Mười Lăm Liều Thuốc Sống Lâu Sống Khoẻ

Một là thể dục thể thao

Đây là thuốc rẻ lúc nào cũng hay.

Hai rau, củ, hạt, trái cây

Thuốc này nên có mỗi ngày chớ quên.

Ba là thuốc chẳng tốn tiền

Cười là thuốc bổ tự nhiên sẵn sàng.

Bốn là trong công việc làm

Tích cực là thuốc phá tan biếng lười.

Năm là tôn giáo trên đời

Chọn một vị thuốc sống đời thiện tâm.

Sáu là thuốc bổ tinh thần

Kinh kệ, thiền định, cân bằng thân tâm.

Bảy ngủ là thuốc an thần

Sau cơn ngon giấc thân tâm nhẹ nhàng.

Tám yêu thương, thuốc thiên đàng

Gia đình yên ấm, thế gian thái bình.

Chín là thuốc cho thân mình

Phải biết tôn trọng giữ gìn chăm lo.

Mười là liều thuốc giúp cho

Mở mang trí tuệ đó là sách hay.

Mười Một liều thuốc hàng ngày

Người thân, bạn hữu giữ dây thân tình.

Mười Hai là thuốc an sinh

Ngăn nắp, sạch sẽ, bệnh tình ngừa, ngăn.

Mười Ba thuốc ngừa khó khăn

Việc người thì chớ dính thân mình vào.

Mười Bốn thuốc người tuổi cao

Là thuốc hoạt động uống vào khoẻ thêm.

Mười Lăm thuốc chống ưu phiền

Văn chương, ca hát bình yên tâm hồn.

Sống đời khoẻ mạnh vẫn hơn

Mười lăm thuốc đó chớ quên mỗi ngày

Trăm năm một cuộc đời này

Thu Đông Xuân Hạ vần xoay bốn mùa

Mưa giông bão tuyết dần qua

Vượt trên tất cả mới là người hay.

Bùi Phạm Thành

Ngày 24 tháng 2 năm 2023

From: Tu-Phung

Đừng Quên Cám Ơn – Tác giả: Haley

Tác giả: Haley

  1. Một vị tổng thống hỏi bà cụ sống 104 tuổi về bí quyết sống lâu. Bà trả lời: một là dí dỏm, hai là học biết cám ơn. Lấy chồng từ năm 25 tuổi, ngày nào bà cũng nói nhiều nhất là hai chữ “cám ơn”. Bà cám ơn chồng, cám ơn bố mẹ, cám ơn con cái, cám ơn hàng xóm láng giềng, cám ơn mọi sự quan tâm săn sóc dành cho bà, cám ơn từng ngày sống yên lành, ấm cúng và vui vẻ. Mọi lời nói thân thiết của người khác đối với bà, mọi việc làm bình thường nhỏ nhoi dành cho bà, mọi nét mặt tươi cười hỏi thăm bà, bà đều không quên nói hai tiếng “cám ơn”. Mọi người không những không ngán đối với vô số lần cám ơn hàng ngày của bà, trái lại càng gần gũi thương yêu bà, thường cảm thấy nếu mình không thương yêu bà hơn nữa, sẽ có lỗi với từng lời “cám ơn” của bà… 80 năm đã trôi qua, hai tiếng “cám ơn” khiến bà vui vẻ lâu dài, hạnh phúc lâu dài, mạng sống lâu dài, “cám ơn” có bao nhiêu, tình yêu có bấy nhiêu. Tình yêu có ngần nào, “cám ơn” có ngần nấy.
  2. Một lần đi xe buýt về nhà, trước mắt tôi có một cô bé 7,8 tuổi, lưng đeo cặp sách, hình như vừa tan học. Khi lên xe em bước không vững suýt nữa ngã. Tôi vội vàng đỡ em một tay. Vừa đứng vững em giơ tay ra hiệu, không biết em định nói gì với mình. Thấy tôi không hiểu em rất bối rối. Ngồi được một bến, tôi sắp sửa xuống xe. Cô bé vội vàng chạy đến nhét vào tay tôi một mẩu giấy. Tôi cứ tưởng có chuyện gì, ai ngờ xuống xe nhìn mẩu giấy, chỉ thấy một dòng chữ xiêu vẹo “cám ơn, cám ơn chú!” Thì ra em bị câm điếc. Không hiểu sao trái tim tôi bỗng trào lên một tình cảm nóng bỏng không sao miêu tả nổi.
  1. Ở một thành phố nọ, có cậu bé 14,15 tuổi, vì lấy cắp một quyển sách của một hiệu sách, bị bảo vệ bắt quả tang. Bảo vệ quát mắng khiến cậu vô cùng xấu hổ. Những người khác cũng nhìn cậu với ánh mắt khinh bỉ. Bảo vệ cứ đòi cậu gọi bố mẹ hay thầy giáo nhà trường đến nhận người. Cậu bé sợ co dúm người, nét mặt xám ngoét. Lúc này có một phụ nữ đứng tuổi rẽ đám đông vây xem, xông vào bênh vực cậu bé đang hoảng sợ:

– Đừng đối xử với trẻ em như thế. Tôi là mẹ của cháu!

Dưới con mắt khác thường của đám đông, người phụ nữ nộp tiền phạt cho cậu và dắt cậu ra khỏi hiệu sách, khe khẽ giục:

– Mau về nhà đi con, từ nay trở đi đừng bao giờ lấy trộm sách nữa!

Mấy năm đã trôi qua. Cậu bé luôn luôn nhớ ơn người phụ nữ đứng tuổi không quen biết, luôn luôn hối hận đã không nói trước mặt bà hai tiếng cám ơn. Nếu không có bà, đường đời cậu có thể sẽ rẽ sang một lối khác. Sau khi thi đậu Đại Học, cậu sinh viên đã thề nhất định tìm ra bà.

Nhưng biển người mênh mông biết tìm bà ở đâu? Thế là hàng năm, lợi dụng kỳ nghỉ hè nghỉ đông, ngày nào cậu cũng đến gần hiệu sách chờ nửa tiếng đồng hồ, hy vọng tìm được người phụ nữ đứng tuổi. Việc làm này hết sức mong manh, nhưng mưa gió không cản trở được cậu, cậu vẫn luôn không nao núng. Bởi vì cậu không bao giờ quên khuôn mặt hiền từ của bà. Cứ thế, cậu sinh viên đứng chờ trong hai năm, cuối cùng đã tìm được bà, nói hai tiếng “cám ơn” ôm ấp trong lòng bấy lâu nay…

  1. Có một truyền thuyết kể rằng: Có hai người cùng đi gặp Thượng Đế hỏi lối đi lên Thiên Đường. Thấy hai người đói lả, Thượng Đế cho mỗi người một suất cơm. Một người nhận suất cơm, cảm động lắm, cứ cám ơn, cám ơn rối rít. Còn người kia nhận suất ăn, không hề động lòng, cứ làm như cho anh ta mới phải. Về sau, Thượng Đế chỉ cho người nói “cám ơn” lên Thiên Đường. Còn người kia bị từ chối, đứng ngoài cổng.

Kẻ bị từ chối đứng ngoài cổng không phục:

– Chẳng lẽ chỉ vì tôi quên nói “cám ơn”?

Thượng Đế trả lời:

– Không phải quên. Không có lòng cám ơn, không nói ra được lời cám ơn. Người không biết cám ơn, không biết yêu người khác, cũng không được người khác yêu.

Anh chàng kia vẫn không phục:

– Vậy nói thiếu hai chữ “cám ơn” cũng không thể chênh lệch đến thế?

Thượng Đế đáp:

– Biết làm thế nào được, bởi vì lối lên Thiên Đường rải bằng lòng cám ơn. Cửa lên Thiên Đường chỉ có dùng lòng cám ơn mới mở được. Còn địa ngục thì khỏi cần.

  1. Tôi đang đi tới quán cà phê, suy nghĩ lung tung về những công việc ở cơ quan mình vừa làm xong và lớp học chuyên môn buổi chiều mà tôi giảng dạy, thì bỗng thấy có ai đó đập nhẹ vào tay. Tôi dừng: không có ai cả. Tôi đi tiếp. Lại thấy có ai đập nhẹ vào tay. Lần này tôi quay hẳn người lại, và nhìn xuống. Thằng bé đứng ở đó. Mắt nó màu nhạt, cũng có thể đó là do tôi có cảm giác từ hai gò má nhem nhuốc và mái tóc đen rối của nó. Nó chưa thể quá 6 tuổi. Mặt mũi bẩn, đi chân đất, áo rách, tóc rối bù.

Nó chẳng khác gì mấy so với hàng trăm nghìn hoặc hơn thế trẻ em mồ côi lang thang trên đường phố khắp thủ đô Rio de Janeiro. Nó nói và chỉ: “Bánh mỳ, ông ơi?”. Nếu sống ở Brazil, chúng ta có nhiều cơ hội để mua một thanh kẹo hay một cái bánh mỳ cho những đứa bé vô gia cư và mồ côi này. Tôi bảo nó đi theo tôi và chúng tôi cùng vào một tiệm giải khát:

– Cà phê cho tôi và cái gì đó ăn được cho cậu bạn nhỏ này? – Tôi gọi

Thằng bé chạy đến quầy hàng và lựa chọn. Bình thường, bọn nhỏ này sẽ cầm đồ ăn và bỏ đi luôn, quay trở lại đường phố, nơi chúng đang phải lang thang, mà không nói lời nào. Nhưng thằng bé này lại làm tôi ngạc nhiên. Quầy giải khát khá dài, người ta đặt cốc cà phê ở một đầu và một cái bánh mỳ ở đầu kia. Thường người ta cũng biết là bọn trẻ đường phố xin được khách hàng mua cho cái bánh rồi sẽ bỏ đi ngay, mà người ta cũng không muốn cho chúng ở lại vì trông chúng rách rưới và bẩn thỉu.

Tôi bắt đầu uống cà phê của mình và khi tôi uống xong, trả tiền, tôi nhìn ra cửa mới phát hiện ra nó đứng ở ngoài (vì nó không được ở lâu trong cửa hàng), kiễng chân lên, tay cầm bánh mì, mắt gí vào cửa kính, quan sát. “Nó làm cái quái gì thế ?!” – Tôi nghĩ.

Tôi đi ra, nó nhìn thấy tôi và chạy vụt theo. Thằng bé đứng trước mắt tôi, chỉ cao đến thắt lưng. Đứa bé mồ côi người Brazil ngước nhìn khách lạ người Mỹ cao lớn, là tôi, mỉm cười (một nụ cười có thể làm trái tim bạn phải ngừng vài giây), và nói: “Cảm ơn chú?!”. Rồi, có vẻ lo lắng, nó gãi bàn chân và kiễng chân lên, nói to hơn: “Cảm ơn chú nhiều lắm ạ!”.

Lúc đó, nếu tôi có thể thì tôi đã mua cả tiệm ăn cho nó. Trước khi tôi nói được câu gì, nó đã quay người bỏ chạy đi mất. Khi tôi viết bài này tôi vẫn đang ngồi bên ngoài quán giải khát, nơi tôi mua chiếc bánh mỳ cho thằng bé. Tôi đã muộn giờ lên lớp. Nhưng tôi vẫn còn cảm thấy xúc động và nghĩ về thằng bé. Và tôi tự hỏi: nếu tôi bị xúc động đến thế chỉ bởi một cậu bé đường phố nói lời cảm ơn tôi vì một mẩu bánh mỳ, thế thì mọi người sẽ xúc động đến đâu khi chúng ta nói những lời cảm ơn – thực sự cảm ơn – vì những gì họ làm cho chúng ta. Hãy dành thời gian để nói những lời cảm ơn, và đừng bao giờ tiết kiệm lời cảm ơn cả!

Tác giả bài viết: Haley

(Dịch từ Inspirationstories)

Người Phương Nam

From: TU-PHUNG

Bà ấy không còn biết tôi nữa nhưng tôi vẫn còn biết bà ấy là ai.

Hữu Quang

(Tác giả: không rõ)

Lúc đó khoảng 8;30 sáng, phòng cấp cứu rất bận rộn. Một ông cụ khoảng trên 80 tuổi bước vào phòng và yêu cầu được cắt chỉ khâu ở ngón tay cái. Ông cu nói ông rất vội vì ông có một cuộc hẹn vào lúc 9 giờ. Tôi bắt mạch, đo huyết áp cho ông cụ xong, tôi bảo ông ngôi chờ vì tôi biết phài hơn một tiếng đồng hồ nữa mới có người đến cắt chỉ khâu cho ông. Tôi thấy ông nôn nóng nhìn đồng hồ nên tôi quyết định sẽ đích thân khám vết thương ở ngón tay cái của ông cụ. vì lúc đó tôi cũng không bận với một bịnh nhân nào khác cả.

Khi khám tôi nhận thấy vết thương đã lành tốt vì vậy tôi đi lấy dụng cụ để tháo chỉ khâu ra và bôi thuốc vào vết thương cho ông cụ. Trong khi săn sóc vết thương cho ông cụ tôi hỏi ông là ông vội như vậy chắc là ông có môt cuộc hẹn với một bác sĩ khác sáng hôm nay phài không.

Ông nói không phải vậy nhưng ông cần phải đi đến nhà dưỡng lão để ăn điểm tâm với bà cụ vợ của ông ở đó. Tôi hỏi thăm sức khỏe của bà cụ thì ông cho biết là bà

đã ở viện dưỡng lão một thời gian khá lâu rồi và bà bị bịnh Alzheimer (bịnh mất trí nhớ ở người lớn tuổi). Khi nói chuyện tôi có hỏi ông cụ là liệu bà cụ có buồn không nếu ông đến trể một chút. Ông cụ nói bà ấy không còn biết ông là ai nữa và đã 5 năm nay rồi bà không còn nhận ra ông nữa. Tôi ngạc nhiên quá và hỏi ông cụ:

– và Bác vẫn đến ăn sáng với Bác gái mỗi buồi sáng mặc dù Bác gái không còn biết Bác là ai nữa?

Ông cụ mĩm cười, vỗ nhẹ vào tay tôi rồi nói:

“Bà ấy không còn biết tôi nữa nhưng tôi vẫn còn biết bà ấy là ai.”

Khi ông cụ bước ra khỏi phòng, tôi phải cố gắng lắm để khỏi bật khóc. Tôi vô cùng xúc động và thầm nghĩ, “Ước gì đời mình có được một tình yêu như thế!”

Tình yêu thật sự không phải là tình yêu thân xác, cũng không phải là tình yêu lãng mạn.

Tình yêu thật sự là sự chấp nhận tất cả những gì đang có, đã từng có, và sẽ có hoặc không.

Mỗi ngày bạn nhận được rất nhiều email và phần lớn là chuyện vui hoặc chuyện khôi hài; nhưng thỉnh thoảng cũng có những email mang theo những thông điệp có ý nghĩa như thế này. Và hôm nay tôi muốn được chia xẻ thông điệp này với các bạn.

Người hạnh phúc nhất không nhất thiết là người có được những điều tốt đẹp nhất, mà là người biết chấp nhận và sống một cách tốt đẹp nhất với những gì mà mình có được. Tôi hy vọng bạn chia xẻ ý tưởng nay với những người mà bạn yêu mến.

“Cuộc sống không phải là làm sao để chịu đựng cho qua cơn bão, mà là làm sao để biết nhảy múa dưới cơn mưa”.

Cám ơn đời, mỗi sớm mai thức dậy, ta có thêm ngày nữa để yêu thương!!!

Tiểu Tử: người tiếp lửa và giữ hồn của miền Nam

Nguyễn Văn Lục

Tôi biết Tiểu Tử khá muộn khi ông đã thành danh và tích lũy một di sản văn học đáng nể như một loại trầm tích lắng đọng từ lâu. Nhưng khi biết rồi thì càng đọc văn của ông càng thấy gần gũi, gắn bó.

Hình như ông không viết truyện dài mà chỉ chuyên viết truyện ngắn. Mỗi truyện ngắn đều như nhắc nhở xa gần đến những cột mốc văn học đàn anh, xa xôi như Hồ Biểu Chánh, hay gaadn hơn như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Lê Xuyên. Có thể vì cách thức diễn tả, ngôn từ xử dụng, tâm tình và cá tính của ông thì đặc sệt là dân Nam Kỳ.

Nhưng về nội dung cũng như mục đích viết của Tiểu Tử thì tôi xin vài thưa rằng: Nó hoàn toàn không giống các “nhà văn miệt vườn” ‒ không giống Bình Nguyên Lộc, càng xa Sơn Nam ‒ và còn có thể khác biệt với Lê Xuyên. Tôi không dám nói rằng tôi phủ nhận các nhà văn miền Nam tiền bối. Tôi đã từng mê truyện dài đầu tiên Chú Tư Cầu của Lê Xuyên ‒ cuốn truyện dài viết phơi-ơ-tông1 mỗi ngày ‒đã từng làm Lê Xuyên nổi tiếng.

Việc cầm bút để trở thành một nhà văn chẳng những là một nghề cao quý mà còn cá biệt.

Không nên lấy cái đúng, cái hay của nhà văn này làm chuẩn mực để so sánh với nhà văn khác. Văn là người. Mỗi người là một cá thể mà sự so sánh là một điều xúc phạm đến chân dung nhà văn. Vì thế, tôi chỉ có thể nghĩ cho riêng mình là: Tiểu Tử là người truyền cảm hứng, người tiếp lửa văn học miền Nam mà nhiều người tưởng rằng có nguy cơ nó đã là tro nguội, bị lão hóa hoặc hết thời. Nhưng thật sự qua văn của Tiểu Tử nó vẫn giữ được cái hồn của miền Nam với trọn vẹn ý nghĩa.

Trong thời kỳ giúp việc cho tờ Tân Văn. Tân Văn, số 7, tháng 2, 2005 lần đầu tiên đã có đăng truyện ngắn: Thằng Đi Mất Tiệt. Đó là một cái duyên cho tôi.

Và sau đó, trên nhiều số Tân Văn khác, lần lượt truyện ngắn của Tiểu Tử có mặt như: Mài dao, mài kiếm, Chuyện di tản 1975, Thằng Khùng, Tôi nằm gác tay lên trán, Làm Thinh,Tấm vạc giường, Chuyện chẳng có gì hếtm Học ăn, học nói,‒ Chị Tư Ù, Người bán liêm xỉ, Con rạch nhỏ quê mình, Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn, Con mẹ hàng xóm, Chiếc khăn Mùi xoa, Ông già hốt rác, Tô Cháo huyết, Viết một chuyện tình,Tôi nằm gác tay lên trán.

Những truyện ngắn của nhà văn Tiểu Tử được đăng từ Tân Văn, số 7 và chấm dứt ở Tân Văn, số 94.

Số truyện của Tiểu Tử viết cho thấy quả thực, ông viết muộn. Từ khi khi sang Côte D’Ivoire2 tác giả mới bắt đầu viết tuyện ngắn3 ‒ mà như thể viết không cạn dòng. Tiểu Tử viết như thể còn sức còn viết cố vớt vát níu kéo thời gian đã qua.

Đấy mới chỉ nói đến trên dưới 100 truyện về lượng. Kể là nhiều, chỉ kém Bình Nguyên Lộc dưới 1000 cuốn. Phẩm chất mỗi truyện đều chuyên chở, gửi gấm một tâm sự, một nỗi lòng, một tỏ bày.

Báo Tân Văn nợ ông nhiều lắm, vì ông không nhận tiền nhuận bút.

Nói chung, văn nghiệp của ông tạo ra một dòng chảy văn học miền Nam rất cá tính; nó tiếp lửa truyền thừa từ những nhà văn tiền bối và ngọn đuốc soi đường cho những người đến sau ông.

Đôi hàng về tiểu sử Tiểu Tử

Ông tên thật là Võ Hoài Nam. ông sinh ngày 19 tháng bảy năm 1930, tại quận Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh và là con trai duy nhất của giáo sư Võ Thành Cư, cựu giáo sư trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký. Ông cũng dạy Lý Hóa một năm, 1955‒1956, ở trường này…

Tiểu Tử (1930-)

Ông lớn lên ở miền Nam với dòng họ, với bà con, với láng giềng đan kết như một khúc ruột mềm thân thương, che chở, đùm bọc. Tất cả trở thành những kỷ niệm êm đẹp thời tuổi trẻ với nhiều trẻ cùng lứa tuổi, nghịch ngợm, chơi đùa của một thời. Sau này lớn lên ông vẫn không quên được, đi đâu, làm gì rồi cũng nhớ về. Rồi ông ông sang Tây du học trở về4, với mảnh bằng trong tay, ông làm việc cho hãng dầu Shell ở Sài Gòn cho đến ngày mất nước.

Rồi vài năm như mọi người, ông còn kẹt lại, ông phải sống chung với cộng sản. Ông đã chứng kiến, đã thấy hết những gì cộng sản nói và cộng sản làm với mặt trái của nó. Quyết định phải vượt biên thôi, hành lý mang theo chỉ là những kinh nghiệm, nỗi nhớ để sau này ông ghi lại trong: Con rạch nhỏ quê hương mình.

Ông ghi lại trong truyện Ông già hốt rác tâm sự cay đắng của một người miền Nam hiền lành đến khờ khạo bị cướp đoạt, bị bóc trần như bươi rác từ trên xuống dưới, trần như nhộng đến không còn gì.

Sự chia xẻ của ông từ một ông thày tiền bạc rộng rãi nay trở thành người cùng khổ không dám vào ăn một tô cháo lòng như trước kia nữa. Bà Ba bán cháo lòng cảm thông hoàn cảnh của ông thất cơ lỡ vận, bán tô cháo lòng không lấy tiền. Đắt giá nhất trong truyện Tô Cháo Huyết là chị Ba bán nói, “Chỗ quen biết, tôi nói thiệt.Thày Hai cứ tới ăn tự nhiên, đừng ngại. Chừng nào thầy Hai trả cũng được hết. Mình với nhau mà.. Phải thông cảm với nhau chớ. Thầy Hai hiểu tôi không?” Thực quá sức cảm động.

Bất mãn cùng cực, trong nhà không còn gì để bán, chỉ còn chiếc xe đạp và chút liêm xỉ treo bảng bán luôn, nhưng không ai mua. Ông viết trong truyện: Người bán liêm xỉ.

Và nhìn ra mặt trái của cuộc đời khi thấy con mẹ hàng xóm đua đòi, nịnh bợ mấy tên cán bộ để bán thân nuôi miệng ông viết Con mẹ hàng xóm.

Sau này, tất cả nó hun đúc, kết nén làm vốn cho ông cầm bút viết lại. Ông không cần hư cấu, không cần bóp méo sự thật, chỉ cần cúi xuống nhặt nhãnh Những mảnh vụn cuộc đời ghi lại như một nhân chứng những cuộc đổi đời, những lầm than và cả tình con người người diễn ra mỗi ngày.

Văn phong của Tiểu Tử

Mặc dù học cao thành đạt ‒ hơn nửa đời người sống nơi xứ người ‒ tốt nghiệp kỹ sư dầu hỏa ở Marseille, 1955. Về nước mới đầu dạy trường Petrus Trương Vĩnh Ký một năm. Sau đó sang làm việc tại hãng xăng Shell cho đến ngày miền Nam đổi chủ. Ông có viết lại giai đoạn này, khi miền Nam sắp mất, bị người Mỹ bỏ rơi, không đủ xăng cho máy bay. Chẳng biết, ông có cay đắng với người Mỹ không?

Năm 1978, vượt biên rồi định cư tại Pháp 1979. Sau đó đi làm việc cho công ty Đường Mía tại Côte D’Ivoire, Phi Châu cho đến 1982, rồi đó trở lại làm cho hãng Shell Côte d’ Ivoire từ năm 1982 đến 1991, và về hưu tại ngoại ô Paris.

Bấy nhiêu năm lưu lạc ở xứ người. Vốn chữ nghĩa vẫn không bị han rỉ, xói mòn. Ông vẫn giữ được cá tính miền Nam: bình dân, giản dị, thật thà, dí dỏm. Ông vẫn giữ được cốt cách một lối viết chân chất, kiểu nghĩ sao viết dzậy, không màu mè, không kiểu cách, không uốn éo văn hoa làm dáng. Điều này cho thấy ông khác hẳn nhà văn Mai Thảo. Mai Thảo vẫn nghĩ rằng ông là nhà văn, Những người làm ra chữ.

Nhưng chính lối viết chân chất ấy quyến rũ người đọc. Chính chỗ bình dị làm nên vóc dáng văn học. Chữ của ông là có sẵn, chỉ khác nó nằm trong văn cảnh toàn bộ hỏi đáp trao đổi giữa những người dân bình thường. Đọc là gợi nhớ, đọc là thấy mình trong đó như tìm về như có người nhắc hộ.

Một lần nữa, tên tuổi nhân vật truyện cũng đặc sệt tính miền Nam. Không có những tên văn hoa như Lan, như Cúc, như Bạch Tuyết ‒ hoặc như Dũng, như Long, như Tiến kiểu miền Bắc. Hoặc những tên như Diễm, Công Tằng Tôn nữ Lan Chi, Tôn nữ Hỷ Khương kiểu miền Trung, v.v..

Tên nhân vật truyện của Tiểu Tử không có những tên cao sang “với không tới”, mà bình dân như Con Lúa, con Nhàn, con Huệ, thằng Rớt, Thằng Lượm, Con mẹ hàng xóm, Thày Năm Chén, bà Năm cháo lòng, Chị Tư ù.

Bình dị mà gần gũi thân thương mỗi khi gọi đến tên làm ấm lòng người gọi và cả người được gọi. Nó biểu lộ một thứ thẻ căn cước ‒ tính chất miền Nam ‒ như một lẽ sống còn. Mất nó là mất tất cả lẽ sống ở đời.

Ngay cả những tiếng chửi thề cũng chứa đựng chút lòng thương. Như: Nội. Thằng chó đẻ của má. Người đọc chỉ thấy hình bóng một bà mẹ thương con, chịu nỗi đau cắt ruột đành đoạn để con cháu mình vượt biên. Thật vậy, có người mẹ nào muốn xa con. Thật ngược đời. Chỉ có ở chế độ xã hội chủ nghĩa mới xảy ra những chuyện đổi đời như vậy.

Nó khác hẳn những tiếng chửi tục của miền Bắc thô tục và áp đặt.

Thú thật bản thân người viết rất dị ứng và khó chịu với ngôn ngữ miền Bắc khi họ đối đáp với nhau kèm theo tiếng Đ. Mẹ. Một xã hội trượt giốc. Một thứ Đất khổ-Người Khổ. Đối với cá nhân tôi, họ là những loại người mặt lạ, không mời mà đến trân trân, tráo tráo. Họ tự hào đi làm lịch sử mà thật ra lịch sử chỉ là một con tin ‒ mà thật ra gián tiếp họ hiếp dâm lịch sử.

Liệu có một làn ranh đỏ giữa cộng sản và người dân miền Nam đến không thể nối liền được. Chắc là có qua văn phong các truyện ngắn của Tiểu Tử. Có thể đến 8 phần 10 nội dung các câu truyện là chửi xéo cộng sản.

Xem ra tuổi càng lớn, ông càng viết hăng, viết lại “tới nữa”. Điển hình là truyện ngắn Bài Ca Vọng Cổ khi ông đang làm ở bên xứ người. Đây có thể là truyện tiêu biểu nhất về tâm trạng con người Tiểu Tử.

Câu truyện gây ngạc nhiên, thích thủ đến kỳ lạ, đến ngoài sức tưởng tượng. Nó miêu tả nỗi lòng của một người sống tha phương cầu thực mà nỗi nhớ quê hương vẫn canh cánh bên lòng.

“Trong lúc tôi thiu thiu ngủ thì loáng thoáng nghe ai ca vọng cổ. Tôi mở mắt nhìn quanh rồi thở dài nghĩ: “Tại mình nhớ quê hương xứ sở quá nên trong đầu nghe ca như vậy.” Rồi lại nhắm mắt lim dim. Lại nghe vọng cổ nữa. Mà lần này nghe rõ câu ngân nga trước khi “xuống hò”.

“Mấy lớp nhà tranh ẩn mình sau hàng tre rũ bóng đang vươn lên ngọn khói… á…lam…à.. chiều.”

Hóa ra đó là một thanh niên da đen đang ca vọng cổ. Tác giả chào “Bonjour” và hỏi, vẫn bằng tiếng Pháp: “Anh hát cái gì vậy?” “Một bài ca của Việt Nam”. Anh ta tự giới thiệu mình là Jean, người ta thường gọi là “Jean le Vietnamien” à Borotou. Jean là “con lai” có mẹ gốc Nha Trang. Tiểu Tử cũng tự giới thiệu mình là người Việt Nam.

Ruộng mía ở Borotou, Côte d’Ivoire. Nguồn: www.fatom.org

“Bỗng hắn trợn mắt có vẻ vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ, rồi bật ra bằng tiếng Việt, giọng đặc sệt miền Nam, chẳng có một chút lơ lớ:

– Trời ơi! … Bác là người Việt Nam hả?

Rồi hắn vỗ lên ngực:

– Con cũng là người Việt Nam nè!

Thiếu chút nữa là tôi bật cười. Nhưng tôi kiềm lại kịp, khi tôi nhìn gương mặt rạng rỡ vì sung sướng của hắn. Rồi tôi bỗng nghe một xúc động dâng tràn lên cổ. Thân đã lưu vong, lại “trôi sông lạc chợ” đến cái xứ “khỉ ho cò gáy” nầy mà gặp được một người biết nói tiếng Việt Nam và biết nhận mình là người Việt Nam, dù là một người đen, sao thấy quý vô cùng. Hình ảnh của quê hương như đang ngời lên trước mặt.

Tôi bước tới bắt tay hắn. Hắn bắt tay tôi bằng cả hai bàn tay, vừa lắc vừa nói huyên thuyên:

– Trời ơi! … Con mừng quá! Mừng quá! Trời ơi!… Bác biết không? Bao nhiêu năm nay con thèm gặp người Việt để nói chuyện cho đã. Bây giờ gặp bác, thiệt… con mừng “hết lớn” bác à!”

Tiểu Tử, Bài ca vọng cổ,

Đọc biết bao truyện ngắn của Tiểu Tử làm tôi cảm thấy mình may mắn. Mỗi truyện có cái hay của nó, mỗi truyện đều nhắn gửi điều chi đó. Nhưng cũng xin có đôi lời nhận xét thô thiển qua những chuyện ông kể lại.

Giọng văn, hơi văn thuần túy Việt miền Nam.

Điều này thật không dễ cho bất cứ ai. Ông đặt những câu chữ đúng lúc, đúng chỗ khi cần phải đặt. Ngòi bút tuôn chảy ra tự nhiên. Tôi tự hỏi, điều gì đã giúp ông không bị “nhiễm trùng”, lai căng, nửa Tây, nửa ta. Và nhất là không bị nhiễm các từ lai căng của cộng sản.

2004

Tôi cũng không hề thấy ông bị ảnh hưởng một chút nào về văn hóa Pháp mà lẽ thường ông chịu ảnh hưởng từ nếp sống, phong tục hoặc cao hơn nữa đến các trào lưu văn học Pháp như nhiều người, trong đó có kẻ viết bài này.

Phải thành thật nhận rằng những từ ngữ ông xử dụng thuần túy là “miệt vườn” 100%. Nó có thể dễ tự nhiên và thoải mái cho một nhà văn Lê Xuyên. Nhưng nó không thật dễ cho ông.

Điều thứ hai cũng lạ không kém. Ông không sài bừa bãi một từ ngữ nào mà cộng sản quen dùng. Nhưng nét độc đáo của ông chửi Việt Cộng là có bề thế, bài bản và và sâu sắc như trong truyện:

“Bới rác”. Câu chuyện kể một ông già có công với Cách Mạng, sau đó bị cách mạng cướp hết tài sản nên phát điên, ngày lang thang ngoài đường bới rác. “Tao bới rác để kiếm mấy thằng Việt Cộng nuôi trong nhà.”

Đúng là “qua” nói ít, mà hiểu nhiều.

Trong truyện Bà Năm bán cháo lòng: Bà mang thằng con ra chửi đổng mà như thể cứ chửi cả nước. Truyện Chiếc khăn mùi xoa là một chuyện tình cảm động và đầy nước mắt, tình nghĩa của những người sống lưu vong nơi xứ người: Nhớ lại “Con Huê” lúc còn nhỏ thương anh Cương. Sau 1975, Cương vượt biên rồi định cư ở Pháp. Trước khi chết, Cương dặn con gái:

“Con ráng tìm cách về Nhơn Hòa, Cầu Cỏ, trao cái này cho cô Hai Huê, nói ba không quên ai hết’. ‘Cái này’ là một bao thư, trong đó có chiếc khăn mùi xoa cô Huê đã tặng Cương thời trẻ. (…)

Cô Hai Huê ngất xỉu khi nghe tin người bạn xưa nay đã chết bên trời Tây.”

Tiểu Tử, ‘Chiếc Khăn Mùi Xoa’ 

2006

Truyện này tình tiết gay go và phức tạp hơn nhiều mà bạn đọc cần phải đọc.

Chung cuộc, tôi nghĩ rằng mình bất lực vì không diễn tả nổi cái “cái hay cốt lõi” của một nhà văn. Cho nên, cách tốt nhất vẫn là khuyên người đọc tự tìm lấy mà đọc. Chính mỗi người phải tự mình chạm vào tác phẩm.

Đọc Tiểu Tử cũng vậy. Không thể diễn tả cũng không thể bắt chước được. Cũng khó mà tóm lược nói thay cho ông được. Vì thế, chỉ xin nhớ cho rằng nhà văn Tiểu Tử mà tôi vinh danh gọi là: Người tiếp lửa và giữ hồn của miền Nam. Ông làm công việc đó một cách trọn vẹn.

Nhà văn Tiểu Tử nay cũng đã lớn tuổi, một ngày nào đó, ông sẽ để lại một cái “ghế trống” (chữ của Nguyễn Xuân Hoàng) trong văn học cần có người “tiếp lửa”, ngồi vào cái ghế trống ấy.

Rồi ai sẽ là những người tiếp lửa thế chỗ ông?

Trong cái tinh thần ấy, tôi nghĩ đến những nhà văn cũng trong dòng chảy văn chương đó như những con suối nhỏ róc ráy chảy để cuối cùng chảy vào dòng sông lớn. Mỗi người họ là một vóc dáng, mỗi người họ là một tên tuổi chảy vào dòng chung ra biển lớn. Họ có thể là những người như: Nguyễn Đặng Mừng đã có nhiều truyện đăng trên Tân Văn, truyện ngắn đầu tiên trên Tân Văn, Về làng. Cũng có thể làPhạm Tín An Ninh, Nguyễn Vĩnh Long Hồ, Nguyễn Bửu Thoại với truyện, Đôi mắt Người bị xử bắn trong rặng Bình Bát. Tôi rất xúc động khi đọc truyện này và đã đôi lần tôi muốn giới thiệu, nhưng chưa thực hiện được.

Ở ngay Montréal, nơi tôi ngụ cư đà trên 40 năm, có nhà văn Tiểu Thu. Một phong thái viết phảng phất “văn chương miệt vườn”, “sư tỷ hay sư muội” của nhà văn Hồ Trường An, em ruột nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ.

Cuối cùng, trẻ hơn nữa, xông xáo hơn nữa, tôi muốn dành một vài dòng cuối cho một người trẻ tuổi tên thật: Hoàng Thị Ngọc Thúy, bút hiệu Hoàng Quân, hiện định cư ở Đức cùng gia đình và anh chị em. Đi đó đi đây rất nhiều, trải nghiệm không thiếu. Tốt nghiệp Đại học ở Đức ‒ Đại học J.W Goethe, Frankfurt thành chuyên viên trong ngành học tài chánh nên có dịp đi hội họp và công tác trên 30 Quốc Gia. Được biết tác giả có bốn tác phẩm đã xuất bản, tuyển tập với nhiều truyện ngắn. Hoàng Quân: Bông Hoa trên Phím, 2015; Nhớ Tiếng À Ơi, 2016; Đứng Ngẩn Trông Vời, 2018; Sợi Vắn Sợi dài, 2021.Bắt đầu lên đường như thế cũng báo hiệu một thành tựu vững chãi hơn sau này. Các tác phẩm của Hoàng Quân đều điểm xuyến bằng khá nhiều các bức tranh của người chị lớn Hoàng Thanh Tâm làm cho cuốn truyện có mầu mát mắt. Nay đã có nhận định của Luân Hoán và người viết phiếm luận Song Thao cũng ở Montréal. Tôi cũng có tình cờ đọc trên Thế Kỷ 21, thấy tác giả trẻ này “viết ngon” tính hỏi thăm gốc gác của tác giả. Nghĩ rồi lại thôi sợ hiểu lầm là tò mò.

Ý muốn “nhận định” về 4 tác phẩm này cũng có. Nhưng thấy thật sự không dễ tý nào. Tác giả viết phóng khoáng, thi tứ quá, ẩn ý tế nhị khó mà bắt kịp. Tôi mới kịp nhận ra rằng cầm bút vốn là cay cực, lầm than mà đọc xem ra cũng không dễ dàng gì. Mong là tác giả vẫn giữ cái hồn nhiên tự tại như thế trong truyện cũng như cuộc đời.

© 2023 DCVOnline

Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”

Nguồn: Bài tác giả gởi. DCVOnline hiệu đính, trình bày và phụ chú.

Đọc thêm: Tiểu Tử, Bài ca vọng cổ, DCVOnline, DECEMBER 28, 2015
Tiểu Tử, Chiếc khăn mu-soa, Hội Ái Hữu Petrus Trương Vĩnh Ký Úc Châu

1 Phơi-ơ-tông (phát âm tiếng Việt của chữ ‘feuilleton’ của tiếng Pháp) ban đầu là một loại phụ trang gắn liền với phần chính trị của những tờ báo Pháp, phần lớn gồm tin tức phi chính trị và tin đồn, văn học, và phê bình nghệ thuật, biên niên sử về thời trang mới nhất, và các biểu tượng, trò đố chữ và những chuyện vặt vãnh văn chương khác. Thuật ngữ Phơi-ơ-tông do những biên tập viên của Journal des débats, Julien Louis Geoffroy và Bertin the Elder, phát minh năm 1800. Feuilleton đã được mô tả là “câu chuyện của thị trấn”, ví dụ đương đại là mục “Talk of the Town” của The New Yorker. Trong báo tiếng Anh, thuật ngữ này dùng để chỉ một phần của một câu chuyện nhiều kỳ (‘serial’) đăng trên một phần của tờ báo.

2 Phi Châu, từ 1979 đến 1982.

3 Trước 1975, Tiểu Tử giữ mục biếm văn “Trò Ðời” của nhựt báo Tiến. Tập truyện “Những Mảnh Vụn” (Làng Văn Toronto xuất bản) là tập truyện đầu tay.

4 Tốt nghiệp Kỹ sư, Marseille năm 1955

33 truyện ngắn của Tiểu Tử dưới đây:
(xin bấm vào links)

33. Tấm vạc giường

  From: TU-PHUNG

Thử gọi đúng tên đảng cộng sản ở Hà nội – Nguyễn thị Cỏ May

Nguyễn thị Cỏ May

Nhơn ngày 3/2 kỷ niệm 93 năm tuổi đảng cộng sản ở Hà nội, để gọi đúng  tên cái đảng đang cai trị nước Việt nam là thứ đảng gì, về bản chất, và cả về hành động, Cỏ May tôi xin nhắc lại một giai thoại trong truyện «Xe lên, xe xuống» (Nguyễn Bình Phương, Diển Đàn Thế kỷ, Huê kỳ xuất bản tháng 12-2011) : « Có lần Trùm thổ phỉ Chu Chồ Sền bảo với Chu Văn Tấn Chúng mày vì nghèo khổ mà đi làm cách mạng. Chúng tao vì nghèo khổ mà đi ăn cướp. Thế là chúng mình giống nhau”.

Tướng Chu văn Tấn trả lời bảo không giống nhưng không nói tại sao không giống. Và không giống ở điểm nào ?

Có lẽ trong lúc đó, Tướng Chu văn Tấn nghĩ «Chúng nó nghèo mà đi ăn cướp. Còn mình, thiệt tình cũng đói, mà đi làm cộng sản. Nhưng chúng nó đi ăn cướp vì nghèo là chúng nó nói thiệt. Chúng nó nói thật lòng. Còn mình cũng đi ăn cướp nhưng lại nói đi làm cách mạng, thì làm sao mà gióng nhau với chúng nó được?».

Vậy đảng cộng sản ngày nay ở Việt nam, về bản chất, về thiên chức, đúng là đảng ăn cướp ! Nhưng nó bắt đầu từ lúc nào ? Ai là đảng trưởng sáng lập ?

Lê-nin, đảng trưởng sáng lập

Truyền thống của cộng sản, từ ngày gọi là Cách mạng Tháng 10 ỏ Nga, là cướp chánh quyền, không hề và ở đâu, do toàn dân tín nhiệm đưa lên nắm chánh quyền hết cả. Và người cướp chánh quyền đầu tiên để mở ra thời đại cộng sản gieo tai ương, tang tóc cho nhơn loại, là Lê-nin ở Mạc-tư-khoa (Moscou).

Lúc bấy giờ, Lê-nin tính toán đã có cách mạng Pháp, cách mạng Đức, thì nay phải là cách mạng Nga. Cách mạng Nga sẽ triệt để hơn hết. Nhưng ông phải có lý thuyết. Tchenychevski là người đầu tiên đem chủ nghĩa cộng sản vào Nga qua cuốn tiểu thuyết « Làm gì ? » (1864) mà Lê-nin mê say và sau này, ông lấy nguyên tựa sách làm tựa cho tập sách của ông, cũng « Làm gì ? ».

Tiếp theo, Lê-nin bắt được quyển «Gìáo lý của người cách mạng» (1871) của Serge Netchaïev. Ông đắm mình trong quyển thánh kinh của người làm cách mạng nhà nghề giúp ông nhuần nhuyễn những nguyên tắc căn bản như người làm cách mạng là phải «sẳn sàng giết và chết» và «những người lãnh đạo cách mạng nga phải là những tướng cướp ».

Lê-nin và Staline là hai người kế tiếp nhau lãnh đạo nước Nga đều được đào tạo bởi tư tưởng của Tchemychevski và Netchaìev. Lê-nin là người suy nghĩ ra những phương pháp thiết lập một chế độ độc tài toàn trị. Ông là người lập thuyết của chế độ cộng sản nga còn Staline vốn xuất thân trong giới lục lâm, nhờ có thành tích thổ phỉ, được Lê-nin tuyển chọn. Staline thực thi lý thuyết cai trị của Lê-nin. Và hai người trở thành một cặp «Lê-nin-Staline » lập ra chế độ cộng sản đầu tìên và lần lược cộng sản hóa gần phân nửa thế giới.

Tìến hành cướp chánh quyền dân chủ xã hội của chánh phủ Alexandre Kerensky, Lê-nin quả quyết « giai cấp tư sản chấm dứt chu kỳ của nó, bây giờ phải là lúc giai cấp vô sản bắt đầu. Cũng rất hợp lý ». Bắt được Karl Marx, Engels, Lê-nin nhin thấy viển ảnh thế giới theo bước đi của Marx phát họa bằng óc tưởng tượng phong phú của ông, một người chưa từng tiếp cận thực tế. Theo đó, khi giai cấp vô sản tìến lên thay thế giai cấp tư sản thì không có gì hơn phải làm là tiến hành giai cấp đấu tranh. Lý thuyết này đã làm mê hoặc Lê-nin vì nó đáp ứng hoàn toàn bộ óc tôn thờ lý luận của ông. Nhưng thực hiện đấu tranh giai cấp, để lực lượng dân chủ còn xót lại không phá hỏng được, thì cách mạng phải có chánh nghĩa. Vậy Lê-nin phải trở lại với Marx, học lý thuyết, tuy không đạo đức, nhưng nó lại rất «khoa học», nó sẽ giúp bảo vệ tính chính thống cách mạng bằng cách «thanh toán trước nhứt tất cả lực lượng chống đối, sau đó, tới những người cùng làm cách mạng nhưng có thể sẽ là đối thủ bất lợi, với tội danh phản cách mạng».

Nhưng «Cách mạng tháng 10» thật sự có phải là cách mạng hay không?

Theo sử gia pháp chuyên về cộng sản, ông Stéphane Courtois, (Le livre noir du communisme, Robert Laffont, Paris, 1997- Sách đen của cộng sản), thì đó thật sự hoàn toàn không phải là «cách mạng» đúng nghĩa của nó hoặc cuộc nổi dậy của « quần chúng », như người cộng sản rêu rao. « Cách mạng tháng 10 » chỉ là một vụ « binh biến » do lối ngàn quân nhơn nổi loạn và Hồng vệ binh chống lại chánh quyền dân chủ lâm thời đang trên đà suy thoái, gây tổn thất không tới năm người thiệt mạng ỏ Pétrograd. Lại cũng không thể nói đó là một cuộc đảo chánh.

Và đây là vụ biến động thứ ba. Vụ thứ nhứt xảy ra ngày 15/3 dẩn đền nhà vua thoái vị, có thể gọi là cách mạng. Vụ thứ hai nghiêm trọng hơn, đưa quân đội đánh Đức, thất bại, làm cho hằng ngàn binh sĩ đào ngũ với cả võ khí Vụ thứ ba phức tạp hơn nên bị lợi dụng. Alexandre Kerenski, lãnh đạo chánh phủ lâm thời, giải nhiệm Tướng Kornilov vì thấy Kornilov đang tính ổn định lại tình hình. Hạ Kornilov vì Kerenski bị ám ảnh bởi Napoléon của cách mạng pháp nên sợ sẽ phải đối đầu với Kornilov. Nhưng khi hạ được Tướng Kornilov, Kerenski đã vô tình tách rời chánh phủ khỏi quân đội. Thấy mình bổng ở thế cô đơn, ông vội ngã theo bolchevick tìm chỗ dựa. Nhiều đảng viên bolchevick vừa được ông mở cửa nhà tù thả ra, trang bị 40 000 khẩu súng và cả cho phép nhà in tái hoạt động. Ông không biết làm như vậy không khác gì mình đang dấn thân vào con đường tự sát.

Xã hội lâm vào tình trạng khủng hoảng, lương thực thiếu do vận chuyển bế tắc, cải cách nông nghiệp thất bại. Lợi dụng tình hình khủng hoảng, lực lượng bolchevick bắt đầu tấn công. Lê-nin ra lệnh chiếm mau các cơ cấu chánh quyền, tuy bolchevick hảy còn thiểu số. Thế là Quốc hội Lập hiến vừa mới bầu, nền dân xã hôi non nớt thành hình sau bảy thập niên quân chủ chuyên chế kết thúc, nhường chổ cho một chế độ mới, độc tài.

Nắm được chánh quyền, Lê-nin rất hài lòng «Thật không ngờ cướp chánh quyền còn dễ dàng hơn trở bàn tay!».

Và đây là bài học dạy Hồ Chí Minh làm cách mạng mùa Thu ở Hà nội năm 1945.

Thành tích ăn cướp của Staline, « con người không bao giờ sai lầm » của HCM

Staline tâm niệm «quá khứ phải giủ sạch trơn». Khi nắm quyền ở Điện Cảm-linh (Kremlin), điều làm Staline lo sợ hơn hết là quá khứ của mình sẽ bị khai quật. Hồ Chí Minh học kỷ sư phụ Staline ở điểm này.

Khi Đoàn Thanh niên cộng sản, năm 1938, đệ nạp cho Staline một tập suu tầm về đời tư của Staline, ông hét lên và bảo hảy đem đốt ngay. Mười năm sau, khi công bố tiểu sử chánh thức, Staline tự viết lại hai mươi năm tuổi trẻ của ông chỉ với vỏn vẹn bốn mươi hàng.

Thật vậy, về tuổi trẻ của ông lúc đương quyền, rất khó tìm được những điều có thể tin được. Như về cha mẹ, ngày sanh, thơ từ cá nhơn, học bạ, …Nhưng sau thời Liên-xô, người ta có được tài liệu về Staline khá nhiều. Có thể tham khảo được. Những thứ bị xếp là bí mật thì ngày nay đươc phơi bày. Nhà suu tầm người Anh Simon Sebag Montefiore đã đi khắp 9 nước và 23 thành phố của khối cựu Liên-xô để điều tra về Staline. Ông tới Géorgie nơi cậu bé Iossif Djougachvili ra đời ngày 6 / 12 / 1878 (không phải 1879 như chánh thức ghi – Hồ Chí Minh chọn ngày sanh là 19/5/1890 và giử suốt đời). Tại Tbilissi, Staline học ở chủng viện, say mê thơ, tới Bakou xứ Azerbaidjan, Staline làm việc cho nhà máy Rothschild vừa «tập sự làm Cách mạng». .

Trong những chuyến đi này, sử gia Montefiore thâu thập được khá nhiều thông tin chưa hề tiết lộ về Staline. Ông cũng có dịp gặp vài nhơn chứng của thời Staline, nay còn sống sót và minh mẩn như bà chị dâu của Staline 109 tuổi. Nhờ sự khám phá này mà Montefiore đã phát họa được một Staline thời trẻ đầy đủ nhứt cho tới nay.

Con của một thợ giày say rượu (giống cha của Hồ Chí Minh), với biệt danh thông dụng là «Besso khùng», cho tới năm 1917, tên Sosso trở thành Staline. Bị đuổi khỏi chủng viện vì mê những chuyện tình dục, nhưng trong tiểu sử chánh thức, bị đuổi học vì tuyên truyền cách mạng (giống Nguyễn Sinh Sắc say ruọu và hun ác), Staline đi làm cho Đài Khí tượng của Tdilissi. Nhưng việc đi làm chỉ là bề ngoài để che dấu một con người thiệt vốn là một «trùm mafia». Chuyên môn của Staline là trấn lột, tống tiền, hàng nháy, bắt cóc. Ông có tay phụ tá đắc lực là Kamo luôn luôn sẳn sáng chém giết theo lệnh Staline. Mỗi lần bị tù hay bị đày qua Sibérie, Staline đều vượt ngục, nhờ cộng tác với mật vụ của Nga hoàng. Và cũng nhờ có hơn bốn mươi tên khác nhau, và nhứt là tài cải trang, giả làm phụ nữ mặc áo dài, đội tóc giả (HCM bịt râu, hóa trang, đi dự khán vụ hành quyết bà Năm, va ông cũng có hơn 200 tên khác nhau).

Tài ba đó đã không tránh khỏi sự chú ý của Lê-nin. Năm 1905, Lê-nin gặp Staline lần đầu. Đảng cộng sản đang cần tiền và Lê–nin thấy ngay con người mà đảng đang cần, đúng là Staline.

Lê-nin kết nạp ngay Staline và cú ngoạn mục, nổi tiếng khắp thế giới lúc bấy giờ là vụ Staline đánh cườp ngân hàng Nhà nước ở Tbilissi tháng 6-1907, làm nhiều người thiệt mạng nhưng hốt được một vố lớn tương đương 3 triệu euros ngày nay. Đó là lúc Staline được 28 tuổi (Le Jeune STaline de Simon Sebag Montefiore. Traduit de l’anglais par Jean-François Sené. Calmann-Lévy, 506 p., bản dịch, Calmann-Lévy, Paris).

Hồ Chí Minh, đệ tử chơn truyền của Staline

Hồ Chí Minh học Lê-nin làm cách mạng cướp chánh quyền nhưng chỉ cướp chánh quyền ở Thủ tướng Trần Trọng Kim trong tình trạng thực dân bị Nhựt đảo chánh, Đồng Minh chưa tới, Pháp cũng chưa trở lại. Nên nhớ đây là sự thật của Việt nam lúc đó. Và Việt nam lúc đó đã hoàn toàn độc lập trên thực tế và cả trên pháp lý quốc tế và thống nhứt do Hoàng Đế Bảo Đại đã nhận chánh quyền từ tay Nhựt và tuyên bố « Việt-nam độc lập », hủy bỏ tất cả các Hiệp ước bất bình đẳng với Pháp.

Giờ đây, thử nhìn lại coi đảng cộng sản do Hồ Chí Minh thành lập có phải là đúng đảng ăn cướp không ?

Sau 30-04-1975, trong một buổi cán bộ đảng viên học tập nghị quyết cải tạo Miền nam, Đỗ Mười, Trưởng ban, chủ trì lớp học tập, giải nghĩa rỏ cho cán bộ «Cải tạo tư sản, thực chất là ta cướp đoạt tất cả của cải, tài sản cũa dân tư sản miền nam, … » (Lời Ai điếu, Lê Phú Khải, 2017). Nhưng « Cải cách ruộng đất ở Miền Bắc » từ năm 1953, cũng nhơn danh làm cách mạng, là vụ ăn cướp sạch tài sản của nông dân.

Từ sau đó cho tới nay, dân miền nam lần lượt bị đảng cướp sạch, trở thành dân oan, không nhà không cửa, không của cải, sống vật vờ, lang thang khắp nơi ngay trên quê hương của chính mình. Những vụ nổi cộm còn đang nóng hổi tính thời sự là vụ Thủ thiêm và vụ Lộc Hưng mà hai tên cướp không ai khác hơn là 2 tên đầu xỏ đảng, Lê Thanh Hải và Nguyễn Thiện Nhân. Rồi vụ Đồng Tâm, chương trình huy hoạch đất đai,. ..

Nhưng đây cũng chỉ là sự nghiệp liên tục của đảng mà một trường hợp điển hình năm 1930 đáng nhắc lại như một dẩn chứng đảng cộng sản của Hồ Chí Minh lập ra là để ăn cướp.

Ngày 9 tháng 11 năm 1930, Việt nam Cộng sản đảng, viết thư tống tiền một ông Phủ, đòi 5000 đồng để trao đổi với mạng sống của đứa con trai nạn nhơn do đảng bắt cóc để đòi chuộc tiền (Vy Thanh, Ho Chi Minh, a documentary study, California 7/2019, p.250-253)***.

Bộ mặt thật của đảng cộng sản đang cai trị Việt nam đúng là đảng ăn cướp. Không thể gọi cách gì khác hơn được. Và Hồ Chí Minh cũng như Lê-nin, Staline, là đảng trưởng sáng lập. Nhơn dân, ở đâu, thời nào, vẫn là nạn nhơn của thứ đảng cách mạng ăn cướp này. Nhưng ăn cướp nghiêm trọng hơn hết, cũng  như Lê-nin, là Hồ Chí Minh ăn cướp sự thật lịch sử. Toàn dân việt nam tham gia kháng  chiến đánh thực dân pháp là để giành độc lập cho Việt nam chớ không phải để theo cộng sản. Sau năm 1954, Hồ Chí Minh thiết lập chế độ cộng sản là ăn cướp lòng yêu nước tinh ròng của nhơn dân. Dưới chế độ của Hồ Chí Minh cho tới ngày nay, người dân bị đảng cộng sản ăn cướp quyền sống của toàn dân. Cụ thể là quyền làm một con người.

Giải pháp sòng phẳng cho Việt nam ngày nay là trước hết đảng cộng sản trả lại cho toàn dân tài sản của họ là  nền độc lập dân tộc chính do họ giành được bằng  xương  máu của họ. Xong, đảng cộng sản hảy trở về với vị trí thiệt của mình là đảng ăn cướp.

Có như vậy đảng cộng sản ở Hà nội mới khả dĩ phục hồi lại danh dự của mình để được xếp ngang hàng xứng đáng với đảng của Chu Chồ Sển !

Nguyễn thị Cỏ May

(3/2/2023)

Trầm cảm, dìm chết 2 con trên sông, bà ở Nam Định bị bắt

Báo Nguoi-viet

March 9, 2023

NAM ĐỊNH, Việt Nam (NV) – Bà VTN, 32 tuổi, ở huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định, vừa bị bắt với cáo buộc dìm chết hai con gái ruột 1 và 5 tuổi của mình xuống sông Ninh Cơ.

Theo báo Thanh Niên hôm 8 Tháng Ba, các nhân chứng sống gần khúc sông Ninh Cơ đoạn qua huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định, cho biết khi phát giác sự việc, họ chạy đến đưa hai nạn nhân vào cấp cứu tại trạm y tế xã Nghĩa Sơn gần đó, nhưng hai cháu bé đã chết.

Sự việc xảy ra tại khúc sông Ninh Cơ đoạn qua huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định. (Hình: Người Lao Động)

Ông Trần Ánh Dương, chủ tịch xã Nghĩa Sơn, được dẫn lời: “Bà N. từng là giáo viên dạy tiểu học, nghỉ dạy từ cuối năm 2022, có chồng làm ở công ty viễn thông. Tôi hỏi ‘tại sao lại dìm chết con?’ Bà ấy nói sợ sau này chúng lớn lên sẽ dễ mắc các tệ nạn xã hội.”

Công An tỉnh Nam Định đang điều tra vụ án.

Liên quan vụ việc, báo Kinh Tế và Đô Thị dẫn lời gia đình của bà N. cho biết, bà này “có dấu hiệu trầm cảm” nên đã xin nghỉ việc.

Bản tin cũng dẫn bình luận của Luật Sư Nguyễn Anh Thơm: “Trường hợp kết quả giám định xác định, người mẹ [bà VTN] bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi trước, trong và sau khi phạm tội thì cơ quan điều tra sẽ đình chỉ vụ án. Người mẹ sẽ phải bị áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.”

Trước vụ này, cứ vài tháng, các báo ở Việt Nam lại ghi nhận một vụ cha, mẹ trầm cảm giết hoặc tự sát cùng con ruột.

Báo Dân Việt hôm 4 Tháng Ba cho hay, bị cáo Nguyễn Văn Mạnh, 36 tuổi, ở tỉnh Thái Bình, vừa bị kết án tám năm tù, do bị cáo buộc dùng dao cứa cổ hai con ruột hồi đầu năm ngoái.

Theo cáo trạng vụ án, hôm 21 Tháng Giêng, 2022, tại nhà trọ, do nghĩ vợ coi thường mình và do vay mượn tiền của nhiều người nhưng việc kinh doanh không thuận lợi, nên bị cáo Mạnh nảy sinh ý định tự sát và giết chết hai đứa con 4 và 5 tuổi.

Sông Ninh Cơ. (Hình: Kinh Tế và Đô Thị)

Bị cáo Mạnh dùng con dao cứa vào cổ hai đứa con. May mắn là những người xung quanh phát giác và đưa hai cháu bé đi cấp cứu kịp thời.

Kết quả giám định hai con của bị cáo Mạnh bị thương với tỉ lệ 2 và 4%, không bị nguy hiểm đến tính mạng.

Trong vụ này, bị cáo Mạnh cũng dùng dao tự cứa vào cổ mình nhưng được đưa đi băng bó vết thương.

Kết luận giám định ghi nhận vào thời điểm cứa cổ con mình, bị cáo Nguyễn Văn Mạnh “đang bị bệnh trầm cảm vừa, hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.” (N.H.K) 

Ukraine tuyên bố trận chiến Bakhmut là ‘cú đánh cuối cùng’ của Wagner

Báo Tiếng Dân

New York Times

Cù Tuấn, dịch

9-3-2023

Binh sĩ đơn vị súng cối Lữ đoàn 3 bắn vào quân Nga để hỗ trợ bộ binh Ukraine gần Bakhmut, hôm thứ Ba. Ảnh trên mạng

Tóm tắt: Người Ukraine cho rằng nhóm lính đánh thuê Wagner của Nga đã dùng gần hết các chiến binh được tuyển mộ từ các nhà tù để tấn công vào Bakhmut, nơi quân Ukraine cũng chịu tổn thất nặng nề.

KYIV, Ukraine – Nhóm lính đánh thuê Wagner của Nga đã buộc phải sử dụng nhiều tân binh chuyên nghiệp hơn ở Bakhmut để thay thế nguồn cung cấp tù binh giờ đã cạn kiệt. Đã có hàng nghìn người lính Wagner cựu tù ngã xuống trong trận chiến dài nhất của cuộc chiến, một quan chức Ukraine cho biết hôm thứ Ba.

Tuyên bố này cho thấy bất chấp thương vong nặng nề mà Ukraine phải gánh chịu ở thành phố phía đông, họ đang có khả năng hạn chế các cuộc tấn công tù nhân gần như tự sát của Wagner, chiến thuật mà các chỉ huy của Ukraine coi là một trong những chiến thuật hiệu quả nhất của Nga.

“Đây là đòn cuối cùng của họ”, Đại tá Serhiy Cherevaty, phát ngôn viên của nhóm lực lượng phía đông Ukraine, nói với Radio Liberty trong một cuộc phỏng vấn, đề cập đến lực lượng của Wagner ở Bakhmut, nơi cuộc giao tranh ác liệt kéo dài hàng tháng của Nga và Ukraine đã khiến hàng nghìn binh sĩ thiệt mạng và thành phố bị chôn trong đống đổ nát.

Các quan chức Ukraine đã tuyên bố rằng gần 30.000 trong số 50.000 quân của Wagner đã đào ngũ hoặc bị giết hoặc bị thương, đa số ở xung quanh Bakhmut. Các con số trên không thể được xác minh độc lập và Ukraine đã không tiết lộ tổn thất của chính mình trong khu vực này. Bộ trưởng Quốc phòng Nga, Sergei Shoigu, hôm thứ Ba tuyên bố rằng Ukraine đã mất hơn 11.000 quân trong tháng Hai.

Khi cuộc chiến giành Bakhmut dường như đang bước vào giai đoạn quyết định, cả hai bên đang cố gắng biện minh cho những tổn thất kinh hoàng của họ tại một thành phố nhỏ không có giá trị chiến lược bao nhiêu, bằng cách nói rằng việc này là có lợi cho chính nghĩa của họ. Về cơ bản, Ukraine và Nga đưa ra cùng một tuyên bố, rằng cuộc giao tranh ở đó xứng đáng với cái giá khủng khiếp phải trả, vì nó làm suy yếu kẻ thù.

Người sáng lập Wagner, Yegveny V. Prigozhin, đã nhiều lần nói rằng tỷ lệ thương vong hàng ngày ở mức ba con số của nhóm của ông đang thu hút các đơn vị Ukraine dày dặn kinh nghiệm vào cái mà ông gọi là “máy xay thịt Bakhmut”, làm đảo lộn các kế hoạch tấn công của Ukraine ở những nơi khác.

Tổng thống Volodymyr Zelensky cho biết hôm thứ Hai 6/3 rằng thay vì rút khỏi thành phố, như đã được đồn đại, Ukraine sẽ gửi quân tiếp viện vào Bakhmut, nơi các chỉ huy Ukraine nói rằng cuộc giao tranh đã hạn chế lực lượng khổng lồ của Nga.

Ý nghĩa chiến lược thực sự của trận chiến rất có thể sẽ được những người chiến thắng viết lại.

Những người lính đánh thuê của Wagner đã giúp Nga tiến bộ đáng kể trong việc bao vây Bakhmut, chủ yếu bằng cách tung hết lần này đến lần khác các cựu tù nhân về các vị trí phòng thủ của Ukraine, khiến lực lượng của Kyiv phải trả giá đắt. “Hầu như tất cả các cựu tù này đã bị giết” ở Bakhmut, Đại tá Cherevaty nói về các đơn vị tù binh.

Một số nhà phân tích cho rằng nếu Ukraine có thể tiêu diệt hết lực lượng lính cựu tù của Nga ở Bakhmut, họ sẽ không phải đối mặt với làn sóng tấn công của họ ở những nơi khác. Viện Nghiên cứu Chiến tranh, một nhóm nghiên cứu ở Washington, cho biết trong một thông cáo tuần này rằng số lượng “tù binh Nga phù hợp với chiến đấu không phải là vô hạn”. Nhóm này lặp lại đánh giá của Ukraine, rằng các đơn vị Wagner đang chuyển hướng sang các lực lượng đặc biệt chất lượng cao hơn do các tân binh cựu tù đã phải chịu tổn thất cao.

Hôm thứ Hai, chính ông Prigozhin đã gióng lên hồi chuông cảnh báo, kêu gọi thêm quân tiếp viện khẩn cấp và đạn dược để chống lại một cuộc phản công tiềm tàng của Ukraine, mà ông cho rằng không chỉ có thể giải vây cho quân phòng thủ bị bao vây của Bakhmut mà thậm chí còn cắt đứt những đơn vị quân đang tấn công lính Wagner. “Nếu không, tất cả chúng ta đều gặp rắc rối”, Prigozhin nói, sử dụng một lời tục tĩu trong một tin nhắn âm thanh được đăng trên mạng xã hội.

Ông Prigozhin đã gợi ý rằng mối thù công khai ngày càng tăng của ông với Bộ Quốc phòng Nga vào tháng trước đã khiến ông không được vào các nhà tù của Nga để tuyển quân nữa. Trước đó kể từ tháng 7, ông đã có thể chiêu mộ hàng chục nghìn tù nhân với lời hứa về mức lương cao, khả năng hòa nhập xã hội và tự do – nếu họ sống sót sau khi được đưa đến tiền tuyến. Prigozhin đã gọi việc không cho Wagner tuyển dụng tù nhân là một nỗ lực nhằm “làm suy kiệt” Wagner, giảm “tiềm năng tấn công” của nhóm.

Các quan chức tình báo Hoa Kỳ vào tháng 12 ước tính rằng Wagner bao gồm khoảng 10.000 quân nhân chuyên nghiệp, hầu hết được tuyển mộ từ các cựu chiến binh của lực lượng an ninh Nga và 40.000 cựu tù nhân. Những người đào ngũ khỏi Wagner và các nhà hoạt động cho quyền của tù nhân Nga nói rằng các tù nhân bị ném vào trận chiến chỉ sau hai tuần huấn luyện. Họ chủ yếu được sử dụng để tấn công các vị trí của Ukraine trong các nhóm nhỏ, không được bảo vệ, nhằm phát hiện vị trí hỏa lực của kẻ thù và đào các hố cá nhân cho đợt tấn công tiếp theo .

Các nhà lãnh đạo của Wagner coi các đơn vị quân cựu tù là những dạng quân tiêu hao, với hầu hết các thành viên bị giết vài ngày hoặc thậm chí vài giờ sau khi đến mặt trận, theo những người đào ngũ khỏi Wagner, các nhà hoạt động vì quyền của tù nhân Nga cũng như các quan chức và chỉ huy quân sự Ukraine.

Tuy nhiên, một tù nhân được Wagner tuyển dụng đã trở về nhà trong tháng này sau khi thực hiện hợp đồng sáu tháng với Wagner, bao gồm cả xung quanh Bakhmut, đã mô tả cơ hội sống sót của mình giống như tung đồng xu, gợi ý rằng các chỉ huy khác nhau của Wagner đã sử dụng các chiến thuật tấn công khác nhau. Người lính này cho biết trong số khoảng 170 tù nhân nhập ngũ từ trại tù hình sự ở vùng Ivanov của Nga vào mùa thu năm ngoái, khoảng 80 người đã trở về nhà mà không bị thương nặng.

Người lính, không được xác định danh tính vì sợ bị trả thù, nói với bạn bè rằng anh ta dự định quay trở lại mặt trận để làm việc cho Wagner, với lý do có được mức lương tương đối cao mà Wagner trả và triển vọng làm việc hạn chế cho các cựu tù nhân khi trở về quê.

Mặc dù Wagner mất khả năng tuyển mộ trong các nhà tù, các đơn vị bao gồm các cựu tù gần như chắc chắn sẽ tiếp tục xuất hiện trong cuộc chiến. Ông Prigozhin và các nhà hoạt động nhân quyền Nga cho biết quân đội Nga gần đây đã bắt đầu tuyển mộ tù nhân.

Các nhà tù Nga vẫn có hơn 400.000 tù nhân vào đầu năm, theo trang web của cơ quan này, cho thấy một lượng lớn tân binh tiềm năng.

Đối với Wagner, ông Prigozhin đã cố gắng thay thế việc mất quyền tiếp cận nhà tù bằng việc nỗ lực gấp đôi để thu hút các chiến binh chuyên nghiệp. Những lời kêu gọi tuyển dụng của Wagner trong những tuần gần đây đã xuất hiện trên các bảng quảng cáo, phương tiện truyền thông xã hội và thậm chí trên các chương trình truyền hình nhà nước vào khung giờ vàng.

Ngoài ra, các tài khoản mạng xã hội liên kết với Wagner đã tăng cường tuyên truyền miêu tả lực lượng lính đánh thuê là điểm đến ưa thích của những người yêu nước Nga.

Trong một video được đăng trên các kênh truyền thông xã hội vào tuần trước, tám người đàn ông được trang bị vũ khí hạng nặng tự xưng đến từ một đơn vị quân đội Nga đã xuất ngũ kêu gọi ông Prigozhin chấp nhận họ vào hàng ngũ của mình. Đoạn video không thể được xác minh độc lập, nhưng vài giờ sau, ông Prigozhin đã công bố thông điệp bằng âm thanh, nói là đã chấp nhận những người này.

Ông nói: “Khi mọi người muốn chiến đấu chứ không phải ngồi không quanh các trường bắn hoặc căn cứ, thì chúng ta cần phải làm nó thôi”.

Ông Prigozhin và các đồng minh của ông cho rằng nhiệm vụ chính của Wagner ở Bakhmut không phải là giành lãnh thổ, mà là tiêu diệt các đơn vị Ukraine dày dạn kinh nghiệm có thể đã chiến đấu ở các khu vực khác của chiến tuyến dài 600 dặm giữa hai bên.

“Quân Ukraine gửi tất cả các đơn vị sẵn sàng chiến đấu của họ tới Bakhmut”, ông Prigozhin cho biết vào cuối tháng Giêng.

Lấy ví dụ, một số blogger quân sự ủng hộ chiến tranh của Nga – một nhóm có ảnh hưởng đang theo dõi chặt chẽ cuộc chiến – cho biết sự gia tăng cường độ của trận chiến Bakhmut trùng với thời điểm kết thúc các cuộc tiến công của Ukraine ở khu vực Kreminna xa hơn về phía bắc, nơi lực lượng của Điện Kremlin dường như đã có mặt và giành lại thế chủ động trong những tuần gần đây. Một số nhà phân tích phương Tây cũng có quan điểm tương tự, nói rằng cuộc giao tranh ở Bakhmut đang bắt đầu làm hao mòn sức mạnh của Ukraine, trước khi Ukraine tổ chức một cuộc phản công theo dự kiến.

Chiến dịch đó có thể sẽ tập trung vào khu vực phía nam Zaporizhzhia, nơi Ukraine đang xây dựng lực lượng, Đại tá Roman Kostenko, một thành viên của Quốc hội Ukraine đang phục vụ trong quân đội nước này, nói với truyền hình Ukraine hôm thứ Hai 6/3.

Các nhà phân tích quân sự và quan chức Ukraine cho biết, Ukraine có thể cố gắng tiếp cận cảng Melitopol do Nga kiểm soát và chia rẽ quân Nga ở bán đảo Crimea với lực lượng ở miền đông Ukraine. “Hướng Zaporizhzhia cũng nguy hiểm như hướng đông”, Đại tá Kostenko nói, đề cập đến những nỗ lực song song của Nga nhằm kiểm soát khu vực.

Tại một khu vực khác ở miền nam Ukraine, chính quyền Ukraine hôm thứ Ba 7/3 kêu gọi người dân sơ tán vì bị lực lượng Nga pháo kích, trong một sự thừa nhận ngầm rằng những nỗ lực khôi phục cuộc sống bình thường cho khu vực này đã bị cản trở. Ukraine đã tái chiếm thành phố Kherson vào mùa thu năm ngoái, nhưng quân đội Nga vẫn ở bờ đông sông Dnipro, sẵn sàng pháo kích dân thường và quân đội Ukraine.

Các nhà phân tích cho biết thương vong nặng nề ở Bakhmut có thể cản trở việc Ukraine tổ chức một cuộc phản công tại đây hoặc những nơi khác, làm nảy sinh những vấn đề tương tự như những vấn đề mà các chỉ huy Nga cũng đang phải đối mặt.

Michael Kofman, một chuyên gia về quân đội Nga tại Trung tâm Phân tích Hải quân có trụ sở tại Washington, đã viết trên Twitter hôm Chủ nhật sau khi đến thăm khu vực Bakhmut, rằng việc Ukraine đã bảo vệ Bakhmut một cách kiên cường cũng đã làm tiêu tốn nhân lực và đạn dược của Nga.

Ông viết thêm: “Các chiến lược có thể đang đạt đến điểm lợi nhuận giảm dần. Cuộc chiến này không mang lại lợi ích cho Ukraine”.

CHẶNG THỨ 14: Đức Giêsu được chôn táng trong mộ

Chúc bình an đến bạn và gia đình! Xin Chúa luôn gìn giữ hồn xác bạn hôm nay và mãi mãi.

Cha Vương

Thứ 5: 09/03/2023

TIN MỪNG: Khi đã nhận thi hài [Chúa Giê-su], ông Giô-xếp lấy tấm vải gai sạch mà liệm, và đặt vào ngôi mộ mới, đã đục sẵn trong núi đá, dành cho ông. Ông lăn tảng đá to lấp cửa mồ, rồi ra về. (Mt 27:59-60)

SUY NIỆM: Đi đâu và bất cứ nơi nào bạn cũng thấy các nghĩa trang những ngôi mộ có hoặc không tên tuổi; đó là hậu quả của chiến tranh, xung đột, ẩu đả, chém giết, bệnh tật, tai nạn và thiên tai. Còn cái chết của Chúa Giê-su thì sao? Cái chết của Chúa Giê-su không phải vì tội của Ngài nhưng Ngài chấp nhận cái chết để đem đến cho nhân loại sự cứu rỗi. Đức Giáo Hoàng Benedict XVI tuyên bố rằng Thánh giá chắc chắn trở thành biểu tượng của sự cứu rỗi, biểu tượng của sự sống. Qua Thập giá, chúng ta được hưởng sự cứu rỗi. Thánh giá trở thành dấu chỉ chiến thắng của Con Người. Qua dấu chỉ này, Chúa Giêsu đã đến như một người chiến thắng và bây giờ Ngài dẫn đường chúng ta đến với Thiên Chúa hằng sống. Do đó, Thập giá trở thành một dấu chỉ của sự cứu rỗi và thông qua Thập giá, chúng ta hợp nhất với Người. Việc Chúa Giê-su đã “yêu đến cùng” góp phần thanh tẩy chúng ta như câu thánh kinh: “Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên” (Kh. 7:14). Thật vậy, vì chúng ta đã nên một với Đức Ki-tô nhờ được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại. (Rm 6:5)

XÉT MÌNH: Chết là hậu quả của tội lỗi, bởi vì mọi người đã phạm tội (x. Rm 5:12-21) Có bao giờ bạn làm cho người khác tai tiếng dẫn họ tới phạm tội không? Bạn có giận giữ hay phẫn uất, nuôi thù hận trong lòng với người khác, không tha thứ, từ chối tha thứ cho người khác, có âm mưu hay trả thù người chống đối bạn không? Có bao giờ bạn dính líu tới hay giết người, ước muốn cho người khác chết không? Có bao giờ bạn có ý định tự tử, hay trợ giúp người khác tự tử không? Có bao giờ bạn phá thai hay khuyến khích người khác bằng việc cổ võ hay buôn bán thuốc phá thai không? Bạn có cắt bỏ bộ phận thân thể nào để làm mất khả năng sinh sản không? Mời bạn bỏ ra đôi phút, trong thinh lặng hãy tự xét mình và xin ơn hoán cải trong lối nghĩ, trong cách cảm nhận, và trong hành động của mình.

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, vì tội lỗi của con mà Chúa đã phải chôn trong mồ huyệt nhưng Chúa đã biến nó thành ngôi mộ của tình yêu và sự sống; Chúa nói: Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. (Ga 12:24). Xin cho con biết chết cho chính mình, vâng theo thánh ý Chúa mỗi ngày và tin vào ơn cứu độ của tình yêu tự hiến để được sống muôn đời với Chúa. Amen.

Bạn thân mến, 14 ngày qua bạn đã cùng mình suy niệm những chặng đàng thánh giá và tự xét mình. Ước mong mỗi chặng là một tia sáng của Sự Thật soi vào lương tâm đang chết dần chết mòn vì tội. Trong Mùa Chay thánh này, mời bạn hãy dành thời gian đi xưng tội để đón nhận niềm vui đến từ ơn tha thứ của Chúa.

From: Đỗ Dzũng

         Kiếp Tro Bụi – Phương Anh ft Phương Ý 

 

   Trăm Nghìn Nhánh Khổ – Vũ Thế Thành

    Vũ Thế Thành

Sau 1975, tôi học được một điều, mà đến nay vẫn thấy chí lý. Đó là, người chiến thắng tuyệt đối đúng. Lịch sử thuộc về người chiến thắng. Chân lý cũng thuộc về người chiến thắng luôn. Đánh thắng cả 3 tên đế quốc đầu sỏ, sao lại không đúng?

Cái gì không có nội dung, mới cần tới hình thức là thế. Người chiến thắng tự hào là đúng rồi, nhưng tự hào cả những cái sai. Sai mà cứ tưởng mình đúng. Chuyện “tủ lạnh chạy đầy đường” chỉ là chuyện khôi hài, chuyện nhỏ. Cái “sai mà tưởng đúng” mới làm đất nước ra nông nỗi thế này, di lụy chẳng biết bao giờ mới hết.

Các quán nhậu vỉa hè dọc kênh Nhiêu Lộc dạo này nhiều người hát rong, cũng ampli, loa, micro không dây, nhạc đệm… Họ chỉ hát toàn nhạc xưa, nhạc sến, với điệu rumba, bolero nghe tưởng như đồng hồ đếm ngược.

Lần trước về Sàigòn, tôi đã ngồi quán vỉa hè, nghe những bài ca vỉa hè như thế… Lặng cả người, “…Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Đường phố vắng đêm nao quen một người, mà yêu thương trót trao nhau trọn lời…”.

Tôi chợt nhớ những ngày sau tháng tư 1975, đám bạn bỗng nhiên làm đám cưới chớp nhoáng, lấy vợ lấy chồng để “đối phó” với thời cuộc, rồi vội vã tìm đường vượt biên. Có đứa vượt qua biên giới, nhưng cũng có đứa về bên kia thế giới. Những người ở lại tưởng họ đã đến bến bờ thiên đường.

Bước lên tàu là ngàn khơi sóng vỗ, không phải là chuyến xe Sàigòn – Đà Lạt. Có khi Hà bá mời xuống chơi, có khi tủi nhục trên đường vượt biển, phần còn lại là may mắn. Mà có may mắn lọt vào xứ người cũng chưa hết.

Cô bạn tôi cao chưa quá thước rưỡi, với tay đưa khay bánh vào ngăn, trượt chân, u đầu sứt trán. Quên cả đau, vội vội vàng vàng lượm bánh xếp lại vào khay. Bà xếp Tây mắng, “Xứ này không ăn dơ như thế”.

Cũng có người đi làm nail, tiền tươi thóc thật, dồn hết cho con ăn học. Hy sinh đời bố, củng cố đời con, hiểu sát nghĩa đen là đây, là mồ hôi trộn nước mắt.

Tiền gửi về nhà, người thân trong nước tưởng đâu bên đó kiếm tiền dễ như ăn cơm sườn, xin thêm thứ này thứ nọ. Có biết đâu đó là tiền chắt chiu, có khi là tiền thí mạng, không mua bảo hiểm y tế.

Nhưng cũng có người kiên nhẫn vừa làm vừa học, thành danh nơi xứ người. Nhưng cho dù thế nào nơi xứ người, vẫn còn ít nhiều cơ hội, có chịu nắm hay không mà thôi. Trong nước thì coi như bế tắc.

Hồi đó, tôi dạy kèm thêm luyện thi đại học, dạy nhóm 5- 7 học sinh. Có em học xuất sắc, bài thi làm không chê vào đâu được. Vậy mà rớt. Em là con “ngụy”, thứ “ngụy” còn trong trại cải tạo, làm sao vào đại học nổi, em rớt ngay từ… bãi gửi xe.

Em đến báo tin, thầy trò ngồi uống cà phê vỉa hè, buồn ứa nước mắt. Đất nước này không dung những tiềm năng như em…

Số phận đời người chứ đâu phải trò chơi chính trị. Sao lại có thể xây dựng đất nước bởi những con người bằng thiệt học giả? Những năm sau 1975, đói khổ và ê chề thấy rõ. Giáo sư, bác sĩ, ông này bà nọ xuống đường ra chợ trời hết, người đạp xích lô, người bơm mực bút bi, bán bún riêu, buôn hàng lạc xon… Lanh hơn thì buôn hột xoàn đổi đô la…

Năm 1978, tôi gặp một phụ nữ ăn mặc lam lũ, nhưng đẹp, qúy phái, không quá 30, trên chuyến tàu chợ. Chị kéo lê 2 bao than ra gần cửa tàu, ngước mắt nhìn tôi, nói như năn nỉ: “Lát nữa gần đến ga Bình Triệu, anh làm ơn đạp dùm tôi 2 bao than này xuống”. Chị buôn lậu than, đến ga sẽ bị tịch thu. Đôi mắt chị buồn và nhẫn nhục quá, làm tôi nhớ đến đôi mắt của bà mẹ trong một tác phẩm của C. V. Gheorghiu. Cảnh sát bắt bà mẹ vào bót để tra hỏi nơi ẩn nấp của con bà. Gheorghiu đã mô tả đôi mắt của bà cũng buồn và nhẫn nhục như thế.

Có lần đi chơi khuya, tôi gặp Bùi Giáng ở ngã ba Trần Quang Diệu – Trương Minh Giảng, ăn mặc chắp vá màu mè như phường tuồng, cầm cây chổi cùn múa may, chặn đầu xe tôi lại, “Cho trẫm điếu thuốc”. Hoàng thượng đã chiếu cố xin thuốc dân đen, dân nào dám cãi. Tôi rút điếu thuốc và cung kính châm lửa cho hoàng thượng. Ngài rít một hơi rồi phẩy tay, “Cho lui…”. Lui rồi, ngoái cổ lại, thấy hoàng thượng tiếp tục múa chổi đi quyền.

Bùi Giáng đã có mầm mống bất thường từ trước rồi, sau 1975 nặng hơn, lang thang khắp chốn. Cái điên của Bùi Giáng thật hay giả, cũng khó biết. Mất trí như ông vậy mà hay, ý thức buồn vui làm chi cho khổ?

Mà Sài Gòn lúc đó sao lắm người điên thế! Cũng không phải điên, họ có phá phách gì ai đâu. Tôi thường gặp vài ông ăn mặc lịch sự lắm, áo sơ mi trong quần, có ông còn đeo cà vạt, đi đi lại lại ở khu Lê Công Kiều, nơi bán sách cũ. Vừa đi vừa khua tay, lảm nhảm rồi lại gật gù, nào là Marx, Hegel, Mounier, Sartre…

Người bạn tôi qua được tới bến bờ, vừa làm vừa học, gửi về cho tôi thùng quà chừng 1,5 kg kèm bức thư ngắn: “Gửi mày mấy hộp thuốc tây, bán đi mà lai rai. Còn lọ nhỏ để uống, đừng bán. Thuốc an thần đó”. Tâm thần phải chăng là lối thoát của con người với thực tại quá phũ phàng?

Ngẫm lại, một nhà chính trị tài giỏi là người có thể đưa đất nước tới mục tiêu mà ít đổ máu nhất, chứ đâu cần phải đốt cả dãy Trường Sơn, đánh tới người cuối cùng. Mạng người quá bèo. Bèo thì cũng đành, nhưng hệ lụy cho người còn sống, cha mẹ vợ con họ mới là nỗi đau gặm nhấm cả đời.

Cả đất nước sống bằng khẩu hiệu, đất nước ta dân chủ gấp vạn lần… Nghe riết rồi quen, nghe tai này lọt tai kia cũng quen luôn. Không quen lỡ có ngày phát điên thì sao?

Người lẽ ra phải điên mà không chịu điên, đó là mấy bà. Cầm có tí tẹo tiền, xách giỏ đi chợ, loanh quanh đầu chợ cuối chợ cả tiếng đồng hồ, có khi chẳng mua được thứ gì.

Mà có tiền đi chợ là còn may, có người chỉ khoai sắn, rau lang, bí đỏ… quanh năm. Ăn để sống sót thì thứ gì chẳng nhét vô bụng được. Bột ngọt khi đó là thần thánh.

Mấy ông “tù cải tạo” coi vậy chứ chỉ khổ cái thân, chứ cái đầu chưa đến nỗi. Có biết bên ngoài thế nào đâu mà khổ, mà lo.

Vợ một bác sĩ quân y đi thăm nuôi, dúi vào tay chồng ít tiền. Thăm nuôi lần sau, thấy tiền vẫn còn nguyên, ông chồng không dám xài. Bà than, “Tội nghiệp cho cả gia đình tôi! Ở ngoài vợ con nhịn đói để nuôi tù, ở trong nhịn đói vì không nỡ nuốt cái đói khát của vợ con”. Não lòng đến thế là cùng! Nước mắt nuốt ngược thế này, chỉ bị nghẹn mà không phát điên, bà này chắc có căn phần phúc đức.

Nghe nói mấy ông “ngụy cải tạo” định lập ra ngày vinh danh mấy bà vợ. Không đủ đâu mấy ông. Mấy bà này chắc phải phong… Thánh.       (quá hay )

Tháng tư năm nay, Sàigòn nóng khủng khiếp. Sàigòn không mưa nhưng Đà Lạt mưa. Những ngày cuối tháng tư năm nào Đà Lạt cũng mưa, mưa mù mịt che khuất cả đồi thông ở Couvent des Oiseaux đối diện nhà, nhưng mưa chỉ vào lúc trưa chiều, tối tạnh.

Đà Lạt 8 giờ tối đã như 12 giờ khuya ở Sài Gòn. Tôi vẫn thích đi bộ mỗi khi có chút hơi men thế này. Con đường dốc về nhà như kéo theo mệt mỏi của đời người. Tựa lưng vào cửa nhà, hoa lá trong vườn yên tĩnh như đêm.

Dưới ánh đèn đường rọi qua hàng rào, bóng của lá cây ngọc lan chập chờn trên mặt sân. Cuối tháng tư rồi. Người ta sẽ đốt pháo hoa ở Sàigòn để ăn mừng. Ai vui xin cứ vui. Nhưng còn chút tâm tình này của kẻ buồn, không nói cho thế hệ sau biết những buồn bã sau 1975 là như thế đó, lòng dạ nào yên?

Năm 1975 là ngã rẽ của đời người. Bạn bè, người thành danh, đứa bầm dập, và cho dù có ở phương trời nào, tây hay ta, nỗi khổ vẫn theo số mệnh mà đến. Giờ đây, đứa nào cũng chạm tay vào buổi hoàng hôn cuộc đời rồi?

Tháng tư, tôi thắp ngọn nến trong lòng. Thoảng trong mùi hương ngọc lan, tôi hát theo, hát thầm bài hát nghe được ở quán rượu “…Cuộc đời là hư vô, bôn ba chi xứ người, khi mình còn đôi tay…” (*)

Vũ Thế Thành 

(*) Lời ca trong bản tình ca “Xin thời gian qua mau” của Lam Phương. (Người đăng bài thêm chú thích nầy)

From: Tu-Phung

XOÁ BỎ HẬN THÙ – TGM Giuse Vũ Văn Thiên

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Thánh Gio-an là tác giả duy nhất tường thuật cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ Sa-ma-ri bên bờ giếng Giacóp.  Trình thuật này mang nhiều ý nghĩa.  Chúng ta đã biết về hình ảnh người Samari nhân hậu chăm sóc người bị nạn được ghi lại trong Tin Mừng theo Thánh Lu-ca.  Hôm nay, chúng ta lại thấy một người phụ nữ Sa-ma-ri.  Chị là đại diện cho những người đang đi tìm Chân lý và đang khao khát những giá trị thiêng liêng vĩnh cửu.

Như nội dung trình thuật cho thấy, Chúa Giêsu đã chủ động “bắt chuyện” với người phụ nữ, khi chị này đến giếng để múc nước.  Trong đời thường, không bao giờ một người Do Thái lại nói chuyện với một người Sa-ma-ri.  Vì thế, người phụ nữ vẫn luôn giữ khoảng cách và cảnh giác. 

Dưới ngòi bút tài tình của tác giả Gio-an, nội dung cuộc đối thoại này diễn biến từng bước, để rồi từ bầu khí nghi ngờ trở thành sự thân thiện; từ một người bất mãn trở thành một người lạc quan; từ một người vô tín, trở thành một tín hữu; và nhất là từ một người dửng dưng, nay trở thành một nhân chứng năng động nhiệt thành giới thiệu Chúa Giêsu cho những người đồng bào.

Qua cuộc đối thoại với người phụ nữ Sa-ma-ri, Chúa Giêsu khẳng định: Thiên Chúa là Cha của mọi người.  Giáo huấn này không chỉ được thể hiện trong câu chuyện người phụ nữ Sa-ma-ri, mà được dàn trải trong suốt Tin Mừng.  Chúa Giêsu đến để nói với con người về dung mạo đầy lòng thương xót của Chúa Cha.  Chính Người là hình ảnh sống động của Chúa Cha.  Qua đời sống và sứ vụ của mình, Đức Giêsu minh chứng Chúa Cha là Đấng nhân hậu.  Những ai thờ phượng Chúa, cũng phải thờ phượng trong tinh thần và Chân lý. 

Việc thờ phượng Chúa không bị tuỳ thuộc vào một không gian, như ở Giê-ru-sa-lem hay ở trên đồi Ga-ri-zim, nhưng bất cứ ai kêu cầu Thiên Chúa với trái tim chân thành, dù ở nơi đâu, đều được Chúa nhận lời.  Sau này, thánh Phê-rô can đảm tuyên bố trong bài giảng tại nhà ông Cornêliô: “Quả thật, tôi nghiệm biết rằng Thiên Chúa không thiên tư tây vị, nhưng ở bất cứ xứ nào, ai kính sợ Người và thực hành sự công chính, đều được Người đón nhận.  Thiên Chúa đã sai Lời Người đến cùng con cái Israel, loan tin bình an, nhờ Chúa Giêsu Ki-tô là Chúa muôn loài” (Cv 10,34-36). 

Lưu ý là ông Phê-rô tuyên bố những lời này sau khi được thấy thị kiến về một tấm khăn lớn từ trời thả xuống, trong đó có đủ mọi loài sinh vật.  Đây là hình ảnh diễn tả tính phổ quát của ơn cứu độ mà Thiên Chúa thực hiện trong Đức Giêsu.  Điều này ngược lại với quan niệm truyền thống của người Do Thái, vì họ cho rằng chỉ có dân riêng Chúa chọn mới được hưởng ơn cứu độ của Ngài.

Trong Mùa Chay, phụng vụ nhắc chúng ta: Chúa Giêsu là suối nguồn ơn phúc.  Bài Tin Mừng cũng chứng minh cho thấy niềm khát vọng vô biên của con người.  Một xã hội phát triển và giàu có về vật chất, chưa hẳn đã là hạnh phúc.  Ngoài những nhu cầu vật chất, con người còn cần đến những nhu cầu tinh thần.  Người phụ nữ Sa-ma-ri đã năm đời chồng, nhưng vẫn không thấy hạnh phúc.  Điều đó chứng minh sự dồi dào về vật chất và buông thả về luân lý không phải bao giờ cũng đem lại cho con người niềm vui.  Chị vẫn đang trăn trở đi tìm ý nghĩa của cuộc đời.  Khởi đi từ nước giếng, là nước thường dùng trong cuộc sống thường ngày, Đức Giêsu đã từng bước giúp chị hiểu nước của ân sủng, nước thiêng liêng.  Đó chính là giáo huấn và ơn cứu độ mà Đức Giêsu mang đến cho nhân loại ở mọi nơi mọi thời.

Bài đọc I kể cho chúng ta về một sự kiện liên quan đến nước.  Trong cuộc lữ hành sa mạc, dân Israel đã kêu cầu Chúa, và Ngài đã làm phép lạ để nước chảy ra từ tảng đá.  Nước sa mạc vừa nhắc nhở lòng thương xót của Chúa, và cũng như một kỷ niệm buồn, vì dân phản loạn kêu trách Chúa.  Thiên Chúa nhân hậu bao dung.  Ngài không chấp tội con người.  Ngài sẵn sàng tha thứ những lỗi phạm, và sửa dạy họ, để họ nên tốt hơn.

Những người dân thành Samari đóng vai trò “diễn viên phụ”, nhưng cũng rất quan trọng.  Thánh Gioan đã viết: “Số người tin vì lời Đức Giêsu nói còn đông hơn nữa.  Họ bảo người phụ nữ: Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin.  Quả thật, chính chúng tôi đã nghe và biết rằng: Người thật là Đấng cứu độ trần gian” (Ga 4, 41-42).  Cuộc trò chuyện thân thiện giữa Chúa Giêsu với người phụ nữ đã đem lại những kết quả không ngờ.  Qua hình ảnh mùa gặt, Đức Giêsu nói với chúng ta: xung quanh chúng ta, rất nhiều người có trái tim chân thành.  Họ như những mảnh đất tốt sẵn sàng đón nhận hạt giống Lời Chúa và làm cho Lời ấy nảy mầm, đâm bông kết trái.  Trình thuật của thánh Gio-an đã chứng minh điều đó.

“Ngày hôm nay, ước gì anh em nghe tiếng Chúa.  Người phán: “Các ngươi chớ cứng lòng như tại Mê-ri-ba, như ngày ở Ma-xa trong sa mạc.”  Hành trình mùa Chay nhắc lại cuộc lữ hành trong sa mạc của dân Israel tiến về đất hứa.  Trong hành trình này, nhiều người đã ngã gục, vì kiêu ngạo, tội lỗi, bất trung hoặc vì thiếu nghị lực, không có lòng cậy trông.  Đức Giêsu là Đấng dẫn đường về đất hứa vĩnh cửu, tức là Quê Trời.  Thánh Phaolô khẳng định: theo lẽ thường, hầu như không ai chết vì người công chính, thế mà Đức Ki-tô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.  Noi gương Chúa Giêsu bên bờ giếng Gia-cóp, chúng ta hãy cố gắng thực thi những việc thiện, trân trọng và bác ái với những người xung quanh, để dỡ bỏ khoảng cách, kết nối yêu thương và xây tình huynh đệ.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim