Thánh An-tôn, Viện Phụ, Thế kỷ IV-Cha Vương

Thánh An-tôn, Viện Phụ, Thế kỷ IV

Chúc bình an! Hôm nay 17/1 Giáo Hội mừng kính thánh An-tôn, Viện Phụ, Thế kỷ IV. Mời bạn đọc/đọc lại hành trình nên thánh của ngài nhé, lý thú lắm!

Cha Vương

Thứ 3: 17/01/2023

Thánh Antôn chào đời năm 250 tại Corma, gần Hieraclens, miền thượng Ai cập. Cha mẹ Ngài nổi danh giàu có lẫn đạo đức, đã lo lắng dạy dỗ Ngài sống đạo ngay từ nhỏ. Khi được 18 tuổi thì cha mẹ Ngài qua đời. Sáu tháng sau ngày mất cha mất mẹ, tại một giáo đường, thánh nhân đã nghe đọc lời sách thánh: “Nếu con muốn nên trọn lành, hãy về bán hết của cải và đem phân phát cho kẻ nghèo khó rồi theo Ta” (Mt 19,21). Tưởng như Thiên Chúa nói riêng với mình đã về bán hết của cải và đem phân phát cho người nghèo khó.

Sau khi lo lắng gửi gấm em gái của mình cho một nữ tu viện, Ngài lui vào sa mạc để làm việc và cầu nguyện, Ngài theo đuổi một cuộc sống rất khắc khổ, chỉ ăn bánh với muối và uống nước ngày một lần sau khi mặt trời lặn. Để giữ được sự cô tịch trọn vẹn, Ngài còn ẩn thân vào một ngôi mộ bỏ trống. Thỉnh thoảng một người bạn mang bánh đến cho Ngài nhưng ma quỉ đã tìm cách quấy phá để trục Ngài ra khỏi “căn phòng” và cuộc sống khắc khổ, chúng thường hay la hét và hiện hình kỳ quái. Phản ứng lại, thánh nhân thường cầu nguyện nhiều hơn và tăng gấp những việc hãm mình. Giận dữ vì các mưu mô bị thất bại, ma quỉ còn công khai hành hạ Ngài nữa.

Một ngày kia người bạn mang bánh đến, bỗng thấy thánh nhân nửa sống nửa chết, mình đầy thương tích. Nhưng khi vừa bừng tỉnh, thánh nhân liền chỗi dậy và la lớn: – Tôi còn sẵn sàng chiến đấu. Lạy Chúa, không, không gì có thể tách lìa con khỏi lòng yêu mến Chúa được. Giữa những đau đớn vì các cuộc tấn công của ma quỉ, Ngài khinh bỉ trả lời: – Ồn ào vô ích. Dấu thánh giá và lòng tin tưởng vào Chúa là những thành trì kiên cố.

Thánh nhân luôn tin tưởng nơi Chúa. Ngày kia, được an ủi trong tâm hồn và cảm thấy là ma quỉ đã lùi bước, Ngài cầu nguyện: -Ôi, lạy Chúa, Chúa ở đâu? Sao Chúa không ở đây lau sạch nước mắt và thoa dịu những dày vò của con?

Tiếng Chúa trả lời: – Cha ở gần con, cha giúp con chiến đấu. Bởi vì con đã chống trả lại ma quỉ, cha sẽ bảo vệ quãng đời còn lại của con. Cha sẽ làm cho tên con rạng rỡ trên trời.

Tràn đầy nghị lực, thánh nhân chỗi dậy tạ ơn Chúa. Muốn xa mọi người hơn nữa, Ngài vượt sông Nil đến trú ngụ trong một pháo đài hoang phế đầy những rắn rết. Nhưng sự thánh thiện của Ngài như một sức nam châm, vẫn thu hút nhiều người đến xin làm môn đệ. Thế là một phong trào ẩn tu nổi lên mạnh mẽ. Sa mạc mọc lên những mái tranh, từ đó không ngừng vang lên những lời kinh ca khen Chúa. Thánh nhân trở nên vị thủ lãnh của nếp sống ẩn tu.

Dầu vậy, thánh An tôn đã hai lần từ giã sa mạc. Vào năm 311 khi có cuộc bách hại của Alaximiô, Ngài nói: – Nào ta cùng đi chiến đấu với anh em ta.

Ngài lên đường đi Alexandria. Người ta thấy thánh nhân khích lệ các tù nhân nơi các trại giam, theo họ tới trước quan tòa và khuyên nhủ họ can đảm chết vì đạo, Ngài còn xuống hầm trú để an ủi các linh mục. Ngài thoát chết là một điều lạ lùng.

Cuộc bách hại chấm đứt được một năm, thánh nhân lại tìm về sa mạc. Số các môn sinh ngày càng tăng thêm đông. Sợ bị cám dỗ thành kiêu căng, và thấy gương các thánh tử đạo, thánh Antôn khao khát sống khắc khổ để đền tội. Ngài tiến sâu hơn nữa vào sa mạc. Sau ba ngày đi theo đoàn người buôn bán, Ngài dừng lại gần biển Đỏ, dưới chân núi Kolzim và dựng một căn lều vừa đủ để nằm để ở. Dân Bê-đu-anh (Bédouins) cho Ngài bánh ăn. Về sau các môn sinh tìm tới và mang cho Ngài một cái xuổng với một ít hạt giống, đây là nguồn gốc của tu viện thánh Antôn hay là Deir-el-Arat, một tu viện theo nghi lễ Cốp (Copte) ngày nay vẫn còn.

Lần thứ hai, thánh nhân trở lại Alexandria theo lời mời của đức giám mục Athanasiô, để chống lại lạc giáo. Dân chúng cả thành chen lấn nhau đi đón Ngài. Các lương dân cũng bảo nhau : – Chúng ta đi gặp người của Thiên Chúa.

Nhiều người cảm động vì những bài diễn thuyết và những phép lạ Ngài làm, đã xin lãnh bí tích rửa tội, người ta tưởng sẽ gặp một lão già tám mươi hoang dại, nhưng đã ngạc nhiên khi thấy Ngài rất lịch thiệp, xử dụng ngôn ngữ văn hóa và diễn tả tư tưởng rất uyên thâm. Các triết gia ngoại giáo ngạc nhiên hỏi Ngài:

– Ngài làm gì được trong sa mạc không có sách vở chi hết? Thánh nhân trả lời: Thiên nhiên đối với tôi là một cuốn sách mở rộng.

Và người ta ngỡ ngàng về những điều thánh nhân đã khám phá được trong cuốn sách vĩ đại này của Đấng Tạo hóa.

Điều đáng kể dường như không phải những nhiệm nhặt Ngài theo đuổi, mà là tâm hồn trong trắng Ngài kết hiệp mật thiết với Chúa, Ngài nói: – Hư danh là kẻ thù nguy hiểm nhứt của chúng ta.

Danh tiếng của thánh Antôn lan rộng đến nỗi vua Constantinô và con cái ông đã viết thư tham khảo ý kiến Ngài, Môn sinh của Ngài hãnh diện lắm. Nhưng Ngài bảo họ: Đừng ngạc nhiên lắm khi thấy nhà vua là một con người viết thư cho một con người. Đáng ngạc nhiên là chính Thiên Chúa đã muốn viết luật cho loài người, và đã nói với chúng ta qua đức Giêsu Kitô.

Và trả lời cho lớp người vương giả ấy, Ngài dùng những lời cao thượng để khuyên họ biết khinh chê danh vọng mà nhớ tới cuộc chung thẩm.

Khi Ngài đã quá 90 tuổi, Thiên Chúa qua một thị kiến đưa ngài đến thăm thánh Phaolô ẩn tu trong sa mạc. Ngài còn được cho biết là sẽ sống tới tuổi 105.

Biết sắp tới giờ từ giã trần gian, Ngài đi thăm anh em Ngài lần chót. Ngài nói với họ về sự chết với niềm vui của người hồi hương. Họ đã khóc ròng, nhưng Ngài khuyên nhủ họ: – Hãy sống như phải chết mỗi ngày. Hãy cố gắng noi gương các thánh.

Thánh nhân trở lại núi với hai môn sinh. Trong căn phòng nghèo nàn của mình, Ngài đã phó linh hồn trong tay Chúa lúc 105 tuổi. Chúng ta biết được ân sủng giai thoại quý báu của đời thánh An tôn là nhờ thánh Athanasiô kể lại. (Nguồn: Mạng Vui Học Thánh Kinh)

Chết là từ bỏ cái tôi cái ích kỷ để được sống tự do với Chúa. “Hãy sống như phải chết mỗi ngày.” Mời bạn hãy cố “chết” đi một tí hôm nay nhé.

Một triều đại cáo chung

Báo Tiếng Dân

Viet-Studies

Sao Băng

17-1-2023

Đại hội 13, tháng 1-2021, khát khao lưu sử sách nghìn năm, Nguyễn Phú Trọng khẩn khoản đề nghị Bộ Chính trị, Trung ương Đảng ghi vào văn kiện đại hội Đảng câu nói bất hảo của ông ta: “Cơ đồ đất nước chưa bao giờ có được như ngày nay”.

Tròn hai năm sau, quả nhiên, toàn dân thấy đất nước chưa bao giờ được như ngày nay khi có tới hai trong “tứ trụ” viết đơn xin từ chức, điều chưa từng có trong lịch sử chính trường Việt.

Vào trung tuần tháng 1-2023, ông Nguyễn Xuân Phúc – Chủ tịch nước, đã có đơn xin thôi tất cả các chức vụ. Lý do của ông Phúc xin thôi, không phải là vì sức khỏe, mà là nhận trách nhiệm chính trị liên quan đến một số thành viên Chính phủ nhiệm kỳ 2016-2021. Trước khi viết đơn xin từ chức, ông Phúc đã được Trung ương Đảng ra kết luận cho việc ông ta và gia đình ông ta không dính dáng đến cái gọi là đại án test kit Việt Á.

Theo bước ông Phúc, ông Phạm Minh Chính, Thủ tướng, cũng có đơn xin thôi tất cả các chức vụ, lý do cũng không phải vì sức khỏe, mà vì nhận trách nhiệm chính trị liên quan đến thời kỳ làm Bí thư Quảng Ninh 10 năm trước.

Hai đơn từ chức của hai ông, một ông được xem xét ngay trước khi nghỉ Tết nguyên đán theo nguyện vọng, ông còn lại khi ra tết. Áp lực đủ lớn để cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhận trách nhiệm chính trị về hàng loạt ủy viên trung ương Đảng trong hai năm qua lũ lượt đi tù, trong khi ông ta là Trưởng tiểu ban nhân sự đại hội 13. Dự kiến sự ra đi của Trọng  diễn ra vào mùa hè năm nay, khi Trung ương họp hội nghị giữa kỳ.

Nhưng ông Trọng có từ chức hay không, thì còn phải xem ở mức độ trơ trẽn của ông ta đến đâu, mặc dù luôn mồm nói về việc “nêu gương”.

Mặt khác, cũng còn phải xem các thế lực trong Đảng có muốn ông ta nghỉ hay không. Một khi, họ chưa tìm được “ngọn cờ”, thì ông Trọng, hẳn là vẫn tại vị.

Bây giờ, hãy nói về người đi đầu trong “nêu gương”. Nếu nói ông Nguyễn Xuân Phúc bị các đồng đảng đánh cho tan tác đến mức buộc phải chọn con đường rút lui cũng đúng; ông ta rút lui để mở đường sống cho các ủy viên trung ương Đảng cũng đúng, vì ông Phúc từ chức, thì mới có lý do để buộc ông Trọng từ chức, ông Trọng từ chức thì gần 200 ủy viên trung ương mới thoát kiếp nạn.

Nếu nói ông Phúc rút lui để bảo toàn mạng cho ông ta cũng đúng, bởi kể từ khi Trần Đại Quang chết, giới chóp bu cung đình đều đã biết đến lời nguyền của Quang: Ai ngồi ghế Chủ tịch nước quá hai năm đều khó giữ mạng. Thời kỳ Nguyễn Phú Trọng kiêm hai vai, Trọng hầu như không bao giờ sang ngồi bên Phủ chủ tịch. Vừa tiếp quản ghế Chủ tịch nước tháng 10-2018, tháng 4-2019, Trọng đã gặp một trận thấp tử nhất sinh khi vi hành ở Kiên Giang.

Vô số người dân có hay không quan tâm đến chính sự cũng đều còn nhớ, lúc 0h đêm đầu quốc tang Trần Đại Quang, sấm sét rền rĩ kinh hoàng khắp Ba Đình khi lời nguyền được chứng. Quốc tang, con cả Trần Đại Quang – Trần Quân, đọc lời điếu kiên quyết không nhắc dù chỉ một lời đến đầu Đảng Nguyễn Phú Trọng và trong giờ phút Trọng đứng viếng, chữ “g” trên phông nền “Vô cùng thương tiếc…” đột nhiên lao xuống đất.

Chữ ‘G’ của từ ‘cùng’ trong nguyên câu “Vô cùng thương tiếc đồng chí Đại Tướng Trần Đại Quang”, đột nhiên rơi xuống vào sáng 26-9-2018. Ảnh chụp từ VTV

Trọng vẫn còn như ngày hôm nay, dù chân quay quay và đầu quay quay, hẳn là vì Thiên triều phương Bắc có “hồng phúc”. Nhưng người Việt mấy năm nay đều lưu truyền một câu sấm của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm hơn 500 năm trước: “bạc phúc sản tất vong”.

Để Trong có thể lưu danh thiên cổ với câu nói bất hảo: “Đất nước chưa bao giờ có được cơ đồ như ngày hôm nay”, cả nhiệm kỳ Chính phủ 2016-2021, ông Phúc và cả Chính phủ của ông ta nai lưng làm cật lực. Nhiệm kỳ đó đã tạo ra hơn 1.200 tỷ đô la GDP và hơn 8 triệu việc làm, chưa bao gồm rất nhiều việc làm ở khu vực kinh tế phi chính thức; Quan chức; Doanh nghiệp và người dân được an hưởng thái bình để cùng làm ăn, cùng sống.

Bởi suy cho cùng, quan chức, doanh nghiệp có yên ổn, thì dân mới có công ăn việc làm, có kế sinh nhai. Cũng có rất ít các vụ án oan xảy ra ở thời kỳ này. Nơi vỉa hè ở các văn phòng trung ương đảng, văn phòng chủ tịch nước, văn phòng chính phủ, văn phòng quốc hội, không hề có bóng của những đám đông kéo nhau đi kiện, khác hẳn thời kỳ trước đó, những nơi này đều là tụ điểm bị Đảng coi là “tập trung gây rối”.

Lần đầu tiên, thời kỳ ông Phúc làm Thủ tướng, dự trữ ngoại hối đạt được tới 111 tỷ đô la Mỹ (khi bàn giao lại cho Chính phủ của Thủ tướng Phạm Minh Chính – người được ông Trọng chọn ghế Thủ tướng – phương án nhân sự đặc sắc nhất Đại hội 13, thì chỉ chưa đầy một năm, số dữ trữ ngoại hối này đã bay hơn 2/3).

Ông Phúc – dù bị đánh cho buộc phải nghỉ, hay đến lúc bản thân ông ta đến lúc thấy cần phải nghỉ khi tuổi tác cũng đã 70, trong khi đường đến Tổng Bí thư thì đầy hiểm ác, ngồi lại thị bị ám ảnh lời nguyền; thì sự ra đi của ông ta cũng đi vào lịch sử.

Một khi sự ra đi của ông ta khỏi chính trường Việt bây giờ cùng sự ra đi nối tiếp của Thủ tướng Phạm Minh Chính trong những ngày sau tết, đều có thể xem là những quyết định trọng đại, thức thời; nếu có thể tạo ra sức ép để Đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng noi gương mà làm theo, cũng là điều may mắn cho đất nước.

Bất kể hai ông Nguyễn Xuân Phúc, Phạm Minh Chính, đã từng làm những việc gì, tham ô hay không, tham nhũng hay không, thì giờ phút họ chọn cách ra đi như vậy, cũng có thể xem như những trang tuấn kiệt.

Một Việt Nam đã trở nên quá tồi tệ trong mắt bạn bè quốc tế khi có Đảng trưởng ngồi xổm lên điều lệ để tại vị. Một Đảng trưởng bệnh hoạn, cổ hủ, giáo điều, chỉ biết nhất nhất khom lưng khen trà Tàu ngon hơn trà Việt.

Có thể kẻ kế vị Đảng trưởng Nguyễn Phú Trọng còn đốn mạt hơn gấp bội.

Thì càng ứng lời sấm của Trạng Trình “bạc phúc sản tất vong”.

Đó mới là điều may mắn thực sự của dân tộc.

Một triều đại đã đến lúc cáo chung.

Trên thế giới, chỉ còn Việt Nam, Trung Quốc, Triều Tiên, Cu Ba còn duy trì chế độ cộng sản.

Đảng cộng sản duyệt việc Chủ tịch Nguyễn Xuân Phúc từ chức do cấp dưới sai phạm

VOA Tiếng Việt 

Hôm 17/1, Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định cho Chủ tịch Nguyễn Xuân Phúc từ chức giữa lúc cơ quan quyền lực nhất đất nước tiến hành một cuộc càn quét chống tham nhũng, trong đó có vụ việc liên quan đến công tác điều hành ứng phó với đại dịch COVID-19.

Các nhà quan sát nhận định với VOA rằng đây được xem là vụ bãi chức chưa có tiền lệ trong chính trường Việt Nam nhưng được đa số người dân đồng tình.

Truyền thông nhà nước cho hay Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra quyết định đồng ý với “nguyện vọng cá nhân” về việc từ chức của ông Phúc, bao gồm “nguyện vọng thôi giữ các chức vụ, nghỉ công tác và nghỉ hưu” của ông.

Đơn từ chức này đã được chấp nhận tại một cuộc họp bất thường của Ban chấp hành Trung ương hôm 17/1. Việc từ chức của ông với tư cách là người đứng đầu nhà nước dự kiến sẽ được bỏ phiếu tại một phiên họp bất thường của Quốc hội vào thứ Tư 18/1.

Việc ông Nguyễn Xuân Phúc bị đảng phế chức hôm 17/1 giúp vén lên tấm rèm đằng sau các nghi ngờ trước đó trên mạng xã hội về việc ông đang bị thanh trừng do các sai phạm của gia đình ông trong đại dịch. Các nguồn tin trong và ngoài nước trước đó biết rằng ông Phúc bị Bộ Chính trị cho thôi các chức vụ tại một cuộc họp bí mật hôm 13/1.

Ông Phúc, 68 tuổi, giữ chức thủ tướng chính phủ từ năm 2016-2021, nắm giữ chức vụ chủ tịch nước phần lớn mang tính nghi thức trong vòng chưa đầy hai năm và là quan chức cấp cao nhất bị đảng truy quét về cáo buộc tham nhũng.

“Ông chịu trách nhiệm chính trị của người đứng đầu khi để nhiều cán bộ, trong đó có hai Phó thủ tướng, ba bộ trưởng có vi phạm, khuyết điểm, gây hậu quả rất nghiêm trọng”, trang VNExpress tường thuật, dẫn thông báo của Ban chấp hành Trung ương.

Văn phòng Chủ tịch nước của ông Phúc không thể đưa ra bình luận ngay lập tức và không rõ liệu khi đảng chấp nhận đơn từ chức của ông Phúc, họ có xác định được ứng cử viên thay thế ông hay không, theo Reuters.

Đã có nhiều đồn đoán trong những tuần gần đây rằng ông Phúc sẽ từ chức sau khi hai phó thủ tướng Phạm Bình Minh và Vũ Đức Đam từng phục vụ dưới quyền của ông bị cách chức vào đầu tháng, khi đảng tăng cường nỗ lực chống tham nhũng dưới sự chỉ đão của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, còn được gọi là “đốt lò”.

Giới quan sát chính trị trong nước nhận định rằng việc từ chức này là chưa có tiền lệ và là dấu hiệu đáng mừng cho nỗ lực bài trừ tham nhũng của đảng cộng sản, dù công cuộc “đốt lò” của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng vẫn chưa triệt để.

Cựu nhà báo Võ Văn Tạo ở Khánh Hóa nêu nhận định về việc “thôi chức vụ” của Chủ tịch Phúc:

“Đột nhiên ông Nguyễn Xuân Phúc được ‘thôi chức’, thực chất đó là sự phế chức… nói nôm na đó là sự bãi chức. Đó là một sự đặc ân của giới chóp bu của Đảng Cộng sản Việt Nam khi anh phạm sai lầm, mắc khuyết điểm và thậm chí khi có tội, nhưng vì cương vị, vai vế của anh trong đảng rất lớn, chẳng hạn như tứ trụ điều đình hay bộ chính trị, cho nên khi người ta xử lý anh, người làm một cách nhẹ nhàng hơn để giữ bộ mặt cho đảng thôi”.

Trao đổi với VOA từ Tp. Hồ Chí Minh, bác sĩ Đinh Đức Long, người thường xuyên theo dõi tình hình ứng phó dịch bệnh COVID-19 của chính phủ, nêu ý kiến về việc ông Phúc bị cho thôi chức vụ.

“Cá nhân tôi rất mừng về tin này. Việc Trung ương và tiếp theo là Quốc hội cho ông Phúc thôi chức chủ tịch nước theo nguyện vọng cá nhân là đúng theo thẩm quyền và quy trình. Lý do vì sao và trách nhiệm đến đâu thì truyền thông nhà nước không nêu chính thức. Còn sai phạm của ông có dấu hiệu hình sự hay không hay còn cái gì khác nữa thì chúng ta vẫn chưa được biết”.

“Có rất nhiều tin đồn. Tất nhiên tin đồn thì chưa khẳng định là đúng hay không đúng, nhưng dư luận thì rất là không hài lòng, phải nói là rất bức xúc, thậm chí là rất căm phẫn vì những thông tin đó – tất nhiên là chưa được kiểm chứng, và đó là việc của tòa án. Cho nên dư luận không ủng hộ việc ông tiếp tục ở vị trí đó nữa. Cho nên việc Ban chấp hành Trung ương Đảng và Quốc hội sắp tới cho ông thôi chức vụ này là hợp lòng dân”.

Trên cương vị Thủ tướng Chính phủ nhiệm kỳ 2016-2021, Thủ tướng Phúc lãnh đạo, điều hành công tác phòng, chống dịch COVID-19.

Vừa qua hai phó thủ tướng trong nội các thời ông Phúc đã từ chức, trong khi hai bộ trưởng và một số quan chức khác đang phải đối mặt với cáo buộc hình sự do liên quan đến các “chuyến bay giải cứu” đưa người Việt từ nước ngoài về các khu cách ly trong nước, và vụ test kit Việt Á.

Tin đồn trên mạng xã hội cho biết vợ chồng ông Phúc bị cáo buộc dính líu đến vụ bê bối Việt Á, mà tính đến tháng trước đã dẫn đến việc truy tố 102 người, trong đó có các quan chức cấp cao như cựu Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long và cựu Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh. Vụ bê bối cũng dẫn đến việc cựu Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam bị cách chức vào ngày 5/1.

Trung ương Đảng “đồng ý” để ông Phúc thôi giữ chức vụ lãnh đạo Nhà nước, các chức vụ trong Đảng, thôi giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh nhiệm kỳ 2021-2026, truyền thông Việt Nam cho biết, nhưng không nêu rõ lý do.

Ông Phúc là Ủy viên Trung ương Đảng, Uỷ viên Bộ Chính trị và Đại biểu Quốc hội nhiều nhiệm kỳ. Từ năm 1997 đến năm 2006, ông là Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam. Ông được bổ nhiệm làm Chánh Văn phòng Chính phủ năm 2006 và Phó Thủ tướng năm 2011, trước khi trở thành Thủ tướng 5 năm sau đó. Ông được bầu làm Chủ tịch nước vào tháng 4/2021.

Ông Võ Văn Tạo đưa ra quan sát cá nhân về việc ông Phúc mất chức, đề cập vắn tắt những thông tin không chính thức đã được lan truyền.

“Thực chất vụ việc này là người ta trừng phạt ổng về việc để cho vợ con thao túng quyền lực của ổng để trục lợi cho gia đình của ổng, cho dòng họ nhà ổng, cho cánh hẩu của ổng”.

“Ở các nước khác thì vụ việc có thể được giải quyết đơn giản, nhưng ở Việt Nam thì hơi lùng nhùng như thế thôi”.

“Nhưng mà dù sao đây cũng là một bước tương đối mạnh trong việc bài trừ chống tiêu cực, tham nhũng”, ông Tạo nhận định.

Tương tự, Tiến sĩ Lê Hồng Hiệp, nhà nghiên cứu cấp cao tại Viện ISEAS-Yusof Ishak ở Singapore nhận định trong bài viết trên trang fulcrum.sg hôm 17/1 rằng động thái này là ví dụ mới nhất về chiến dịch tăng cường chống tham nhũng của ĐCSVN do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu, người từng tuyên bố rằng không có “vùng cấm” trong chiến dịch chống tham nhũng của mình.

Hãng tin Reuters hôm 17/1 nhận định rằng các đợt phế chức trong đảng sẽ báo hiệu sự leo thang hơn nữa trong cuộc đàn áp tham nhũng ngay cả khi có những lo ngại gia tăng rằng nó có thể ảnh hưởng đến tâm lý kinh tế và đầu tư tại Việt Nam.

Kỳ họp bất thường vào ngày 18/1 của Quốc hội được xem là rất hiếm trong cơ quan lập pháp bảo thủ của Việt Nam và việc hai cuộc họp này được tổ chức gần nhau, ngay trước Tết Nguyên đán, kỳ nghỉ dài ngày của đất nước, cũng là điều bất thường, vẫn theo Reuters.

Biến động chính trị này trong hệ thống độc đảng diễn ra khi ông Trọng tăng cường nỗ lực loại bỏ tận gốc các quan chức bị coi là tham nhũng hoặc không ngăn chặn tham nhũng vì quản lý lỏng lẻo, tạp chí Time dẫn lời ông Carl Thayer, giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales ở Úc, cho biết.

Ngoài ra, ông Thayer cho rằng bất ổn chính trị này chắc chắn sẽ gây khó chịu cho một số nhà đầu tư, những người đã giúp quốc gia Đông Nam Á này trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới. Nền kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu của Việt Nam đã được hưởng lợi từ các công ty toàn cầu như các nhà cung cấp của Apple Inc. và Samsung Electronics Co. đang biến đất nước thành một trung tâm sản xuất.

“Nó đang tạo ra sự bất định ở Việt Nam”, Time dẫn lời giáo sư Thayer, và ông nêu lên câu hỏi: “Liệu vị bộ trưởng mà quý vị đang cùng làm việc hôm nay có còn tại vị vào ngày mai hay không?”

VOATIENGVIET.COM

Đảng cộng sản duyệt việc Chủ tịch Nguyễn Xuân Phúc từ chức do cấp dưới sai phạm

CẦU XIN CHẮC CHẮN ĐƯỢC NHẬN LỜI – Rev. Ron Rolheiser, OMI

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Có nhiều đoạn trong Phúc Âm, Đức Giê-su bảo đảm với chúng ta rằng, nếu chúng ta xin điều gì đó nhân danh Người, chúng ta sẽ được nhận lời.  Chẳng hạn, trong Phúc Âm thánh Mát-thêu, Người nói: Hãy xin thì sẽ được, bởi vì ai xin thì đều sẽ được.  Trong Phúc Âm thánh Gio-an người hứa với chúng ta rằng, nếu chúng ta xin bất cứ điều gì nhân danh Người, Chúa Cha sẽ ban cho điều đó.

Tại sao không lúc nào nó được ứng nghiệm?  Đôi khi chúng ta cầu xin một điều gì đó nhân danh Đức Giê-su, và lời cầu xin không được nhận lời.  Đôi khi đúng là chúng ta đã kêu lên tới trời bằng lời cầu xin của mình và dường như tất cả đều không được đáp lại.  Phải chăng Đức Giê-su đã hứa vu vơ khi Người xác quyết với chúng ta rằng Thiên Chúa sẽ ban cho chúng ta bất cứ điều gì chúng ta xin, nhân danh Người?

Các tác giả thiêng liêng và các nhà biện giải đã đưa ra nhiều câu trả lời cho câu hỏi này: Có thể những lời cầu xin của chúng ta không được nhận lời vì chúng ta đã xin không đúng.  Một người mẹ yêu con sẽ không đưa dao cho con mình chơi, phải không?  Cũng có thể lời cầu xin của chúng ta được nhận lời, nhưng ở một tầng mức sâu đậm hơn và khi đến lúc chết chúng ta mới hiểu được câu trả lời.  C.S. Lewis từng nói rằng chúng ta sẽ dùng hầu hết đời sống vĩnh cửu của mình để cám ơn Thiên Chúa đã không đáp lại lời cầu xin của mình!

Các câu trả lời này đều có giá trị, dù không phải là những câu trả lời của Đức Giê-su.  Quả thật, khi Người hứa lời cầu xin của chúng ta sẽ được nhận lời, Người không nói thêm với điều kiện chúng ta chỉ xin những điều đúng.  Người mời gọi chúng ta xin bất cứ điều gì nhân danh Người.  Người không chỉ định đó phải là điều đúng.  Vậy thì tại sao những lời cầu xin của chúng ta không lúc nào được nhận lời?

Linh mục Jerome Murphy-O’Connor, một học giả Kinh Thánh nổi tiếng, gợi ý rằng, trong Phúc Âm thánh Mát-thêu, cũng như trong phần lớn Tân Ước, lời cầu xin luôn dính liền với các hoạt động bác ái cụ thể trong cộng đồng.  Vì vậy để thật sự cầu xin cho người nào thì phải cụ thể mở lòng ra để giúp người đó.  Để thật sự cầu xin cho hòa bình và công lý thì phải làm việc tích cực cho hòa bình và công lý.  Khi chúng ta cầu xin “qua Đức Ki-tô,” chúng ta không chỉ cầu xin qua Đức Ki-tô đã sống lại trên trời nhưng còn qua “Nhiệm Thể của Đức Ki-tô” trên mặt đất này, là chính chúng ta.  Chúng ta cần phải tự mình giúp cho lời cầu xin của chính mình.  Vì vậy khi lời cầu xin của chúng ta dường như không được nhận lời, thì có thể chúng ta, Nhiệm Thể của Đức Ki-tô trên mặt đất này, chưa dành hết tâm trí để cố gắng trả lời cho lời cầu xin của chính mình, chúng ta chưa thật sự cầu xin “qua Đức Ki-tô.”

Nhà thần học Karl Rahner, khi bình giải về lời hứa của Đức Giê-su trong Phúc Âm thánh Gio-an rằng bất cứ điều gì chúng ta xin Đức Giê-su nhân danh Người chúng ta sẽ nhận được, đã đưa ra suy tư này:

Cầu xin một điều gì đó nhân danh Đức Giê-su không có nghĩa xin bằng miệng mà tâm hồn thì rối bời, quả tim chia rẽ, thèm muốn cơn mê khốn cùng của chúng ta về mọi sự làm chúng ta khao khát.  Không, cầu xin nhân danh Đức Giê-su có nghĩa là đi vào trong Người, sống với Người, nên một với Người trong tình yêu và Đức tin.  Nếu Người ở trong chúng ta qua Đức tin, tình yêu, ân sủng, Thần Khí, thì khi đó sự cầu xin của chúng ta mới nảy sinh từ tâm điểm của sự sống, đó chính là bản thân Đức Giê-su, và chỉ khi tất cả lời cầu xin và ao ước của chúng ta hợp nhất nơi Người và Thần Khí của Người, thì khi đó Chúa Cha mới nghe lời cầu xin của chúng ta.  Khi đó lời cầu xin trở nên giản dị và thành thật, hài hòa, đúng mực, và khiêm tốn.  Khi đó những gì thánh Phao-lô nói trong thư gởi tín hữu Rô-ma có thể áp dụng cho chúng ta: Chúng ta không biết cách cầu xin theo cách chúng ta phải làm, nhưng chính Thần Khí của Đức Giê-su đã cầu bàu cho chúng ta, chỉ một lời cầu xin, “Áp-ba! Cha ơi!” Người khát khao điều đó từ khởi nguồn: Người khát khao Thiên Chúa, Người xin Thiên Chúa vì Thiên Chúa, Người cầu xin Thiên Chúa thay cho chúng ta.  Mọi sự đều bao gồm và chứa đựng trong lời cầu xin này.…  [Nếu chúng ta cầu xin theo cách này] chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa đang thật sự đáp lại lời cầu xin của chúng ta, bằng cách này hay cách khác.  Khi đó chúng ta sẽ không còn cảm thấy “cách này hay cách khác” là lời xin lỗi mong manh của  người ngoan đạo, và Phúc Âm là lời cầu xin không được đáp lại.  Không.  Lời cầu xin của chúng ta được nhận lời, nhưng chính vì đó là lời cầu xin nhân danh Đức Giê-su; và những gì cuối cùng chúng ta cầu xin cùng Thiên Chúa là để làm cho đời sống chúng ta được lớn lên, để lấp đầy đời sống chúng ta với Người, để chiến thắng, để cuộc đời phân rẽ của chúng ta được hợp lại thành một, để ngàn lẻ một ước muốn của chúng ta nên một với Người…  Cầu xin nhân danh Đức Giê-su là lời cầu được nhận lời, là đón nhận Thiên Chúa và ơn phúc của Ngài, và khi đó, dù trong nước mắt, đau đớn, khốn cùng, khi dường như chúng ta vẫn chưa được nhận lời, tâm hồn chúng ta đã được nghỉ ngơi trong Thiên Chúa dù chúng ta đang hành trình, dù chưa có niềm vui trọn vẹn của Thiên Chúa.

Nếu chúng ta chưa cầu nguyện như thế, thì Đức Giê-su vẫn còn nói với chúng ta: “Cho đến lúc này, con vẫn chưa cầu xin điều gì nhân danh Ta.  Con có thể đã cố gắng, con có thể có ý như vậy, nhưng con chưa làm cho Ta có sức mạnh và sức nặng trong lời cầu xin của con.”

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

KHỞI TỐ VỤ ĐƯA TIN HUFLIT: NHỔ TOẸT LÊN HIẾN PHÁP.

Hoai Linh Ngoc Duong

Điều 25 của cái gọi là “ hiến pháp CHXHCNVN” quy định: “ Công dân có quyền tự do ngôn luận ,tự do lập hội ,biểu tình” .Thế nhưng trong nghi án hiếp dâm của trường Huflit công an lại lấy thịt đè người khi khởi tố để bịt mồm 3 admin của một trang web của sinh viên nhằm ngăn chặn một cuộc biểu tình tự phát .

Điều này cho thấy kiến thức về hiến pháp,luật pháp của bộ máy bảo vệ chính quyền rất hạn chế .Chúng ngang nhiên chà đạp lên bản giao ước giữa nhân dân và chính quyền là hiến pháp .

Ở Mỹ khi có một nghi án hiếp dâm xảy ra ,báo chí có quyền đưa tin ,đưa ra xác giả thiết và có quyền yêu cầu các cơ quan tư pháp khởi tố vụ án để điều tra nhằm trả lời trước công luận.Khôngbao giờ có chuyện cảnh sát khởi tố báo chí bởi điều đó là vi phạm hiến pháp .Các tòa án bảo hiến sẽ loại bỏ sự khởi tố này ngay tức khắc bởi việc khởi tố này chỉ tốn tiền thuế của dân .Khi mở phiên tòa các công dân có quyền yêu cầu được xử bởi bồi thẩm đoàn và đoàn bồi thẩm 12 người được chọn từ nhân dân sẽ không khó khăn gì để đối chiếu hiến pháp về quyền tự do ngôn luận để bỏ quyểt định khởi tố vào thùng rác .Không một văn phòng biện lý nào ở Mỹ lại đi làm việc thiểu năng này .

Nếu việc đưa tin hiếp dâm không đúng sự thật thì chỉ những kẻ bị nghi ngờ hiếp dâm mới có quyền kiện các cơ quan báo chí .Nhưng họ phải chứng minh được tin giả đã gây ra những tổn hại rè tinh thần ,thể chất trực tiếp cho bản thân họ thì mới có thể thắng kiện .Các cơ quan nhà nước hoàn toàn không bị xâm hại nên phải đứng ngoài vụ kiện .

Việc cơ quan công an khởi tố vụ Huflit đã tố cáo nó là một chính quyền độc tài .Nó chẳng khác gì một ông vua hiếp dâm dân thường bị bắt gặp bèn ra lệnh chém đầu dân để giữ thể diện .

Thực tế trong vụ án này có hằng hà điểm nghi vấn như :

– Chỉ một việc ăn cắp tiền tại sao nữ sinh lại kêu thét một cách phẫn uất trong đêm xé lòng như thế .

– Tiếng của đàn ông trong clip là tiếng của ai .Nếu có cắt ghép thì clip gốc phải được công bố .

-Tại sao có hình ảnh một nhóm người khiêng một cô gái đi giữa sân trường.

– Tại sao các nhân vật liên quan trong đêm đó đều bị bịt miệng ?

– Tại sao bà mẹ nghi phạm trộm tiền đón con về trong đêm không hề lên tiếng đính chính ?

Trách nhiệm của một nền tư pháp là làm rõ các nghi án đó chứ không phải bịt mồm những người đặt câu hỏi về nó. Chẳng qua là vì dân không tạo ra đối lập nên quan chức không hề sợ dân bỏ phiếu cho đảng khác nắm quyền .Chúng tha hồ thao túng hiến pháp ,dùng thứ luật rừng do chúng tự đặt ra để bịt mồm quyền công dân .

Martin Luther King: Cuộc đời và Sự nghiệp qua ảnh

Luật Khoa Tạp Chí

QUỲNH VI

Vào mỗi năm, ngày thứ Hai của tuần thứ 3 trong tháng Giêng là một ngày lễ toàn quốc tại Hoa Kỳ. Một đạo luật liên bang được lưỡng viện thông qua vào năm 1983 đã lập ra ngày lễ vinh danh và kỷ niệm ngày sinh của Mục sư Martin Luther King, Jr. Người Mỹ thường gọi ngày này là Ngày MLK (MLK Day), viết tắt của tên ông.

Mục sư Martin Luther King, Jr. là công dân Hoa Kỳ đầu tiên và duy nhất tuy chưa từng là nguyên thủ quốc gia, nhưng được vinh danh ngày sinh bằng một ngày lễ toàn quốc. Ngoài mục sư King, chính quyền liên bang Hoa Kỳ trước đó chỉ vinh danh ngày sinh của Tổng thống đầu tiên, George Washington, vào ngày thứ Hai của tuần lễ thứ 3 trong tháng Hai hằng năm.

Theo lịch của Văn phòng Quản lý Nhân sự Hoa Kỳ (U.S. Office of Personnel Management), trong năm 2017, nước Mỹ có tổng cộng 10 ngày nghỉ lễ liên bang.

Nhân ngày sinh của mục sư King lần thứ 88, hãy cùng Luật Khoa tìm hiểu về ông cũng như quá trình của cuộc vận động cho ngày lễ vinh danh ông tại Mỹ.

Mục sư Martin Luther King, Jr. sinh ngày 15 tháng Giêng năm 1929 tại Atlanta, bang Georgia, Hoa Kỳ, trong một gia đình mà cả bố lẫn mẹ đều là những mục sư Tin lành Protestant. Ảnh: Mục sư Martin Luther King, Jr. khi còn là một cậu bé 7 tuổi (Stanford University).

Ông có một tuổi thơ và giai đoạn trưởng thành khá tốt đẹp. Ông tham gia vào các hoạt động ở nhà thờ, hát lễ, chơi bóng bầu dục khi còn học trung học.

Nhưng cũng như rất nhiều người da đen lớn lên trong thời kỳ đó, Martin Luther King, Jr. đã phải chứng kiến những hậu quả mà đạo luật Jim Crow và các đạo luật phân biệt chủng tộc ở miền Nam Hoa Kỳ gây ra cho người da đen. Chính bản thân gia đình ông đã từng bị đuổi khỏi một cửa hàng chỉ vì là người da đen. Ảnh: Mục sư King chụp cùng cha mẹ, bà ngoại, chị gái và em trai khi còn bé (Reading Rainbow).

Martin Luther King, Jr. không cần tốt nghiệp trung học vì năm 15 tuổi, ông đã thi đậu vào trường Đại học Morehouse với số điểm rất cao trong kỳ thi tuyển sinh (college entrance examination). Mục sư King tốt nghiệp đại học năm 1948, ngành Xã hội học. Cùng năm đó, ông cũng được thụ phong chức mục sư bởi Hội đồng Mục sư. Ảnh: Mục sư King (hàng đầu thứ 3 từ trái đếm qua) khi còn học đại học (Huffington Post).

Martin Luther King, Jr. tiếp tục theo học thạc sỹ tại trường Crozer Theological Seminary và sau đó là Đại học bang Pennsylvania. Ở cả hai nơi, ông đều được đánh giá xuất sắc trong thời gian học. Sau khi tốt nghiệp thạc sỹ thần học tại trường Crozer, mục sư King tiếp tục chương trình tiến sỹ thần học tại trường Đại học Boston vào năm 1951. Ảnh: Martin Luther King, Jr. trong lễ tốt nghiệp thạc sỹ tại trường Crozer (EduSkyster.com).

Trong quá trình theo học chương trình tiến sỹ, Martin Luther King, Jr. đã gặp bà Coretta Scott vào năm 1952 và hai người đã kết hôn năm 1953. Sau khi thành hôn, bà theo họ chồng và tên của bà trở thành Coretta Scott King. Bà King cũng chính là người đã dành hơn 14 năm sau khi mục sư King qua đời vận động chính sách thành công, để ngày sinh của Martin Luther King, Jr. trở thành ngày lễ liên bang tại Mỹ.

Năm 1955, Martin Luther King, Jr. bảo vệ thành công luận án tiến sỹ với đề tài “Một sự so sánh về Thượng đế trong tư tưởng của Paul Tillich và Henry Wieman”. Cùng vào năm 1955, phong trào “tẩy chay xe buýt” nhằm phản đối việc người da đen và người da trắng không được ngồi cùng xe tại thành phố Montgomery, bang Alabama do bà Rosa Parks khởi xướng đã nổ ra.

Bà Rosa Parks bị cảnh sát bắt vào ngày 1 tháng 12 năm 1955 khi không nhường chỗ của mình trên xe buýt cho một người đàn ông da trắng. Vào ngày 5 tháng 12 năm 1955, Martin Luther King, Jr. được bầu làm chủ tịch Hội Vì một sự tiến bộ cho Montgomery (Montgomery Improvement Association – MIA) và trở thành người lãnh đạo của phong trào “tẩy chay xe buýt”. Ảnh: Martin Luther King, Jr. và bà Rosa Parks trong một buổi họp của hội MIA (ABC News).

Vào tháng 11 năm 1956, tòa án tuyên bố các đạo luật buộc người da đen và da trắng không được ngồi cùng xe buýt là vi hiến. “Tẩy chay xe buýt” được xem là một trong những chiến thắng đầu tiên và quan trọng của phong trào Dân quyền (Civil Rights Movement) tại Mỹ. Mục sư Martin Luther King, Jr. từ vai trò lãnh đạo của hội MIA, đã từng bước trở thành người lãnh đạo của phong trào Dân quyền.

Phương pháp đấu tranh ôn hòa của ông đã trở thành kim chỉ nam cho những phong trào xã hội về sau, không chỉ ở Mỹ mà còn trên toàn thế giới. Ảnh: Martin Luther King, Jr. (áo đen) sau một phiên xử tại tòa về vụ việc “tẩy chay xe buýt” năm 1956 (Bettmann/Getty).

Ngày 17 tháng 5 năm 1957, phong trào Dân quyền đã tổ chức một cuộc hành hương cầu nguyện cho tự do (Prayer Pilgirmage for Freedom) và người dân từ khắp nơi trên nước Mỹ đã tụ tập về thủ đô Washington, D.C. Đó cũng là lần đầu tiên Martin Luther King, Jr., 28 tuổi, đã diễn thuyết trước 30.000 người trong một sự kiện mang tầm cỡ quốc gia tại tượng đài tưởng niệm Tổng thống Abraham Lincoln. Ảnh: Bob Henriques.

Năm 1958, Quốc hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật Dân quyền đầu tiên (Civil Rights Act of 1958) sau khi chế độ nô lệ bị xóa bỏ ở Mỹ gần 100 năm trước đó. 1958 cũng là thời điểm Martin Luther King, Jr. xuất bản cuốn sách đầu tay, Sải bước đến Tự do (Stride to Freedom), và bị ám sát hụt khi một người phụ nữ da đen dùng dao rọc giấy đâm suýt thủng tim ông trong buổi ra mắt cuốn sách ấy tại Harlem, bang New York.

Ảnh: Bác sỹ Emil Naclerio bên cạnh mục sư King sau khi thực hiện thành công ca phẫu cứu sống ông. Mũi dao đâm vào chỉ cách động mạnh tim của King một khoảng cách rất nhỏ và chỉ cần một cái hắt hơi cũng đủ khiến nó xuyên qua (New York Daily News).

Là một người rất ngưỡng mộ con người, cũng như chủ trương và đường lối đấu tranh ôn hòa của Mahatma Gandhi, năm 1959 Martin Luther King, Jr. đã đến thăm Ấn Độ. Ảnh: Mục sư King và vợ, bà Coretta Scott King, viếng Đài tưởng niệm Gandhi (Huffington Post).

Tháng 10 năm 1960, Martin Luther King, Jr. tham gia tọa kháng tại nhà hàng Magnolia Room – là một nơi chỉ phục vụ người da trắng ở thành phố Atlanta, Georgia. Mục sư King lần đầu tiên bị chính quyền bắt giữ và bị tuyên án 4 tháng tù. Nhờ vào sự can thiệp của ứng cử viên tổng thống John F. Kennedy, ông đã được trả tự do. Kennedy đang trong giai đoạn tranh cử tổng thống năm đó và có ý kiến cho rằng ông đã giành được sự ủng hộ của cử tri da đen qua hành động này. Ảnh: Mục sư King bị bắt sau khi tổ chức tọa kháng (theclio.com).

Ra tù, Martin Luther King, Jr. tập trung đẩy mạnh việc thực thi quyền của người da đen không bị đối xử phân biệtđã được các án lệ của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ bảo vệ. Ông tổ chức phong trào “Chuyến xe tự do” (Freedom Ride) bằng cách sử dụng các xe buýt công cộng xuyên bang. Kết quả là Uỷ ban Thương mại Liên tiểu bang (Interstate Commerce Commission) của chính phủ Hoa Kỳ đã ban hành lệnh cấm phân biệt chủng tộc trong vận chuyển giữa các tiểu bang (interstate travel) vào năm 1961.

Ảnh: Martin Luther King, Jr. trong một buổi họp báo với những người trong phong trào, gồm có Ralph Abernathy và John Lewis. John Lewis (áo trắng) hiện nay là dân biểu lâu năm của bang Georgia (PBS.org).

MARTIN LUTHER KING, JR, sitting in the Jefferson County Jail, in Birmingham, Alabama, 11/3/67.

Từ khi bắt đầu trở thành nhà hoạt động dân quyền, mục sư King đã nhiều lần bị bắt bớ bởi những hoạt động đấu tranh đòi quyền cho người da đen tại Mỹ. Lần nổi tiếng nhất là lần bị bắt và giam giữ 11 ngày với tội danh “gây rối trật tự công cộng” vào tháng 4 năm 1963. Trong những ngày bị giam giữ, ông đã viết Lá thư từ ngục Birmingham về tinh thần và phương pháp đấu tranh ôn hòa chống lại những đạo luật bất công trong xã hội. Ảnh: Martin Luther King, Jr. trong một lần bị giam tại ngục Birmingham (History.com).

Sau khi Martin Luther King, Jr. ra tù, tháng 5 năm 1963, Thoả thuận Birmingham (Birmingham Agreement) đã được ký kết, chấm dứt chính sách phân biệt chủng tộc ở Alabama. 11 ngày trong ngục và lá thư từ Birmingham của ông đã góp phần rất lớn vào điều này. Ảnh: Tháng 8 năm 1963, ông trở lại thủ đô Washington, D.C. và tổ chức cuộc Tuần hành Washington (March on Washington) để phản đối các chính sách phân biệt chủng tộc khắp nước Mỹ. Đây cũng là nơi ông đã đọc bài diễn văn nổi tiếng “Tôi có một giấc mơ” trước gần 250.000 người.

Tháng 7 năm 1964, Martin Luther King, Jr. đã có mặt trong lễ ký ban hành Đạo luật Dân quyền năm 1964 của Tổng thống Lyndon Johnson. Đạo luật có giá trị lịch sử này đã nghiêm cấm tất cả sự phân biệt đối xử ở Mỹ dựa trên chủng tộc, màu da, tôn giáo, giới tính, và nguồn gốc quốc gia của một người trên toàn nước Mỹ. Đây là một thành công lớn của Phong trào Dân quyền. Ảnh: Wikipedia.

Khi chiến tranh Việt Nam leo thang, mục sư King đã công khai phản đối cuộc chiến và điều này khiến ông bị liệt vào “danh sách đen” của những người chống cộng theo chủ nghĩa McCathyrism ở Mỹ. Ảnh: Mục sư King và bài diễn văn phản chiến tại Đại học Minnesota năm 1964 (Wikimedia Commons).

Vì những hoạt động của mình, Martin Luther King, Jr. đã sống dưới sự giám sát và theo dõi chặt chẽ của Cục Điều tra Liên bang Hoa Kỳ (Federal Investigation Bureau – FBI) cho đến tận khi qua đời. Điều này đã tạo ra những áp lực rất lớn cho King, dẫn đến việc ông bị trầm cảm và đã vài lần có ý niệm tự sát. Ảnh: Giám đốc FBI Edgar Hoover, người chịu trách nhiệm về hồ sơ của mục sư King (yurtopic.com).

Năm 1964, mục sư King được Tạp chí Time vinh danh là Người đàn ông của năm (Man of the Year), vừa đồng thời được trao giải thưởng danh giá Nobel Hòa bình khi chỉ mới 35 tuổi cho những hoạt động thúc đẩy dân quyền trong ôn hòa. Ảnh: Mục sư Martin Luther King, Jr. cùng Chủ tịch Uỷ ban Nobel Gunnar Jahn tại lễ trao giải Nobel Hòa bình tại Oslo, Na Uy ngày 10 tháng 12, năm 1964 (AP Photo/Time).

Năm 1965, mục sư King tập trung đấu tranh về quyền được tham gia bầu cử công bằng cho người da đen. Lúc này, vợ ông, bà Coretta Scott King là một trong những người cộng sự đắc lực bên cạnh và dần trở thành một nhà lãnh đạo của phong trào Dân quyền.

Ảnh: Bà Coretta Scott King và mục sư King cùng tham gia cuộc tuần hành nổi tiếng vào tháng 3 năm 1965 từ thành phố Selma đến thủ phủ Montgomery, bang Alabama (History.com) để đòi quyền bầu cử được thực thi cho người da đen.

Tuy các cuộc tuần hành này bị đàn áp rất dã man, Đạo luật Quyền đi bầu 1965 (Voting Rights Act of 1965) đã được Tổng thống Lyndon Johnson ban hành trong cùng năm. Ảnh: Tổng thống Lyndon Johnson và Martin Luther King, Jr. bắt tay nhau sau khi Đạo luật Quyền đi bầu 1965 được ký vào tháng 8 năm 1965 (Wikimedia).

Những năm 1966-1967, Martin Luther King, Jr. dành phần lớn thời gian đấu tranh cho người nghèo khổ ở Mỹ. Ông đã tổ chức các cuộc vận động khác nhau, đòi hỏi quyền lợi kinh tế cho những nhóm yếu thế trong xã hội không phân biệt chủng tộc. Ảnh: Martin Luther King, Jr. và các vị lãnh đạo tôn giáo tham gia tuần hành đòi hỏi công việc làm cho người nghèo năm 1967 (Newsweek).

Ngày 4 tháng 4 năm 1968, Martin Luther King, Jr. đã bị bắn tại lầu 2 của khách sạn Lorraine, thành phố Memphis, bang Tennessee trong khi đang trên đường vận động sự ủng hộ cho cuộc đình công của các công nhân vệ sinh da đen. Ảnh: Những khoảnh khắc cuối cùng trước khi mục sư King bị ám sát (wate.com).

Ông qua đời sau một cuộc giải phẫu không thành công tại bệnh viện Thánh Cả Giuse (St. Joseph Hospital), hưởng dương 39 tuổi. Ảnh: Getty.

Đám tang của Martin Luther King, Jr. đã diễn ra cùng lúc với hàng loạt cuộc bạo động trên toàn nước Mỹ nổ ra ngay sau cái chết của ông. Ảnh: Đoàn người đưa tiễn quan tài mục sư King về nơi an nghỉ cuối cùng (History.com)

Sau hơn 2 tháng trốn chạy lệnh truy nã, James Earl Ray (1928-1988) đã bị bắt giữ tại phi trường Heathrow, Anh Quốc. Bị dẫn độ về Mỹ, Ray đã thú tội, nhận mình là hung thủ giết chết Martin Luther King, Jr. và đồng ý nhận án 99 năm để khỏi phải trải qua xét xử và đối diện với án tử hình.

Tuy nhiên, 3 ngày sau đó, James Earl Ray đã sa thải luật sư biện hộ và muốn lật lại bản án. Cho đến khi qua đời, Ray tiếp tục khẳng định mình chỉ là một con cờ trong một thuyết âm mưu của các nhân viên an ninh Hoa Kỳ. Gia đình của mục sư King cũng có vẻ chấp nhận giải thích của Ray và đã từng yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ mở lại phiên tòa xét xử James Earl Ray dưới thời Tổng thống Bill Clinton. Tuy nhiên, James Earl Ray qua đời vì bệnh gan năm 1998 tại một nhà tù ở thành phố Memphis, bang Tennessee.

Ảnh: NBC Chicago.

Cái chết của ông đã được Tổng thống Lyndon Johson vinh danh bằng việc ký và ban hành Đạo luật Dân quyền năm 1968 (Civil Rights Act of 1968), trong đó có điều khoản cấm kỳ thị đối với người thuê nhà, là một trong những điều mà Martin Luther King, Jr. đang đấu tranh dang dở. Ảnh: Tổng thống Johnson và các vị dân biểu trong buổi ký ban hành Đạo luật Dân quyền năm 1968 chỉ một tuần sau khi mục sư King bị ám sát (Minnesota History Center).

Ngày 8 tháng 4 năm 1968, 4 ngày sau cái chết của mục sư King, vợ con ông và những người bạn trong phong trào Dân quyền đã đi tuần hành ở thành phố Memphis, bang Tennessee cùng với hàng nghìn người dân ủng hộ việc tiếp tục sự nghiệp còn dang dở của King. Ảnh: Cuộc tuần hành ngày 8 tháng 4 năm 1968 (History.com).

Trong đoàn người có sự góp mặt của dân biểu John Conyers từ bang Michigan. Dân biểu Conyers cho rằng họ cần phải làm một việc mang tính cách bền vững hơn để tưởng nhớ mục sư King. Và ngay trong tuần đó, ông Conyers đã đề xuất Dự luật vinh danh ngày sinh của Martin Luther King, Jr. là ngày lễ toàn quốc lên Hạ viện Hoa Kỳ. Tuy vậy, dự luật này đã nằm yên ở Hạ viện trong 3 năm với rất ít chuyển biến cho đến năm 1971. Ảnh: Dân biểu John Conyers và bà quả phụ Coretta Scott King.

Trong thời gian 3 năm từ 1968 đến 1971, bà Coretta Scott King đã thành lập Trung tâm Martin Luther King Vì sự thay đổi xã hội trong ôn hoà (Martin Luther King Center for Nonviolent Social Change) tại Atlanta, bang Georgia. Một trong những hoạt động của trung tâm này là vận động cho dự thảo luật về ngày lễ vinh danh mục sư King. Ảnh: Bà Corretta Scott King và phác thảo đồ công trình xây dựng trung tâm vào năm 1968 (kingcenter.org).

Năm 1971, 3 triệu chữ ký đã được thu thập trên cả nước và gửi đến Quốc Hội Hoa Kỳ ủng hộ việc vinh danh ngày sinh của mục sư King. Bà Coretta Scott King rất kiên trì vận động bằng cách gây áp lực lên các dân biểu, viết và diễn thuyết về việc này cũng như đã điều trần hai lần trước Quốc Hội Mỹ. Ảnh: Bà Coretta Scott King và Tổng thống Jimmy Carter, một trong những chính khách ủng hộ việc kỷ niệm ngày sinh mục sư King (CBS News).

Đến năm 1979, tuy có được sự ủng hộ của Tổng thống Jimmy Carter, dự thảo luật ngày sinh Martin Luther King, Jr. vẫn thiếu 5 phiếu mới có thể qua được cửa Hạ viện. Trong quá trình tiếp tục vận động cho dự luật, ngôi sao ca nhạc Stevie Wonder đã ủng hộ công khai bằng việc viết tặng cố mục sư King bài hát “Chúc mừng sinh nhật”. Trong đó, có một đoạn: “Tôi sẽ không bao giờ hiểu nổi, vì sao một người đã chết vì điều thiện như ông, lại chẳng thể có được cả một ngày để mọi người tưởng niệm ông”. Ảnh: Bà Coretta Scott King và ca nhạc sỹ Stevie Wonder trong một buổi kêu gọi ủng hộ vinh danh ngày sinh của mục sư King (earthtones.org).

Bài hát đã giúp gia tăng áp lực từ phía công chúng đến các dân biểu và thượng nghị sỹ Hoa Kỳ nhiều hơn. Vào năm 1983, một dự thảo luật mới được chấp bút bởi hai dân biểu, Jack Kemp của đảng Cộng hòa và Katie Hall của đảng Dân chủ, một lần nữa mang việc vinh danh ngày sinh của Martin Luther King, Jr. ra trước Quốc Hội.

Khi dự thảo luật được đưa ra Thượng viện, Thượng nghị sỹ Jesse Helms, một người từng chống lại Đạo luật Dân quyền năm 1964, đã hết sức tìm cách phản đối. Ông Helms đã mang toàn bộ hồ sơ mà FBI đã lưu trữ về mục sư King ra tranh luận ở Quốc hội nhằm tìm cách chứng minh King là một người cộng sản và không xứng được vinh danh. Tuy vậy, ông Helms đã thất bại và dự thảo luật đã được Thượng viện thông qua với số phiếu 78 ủng hộ và 22 phiếu chống.

Ảnh: Tháng 11 năm 1983, Tổng thống Ronald Reagan ký ban hành đạo luật liên bang vinh danh ngày sinh của Martin Luther King, Jr. hằng năm vào ngày thứ Hai của tuần thứ 3 trong tháng Giêng và gọi đó là Ngày Martin Luther King, Jr. Năm 1986 là lần đầu tiên ngày lễ này được kỷ niệm tại Mỹ (kingcenter.org).

Năm 2009, Ngày Martin Luther King, Jr. rơi đúng vào ngày lễ Tuyên thệ nhậm chức của Tổng thống da đen đầu tiên, Barack Obama, và đã được nhiều người xem là kết cục hoàn hảo cho Phong trào Dân quyền mà mục sư King đã ngã xuống vì nó. Ảnh: Telegraph.

Tài liệu tham khảo:

 

Tiền và sự cám dỗ

Báo Tiếng Dân

Tạ Duy Anh

15-1-2023

(Nhân vụ Việt Á và Giải cứu)

Một hôm, cánh lính cũ chúng tôi trong “Hội đạp xe”, đưa ra một tình huống thế này: Giả sử có người mang 100.000 USD (chỉ mới 100.000 USD, quy ra khoảng 2,4 tỷ đồng thôi nhé, so với 3 triệu USD hay 14,5 tỷ đồng thì nó chỉ là một món rất vừa phải) đến hối lộ, để cảm ơn về một việc gì đó (ví dụ giúp họ thắng thầu, ví dụ giúp họ giảm án tù, ví dụ giúp họ trốn thuế, ví dụ giúp họ mua rẻ bán đắt…) thì liệu ai trong số những người ngồi đây có thể từ chối?

Tất cả đều trả lời giống nhau: Khó từ chối vô cùng.

Bản năng sống của con người là hám lợi. Ở đâu có lợi là nó mò đến. Cái gì đem lại lợi ích là nó lao vào. Vì nó là con người, với đầy đủ những khiếm khuyết tự nó không hoàn thiện được (thế mới cần đến tôn giáo). Chính vì vậy, tham nhũng, nhận hối lộ, ăn cắp của công… xuất hiện từ thời thượng cổ, khi con người biết đến quyền lực và khi xã hội phân tầng về giai cấp.

Mặc dù cũng là ăn cắp, nhưng những hành động trên luôn được “bào chữa” rằng kẻ ăn cắp chẳng lấy không của ai (giúp và nhận công), chẳng lấy của ai cụ thể (của công cũng giống như của… trời!). Vì thế, tham nhũng, nhận hối lộ luôn có sức cám dỗ khủng khiếp, trong mọi xã hội.

Nếu nhìn thật sâu vào tâm can của chính mình, nói thật, bạn hay tôi cũng khó mà thoát khỏi cám dỗ đó.

Việc từ chối món tiền lớn, kể cả với những người giầu nứt đố đổ vách, có gì đó thậm chí còn “phản tự nhiên”. Vì thế đạo đức giả mới có đất để diễn và nó thường nhuốm mầu cay cú (Không nhận được thì nhè ra, tiện thể làm mầu, chứ từ sâu xa cũng tiếc đứt ruột).

Người ta chỉ từ chối món lợi lớn mang dâng tận miệng, trong các trường hợp sau:

1-Biết rõ là hành động đó không thể thoát sự trừng phạt của luật pháp, do xã hội có cơ chế giám sát tinh vi và sự trừng phạt lạnh lùng… (Báo chí tự do, tòa án độc lập…) Trong trường hợp này, con người từ chối phạm tội vì ý thức chấp pháp, lo sợ bị trả giá đắt gấp bội, chứ chả phải do họ có nhân cách, đạo đức lớn.

2-Ý thức về một cặp mắt vô hình NHÌN THẤY TẤT CẢ. Cái kết vẫn là nỗi sợ về sự trừng phạt nào đó. Sự trừng phạt tinh thần này thậm chí còn đáng sợ hơn sự trừng phạt vật chất. Chẳng hạn nó khiến lương tâm day dứt, sợ bị quả báo nhiều đời, sợ khi chết đi rồi vẫn bị phán xử, nguyền rủa, tức là sợ tiếng xấu truyền đời…

3-Ý thức về danh dự cá nhân vì thế mà bị ô uế.

Trong ba loại “barrier” ngăn cản người ta phạm tội đã kể, thì “barrier” đầu tiên có giá trị hiện thực nhất và cũng thực chất nhất về mặt hiệu quả. Bởi nó bao phủ số đông tuyệt đối. Cái số đông đó là trăm ngàn vạn triệu loại người, với ngần ấy cách sống, cách nghĩ, cách quan niệm khác nhau về đạo đức, phẩm giá, danh dự… Nhưng cho dù họ là ai, để đủ tư cách tối thiểu làm một công dân, thì tuyệt đại đa số họ đều đủ năng lực để làm theo luật pháp, với những quy định rành mạch, rõ ràng, không có ngoại lệ, hoàn toàn vô tình. Những gì luật pháp không cấm, họ có quyền làm, kể cả nó không phù hợp với quan niệm về danh dự, ứng xử được coi là hợp lẽ của nhiều người khác. (Vì thế mới cần đến văn hóa)

Tình huống thứ hai không hiếm nhưng chắc chắn không phổ biến và không thể là thước đo chuẩn mực để khép tội hay xá tội cho ai đó. Đơn giản là với một bộ phận đông đảo, nó chả có ý nghĩa gì (chẳng hạn với những người vô thần). Không ai có quyền tước bỏ niềm tin tôn giáo của người khác, nhưng cũng không ai có quyền ép người khác phải theo, phải tin một tôn giáo nào đó.

Tình huống thứ ba thì vô cùng hy hữu. Cho đến nay, trong hàng ngũ các nguyên thủ quốc gia, người ta mới chỉ khẳng định CHƯA THẤY tổng thống Mỹ nào tham nhũng, nhận hối lộ, ăn cắp của công?

Nhiều người lấy làm tiếc cho một vài quan chức, chỉ cần tiền quà biếu cũng ăn vài đời không hết, nhưng vẫn lập ra các sân sau để rút tiền ngân sách, vẫn chia chác tiền dự án, vẫn cài lợi ích vào việc đấu thầu…

Những người nghĩ như vậy là đang nghĩ như một nhà đạo đức, vốn của giả nhiều hơn của thật, chứ không phải đang nghĩ như một con người xã hội.

Bạn hãy đặt mình vào vị trí của một quan chức có rất nhiều cơ hội để tham nhũng, bạn sẽ thấy, ông/bà ta hành động chả có gì khác thường. Khuân của cải về nhà mình, chất đầy nhà, sau đó bình an sống ngoài mọi lo toan, thỉnh thoảng cúng dường, thỉnh thoảng ban quà cho đám trẻ con đói rách (chúng đói rách cũng một phần vì hành vi tham nhũng của họ)…trong khi đó vẫn có đủ các diễn đàn để lên mặt dạy đời (như ta vẫn thường thấy), nó tạo ra một thứ hạnh phúc chất ngất, thứ hạnh phúc của người thành công và may mắn, dù thực chất nó là cơn say sưa của ma quỷ. Nó còn tạo ra cảm giác họ đã sống trọn vẹn cho cuộc đời, cho gia đình, cho bạn bè. (Không ít quan chức tham nhũng kinh người bày tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ, thầy cô, những người già yếu, neo đơn, nghèo khó; gương mẫu làm từ thiện, mạnh miệng kêu gọi xã hội rủ tình thương với những số phận không may… giống như hành động của một Bồ tát cứu khổ cứu nạn!)

Tiền là tiên là phật, tiền đi liền với ruột, tiền là tất cả…Xin đừng coi thường những quan niệm này, bởi có thể nó xấu xí, nhưng nó luôn thật, luôn đúng với hầu hết chúng ta.

Đừng đạo đức hóa, lý tưởng hóa các nguyên tắc chống lại những gì thuộc về bản chất tự nhiên.

Kết lại: Hiểu rõ bản chất của con người, bản chất của hành động tham nhũng, để thấy sự kiểm soát hành vi xấu xí, bản tính tham lam, thói quen khuất tất của con người bằng các điều luật, mới là giải pháp lâu dài để có được một xã hội ÍT THAM NHŨNG, ÍT CÓ KHẢ NĂNG THAM NHŨNG.

Và rõ ràng là nó không có tí ti gì mới mẻ.

Nguyễn Xuân Phúc và cái chết trên chấm phạt đền

Báo Tiếng Dân

Lê Văn Đoành

16-1-2023

Ngày 14-1-2023, giấy mời dự “hội nghị” khẩn cấp đóng dấu MẬT được gởi đến tất cả các Uỷ viên Trung ương khoá XII, thời gian làm việc gói gọn trong buổi chiều ngày 17-1-2023.

Hội nghị Trung ương bất thường lần này chỉ nằm trong hai vấn đề:

  1. Trung ương xem xét theo hướng đồng ý cho ông Nguyễn Xuân Phúc thôi Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương khoá XIII, thôi chức Chủ tịch nước, thôi đại biểu quốc hội khoá 15.
  2. Kế đến, Trung ương giới thiệu nhân sự để quốc hội bầu tân Chủ tịch nước.

Như vậy, sinh mệnh chính trị của Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, chủ tịch Hội đồng Quốc phòng – An ninh, Thống lĩnh các lực lượng vũ trang Việt Nam của ông Nguyễn Xuân Phúc sắp được định đoạt bởi kỳ họp Trung ương bất thường ngày 17-1-2023 và kỳ họp quốc hội bất thường trong ngày 18-1-2023.

Ảnh: Vợ chồng ngài Chủ tịch nước sẽ vẫy tay chào… Hà Nội. Nguồn ảnh: TTXVN

Ông Nguyễn Xuân Phúc sinh năm 1954, cầm tinh con Ngựa, tuổi Giáp Ngọ. Năm 2006, từ chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, Nguyễn Xuân Phúc được hai Uỷ viên Bộ Chính trị khoá IX, đồng hương, là Phan Diễn và Trương Quang Được kéo ra Hà Nội “tráng men” chức Phó Tổng Thanh tra Chính phủ, vào Uỷ viên Trung ương khoá XI, leo lên ghế Phó Chủ nhiệm, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.

Năm 2011, dựa vào các thế lực trong đảng cùng tiền của đại gia Thân Đức Nam, Nguyễn Xuân Phúc tranh được suất Uỷ viên Bộ Chính trị, ngồi ghế Phó Thủ tướng.

Năm 2016, liên minh Nguyễn Phú Trọng – Trương Tấn Sang đánh bật Nguyễn Tấn Dũng ra khỏi vũ đài chính trị, về làm “người tử tế”. Nguyễn Xuân Phúc trở thành ứng viên duy nhất cho ghế Thủ tướng.

Năm 2021, tuổi già sức yếu sau đột quỵ, Nguyễn Phú Trọng bị sức ép trong đảng, phải nhường bớt chiếc ghế Chủ tịch nước kiêm nhiệm. Suất “nhân sự đặc biệt” tái cử khoá XIII để đảm nhận vai trò Chủ tịch nước được dành cho “nhân tố miền Trung” trong tứ trụ, xướng danh Nguyễn Xuân Phúc.

Mô hình cộng sản của Việt Nam luôn là bản sao của Trung Cộng, vì vậy, tranh giành quyền lực luôn tàn khốc và đẫm máu.

Ảnh: Phía sau nụ cười của các “đồng chí”, là những mưu mô toan tính. Nguồn: Quốc hội VN

Cuối năm 2014 đầu năm 2015, chuẩn bị cho đại hội đảng lần thứ XII, trang Chân Dung Quyền Lực, được sự hậu thuẫn của nhóm tướng lĩnh trong Tổng cục Tình báo, Bộ Công an, lập ra nhằm tấn công các ứng viên hăm he những vị trí chủ chốt như: Phùng Quang Thanh tranh ghế Chủ tịch nước, Nguyễn Hòa Bình tranh suất Uỷ viên Bộ Chính trị, Nguyễn Xuân Phúc tranh ghế Thủ tướng…

Trước thềm đại hội XII, cả ba ông nêu trên bị Chân Dung Quyền Lực phơi bày những gì xấu nhất về đời tư, đạo đức lối sống, tham nhũng, các mối quan hệ mờ ám và cả tham vọng chính trị… cho bàn dân thiên hạ biết. Chân Dung Quyền Lực qua hàng trăm trang tư liệu điều tra, tài liệu nội bộ tố cáo, nhằm đánh bật các đối thủ chính trị ra khỏi sân chơi. Kết quả chỉ có Phùng Quang Thanh bị “phơi lưng lấm bụng”, Nguyễn Xuân Phúc và Trương Hoà Bình không hề hấn gì, lại càng leo cao.

Sau đại hội XII, tái trúng cử Uỷ viên Bộ Chính trị, nhận chức Thủ tướng Chính phủ, Nguyễn Xuân Phúc bắt đầu phản công.

Những sự kiện sau đây, liên quan nhiều đến bộ ba Nguyễn Phú Trọng – Nguyễn Xuân Phúc – Tô Lâm:

– Năm 2016, sau đại hội XII, yên vị trên ghế Tổng Bí thư nhiệm kỳ hai, chiến dịch “đốt lò” thanh trừng nội bộ của Nguyễn Phú Trọng mới thật sự diễn ra khốc liệt.

– Ngày ngày 8-9-2016, Ban Bí thư Trung ương Đảng có quyết định kỷ luật, khai trừ Trịnh Xuân Thanh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hậu Giang, ra khỏi Đảng, trên cơ sở đề nghị của Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Đây là phát súng đầu tiên của Nguyễn Phú Trọng tuyên chiến với sân sau, phe cánh của Nguyễn Tấn Dũng. Một tuần sau, Bộ Công an bắt giam Vũ Đức Thuận, thư ký của bí thư Đinh La Thăng, ngay sau đó là phát lệnh truy nã quốc tế Trịnh Xuân Thanh.

– Ngày 7-5-2017, Đinh La Thăng, Uỷ viên Bộ Chính trị, bí thư thành Hồ bị kỷ luật, mở đường cho việc bị khởi tố bắt giam sau này.

Ông Thăng phải trả giá cho việc ủ mưu, tạo phe cánh trong đảng, thói ngạo mạn, ngỗ ngược với Nguyễn Phú Trọng.

– Ngày 28-7-2017, Thường trực Ban Bí thư Đinh Thế Huynh bị truất phế, quản thúc không thời hạn, vì tội muốn đoạt quyền, tiếm ngôi.

– Ngày 6-10-2017, bí thư Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh, con trai cựu Uỷ viên Bộ Chính trị Nguyễn Văn Chi, bị cách tất cả chức vụ, đuổi ra khỏi Trung ương. Không lâu sau đó hàng loạt quan chức cán bộ lãnh đạo Đà Nẵng bị khởi tố, bắt giam, con trai Nguyễn Bá Thanh là Nguyễn Bá Cảnh cũng bị đuổi về làm thứ dân. Người ta cho rằng có bàn tay ông Nguyễn Xuân Phúc trong cuộc “nhổ cỏ” này.

– Ngày 20-12-2017, Bộ Công an khởi tố, truy nã Thượng tá tình báo Phan Văn Anh Vũ, tức Vũ “nhôm”, đệ tử ruột và là sân sau của Trần Đại Quang.

Cơ quan điều tra Bộ Quốc phòng cũng bắt giam “Thượng tá” quân đội Đinh Ngọc Hệ, tức Út “trọc”’, cháu rể của Trần Đại Quang và là đàn em của Đinh La Thăng.

Nguyễn Phú Trọng và Tô Lâm muốn “nhốt quyền lực” của Trần Đại Quang, ngăn chặn ông Quang lộng hành trong đảng, thao túng nhân sự, tham vọng quyền lực, muốn giành ghế Tổng bí thư.

Từ trải: Trần Đại Quang, Đinh Thế Huynh và Đinh La Thăng đều thân bại danh liệt dưới tay Nguyễn Phú Trọng. Nguồn ảnh trên mạng. BTV Tiếng Dân edit

Điểm qua một số mốc thời gian ghi dấu sự kiện để thấy “lò và củi” liên quan đến thanh trừng nội bộ ra sao.

Như đã nêu, quan hệ “bằng mặt không bằng lòng” giữa Nguyễn Xuân Phúc và phe nhóm an ninh tình báo trong Bộ Công an có từ thời Chân Dung Quyền lực.

Vụ án Vũ “nhôm”, Út “trọc”, cái chết của Trần Đại Quang và hàng loạt tướng tá Bộ Công an bị ném vào “lò”, dưới thời Nguyễn Xuân Phúc làm thủ tướng, đã khiến ông Phúc “gây thù chuốc oán” không kể xiết với phe nhóm xuất thân từ công an trong đảng.

Khi nắm ghế Thủ tướng, Nguyễn Xuân Phúc đương nhiên tham gia Thường vụ đảng uỷ Công an Trung ương. Tuy vậy, như các vị khác trong “tứ trụ”, để đủ tai mắt, ông Phúc cài cắm người của ông ta vào Bộ Công an (BCA) lẫn Bộ Quốc phòng (BQP).

Lê Chiêm, sinh 1958, đồng hương Quế Sơn, Quảng Nam, Trung tướng, Phó Tổng Tham mưu trưởng BQP, được kéo lên làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương.

Nguyễn Văn Sơn, sinh 1961, quê Đà Nẵng được đưa lên hàm Trung tướng, Thường vụ đảng uỷ Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an.

Lê Chiêm nghỉ hưu tháng 12-2021, hàm thượng tướng. Mặc dù ông Phúc can thiệp để kéo dài công tác, nhưng Nguyễn Văn Sơn vẫn bị buộc nghỉ hưu ngày 1-3-2022. Mất hai tướng lĩnh hộ vệ thân cận, cùng vụ Việt Á bị phanh phui, gia đình ông Nguyễn Xuân Phúc bắt đầu bị tấn công tứ phía.

Hai hộ vệ của Nguyễn Xuân Phúc: Lê Chiêm (trái) và Nguyễn Văn Sơn.

Năm 2019, ông Phúc “bật đèn xanh” cho tướng Trần Văn Vệ, Phó thủ trưởng Thường trực Cơ quan Cảnh sát Điều tra Bộ Công an, Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát BCA sờ gáy đại tá Nguyễn Duy Linh, Phó Tổng cục trưởng TC Tình báo và Hồ Hữu Hoà, tức “cậu” Hoà, về tội “nhận hối lộ” và “môi giới hối lộ”.

Linh là con trai duy nhất của tướng Nguyễn Văn Hưởng, một “bố già” khét tiếng. Hồ Hữu Hoà là cháu ruột của Hồ Mẫu Ngoạt, Trợ lý TBT Nguyễn Phú Trọng. Hoà là thầy phong thuỷ thân quen của nhiều Uỷ viên Bộ Chính trị và các tướng công an.

Nhận hối lộ từ Vũ “nhôm” 5 tỷ đồng, Linh bị tuyên án 14 năm tù. Nói ở tù, thực tế Linh chỉ đi nằm viện dưỡng bệnh, nhưng mất Uỷ viên Trung ương, thứ trưởng Bộ Công an mà Tô Lâm quy hoạch cho Linh vào khoá 14.

Nhục và cay cú, Nguyễn Văn Hưởng thề sẽ bắt Nguyễn Xuân Phúc có ngày phải trả giá.

Quay lại đại án Việt Á, Bộ Công an biết Phan Quốc Việt và công ty Việt Á lừa đảo từ lâu. Chỉ ba tháng cuối năm 2021, Việt Á đã ồ ạt nhập 3 triệu test kit từ Trung Quốc với giá 21.500 đồng/ test kit, đóng nhãn “made in” Học viện Quân Y, để bán với giá 500.000/ test kit, buộc cơ quan điều tra phải phá án.

Bộ Công an cũng nắm rõ người thân trong gia đình ông Nguyễn Xuân Phúc có tham gia phi vụ “hút máu nhân dân” này từ giữa năm 2020, nhưng thời cơ hạ “knock out” chưa cho phép…

Ảnh: Vợ chồng Nguyễn Xuân Phúc trong ngày cưới con gái Nguyễn Thị Xuân Trang – Vũ Chí Hùng. Nguồn: CDQL

***

Nguyễn Xuân Phúc đang “chết trên chấm phạt đền”. Ân oán giang hồ do chính ông Phúc gây ra, cũng như lòng tham vô tận của vợ ông và những người thân của hai vợ chồng, đã kết thúc sự nghiệp chính trị của ông.

Xưa, kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan, khi bố sắp chết nhưng phải lên sân khấu cười vui diễn hài, về đến nhà bố anh đã qua đời. Trần Đại Quang mắc nan y, vẫn tròn vai chủ tịch nước đến lúc hộc máu ngay trên bàn làm việc và tử vong. Nguyễn Xuân Phúc cũng vậy, trước ngày bị phế truất, tước bỏ quyền lực, về quê làm người “tử tế”, đảng vẫn bắt ông phải diễn hài. Ông Phúc vào thành Hồ chúc tết các cựu nguyên thủ, ra Hà Nội thả cá chép tiễn Táo quân, đọc diễn văn Xuân yêu thương…

Phải công nhận các đảng viên cộng sản giỏi hơn các danh hài, họ luôn “yêu thương, đoàn kết” với các đồng chí của mình, nhưng mỗi cá nhân đều luôn thủ một con dao, để sẵn sàng kết liễu nhau.

CALI CHỐNG HẠN BẰNG NƯỚC LỤT

Nguồn Politico

SACRAMENTO, Calif. – Sau ba năm khô hạn nhất trong lịch sử hiện đại của tiểu bang, California đột nhiên gặp phải một vấn đề khác: quá nhiều nước.

Một loạt các cơn bão đang diễn ra khiến Tiểu Bang này ngập nước đã buộc các quan chức phải thực hiện các biện pháp không thể ngờ được chỉ một tháng trước đây, như xả lượng nước dư thừa từ các hồ chứa và bơm nước sông đang dâng cao vào kho bể chứa nước (reservoir).

Chuyển nước lụt từ Bắc Cali về Nam Cali

Điều này cũng làm mới mối quan tâm về cách thu được lượng mưa tốt hơn trong thời gian khô hạn — một ý tưởng đã phổ biến từ lâu ở các khu vực nông nghiệp, đặc biệt là trong các đảng viên Cộng hòa, và hiện đang ngày càng được Thống đốc Gavin Newsom và các đảng viên Đảng Dân chủ khác chấp nhận.

Đối với nhiều người, các cơn bão cho thấy sự cần thiết phải thay đổi hệ thống một cách rộng lớn để thu mưa và tuyết ở khu vực phía bắc ẩm ướt hơn của bang và chuyển nó đến các trang trại ở Thung lũng Trung tâm và các thành phố ở Nam California. Phần lớn dòng chảy gần đây đã tuồn hết nước ra biển, trong khi các nhà dự báo thời tiết cảnh báo rằng hạn hán vẫn chưa kết thúc. Họ sẽ phải trả giá mắc vì thiếu những con đập lớn, và sự phân cực sâu xa xung quanh nguồn tài nguyên quý giá nhất của vùng đất phía Tây. Nhà lập pháp Đảng Cộng hòa đang đề xuất một đạo luật yêu cầu địa phương làm nhiều kho bể lưu trữ nước hơn, một mục tiêu được Thống đốc Newsom tán thành.

Hiện tượng thời tiết khắc nghiệt không phải là mới đối với California, nhưng biến đổi khí hậu dự kiến sẽ làm tăng thêm những điều kiện khắc nghiệt này.

Bang đã có kế hoạch khởi công xây dựng một hồ chứa mới gần Sacramento vào năm tới và tăng cường bơm nước ở vùng Sacramento-San Joaquin thông qua dự án “Tam Giác Chuyển Đổi”,  Delta Conveyance.

Khó khăn là khi bơm nước, cá hồi bị ảnh hưởng và có thể tuyệt chủng

Newsom cũng kêu gọi đẩy nhanh việc cấp phép cho các dự án trữ nước và giảm lũ lụt mới, một biện pháp mà Dân biểu Mathis hiện đang đệ trình trong Quốc hội. Một đảng viên Đảng Dân chủ đang dẫn đầu một biện pháp tương tự tại Thượng viện. Các đề xuất có nguy cơ xung đột hơn nữa về những nỗ lực bảo vệ môi trường sống cho cá hồi và các loài khác. Các nhà lập pháp bang dân chủ từ các vùng nông nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi hạn hán cũng chớp lấy cơ hội vào tuần trước để thúc giục các quan chức chuyển hướng và tích trữ thêm nước chảy qua khu vực Đồng bằng ra biển trước khi các cơn bão kết thúc. Tuy nhiên, luật bảo vệ cho loài cá có nguy cơ tuyệt chủng đã hạn chế việc bơm nước vào kho bể chứa.

Giám đốc Bộ Tài nguyên Nước, Karla Nemeth, thừa nhận rằng các máy bơm, cống dẫn nước và hồ chứa mà California dựa vào đã “lỗi thời và dễ bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu” và hạn chế lượng nước có thể lưu trữ trong các cơn bão mùa đông.

Giới hạn của các dự án quy mô lớn đã khiến các quan chức phải tìm kiếm các cách thay thế để tăng cường cung cấp nước, chẳng hạn như tài trợ nhiều hơn cho việc khôi phục vùng ngập lũ và cho phép một số nhà quản lý nước nhất định chuyển hướng các dòng sông và mưa vào các lưu vực ngầm dễ dàng hơn. Quận Los Angeles đang làm việc để xây dựng hàng trăm giếng nhỏ và bể chứa để lấy càng nhiều nước sông càng tốt.

Ban Quản Lý của hai hồ chứa đã bắt đầu sử dụng dự báo thời gian thực để nắm trước dữ kiện và tận dụng tốt hơn nước từ các cơn bão mùa đông ở California. Một đảng viên Đảng Dân chủ muốn mở rộng công nghệ đó trong năm nay với một đề xuất tại Quốc hội.

Jeffrey Mount, thành viên cấp cao tại Viện Chính sách công California, một tổ chức nghiên cứu, cho biết sẽ mất nhiều năm mưa và bảo tồn cẩn thận để bổ sung nguồn nước ngầm cạn kiệt sau đợt hạn hán kéo dài. Ông nói: “Chúng ta đang bắt đầu một kỷ nguyên ở California, nơi chúng ta nhận ra rằng chúng ta thực sự phải làm tốt hơn việc tận dụng những thời kỳ ẩm ướt này. “Nhưng nó hoàn toàn vô tổ chức vào thời điểm này.”

Gavin Newsom, phải, nói chuyện với Jamie Goldstein bên trong nhà hàng Paradise Beach Grille bị bão tàn phá.

| Nic Coury/Ảnh AP

Thống đốc đề xuất tài trợ liên bang từ Đạo luật Giảm lạm phát và Luật Cơ sở hạ tầng Lưỡng đảng có thể giúp tài trợ cho các dự án cấp nước và giảm thiểu rủi ro lũ lụt. Ông cũng kêu gọi phat hành  một đợt trái phiếu “khí hậu” để tài trợ cho các dự án nước và cháy rừng.  Đợt phát hành “Trái phiếu năm 2014” được cử tri thông qua nhằm giúp tài trợ cho các hồ chứa mới và các dự án nước khác, mặc dù sự phản đối từ các nhóm bảo tồn thiên nhiên ở địa phương, họ đã khiến cho việc xây dựng bị trì hoãn.

Thống đốc Newsom nói. “Ngay bây giờ, điều quan tâm hàng đầu là đầu tư cho lũ lụt.”

Lời Bàn:

Các Cán Bộ “Đỉnh Cao trí tuệ loài người ” thì chống lụt bằng lu nhờ vào nền văn hóa cái lu.

Các nước khác thì chống lụt bằng đập nước khổng lồ và bồn chứa khủng.

Tội nghiệp cho Dân Tôi.

From: Phan Sinh Trần

Một Kiếp Người – Khánh Giao BS Phùng Văn Hạnh

Khánh Giao

BS Phùng Văn Hạnh

Cách mạng Mùa Thu 1945, tiếp theo là Toàn quốc kháng chiến 1946, là những thời điểm mà thế hệ lưu vong trên 70 tuổi nhớ đến với nhiều nỗi đau thương, ngậm ngùi. Riêng tôi kỷ niệm tản cư những năm kháng chiến chống Pháp thật khó quên. Gia đình tôi bỏ làng ở tỉnh Quảng Nam, chạy vào tận Bình Định. Lúc đầu sống ở Bồng Sơn sau dời lên Hội Yên, và sống ở đó cho đến ngày hồi cư về làng cũ. Một kỷ niệm khó quên là sông Lại Giang. Sông xuất phát từ thung lũng An Lão, chảy ra cửa biển Bàu Tượng, xuyên qua các cánh đồng phì nhiêu quận Hoài Ân, Hoài Nhơn. Về mùa đông, con sông thu hẹp, cạn dòng, trừ khi lũ lụt. Trái lại mùa nắng, mức nước sông lên cao, chảy chậm lại vì cứ độ một cây số thì có hệ thống dẫn thủy nhập điền gọi là “bờ xe gió” hay “dàn xe gió”(noria): Vào đầu Xuân, các làng ven sông bắt đầu đóng cừ ngang sông, ghép vỉ tre vào cừ, làm thành đập chắn, dồn nước vào một lạch chảy xiết sát bờ. Một giàn chừng 5 đến 10 bánh xe đặt ngang qua lạch. Giàn là một kiến trúc giống như sườn một căn lầu hai từng gồm những cột gỗ đóng sâu vào lòng lạch, và những xà ngang dọc, nối kết vào cột, bằng dây mây. Giàn có nhiều ngăn, và trong mỗi ngăn là một bánh xe. Xà ngang nâng bánh xe có khấc lót sắt cho trục tựa vào. Mỗi bánh xe, có trục gỗ bịt sắt hai đầu, từ đó các nan gỗ dài 3m tỏa ra nâng vành có bề ngang 1m. Tất cả đều ghép lại bằng những sợi mây, do những thợ chuyên nghiệp làm. Những tấm vỉ tre cản nước 1m X 1m, được cột, cách khoảng đều đặn, vào đầu mút nan, sát vành. Nước đẩy những tấm vỉ làm bánh xe quay trên trục. Các ống tre lồ ô, có đáy là mắt tre, và có miệng hướng lên cao khi vành xe được nâng lên khỏi mặt nước sông, cột nghiêng 45 độ trên vành, múc nước. Lên đến đỉnh, ống tre nằm ngang, trút nước vào các máng xối dẫn nước vào ruộng. Giữa các bờ xe gió, là những hồ nước xanh biếc, phẳng lặng. Bờ cừ cũng chừa một lối hẹp ở giữa dòng sông cho đò dọc đi lại. Hội Yên là một làng nông nghiệp ven sông Lại Giang, có xưởng dệt vải Ba-ta (của dân tản cư từ Phú bông, Quảng Nam vào), có xưởng giấy sản xuất loại giấy màu vàng sẫm (vì thiếu hóa chất tẩy bột giấy), có Ủy Ban Kháng Chiến Miền Nam (UBKCMN) trấn đóng, nên cuộc sống ở đây có phần náo nhiệt. Với tôi, Lại Giang thay thế Thu Bồn nơi quê cũ, cũng đầy ắp kỷ niệm thiếu thời: tắm sông, chèo thuyền…

Kháng chiến chống Pháp bước vào năm thứ sáu. Liên khu 5 từ Đèo Hải Vân vào đến Bình Thuận, gồm cả Cao Nguyên Trung Phần là một quân khu lớn. Từ Đèo Cả vào Nam, toàn bộ Cao Nguyên, và hơn nửa tỉnh Quảng Nam mạn Bắc, là vùng xôi đậu hoặc hoàn toàn nằm dưới sự kiểm soát của Pháp, và chính quyền Quốc gia thời Bảo Đại, nhất là các thị xã, quận lỵ, và thành phố. Vùng hoàn toàn do UBKC Liên khu 5 kiểm soát gồm nửa tỉnh Quảng Nam mạn Nam, tỉnh Quảng Ngãi và Phú Yên. Năm 1952 Liên quân Pháp và Bảo an Đoàn, trong chiến dịch Atlante, đổ bộ lên Qui-Nhơn, và Tuy hòa, (thành phố bỏ ngỏ do tiêu thổ kháng chiến), rồi lan tỏa ra các vùng phụ cận, thu hẹp phạm vi kiểm soát của UBKC. Vợ chồng Bác sĩ Hoa, làm việc ở Bệnh viện Song Thanh, gần Qui-Nhơn, phải di tản ra làng Hội Yên. Họ tá túc trong nhà ông Chánh Bích, một địa chủ giàu có trong làng. Trang trại ông Bích là một khu vườn rộng lớn gần một mẫu tây, có hàng rào xương rồng dày, kín, vây bọc bốn phía. Cổng vào là một ngôi nhà nhỏ, lợp ngói, khép lại bằng hai cánh cửa lim. Tiếp theo cổng là lối đi vào nhà, giữa hai hàng dâm bụt cắt xén đẹp mắt, và những chậu hoa lớn, trồng đủ thứ hoa nhiều màu, thơm ngát. Bóng mát những cây ăn quả làm lối đi mát rượi. Rời lối đi rợp mát, khách bước vào sân gạch rộng lớn, chan hòa ánh sáng, mà vào mùa gặt dùng để phơi lúa. Một dãy nhà dài, lợp ngói đỏ, có hàng hiên rộng, làm thành chữ U, bọc hai bên và chính diện sân. Vườn sau dãy nhà là thế giới êm mát, rợp bóng cây ăn quả. Gia đình tôi đã thuê một góc vườn, dựng một mái nhà tranh để ở. Chính vì thế mà tôi có dịp gần gũi hai ông bà Bác sĩ Hoa.

BS Hoa đã tốt nghiệp Y khoa, đại Học Paris năm 1942. Vợ ông, bà Khương Băng Tuyết, tốt nghiệp viện Quốc gia Âm Nhạc Paris khoa Dương cầm cùng năm ấy. Ông, quê Đà Nẵng, con một phú thương. Cha ông có tàu buôn lớn, chở hàng đi về các cảng Sài gòn, Hải Phòng,Vinh, và là chủ nhân những dãy phố cho thuê, dày đặc ở Đà Nẵng. Bà quê Sài gòn cũng con một đại phú gia. Hai người đã quen biết nhau ở Paris, trong một buổi họp mặt sinh viên du học, và một tình yêu lớn đã nảy nở, trong khung cảnh lãng mạn của kinh đô hoa lệ nhất Châu Âu. Sau ba năm say đắm, tràn đầy hạnh phúc, cộng với nỗi mừng vui đỗ đạt, công thành, danh toại, họ hối hả về Việt Nam để thành hôn cuối năm 1942. Lễ cưới được cử hành ở Sài gòn thật linh đình. Rước dâu về Đà Nẵng phải thuê bao cả hai toa tàu hạng nhất. Lễ ra mắt cô dâu ở họ nhà trai cũng linh đình không kém. Đám cưới xong, đôi tân hôn đi hưởng tuần trăng mật ở Ý, rồi ghé Paris để sống lại kỷ niệm thân thương. Ba tháng sau họ trở về Đà Nẵng. Nhưng không phải là để mở phòng mạch hành nghề. Cả hai ông bà đều là con một, và cùng kế thừa một sản nghiệp đồ sộ của đôi bên phụ mẫu đã qua đời vài năm sau. Các nghiệp vụ doanh thương đã có những gia nhân thân tín đứng cai quản, và hàng tuần báo cáo thu nhập. Vì thế BS Hoa thấy không phải hành nghề chi cho mệt, mà cùng vợ hưởng thụ cuộc sống thư nhàn, đi du lịch khắp nước, từ Bắc, chí Nam. Họ giao du rộng rãi và như Mạnh thường Quân, trong nhà lúc nào cũng đầy thực khách, và cả ba, bốn bàn mạt chược. Nhưng biến cố năm 1945 dồn dập đến: Cách mạng Mùa Thu rồi Toàn quốc kháng chiến. Pháp trở lại tái chiếm Đà Nẵng. Ông Cử Diện, cha BS Hoa, xưa kia đã từ quan thời Pháp để xoay qua kinh doanh. Ông đã giúp đỡ rộng rãi phong trào yêu nước Đông du, cấp học bổng cho học sinh giỏi và có chí hướng du học Pháp. Vì thế BS Hoa, cũng chẳng ưa gì chế độ thực dân, đã chọn lựa đi tản cư, khi thành phố lọt vào tay Pháp. Hai ông bà đã gói ghém vàng bạc, nữ trang đi vào tận Quảng Ngãi rồi Bình Định. Bà không quên mang theo đàn dương cầm, mà sự chuyên chở kềnh càng tốn tiền không ít. Ngày mà bà chở dương cầm về Hội Yên, ít nhất phải sáu người lực lưỡng mới đem được đàn xuyên qua cổng nhà ông Chánh Bích.

Ở lứa tuổi 16, lối sống của ông bà BS Hoa thu hút trí tò mò của tôi. Ông lúc ấy độ 30 tuổi, nét mặt nghiêm nghị, thanh tú, trí thức. Bà khoảng 25, với vẻ đẹp quý phái, cân đối, khỏe mạnh, đúng như lời thơ ông tặng bà lúc mới quen nhau:

…Xinh xinh sao thân nở đặn đầy

Xinh xinh sao đôi má hồng hồng

Xinh xinh sao nụ cười êm ái

Xinh xinh sao dáng đi quý phái

Xinh xinh sao vầng trán phẳng phiu

Xinh xinh sao mái tóc mỹ miều

Mái tóc xõa của tuổi xanh ngăn ngắt

Và đôi mắt, ồ đôi mắt

Là một trời tình tứ, ngây thơ..

Ngước nhìn, anh những thẫn thờ,

Nàng tiên tiền kiếp, trong mơ đây rồi…

Trong khi mọi người ăn mặc xuềnh xoàng với vải ta sần sùi, ông bà với áo quần vải vóc ngoại mượt mà, trắng tinh hoặc màu sắc óng ả. Ban ngày khi ông đi làm ở bệnh viện Liên khu cách Hội Yên một cánh đồng, bà ở nhà, làm bếp, trồng hoa, và nhất là đàn dương cầm cả giờ. Bà không đi chợ mua đồ ăn, mà gửi tiền, nhờ người khác mua. Để tránh con mắt tò mò, ông bà ít ra ngoài. Thảng hoặc có đi dạo trong làng thì lựa ban đêm, trên những hẻm mờ tối. Thấy tôi nghe lén bà đàn, bà nẩy ý dạy tôi đánh đàn. Nhờ cách dạy tận tâm và có phương pháp, tôi tiến bộ nhanh. Tôi bước vào thế giới huyền diệu của âm thanh qua các bài menuet đơn giản nhưng réo rắt, những bài Songe d’été, Princesse Czardas, La prière d’une vierge, La chapelle au clair de lune, Lettre à Élise, v.v… dịu dàng thơ mộng. Những bài bà đàn thì rất khó và dài dặc của những nhạc sĩ cổ điển nổi danh, như Beethoven, Bach, Mozart, Chopin, Mendelssohn, Brahms, cùng rất nhiều nhà soạn nhạc khác mà tôi không nhớ hết. Tôi nghe tâm tình bà qua bài “sonate au clair de lune” của Beethoven, lúc xao xuyến, lúc hối tiếc, giận dỗi và sự thanh thản cuối cùng. Bà kể tôi nghe Beethoven lúc nhỏ đã bị cha xiềng chân vào đàn, để tập đánh đàn cả ngày cho giỏi. Bà cũng kể uy lực của âm nhạc qua chuyện nhạc sĩ nầy có cô học trò cũ đến thăm, thổ lộ ông nghe nỗi buồn vô vọng vì đứa con mới chết. Ông không nói gì, ngồi trước dương cầm, dạo những khúc nhạc êm ái đến nỗi một giờ sau, người học trò thấy lòng thanh thản trở lại, vơi đi nỗi buồn mất con… Bà cũng kể khi mới về làm dâu, cha mẹ chồng nghe bà tốt nghiệp dương cầm, bèn bảo bà đánh đàn cho nghe. Ngồi trước phím đàn, bà e lệ hỏi:

-Thưa ba mẹ muốn con đàn bài gì?

Bà mẹ chồng âu yếm bảo:

-Con đàn sáu câu vọng cổ cho ba mẹ nghe.

Bà đã khóc thầm, trong bụng thấy tủi, vì công phu mình học thật quá thừa để đàn 6 câu vọng cổ đơn giản. Phải chi nói mình đàn sonate của Beethoven hay mazurkas của Chopin cho thỏa chí.

Qua những chuyện bà kể, qua đối thoại tâm tình của hai ông bà, tôi biết mối tình họ được xây đắp trong sự hài hòa, quên mình, lắng nghe nguyện vọng của nhau để đem lại niềm vui cho người mình yêu. Tôi biết được Paris có sông Seine chảy về hướng Tây (nước ta phần lớn sông đều chảy về Đông) và chia Paris thành hai phần Nam (tả ngạn), Bắc (hữu ngạn). Trung tâm thành phố là nhà thờ Notre Dame nằm trên cù lao giữa dòng sông Seine. Từ trung tâm ấy, Montmartre với đền thờ Sacré Coeur ở hướng Bắc. Hướng Nam là Montparnasse. Quảng trường Bastille ỏ hướng Đông. Tháp Eiffel cao vọi ở hướng Tây. Vì những cuộc hẹn hò trên các nẻo đường Paris, mà họ thuộc thành phố rộng lớn nầy như trong lòng bàn tay, chỗ nào có cà-phê ngon, chỗ nào có tiệm ăn Việt Nam, tiệm Mandarin bán tới con vịt số mấy. Họ tìm kỷ niệm nhiệt đới ở đường Cherche Midi. Họ đi trên “bâteau mouche” để nhớ lại kỷ niệm chuyến đi trước. Họ lang thang trên những nẻo đường ngoại ô, tay cầm tay, nói không bao giờ hết chuyện như: -“trời hôm nay đẹp”õ, -“ừ, trời hôm nay đẹp thật” –“anh có nhớ mình quen nhau lúc nào?”, -“Em có biết tối qua, nhớ em không ngủ được” v.v…

Ông Chánh Bích có một thuyền gỗ dài độ 10m. Giữa thuyền là một căn nhà nhỏ 3m X 4m có mái lợp cót che mưa nắng, có cửa sổ treo rèm hai bên, có cửa ra vào, đằng lái và đằng mũi. Trong nhà nhỏ có một bộ bàn ghế tiếp khách. Thời trước ông hay đi lại trên Lại giang, hoặc tiếp đãi bạn bè trên thuyền nầy. Nhưng từ ngày Cách mạng Mùa Thu, ông biết chính quyền không ưa gì lối sống tư sản, nên ông không dùng thuyền nữa, mà chỉ cho mượn đãi khách. Ông bà BS Hoa đã mượn thuyền để thưởng thức vẻ đẹp đêm trăng trên Lại giang, nhân kỷ niệm 10 năm thành hôn. Vì biết chèo thuyền nên tôi được tháp tùng hai ông bà. Hôm ấy cũng có BS Đồi, đi xe đạp trên 100km, từ Quảng ngãi vào thăm. Chúng tôi 4 người, đợi hoàng hôn xuống, mới rời nhà ra bến xưởng giấy, mang theo đèn cầy, trà, bếp cồn cùng đồ ăn. Trăng rằm đã lên ở chân trời, tròn, sáng. Hàng dừa hai bên bờ sông, lá đung đưa theo gió, lấp lánh ánh trăng. Mặt nước phẳng lặng in trăng xuống đáy, lan tỏa những vòng vàng rực.

Chúng tôi xuống thuyền. Tôi mở dây buộc thuyền và ra sau lái khua chèo, nhẹ nhàng đẩy thuyền ra giữa sông. Đến nơi tôi thả neo, giữ thuyền đứng yên một chỗ. Tôi giúp khiêng bàn ra đằng mũi, chúng tôi ngồi vào bàn, im lặng ngắm vẻ đẹp chung quanh: Bầu trời có ít vẩn mây, sâu thẳm. Trăng lên cao một ngọn sào trên chóp hàng dừa, tỏa ánh sáng bàng bạc trên sông. Dàn xe gió lấp lánh dưới trăng, nước đổ ra trên máng xối như những dòng bạc sáng lung linh. Tiếng nước đổ rào rào, tiếng trục xe gió mài trên đà nâng, rên rỉ kéo dài nghe thật buồn. Tình tự xa quê nhà vì tản cư, nỗi khổ chiến tranh, làm chùng lòng mọi người. Bà BS Hoa lên tiếng trước phá tan im lặng: “Tôi vào trong pha trà, nấu chè và sửa soạn thức ăn.” Tôi vào giúp bà và để hai bác sĩ ngồi tâm sự với nhau. BS Đồi có mang theo một hộp phó mát Canembert và hai ổ bánh mì dài. Ông có người bà con, là gián điệp nhị trùng, đã lén mang những thức ấy từ Đà Nẵng vào cho ông. Vì muốn chia với bạn thân, ông phải giấu của “quốc cấm” ấy vào xách tay, và lặn lội đường xa. Tối hôm ấy, sau khi chúc vợ chồng BS Hoa tràn đầy hạnh phúc, chúng tôi bắt đầu ăn bánh mì với phó mát, mà gần 7 năm không được ăn, một món ăn không có gì đặc biệt ở Paris hoặc Đà Nẵng, song trong hoàn cảnh tản cư hiện tại, quả là ngon tuyệt, mặc dù bánh mì đã lâu ngày, không còn giòn và ngọt. Hai ông bác sĩ còn uống thêm rượu đế, để giải sầu. Sau đó tráng miệng với chè đậu xanh đánh, mùi vị rất ngon, mà bà BS Hoa đã nấu từ chiều với một “recette” đặc biệt. Cuối cùng là uống trà Bắc Thái, mà một cán bộ miền Bắc vào, tạ ơn BS Hoa đã chữa trị cho anh ta bệnh sốt rét. Trà ngon thơm, và làm mọi người tỉnh ngủ. Hai bác sĩ, ngồi giữa sông, không sợ tai vách, mạch rừng, đã phê bình những mưu toan UBKCMN che đậy dã tâm xích hóa cuộc kháng chiến, dành công đầu cho đảng Lao động, một đảng Cộng sản trá hình. Sự bất mãn của họ giải nghĩa vì sao họ trốn về thành, chừng sáu tháng sau cuộc gặp gỡ trên. Trăng đã xế về Tây lạnh lùng, xa vắng. Chúng tôi đi nghỉ. Hai vợ chồng BS Hoa trải chiếu nằm trong phòng nhỏ. Tôi và BS Đồi nằm dưới trăng ở mũi thuyền. Vì uống trà, tôi trằn trọc, khó ngủ, và nghe vợ chồng BS Hoa to nhỏ, âu yếm. Đến gần sáng thì tôi chợp mắt ngủ.

Cũng nhờ có tiền, ông bà BS Hoa đã móc nối với ngư dân ở Tam Quan. Một ngày cuối tuần họ giả đi tắm biển. Trong đêm tối họ xuống thuyền buồm, ra khơi. Chuyến đi trót lọt, và hai ngày sau họ đã về đến bãi biển Sơn Chà. Trình diện với cơ quan an ninh thành phố xong, ông bà được bạn bè cũ đến bảo lãnh. Vì ngôi nhà cũ bị lính Pháp trấn đóng, ông bà phải lang thang sống nhờ người quen, đồng thời mướn luật sư, tìm cách lấy lại tài sản cũ. Lúc ra đi tản cư vội vã, không mang theo giấy tờ sở hữu nhà đất. Giấy tờ của sở nhà đất chính phủ cũng bị cháy rụi, lúc giao tranh trong thành phố. Các nhà cho thuê nay có chủ mới. Riêng những tàu buôn thì phần bị phá hoại, lúc Pháp tái chiếm cảng Đà Nẵng, phần bị trôi dạt mất tăm. Tài sản bên bà BS Hoa ở Sài gòn lại càng khó thu hồi lại được, vì không tìm lại được gia nhân cũ, và những chứng từ sở hữu. Vì cứ đinh ninh sẽ trở về lối sống nhàn nhã trước kia, hai ông bà theo đuổi kiện tụng, cả ở Sài gòn và Đà Nẵng. Rốt cuộc chỉ đòi lại được hai căn nhà nhỏ, nhưng phải bán đi để lo luật sư. Thế là phải lang thang sống nhờ bạn bè. Nhưng tình bác ái lâu ngày rồi cũng mệt mỏi. Bạn bè xa lánh, và có người nói xúc phạm. Hai ông bà thấy tủi nhục, ôm nhau khóc lóc cho tình đời đen bạc. Ông bà bàn định sẽ cùng nhau tự tử. Thuốc ngủ đã mua hai liều mạnh. Trong tuyệt vọng não nề, bỗng ông sực tỉnh:

-“A quên mình còn cái bằng Bác sĩ.”

Thế là hai ông bà đứng lên, hăng hái kiến tạo cuộc đời mới. Họ vay mượn bạn bè ít vốn để mở phòng mạch. Ba năm sau họ đã trang trải được nợ nần, mua xe, mua nhà, có đời sống ổn định và tìm lại hạnh phúc ngày xưa. Gia đình có thêm hai đứa con, một trai, một gái. Ông không quên mua cho bà một đàn dương cầm mới. Trong nhà lại dập dìu tiếng nhạc rộn vui, thanh thản. Thời đệ nhất Cộng hòa ông làm ty trưởng y tế Đà Nẵng, đồng thời là giám đốc bệnh viện thành phố. Khi Mỹ ồ ạt đổ quân vào Việt Nam và leo thang chiến tranh, có những đoàn văn nghệ từ Mỹ sang, đi khắp chiến trường, biểu diễn cho lính Mỹ xem, để nâng cao tinh thần chiến đấu của họ. Có một đoàn văn nghệ biểu diễn quanh Đà Nẵng trong nhiều tháng, trong ấy có một nhạc sĩ dương cầm Mỹ trẻ, tên gọi là Bill, tốt nghiệp âm nhạc viện Nữu Ước. Anh chỉ là Trung sĩ, chắc là để thi hành nghĩa vụ quân sự. Đoàn văn nghệ ấy, gồm nhiều ca sĩ nổi danh, có lần giúp vui cho bệnh nhân Bệnh viện Đà Nẵng trong dịp Giáng sinh. Phần lớn họ hát các bài thánh ca như Jingle Bell, Silent Night, v.v… Cảm động nhất là các ca sĩ ngoại đã hát những bài thánh ca Việt như bản “Đêm đông” của nhạc sĩ Hải Linh. Bill và bà Băng Tuyết đệm đàn, rồi không biết vì sao, hai người lại cho hội trường thưởng thức độc tấu dương cầm , bà với bản Rhapsodie Hongroise của Litz, Bill với bản Lieder của Brahms. Họ âm thầm so tài và mọi người đều bị lôi cuốn bởi dòng nhạc êm ái, điêu luyện. Sau đêm biểu diễn ông bà BS Hoa mời Bill đến tư gia ăn những món đặc sản Việt. Bà Tuyết và Bill lại có dịp bàn luận về âm nhạc. Bill xuất thân gia đình vọng tộc, nói tiếng Pháp thạo, vì đã từng qua Paris học hỏi dương cầm. Chàng lại đẹp trai, khiêm nhường, ăn nói có duyên và nhiệt tình. Bà Tuyết được trời ưu đãi, trẻ lâu, lúc ấy tuy gần 40, song da dẻ vẫn mịn màng, đẹp mà không cần son phấn. Hai người phục tài nhau, và cùng một mê say: nhạc dương cầm cổ điển. Từ đó, Bill thường đến nhà bà Tuyết và hai tâm hồn đa cảm làm giàu cho nhau bằng những khám phá lý thú bên đàn dương cầm, thâm nhập vào sự tinh anh, tài ba, xuất thần của các nhạc sĩ thiên tài.

Sở dĩ tôi biết được các chi tiết trên về gia đình BS Hoa vì sau khi ông bà về thành, gia đình tôi cũng hồi cư về làng cũ. Tôi ra Huế tiếp tục học, rồi vào trường Y Sài gòn. Khi đi học cũng như khi ra trường, tôi vẫn thường xuyên đến thăm ông bà. Lúc về Tổng Y Viện Duy Tân, cuối tuần tôi thường chơi mạt chược ở tư thất ông bà. Kết thúc bi thảm sau đây tôi đã cố tìm hiểu, và cho đến nay nghĩ đến tôi vẫn còn bàng hoàng:

Sự đi lại thân thiết giữa bà Tuyết và Bill đi vào một ngã rẽ định mệnh. Không hề nghi ngờ lòng chung thủy của vợ, bỗng một hôm, sau một ca mổ căn thẳng, BS Hoa đột nhiên muốn về nhà nghỉ ngơi. Mở khóa vào nhà, phòng khách không có ai, trong nhà im ắng. Ông đoán là vợ đi phố và các con đều đến trường. Ông lặng lẽ đi vào phòng ngủ và thấy Bill ôm vợ mình, hai người say sưa trong giấc ngủ. Ông choáng váng, lặng người, song cũng vẫn bình tĩnh, không làm ồn ào. Khóa cửa nhà lại như cũ, ông trở lại nhà thương làm việc. Chiều đến ông về nhà, xem như không có gì xảy ra. Trong bữa ăn tối ông vẫn vui vẻ trò chuyện với vợ và con. Nhưng tối đó ông không vào phòng ngủ như thường lệ. Bà Tuyết có trực giác là có điều gì nghiêm trọng. Bà trăn trở, và cuối cùng ra phòng làm việc của chồng. Đèn vẫn sáng. Đồng hồ phòng khách ngân nga điểm hai giờ. Chồng bà gục đầu trên bàn viết, thân thể bất động, chùng xuống trên ghế bành rộng. Hai cánh tay xoải trên bàn, đè một lá thư. Như cái máy, bà rút lá thư xem:

“Em thân yêu. Em hãy xem cái chết của anh như một tai nạn xuất huyết não cấp tính, và làm ma chay bình thường, để khỏi gây những lời dị nghị, có hại cho em và cho con cái chúng ta. Anh vẫn yêu em như thuở ban đầu, và cầu mong em thanh thản, yên vui trong hạnh phúc mới. Riêng anh đã ích kỷ chọn sự yên lặng của nấm mồ.”

Trong hốt hoảng bà điện thoại cho tôi đến gấp. Năm phút sau tôi đã có mặt ở nhà bà. Khám xác và nhìn lọ thuốc ngủ trên bàn, tôi biết BS Hoa đã dùng một liều cực mạnh, và đã tắt thở từ lâu. Thể theo lời người quá cố, tôi đứng ra lo việc ma chay long trọng, mà hầu hết những nhân vật tai mắt của thị xã đều đến phúng điếu, song không mảy may hay biết sự tình, chỉ thương tiếc BS Hoa đã sớm ra đi vì bạo bệnh.

Chừng ba tháng sau tang lễ, bà BS Hoa xuống tóc, vào tu ở một ngôi chùa gần nhà. Bà từ biệt thế giới dương cầm, âm nhạc. Bà buộc vợ chồng tôi dọn về ở nhà bà, tiếp tục coi sóc phòng mạch của chồng bà, và theo dõi hai con bà nay đã vào Đại học ở Sài gòn.

Vì sao BS Hoa đã chọn cái chết? Có lẽ vì quen sống trong tiện nghi, cuộc đời không có những thử thách, lao đao, nên sự thích nghi, đối đầu với biến cố rất yếu. Ông đã có một tình yêu lớn, ông trân quý, xây đắp, và là nơi trú ẩn an toàn cho ông . Ông đã tìm thấy ở đó hạnh phúc lớn nhất của mình. Nhưng biến cố xảy đến, làm cho lâu đài tình ái của ông sụp đổ tan tành. Những điều đẹp đẽ ông trân quý trở nên xấu xa, đen tối không phương cứu vãn. Ông thất vọng não nề. Ông quan niệm cuộc đời quá đẹp. Ông không chấp nhận sự yếu đuối, bội phản. Thật ra vợ ông chỉ là yếu đuối, mà không bội phản. Thiên chúa Giáo khác Phật Giáo ở điểm căn bản. Phật giáo hoàn toàn đặt sự giải thoát khỏi thất tình, lục dục bằng sự tự chủ bản thân, nghĩa là chỉ ta cứu lấy ta. Trái lại Chúa Jesus đã nói: “Linh hồn, thì siêu thoát, nhưng xác thịt yếu đuối.” Sai lầm là nhân bản (to err is human). Biết con người yếu đuối tội lỗi nên Chúa đã đổ máu ra cứu chuộc nâng đỡ, và sẵn sàng thứ lỗi, khi con người biết hối lỗi và trở về với đường ngay, lẽ thẳng. Sự cứu rỗi con người không thể tự người làm được, mà phải nhờ vào sự cộng tác, dẫn dắt của Thượng Đế. Bởi người là người, không phải là thần thánh. Tự biết mình yếu đuối, và thấy sự yếu đuối của người khác là sự cao cả của con người. (la grandeur de l’homme est grande en ce qu’il se connait misérable, et aussi en ce qu’il a vu la misère d’autrui). BS Hoa phải rộng lượng thứ lỗi cho sự yếu đuối của vợ. Sự im lặng của ông thật đáng ca ngợi, để tránh những đổ vỡ to lớn hơn nữa. Nhưng ông đã ích kỷ tìm sự im lặng của nấm mồ. Ông không biết như thế là làm tan nát tấm lòng yêu thương chân thật của vợ ông, và mối tình lớn mà hai người un đúc sẽ đứt đoạn. Ông phải chấp nhận đau thương, để tình yêu thêm sâu sắc và biết hy sinh hơn nữa. Ông đã làm vợ ông từ bỏ một sự phong phú, giàu có tâm hồn là âm nhạc, vì bà cho đam mê nầy là đầu mối của sự sa đọa.

Một tục ngữ Đức có nói:“Khi người ta đưa quỷ nắm ngón tay, nó sẽ chụp luôn cả cánh tay.” Một cách tránh xa quyến rũ tội lỗi, là đừng bao giờ thử xem một tí. Đây cũng là bài học quá muộn cho bà Tuyết. Trong thâm sâu tâm hồn, bà đau khổ biết bao, khi thấy chính lỗi lầm mình đã đưa chồng vào tuyệt vọng. Tôi thường hay đến chùa thăm bà và đàm đạo với bà về triết lý nhà Phật. Bà đã tìm lại được sự thanh thản tâm hồn ở cửa thiền, và sự tương thông với người chồng quá cố thân yêu. Bà tận tâm trong công việc từ thiện của Chùa. Nhưng điều làm tôi vui mừng nhất là bà đã cho mang đàn dương cầm của bà vào chùa. Bà đã trở lại với âm nhạc để tìm lại sự an bình mới. Bà đã sáng tác nhiều ca khúc thâm trầm siêu thoát, mà mỗi khi tôi vào thăm, bà đàn cho tôi nghe. Đó là những truyền cảm linh thiêng của người mẹ thứ hai trong đời tôi. Tôi ra về với tâm hồn thơ thới và những quyết tâm mới. Tôi đã cùng nhà chùa tổ chức các buổi trình diễn dương cầm của bà cho mục đích từ thiện. Chắc nhiều thính giả lúc ra về cũng thấy cõi lòng hân hoan thơ thới, ít nhất là vì dư âm của những dòng nhạc bất tận, huyễn hoặc, thâm trầm, và cũng có những tâm hồn đồng điệu nhập vào sự huyền nhiệm của tình yêu, sự sống và tài ba, qua sự sắp xếp thần kỳ của tiết tấu và âm thanh, thoát ra dưới ngón tay huyền diệu của ni-cô Băng Tuyết.

Riêng với Bill, tôi đã báo tin cho anh ta về cái chết của BS Hoa. Anh ta có gửi vòng hoa phúng điếu, và không dự đám tang theo lời khuyên của tôi. Sự có mặt một ngoại nhân có thể gây dị nghị. Thư anh gửi cho bà Tuyết sau đó, tôi đã hủy đi hết và dặn anh nên chỉ liên lạc với tôi. Anh có trao đổi với tôi nhiều ý kiến hay. Anh nói là những năm cuối trung học Loyola, tại thị trấn quê anh, do các linh mục dòng Tên (jesuites) cai quản, anh đã học qua nhiều khóa giáo lý. Khi nói đến hôn nhân, các linh mục giảng dạy nhấn mạnh, là phải giữ thanh khiết trước ngày thành hôn. Ở Mỹ hiện nay trong các trường trung học, có những hội đoàn thanh niên nam nữ, thệ giữ đồng trinh (virgin) trước khi lập gia đình. Giáo lý đưa ra nguyên tắc là không được tách rời tình yêu ra khỏi nhục dục (sex). Chỉ tìm thú vui xác thịt là tội lỗi. Anh nói:

-“Tôi đã xem thường điều giảng dạy trên, và hậu quả là đổ vỡ và hối tiếc không nguôi. Trong 10 giới răn mà Moise nhận lãnh từ Thượng Đế có điều: chớ lấy vợ chồng người. Tôi đã phạm tội trọng (péché mortel)”

Sau nầy khi tôi qua Mỹ, tôi có đến nhà anh chơi. Anh đã 60 tuổi. Anh kể là sau khi giải ngũ, anh trở về dạy âm nhạc tại trường trung học Loyola, ở Wichita, quê anh. Anh đổi qua chơi phong cầm cho các nhà thờ. Anh rất mộ đạo và đã yên vui xây dựng gia đình gương mẫu trong giáo xứ. Anh khoe với tôi, các con và cháu của anh đều là hội viên hội “Thệ giữ đồng trinh trước ngày thành hôn.” Trên góc bàn thờ Chúa trong nhà có để ảnh bà Tuyết ngồi trước dương cầm lúc ở Đà Nẵng. “Như thế để nhắc nhở gia đình tôi cầu nguyện cho bà”, anh nói. Trầm ngâm giây lát anh thêm: “Những tình cảm sôi nổi, những thị hiếu nhất thời, những say mê của trào lưu mới, những thú vui thân xác, theo thời gian sẽ qua đi, nhưng đạo đức, luân lý, bổn phận, trách nhiệm, tự chế, khắc kỷ, là trường cửu, và là những yếu tố tạo nên giá trị của con người.

Khánh Giao BS Phùng văn Hạnh

From: KimTrong Lam

Nghệ sĩ Hoài Linh đã trở lại đạo Công Giáo sau bao năm tháng anh xa Chúa.

GIÁO XỨ ĐA MINH – BA CHUÔNG

Thật vui Trong đêm Chương Trình Xuân Yêu Thương, ngày 12.1.2023, tại giáo xứ Đa Minh Ba chuông, đã mời Nghệ sĩ Hoài Linh lên chia sẻ cuộc đời sống đạo trước đây của mình, và bây giờ Nghệ sĩ Hoài Linh đã trở lại đạo Công Giáo sau bao năm tháng anh xa Chúa.Hoài Linh, lúc bé đã từng là cậu bé giúp lễ tại giáo xứ Dầu Giây, giáo phận Xuân Lộc. Hoài Linh theo bà Nội đi lễ từ lúc 4 giờ sáng mỗi ngày.

Video gốc của nhà thờ ba chuông với phần trình diễn và tâm sự của Hoài Linh:

Trực tiếp đêm nhạc Xuân Yêu Thương lần 9 – 12.01.2023

From: Phan Sinh Trần