơn.

Tìm hiểu tôn giáo để học hỏi những cách sống cho tâm hồn thư thản cũng là một cách phòng ngừa trầm cảm. Những nghiên cứu cho thấy tâm tĩnh lặng (mindfulness) rất hữu hiệu trị lo âu và trầm cảm. Khi suy nghĩ lo âu nhiều quá thì ta tạo căng thẳng cho hệ thống thần kinh. Khi hệ thần kinh làm việc quá độ thì sẽ gây ra những triệu chứng lo ra và mất trí nhớ. Tâm tĩnh lặng tạo những thay đổi tốt cho não bộ và được thể hiện qua sơ đồ điện não (EEG) và chụp hình PET scan. Căng thẳng kinh niên sẽ gây ra bịnh trầm cảm. Tinh thần cạnh tranh, hơn thua tạo ra rất nhiều căng thẳng và không thích hợp với bịnh trầm cảm. Nếu người có di truyền trầm cảm, căng thẳng sẽ làm trầm cảm phát triển sớm hơn. Những pháp môn tôn giáo như niệm Phật, cầu nguyện Chúa, hay thiền là những cách giáng tiếp hay trực tiếp dẫn đến tâm tĩnh lặng.

Tâm lý học có những phương pháp tâm lý trị liệu như tâm lý trị liệu nâng đỡ (supportive therapy), tâm lý trị liệu nhận thức và hành động (cognitive behavioral therapy) để giúp người bị trầm cảm đi qua những cơn khủng hoảng tinh thần và giúp họ hội nhập vào gia đình và xã hội. Tâm lý trị liệu dùng tâm tĩnh lặng (mindful therapy) rất thành công ở những bịnh nhân bị ung thư và trầm cảm đi đôi. Ở những bịnh trầm cảm nặng, tâm lý trị liệu phối hợp với thuốc men công hiệu hơn là trị thuốc men một mình.

Nói về cách trị liệu bằng thuốc thì hiện nay nhóm thuốc làm tăng Serotonin (Selective Serotonin Reuptake Inhibitor-SSRI) rất phổ biến trong việc dùng trị bịnh trầm cảm. Nhóm thuốc này gồm có Fluoxetine (Prozac), Paroxetine (Paxil), Sertraline (Zoloft), Citalopram (Celexa) và Escitalopram (Lexapro). Những loại thuốc trên có thể đều có công dụng bằng nhau nhưng khác về phản ứng phụ. Bác sĩ tùy triệu chứng của bịnh nhân mà chọn thuốc. Ngoài ra còn có nhóm thuốc ảnh hưởng Serotonin và Norepinephrine (Serotonin-Norepinephrine reuptake inhibitor- SNRI). Nhóm thuốc này gồm có Venlafaxine (Effexor) và Duloxetine (Cymbalta). Còn nhiều thuốc nữa không tiện liệt kê ra hết. Càng ngày càng có nhiều loại thuốc mới ra nên việc trị liệu bịnh trầm cảm tương đối hữu hiệu hơn lúc trước.

IV-Những điều cần quan tâm khi trị bịnh trầm cảm bằng thuốc men

Những nghiên cứu thuốc trầm cảm ở trẻ em cho thấy rằng loại thuốc này có thể tăng những ý muốn tự vận. Không có trường hợp hoàn tất tự tử (suicide completion). Con số này rất nhỏ tuy nhiên FDA vẫn ra thông báo để cho các bác sĩ đề phòng. Các nhà nghiên cứu nghĩ rằng một số những đứa trẻ có ý muốn tự vận bị chẩn đoán lầm. Những em này có thể bị bịnh tình cảm lưỡng cực (bipolar affective disorder), khi uống thuốc trầm cảm, trong người thấy bứt rứt khó chịu hay bực bội nhiều hơn mà không tự chủ được.

Những giai đoạn bác sĩ cần theo dõi bịnh nhân kỹ là giai đoạn khởi đầu uống thuốc và giai đoạn điều chỉnh thuốc liều cao hơn. Nếu bịnh nhân uống thuốc trầm cảm cảm thấy khó chịu, có những cơn vui quá độ (mania), cảm thấy năng lực tăng thật nhiều mà không cần ăn và ngủ, thì nên dừng thuốc và thông báo bác sĩ tức thời. Nói chung, thuốc trị trầm cảm rất an toàn.

V-Tóm lại

Bịnh trầm cảm không phải là một bịnh tưởng tượng như người ta thường nghĩ. Người bịnh trầm cảm không thể dùng ý chí để vượt qua căn bịnh này mà cần phải được trị liệu đúng cách. Bịnh này cũng không hẳn chỉ là bịnh tâm thần vì nó có nhiều triệu chứng về thể xác, và nó có cơ sở thần kinh sinh lý học (neurobiology). Nếu không trị đúng mức bịnh này sẽ gây tai hại cho cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội.

Bác sĩ LÊ ÁNH

From: Do Tan Hung & Kim Bang Nguyen

Truyện ngắn…Bên thắng cuộc” “Việt Nam yêu dấu”

“Chú bộ đội ơi! Tiếc quá, hòa bình rồi, không còn chiến tranh để lớn lên cháu được giết kẻ thù như các chú..”

Đó là lời của một đứa trẻ được phát đi trên đài phát thanh từ Hà Nội vào một buổi sáng sớm qua cái loa của trại giam những người “bên thua cuộc” ở giữa rừng Hoàng liên Sơn miền bắc.

Một viên gạch thẻ xây nhà, đánh thẳng vào giữa mặt một tên tù trẻ hình sự miền bắc, khiến hắn đổ gục xuống, nằm bất tỉnh trên đường đất mòn cỏ úa, giữa một đám người đứng vây quanh mà, qua nét mặt, diễn tả sự thành quả của họ như thể là một chiến công lớn trong một “trận chiến” rượt đuổi, vây bắt  kẻ địch… vì nó… đã nhổ trộm một gốc khoai mì..

Ở nhà trường, trong lớp học ở miền bắc, thầy, cô giáo dạy học trò làm tính nhân như sau: “Một quả lựu đạn giết được 5 người, vậy 2 quả giết được bao nhiêu?”

Ở miền nam, thầy, cô lại dạy rằng: “Một trái cam ngọt chia cho 4 em, vậy 2 trái cam ngọt chia được bao nhiêu em?”

“Nhân chi sơ, tính bản thiện”. Đứa trẻ lớn lên, thiện, ác do kết quả giáo dục của nhà trường, dạy dỗ của cha, mẹ và hoàn cảnh sinh hoạt của xã hội.

Bà mẹ Mạnh Tử, xưa kia dạy con đã phải 3 lần dọn nhà: Lần đầu ở cạnh nhà một đồ tể. Hàng ngày bà thấy con mình thường hay cầm dao giả giết heo như người hàng xóm, sợ quá, bà bèn dọn nhà đến một nơi khác. Ở nơi mới này, bà lại thấy con mình cùng đám trẻ hàng xóm giả làm người nhà đòn, chôn khóc người chết. Hóa ra người hàng xóm làm nghề chôn cất. Bà thấy không được, vội dọn đến ở cạnh một trường học. Những ngày sau, bà thấy con mình đòi mua sách, vở, rồi cắp sách, cầm bút giả đi học như những đứa học trò kia. Bà thấy yên tâm, vui mừng, thầm nghĩ: Đây là nơi ở cuối cùng…

Sau này Mạnh Tử trở thành thánh hiền.

Người Việt miền nam tự do và người Việt miền bắc cộng sản thiện, ác khác nhau chính do từ lớn lên trong những môi trường: giáo dục của nhà trường, dạy bảo của gia đình và sinh hoạt của xã hội v.v….

Mới đây, ông giáo sư tiến sĩ Nguyễn hưng Quốc dạy ở đại học Úc có đề cập đến những cái “chết trên quê hương Việt Nam” qua tựa đề: “tại sao người ta tàn nhẫn đến vậy?” Trong đó, ông liệt kê những sự chém giết hung ác, hỗn loạn trong xã hội Việt Nam ngày nay. Cuối bài ông kết luận: “tại Việt Nam bây giờ, bất cứ điều gì cũng dẫn đến cái chết oan nghiệt”.

Một điều chắc chắn rằng chủ trương: “trồng cây mười năm, trồng người trăm năm” của “bác” Hồ, mọi người lớn, bé miền bắc trước kia và, người Việt Nam trong nước bây giờ đều biết.

Như vậy thì rõ ràng kết quả của những con toán nhân qua quả lựu đạn ở nhà trường dẫn đến đứa trẻ than phiền vì hòa bình rồi, không còn kẻ thù để nó giết, chính là kết quả tất yếu của một nền giáo dục… kỹ thuật “trồng người”.

Tại một trại giam những người bên “thua cuộc” ở núi rừng miền bắc, một ông trung úy “tháng ba gẫy súng” đi lạc trong rừng, bị người dân vây vít, hò hét, gậy gộc đánh tới chết, trói tay, trói chân, đòn tre dài xuyên qua, “hồ hởi” khiêng xác đến vứt trước cổng trại. Được bộ đội ân cần cám ơn vì đã lập công giết kẻ trốn trại !!..

Một tên bộ đội tài xế xe molotova, thú tính nổi dậy, âm thầm, lặng lẽ, trèo nhẹ lên xe, nổ máy, vội vã lùi xe, cán chết một bệnh nhân bên “thua cuộc” đang lao động trị liệu nhổ cỏ ở sau xe… Nét mặt lạnh lùng, cười đểu… “lỡ”!…

Tại một đồn điền cà phê ở Ban mê Thuột, chủ nhân là người Hà Nội lùa chó giết người như sau:

3 người đàn bà, 1 già, 2 trẻ, lẻn qua hàng rào vào nhặt mót những hột cà phê sau khi đồn điền đã thu hoạch xong. Chủ đồn điền lẳng lặng thả 2 con chó bẹc-giê ra rượt cắn.Vì sức yếu, bà già không kịp trèo lên cây như 2 cô gái trẻ kia, bị 2 con chó xé xác!!.. Chủ vườn lạnh máu đi mở cũi thả thêm 2 con chó nữa, buông nhẹ một câu: “cho mày chết”!..

Chưa hết: Vợ chồng người em giết chết vợ, chồng anh ruột chỉ vì con mèo của mình qua ăn vụng nồi cá, bị anh ruột đánh chết !!..

2 “cẩu tặc” bị đánh chết vì trộm một con chó !!…

Chê nước mía bán không ngọt bị chủ đuổi theo đánh chết….

Khách nhậu ngồi bàn bên kia, mắt bị lé… Nghĩ hắn nhìn trộm người yêu của mình… đâm chết!!…

Nghiện ngập, túng tiền, dẫn người tình vào khách sạn, sau khi ân ái, giết chết, lấy tiền, lấy vàng, lấy điện thoại di động, lấy xe, đi cầm…

Cướp giật dây chuyền bằng cách chém đứt bàn tay cho chắc ăn… v.v…. Nhiều lắm, kể ra đây không hết… Nói theo kiểu văn chương của người Hà Nội là: “lấy nước biển đông làm mực, lấy lá rừng làm giấy” cũng không đủ để viết hết cảnh chém giết trong xã hội của “bên thắng cuộc” hiện nay…..

Karl Marx, ông tổ của chủ nghĩa duy vật nói rằng: “trong lao động, có phát minh”. Ông Hồ và người Hà Nội lập đền thờ ông và học trò ông Marx như Stalin,Lenin v.v… Dựng ra một trường học lớn có tên là: “viện triết học Marx”, bắt cả nước miền Bắc học tập.

Bắt nguồn từ “trong lao động, có phát minh” đó, cho nên, mới đầu giết người bằng gậy gộc, giáo, mác thô sơ, sau tiến lên đến súng đạn, mã tấu, rồi tinh vi hơn nữa là dao, kéo, cắt cổ, lọc xương, bỏ vào bao bố phi tang… Dã man hơn thời thượng cổ!!

Miền Nam Việt Nam xưa kia, đàn bà đi đánh ghen chỉ xẩy ra có một lần độc nhất tạt át-xít đối thủ là vũ nữ, mà cả vợ lẫn chồng bị mất chức, vào tù… Nạn nhân được gửi đi Nhật để chữa trị. Vũ trường trên cả nước bị đóng cửa…

Ngày nay, đất nước của “bác” và của “đảng”, đàn bà đánh ghen, không chỉ tạt ác-xít, mà nạn nhân còn bị lột trần truồng giữa phố, được công an can thiệp bằng câu: “đó là chuyện riêng”!.. Đúng ý nghĩa: “dân làm chủ”.!.!.. 

Giã từ quê hương mà:“Chân bước đi, mặt còn ngoảnh lại, từ cái mái nhà, cái thềm nhà, cái lối đi, cho đến bụi cây, đám cỏ, cái gì cũng làm cho tôi quyến luyến khác thường..”Đó là lời của bài chính tả trong quốc văn giáo khoa thư mà tôi đã học khi còn bé ở lớp 3 trường làng…

Hơn 70 năm qua rồi, tôi vẫn còn xúc động, vấn vương hình ảnh và cõi lòng lưu luyến của kẻ ra đi trong bài chính tả đó…

Thê thảm thay, ngày 30/4/1975, ngày miền Nam được “bên thắng cuộc” “giải phóng”, cả triệu người kinh hoàng, hoảng hốt bỏ chạy, không một ai dám quay đầu nhìn lại quê hương!…. Không vấn vương, không lưu luyến, không hề mang chút tâm sự của kẻ xa nhà nhung nhớ như ở trong bài chính tả kia.

Bây giờ, hơn 46 năm qua, quê hương rách nát, quê hương bệnh hoạn, quê hương phồn vinh giả tạo, quê hương như trái dưa hấu xanh vỏ, nhưng lòng đỏ đã rữa nát… quê hương vô phương cứu chữa !!..

Lỗ Trí Thâm

Viết ở Thủ Đô Tỵ nạn Cộng Sản

Nhiều báo VN gỡ đoạn phát ngôn của ông Nguyễn Xuân Phúc về gia đình và vụ Việt Á?

BBC

6 tháng 2 2023

Cựu Chủ tịch Nguyễn Xuân Phúc và vợ – bà Trần Thị Nguyệt Thu

Chiều ngày 4/2, một số báo Việt Nam dẫn lời ông Nguyễn Xuân Phúc phủ định việc gia đình liên quan đến vụ Việt Á, nhưng đến ngày 6/2 những phát ngôn này đã biến mất.

Cụ thể, bài viết trên báo Tuổi Trẻ với tiêu đề “Nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc nói về lý do xin thôi nhiệm vụ” từng có đoạn tít phụ viết là “Gia đình tôi, vợ, các con tôi không tư lợi, tham nhũng liên quan đến Việt Á”.

Nguyên văn lời ông Phúc nói được Tuổi Trẻ trích dẫn: “Nguyên Chủ tịch cũng xin nói thêm một ý về vụ Việt Á. Gia đình tôi, vợ, các con tôi không tư lợi, tham nhũng liên quan đến Việt Á, chưa bao giờ gặp giám đốc Việt Á, điều này đã được Ủy ban Kiểm tra Trung ương kết luận rõ ràng”. Đoạn này và cả tít phụ nói trên đều bị gỡ bỏ. Tuy nhiên từ khóa “Việt Á” vẫn còn được giữ ở cuối bài viết trên Tuổi Trẻ.

BBC cũng kiểm tra lại các trang như Thanh Niên, Tiền Phong, Tạp chí Công thương… thì đoạn nội dung mà cựu Chủ tịch Nguyễn Xuân Phúc thanh minh về vụ Việt Á chỉ còn xuất hiện dưới dạng tìm kiếm của Google, khi bấm vào thì nội dung này đều đã bị xóa bỏ.

Phát ngôn của ông Phúc phủ định gia đình, đặc biệt vợ ông có dính líu đến Việt Á có thể được coi là lần hiếm hoi của một trong tứ trụ ở Việt Nam lên tiếng về tin đồn xung quanh việc thôi chức vụ của mình.

Thế nhưng, cho đến khoảng 17 giờ 30 giờ Việt Nam cùng ngày 6/2, tờ báo của Tỉnh ủy Quảng Nam vẫn để nguyên lời phát ngôn của nguyên Chủ tịch Phúc, người quê từ tỉnh này. Tuy nhiên, cho đến ngày 7/2, phần phát biểu của ông Phúc về vợ và gia đình trong vụ Việt Á cũng đã bị gỡ bỏ.

Trong một diễn biến khác, bài viết trên Facebook của cây bút Huy Đức (Truong Huy San) bình luận về phát ngôn thanh minh của ông Phúc trước đó đạt khoảng 13 nghìn lượt tương tác đã bị báo cáo vi phạm bản quyền.

Đến khoảng 17 giờ 30 giờ Việt Nam cùng ngày 6/2, tờ báo của tỉnh ủy Quảng Nam vẫn để nguyên lời phát ngôn của nguyên Chủ tịch Phúc, người quê từ tỉnh này. Nhưng đến ngày 7/2, đoạn phát ngôn đã biến mất

Ông Nguyễn Xuân Phúc: ‘Gia đình tôi, vợ, các con tôi không tư lợi, tham nhũng liên quan đến Việt Á’

Nên minh bạch lý do Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc từ chức

VN: Vì sao Đảng khai trừ quan chức tham nhũng rồi mới để tòa xử?

Lời thanh minh của ông Phúc được nhiều người trích dẫn và bình luận, giữa bối cảnh có nhiều đồn đoán chính vợ (bà Trần Thị Nguyệt Thu) và gia đình ông có dính líu đến vụ án Việt Á nên sự nghiệp chính trị của ông Phúc phải đi đến đường cùng.

Trước đó, ngày 20/1, Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp nhà nghiên cứu cao cấp về chính trị thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS) ở Singapore phát biểu với đài CNA rằng: “Tôi nghĩ lý do chính vợ ông ta và một số thành viên trong gia đình ông bị cáo buộc dính líu đến một số vụ bê bối tham nhũng.

“Trong các tuyên bố chính thức, đảng không đề cập đến những vấn đề tham nhũng vì tôi nghĩ đảng muốn giữ thể diện cho ông ấy và để bảo vệ danh tiếng lẫn hình ảnh của đảng,” và “Họ không muốn công chúng tin hoặc nghĩ rằng ngay cả những nhà lãnh đạo cao nhất của đảng cũng tham nhũng,” vẫn trích dẫn lời ông Hiệp trên trang CNA.

Việt Á được Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh là vụ án trọng điểm. Trung tướng Tô Ân Xô, người phát ngôn Bộ Công an đánh giá đây là vụ án rất phức tạp, gây rất nhiều bức xúc trong công luận: “Có đặc điểm ở những bị can là rất nhiều trong số họ là cán bộ, đảng viên, lãnh đạo. Họ đã lợi dụng chính sách để trục lợi, lợi dụng chức vụ quyền hạn, vi phạm các quy định về đấu thầu, đưa hối lộ và nhận hối lộ”, nói.

Nhà báo Huy Đức (Truong Huy San) đã có bình luận về câu nói của ông Phúc “Gia đình tôi, vợ, các con tôi không tư lợi, tham nhũng liên quan đến Việt Á, chưa bao giờ gặp Giám đốc Việt Á” trên trang Facebook cá nhân của mình. Theo đó, ông Huy Đức cho rằng, ông Nguyễn Xuân Phúc đã sử dụng cơ hội cuối cùng trong Phủ Chủ tịch để gửi tới toàn dân lời thanh minh.

“Nếu “điều này đã được Ủy ban Kiểm tra Trung ương (UBKT) kết luận” như tuyên bố của ông, thì UBKT Trung ương hoặc Ban Bí thư nên là bên đứng ra công bố, “đập tan” những “luận điệu” gọi bà Trần Thị Nguyệt Thu là “trùm cuối”.

“Danh dự của một nguyên thủ quốc gia là rất quan trọng nhưng dân chúng không chờ một lời thanh minh, không chờ ngay cả một lời xin lỗi mà chờ nghe sự thực”, trích bài viết của Huy Đức.

Lò ‘phực lửa’ mà không ăn thua?

Bài viết hơn 1.600 chữ của cây bút Huy Đức còn kêu gọi minh bạch lý do phế truất của ông Nguyễn Xuân Phúc và đặt vấn đề: “Nếu ông xin từ chức vì có nhiều cấp dưới bị sai phạm, vì trách nhiệm chính trị của người đứng đầu, thì trong hệ thống chính trị này, Chủ tịch nước chưa phải là người đứng đầu. Nếu những người xung quanh ông sử dụng ảnh hưởng của ông để trục lợi thì không nên tiễn ông bằng hoa và sụt sùi nước mắt.

“Uy tín của một quốc gia không mất vì có nguyên thủ tham nhũng, uy tín quốc gia chỉ mất khi nguyên thủ tham nhũng mà quốc gia bó tay và nhân dân thì chẳng biết đâu là sự thật,” dẫn lời Huy Đức.

Nhiều người cho rằng, ông Huy Đức muốn đề cập đến vai trò của “người đốt lò vĩ đại” – Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Những cán bộ cấp cao từng bị đưa vào chiếc lò của ông Trọng

Huy Đức viết như sau:

“Tuy nhiên, ở năm thứ năm của công cuộc chống tham nhũng do Tổng bí thư phát động mà tham nhũng vẫn vươn lên đến hàng… tối cao. Ngay trong thảm họa, mà người ta vẫn chia chác trên sinh mệnh của nhân dân. Thì, đó là tội ác chứ không phải đơn giản là tội phạm.”

Nhà nghiên cứu từ CSIS, bà Trần Thị Bích nói với BBC rằng “tình trạng tham nhũng tràn lan đã làm suy giảm tính chính danh của Đảng”.

“Lãnh đạo Việt Nam đã nói rất nhiều về việc chống tham nhũng nhưng hiệu quả còn chưa cao. Chiến dịch ‘đốt lò’ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mới chỉ tập trung vào việc làm giảm bớt triệu chứng nhưng chưa nhắm tới giải quyết gốc rễ của vấn đề,” bà Bích nhận định.

Hôm 26/01/2023, tuần báo The Economist của Anh nói chiến dịch ‘Đốt lò’ (báo dùng nguyên văn tiếng Việt – ‘dot lo’ – blazing furnace) đã góp phần tăng thứ hạng của Việt Nam trong bảng xếp hạng chống tham nhũng quốc tế.

Theo ‘Corruption Perceptions Index năm 2022’ của tổ chức Transparency International, Việt Nam đã được tăng 3 điểm lên mức 42 điểm, và ở vị trí thứ 77.

Đây cũng mức điểm cao nhất của Việt Nam kể từ năm 2012 đến nay.

Chiến dịch đốt lò kỳ 1: TBT Nguyễn Phú Trọng chống tham nhũng để cứu Đảng

Đốt lò kỳ 2: TBT Nguyễn Phú Trọng thâu tóm quyền lực về tay Đảng ra sao?

Chiến dịch đốt lò kỳ 3: Căn bệnh trầm kha phải nhờ tới ‘Hoa Đà’

Ngày 02/02, tại Lễ trao Huy hiệu 55 năm tuổi Đảng, ông Nguyễn Phú Trọng đã nhắc đến tác phẩm “Thép đã tôi thế đây” với câu nói, “Cái quý nhất của con người là cuộc sống và danh dự sống, bởi vì đời người chỉ sống có một lần.”

Danh dự “mới là điều thiêng liêng” đã được ông Trọng nhắc đến nhiều lần. Và công cuộc “đốt lò” của ông được nhiều người đánh giá rằng “đem lại kết quả”, thiêu rụi nhiều sinh mệnh chính trị của các quan chức cao cấp nhất, cả những tướng lĩnh, sĩ quan công an và quân đội.

David Hutt, nhà bình luận chính trị từng nhận định với BBC:

“Việc củng cố quyền lực có lẽ là quan trọng nhất đối với ông Trọng trong năm 2016 và 2017, nhưng ông Trọng thực sự muốn khôi phục đạo đức và đạo lý của xã hội chủ nghĩa cho ĐCSVN. Ông ta muốn loại bỏ những người gia nhập Đảng chỉ để trục lợi nhờ vào chức vụ và làm giàu cho bản thân. Đó là một chiến dịch ý thức hệ chứ không đơn thuần là chống tham nhũng. Nhiệm vụ của ông Trọng là cứu rỗi ĐCSVN ra khỏi chính nó và ông ta rõ ràng nghĩ, chỉ mỗi ông ấy có thể dẫn dắt Đảng trong sứ mệnh này.”

Theo đó, số nhân vật hàng đầu trong chính phủ Việt Nam đã rời khỏi chức vụ, và được truyền thông trong nước nhắc đến là “được miễn nhiệm” như ông Nguyễn Xuân Phúc. Hai phó thủ tướng là ông Phạm Bình Minh và ông Vũ Đức Đam cũng được miễn nhiệm “trên cơ sở nguyện vọng cá nhân” vào hôm 09/01.

Xôn xao tin ngôi miếu thờ ‘Người Ở Lại Charlie’ bị phá hủy

Báo Nguoi-viet February 6, 2023 KON TUM, Việt Nam (NV) – Nhiều ý kiến trên mạng xã hội trong hai ngày 5 và 6 Tháng Hai bày tỏ sự phẫn nộ trước hình ảnh và video clip cho thấy cảnh một ngôi miếu được cho là thờ Trung Tá Quân Lực VNCH Nguyễn Đình Bảo trên đồi Charlie, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum, bị đập phá. Hai căn cứ Charlie và Delta nằm trong tuyến phòng thủ gồm nhiều cứ điểm của Quân Đoàn 2 Quân Lực VNCH ở phía Tây Sông Pôkô và quốc lộ 14, là những mục tiêu bị Cộng Quân tấn công đầu tiên trên đường tiến quân của họ về hướng Tân Cảnh, Dakto và thị xã Kon Tum, một trong ba mặt trận lớn trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Cảnh tượng miếu thờ trên đồi Charlie, huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum, trong video clip do Facebook “Lina Nguyen” đăng tải hôm 29 Tháng Giêng. (Hình: Chụp qua màn hình) Trận đánh quyết định tại Đồi Charlie diễn ra từ ngày 11 đến 14 Tháng Tư, 1972, trong đó Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù (Tiểu Đoàn Song Kiếm Trấn Ải), tử trận, và Thiếu Tá Lê Văn Mễ, tiểu đoàn phó, quyết định rút quân khỏi Charlie. Sau đó, nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã sáng tác nhạc phẩm “Người Ở Lại Charlie” để vinh danh Trung Tá Nguyễn Đình Bảo là người anh hùng trong cuộc chiến. Được biết video clip ghi lại cảnh ngôi miếu được cho là thờ Trung Tá Nguyễn Đình Bảo bị phá hủy, được đăng tải đầu tiên trên Facebook “Lina Nguyen,” một người Úc gốc Việt, hôm 29 Tháng Giêng. Bà Lina chú thích đoạn clip: “Đường lên đỉnh Charlie” kèm với hai icon mặt khóc. Trung Tá Nguyễn Đình Bảo (trái). (Hình: Tài liệu) Trong đoạn clip, một phụ nữ nghẹn ngào đặt câu hỏi khi thấy miếu thờ bị phá thành những mảnh vỡ nằm ngổn ngang, chơ vơ giữa đồng cỏ cháy trên đồi Charlie: “Tại sao lại như vậy hả chú?” Một người đàn ông, được hiểu là người dân địa phương, trả lời: “Không biết!” Người phụ nữ sau đó mô tả rằng “có một bàn tay phá hoại” trong việc phá miếu thờ. “Nghĩa tử là nghĩa tận mà, tại sao lại phá?” người phụ nữ nói thêm trước khi bật khóc. Một nhóm du khách đi viếng đồi Charlie chụp cùng miếu thờ trong hình do Facebook “Ngọc Thúy Bitin’s” đăng tải hôm 6 Tháng Giêng. (Hình: Facebook “Ngọc Thúy Bitin’s”) Trước đó, một hình ảnh do Facebook “Ngọc Thúy Bitin’s” đăng tải hôm 6 Tháng Giêng, cho thấy miếu thờ nêu trên vẫn còn nguyên vẹn khi một nhóm du khách đi viếng đồi Charlie chụp vào thời điểm đó. Theo một bản tin của báo Giao Thông hôm 4 Tháng Hai, điểm cao 1015 – Charlie “là một mắt xích quan trọng trong tuyến phòng thủ dày đặc phía Tây sông Pô Cô” và “từng là chiến địa ác liệt trong chiến  tranh.” (N.H.K) [kn]

Động đất ở Thổ Nhĩ Kỳ, Syria: Ít nhất 4.890 người chết, cứu hộ chạy đua với thời gian

RFI

Đăng ngày: 07/02/2023 – 11:03

Lực lượng cứu hộ chạy đua với thời gian tìm người sống sót sau trận động đất ở Hatay, Thổ Nhĩ Kỳ, ngày 07/02/2023. REUTERS – UMIT BEKTAS

Thùy Dương

Số người thiệt mạng và bị thương do vụ động đất 7,8 độ Richter vào sáng sớm hôm qua 06/02/2023 tại miền đông nam Thổ Nhĩ Kỳ và miền bắc Syria vẫn không ngừng gia tăng. Theo số liệu tổng hợp mới nhất được công bố hôm nay 07/02, đã có ít nhất 4.890 người chết. Lực lượng cứu hộ đang chạy đua với thời gian, trong giá rét, mưa và tuyết, để giải cứu những người còn mắc kẹt trong các đống đổ nát.

Số người thiệt mạng tại Thổ Nhĩ Kỳ tính đến sáng hôm nay ít nhất là 3.381 người, và hơn 1.509 nạn nhân ở Syria. Số người bị thương lên tới hàng chục ngàn người. Tuy nhiên, theo AFP, Tổ chức Y tế Thế giới dự báo là số nạn nhân có thể sẽ tăng mạnh so với ước tính ban đầu.

Tình hình càng đáng lo ngại khi các dư chấn vẫn tiếp tục xảy ra trong suốt ngày hôm qua và đến tận rạng sáng hôm nay, thậm chí mạnh tới 5,5 độ Richter, như ở khu vực cách Golbasi, miền nam Thổ Nhĩ Kỳ, 9 km, lúc 4h13 giờ địa phương (3h13 GMT). Nhiều người dân phải sơ tán, nhưng do sợ động đất mạnh tiếp diễn, họ không dám ngủ trong các khu nhà được bố trí tạm, mà qua đêm ngoài trời lạnh giá.

Tại Thổ Nhĩ Kỳ, tổng thống Erdogan đã ban hành 7 ngày quốc tang, treo cờ rủ đến tối chủ Nhật 12/02. Các trường học đóng cửa cả tuần này. Các trận thi đấu thể thao cũng tạm ngưng đến khi có lệnh mới.

Trong khi đó, tại Syria, cho dù theo các số liệu thống kê thiệt hại nhân mạng ở mức thấp hơn so với nước láng giềng Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng từ Beyrouth, Paul Khalifeh, thông tín viên RFI trong khu vực cho biết các nỗ lực cứu hộ tại Syria gặp nhiều khó khăn do bão đang càn quét, Syria lại thiếu phương tiện do đang có chiến tranh và bị phương Tây trừng phạt. Damas hôm qua đã kêu gọi cộng đồng quốc tế viện trợ.

Quà Tết Đặc Biệt Tôi Trao Tặng Con Tôi

Lâm Thu Vân

Con ơi ! Hôm nay là ngày mồng 3 Tết, một ngày đặc biệt đối với mẹ vì đó là ngày giỗ của ông Bác Ba, ông Trần Văn Hương. Từ ngày ông Bác Ba qua đời, không có Tết nào mà mẹ không bùi ngùi nhớ lại những kỷ niệm của người bác ruột, cũng là một người thầy, nêu cho mẹ một tấm gương thanh bạch, yêu nước thương dân, coi thường cái chết khi cần bảo vệ chính nghĩa.

Bài nầy, mẹ viết vào năm 1982, khi hay tin Bác Ba qua đời tại Sài-gòn, trong lúc mẹ vừa cùng các con qua Canada, tỵ nạn theo diện thuyền nhân trốn Cộng sản.

Mẹ viết như thắp lên một nén hương tạ tội với ông Bác Ba, vì mẹ đã không giữ được lời hứa với Ông là lo “chung sự” cho Ông khi Ông qua đời.

Vâng chúc thư của Ông, mẹ và cô Trần thị Chín (em của ông Bác Ba) là hai người được ông Bác Ba nhờ đem tro của Ông rải xuống sông Sài gòn.

Năm nay, mẹ quá già yếu, mẹ trao lại cho con bài nầy như trao một vật gia bảo, mong con lấy đó làm gương mà noi theo.

“Tôi không viết lịch sử của Việt Nam. Tôi chỉ ghi lại vài nét đẹp của một cuộc đời trong sạch, của một công dân yêu nước, lúc nào cũng đặt Tổ Quốc và trách nhiệm lên trên sự an nguy của cá nhân mình. Người đó là ông Trần Văn Hương, người bác ruột của tôi, cũng là người cha tinh thần của tôi. Trong gia đình, tôi gọi Ông là Bác Ba vì Ông là con trai trưởng nam của ông bà nội tôi.

Lúc tôi vừa sáu, bảy tuổi, đối với tôi, Bác Ba chỉ như những bác, chú, cậu, dượng bên nội, bên ngoại. Dịp Tết, giỗ, hoặc dịp nghỉ hè, tựu về nhà ông bà nội, chỉ chào hỏi cung kính, rồi được xoa đầu, hoặc cho “lì xì” rồi chạy ra sân chơi. Nhưng lúc bà nội tôi qua đời là dịp để tôi khám phá ra rằng Bác Ba không giống tánh những “người lớn” khác. Khi bà nội mất, cả nhà phải chờ Bác Ba về chịu tang và chôn cất. Bác Ba làm Hiệu trưởng trường tiểu học Tây ninh, đi về Vĩnh long phải đi xe, đi đò.toàn vừa về tới, Bác Ba đi thẳng đến quan tài Bà Nội và gục đầu lên quan tài, Bác Ba khóc nức nở. Tôi quá ngạc nhiên vì tôi chưa bao giờ thấy một “người lớn” khóc như vậy. Và ngay lúc ấy, tôi sực nhớ lại những lần nghỉ hè, Bác Ba về nhà Ông Bà Nội, Bác Ba chở về rất nhiều trái cây đặc biệt của Tây ninh mà Ông Bà Nội rất thích. Có lần tôi thấy Bác Ba tự tay nấu món ăn cho Bà Nội, lúc Bà Nội bịnh, nằm một chỗ.

Sau đây, lại thêm một khám phá khác, lúc tôi được 10 tuổi. Năm 1945, gia đình tôi ở Cần thơ, thình lình phải tản cư về Vĩnh long để chạy trốn giặc Tây. Lúc đó tôi chẳng hiểu gì về thời cuộc nhưng tôi có nhớ rõ hai điều: Tôi bị bịnh sốt rét rất nặng, phải chích thuốc quinimax mỗi ngày, rất đau, mà người chích thuốc cho tôi là Bác Ba. Lúc đó, tuy còn bé, tôi vẫn thắc mắc: tại sao lần nầy Bác Ba về Vĩnh long mà ở luôn tại nhà Ông Nội, không trở lại Tây ninh?

Một hôm, tôi bạo gan hỏi, thì Bác Ba cho biết:

“Con ơi! Dân mình bị Tây cai trị từ lâu, khổ lắm. Bây giờ là lúc mình đuổi Tây, không để nó cai trị mình nữa. Vì vậy, Bác Ba bỏ sở Tây ninh, đi kháng chiến đuổi Tây”.

Và có điều Bác Ba không nói ra hôm đó, nhưng sau nầy tôi biết thêm là Bác Ba đã ngưng đi theo kháng chiến vì trong hàng ngũ kháng chiến có Cộng sản len lỏi vào.

Một thời gian sau, Bác Ba lên Sài gòn, làm công nhân cho Pharmacie de la Gare. Bác Ba không có nhà, Bác Ba sống nhờ nơi dải nhà kho của ông Trần văn Văn. Bác Ba không nhận lời ông Văn, muốn Bác Ba chiếm một phòng trên lầu! Lúc đó, tôi theo chồng sống ở Đà nẵng.

Thình lình chúng tôi rất ngạc nhiên được tin Bác Ba nhận lời ông Ngô đình Diệm mời Bác Ba ra làm Đô trưởng Sài gòn-Chợ lớn. Từ trước, ai cũng biết nhà giáo Trần văn Hương với nếp sống thong dong, thanh đạm, không xe hơi, chỉ có một chiếc xe đap, một tủ sách, một chiếc vợt tennis và một bàn cờ tướng. Con người như vậy mà chịu nhận làm Đô trưởng Sài gòn-Chợ lớn trong lúc tình hình chính trị vô cùng rối ren, phức tạp!! Nhứt là lúc đó ông Ngô đình Diệm không được lòng dân lắm đâu.

Trước sự ngạc nhiên của tôi, Bác Ba giải thích “Con ơi! Trước hiểm họa độc ác của Cộng sản Bắc Việt, toàn dân phải đoàn kết để bảo vệ miền Nam. Khó khăn rất nhiều vì có rất nhiều phe, phái; nhưng mình phải ngồi lại với nhau, phải đoàn kết và phải dấn thân. Không nên ích kỷ, thờ ơ hoặc chỉ trích mà không đóng góp công sức”.

Có lẽ đó cũng là lý do tại sao, vài năm sau, nhà giáo Trần văn Hương hợp tác với hai ông quân nhân Nguyễn văn Thiệu và Nguyễn cao Kỳ.

Hợp tác để chống ngoại xâm, không vì
danh, vì lợi vật chất cá nhân mình, ông Trần văn Hương, trước sau vẫn sống đúng là một người thanh liêm, chân thật, và có tinh thần trách nhiệm cao đối với đồng bào, và “tinh thần đồng đội” mặc dầu ông chỉ là một “ hạ sĩ danh dự” của quân đội VNCH.

Trong gia đình bên nội tôi, ai cũng biết chuyện ông hiệu trưởng Trần văn Hương trường tiểu học Tây ninh không bao giờ nhận quà mà cha mẹ học trò hoặc các thầy giáo mang đến tặng ông vì ông không muốn ân huệ riêng tư, một hình thức hối lộ.

Đến lúc liên tiếp đảm nhiệm trọng trách Thủ tướng rồi phó Tổng thống rồi Tổng thống, ông Trần văn Hương luôn tiếp tục đặt quyền lợi cá nhân của ông sau sự an nguy của tập thể.

Ai cũng biết chuyện ông Trần văn Hương đã từ chối ông Đại sứ Martin khi ông Martin đến tìm, lúc Trần văn Hương vừa bị Quốc hội áp lực giao quyền lại cho Dương văn Minh. Đại sứ Martin giao cho ông Trần văn Hương 2 chiếc máy bay để ông Hương và gia đình, thân thuộc, đi lánh nạn ở nước ngoài. Khi đó, ông nói:

 “Thưa Ngài Đại sứ! Tôi cám ơn Ngài. Nhưng tôi không nhận 2 chiếc máy bay nầy và sẽ không rời Việt nam để đi lánh nạn vì tôi quyết ở lại trong nước tôi để chia xẻ số phận của dân tôi và những người từng làm việc dưới quyền của tôi, nếu Sài gòn thất thủ và miền Nam Việt nam thuộc về Cộng sản Bắc Việt”.

Lúc quân Cộng sản Bắc Việt tiến gần đến Sài gòn, dân chúng miền Nam ùn ùn kéo nhau tìm cách bỏ xứ vì được tin bên Campuchia, ngày 15 tháng tư, khi quân Khmer đỏ tràn vào Phnom Penh, chúng đã giết thẳng tay tất cả những chính khách cầm quyền và luôn cả thường dân.

Trước hoàn cảnh đó, Bác Ba Trần văn Hương đã nghiêm cấm mọi người trong gia đình không ai được rục rịch tìm cách bỏ xứ đi trốn Việt cộng. Bác Ba nói : “Binh sĩ còn đang chiến đấu ở tiền tuyến mà người ở hậu phương bỏ chạy thì đó là phản bội. Ta quyết chiến đấu đến cùng, dù Sài gòn phải biến thành núi xương sông máu”. 

Khi nói những lời đó, ông Trần văn Hương đã có kế hoạch đem quân của tướng Nguyễn khoa Nam về để bảo vệ Sài gòn.

Đêm 30 tháng tư 1975, sau khi Dương văn Minh đầu hàng Việt cộng và ra lệnh cho quân nhân các cấp buông súng, ngưng chiến đấu, riêng trong nhà của ông Trần văn Hương xảy ra một thảm cảnh mà tôi có chứng kiến: Khi tôi đến nhà Bác Ba vào sáng 1 tháng 5, tôi thấy ở giữa nhà xác chết của Phan hữu Cương vừa tự tử bằng thuốc ngủ với chúc thư như sau:

”Là một quân nhân, bổn phận tôi là giữ nước, cứu nước lúc lâm nguy. Nay đã  mất nước vì tay giặc, tôi chọn cái chết chứ không đầu hàng Việt cộng.”

Phan hữu Cương là một cận vệ của Phó Tổng thống Trần văn Hương mà cũng là cháu gọi ông Trần văn Hương bằng cậu.

Cũng với tinh thần đó, Bác Ba đã từ chối không nhận “quyền công dân” mà Việt cộng ban cho những người hoàn thành “học tập cải tạo” sau 30 tháng tư 1975 ( Phải hiểu rằng : một người không có “quyền công dân” dưới chế độ Việt cộng là không có phiếu để mua gạo và các nhu yếu phẩm khác ở các cửa hàng quốc doanh, là không được cấp giấy di chuyển khỏi nơi mình cư ngụ…).

Ông Trần văn Hương nói với công an “Tôi chỉ đồng ý nhận cái “quyền công dân” nầy khi nào tất cả những người quân, cán, chính đã từng làm việc dưới quyền tôi trước đây đều có cái “quyền công dân” nầy.

Thế là từ ngày 1 tháng 5 năm 1975, ông Trần văn Hương sống cô lập dưới sự quản chế của công an Việt cộng cho đến ngày ông qua đời. Công an cấp cho ông một căn nhà trong một hẻm đường Phan thanh Giản, có công an đóng chốt trước cửa ngày đêm. Nơi đó, Bác Ba sống với hai em ruột và một người em rể làm nghề thợ may để nuôi ông.

Tôi còn nhớ rõ, cô Chín và cô Út kể lại rằng, khi Việt cộng bắt dân miền Nam “đổi tiền”, cô Chín hỏi Bác Ba đưa tiền để đổi, Bác Ba không có tiền để đổi. Bác Ba nói “Tao làm gì có tiền để đổi!”. Lúc dầu sôi lửa bỏng của mấy ngày mà Dương văn Minh đòi giao quyền, “mạng sống của tao, tao còn không lo bảo vệ, có đâu lo bảo vệ tài sản, rút tiền ngân hàng “Bây giờ, tụi bây tính sao thì tính.”

Và chuyện lạ đời là : Cũng nơi đó, trong thời gian Bác Ba bị công an giam giũ tại gia, là nơi tôi đến gặp Bác Ba mỗi ngày, được trò chuyện với Bác Ba nhiều hơn trước kia. Lý do là : Bác Ba khai với công an rằng tôi là bác sĩ chăm sóc sức khỏe cho Bác Ba, và yêu cầu công an để tôi đến, đi bất cứ lúc nào, để lo cho Bác Ba.

Trên thực tế, lúc đó tôi thuộc diện bị đuổi đi “kinh tế mới” vì chồng tôi bị Việt cộng bắt giam, tội phạm là đã làm giám đốc bệnh viện Chợ rẩy trong thời VNCH. Vậy là tôi “vô gia cư”, mỗi sáng đạp xe đạp đi tìm mối để vượt biên.

Chiều tối, tôi về ngủ trong nhà Bác Ba, dưới sự canh gác cẩn thận của công an Việt cộng.

Như vậy, mặc dầu Bác Ba đang bị giam lỏng, sống trong nghèo túng, Bác Ba vẫn có khả năng che chở tôi. Và quý hóa nhất cho tôi là nhờ dịp nầy mà tôi được hiểu thêm về một nhân vật mà tôi cho rằng hiếm, quý, nếu ta không đem sự thành bại mà đánh giá những ai biết quên mình để phục vụ tha nhân.

Có lần tôi hỏi : “ Sao sống trong hoàn cảnh nầy mà Bác Ba lúc nào cũng thanh thản, không lo, không buồn?”. Bác cười nhẹ rồi đáp “ “ Đây đâu phải là lần thứ nhất ta bị giam cầm bởi bạo quyền. Mười hai năm trước, ta đã cùng một nhóm bạn trí thức miền Nam (mà lúc đó báo chí gọi là “nhóm Caravelle” bị ông Ngô đình Diệm bắt giam vì ta và các bạn phản đối ông Diệm đã phạm những điều thiếu dân chủ. Cả nhóm bị cho vào tù không xét xử. Lại một lần, ta bị tướng Nguyễn Khánh giam lỏng ở Vũng tàu…

Còn hiện nay, ta bị công an buộc ta sống cô lập trong nhà nầy, không được liên lạc với ai, không được di chuyển đi khỏi nhà thì có khác gì ta bị cầm tù. Đây cũng là hậu quả của thái độ ta không chịu khuất phục bạo lực. Để ta kể cho con nghe : Khi Việt cộng nắm quyền ngày 30-04-1975, tất cả quân nhân và công chức của VNCH đều bị cho vào các trại tập trung cải tạo (đó là những trại tù lớn) để “cải tạo tư tưởng”, học tập “tư tưởng Cộng sản” và “tôn vinh” Hồ chí Minh. Riêng các người có chức vụ cao trong cơ quan hành pháp và lập pháp thì “học tập” một tuần lễ. Ta đã dự khóa đó. Nhưng khi công an bảo làm bài đúc kết, thay vì chép lại những lời tôn vinh Hồ chí Minh, ta đã viết đại khái như vầy…” Những gì ông Hồ chí Minh đã làm là có công hay có tội đối với đất nước và dân tộc Việt Nam, hãy để lịch sử phán xét. Riêng tôi, ông Hồ chí Minh không phải là một người làm gương để tôi noi theo”.

Ngày mùng ba Tết, sau lễ cúng ông bà, ông Trần văn Hương đã ngủ và không bao giờ thức dậy. Ông ra đi không một lời trối, lặng lẽ, khiêm nhường.

Nhưng con cháu và đồng bào của Trần văn Hương được ghi thêm một người nữa vào bia của biết bao con dân yêu nước trong lịch sử Việt Nam.

Lâm Thu Vân

From: T. Nguyen

Xem thêm:

Những ngày cuối cùng của TT Trần Văn Hương của Huy Phương

http://www.quocgiahanhchanh.com/nhungngaycuoicung_tranvanhuong.htm  

6 Tháng Hai -Thánh Phaolô Miki và Các Bạn (c. 1597)

Thánh Linh.net

Thành phố Nagasaki, Nhật Bản, rất quen thuộc với mọi người vì đó là nơi trái bom nguyên tử thứ hai đã được thả xuống và giết hại hàng trăm ngàn người. Trước đó ba thế kỷ rưỡi, 26 vị tử đạo Nhật Bản đã bị treo trên thập giá ở một ngọn đồi nhìn xuống Nagasaki, bây giờ thường được gọi là Núi Thánh.

Thánh Phaolô Miki là con của một sĩ quan chỉ huy thuộc quân đội Nhật. Ngài sinh ở Tounucumanda và theo học trường dòng Tên ở Anziquiama, gia nhập dòng năm 1580, và trở nên nổi tiếng vì tài rao giảng.

Trong thời kỳ bách hại đạo Công Giáo dưới thời Taiko, Toyotomi Hideyoshi, vào ngày 5 tháng Hai, ngài bị treo trên thập giá cùng với hai mươi lăm người Công Giáo khác, trong đó có nhiều giáo dân, như: Phanxicô, một thợ mộc bị bắt trong khi theo dõi cuộc hành quyết và sau đó bị treo trên thập giá; Gabrien, mười chín tuổi là con trai của người gác cổng dòng Phanxicô; Leo Kinuya, hai mươi tám tuổi làm thợ mộc ở Miyako; Diego Kisai, phụ tá của các cha Dòng Tên; Joachim Sakakibara, người làm bếp cho các cha Phanxicô ở Osaka; Peter Sukejiro, được một linh mục dòng Tên sai đến giúp đỡ các tù nhân thì bị bắt; Cosmas Takeya quê Owari nhưng đi truyền giáo ở Osaka; và Ventura ở Miyako, lúc đầu được các cha dòng Tên rửa tội, sau đó khi thân phụ từ trần, ông trở nên một nhà sư, và sau cùng được các cha Phanxicô đưa trở lại Công Giáo

Trong khi bị treo trên thập giá, Thầy Phaolô Miki đã nói với những người đến xem cuộc hành quyết: “Bản án nói rằng những người này đến Nhật Bản từ Phi Luật Tân, nhưng tôi đâu có đến từ quốc gia nào. Tôi đích thực là người Nhật. Lý do duy nhất tôi bị giết là vì tôi rao giảng giáo lý Ðức Kitô. Quả thật tôi đã rao giảng giáo lý Ðức Kitô. Tôi tạ ơn Thiên Chúa vì lý do này mà tôi chết. Tôi tin rằng những lời trăn trối của tôi là sự thật. Tôi biết quý vị tin tôi và một lần nữa tôi muốn nói với quý vị: Hãy xin Ðức Kitô giúp cho quý vị có được hạnh phúc. Tôi vâng lời Ðức Kitô. Theo gương Ðức Kitô, tôi tha cho những người đã hành quyết tôi. Tôi không ghét họ. Tôi xin Thiên Chúa thương xót tất cả chúng ta, và tôi hy vọng máu của tôi sẽ đổ trên dân tôi như một cơn mưa nhiều kết quả.”

Khi các nhà truyền giáo trở lại Nhật trong những năm 1860, lúc đầu họ không thấy một vết tích nào của Kitô Giáo. Nhưng sau một thời gian, họ tìm thấy hàng ngàn người Kitô đã sống chung quanh Nagasaki và họ sống đạo một cách lén lút.

Tất cả các vị tử đạo Nhật Bản được phong chân phước năm 1627, và phong thánh năm 1862.

 Lời Bàn

Ngày nay, một thời đại mới đã đến với Giáo Hội Nhật. Mặc dù số người Công Giáo không nhiều, nhưng Giáo Hội được tôn trọng và được tự do tôn giáo. Việc phát triển Kitô Giáo ở Viễn Ðông thì chậm và khó khăn. Một đức tin như của 26 vị tử đạo thì rất cần thiết cho ngày nay cũng như trước đây, trong năm 1597.

    Lời Trích

“Vì Ðức Giêsu, Con Thiên Chúa, đã thể hiện lòng bác ái của Người bằng cách hy sinh mạng sống cho chúng ta, không ai có tình yêu nào cao quý hơn người đã hy sinh mạng sống vì Ðức Kitô và anh chị em mình. Bởi đó, ngay từ thời sơ khai, một số Kitô Hữu đã được mời gọi — và chắc chắn sẽ được mời gọi luôn — để làm chứng cho tình yêu ấy cách hùng hồn trước muôn dân, nhất là những kẻ bách hại. Do đó, Giáo Hội coi sự tử đạo như một ơn huệ đặc biệt và là bằng chứng cao cả nhất của tình yêu.

“Mặc dù chỉ một ít người được ban cho cơ hội tử đạo, nhưng tất cả phải chuẩn bị để tuyên xưng Ðức Kitô trước mặt mọi người, và bước theo Người trên đường thập giá giữa những sự bách hại không bao giờ thiếu trong Giáo Hội” (Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, 42).

    Trích từ NguoiTinHuu.com

Thánh Agata Sicilê (c. 235?-251)-Cha Vương

Chúc một ngày thật ấm áp bên Chúa và người thân yêu nhé! Hôm nay 5/2, Giáo Hội mừng kính Thánh Agata Sicilê (c. 235?-251), đồng trinh tử đạo. Đặc biệt là qua lời chuyển cầu của thánh nhân nhiều bệnh nhân bị ung thư vú đã được chữa lành. Vậy hôm nay mời bạn hãy dành thời gian để cầu nguyện cho những ai đang mắc bệnh liên quan đến vú.

Cha Vương

CN: 05/02/2022

Cũng như trường hợp của Thánh Agnes, vị đồng trinh tử đạo thời Giáo Hội tiên khởi, chúng ta không có dữ kiện lịch sử chắc chắn về Thánh Agata, ngoại trừ sự kiện ngài chịu tử đạo ở Catania  trong thời kỳ cấm đạo của hoàng đế Rôma là Decius năm 251.

Theo truyền thuyết, ngài sinh trưởng năm 235 tại Catania, Sicily (nước Ý) trong một gia đình giầu có. Khi còn trẻ, ngài đã tận hiến cuộc đời cho Thiên Chúa, và từ chối bất cứ lời cầu hôn nào. Một trong những người say mê ngài là Quintian, là người có địa vị cao trong xã hội nên nghĩ rằng có thể ép buộc thánh nữ. Biết ngài là Kitô Hữu nên ông ra lệnh bắt giữ và đưa ra xét xử – bởi chính ông. Hy vọng rằng vì sợ hãi sự tra tấn và cái chết, thánh nữ sẽ đành phải trao thân cho ông, nhưng ngài nhất quyết tin tưởng vào Thiên Chúa, và cầu nguyện rằng: “Lạy Ðức Kitô Giêsu, là Chúa mọi sự! Ngài đã thấy lòng con, Ngài biết con muốn gì. Xin hãy làm chủ toàn thể con người của con – chỉ mình Chúa mà thôi. Con là chiên của Ngài; xin giúp con vượt qua sự dữ một cách xứng đáng.”

Sau đó, Quintian tống Agata vào nhà gái điếm lấy cớ ngài là người Công Giáo với hy vọng ngài sẽ thay đổi ý định. Sau một tháng bị đánh đập và xỉ nhục, Quintian lại đưa ngài ra xét xử, nhưng Agatha vẫn không lay chuyển, vẫn can đảm tuyên xưng rằng chỉ một mình Chúa Giêsu mới có thể ban cho ngài sự tự do. Quintian lại tống ngài vào ngục thay vì nhà gái điếm. Và khi ngài tiếp tục tuyên xưng đức tin nơi Chúa Giêsu, Quintian ra lệnh tra tấn. Ðể trả thù, bạo quan hạ lệnh nướng ngài trên giường sắt. Sau đó, người ta lại tống giam thánh nữ. Tương truyền thì trong đêm đó, thánh Phêrô đã hiện ra và chữa lành cho ngài. Dù bị quan trấn Quintian nhiều lần dụ dỗ, ngài vẫn một lòng trung kiên với đạo Chúa. Dù đau đớn lăn lộn trên than hồng và mảnh chai nhọn, ngài vẫn tin cậy vào Chúa, Ðấng sẽ cứu linh hồn ngài. Chính cử chỉ của thánh nữ khiến cả thành phố náo động, Quintian sợ dân nổi loạn nên truyền giam thánh nữ trong ngục.

Ngài đã chết rũ tù ngày 25 tháng 2 năm 251 tại Catania, Sicily. Trước khi chết, ngài cầu nguyện: “Lạy Chúa, là Ðấng dựng nên con, Ngài đã gìn giữ con từ khi còn trong nôi. Bởi tình yêu thế gian Ngài đã dẫn dắt con và ban cho con sự kiên nhẫn để chịu đựng đau khổ. Xin hãy nhận lấy hồn con.”

Thánh nữ đã làm nhiều phép lạ như che chở thành Catania khỏi hiểm họa núi lửa Etna. Ngay từ thời đó, người ta đã cầu khẩn và cậy trông vào sự cầu bầu của thánh nữ. Ngài được coi là quan thầy của xứ Palermo và Catania, và được chọn làm quan thầy các bà vú nuôi và cũng được cầu khẩn khi bị tai nạn vì lửa và vì bệnh nhủ bộ. (Trích Gương Thánh Nhân – ns Người Tín Hữu online & Nhóm Tinh Thần nhuận chính lại theo Patron Saints và Santi-Beati-Testimoni)

Lạy Chúa, thánh nữ A-ga-ta đã luôn luôn làm đẹp lòng Chúa, vì vừa sống cuộc đời kiên trinh, vừa can trường hy sinh tử đạo. Xin nhận lời thánh nữ chuyển cầu cho chúng con được ơn tha thứ. Chúng con cầu xin nhờ danh Chúa Ki-tô Chúa chúng con. A men. (Lời nguyện, Lễ nhớ)

From: Đỗ Dzũng

Năm thứ hai của cuộc chiến Ukraine sắp trở nên đáng sợ hơn chúng ta tưởng

Báo Tiếng Dân

New York Times

Tác giả: Thomas L. Friedman

Dịch giả: Cù Tuấn

6-2-2023

Khi chúng ta sắp kỷ niệm một năm cuộc xâm lược toàn diện của Nga vào Ukraine — và sự đáp lại dữ dội của Ukraine được hỗ trợ bởi liên minh phương Tây do Mỹ lãnh đạo — câu hỏi sau đây cần được trả lời khẩn cấp: Làm thế nào mà vào ngày 23 tháng 2 năm 2022, hầu như không có ai ở Mỹ lập luận rằng lợi ích quốc gia cốt lõi của người Mỹ là tham gia vào một cuộc chiến tranh gián tiếp với Nga để ngăn nước này xâm chiếm Ukraine, một quốc gia mà hầu hết người Mỹ không thể tìm thấy trên bản đồ dù sau 10 lần tìm kiếm? Và bây giờ, gần một năm sau, các cuộc thăm dò cho thấy đa số người Mỹ vẫn kiên định (mặc dù hơi thu hẹp lại) ủng hộ Ukraine bằng vũ khí và viện trợ, mặc dù điều này có nguy cơ dẫn đến xung đột trực tiếp với nước Nga của Vladimir Putin.

Đó là một sự thay đổi chóng mặt của ý kiến dân chúng nước Mỹ. Chắc chắn điều này có thể giải thích được một phần bởi thực tế là không có lực lượng chiến đấu nào của Mỹ ở Ukraine, vì vậy có vẻ như tất cả những gì chúng ta đang mạo hiểm lúc này là chỉ là vũ khí và tài nguyên — trong khi toàn bộ gánh nặng của cuộc chiến đều do người Ukraine gánh chịu.

Nhưng có một cách giải thích khác, ngay cả khi đó là cách giải thích mà hầu hết người Mỹ có thể không nói rõ ra và nhiều người chỉ có thể miễn cưỡng đồng ý.

Ở một mức độ sâu xa nào đó, mọi người Mỹ đều biết rằng thế giới chúng ta đang sống ngày nay đang ổn định nhờ có sức mạnh của Mỹ. Điều đó không có nghĩa là chúng ta luôn biết sử dụng sức mạnh của mình một cách khôn ngoan, chúng ta cũng không thể thành công nếu không có các đồng minh. Nhưng trong phạm vi mà chúng ta đã sử dụng sức mạnh của mình một cách khôn ngoan và phối hợp với các đồng minh, chúng ta đã xây dựng và bảo vệ một trật tự thế giới tự do kể từ năm 1945, vốn mang lại lợi ích to lớn cho chúng ta — cả về kinh tế và địa chính trị.

Đây là một trật tự trong đó các cường quốc độc đoán như Đức Quốc xã, đế quốc Nhật Bản hay Nga và Trung Quốc hiện đại không được phép tự do nuốt chửng các nước láng giềng của họ. Và đây là trật tự mà nhiều nền dân chủ có thể phát triển hơn bao giờ hết, và là nơi thị trường tự do và thương mại mở đã giúp nhiều người dân thoát khỏi đói nghèo hơn bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử thế giới. Trật tự này không phải lúc nào cũng hoàn hảo — nhưng trong một thế giới mà sự hoàn hảo không bao giờ có trong thực đơn, trật tự này đã tạo ra gần 80 năm mà không có một cuộc chiến tranh giữa các cường quốc nào, vốn có thể gây bất ổn cho toàn thế giới.

Duy trì trật tự tự do này là logic cơ bản đã khiến Mỹ và các đồng minh NATO của họ giúp Kyiv lật ngược cuộc xâm lược “em phải cưới anh hoặc anh sẽ giết em” của Putin vào Ukraine – cuộc tấn công dữ dội đầu tiên của một quốc gia ở châu Âu chống lại một quốc gia khác kể từ Thế chiến II.

Bây giờ là tin xấu. Trong năm đầu tiên của cuộc chiến này, Mỹ và các đồng minh có được một thời gian tương đối dễ dàng. Chúng ta có thể gửi vũ khí, viện trợ và thông tin tình báo – cũng như áp đặt các biện pháp trừng phạt đối với Moscow – và người Ukraine sẽ làm phần việc còn lại, hủy diệt quân đội của Putin và đẩy lực lượng Nga trở lại miền Đông Ukraine.

Tôi không nghĩ rằng năm thứ hai sẽ dễ dàng như vậy.

Giờ thì rõ ràng là Putin đã quyết định đặt cược gấp thếp, với lệnh tổng động viên trong những tháng gần đây có thể lấy thêm 500.000 tân binh để chuẩn bị một cuộc tấn công mới vào dịp kỷ niệm một năm của cuộc chiến. Số lượng quân lớn rất quan trọng trong chiến tranh – ngay cả khi số lượng quân đó bao gồm một số lượng lớn lính đánh thuê, tù nhân và lính nghĩa vụ chưa qua đào tạo.

Về cơ bản, Putin đang nhắn nhủ với Biden: Tôi không thể để thua cuộc chiến này và tôi sẽ trả bất cứ giá nào và chịu bất kỳ gánh nặng nào để đảm bảo rằng tôi sẽ chiếm được một phần Ukraine để có thể biện minh cho những tổn thất của mình. Còn bạn thì sao, Joe? Còn những người bạn châu Âu của bạn thì sao? Bạn đã sẵn sàng trả bất cứ giá nào và chịu bất kỳ gánh nặng nào để duy trì “trật tự tự do” của mình chưa?

Điều này sẽ trở nên đáng sợ. Và bởi vì chúng ta đã trải qua gần một thế hệ không có chiến tranh giữa các cường quốc, rất nhiều người đã quên mất điều gì đã tạo nên kỷ nguyên hòa bình lâu dài của các cường quốc.

Trong khi tôi lập luận trong cuốn sách “Chiếc Lexus và cây ô liu” xuất bản năm 1999 rằng sự bùng nổ lớn của kinh doanh, thương mại và kết nối toàn cầu đóng vai trò quan trọng trong kỷ nguyên hòa bình bất thường này, tôi cũng lập luận rằng “bàn tay ẩn giấu của thị trường sẽ không bao giờ hoạt động nếu thiếu một nắm đấm – McDonald’s không thể phát triển nếu không có McDonnell Douglas, người chế tạo máy bay F-15.” Ai đó sẽ cần phải giữ trật tự và thực thi các quy tắc.

Đó là nước Mỹ, và tôi tin rằng vai trò đó sẽ được thử thách nhiều hơn bao giờ hết kể từ cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962. Chúng ta vẫn sẵn sàng cho thử thách này chứ?

Có một cuốn sách mới quan trọng đã đặt thách thức này trong bối cảnh lịch sử rộng lớn hơn. Trong “Bóng ma trong bữa tiệc: Nước Mỹ và sự sụp đổ của trật tự thế giới, 1900-1941,” nhà sử học Robert Kagan của Viện Brookings lập luận rằng bất cứ điều gì khiến người Mỹ ưa chuộng chủ nghĩa biệt lập có là gì đi nữa, thì thực tế là, trong hơn một thế kỷ qua, đa số trong số họ đã ủng hộ việc sử dụng sức mạnh của Mỹ để định hình một trật tự thế giới tự do giữ cho thế giới nghiêng về các hệ thống chính trị cởi mở và thị trường mở tại nhiều nơi hơn theo nhiều cách hơn trong nhiều thời gian hơn — đủ để giữ cho thế giới không trở thành một khu rừng nhiệt đới Hobbesia.

Tôi đã gọi cho Kagan và hỏi ông ấy tại sao ông ấy coi cuộc chiến Ukraine không phải là thứ mà chúng ta đã vấp phải mà là sự mở rộng tự nhiên của vòng cung chính sách đối ngoại kéo dài hàng thế kỷ này của Mỹ mà ông ấy đang viết về nó. Câu trả lời của Kagan sẽ an ủi một số người và khiến những người khác khó chịu, nhưng điều quan trọng là phải có cuộc thảo luận khi chúng ta bước vào năm thứ hai của cuộc chiến này.

“Trong cuốn sách của tôi,” Kagan nói, “tôi trích dẫn từ bài diễn văn Thông điệp Liên bang năm 1939 của Franklin Roosevelt. Vào thời điểm mà an ninh của Mỹ chưa hề bị đe dọa — Hitler vẫn chưa xâm chiếm Ba Lan và sự sụp đổ của nước Pháp gần như không ai tưởng tượng được — Roosevelt khẳng định rằng có những lúc ‘trong công việc của con người khi họ phải chuẩn bị để bảo vệ không chỉ nhà của họ, mà còn phải bảo vệ các nguyên lý của đức tin và nguyên lý của nhân loại mà các giáo hội, chính phủ và chính nền văn minh dựa trên đó.’ Trong cả hai cuộc chiến tranh thế giới và trong suốt Chiến tranh Lạnh, người Mỹ đã hành động không phải để tự vệ ngay lập tức mà để bảo vệ thế giới tự do trước những thách thức từ các chính phủ độc tài quân phiệt, giống như họ đang làm ngày nay ở Ukraine.”

Nhưng tại sao lại ủng hộ Ukraine trong cuộc chiến này không chỉ vì lợi ích chiến lược của chúng ta mà còn phù hợp với các giá trị của chúng ta?

“Người Mỹ liên tục đấu tranh để dung hòa những cách giải thích trái ngược nhau về lợi ích của họ – một bên tập trung vào an ninh của quê hương và một bên tập trung vào việc bảo vệ thế giới tự do bên ngoài bờ biển nước Mỹ. Điều đầu tiên phù hợp với sở thích của người Mỹ là được để yên và tránh các chi phí, trách nhiệm và gánh nặng đạo đức khi thực thi quyền lực ở nước ngoài. Điều thứ hai phản ánh sự lo lắng của họ với tư cách là những người theo chủ nghĩa tự do về việc trở thành thứ mà Roosevelt gọi là ‘hòn đảo đơn độc’ trong một biển các chế độ độc tài quân phiệt. Sự dao động giữa hai quan điểm này đã tạo ra những cú đánh lặp đi lặp lại trong chính sách đối ngoại của Mỹ trong thế kỷ qua.”

Kagan nói thêm, các nhà lý thuyết quan hệ quốc tế “đã dạy chúng ta xem ‘lợi ích’ và ‘giá trị’ là khác biệt, với ý tưởng rằng đối với tất cả các quốc gia, ‘lợi ích’ – nghĩa là các mối quan tâm vật chất như an ninh và phúc lợi kinh tế – nhất thiết phải chiếm ưu thế hơn các giá trị. Nhưng trên thực tế, đây không phải là cách các quốc gia ứng xử. Nước Nga sau Chiến tranh Lạnh đã được hưởng mức an ninh cao hơn ở biên giới phía tây so với bất kỳ thời điểm nào trong lịch sử của nước này, ngay cả với sự mở rộng của NATO. Tuy nhiên, Putin sẵn sàng làm cho nước Nga trở nên kém an toàn hơn để thực hiện các tham vọng cường quốc truyền thống của Nga, vốn liên quan nhiều đến danh dự và bản sắc hơn là an ninh”. Điều này dường như cũng đúng với Chủ tịch Tập Cận Bình khi đề cập đến việc lấy lại Đài Loan.

Tuy nhiên, điều thú vị cần lưu ý là ngày càng có nhiều đảng viên Cộng hòa, ít nhất là ở Hạ viện và trên Fox News, không tin vào lập luận này, trong khi một tổng thống Dân chủ và Thượng viện của ông ta lại ủng hộ. Có gì ở đây vậy?

“Các cuộc tranh luận về chính sách đối ngoại của Mỹ không bao giờ chỉ là về chính sách đối ngoại,” Kagan trả lời. “Những người theo chủ nghĩa biệt lập trong những năm 1930 chủ yếu là những người theo Đảng Cộng hòa. Nỗi sợ hãi lớn nhất của họ, hoặc họ tuyên bố như vậy, là Roosevelt đang lãnh đạo đất nước theo chiều hướng chủ nghĩa cộng sản. Do đó, trong các vấn đề quốc tế, họ có xu hướng thông cảm với các cường quốc phát xít hơn là những người theo Đảng Dân chủ tự do. Họ nghĩ tốt về Mussolini, phản đối việc hỗ trợ Đảng Cộng hòa Tây Ban Nha chống lại phát xít Franco được Đức Quốc xã hậu thuẫn và coi Hitler như một bức tường thành hữu ích chống lại Liên Xô.

“Vì vậy, không có gì ngạc nhiên khi ngày nay rất nhiều đảng viên Cộng hòa bảo thủ có thiện cảm với Putin, người mà họ coi là nhà lãnh đạo của cuộc thập tự chinh chống lại tự do trên quy mô toàn cầu. Cần nhắc nhở Kevin McCarthy rằng Đảng Cộng hòa đã bị hủy hoại về mặt chính trị bởi sự phản đối của họ đối với Thế chiến thứ hai và chỉ có thể hồi sinh bằng cách bầu Dwight Eisenhower, người theo chủ nghĩa quốc tế vào năm 1952.”

Tuy nhiên, cũng có nhiều tiếng nói từ cánh tả đang đặt câu hỏi một cách chính đáng: Có thực sự cần phải mạo hiểm trong Thế chiến III để đẩy Nga ra khỏi miền Đông Ukraine? Chẳng phải bây giờ chúng ta đã làm tổn thương Putin nặng nề đến mức ông ta sẽ không sớm thử lại một điều gì đó như việc đánh Ukraine nữa sao? Đã đến lúc cho một thỏa thuận bẩn thỉu chưa?

Vì tôi nghi ngờ rằng câu hỏi này sẽ là trung tâm của cuộc tranh luận về chính sách đối ngoại của chúng ta vào năm 2023, nên tôi đã yêu cầu Kagan bắt đầu tranh luận.

Ông nói: “Bất kỳ cuộc đàm phán nào khiến lực lượng Nga ở lại trên đất Ukraine sẽ chỉ là một thỏa thuận ngừng bắn tạm thời trước nỗ lực tiếp theo của Putin. “Putin đang trong quá trình quân sự hóa hoàn toàn xã hội Nga, giống như Stalin đã làm trong Thế chiến II. Ông ta sẽ ở trong trạng thái này trong một thời gian dài, và Putin đang trông chờ vào việc Mỹ và phương Tây sẽ trở nên mệt mỏi trước viễn cảnh xảy ra một cuộc xung đột kéo dài – vì cả những người theo chủ nghĩa cô lập cánh tả và cánh hữu tại Viện Quincy và tại Quốc hội đều đã chỉ ra rằng họ đã mệt mỏi lắm rồi.”

“Việc nước Mỹ luôn có sai sót và đôi khi sử dụng sức mạnh của mình một cách ngu ngốc là điều không cần bàn cãi. Nhưng nếu bạn không thể đối mặt thẳng thắn với câu hỏi điều gì sẽ xảy ra trên thế giới nếu Mỹ chỉ bo bo giữ mình, thì bạn đã chẳng đặt ra những câu hỏi khó khăn này một cách nghiêm túc.”

CUỘC TẠO DỰNG MỚI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thứ Hai Tuần V – Mùa Thường Niên

“Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa đã tạo thành trời đất”.

Franz Joseph Haydn, “Cha đẻ của nền âm nhạc giao hưởng”; “The Creation”, “Tạo Dựng” là một trong những kiệt tác của tác giả. Ngày kia, ông được mời đến Vienna Opera, nơi trình tấu tuyệt phẩm này. Suy yếu vì tuổi tác, Haydn ngồi trên xe lăn. Tác phẩm được hợp tấu, khán giả bị cuốn hút bởi những cảm xúc vô tận. Đến đoạn cao trào “Hãy có ánh sáng!”, ban hợp xướng bùng nổ đến mức mọi người đứng dậy, tiếng vỗ tay như sấm, đến nỗi phần trình tấu phải gián đoạn. Haydn gắng gượng đứng lên, làm hiệu xin mọi người im lặng; và với bàn tay run run, ngón trỏ chỉ lên trời, ông nói, “Không, không! Không phải tôi, nhưng là Ngài, tất cả đã có!”. Sau khi dành sự tôn vinh và chúc khen cho Đấng Tạo Thành, ông ngã ra ghế, kiệt sức và ngất lịm!

Kính thưa Anh Chị em,

“Không! Không phải tôi, nhưng là Ngài”. Cùng với F. J. Haydn, phụng vụ Lời Chúa hôm nay tiết lộ, không chỉ một mà có đến hai cuộc tạo dựng: một từ nguyên thuỷ; một từ Chúa Giêsu. Thế nhưng, nói, “Tất cả những ai chạm tới Ngài, đều được khỏi”. Không chỉ chữa phần xác, Chúa Giêsu chữa cả phần hồn. Việc chữa lành này được gọi là cứu độ, hay một ‘cuộc tạo dựng mới!’.

Bài đọc Sáng Thế nói đến những ngày Thiên Chúa tạo dựng! “Hãy có ánh sáng!”; “Hãy có vòm trời!”; “Hãy có những vật sáng trên vòm trời!”. Qua những buổi chiều và những buổi sáng, Thiên Chúa thấy chúng tốt đẹp. Thánh Vịnh đáp ca bộc lộ niềm hân hoan, “Công trình Chúa làm Chúa được hân hoan”. Như người mẹ chuẩn bị mọi thứ cho đứa con, Thiên Chúa đã làm tất cả những gì có thể trước khi tạo dựng con người. Và như thế, mỗi ngày, khi hít thở, vui hưởng ánh sáng, sử dụng những gì Chúa ban… con người sờ đụng Thiên Chúa, sờ đụng huyền nhiệm!

Vậy mà, Thiên Chúa không chỉ tạo dựng, nhưng trong Chúa Giêsu, Ngài còn cứu độ. Marcô mô tả, “Dân chúng rảo chạy khắp miền; nghe tin Người ở đâu thì khiêng những kẻ đau yếu nằm trên chõng đến đó”. ‘Rảo chạy’ có nghĩa là ‘bước những bước ngắn vội vã’, ‘chạy tới chạy lui’; nhưng họ chạy, chỉ để mang đến những con người muốn được lành phần xác; điều này khá dễ dàng, vì họ chỉ cần chạm đến gấu áo Ngài. Vậy mà Chúa Giêsu lại ước ao chữa lành một điều gì đó quan trọng hơn, bên trong hơn; Ngài muốn chữa lành linh hồn. Để một khi linh hồn được chữa lành, thì việc lành lặn nội tâm này mang một tên gọi khác, “cứu độ”, ‘cuộc tạo dựng mới!’.

Anh Chị em,

“Từ nguyên thuỷ Thiên Chúa đã tạo thành trời đất”. Như F. J. Haydn nói, “Với Ngài, tất cả đã có!”. Nhưng với Chúa Giêsu, “Tội anh được tha!”; “Chị hãy về đi, từ nay đừng phạm tội nữa!”; “Hãy theo tôi!”; “Hãy xuống mau!”, thì với Ngài, đây là những ‘cuộc tạo dựng mới!’. Mỗi khi chữa lành bên trong một ai, mọi người vui mừng nhìn Chúa Giêsu; thế nhưng, như Haydn, Ngài cũng sẽ chỉ ngón trỏ lên trời và nói, ‘Không! Không phải Tôi! Nhưng là Cha, tất cả đã có!”. Không chỉ ngửa ra ghế, Ngài đã gục xuống trong mồ ba ngày và nay chôn mình trong các nhà chầu, trở nên của ăn nuôi sống bạn và tôi. Ngài mong chữa lành chúng ta, hẫu mỗi người thêm chất Chúa, bớt chất người; và “qua những buổi chiều và những buổi sáng”, Ngài tiếp tục làm những gì có thể để mỗi ngày có thêm những ‘cuộc tạo dựng mới’ đáng ao ước nhất! Như con nhộng xấu xí được lột xác, bạn và tôi, nhờ Ngài, ngày kia sẽ bay lên như những con bướm đẹp xinh!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chữa lành nội tâm con, hầu con trở nên ‘một tạo vật mới’, một tạo vật đã chuyển mình, biến đổi, lột xác bằng ‘cuộc tạo dựng mới’; và bấy giờ, con cũng có thể bay lên!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen