Vận chuyển giùm 11 ký ma tuý là một tội ác!

Báo Tiếng Dân

Lâm Bình Duy Nhiên

26-3-2023

Vào sáng ngày 16.3.2023, Chi cục Hải quan Cửa khẩu sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất đã kiểm tra và phát hiện 11.284,57 gram ma túy các loại Ketamine và MDMA trong một thùng hàng có khối lượng khoảng 60 kg, gồm: 4 va li của 4 nữ tiếp viên hàng không Vietnam Airlines.

Ngày 22.3, sau một thời gian tạm giữ để điều tra, Cơ quan CSĐT Công an TP.HCM đã ra quyết định trả tự do cho 4 tiếp viên hàng không, vì họ xác định 4 tiếp viên hàng không này không biết bên trong 327 tuýp kem đánh răng nhận vận chuyển, có 157 tuýp đã được đối tượng nhờ mang về pha trộn và cất giấu ma túy. Do đó, chưa đủ cơ sở và căn cứ để khởi tố!

Ai tin 4 cô này không hề biết bên trong các tuýp kem có giấu ma tuý?

Tôi không tin rằng các cô “vô tư” hay “ngây thơ” đến mức độ ấy, nhất là trong nghiệp vụ, các cô thừa biết hơn ai hết việc “cầm giùm” đồ là điều tối kỵ!

Việc “cầm giùm” hàng hoá để chuyển về Việt Nam hay mang sang nước khác cũng chẳng phải là một bí mật gì kinh khủng cả. Các nhân viên hàng không làm như thế để kiếm thêm tiền trong các chuyến bay. Cái gì cũng có giới hạn và không ít đã phạm pháp khi họ tham gia vào các đường dây vận chuyển ma tuý hay buôn lậu, buôn hàng giả.

10 triệu đồng như tiền công để xách giùm… kem đánh răng? Vì tham tiền nên ngây thơ hay chính họ cũng gián tiếp đồng loã trong đường dây tội phạm trên?

Một câu hỏi không thể bỏ qua là 60 ký hành lý của các cô lại lọt qua khỏi sự kiểm soát tại sân bay Pháp nhưng lại bị “soi” tại Tân Sơn Nhất. Liệu không có một sự “phản kèo” hay tố nhau từ các phía có liên quan đến đường dây tội phạm này? Biết đâu, đây không phải là lần đầu các cô ngây thơ cầm giùm ma tuý cho “người quen” vì trước đó mọi chuyện đã diễn ra êm xuôi như dự tính.

Các cô vô tội hay không thì chỉ có kết luận khách quan từ phía Cơ quan điều tra.

Tiếc thay, làm gì có chuyện công lý hay luật pháp dành cho các đối tượng thừa hưởng đặc ân hay có phe cánh từ phía chính quyền.

Trước sự phản ứng của dư luận về việc trả tự do cho 4 nữ tiếp viên hàng không, trung tướng Tô Ân Xô, người phát ngôn Bộ Công an cho biết, Cơ quan CSĐT Công an TP.HCM đã khởi tố vụ án “vận chuyển trái phép chất ma túy”, để điều tra làm rõ bản chất vụ án, xử lý nghiêm các đối tượng có liên quan theo quy định.

Các tội liên quan đến ma tuý thường bị trừng trị rất nặng tại các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Trong quá khứ, chính quyền Việt Nam cũng đã từng tử hình các tội nhân, cả người ngoại quốc, liên quan đến mua bán, vận chuyển hay chỉ…mang giùm hàng hoá có cất giấu ma tuý.

Vụ án mà ông Tô Ân Xô cho biết đã được khởi tố, biết đâu sẽ lại bị chìm xuồng, theo dòng thời gian, vì dính líu ít nhiều đến các nhân vật quyền lực trong xã hội như vụ các cô tiếp viên hàng không đã được trả tự do vì… chưa đủ chứng cớ!

Vận chuyển giùm hơn 11 ký ma tuý, dẫu ngây thơ đến khó tin, thì đó là một tội ác và cần phải được điều tra nghiêm túc và xử phạt nghiêm khắc đúng với pháp luật của một quốc gia luôn vỗ ngực tự cho là một “nhà nước pháp quyền” kiểu mẫu.

Học sinh Mỹ gốc Việt nói gì về 30/4? | VOA Tiếng Việt

Apr 30, 2022 #TinTức #VOATIENGVIET #TinTuc

Học sinh Mỹ gốc Việt nói gì về 30/4? | VOA Tiếng Việt

Cứ vào ngày 30/4 hàng năm, học sinh gốc Việt vùng Little Saigon, sinh ra và lớn lên ở Mỹ, lại có dịp học hỏi và tìm hiểu thêm về những trang lịch sử Việt Nam mà ông bà cha mẹ của họ đã trải qua.

Tại viện bảo tàng Việt Nam Cộng Hoà, những nhân chứng lịch sử, các chính trị gia gốc Việt trong vùng, các giáo sư, thầy cô, và học sinh gốc Việt cùng nhau tháo gỡ những thắc mắc, vén màn sự thật, và chia sẻ những hậu quả của cuộc chiến tranh Việt Nam gắn liền với cuộc đời của người Mỹ gốc Việt ở đây. Bản thân con, ông bà của con chiến đấu trong chiến tranh Việt Nam. Họ là người miền Nam, khi họ thua trong cuộc chiến, ông của con phải đi tù. Con không biết gì về điều này cho đến khi ba mẹ của con kể cho con nghe. Và bây giờ tìm hiểu về Tháng tư đen, con cảm thấy xúc động khi ba mẹ kể về ông bà và những gì đã xảy ra, họ đã thật sự hy sinh rất nhiều để con được có mặt ở đây. Và ở đây, con thật sự được truyền cảm hứng để trở thành con người tốt hơn của chính mình, và cảm kích những gì con đang có.

Một trong những điều quan trọng con học được là trại cải tạo, và cách họ đối xử với người Việt như thế vào vì ông của con là một người lính Việt Nam Cộng Hoà, con từng mù mờ về những gì đã xảy ra, chỉ nghĩ đólà một cuộc chiến bình thường thôi, con không biết là họ đã bị tra tấn, con không biết họ đã bị đói khổ. Có lần, ông của con kể là ông phải ăn một con chuột để cầm cự, con hết hồn… bây giờ hiểu được cách họ đối xử, con cảm thấy rất buồn, khi về nhà con phải ôm ông thật chặt mới được. Và chuyện gọi là trại cải tạo, thật điên rồ, dù được gọi như vậy nhưng nó thật sự không phải thế, điều đó cho thấy sự tuyên truyền và thông tin có thể bị bóp méo, xuyên tạc thế nào.

Thật là điên rồ khi họ đã nói láo rằng chỉ cần đi 7 ngày mà thiệt ra thành 3 năm, 7 năm, 17 năm. Người Việt mà không biết lịch sử của người Việt thì không phải là người Việt. Những bạn trẻ lớn lên ở Việt Nam và qua Mỹ gần đây nhất cũng chia sẻ kinh nghiệm học đường về lịch sử Việt Nam. Bản thân con là con học từ lớp 1 đến lớp 8 ở Việt Nam, thì hầu hết những chương trình lịch sử của Việt Nam mà người ta đưa vào trường để người ta giáo dục thì không hề có nhắc đến Việt Nam Cộng Hoà mà chỉ dạy về Đảng cộng sản Việt Nam và những cái chiến tranh ở Việt Nam, thì ngày 30 tháng 4 là người ta không có gọi “The Fall of Saigon,” người ta không có gọi là ngày bị mất nước, nhưng mà ở Việt Nam, người ta lại gọi là ngày giải phóng miền Nam, và cái ngày đó thì ở Việt Nam thì đối với con thì đó là cái tên không có đúng. Khi mà con đã đến nước Mỹ con đã học về cái lịch sử của Việt Nam Cộng Hoà thì con nhận ra đó là, cái tên đó chỉ là đảng cộng sản Việt Nam người ta đặt ra cái tên đó nhưng mà thật sự là cái ngày 30 tháng 4 ý nghĩa chính của nó là “The Fall of Saigon,” là cái ngày mà miền Nam việt Nam mất vào tay miền Bắc của Việt Nam.

Dù chiến tranh Việt Nam đã kết thúc gần 50 năm, nhưng tàn dư của nó vẫn âm ỉ đâu đó trong cuộc sống hàng ngày của các thế hệ người Việt. Con biết con chưa bao giờ ở trong cái thời gian đó, nhưng mà con nghe nhiều câu chuyện con thấy cũng buồn, và con…con biết nó không phải là những chuyện vui mà con cũng vui là người ta đã tới đây tìm cuộc sống mới mà dạng như là không phải ở trong một cái tình trạng mà phải mất gia đình bây giờ hoặc phải là mất cuộc sống của mình qua tới tay của những người như là Hồ Chí Minh.

Cái tâm trạng bức xúc buồn vui lẫn lộn này rất khó nói thành lời, và tâm trạng khắc khoải này vẫn còn đó cho các thế hệ mai sau, mặc dù cuộc chiến đã đi vào lịch sử.

Con nhớ là hồi xưa ông bà ba mẹ của con đã kể cho con những cái câu chuyện này nhưng là vì bây giờ ông bà không có còn nữa nhưng mà con cũng muốn tiếp tục nghe những câu chuyện của những người khác, và dạng như là biết thêm những câu chuyện của sự kiện này Ký ức chiến tranh không chỉ là những kỷ niệm đau buồn mà còn là những bài học lịch sử.

TẦNG ĐỊA NGỤC – Uyên Nguyên

Nơi Gặp Gỡ Không Hẹn Mà Ðến:
 
No photo description available.
 
Ðiểm gặp gỡ không hẹn mà đến của nhóm “Ngụy Quân Ngụy Quyền Sài Gòn ” thoạt tiên là Trại Cải Tạo Long Thành, tọa lạc tại Long Thành Tỉnh Ðồng Nai do Ủy Ban Quân Quản quản lý . Sau trở thành Trải Tạo 15 NV do Bộ Nội Vụ quản lý.
 
Sáng ra, chúng tôi mới định thần và chuẩn bị tinh thần cho một sống đổi đời bắt đầu. Tôi được phân bổ ở nhà 6. Ðội trưởng Ðội 3 là Phạm Ngọc Cửu. Nhà Trưởng là Trần Tấn Toan.
 
Ngày đầu đến trại chúng tôi nhận diện được những nhân vật có tên tuổi sau đây:
 
Về phía đảng phái gồm có Nghị Sĩ , LS Trần Văn Tuyên, Vũ Hồng Khanh…
Về phía Nghị sĩ , có Trần Tấn Toan, nguyên trước là chủ tịch Hội Ðồng Tỉnh Gia Ðịnh.
 
Về phía dân biểu có Ông Nguyễn Bá Lương, chủ tịch hạ Viện, Quốc Hội Ðệ Nhị Cộng Hòa, Dân biểu Lê Minh Ðăng, Khiếu Thiện Kế, Trần Ngọc Châu….
Về phía toà án thì có rất nhiều Chánh Án, Biện Lý, Dự Thẩm các toà án ở Sài Gòn và các tỉnh ở Miền Nam Việt Nam. Trong đó có những ông chánh án mà người viết biết tên, biết mặt như ông Trần Ðại Khâm, Nguyễn Cần ( tức Tú Gàn), Ðào Minh Lượng, Nguyễn Ðắc Trọng, Ngô Văn Cân, Biện Lý Trần Thành Ðô, Dự Thẩm Nguyễn Thành Hương, Trần Cẩm Tựu, Phạm Minh Tâm, Hoàng Phùng Võ, Dương Lân, Ðặng Xuân Nhẫn, Nguyễn Công Ðàn ( tục là “Bò Ðàn” , tiếng chúng tôi hay gọi thân thiết vì anh ta phụ trách giữ mấy con bò cho trại) , Trần Gia Tá, Cao Quãng Chơn…. .
 
Về phía Phó Tỉnh Trưởng Hành Chánh : Phạm Ngọc Cửu ( Bình Thuận); Nguyễn Thanh Sử ( Bình Tuy, Trần Huỳnh Thanh, Nguyễn Văn Thích ( Bình Ðịnh); Nguyễn Chí Vy ( Quảng Ngãi ) Nguyền Văn Hoàng ( Phú Yên )
và còn nhiều phó tỉnh trưởng hành chánh khác nữa mà tôi quên tên và nơi phục vụ rồi.
 
Về phía hành chánh cao cấp : Kỹ sư Dương Kích Nhưởng, Phó Thủ Tướng; Lê Văn Trường, Bộ Trưởng Tài Chánh; Nguyễn Văn Chi, Tổng Giám Ðốc Trung Tâm Chuẩn Chi- Bộ Tài Chánh; Bùi Hữu Tiể n, Tổng Giám Ðốc Ðiền Ðịa; Trần Huỳnh Châu, Tổng Thư Ký Bộ Nội Vụ; Nguyễn Văn Tương, Ðặc Ủy Trưởng Hành Chánh, Kỹ Sư Ngô Trọng Anh, Cưụ Tổng Trưởng Công Chánh Nội Các Nguyễn Cao Kỳ, Kiến Trúc Sư Ngô Viết Thụ, Ông Phạm Trọng Nhân, cựu Ðại Sứ Việt Nam Cộng Hoà tại Lào và các Phó Tổng Giám Ðốc Thuế Vụ, Kế Hoạch thuộc các Bộ nữa mà tôi quên mất tên rồi. Ngoài ra còn có rất nhiều Giám Ðốc Nha Sở thuộc Hành Chánh Trung Ương, một số Quận Trưởng các Quận như Trung Tá Kiều Văn Út mà người viết biết mặt, biết tên và cũng như các Ty, Sở Trưởng, Phó Quận Hành Chánh thuộc hành chánh địa phương, các tỉnh thành cũng có mặt trong nhóm này.
 
Về phía cảnh sát thì ngoài những cấp chỉ huy cảnh sát trung ương như Thiếu Tá Ðoàn Ðình Từ,Trung Tá Phấn Bộ Tư Lệnh Cách Sát Quốc Gia… còn có một số Trưởng Ty Cảnh Sát điạ phương mà người viết được biết như Trung Tá Phan Trần Bảo… và còn nhiều người nữa, lâu quá quên tên.
Ngoài ra cũng có một số nhân viên thuộc Trung Ương Tình Báo, Thiên Nga…,
 
Những nhân vật này lần lược được chuyển trại dưới hình thức mà chúng tôi gọi là Bao Bố . Ở đây tôi xin mở một dấu ngoặc để giải thích tại sao có tên là Bao Bố. Những đợt chuyển trại lớn, đông người thường xảy ra trong đêm khuya để dễ bề kiếm soát an ninh lộ trình , người ngoài không ai hay biết. Ðợt chuyển trại đầu tiên đi ra Bắc gọi là Bao Bố I vì sau khi có lệnh tập trung trong đêm khuya, và gọi tên từng người rồi sau đó trao cho mỗi người môt cái bao bố đựng gạo để bỏ hành trang đi tù vào. Ðợt chuyển trại nầy gồm những nhân vật cao cấp trong chính phủ cũng như trong hàng ngũ đảng phái, cảnh sát, trung ương tình Báo…. Ðợt di chuyến ra Bắc lần thứ hai được gọi là Bao bố II đa phần gồm những giám đốc, nha sở thuộc trung ương. Ðể trấn an các trại viên cũng như để bảo dảm an ninh lộ trình, Ban Chỉ Huy Trại đã động viên tất bằng cách nói láo rằng các anh được di chuyển đến những địa điểm học tập an toàn hơn. Nếu có người thắc mắc hỏi có phải chuyển đi Bắc không thì được cán bộ trấn an bằng cách trả lời không thật là các anh sẽ được đưa về miền Nam như Rừng Ðước, Năm Căn… Nhưng thật tình là xuống tàu ra Bắc cải tạo mút mùa lệ thủy.
Sau hai đợt chuyển trại ra Bắc, Trại chỉ còn độ 250 trại viên. Chúng tôi được tái phân bổ lực lượng lao động và tôi đã được công tác trong tổ Vệ Sinh cho đế n ngày chuyển lên trại Xuyên Mộc Ðồng Nai và tiếp lao động cải tạo trong Ðội trồng trọt, rồi tiếp đến là Ðội Văn Nghệ cho đến khi “ học tập tiến bộ” đượ c trại xét tha về vào cuối tháng 8 năm 1989.
 
Trong thời gian đầu học tập chính trị, chúng tôi có dịp học chung với những chịnh trị gia quen thuộc. Trong đó phải kể đến LS Trần Văn Tuyên, Vũ Hồng Khanh . Không biết mấy ông này trình diện vì lý do gì . Chắc thuộc đảng phái thì phải. Nghe nói Luật Sư Tuyên vì liên hê đến bà vợ nhỏ nên bị kẹt lại và đi tù luôn. Nhiều chánh khách, nhà ngoại giao, hành chánh cao cấp cũng đã rơi vào trường hợp này, hối không kịp vì đã vào rọ rồi. Ngày trở về còn xa lắm nếu không muốn nói là bỏ thây nơi những trại giam nổi tiếng là hắc ám nhất ở miền Bắc. Ls Trần Văn Tuyên là một điển hình. Tôi còn nhớ khi lên lớp học chính trị, sau khi giảng xong bài , cán bộ giảng huấn kêu Ls Trần Văn Tuyên đứng dậy và dùng lời lẽ thô bạo để mắng chưởi ông ta. LS Tuyên đã nói một câu rất bất hủ: “Việc tôi làm chỉ có lịch sử phán xét chứ không ai có quyền phán xét tôi” . Sau bữa lên lớp đó, thì chúng tôi không thấy mặt của LS Tuyên nữa vì người ta đã dẫn ông ta đi đâu mất rồi.
Làm ở đội rau xanh một thời gian tôi được xung vào Ðội Văn Nghệ Trại. Tôi nhớ không lầm đội Trưởng là nhạc sĩ Vũ Thành An. Vì chức vụ cuối cùng của anh ta là trưởng cơ sở Dân Vận & Chiêu Hồi Tỉnh Gia Ðịnh, cho nên anh phải đi trình diện học tập cải tạo theo diện “Ngụy Quân Ngụy Quyền” .
 
Có một điều cũng nên nói ở đây mặc dù Vũ Thành An nổi tiếng với những ca khúc không tên trước 75 nhưng khi vào trại bên cạnh ca khúc anh viết nhân đêm giao thừa năm đầu tiên ở trại 1975 có đoạn rất hay và rất “ tiểu tư sản” và được mọi người chấp nhận : “Thắp nến hồng lên em, giao thừa về rồi đó. Ánh sáng bừng trong đêm. Như bình minh đã lên….” Nhưng khi anh viết theo nhu cầu chính trị tuyên truyền anh lại viết một ca khúc lạc lõng, không giống ai. Lời ca như một lời xưng tội và sặc màu “vô sản chuyên chính” . Tôi nghĩ rằng chỉnh những ngườ i bị rối loạn tâm thần, đánh mất bản ngã, lương tri thì mới viết một ca khúc tồi như thế. Vì vậy anh đã bị hết thảy trại viên chê trách và lên án dữ dội.. Ca khúc có đoạn : “ Nếu biết rõ đế quốc Mỹ là quân xâm lược. Lũ ngụy quyền là bọn tay sai. Bao nhiêu năm cặm cụi miệt mài…”. Ðộc hại hơn nữa là các trại viên bị bắt buộc phải hát ca khúc này trong những lần sinh hoạt vă n nghệ. Nhưng dù anh có viết trăm ngàn bài ca tôn vinh chế độ đáng nguyền rủa kể trên thì cộng sản cũng không tha cho anh đâu và thực tế anh phải ra Bắc sau đó và cải tạo dài dài hơn mười năm mới được tha về vì anh thuộc diện “ác ôn” ( dân vận chiêu hồi bên hành chánh- chiến tranh chính trị hay chiến tranh tâm lý bên quân đội ) .
 
Kịp đến khi Vũ Thành An bị chuyển ra Bắc thì người thay thế anh ta là anh Trần Thiên Ân . Anh nầy là một người còn rất trẻ, xuất thân từ học viện quốc gia hành chánh, chức vụ cuối cùng là phó quận trưởng ở đâu đó. Vì có một thời gian học ở chủng viện khi còn nhỏ, nên nhạc lý anh ta rất rành và rất vững. Anh viết hòa âm cho những bài hợp xướng rất dễ dàng và rất hay.
Kịp đến khi nhóm hình sự di chuyển về đây thì Ðội Văn Nghệ có sự tăng cường nam và đặc biệt là nữ trại viên thì sinh hoạt văn nghệ trại khởi sắc hơn. Có những giọng ca trẻ tân nhạc cũng như cổ nhạc, kịch.. dưới sự dìu dắt và hướng dẫn của anh em trại viên thuộc diện chính trị chúng tôi. Trong đó có tôi dù sau này tôi không còn ờ trong Ðội Văn Nghệ nữa mà ở trong Tổ Vệ Sinh.
 
Chuyện anh Nguyễn Văn Tri :
 
Anh Tri là người cũng xuất từ học viên quốc gia hành chánh, làm giám đốc hành chánh Tổng Nha Ðiền Ðịa do kỹ sư Bùi Hữu Tiển làm Tổng Giám Ðốc. Sau khi học tập cải tạo ở trại một thời gian thì anh Tri có triệu chứng bất bình thường. Cứ vào lúc trời mưa, chúng tôi thấy anh ta ra ngồi ngoài mưa. Miệng thì lẩm bẩm những câu gì không ai hiểu cả. Một thời gian sau đó không biết sao anh ta được trại thả về. Không biết vì lý do bị bệnh tâm thần hay anh thuộc ngành mà cách mạng đang cần người hay không hay vì nguyên do khác không ai hay biết. Chỉ biết rằng sau khi được thả về một thời gian sau thì người ta thấy anh ở Sài Gòn và không có biểu hiện gì bất bình thường cả. Ðược thêm sau đó anh và gia đình qua Mỹ theo diện HO.
Chuyện Cụ Nguyễn Bá Lương, cựu chủ tịch Hạ Viện, Quốc Hội Ðệ Nhi Việt Nam Cộng Hòa.
 
Cụ Nguyễn Bá Lương, vốn là một dân biểu. Người ta thường gọi cụ là “Dượng Năm Xe Ðò Bủu Hiệp”. Cụ có người con trai -thiếu Tá Nguyễn Bá Di. Khi cụ nhập trại thì tuổi của cụ khá cao, sức khỏe yếu kém nên chỉ có thể lao động nhẹ mà thôi. Ở tù được mấy năm trại xét tha cụ và cho cụ về. Trước đó Ban Giám Thị trại đã mời cụ lên dùng trà và mời thuốc đồng thời thông báo cho cụ hay là cụ đã được nhà nước cách mạng xét tha. Nhưng ói ăm thay về đâu chẳng thấy mà chỉ thấy bỏ thây nơi rừng thiêng nước độc- trại Xuyên Mộc Ðồng Nai. Số là như vầy : sau khi mời cụ ra trại và thông báo quyết định tha cụ, Giám Thị trại dự tính là sáng hôm sau sẽ ký lệnh xuất trại .. Nhưng chưa kịp ký lệnh thì thành phố gọi giám thị về họp khẩn. Cho nên lệnh xuất trại chưa được ký và sẽ được ký khi họp xong. Nhưng than ôi, sau khi đi họp về thì lệnh xuất trại của cụ đã không được ký vì quyết định tha cụ đã bị đình hoãn lại trong một thời gian nữa cho đến khi có lệnh mới của trung ương. Thế là hy vọng được sớm trở về sum họp với gia đình tiêu tan theo mây khói. Kịp đến khi nhóm hình sự đã “đủ lông đủ cánh” để điều hành trại thì toàn bộ trại viên “khối chính trị” còn lại ở Trại Long Thành phải chuyển lên Trại Xuyên Mộc Ðồng Nai. Một thời gian sau đó vì không chịu nổi thời tiết khí hậu khắc nghiệt của núi rừng Xuyên Mộc, cụ đã ngã bệnh và qua đời . Sáng cụ ra đi vì tôi bị bệnh nên tôi đã có mặt nơi chỗ cụ nằm, vuốt mắt cho cụ và nguyện cầu hương linh cụ sớm về nơi chín suối chấm dứt những chuỗi ngày đen tối nhất của cuộc đời. Trong thời gian ở Trại Xuyên Mộc, tôi có dịp đàm đạo với cụ và được cụ kể nhiều chuyện thuộc loại “ thâm cung bí sử” ít ai biết trong cuộc đời tình ái và sinh họat chính trị chính em của cụ. Rất sôi nổi vì theo diện tướng số cụ có khuôn mặt tướng hầu. Ngoài ra giới “ thân cận” của cụ có nói cho tôi biết cụ có thêm một cái ẩn tướng khác là “gậy”, “ của quý” của cụ chạm đất khi cụ ngồi chổm hổm. Không biêt có đúng không. Nếu đúng thì cụ từ một thư ký đồn điền rồi lên làm Dượng Năm Xe Ðò Bủu Hiệp , rồi đắc cử dân biểu Hạ Viện. Rồi đắc cử chủ tịch Hạ Viện cũng là lẽ thường tình dễ hiểu thôi. Như ông Thiệu có tướng hầu như cụ, làm đến chức cao nhất nước thì cũng không ngoa gì. Tướng số nhiều khi cũng đúng cho nhiều người lắm.
Ăn mà cấm không được nói cho ai biết. Thế mới là lạ chứ.
 
Những ngày bên Thành :
 
Vào khoảng cuối năm 1978 trong khi các trại viên thuộc diện chính trị còn lại ở Trại Long Thành phải chuyển trại lên Trại Xuyên Mộc Ðồng Nai, tôi và Phạm Ngọc Thành được “may mắn” ở lại trại để tiếp tục gánh vác một số công việc mà chưa thể giao ngay cho nhóm hình sự vừa mới chuyển đến từ các trại như Bù Ðăng , Bù Gia Mập …. Nhóm này bị tù từ sau ngày Sài Gòn mất. Sau một thời gian dài bị giam trong các trại lao động khổ sai, thiếu đủ mọi thứ nên khi chúng nó về đây chúng nó chết như rạ. Do đó với nhu cầu “ đột xuất”, tổ Vệ Sinh của chúng tôi phải làm một lúc hai công tác. Một là công tác đổ phân . Hai là công tác “khâm liệm” cũng như “di quan” người vừa mới chết ra nghĩa địa liền tù tì. Có ngày có đến hơn 5 đứa “mò- cua” ( tiếng lóng là chết ). Có khi cả chục đứa cho nên tổ Vệ Sinh của chúng tôi rất đắt khách . Chúng tôi phải “ khẩn trương” đem đi chôn mệt nghỉ cả ngày lẫn đêm. . Nhiều khi phải đem đi chôn vào giữa ban đêm ngày rằm. Không có một chút ánh sáng gì ngoài ánh trăng chiếu vằng vặc. Vào những đêm như thế này, không biết các bạn của tôi nghĩ ra sao chứ riêng tôi tôi rất thích vì bản tính nghệ sĩ, ưa mơ mộng của tôi dù phải lao động cật lực để có thể về trại sớm để ngày mai có sức “đi cày” tiếp . Chuyện sợ ma thì không thể nào nghĩ đến vì làm việc bở hơi tai thì giờ đâu mà nghĩ chuyện vu vơ. Phải nói mệt nhất là việc đào huyệt vì nghĩa địa, nói cho oai chứ thực ra là một mô đất cao toàn là đá ong, cứng như đá nên đào huyệt không thể nào đào sâu được, khoảng chừng độ hơn nửa thước là cùng. Không có vật dụng gì khác ngoài mấy cái xẻn cùn. Sức người là chính. Sở dĩ tôi phải dông dài như vầy là vì có liên hệ đến việc đi chôn cất Thành sau này.
 
Vì phải di chuyển khiêng phân hằng ngày hay phải khiêng quan tài đem đi chôn nên tôi thường gặp Thành trong bồ đồ lính được nhuộm đen và trên đầu đội một cái mũ “phở” không giống ai đi rảo trong trại. Chúng tôi chỉ chào nhau rồi ai làm phận sự người ấy. Thành vốn người dong dỏng cao, nước da tái tái . Nước da này vốn dĩ như vậy kể cả lúc còn làm Phó Quận Hàm Thuận rồi Hòa Ða. Ngoài ra không có biểu hiện gì là bệnh hoạn cả.
Thời gian cứ trôi đi. Rồi đến kỳ thăm nuôi . Bà xã của tôi và bà xã của Thành đi thăm nuôi chúng tôi cùng một ngày vào dịp cuối năm 1978 . Tôi được Trại bố trí thăm nuôi trước, Thành thăm nuôi sau. Trước đó bà xã của tôi cũng đã gặp Thành ở nhà thăm gặp , có chào hỏi đôi điều và cũng không thấy Thành không có biểu hiện gì là bệnh hoạn trầm trọng cả.
 
Một thời gian ngắn sau khi thăm nuôi nhất là gần Tết năm đó sức khỏe của Thành có triệu chứng giảm sút thấy rõ. Mắt và da trở nên vàng nhiều, triệu chứng của bệnh viêm gan. Mặc dù Thành được BS cán bộ tên Hùng cũng như BS trại viên Tùng giúp đỡ rất nhiều nhưng không có kết quả gì vì thiếu thuốc đặc chế. Vì vậy thể theo đề nghị của BS trại Viên Tùng và được đồng ý của BS Hùng, trưởng trạm xá đã ghi cho Thành một toa thuốc và xin cho người nhà của Thành đem lên cho Thành. Nhưng than ôi! chưa kịp đem lên thì Thành đã ra người thiên cổ. Tôi nhớ không lầm là Thành ra đi vào ngày mồng một Tết (nhằm ngày 28 tháng giêng) năm 1979 .
 
Nghe tin Thành qua đời tôi tìm cách để viếng thăm anh. Ðược biết xác Thành được để ở bệnh xá Trại, trong một gian phòng tối như bưng.
Tôi cứ nhớ mãi cây đèn cầy duy nhất mà tôi đã thắp lên quan tài của Thành. Cây đèn cầy này tôi đã cất kỹ trong gói “hành trang” khi đi tù vì nghĩ rằng sẽ có dịp để xử dụng nó. Nhưng chưa có dịp nào để xử dụng thì nay lại đem ra cắm trên quan tài của người bạn đồng môn hành chánh và cũng là người bạn thiết thân lúc còn làm việc chung với nhau ở tỉnh Bình Thuận. Dù cây đèn cầy đã bị gãy nhưng dù sao cũng là vật quý báu và rất cần thiết trong lúc này. Chắc Thành cũng thông cảm cho tôi vì cây đèn cầy không phải đơn thuần là một vật vô tri vô giác nhưng nó biểu tượng cho sự tiếc thương cũng như gói ghép một tình cảm thiết thân không thể phai nhòa.
 
Một điều hy hữu là khi Thành mất tổ Vệ Sinh của chúng lo tẩm liệm và đem Thành ra nghĩa địa. Chúng tôi chỉ biết ngậm ngùi thương tiếc cho người bạn xấu số đã ra đi quá sớm như vậy. Chúng tôi cố ngăn những dòng lệ nhưng không thể nào được. Những giọt nước mắt cứ tuông chảy, cứ lăn dài trên má . Khóc cho Thành một phần mà khóc cho số phận của kiếp đọa đày của những người tù còn lại như chúng tôi thì nhiều.
 
Thành đã từ giã cõi đời bỏ lại vợ con và các bạn tù. Bây giờ Thành có thể yên phận về phần nơi chín suối, không bị ràng buộc với những hệ lụy khổ đau nơi trần thế nữa. Còn lại chúng tôi tiếp tục chịu đựng số kiếp đọa đày nơi chốn tù ngục. Còn lại gia đình với vợ và các con trong nỗi thương đau chất ngất…
 
NHỮNG CHUYỆN BÊN LỀ:
 
Chuyện Nhà Văn Nguyễn Mạnh Côn
 
Nhà văn Nguyễn mạnh Côn , nổi tiếng với tác phẩm “Ðem Tâm Tình Viết Lịch Sử” cũng được mọi người biết đến khi ông ta tuyệt thực để phản đối chính sách giam cầm của cộng sản. Rồi ông ông bệnh, ông chết ở đây.
Chuyện ông Hồ Hữu Tường:
 
Khi chúng tôi đến đây thì có gặp nhà văn Hồ Hữu Tường. Ông Tường nổi tiếng với “Phi Lạc SangTàu”.
 
Hằng ngày, tập họp đi lao động thấy ông gánh đôi gánh. Nghe nói ông bị bệnh phù nên ông được bố trí làm công việc nhẹ là nấu nước cho đội uống. Ông Tường dáng người thấp lùn vả lại ông bị chứng phù thủng nên hai chân ông phù ra. Dáng đi chậm chạp uể oải. Biết ông là nhà văn, là người hiểu biết rộng nên trại đã trao giấy bút để ông viết “thu hoạch, hiến kế.” Nghe nói sau một thời gian sợ ông chết trong trại nên trại đã cho ông về nhà và một thời gian sau thì ông mất.
 
Lại chuyện Ông Nguyễn Bá Lương, dân biểu quốc Hội, chủ tịch Hạ Viện:
Sau khi ông mất một cơ hội trở về sum họp với gia đình ờ trại Cải Tạo Long Thành, ông phải theo chúng tôi lên Khu B Xuyên Mộc Ðồng Nai. Ông được bố trí ở cùng phòng với chúng tôi. Lúc này ông bị bệnh thường hay ở nhà. Khi có dịp rảnh rỗi tôi thường là cà đến nói chuyện với ông. Ông kể cho tôi rất nhiều chuyện thuộc diện “thâm cung bí sử”. Ðiển hình là gán ghép ông và Bà DS Nguyễn Cao Thăng. Không biết ông nói có thật không hay ông phịa ra nhưng chính tai tôi nghe được như vầy: Khi ông Nguyễn Cao Thăng qua đời, giới dân biểu thân chính quyền muốn gán ghép ông với Bà Thăng nhưng chuyện không thành.
 
Ở Khu B một thời gian thì ông bị bệnh nặng và qua đời. Ngày ông mất tôi bệnh phải ở nhà và đã đến tại chỗ nằm của ông để vuốt mắt cho ông .
Cuộc vui nào rồi cũng tàn. Chúng tôi đã đi vào giấc ngủ với nhiều mộng đẹp và ước vọng tương lai khi đèn của trại tắt.
 
Sáng sớm hôm sau, chúng tôi đuợc lệnh trịệu tập, mang theo hành lý để di chuyển sang Khu B làm thủ tục xuất trại.
 
Chúng tôi đã đến văn phòng làm việc của trại lúc 9 giờ sáng hôm đó. Lần lượt các trại viên ký tên nhận lệnh xuất trại, giấy ra trại và 10 đồng lộ phí đi đường.
 
Khi đã xa cách trại một khoảng khá xa rồi thì tôi bắt đầu vẫy các xe đi qua để xin quá giang. Từng chiếc rồi từng chiếc xe đủ loại đủ cỡ đi qua nhưng không có chiếc xe nào dừng lại cả. May thay cuối cùng có một chiếc xe chở rạ còn ướt vì vừa mới gặt ngừng lại và cho tôi quá giang. Nhìn cách phục sức của tôi, Anh ta hỏi tôi có phải là dân tù cải tạo mới ra không và định về đâu. Tôi trả lời tôi về Sài Gòn. Anh ta bảo tôi chỉ về Biên hòa mà thôi. Tôi đồng ý .
 
Trong khoang xe chất đầy người nên tôi phải ngồi, rồi nằm ngất ngưởng trên đống rạ. Ngước nhìn trời cao và hít thở không khí tự do mà từ lâu vắng bóng và nghĩ về một cuộc đoàn viên trùng phùng sắp đến.
 
Ðến ngã ba Biên Hòa tôi xin anh tài xế cho tôi xuống xe và từ đó tôi lên xe để về Sài Gòn. Vì trong túi tôi chỉ có vỏn vẹn 10 đồng trại phát nên tôi đưa ra cho anh tài xế xe lam. Anh ta nhìn tôi rồi hỏi “dân tù cải tạo mới về hả? rồi anh ta nhận tiền và mời tôi lên xe và không nói thêm một lời nào nữa.
Xe đến đường Ðinh Tiên Hoàng, tôi xin tụt xuống và không quên ngỏ lời cám ơn anh tài xế tốt bụng. Trên đường về tôi hình dung đến bài học thuộc lòng của Thanh Tịnh rồi lẩm bẩm trong miệng “cảnh vật xung quanh tôi hoàn toàn thay đổi như chính lòng tôi đang có một sự thay đổi lớn hôm nay tôi trở về lại mái nhà xưa.”
 
Vì cha mẹ của tôi ở xa lắm tận Cam Ranh nên địa chỉ tôi về là nhà của Cha Mẹ vợ của tôi.
 
Bước vào nhà người đầu tiên tôi gặp không phải là bà xã của tôi vì bà đi làm chưa về,mà là ông gia của tôi. Ông ôm tôi với ràng rụa nước mắt. Rồi đến mẹ vợ tôi, cũng với hai hàng nước mắt . Rồi đến con trai út của tôi. Hai đứa lớn đi học chưa về. Nhìn đứa con trai út của tôi thấy thân hình nó gầy ốm tôi không cầm được nước mắt.
 
Trong đêm trước khi từ giã trại, tôi mường tượng cảnh đoàn viên và cứ tưởng người tôi gặp đầu tiên là vợ tôi và tôi sẽ ôm vợ tôi vào lòng hôn lên môi lên má cho vơi đi những nhớ thương. Nhưng tất cả những sự kiện vừa mới xảy ra ngoài sự tiên đoán của tôi. Nhưng tôi không ân hận điều gì vì trước sau gì tôi cũng sẽ gặp lại vợ con tôi dù hơi muộn màng, không như mình tưởng.
 
Cuối cùng tôi đã gặp vợ con tôi trong sự xúc động đến nghẹn ngào. Tôi ôm hôn vợ tôi, các con tôi cùng với những giọt nước mắt trào dâng vì sung sướng. Hy vọng những ngày tiếp theo sẽ là những ngày hoan ca, hạnh phúc dù tôi biết sẽ rất ngắn ngủi vì sẽ phải đối đầu với những khó khăn, bất trắc, hiểm nguy chực chờ bủa vây trước mặt. ..
 
SanDiego
 
Uyên Nguyên
 


Thêm tiếp viên của Vietnam Airlines ‘dính’ vụ vận chuyển 11 kg ma túy

Báo Nguoi-viet

March 28, 2023

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Vụ bốn nữ tiếp viên hãng hàng không quốc gia Vietnam Airlines mang lô hàng chứa hơn 11 kg ma túy về Việt Nam còn liên quan một nữ tiếp viên khác cũng của hãng.

Theo nguồn tin của báo Zing hôm 27 Tháng Ba, nữ tiếp viên này cũng bị tạm giữ ngay sau khi Hải Quan phi trường Tân Sơn Nhất phát hiện sự việc.

Hơn 11 kg ma túy tổng hợp giấu trong tuýp kem đánh răng được bốn nữ tiếp viên Vietnam Airlines đưa từ Pháp về Tân Sơn Nhất. (Hình: Tuổi Trẻ)

Cụ thể, vào tối 16 Tháng Ba, Chi Cục Hải Quan Tân Sơn Nhất đã triệu tập và tạm giữ tiếp viên BTPT do xác định người này đã cung cấp số điện thoại đầu mối gửi hàng tại Pháp cho tiếp viên Trần Thị Thu Ngân nhận hàng và chia hàng cho ba tiếp viên còn lại là Nguyễn Thanh Thủy, tiếp viên trưởng; Đặng Phương Vân và Võ Tú Quỳnh mang về Việt Nam.

Cả năm nữ tiếp viên trên đều bị tạm giữ. Sau đó, cơ quan điều tra tại Sài Gòn cho phép gia đình bảo lãnh để họ được về nhà, song phải phối hợp điều tra khi có yêu cầu, vì… “chưa đủ cơ sở khởi tố.”

Cùng với việc thả năm tiếp viên, Công An ở Sài Gòn  vẫn đang tạm giữ hai nghi can liên quan đến vụ án.

Tờ Tuổi Trẻ hôm 22 Tháng Ba dẫn lời giải thích của ông Tô Ân Xô, phát ngôn viên Bộ Công An Việt Nam: “Các tiếp viên không biết bên trong 327 tuýp kem đánh răng nhận vận chuyển, có 157 tuýp đã bị trà trộn, cất giấu ma túy. Do đó, các cơ quan chức năng xác định chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự bốn tiếp viên hàng không của Vietnam Airlines.”

Ông Tô Ân Xô nói thêm, kết quả điều tra sơ bộ xác định khi bốn tiếp viên hàng không nêu trên đang lưu trú tại Pháp thì có một nghi phạm người Việt Nam nhờ chuyển hàng tiêu dùng là 327 tuýp kem đánh răng và 17 chai nước súc miệng về Việt Nam qua phi trường Tân Sơn Nhất, để “gửi cho người nhà.”

Tuy nhiên ông Xô không cho biết thêm chi tiết về nhân thân của người gửi hàng cũng như người nhận hàng tại Sài Gòn trong vụ này.

Phát ngôn của ông Tô Ân Xô được cho là “bất nhất” với tường thuật của các báo ở Việt Nam trước đó.

Thuốc lắc được giấu trong các tuýp kem đánh răng. (Hình: Kiến Tường/VNExpress)

Báo Dân Trí hôm 21 Tháng Ba ghi nhận lời khai ban đầu của bốn tiếp viên Vietnam Airlines là họ “đã nhận lô hàng kem đánh răng hàng chục kg thông qua một đồng nghiệp làm chung hãng, rồi chia ra cho từng người để đưa về Tân Sơn Nhất.”

Thù lao của họ trong vụ chuyển lô hàng này là “10 triệu đồng ($425).”

Bốn nữ tiếp viên cũng cung cấp các đoạn tin nhắn thỏa thuận tiền công vận chuyển với người giao hàng tại Pháp.

Trước đó, bốn nữ tiếp viên này đã bị tạm giữ ngay khi về đến phi trường Tân Sơn Nhất sáng 16 Tháng Ba, sau chuyến bay từ sân bay Paris Charles de Gaulle, Pháp.

Khi kiểm tra những tuýp kem đánh răng, nước súc miệng trong hành lý của bốn nữ tiếp viên, Hải Quan Tân Sơn Nhất phát giác 11.4 kg thuốc lắc và ma túy tổng hợp.

Người mang ma túy nhiều nhất trong số bốn cô được xác định là Đặng Phương Vân với tổng cộng 4 kg ma túy trong hành lý của cô này. (Tr.N)

Cơn ác mộng tồi tệ nhất của một gia đình

Theo nhật báo USA ngày nay

WASHINGTON — Tổng thống Joe Biden nhắc lại lời kêu gọi Quốc hội cấm vũ khí tấn công và băng đạn loại lớn, ông chỉ ra hai loại vũ khí tấn công mà một nghi phạm được cho là đã sử dụng hôm thứ Hai để giết ba trẻ em và ba nhân viên tại một trường học ở Nashville.

“Thật đau lòng, cơn ác mộng tồi tệ nhất của một gia đình,” Biden nói. “Chúng ta phải làm nhiều hơn nữa để ngăn chặn bạo lực súng đạn. Nó đang xé toạc các cộng đồng của chúng ta, xé toạc tâm hồn dân tộc. Chúng ta phải làm nhiều hơn nữa để bảo vệ trường học của mình để chúng không bị biến thành nhà tù.”

Biden gọi vụ nổ súng là “bệnh hoạn” và hoan nghênh phản ứng nhanh chóng của cơ quan thực thi pháp luật Nashville trong việc hạ gục kẻ xả súng. Ông lưu ý rằng nghi phạm, được xác định vào chiều thứ Hai là một người đàn ông chuyển giới 28 tuổi, có hai vũ khí “dạng tấn công” – mà ông muốn Quốc hội cấm – ngoài một khẩu súng lục, theo cảnh sát Nashville.

“Vì vậy, tôi kêu gọi Quốc hội một lần nữa thông qua lệnh cấm vũ khí tấn công của tôi. Đã đến lúc chúng ta phải bắt đầu đạt được sự tiến bộ hơn nữa.”

Đệ nhất phu nhân Jill Biden nói “con cái của chúng ta xứng đáng được hưởng sự an toàn tốt hơn” khi bà phản ứng với vụ xả súng trong khi phát biểu tại một sự kiện của Liên đoàn các Thành phố Quốc gia ở Washington.

Tôi thực sự không nói nên lời,” bà nói. “Tất cả chúng ta đứng lên, chúng ta sát cánh cùng Nashville để cầu nguyện.”

Thư ký báo chí Nhà Trắng Karine Jean-Pierre cho biết Nhà Trắng đang liên lạc với Bộ Tư pháp và các quan chức Nashville. Jean-Pierre trích dẫn các hành động theo quyền hành pháp mà Biden đã thực hiện đối với việc hạn chế súng nhưng nói rằng “điều đó vẫn chưa đủ”, Jean chỉ ra lời kêu gọi của tổng thống đối với Quốc hội, ra luật cấm vũ khí tấn công và đóng các lỗ hổng trong việc kiểm tra lý lịch của kẻ sử dụng súng, cả hai điều này đều không đạt được tiến triển trong bối cảnh Đảng Cộng hòa phản đối đề nghị luật tại Quốc hội.

“Chúng ta phải làm nhiều hơn nữa. Và Ngài tổng thống muốn Quốc hội hành động vì đã quá đủ rồi. Còn bao nhiêu trẻ em nữa phải bị sát hại trước khi các đảng viên Cộng hòa trong Quốc hội lên tiếng và hành động?”
Năm ngoái, giữa những lời kêu gọi cải cách súng đạn sau các vụ xả súng hàng loạt ở Uvalde, Texas và Buffalo, New York, Quốc hội đã thông qua luật lưỡng đảng có phạm vi khiêm tốn nhằm khuyến khích các bang áp dụng luật hạn chế súng và tăng cường kiểm tra lý lịch đối với những người mua trẻ tuổi.

Biden đã quay trở lại hành động theo quyền hành pháp ở quy mô nhỏ hơn do triển vọng mờ nhạt đối với luật cấm vũ khí tấn công tại Quốc hội. Đầu tháng này, Biden đã ký một sắc lệnh nhằm tăng số lần kiểm tra lý lịch được thực hiện trong quá trình bán súng. Lệnh không yêu cầu kiểm tra lý lịch phổ quát, thay vào đó chỉ đạo Tổng chưởng lý Merrick Garland làm rõ ý nghĩa của việc “tham gia vào hoạt động kinh doanh” bán súng.

Luật liên bang yêu cầu các cá nhân kinh doanh bán súng phải được cấp giấy phép liên bang và do đó phải kiểm tra lý lịch của người mua. Bộ trưởng Tư Pháp Garland sẽ ra các quyết định  để đảm bảo những người bán súng không được “cố tình vi phạm luật” và báo cho những người chưa biết về các yêu cầu kiểm tra lý lịch người mua súng để yêu cầu này được nghiêm chỉnh tuân thủ.

Phan Sinh Trần

Đường Đời – Lm. Nguyễn Tầm Thường, S.J

Lm. Nguyễn Tầm Thường, S.J

Tôi sống trong cuộc đời nhưng tôi có riêng đường đời của tôi.  Mới hôm nào bố mẹ nhìn bầy con chung quanh mâm cơm chiều.  Chỗ nào cũng là gần gũi yêu thương, từ nhà ra sân, từ ngõ đi vào.

Dòng sông lớn lên âm thầm rẽ nhánh.  Tôi đi theo tiếng gọi của đời tôi.  Lũ em lần lượt bước vào ngõ quanh của mỗi đứa.  Bây giờ đã là xa cách.  Trong cuộc đời, nhưng mỗi đứa có riêng đường đời của mình.

Kinh Thánh kể, sau khi dâng lễ ở Jerusalem về, Mẹ Maria lạc mất Chúa.  Mẹ hối hả đi tìm: “Cha con và mẹ phải đau khổ đi tìm con.”  Chúa thưa lại: “Mẹ tìm con làm chi, vì con phải ở nơi nhà Cha con” (Lc 2, 48-49).  Trong cuộc đời, Chúa có đường Chúa phải đi.  Mẹ Maria có lối của Mẹ.

Mỗi người có một cuộc sống riêng nên không đường của ai giống đường của ai.  Tuy vậy, chỉ có một người gọi, đó là Chúa.  Và cũng chỉ có một tiếng gọi, đó là tiếng gọi về Nhà Cha.  Chỉ có một thứ tiếng gọi và do một người gọi, thì đường đi có khác, vẫn ở trong toàn thể.  Ở trong toàn thể thì có liên hệ và ảnh hưởng.  Với ý nghĩa đó, cuộc sống đức tin của người này liên quan đến cuộc sống của người kia.  Lối về Nhà Cha phải đi riêng đường của mình.  Ðiều ấy có nghĩa là đi một mình.  Ði một mình trong hàm ý là tự mình đi chứ không phải là đi lẻ loi.

Chúa Giêsu lên đường về Jerusalem để chịu tử nạn.  Theo tiếng gọi, Phêrô cũng lên đường với Ngài.  Nhưng trên đường đi, Phêrô gợi ý cho Chúa bỏ cuộc (Mc 8,31-33).  Làm gì có Phục Sinh nếu Chúa Giêsu nghe lời Phêrô chối từ Thập Giá.  Từ bỏ con đường của mình phải đi là đánh mất bản tính của mình.  Nếu Chúa cũng chỉ là Chúa khi Chúa đi con đường của Chúa thì đấy phải là định luật không thể thay thế cho tôi.  Tôi sẽ chẳng còn là tôi nếu chối từ con đường của mình.

*****

Mỗi người có một con đường, vì sao họ lại không đi được đường của họ?

Trên đường đời, cả hai: đau khổ và hạnh phúc, đều là những tiếng gọi dỗ dành làm tôi lạc lối.  Ðau khổ dẫn tới lẩn tránh đường đi.

Phêrô đã âm thầm cảm nghiệm được một khúc đời khốn khó nếu để Chúa về Jerusalem tử nạn.  Ðau đớn thường dẫn đến chạy trốn.  Trên đường đi, có những quãng đời rộn rã tiếng cười như ngày Chúa long trọng vào thánh thánh: “Dân chúng rất đông đảo, trải áo choàng trên đường, nhóm khác chặt cây mà lót lối đi.  Kẻ trước, người theo sau tung hô rằng: Hosanna, con vua David.  Vạn tuế Ðấng nhân danh Chúa mà đến.  Hosanna trên chốn trời cao” (Mt 21,8-9).  Tưng bừng là thế đó, nhưng lại không hiểu những ngày hắt hiu: “Hồn Ta buồn quá đỗi, muốn chết được.  Các ngươi hãy ở lại mà thức với Ta.”   Ðã chẳng ai thức với Chúa trong giờ phút lẻ loi nhất ấy: “Simon, ngươi ngủ sao? Ngươi không thể thức với Ta được một giờ ư?” (Mc 14,34-37).  Có những ngã tư đông đúc, cũng có những ngõ vắng dẫn vào cô tịch đìu hiu.  Ngõ vắng ấy là ngại ngùng.  Cô tịch đìu hiu kia là đau khổ.  “Ai bỏ tất cả mà theo Ta sẽ được gấp trăm” (Mc 10,28-30).  “Ai muốn theo Ta hãy vác thập giá mà theo Ta” (Mc 8,34).  Lời ban đầu là quãng đường đẹp hứa hẹn đầy mộng ước.  Lời kế tiếp là khúc vắng dẫn vào đìu hiu, cô tịch.

Chúa không về Jerusalem để chết vĩnh viễn trên thập giá, mà là để đón nhận phục sinh vì hoàn tất thánh ý của Chúa Cha.  Bởi đó, đường về Nhà Cha thì Nhà Cha mới là cùng đích.  Nhưng cô tịch đìu hiu, những ngõ vắng nếu có trên đường đi, tôi phải chấp nhận.  Chối từ phương tiện là chối từ cùng đích.  Ðường của Gioan Tẩy Giả là “mọi thác ghềnh sẽ được lấp đầy, đồi cao sẽ hạ thấp, nơi cong queo nên ngay thẳng” (Lc 3,4-6), để dọn đường cho Ðấng Cứu Thế đến.  Chấp nhận đường của mình.  Gioan đã phải đi những quãng đường rất vắng vẻ, rất đìu hiu trong ngục tối vì dám làm chứng cho sự thật.  (Mc 6,17-28).

Trời sa mạc rộng quá.  Gioan cất tiếng kêu.  Tiếng kêu trong sa mạc thì thấm vào đâu.  Nhưng lối đi của Gioan là thế.  Sứ mạng của sứ ngôn là lên tiếng.  Không thể để cái hoang vu của sa mạc làm nản lòng.  Dù không có ai nghe, người sứ ngôn vẫn phải cất tiếng.  Chối từ lên tiếng là đánh mất bản tính làm sứ ngôn của mình.  Bản tính đó hệ tại là người sứ ngôn có lên tiếng hay không chứ không hệ tại người nghe chối từ hay chấp nhận.

Gian nan làm người ta muốn chối từ con đường của mình thế nào thì hạnh phúc giả cũng làm người ta lạc lối như thế.

Ảo ảnh hạnh phúc dễ đưa lầm đường.

Vì đường đời đi trong cuộc đời, nên có lúc người khác đi cùng với tôi.  Ði cùng không có nghĩa là đi con đường của nhau.  Ðường tôi đi vẫn là của riêng tôi, nên dù không ai đi cùng, tôi vẫn phải đi.  Những lúc trên đường vắng ấy, một quán hạnh phúc bên ngã rẽ dễ mời tôi tắt lối quẹo ngang.  Sau những ngày ăn chay trong sa mạc, Chúa đói.  Ma quỷ đã đến cám dỗ Ngài: “Nếu ngươi là con Thiên Chúa, thì hãy truyền cho viên đá này thành bánh” (Mc 4,3).  Luôn luôn có lời ngọt ngào bảo tôi chối bỏ con đường của tôi.

Trong hôn nhân, biết bao đổ vỡ đã đến từ những bóng mát hạnh phúc ở bên cạnh.  Trong đời tu, biết bao trống trải đã ủ xuống hồn vì những lời gọi không chính đáng.  Mỗi người có một lối đi.  Vì cùng đi trong cuộc đời, nên sẽ thấy có người bước tới, có người quay về, có người tắt ngang.  Ðiều ấy dễ gây xôn xao.  Có người lấy bóng hạnh phúc của kẻ khác làm của mình, vì thế họ chẳng bao giờ tìm được hạnh phúc thật.  Có người lại lôi kéo kẻ khác vào con đường của họ.  Làm như thế, ngỡ là yêu thương, nhưng thật ra, họ đã tàn tật hóa con đường của nhau phải đi.  Nâng đỡ nhau trên đường đi không bao giờ có nghĩa là đi con đường của kẻ khác.  Yêu thương là để kẻ khác đi trên con đường của họ.

Nguy hiểm trên đường đi là sự lừa dối lương tâm của chính mình. Khi người ta gian lận nhiều lần, thì dần dà sẽ thành thói quen, nhưng thành thói quen không có nghĩa là được phép.

Cứ đi lại nhiều lần trên bãi hoang, thì tự nhiên sẽ thành đường đi, nhưng thành đường đi không có nghĩa đấy là chính lộ.

*****

Lạy Chúa, hôm nay con muốn nói với Chúa về nỗi lòng của con đã thấy gì trên đường con đi.  Trên đường đi, con thấy có nhiều quán trọ.  Có quán cho con bóng mát.  Có quán bảo con đừng đi.  Mệt nhọc làm con muốn dừng nghỉ.  Chống đối, hiểu lầm, ghen tỵ, kết án làm con muốn bỏ cuộc.  Và dường như, nếu con càng dừng nghỉ thì con càng ngại đi.  Nếu con càng làm quen với lười biếng thì con càng ngại ngùng trở về con đường Chúa muốn con sống.  Rồi, đường đi cứ thế mà chậm thêm.  Và, cũng trên đường đi, sao có nhiều quãng đường thật xấu, gồ ghề như quãng đường Chúa đi xưa.
Hình ảnh đồi sọ làm con tính toán lưỡng lự.  Có những quãng đường sao mà tối tăm làm con hồ nghi không biết có phải là đường thật không.  Ðây là lúc con phân vân không biết thánh ý Chúa ở đâu.  Và cũng là những lúc con bị cám dỗ nghi ngờ ơn gọi Chúa đã ban.  Ði trọn tiếng gọi của mình theo Phúc Âm không dễ vì có nhiều hình ảnh đánh lừa con.  Có phải vì thế mà Chúa đã dặn: “Ðường dễ dãi sẽ dẫn đến hư đi” (Mt 7,13-14).

Hôm nay, có điều con cũng muốn thưa với Chúa là dù được an ủi hay chịu đựng âm u của những ngày nặng nề, con vẫn nghe thấy tiếng Chúa khuyến khích con đi con đường của riêng con.  Tuy có khó khăn nhưng con vẫn tin ở trước mặt là một bình minh rất đẹp.  Ðiều ấy làm con vững tâm.

*****

Trong lịch sử lầm đường, chối bỏ lối đi của mình bao giờ cũng có mặt của Satan.  Khi Phêrô ngăn cản Chúa đừng chịu chết.  Chúa mắng: “Satan hãy cút khỏi sau Ta vì đây không phải là đường lối của Thiên Chúa” (Mt 8,31-33).

Phúc Âm thánh Luca nói về Giuđa như sau: “Satan nhập vào hắn, và y đi thương lượng với các thượng tế để làm sao nộp Ngài cho họ” (Lc 22,3-4).

Trong sa mạc, kẻ cám dỗ Chúa đừng đi con đường của Chúa cũng là Satan (Mt 4,1-11).

Ngày xưa trong vườn địa đàng, Adong, Evà đã không đi được con đường của mình cũng vì lời ma quỷ lừa gạt.  Lịch sử lầm đường là lịch sử có mặt của Satan.  Ðiều ấy cho tôi tin chắc rằng khi tôi không muốn đi con đường của mình, tôi phải cẩn thận vì tiếng nói của thần dữ rất tinh vi.

Nói về hành động Giuđa đi lạc lối, Phúc Âm thánh Gioan kết luận: “Lập tức hắn đi ra và trời đã tối” (Gn 13, 30).  Khi nói trời đã tối, Gioan không có ý viết một bài văn chương tả cảnh hoàng hôn.  Bằng ngôn ngữ thần học, rất sâu sắc, Gioan muốn nói khi con người chối bỏ ơn gọi của mình để Satan đổi hướng đời mình phải đi, đấy là lúc “người ta yêu mến bóng tối hơn sự sáng” (Ga 3,19).

Không đi đường mình phải đi, chìm vào bóng tối thì tôi tìm thấy gì trong vùng đất ấy?

Trời đã tối, tiếng than ngắn ngủi mà thăm thẳm như nỗi tuyệt vọng mịt mù, buông xuống che kín một đời người.  Lời thánh Gioan nhắn nhủ nghe buồn như tiếng thở dài, nhẹ mà rất sâu: “Ai đi trong tối tăm thì chẳng biết mình đi đâu” (Ga 12,35).

*****

Lạy Chúa, con đường đời của riêng con.  Chối bỏ con đường của mình là lừa dối chính mình và tránh mặt Chúa, kẻ đang đợi chờ con ở đầu đường bên kia.

Lm. Nguyễn Tầm Thường, S.J

From: Le Ngoc Bich & KimBang Nguyen

Chuyện sủ nhi-Truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

Tiếu-Lâm  XHCN

Nguyễn Ngọc Tư, nhà văn trẻ (SN 1976 tại Cà Mau) hiện sống và làm việc ở Cà Mau. Tập truyện ngắn “Cánh Đồng Bất Tận” của cô đã gây ấn tượng đến người đọc! “Sủ Nhi” hay “Sửu Nhi”? Hiện nay trong nước có từ “sửu nhi” được những người có máu tiếu lâm dịch từ chữ “trẻ trâu” (bọn trẻ chăn trâu) để gọi lớp thanh niên mới lớn ít học, hoang đàng, lỳ lợm, và hay quậy phá              

TTO – Sủ Nhi đi làm ở Viện chữ Nhà nước chưa được nửa năm đã nhận 69 bằng khen, nghe nói còn sắp được cất nhắc lên làm viện phó trong vòng 3 tháng tới, nhằm vào kỷ lục viện phó trẻ tuổi nhứt châu Á – Thái Bình Dương.

Chuyện thăng tiến nhanh tuyệt đối chẳng phải vì Sủ Nhi là cháu ruột của viện trưởng, con trai của tỉnh trưởng, em vợ của phó bộ trưởng, mà hoàn toàn bởi tài năng xuất chúng của nó. Má nó, quá tự hào về thằng con đã phải đi thẩm mỹ viện nhiều lần, để thu gom cánh mũi lại, vì mũi phồng quá mức, bởi sự nở không ngừng.

Cả nhà Sủ Nhi hạnh phúc thì đương nhiên rồi, nhưng nhiều khi tự vả vô mặt mình, bởi tưởng đang mơ.

Ai mà dè được thằng nhỏ đã từng nhấn nước chết mèo, vặt trụi lông đuôi chó, cho gà nuốt dây thun, nhái tướng đi của bà Bốn Cụt bán vé số, chạy xe tạt nước cống vào người đi đường, cái thằng mà thiên hạ xúm nói “Cái đồ vô cảm đó chừng lớn lên chỉ có nước đi phá làng phá xóm…”, giờ lên tivi nhận giải công chức ưu tú trong lãnh vực cứu thua.

Chính Sủ Nhi cũng không thể tin được, bởi lưu ban suốt hồi phổ thông, và mảnh bằng đại học cũng do mua chợ đen mà có. Ngay hồi đầu năm thôi, nó mần thử phó giám đốc một bệnh viện, đã bị người ta vây đánh khi ưu tiên xếp lịch mổ bướu thịt cho một yếu nhơn, trong khi chục ca bịnh nặng ngàn cân treo chỉ đang chờ, với lý do “làm đúng qui trình”.

Vụ đó báo chí làm rùm beng teng xeng lên, khui luôn chuyện có lần nó bút phê vô bệnh án “Chết vì tắt thở”. May nhờ ba má nó dàn xếp kịp, nhưng nhờ vậy mà ông bác ở Viện chữ Nhà nước phát hiện ra nhân tài ngay trong nhà mình.

Sủ Nhi chính thức bước vô tòa lầu bự chà bá lửa, gia nhập vào đội quân gần một trăm viện sĩ, những người gần như cả đời gom não để sáng tạo ra những cụm từ, những câu chữ mang tính Nhà nước cao.

Thằng Sủ Nhi từng thắc mắc tính Nhà nước là tính gì, thì ông bác nói khó mà định nghĩa được. Sủ Nhi càng thấy khoái tỉ, bởi những thứ không có định nghĩa thì mông lung, nó làm sai bét cũng chẳng ai bắt bẻ. Nó linh cảm mình mà mần viện sĩ viện đó thì như xe cọp xoáy nòng, Ferrari đổ đầy xăng.

Vào buổi sáng đầu tiên nhận việc, Sủ Nhi nhận được đơn đặt hàng bên Sở Bảo Vệ, nhân viên của họ tung cước một tiếp viên trên máy bay, gái đó nằm vạ đòi xin lỗi. Và Sủ Nhi phán luôn khỏi cần nghĩ chi lâu: “Cứ nói mình duỗi cẳng cho máu chảy đều, là êm ru bà rù hết!”.

Nhưng Sủ Nhi khẳng định tên tuổi phải từ vụ gỡ bàn thua trông thấy cho Sở Cầu đường bởi cây cầu mới xây đã sập, nó phán:“Do biến động bất ngờ của dòng chảy cùng với độ lún khó lường của lòng sông”. Không học một ngày nào, nhưng thằng nhỏ nắm bắt nghề rất nhanh, bí quyết ở chỗ chữ phải có độ mông lung cao, và phải vô cùng linh hoạt.

Như khẩu quyết thần thánh của ông bác viện trưởng truyền lại, chữ của viện này phải như nước chảy không ai bẻ được, chữ phải như bóng không ai bắt được.

Một viện sĩ giỏi thì biết thay chữ “tụt hậu” bằng “phát triển chậm nhưng mà chắc”, cái đó Sủ Nhi phần năng khiếu từ trong máu, phần được ông bác viện trưởng truyền chiêu, nên nó cũng sáng tạo hơn người.

Sở Đi Lại để xảy ra bộn tai nạn xe cộ, Sủ Nhi cho mấy chữ:“Số lượng tai nạn trong khuôn khổ cho phép”. Chỉ nhiêu đó thôi mà phần thưởng của Sở không bị cắt xíu nào. Cũng vậy, Sở Sức Khỏe tai qua nạn khỏi sau 1 năm bệnh dịch tràn lan, chỉ bởi một câu của Sủ Nhi tháo cũi sổ lồng: “Tuy dịch bệnh xảy ra nhưng vẫn trong tầm kiểm soát”.

Tiếng tăm Sủ Nhi lên cao, Viện chữ Nhà nước càng được trọng vọng. Hôm kỷ niệm 80 năm lập viện, người ta khẳng định lần nữa sự đóng góp vô cùng bự của từng viện sĩ, giúp cho thiên hạ tránh được đại loạn, bởi mỗi tế bào não ưu việt của họ đã sản sinh ra bao cụm chữ lay động lòng người, xoa dịu vết thương, hàn gắn nỗi đau, như: “Lỗi do cơ chế”, “Sai sót trong thiện chí”, “Khuyết điểm mang tính khách quan cao”.

Viện trưởng, người góp phần sáng tạo ra những cụm từ mang tính mỹ cảm ngút trời ấy, vốn đau đáu lo lớp hậu sinh chưa có ai xứng đáng để giao viện lại, may phát hiện ra thằng cháu mình, cảm thấy ưng bụng vô cùng. Nhưng không phải là không chạnh lòng, khi mỗi lễ Tết về, khách nườm nượp đổ về phòng thằng cháu, nhằm bày tỏ lòng biết ơn, nhờ nó mà ghế ai cũng vững như bàn.

Ngoi lên cao, kẻ ghen ăn tức ở cũng nhiều. Có lần thằng Sủ Nhi bị họ bắt quả tang đang chơi xếp hình với chục ngoài mỹ nữ, ai cũng nghĩ phen này nó chết chắc, nhưng thế nào mà lỗi cuối cùng là do “Chưa được chừng mực trong công tác gần gũi quần chúng”.

Cũng năm đó, Sủ Nhi say rượu lái xe vô đường ngược chiều bị chụp hình đăng báo, trong bản kiểm điểm đầy nước mắt, nó kêu mình “Xác định phương hướng chưa được sâu sắc”.

Chỉ duy nhất một lần Sủ Nhi phải chịu thua, khi có một em ngắn ngủn tới nhà mang theo một que hai vạch bắt đền nó. Dù chữ nó có ảo diệu cỡ nào, kiểu như “Rút chậm một nhịp so với thời đại”, thì cuối cùng nó cũng bị em Ngắn nhốt vô tờ hôn thú, chỉ bằng một câu trần trụi hơn: “Tía tui là vụ trưởng, cưng tính sao thì tính!”. Sủ Nhi còn biết tính gì, đầu hàng vô điều kiện.

Ông Trời như thấu hiểu nỗi đau của nó khi có cô vợ ngắn quá cỡ, nên đền bù xứng đáng. Năm sau, Sủ Nhi một bước lên viện trưởng, bởi ai cũng thấy không cất nhắc nó sớm, là có tội với non sông!

 NGUYỄN NGỌC TƯ

From: Phan Sinh Trần

Nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội mình mà chết. (Ga 8:24)

Mến chào bình an cục cưng của Chúa! Lời chúc hôm nay là Bạn có được một quả tim giàu lòng từ bi và nhân hậu để mang yêu thương vào nơi oán thù.

Cha Vương

Thứ 3: 28/03/2023

TIN MỪNG: Nếu các ông không tin là Tôi Hằng Hữu, các ông sẽ mang tội mình mà chết. (Ga 8:24)

SUY NIỆM:  Chúa nói: muốn hiểu và tin lời Chúa thì phải ngước tầm nhìn lên cao: “Khi các ông giương cao Con Người lên, bấy giờ các ông mới biết là Tôi Hằng Hữu.” Và chỉ khi nào tin Chúa Giêsu Hằng Hữu, lúc đó mới khỏi “mang tội lỗi mình mà chết.” Nhiều lúc cuộc đời bạn giống như chiếc xe bị lún xuống vũng lầy: càng gầm rú lại càng bị lún sâu. Mải mê làm ăn, mong có một cuộc sống thoải mái. Nhưng khổ nỗi, đã có rồi lại muốn hưởng thụ thêm; và vì thế có khi lại vướng mắc vào những đam mê tội lỗi, muốn tháo gỡ ra thì lại bị đắm sâu hơn. Bạn ơi, nếu cứ để mình bị sa đà trong việc hưởng thụ, thì không bao giờ bạn thoát khỏi vòng luẩn quẩn của những sự hạ giới. Đừng để mình phải chết trong tội như thế, nhưng hãy ngước nhìn lên Đức Ki-tô chịu đóng đinh thập giá để Chúa nâng bạn lên với Ngài.

LẮNG NGHE: Tôi ngước mắt nhìn lên rặng núi, ơn phù hộ tôi đến tự nơi nao? / Ơn phù hộ tôi đến từ ĐỨC CHÚA là Đấng dựng nên cả đất trời. / Xin Đấng gìn giữ bạn đừng để bạn lỡ chân trật bước, xin Người chớ ngủ quên. / Chính CHÚA là Đấng canh giữ bạn, chính CHÚA là Đấng vẫn chở che, Người luôn luôn ở gần kề. (Tv 121:1b,2,3,5)

CẦU NGUYỆN: Lạy CHÚA, xin nghe lời con cầu khẩn, / tiếng con kêu, mong được thấu tới Ngài. / Buổi con gặp gian truân, xin Ngài đừng ẩn mặt, / trong ngày con cầu cứu, xin Ngài lắng tai nghe / và mau mau đáp lời. (Tv 102:1-3) Đừng để con chết trong vũng lầy tội lỗi.

THỰC HÀNH: Đọc chậm và suy niệm Kinh Ăn Năn Tội và cố gắng tránh xa dịp tội nhé.

From: Đỗ Dzũng

Hãy Đưa Con Trở Về – Trung Quân 

Một thời chinh chiến – Quan Dương-Truyện hay cuối tuần

 Nguồn từ Bùi bảo Sơn

Tháng 10/70 tôi theo đại đội di chuyển về chi khu Buôn Hô. Khi làn bụi đỏ mịt mù vừa lắng xuống, thị trấn Buôn Hô hiện ra trước mắt làm tôi chới với . Thị trấn gì đâu mà chỉ có một nhúm nhà tole thấp lè tè nằm phơi mình dưới nắng, xa hơn tí nữa là những dãy nhà sàn của người thiểu số . Còn đang ngơ ngác thì bị pháo kích. Nghe tiếng đạn bay sèn xẹt trên đầu tôi hoảng hồn nhảy đại xuống một chiếc hố cá nhân ngồi núp. Mấy người lính thuộc quyền đứng phía trên cười ngất, tôi ngạc nhiên hỏi lý do cười, họ bảo :

– Tiếng đạn đi như thế nó không rớt trúng mình đâu, chuẩn úy đừng sợ

Quả như thế thật. Trái đạn rơi cách xa chi khu hơn nửa cây số. Nhưng tiếng sợ làm tôi bị chạm tự ái. Dù gì tôi cũng là cấp chỉ huy. Thế là tôi bèn nhảy phóc lên đứng hiên ngang tỏ vẻ mình ngon lành . Một tiếng khác bay vèo tới , nghe tiếng riu ríu trên đầu tôi ngước cổ lên nhìn . Nhưng đám lính lần này nhanh hơn con sóc . Thoáng một cái họ đã ở dưới hầm chiến đấu gọn gàng . Một bàn tay kéo tôi té nhào theo .

– Chuẩn úy ơi khi nào tiếng đạn bay nghe kin kít như đàn bà nghiến răng đánh ghen thì lo mà chui vào hầm ngay vì nó sẽ rớt rất gần mình đó .

Chưa kịp quay qua cự nự nghe nói thế tôi bèn im . Quả đạn rớt ngay vòng rào . Bụi đất cát đá bay phủ đầy trên miệng hầm . Tôi nghe rõ tiếng loảng xoảng của mảnh đạn chém vào mái tole của chi khu . Một mảnh đạn nhỏ bay sượt ngang gò má, tôi nghe ran rát như bị móng tay ai cào. Thế là còn đang chân ướt chân ráo mùi mực thư sinh chưa kịp phai, tôi đã lãnh thẹo . Đúng là lãng xẹt. Bài học đầu tiên của chiến trường đã dạy cho tôi nhiều kinh nghiệm đáng giá sau này. Hôm nhận trung đội, đứng trước 23 người lính thuộc quyền xì xào mặt ông chuẩn úy này còn búng chảy ra sữa chắc mới rời vú mẹ quả chẳng sai . Nhưng thực sự vết thương trên mặt tôi không chảy ra sữa mà chảy ra máu . Đó là những giọt máu đầu tiên tôi đã đổ ra trong đời quân ngũ . Khi bị chảy máu người đầu tiên tôi nghĩ đến là má tôi . Má giờ này ở Ninh Hòa chắc không biết thằng con đang trở thành người lớn. Bây giờ mỗi khi soi gương nhìn vết sẹo theo thời gian cộng thêm da mặt xếp ly nên chỉ còn thấy lờ mờ , lòng tôi sống lại cảm giác nao nao. Vết sẹo vẫn còn đây nhưng người cũ đâu hết rồi? Nhớ những đồng đội thuở nào mà sau này đã gắn bó cùng tôi suốt mấy năm trời ròng rã .

Tôi ra đơn vị nửa năm sau là đến tết . Để mong muốn có một cái tết yên lành, thiếu tá chi khu trưởng quyết định đưa hai khẩu pháo 105 ly trú đóng trên một ngọn đồi cách quận lỵ 14 cây số . Tôi có nhiệm vụ phải dẫn trung đội theo làm vòng đai. Lần này thì thực sự chơi với khỉ vì chung quanh là rừng núi bạt ngàn không có một bóng dáng người dân. Lúc mới đến Buôn Hô chê lên chê xuống, giờ lên nằm cố thủ đỉnh đèo Kati mới thấy hết dám chê ỏng chê eo. Buôn Hô coi vậy mà dù sao cũng còn có vài ba cô gái Thượng đen đúa chọc đỡ ghiền. Những sợi lông tơ trên mép giờ đã biến thành râu mọc khiêm nhường hai chùm ở hai bên . Dưới chóp mũi là những sợi lông lờ mờ lưa thưa giống như quẹt lọ nghẹ. Nhưng không để râu thì không thể được vì đám lính thuộc quyền chê là con nít. Rừng rú có ma nào thèm nhìn thành ra tôi quyết định không cạo. Chính quyết định này mà về sau hàm râu đúng là hại bạn khi tôi gặp Luận .

Nằm trên đỉnh Kati thét rồi rồi cũng có ngày tôi theo chiếc xe dodge đại đội về thị trấn để nhận tiếp tế. Việc đầu tiên khi về đến Buôn Hô lủi vô chợ để kiếm một ly cà phê vớ uống cho ấm lòng chiến sĩ (cà phê vớ là cà phê được người Thượng đựng trong chiếc vớ bỏ vào ấm nước nấu sôi lên xong chế ra ly chứ không dùng phin vì có phin đâu mà dùng). Đang nhấp nháp thì chợt tôi trông thấy một cô gái người kinh. Giữa một rừng người Thượng đen đủi, bóng dáng cô gái nổi lên như một vì sao giữa đêm tối trời. Cô gái bán mấy món hàng tạp hóa lặt vặt được bày trải trên một tấm ni lông. Chẳng có món nào để tôi có thể tìm cớ mua được. Nhưng cơ hội ngàn năm một thuở dễ gì tôi bỏ qua . Thế là tôi bèn mò tới ngồi chồm hổm trước mặt cô chủ. Dọ hỏi tên họ thì được biết tên Linh 18 tuổi . Thấy tướng tá của tôi râu ria không cạo, câu chào đầu tiên là : chào chú . Tôi thì bước vào tuổi 21 . Cách biệt nhau chỉ khoảng ba tuổi bị gọi bằng chú hơi ức . Tôi bèn mua một hộp dao lam. Linh hỏi chi vậy. Tôi đáp phen này thề quyết xuống tóc cạo râu để không bị gọi bằng chú. Đêm đó về đồn tôi cạo râu nhẵn thín . Mặt mũi lâu ngày được “ giải phóng “ nhẹ nhõm hẳn ra. Đám lính thấy thế tủm tỉm cười . Sau khi cạo râu xuống trình diện Linh, tưởng được xuống cấp anh ai dè Linh vẫn gọi bằng chú. Lần này lại kèm theo tiếng cháu khi xưng hô cho chắc ăn để phân định rõ ràng vai vế .

Mùa mưa bụi đất đỏ biến thành bùn nhão nhẹt theo bám gót giày nặng trịch. Lớp bùn thật lì lợm bám chặt đến nỗi phải dùng lưỡi lê nạy mới ra. Tôi cũng lì không kém. Dựa vào vai vế người lớn, tôi hiên ngang xuống chợ la cà. Bao nhiêu tiền lương mua hết cái này cái nọ đến độ Linh không còn hàng để bán :

– Mua hàng chỉ là cái cớ, tiền lính đâu có bao nhiêu chú nên để dành uống cà phê. Có rãnh thì xuống ngồi chơi với cháu cũng được không có sao đâu

Linh gọi tôi bằng chú, tôi không có lý do để xưng anh . Nhưng chú đứng cạnh cháu trông thiệt xứng đôi vừa cặp . Tuy thế tôi vẫn không thể xác định được rõ ràng tình cảm của tôi dành cho Linh là thứ tình cảm gì? Hình như tôi thương mến Linh bằng một thứ tình thân thiết ruột rà như anh với em. Chắc có lẽ hai đứa tôi cùng là người kinh, cùng xa quê, vì thời thế phải lưu dạt lên tận miền cao heo hút nên cần thiết nương tựa vào nhau .

Hè đến, tôi gặp Luận. Luận là cháu ruột Linh, gọi Linh bằng cô và chỉ thua Linh có một tuổi ( nghĩa là thua tôi 4 tuổi). Luận học ở Ban Mê Thuột nghỉ hè lên Buôn Hô thăm cô . Lần này thì tôi thực sự bị tiếng sét ái tình đánh trúng . Khi thấy Luận ngồi với Linh tôi mơ hồ dường như cô bé này tôi đã gặp ở đâu đây . Hồn tôi xính quýnh . Luận gọi Linh bằng cô nên suy ra gọi tôi bằng ông cho lễ phép ( vì tôi tụ trì ở vai vế chú của cô) . Xưng hô tréo cẳng ngỗng như vầy thì làm sao mà cua ? Rõ ràng bước đầu không thuận lợi. Nhưng sét đã đánh trúng rồi cho dẫu chết cháy, ông cháu gì tôi cũng phải liều mạng nhào vô .

Luận có một cái nốt ruồi duyên trên gò má phải. Tất cả nét đẹp dịu dàng tự nó toát ra không hề có một tí make up nào dính vào . Giọng nói của Luận nhẹ nhàng như chim hót . Nhất là khi Luận nói tiếng Thượng với những người dân tộc thiểu số, nghe líu lo ríu rít . Tôi không biết tiếng Thượng, tôi không hiểu được tiếng chim, nhưng âm thanh phát ra từ hai bờ môi xinh xắn kia bảo đảm nghe du dương hơn tiếng nhạc .

(Sau này ở Mỹ mỗi sáng trước khi đi làm có con chim đứng trên ngọn cây trước nhà thức dậy líu lo thay cho lời chào ” good morning” thế nào tôi cũng đứng lại chậm năm ba phút để mà thưởng thức . Tôi đem điều này kể cho bà xã tôi nghe . Vợ tôi hỏi:

– Anh có biết tại sao con chim nó hót nghe ngọt ngào trong trẻo hay không?

– Tại sao ?

– Là vì nó không phải nấu ăn, không phải giặt đồ, không phải rửa chén, không phải clean up nhà cửa , không phải đau đầu vì cái tật làm biếng , bày đâu xả rác đó , nhất là không phải nghe những câu hỏi vớ vẩn giống như anh

(Xét ra, lý lẽ của bà xã đúng vô cùng , hèn chi được tôi tin tưởng bâu vào chức vụ thủ lãnh của mình và dám con )

Sống trên rừng núi âm u, khí hậu ẩm thấp quanh năm lính tráng đứa nào cũng phì phèo điếu thuốc. Có chuyện gì vui : chia nhau điếu thuốc . Có chuyện gì buồn : chia nhau điếu thuốc . Tiễn đồng đội ra đi : cũng là điếu thuốc thay nhang . Điếu thuốc vì thế trở nên gắn bó . Khi sống ở Mỹ hành vi duy trì hút thuốc là một hành vi bị bà xã và đám con tôi biểu tình phản đối vì nó lạc hậu có hại cho sức khỏe . Tôi ghi nhận ý kiến phản đối hợp lẽ với nếp sống văn hóa cao đó , nhưng vẫn cứng đầu làm người lạc hậu . Nghĩa là hút thuốc dài dài . Hút trường giang không được thì hút lén , bị cấm giữa đám đông thì tìm nơi nào vắng vẻ mà hút. Nghĩ cho cùng đời tôi gắn bó với điếu thuốc chừng ấy năm , chừng ấy kỷ niệm dễ gì một sớm một chiều là có thể dứt bỏ được? Quãng thời gian còn lại là bao ngày , hơi đâu lo . Số mạng đâu có phải mình muốn sao là được vậy . Có ai biết được ngày mai ?

Hồi đó đám lính tráng cùng đại đội đa số hút Ruby quân tiếp vụ hoặc Basto xanh. Chỉ riêng mình tôi là hút Pall Mall. Không phải tôi xài sang mà vì điếu thuốc Pall Mall nó dài hơn các loại thuốc thường lại thẳng thớm quấn bằng loại giấy trắng trẻo có độ dai, mỗi khi viết chữ lên đó dễ đọc, ngòi bút bi cũng khó làm rách giấy. Tiện lợi nhất là vì nó dài nên số chữ viết lên đó được nhiều hơn là viết trên điếu ngắn. Quen với Luận một thời gian, chứng tỏ lòng thành cách mấy cũng không được gọi bằng anh, tôi tức lắm . Dưới sự nhận định đầy kinh nghiệm tình trường tôi cảm nhận được rõ ràng Luận đang kín đáo lo lắng cho tôi. Những tuần bận hành quân không xuống chợ Luận nhấp nha nhấp nhổm hỏi thăm . Tình cảm của tôi dành cho Luận đâu khác gì? Không máu mủ, không bà con , mắc chi lên chức ông với cháu cho khó ăn khó nói ? Khó nói bằng lời thì phải nói bằng cách viết thư , tôi là đàn ông con trai đương nhiên phải ra tay trước . Trâu tìm cọc chứ ai đời cọc lại đi tìm trâu ? Sẵn gói Pall Mall trong túi áo tôi đánh số từ 1 đến 20 , thế là cứ trên mỗi điếu tôi nắn nót một câu thơ tống tình thiệt là lâm ly bi đát. Thực hiện xong ý định tôi cho ngay ngắn vào gói . Xét theo chiến lược, viết thư trên tờ giấy trắng gấp lại khi gửi, sợ e lộ liễu quá Luận sợ không dám cầm, không gây được yếu tố bất ngờ về phía đối phương. Trong chiến thuật yếu tố bất ngờ là yếu tố then chốt quyết định mỗi trận đánh. Dùng điếu thuốc là yếu tố bất ngờ. Tôi là dân nhà binh, nên phải áp dụng yếu tố bất ngờ đó vào trận này. Mục tiêu là Luận .

Khi tôi móc từ trong túi ra gói thuốc, Luận hỏi:

– Cái gì đây ?

– Gói thuốc

– Cháu đâu có hút thuốc , ông đưa cháu làm gì?

– Chú muốn cai thuốc nhưng vất đi thấy uổng gửi Luận cất giùm

– Ông mà cai thuốc có mà trời sập

– Trời cũng sắp sập rồi đó cô bé . Cất cho kỹ đừng cho ai thấy nhen .

Luận ngây thơ nghe tôi nói sao tin vậy đem gói thuốc cất kỹ. Còn tôi thì hồi hộp chờ kết quả . Hai ngày sau , tôi mò xuống chợ. Thấy trên môi tôi vẫn còn điếu thuốc đang phì phèo , Luận nói:

– Ông đã bảo cai thuốc sao còn ngậm cái gì thế kia ? Hay là cháu trả lại cho ông gói thuốc ông đã gửi nhé .

Tôi vội vàng xua tay. Thì ra cô bé không tò mò mở gói thuốc ra xem. Ăn gian không được thì bỏ. Tôi hì hục viết thêm lá thư thứ hai. Khi đưa cho Luận kỳ này tôi đóng khuôn mặt thểu não hơn trước (cũng không quên ma giáo hơn trước)

– Chú lục trong ba lô thấy còn sót lại một gói . Luận trót giữ gói kia thì giữ luôn gói này luôn một thể cho có đôi có cặp

– Cháu đã nói rồi. Ông mà bỏ được cháu cạo đầu đi tu liền

– Luận có biết tại sao chú ghiền thuốc lá không?

– Không

– Ý nghĩa của điếu thuốc rất đặc biệt . Nó mang một sứ mệnh . Chỉ những ai có duyên phận thì ý nghĩa đó mới hiện ra .

– Gì mà ghê gớm vậy ?

– Không tin tối nay về nhà Luận thử mở ra sẽ thấy .

– Đâu cần tối nay . Cháu mở ra liền bây giờ . Ông coi nè .

Luận rút ra một điếu , hết hồn khi thấy trên đó có những chữ viết li ti . Khẻ bật lên tiếng kêu ngạc nhiên Luận chợt hiểu ý đồ của tôi, hai gò má nàng ửng đỏ :

– Cháu sợ

Gươm đã rút ra khỏi vỏ đâu dễ gì tra vô. Tôi hỏi:

– Luận sợ gì ?

– Luận không biết .

Đang từ cách xưng hô bằng cháu, Luận hạ giọng xuống xưng tên , tôi nắm phần chắc ăn được khoảng 70%. Phần 30% còn lại chỉ cần điều động hai con mắt biểu diễn làm sao đó thật “thê thảm” khi nhìn vào đối phương, bảo đảm đối phương chạy trời không khỏi nắng. Trong khoảng thời gian vài ba cái tích tắc của đồng hồ , khi tôi chưa kịp thực hiện trò ma mảnh đó thì cảm xúc không biết xuất phát từ đâu dâng lên trong lòng tôi ào ạt. Hai con mắt rơm rớm, tôi nhìn thẳng vào Luận một cách thiết tha, cái nhìn chân thật của một người yêu một người, cái nhìn sẵn sàng xả thân. Tóm lại những gì tôi biểu hiện ra ngoài nét mặt đều phát tiết từ con tim chân thành chứ không nằm trong kế hoạch dự trù. ( lại nghiệm ra thêm một chân lý : không thể dùng lý trí để mà cãi lý lẽ với con tim ). Tôi run giọng nói với Luận :

– Những gì anh muốn nói với Luận anh đều viết trong hai gói thuốc. Anh hy vọng sau khi đọc xong Luận sẽ hiểu

Tự nhiên tôi xưng anh ngon lành. Nhưng mặc kệ bất kỳ Luận nghĩ gì, tôi quyết định sẵn dịp này xuống chức làm “anh ” chứ không thèm làm “ông ” nữa .

– Luận không biết

Lại không biết. Những tiếng “không biết” nghe sao mà dễ thương . Dễ thương ở chổ không phản đối tiếng anh khi tôi chuyển hệ và không gọi tôi bằng ông xưng cháu nghe chói tai như trước. Đảo hai con mắt một vòng chung quanh chợ thấy không có ai , tôi làm bạo nắm tay Luận , Luận sợ hãi rụt lại , nhưng sau đó để yên run rẩy. Tôi 21 Luận 17 hơn nhau có bốn tuổi , nhưng khi tỏ tình với Luận giống y như ông già đi dụ dỗ con nít . Chắc có lẽ tại vì tôi sớm lăn vào vùng sương gió nên kinh nghiệm già trước tuổi , còn Luận dù sao cũng chỉ là một bông hoa đồng nội mộc mạc đơm lên từ chốn thâm u cùng cốc. Nhưng tình cảm tôi dành cho Luận không hề giả trá, đó là tình yêu chân thật phát xuất từ trái tim.

Hôm sau tôi lại xuống núi ( tôi đóng quân trên ngọn đồi , nên khi xuống chợ gọi là xuống núi). Luận trong chiếc áo bà ba màu trắng, thấy tôi từ xa khuôn mặt Luận rạng rỡ hẳn lên

– Đọc thư anh viết chưa

– Không biết

– Nghĩ sao

– Không biết

Thuở đó chưa có câu hát ” con gái nói không là có “, nhưng tôi biết những tiếng trả lời không biết của Luận có nghĩa là có biết

– Nhưng em sợ cô Linh buồn

Tự giác xưng em ngọt xớt . Chợ miền núi tuy nhỏ bé tí tẹo nhưng vẫn có lác đác vài ba chục người dòm ngó chứ nếu không thì tiếng em ngọt ngào kia thế nào cũng bị tôi thưởng cho một chục cái hôn là ít . Sau này có một lần tôi canh vào lúc trời chạng vạng tối vắng người , tôi ôm Luận và hôn trên đôi môi đó . Khi ” bị” tôi hôn hai con mắt Luận nhắm nghiền lại . Luận chưa biết cách hôn đáp trả . Đã thế khi tôi hôn xong Luận lại còn đưa tay lên chùi hai bên mép một cách vụng về lúng túng . Cử động phũ phàng đó không làm tôi phiền lòng mà ngược lại tôi rất vui vì nó chứng tỏ lần đầu tiên đôi môi Luận được áp vào bởi đôi môi của người khác phái .

– Em là cháu của cô Linh , ở cùng chung nhà , chắc em cũng hiểu rõ tình cảm của anh dành cho Linh không giống như tình cảm của anh dành cho em phải không? Anh sẽ giải thích với Linh sau

Sau này Linh nói với tôi như một lời gửi gắm :

– Luận tuy 17 nhưng hãy còn con nít lắm, mong chú thật tình, đừng làm nó khổ

– Chú hứa

( xưng chú với người cô , xưng anh với người cháu mất cả tôn ti trật tự , nhưng ai bảo Linh gọi tôi bằng chú ráng chịu)

Luận tặng tôi một chiếc còng nhỏ đeo vào cườm tay làm bùa may mắn . Chiếc còng chỉ là một thanh đồng được uốn tròn lại . Người Rhadé dùng để tặng cho nhau biểu hiện ký thác niềm tin . Tài sản của người Thượng được định giá bởi những cái ché , những con trâu những con bò, họ dùng dao nhọn khắc lên chiếc cong một vạch mỗi khi mua được thêm một cái ché hoặc một con trâu hay bò đó. Nhìn những vạch được khắc trên chiếc cong thì biết người chủ chiếc cong giàu hay nghèo. Chiếc cong Luận tặng, tôi khắc lên đó một vạch mỗi khi tôi nhớ. Những khi nào mắc bận hành quân không xuống chợ được nghĩ đến Luận, tôi dùng lưỡi lê dồn lên nhiều vạch. Sau khi đi hành quân về tôi đem chiếc cong xuống khoe. Luận cảm động nhưng thường chống chế :

– Anh xạo ghê

– Anh xạo nhưng xạo đầy chân thành

– Xạo cũng có chân thành nữa sao

– Có chứ

– Làm sao để phân biệt ?

– Nhìn vào mắt

-Nhìn vào mắt ?

– Phải. Người xạo chân thành ánh mắt họ thẩn thờ, hai tròng đen đứng yên một chỗ

– Còn giả dối ?

– Xạo giả dối thì hai tròng đen chạy qua chạy lại không hề đứng yên .

– Xạo . Xạo Xạo

Luận cười sung sướng . Nhìn Luận cười rạng rỡ , bước phong sương của tôi tưởng chừng như muốn mỏi . Tôi muốn dừng chân . Tôi muốn có một mái ấm gia đình trong đó chỉ có tôi và Luận .

Nhưng Luận thì còn quá nhỏ . Còn tôi đang là một chiến binh , tương lai mù mịt không biết chết sống giờ nào .

Trong ba lô mỗi khi đi hành quân tôi thường bỏ vào đó một cây thuốc Pall Mall ( một cây 10 gói , một gói 20 điếu) , Mỗi lúc dừng quân tôi làm thơ trên mỗi điếu thuốc . Điếu nào câu thơ ưng ý thì tôi đánh số thứ tự để Luận còn biết đường mà đọc . Điếu nào viết dỡ thay vì vứt đi thì tôi hút .Vừa tiện vừa lợi . Vừa lãng mạn, vừa thực dụng .

Đêm 27 rạng sáng ngày 28/01/73 lợi dụng hiệp định ngừng bắn Paris vừa hiệu lực việt cộng mở một cuộc tấn công chiếm Hà Lan đánh thẳng vào Buôn Hô . Đại đội tôi tham chiến. Đại úy đại đội trưởng tử trận. Đại đội phó bị thương . Tôi tạm thời nắm quyền đại đội . Giằng co mãi đến cả tháng sau Hà Lan mới được giải tỏa. Buôn Hô đã vốn tiêu điều, khói lửa chiến tranh càng làm thêm xơ xác . Tôi trở lại tìm Luận và Linh. Dân chúng đã chạy sơ tán hầu hết . Chỉ còn sót lại một số ít người dân tộc thiểu số. Tôi không biết Luận và Linh đang ở đâu? Pleiku ? Thuần Mẫn? Ban Mê Thuột? Địa thế Buôn Hô tọa lạc trong cái lòng chảo, ngửa mình nằm trên một con đường duy nhất nối liền Ban Mê Thuột – Pleiku , còn chung quanh là rừng và núi . Đầu con đường về hướng đông là Hà Lan đang xảy ra chiến trận, chỉ còn một lối cho dân chúng chạy giặc ngược lên đó là Thuần Mẫn hoặc Pleiku . Đơn vị tôi sau khi lâm trận đang bận chỉnh đốn, tôi không thể bỏ đi . Còn Luận thì chắc chắn không biết đơn vị tôi đang di chuyển về hướng nào để liên lạc vì nguyên tắc nhà binh luôn luôn bảo mật lệnh di quân. Kế tiếp tôi được thuyên chuyển về phòng 1 tiểu khu Darlac. Lúc quen với Luận tôi nghe phong phanh nhà Luận ở đường Hai Bà Trưng . Suốt một tháng trời tôi quầng nát cả một khúc đường , nhưng bóng chim tăm cá. Rồi thì lệnh của quân đoàn 2 chỉ định tôi biệt phái qua CSQG . Tôi nhận sự vụ lệnh giã từ Ban Mê Thuột để về trình diện Bộ chỉ huy CSQG Khu 2 (Nha Trang) . Tôi được gửi đi học một khóa nghiệp vụ tại Cam Ranh. Khi mãn khoá tôi được đổi ra Bình Định.Tất cả mọi sự việc xảy ra quá nhanh với một tốc độ dồn dập làm tôi trở tay không kịp .

Trong khi tôi chưa có được nghỉ phép để trở lại Buôn Hô tìm Luận thì biến cố 30/04/75 ập đến . Thế là tôi bặt tin Luận . Xem như tôi là một kẻ phụ tình . Trước đây tôi cũng đã từng yêu và từng bị phụ tình , Khi bị bồ đá lòng tôi vô cùng đau đớn , cứ tưởng không có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau bị đá . Nhưng khi tôi phụ tình Luận trong lòng tôi còn đau hơn thế nữa . Phụ người cả là một ray rứt vô bờ. Tôi đâm ra thông cảm được nỗi khó khăn của những người phụ tôi . Chắc họ không vui sướng gì khi quyết định chia tay.

Chiều nay xứ người nơi cách chiến trường xưa nửa vòng trái đất, những cơn mưa đầu hạ rơi hoài không tạnh . Hai bàn tay xoáy chặt lại với nhau, tôi nhìn những mảnh vụn của gỗ cây mục từ cánh rừng trước nhà bị mưa cuốn đi trong dòng nước, rồi lẩn thẩn nghi vấn : những mảnh gỗ vụn kia sẽ trôi qua bao nhiêu ải trạm của mệnh số để ra sông trước khi tuôn về biển? Hay chỉ trôi tạm trên cõi đời này trong một cơn mưa để rồi bị vùi dập vào một ống cống hay một đường mương cống rãnh nào đó? Và nỗi nhớ có như những mảnh vụn kia trôi qua bao nhiêu phiền muộn, trôi qua bao nhiêu sóng gió của tai ương? Trong đầu óc trống trơn khô héo này bừng bừng lên cái không có. Cái không còn gì cả .

Hay chỉ là những cảm xúc thoáng ẩn hiện qua cuộc sống quá khô khốc này? Tôi chẳng tìm được ra câu giải đáp, chỉ biết rằng bỗng chiều nay chiến trường xưa mưa bay chập chùng. Bỗng chiều nay rưng rưng trong tôi nỗi nhớ .

Quan Dương

Hình chụp năm 1974

From: Phan Sinh Trần

CHÚA GIÊSU VÀ QUÂN DỮ – Trầm Thiên Thu

Trầm Thiên Thu

Sau nụ hôn phản bội, Giuđa lẩn vào đám người đến bắt Chúa Giêsu.  Công việc của hắn đã xong.  Việc hắn phải làm lúc này là hồi hộp quan sát với hy vọng rằng những người bắt Chúa Giêsu sẽ thực hiện đúng giao kèo và không để Chúa Giêsu vuột khỏi như bao lần trước trong quá khứ.

Chúa Giêsu không có ý định như vậy, nếu Ngài muốn thì cũng chẳng ai làm gì được Ngài.  Thay vì chờ kẻ thù ra tay, Ngài nói với họ: “Quý vị tìm ai?”  Họ đáp: “Tìm Giêsu Nadarét

.”  Ngài xác nhận: “Chính tôi đây.”  Mặc dù đã có dấu chỉ điểm của Giuđa là nụ hôn, họ có vẻ vẫn nghi ngờ.  Ngu dốt hết sức!  Họ nghi người này dám ra mặt như thế thì không thể là người mà họ muốn bắt.

Thánh Gioan cho biết rằng khi Chúa Giêsu nói “Chính tôi đây” thì quân dữ đã “lùi lại và ngã xuống đất.”  Khi giải thích về sự té ngã của họ, chắc chắn rằng Thánh Gioan coi đó là một phép lạ do quyền năng của Chúa.  Có thể không phải cả đám họ đều ngã hết; có thể chỉ những người đứng ngay trước mặt Chúa Giêsu mới ngã, đó chính là những viên chỉ huy đã hỏi Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu cho phép điều gì đó thuộc quyền năng của Ngài để chiếu tỏa trong lời Ngài và vẻ uy nghi của Ngài, kẻ thù phải giật lùi và ngã nhào.  Đây không là lần đầu tiên Chúa Giêsu khiến kẻ thù hoảng sợ vì vẻ uy nghi của Ngài (x. Ga 7:44; 10:39).  Ngài sẽ mở đường cho họ bởi vì đó là ý muốn của Chúa Cha, nhưng không phải trước khi cho họ thấy rằng Ngài tự do hành động.  Ngài làm trọn lời tiên tri của ngôn sứ Isaia: “Bị ngược đãi, người cam chịu nhục, chẳng mở miệng kêu ca; như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng hề mở miệng” (Is 53:7).  Ngài làm vậy không phải vì yếu đuối mà vì chọn lựa.

TÌNH HUỐNG và THANH GƯƠM

Kẻ thù của Chúa Giêsu liền tận dụng tình huống này.  Chúa Giêsu trao mình mà không hề chống cự và xin tha cho các đệ tử.  Không có chiến đấu nên không có nguy hiểm, thế nên một số người trong đám lính tỏ ra hăng hái, bước tới và bắt Chúa Giêsu.  Giuđa giữ đủ mức độ yêu thương và lòng kính trọng dành cho Thầy để an thân, hắn để cho người khác hành động.  Các môn đệ ngạc nhiên trước các sự kiện này.  Chưa bao giờ họ thấy Thầy bị đối xử tồi tệ như vậy.  Những lần trước, khi kẻ thù tìm cách bắt Ngài, Ngài chỉ lặng lẽ lánh đi nơi khác, thế mà bây giờ Thầy lại chịu để cho chúng bắt.  Lúc này họ thấy Ngài nắm chặt hai bàn tay.

Ngay trong lúc dầu sôi lửa bỏng, các môn đệ xin ý kiến của Thầy Giêsu để có thể chiến đấu bằng gươm, vì hai người trong số họ có gươm, nhưng họ không hiểu ý Thầy mình.  Chiều tối, Ngài nói với họ: “Khi Thầy sai anh em ra đi, không túi tiền, không bao bị, không giày dép, anh em có thiếu thốn gì không?”  Họ đáp: “Thưa không.”  Ngài bảo họ: “Nhưng bây giờ, ai có túi tiền thì hãy mang theo, ai có bao bị cũng vậy; còn ai chưa có gươm thì bán áo đi mà mua.  Vì Thầy bảo cho anh em hay: cần phải ứng nghiệm nơi bản thân Thầy lời Kinh Thánh đã chép: Người bị liệt vào hàng phạm pháp.  Thật vậy, những gì đã chép về Thầy sắp được hoàn tất.”  Họ thưa với Thầy Giêsu: “Lạy Chúa, đã có hai thanh gươm đây.”  Ngài bảo: “Đủ rồi!” (Lc 22:35–38).  Có thể họ nghĩ rằng đây là cách Chúa Giêsu nói tới sự cấp bách.  Sự mạnh dạn của họ lớn hơn sự khôn ngoan.  Có gươm giáo trong tay, một số người trong số họ chờ lệnh của Thầy Giêsu, sẵn sàng xông vào đám lính Rôma.

Lúc đó, hành động nhanh chóng, vì Chúa Giêsu không còn thời gian để trả lời họ.  Phêrô bộc trực khi thấy Thầy bị bắt.  Ông không đợi Thầy trả lời, mà liền vung gươm chém thẳng vào đầu Malchus, một trong những người đang bắt giữ Thầy Giêsu.

Sau khi Phêrô chém đứt tai tên đầy tớ của thượng tế, Chúa Giêsu nghiêm giọng: “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm” (Mt 26:52).  Ý nghĩa câu nói không rõ ràng.  Có thể Chúa Giêsu có ý nói rằng “Cứ để như thế, không còn bạo lực nữa,” hoặc là “Cứ để mọi sự diễn biến; cứ để họ bắt Thầy.”  Trong lúc bị thương, hẳn là Malchus buông tay ra, và Chúa Giêsu liền dùng tay để gắn tai cho hắn.  NếuThầy Giêsu không làm phép lạ chữa lành tai cho Malchus, hẳn là Phêrô khó yên thân trong sân dinh thượng tế tối hôm đó.

Chúa Giêsu vẫn chủ động.  Quay sang Phêrô, Ngài nói: “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm” (Mt 26:52).  Ngài không tham dự vào việc tự vệ bằng bạo động, Ngài muốn yêu thương.

Bạo lực sinh ra bạo lực, đổ máu dẫn đến đổ máu nhiều hơn.  Dùng gươm phải được phép, nếu không sẽ phạm pháp.  Hơn nữa, Chúa Giêsu không cần họ trợ giúp: “Anh tưởng là Thầy không thể kêu cứu với Cha Thầy sao?  Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn mười hai đạo binh thiên thần!” (Mt 26:53).  Một đạo quân có 6.000 người.  Thay vì 12 môn đệ yếu đuối bảo vệ Ngài, Ngài có thể xin Chúa Cha ban cho mười hai lần sáu ngàn thiên thần giúp đỡ Ngài – tức là 12 x 6.000 = 72.000 quân.

Sau khi nói với Phêrô, Chúa Giêsu quay sang đám người đến bắt Ngài.  Mặc dù Ngài nói với mọi người, nhưng Ngài nhắm đến những kẻ có chức quyền, những kẻ chịu trách nhiệm về những gì xảy ra – các thượng tế, những người coi Đền Thờ, và các bô lão.  Chúa Giêsu đặt vấn đề: “Tôi là một tên cướp sao mà các ông đem gươm giáo gậy gộc đến?  Ngày ngày, tôi ở giữa các ông trong Đền Thờ, mà các ông không tra tay bắt.  Nhưng đây là giờ của các ông, là thời của quyền lực tối tăm” (Lc 22:52–53).

BẮT GIỮ

Chúa Giêsu không phản đối việc bắt Ngài nhưng phản đối cách thức, thời gian và nơi chốn mà họ bắt Ngài.  Họ đối xử với Ngài như thể Ngài là kẻ trộm cướp, trưởng băng đảng có vũ khí, hoặc kẻ phạm pháp.  Nếu có vấn đề sự khác nhau về học thuyết, họ cũng biết rất rõ rằng họ vẫn thấy Ngài giảng dạy ở Đền Thờ.  Họ có thể bắt Ngài giữa thanh thiên bạch nhật và đưa Ngài ra trước hội đường.  Chúa Giêsu biết tại sao họ không làm vậy – và chính họ cũng biết điều đó.  Họ biết họ kết tội Chúa Giêsu về những lời Ngài nói.  Họ sợ dân chúng vì tính thâm độc trong động lực và sự bất công trong cách đối xử của họ dành cho Chúa Giêsu.

Nhưng có ý nghĩa sâu xa về những gì xảy ra.  Họ là những kẻ độc ác.  Do đó hành động của họ hoàn tất lời tiên tri, như Chúa Giêsu đã xác định: “Nhưng thế này là để lời Sách Thánh được ứng nghiệm” (Mc 14:49b).  Những gì họ làm đều được Thiên Chúa sử dụng và ăn khớp với kế hoạch cứu độ.

Lúc đó, quân dữ có vẻ đã thắng thế.  Chúa Giêsu nói: “Đây là giờ của các ông, là thời của quyền lực tối tăm” (Lc 22:53b).  Họ đã nhiều lần muốn bắt Ngài nhưng không thể bởi vì giờ của Ngài chưa đến.  Bây giờ là lúc họ có thể tự do hành động.  Satan là hoàng tử của bóng tối, nó đã nhập vào Giuđa, kẻ thủ mưu thành công.  Giờ hành động của quân dữ cũng là giờ của quyền lực tối tăm, bởi vì họ hành động với tư cách là liên minh và vũ khí của Satan.

CÁC MÔN ĐỆ CHẠY TRỐN

Sau khi nói với đám quân dữ, Chúa Giêsu im lặng.  Các Thánh sử không cho biết có sự thảo luận giữa các môn đệ hay không, về những gì nên làm hoặc nên nói.  Các Phúc Âm chỉ cho biết cách hành động của các môn đệ: “Bấy giờ CÁC MÔN ĐỆ BỎ NGƯỜI MÀ CHẠY TRỐN HẾT” (Mt 26:56b).

Chạy trốn là hèn nhát, đáng xấu hổ.  Họ xa tránh Thầy Giêsu trong lúc nguy hiểm và bỏ mặc Thầy trong tay kẻ thù.  Tuy nhiên, chúng ta không nên coi đó là điều khó làm dịu tính nghiêm khắc về việc kết tội.  Chúa Giêsu đã giải tán họ và nói: “Nếu các anh tìm bắt tôi, thì hãy để cho những người này đi” (Ga 18:8).  Ngài phản đối họ dùng gươm giáo, vả lại Ngài cũng không tỏ dấu hiệu bỏ trốn.  Họ phải mau mắn quyết định điều cần làm, trong khi đó họ vẫn chăm chú theo dõi Chúa Giêsu, và họ quyết định chọn cách an toàn cho bản thân.   Khi họ thấy Chúa Giêsu bị bắt mà không tìm cách thoát thân, họ lẩn vào bóng tối của những tán cây ô-liu. Điều đó ứng nghiệm lời tiên tri về lời nói của Chúa Giêsu: “Ta sẽ đánh người chăn chiên, và đàn chiên sẽ tan tác” (Mt 26:31).  Khi đó, Thánh Gioan thấy Thầy Giêsu đơn độc nên cảm thương: “Bấy giờ toán quân và viên chỉ huy cùng đám thuộc hạ của người Do Thái bắt Đức Giêsu và trói Người lại” (Ga 18:12).

Khi Chúa Giêsu đã bị trói chặt và bị quân lính vũ trang vây quanh, đám quân dữ bắt đầu dàn hàng tiến về thành phố.  Thánh Gioan cho biết rằng “họ điệu Chúa Giêsu đến ông Kha-nan, nhạc phụ của ông Cai-pha.  Ông Cai-pha làm thượng tế năm đó” (Ga 18:13).  Truyền thống đặt dinh của ông Kha-nan– có lẽ cũng như dinh của ông Cai-pha – trên ngọn đồi phía Tây của thành phố, khoảng 60m tính từ căn phòng mà Chúa Giêsu đã ăn Lễ Vượt Qua với các môn đệ vài giờ trước đó.

THANH NIÊN CHẠY TRỐN

Đêm tối, mọi người trong thành phố đã yên giấc.  Chỉ có những lính canh còn thức bên các bức tường. Thánh Máccô cho biết rằng các môn đệ đã bỏ của chạy lấy người.  Trong các Phúc Âm, chỉ có Máccô thú nhận sự thật này: “Trong khi đó có một cậu thanh niên đi theo Người, mình khoác vỏn vẹn một tấm vải gai.  Họ túm lấy anh.  Anh liền trút tấm vải lại, bỏ chạy trần truồng” (Mc 14:51–52).

Thánh Máccô là người theo Chúa Giêsu khi còn khá trẻ – chưa tới 20 tuổi.  Ông không đi theo xa xa, mà đi theo trong đám đông.  Điều này cho thấy rằng ông không đi theo vì tò mò hoặc hiếu kỳ, mà thực sự quan tâm, thế nên ông trở thành môn đệ của Chúa Giêsu.  Và rồi ông bị quân dữ tóm lấy, nhưng ông bỏ áo để thoát thân, sợ quá nên ông chẳng ngại gì nữa dù lúc đó ông “trần như nhộng.”

Trình thuật Tin Mừng không cho chúng ta biết tình trạng đó của Mác-cô xảy ra trong khi người ta “dẫn độ” Chúa Giêsu từ Vườn Dầu tới dinh Kha-nan.  Có thể chàng trai trẻ Mác-cô là con của chủ nhân căn biệt thự Ghết-si-ma-ni và thức giấc vì tiếng la hét ồn ào của đám quân dữ.  Có một truyền thống cho rằng mẹ của Thánh Mác-cô là chủ căn nhà mà Chúa Giêsu và các môn đệ ăn Bữa Tiệc Ly.  Nếu truyền thống này đúng về vị trí của Phòng Tiệc Ly và dinh Kha-nan, hẳn là đám quân dữ dẫn tù nhân đi ngang qua Phòng Tiệc Ly.  Căn nhà của mẹ Thánh Mác-cô là một trong những nơi hội họp đầu tiên của các Kitô hữu thời sơ khai.  Đó là nơi mà Thánh Phêrô tới sau khi được thiên thần giải thoát khỏi nhà tù (Cv 12:12).

Chứng cớ chưa đủ thuyết phục, nhưng có điều nhỏ cho biết rằng chàng trai trẻ kia chính là Thánh Mác-cô.  Nếu đúng vậy, chúng ta có thể hình dung sự kiện đó vẫn sống động trong trí nhớ.  Nếu Thánh Mátthêu, Thánh Luca và Thánh Gioan biết điều này, hẳn là họ đã bỏ qua vì thấy không quan trọng.  Đối với Thánh Mác-cô, điều đó giống như một dấu ấn mà chính ông đã ghi dấu trong Phúc Âm do ông viết ra, giống như Thánh Gioan đã nói tới chính mình bằng cách nói “người môn đệ Chúa yêu.”

Lm Ralph Gorman –

 Trầm Thiên Thu (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)

From: Langthangchieutim

XIN NÓI THẲNG MẤY ĐIỀU – Mạc Văn Trang

Oanh Vy Lý

Mạc Văn Trang

Tôi thấy giữa Chính quyền với Dân, giữa Dân với nhau có những lầm lẫn nguy hiểm, nên xin nói rõ mấy điều.

  1. VỀ CHÍNH QUYỀN

1.1. Chính quyền vẫn nói: Chưa bao giờ đất nước vững mạnh, có được vị thế như ngày nay. Nhưng cứ mở mồm ra là chống “thế lực thù địch”, nhìn đâu cũng thấy “thế lực thù địch”, “phản động”, “chống phá”; “lực lượng 10 ngàn chiến sĩ 47 vừa hồng vừa chuyên tác nghiệp trên không gian mạng 24/24 đấu tranh với các thế lực thù địch”… Dư luận viên từ cấp huyện trở lên, “đông như quân Nguyên”. Chính những người này đem cái tư duy đấu tố từ hồi Cải cách ruộng đất vào xã hội văn minh ngày nay, phá hoại tinh thần khoan dung, hoà hợp dân tộc, phá hoại tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, gây nên không khí nghi kỵ, quy kết, chia rẽ, căng thẳng, hận thù trong xã hội ta.

Vợ chồng tôi đã nhiều lần nói rằng, chỉ có bọn xâm lược, đe dọa, lăm le xâm lược nước ta là thế lực thù địch. Còn tất cả người Việt Nam, dù ở trong hay ngoài nước, có quan điểm khác nhau, dù là đối lập, ở các đảng phái, hội đoàn khác nhau, yêu quê hương đất nước, đều là ĐỒNG BÀO MÌNH, không phải thế lực thù địch. Chỉ ai có hành động bán nước, phá hoại đất nước, lúc đó pháp luật sẽ xử lý, lịch sử sẽ kết tội.

1.2. Chả có thế lực nào chống phá được Đảng, Nhà nước này khi có lực lượng Công an hùng hậu “Chỉ biết còn Đảng còn mình”, “Quân đội trung với Đảng” trước tiên, hơn 5 triệu đảng viên và toàn hệ thống chính trị – cánh tay nối dài của Đảng, lúc nào cũng sẵn sàng: Có lệnh là “đồng loạt ra quân”… Chỉ có mấy người khùng mới đi “chống phá”. Chỉ có quy luật khách quan của lịch sử mới thắng những gì trái quy luật mà thôi. Vì vậy, chính quyền nên điều chỉnh sao cho hợp quy luật, chứ đừng làm những chuyện vô lý nữa. Ví như:

– Tổ chức đám dư luận viện, chuyên chửi bới những người khác ý kiến với chính quyền, nó làm xấu mặt chế độ và gây ô nhiễm không khí văn hoá- đạo đức xã hội…

– Quy kết, bắt tù tội những người phản biện, đấu tranh ôn hoà, phi bạo lực, làm không khí xã hội sợ hãi, nặng nề. Nếu ai nói, viết cái gì sai thì theo Luật phạt hành chính, có người bị hại thì kiện ra Tòa xét xử đàng hoàng… Như vậy đảm bảo quyền tự do ngôn luận ghi trong Hiến pháp và tạo nên không khí lành mạnh của một xã hội văn minh.

– Cho an ninh gác cửa, ngăn cấm người dân ra ngoài, phá đám những buổi họp mặt cho là “nhạy cảm”, đàn áp giải tán nhóm người tụ tập ôn hoà nhưng chính quyền “không ưa”, trong khi hàng ngàn, vạn người tụ tập tại các chùa làm các trò mê tín dị đoan thì chính quyền làm lơ, cho công an bảo vệ …

1.3. Bớt ác với dân đi!

Chính quyền toàn trị, luật pháp trong tay, muốn làm gì chẳng được. Nhưng bớt ác với dân đi! Xem việc gì ác, làm khó, làm khổ đồng bào mình thì bớt dần đi!

– Thời đại Trí tuệ nhân tạo rồi, giảm biên chế tối đa, cải cách thể chế, bớt họp hành đi. Bộ máy tinh gọn, ít người nhưng có năng lực, hưởng lương cao, sẽ bớt “hành” dân.

– Cải cách chế độ NHÀ TÙ, nhất là với tù chính trị, bớt hành hạ tù nhân và bớt làm khổ gia đình họ. Bắt người tù nhốt thật xa gia đình họ, ngặt nghèo chế độ thăm nuôi… Tàn ác quá! Khốn nạn quá! Tất cả họ đều là ĐỒNG BÀO mình, sao nỡ ác với nhau đến thế! Xem chế độ nhà tù ở các nước văn minh ra sao để mà học hỏi, thay đổi. Đoạn tuyệt với chế độ nhà tù kiểu đế quốc và kiểu nhà tù cộng sản đi! (Nhà tù cho “các quan” thì không biết thế nào, dân đồn đại nhiều lắm).

1.4. Bớt “nổ” đi, bớt “diễn” đi, Trung ương “diễn” một thì cơ sở “diễn” mười, cái gì cũng “diễn” thành lố bịch, ấu trĩ, dối trá, đạo đức giả. Những cái đó ảnh hưởng xấu đến văn hoá, đạo đức toàn xã hội.

Thế giới ngày nay chí có sống THẬT, chân thành, giản dị mới thu hút được nhân tâm. Giả dối thế nào cũng bị bóc trần.

  1. VỀ NGƯỜI DÂN

2.1. Dân ta ở đâu, vợ chồng tôi cũng hòa đồng được và thấy rất dễ thương. Nhưng sống ở trong Nam được ba năm, tiếp xúc, trò chuyện với rất nhiều người, nhất là những người Bắc vào sống trong Nam 10-30 năm nay, tôi phải nói lên một sự thật xót xa: Trong Nam, nhiều người THIỆN LÀNH, ngoài Bắc nhiều người XẤU ÁC! Thiện – ác không phải là tính sẵn, phần nhiều do hoàn cảnh tạo nên. Dân miền Bắc hoàn cảnh tự nhiên khắc nghiệt hơn, sống dưới “chế độ cộng sản” lâu hơn, nhất là qua các cuộc CCRĐ, đấu tranh Nhân văn – Giai phẩm, cải tạo tư sản, hợp tác hoá, bao cấp… nhiều hơn trong Nam mấy chục năm. Dân Nam bây giờ cũng bị “Bắc hoá” nhiều rồi.

Vợ tôi bảo, phân biệt Bắc – Nam thành “nhạy cảm”, ở đâu cũng có người Tốt, người Xấu, bạn bè mình người Bắc đều tốt cả đó thôi. Người Nam cũng có nhược điểm là: Làm đến đâu ăn đến đó, ít biết lo xa; ít chịu phấn đấu học hành, đàn ông hay nhậu…

Nhưng ở đây tôi muốn nói theo xã hội học là số nhiều hơn và ít hơn, mà cũng chỉ nói ở khía cạnh: Thiện lành và Xấu ác; người Thiện lành có thể ít học, chất phác; kẻ Xấu ác có thể có 6 bằng Đại học và bằng Cao cấp chính trị như tướng Đỗ Hữu Ca, nguyên Giám đốc công an Hải Phòng.

Và sau đây mới là điều đáng suy nghĩ hơn cho cả Bắc lẫn Nam. Mới hôm qua vợ chồng tôi cùng nghe câu chuyện: Một anh ở Thái Lan, về Sài Gòn, nói, sống bất hợp pháp ở Thái hơn 10 năm mà thấy tự do thoải mái, thân thiện, bình an quen rồi, về Việt Nam thấy sống gò bó, bất an, lại sang Thái sống thôi… Vậy đó.

Gần những người Thiện lành, tránh xa kẻ Xấu ác là quy luật tự nhiên của cuộc sống. Nên Dân ta ai cũng cần tự tu tập để bớt Xấu ác đi, tăng Thiện lành lên thì mỗi cộng đồng mới yên bình, xã hội mới tốt đẹp được.

2.2. Nhiều người Dân, kể cả trí thức, giới “dân chủ”, “Việt kiều” đều nhiễm nặng cái “căn tính dân tộc” là: Ai khác mình, không vừa ý mình, nhất là đối lập với mình là phản ứng nặng lời, thậm chí coi nhau như thù địch.

Ví du:

– Người ủng hộ Trump với ủng hộ Biden chia rẽ sâu sắc như thù địch.

– Bắt người khác phải làm theo ý mình, không vừa ý là sinh chuyện. Chỉ nói trong giới “phản biện xã hội”: Gán cho người ta “danh hiệu” theo ý mình rồi bắt người ta làm theo ý mình. Chẳng hạn gọi người phản biện là nhà nọ, nhà kia rồi khi người ta viết khác ý mình lại chê người ấy bây giờ “thối chí”, “quay xe”. Tôi đã nhiều lần nói, tôi không phải “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh”, “nhà phản biện”, “nhà đối lập” … gì cả. Tôi chỉ là Nhà giáo, công dân yêu nước, có trách nhiệm xã hội. Thấy cái gì lợi cho Dân, cho Nước thì ủng hộ; cái gì hại cho Dân, cho Nước thì phê phán.

Có lần tôi đưa stt: Cùng với gia đình vợ chồng con gái trên du thuyền buổi tối trên sông Sài Gòn thật tuyệt vời, vậy là có anh từ bên Mỹ bình luận: Giới dân chủ trong nước bây giờ chỉ thích hưởng lạc, ăn chơi, quên hết dân nghèo khổ… Có lần tôi viết bài khen ngợi đội bóng đá Việt Nam, cũng có người vào bảo, bao nhiêu chuyện lớn không viết, đi viết cái vớ vẩn…

Bà Maria Trần Thị Hài từng đấu tranh vì mất đất, bị tù, ra Hà Nội thưa kiện, rồi thấy đông người đi biểu tình phản đối Trung quốc xâm lấn biển Đông, thì tham gia, để lại bức hình lịch sử. Nay già yếu thì nghỉ đấu tranh, sống vui vẻ với con cháu thôi, sao lại bắt bà ấy cứ phải “anh hùng” mãi?

Ông Thái Bá Tân gần đây bị dư luận mạng xã hội đồn loạn lên. Người bảo ông này “quay xe” không phản biện nữa; người bảo “tôi biết từ lâu, tay này đi hai hàng”; người khác bảo FB của ông Tân bị cướp, đăng bài giả mạo, chứ Thái Bá Tân không bao giờ viết như thế; rồi ông Tân bị bệnh hai năm nay không viết gì… (?).

Hôm qua, tôi gọi điện hỏi thăm, ông Tân bảo, tôi vẫn bình thường mà bác. Tôi vẫn lên FB mỗi ngày mà. Nhưng tôi nghĩ, mình phản biện hàng chục năm rồi, cái gì cần nói cũng nói hết rồi. Ai cũng vậy thôi, chuyện gì cứ nói đi nói lại mãi gây khó chịu, mất hay. Nên giờ tôi chỉ viết châm ngôn và văn nghệ giải trí cho cuộc sống vui tươi. Khi nào có chuyện lớn, ảnh hưởng xấu đến đất nước tôi lại lên tiếng…

Dân chủ, văn minh thì phải tôn trọng quyền tự do của mỗi người; có tranh luận, phê phán phải nói vào vấn đề, có lý lẽ, đừng quen thói “bỏ bóng đá người”, “suy bụng ta ra bụng người” rồi quy kết tuỳ tiện!

2.3. Nói thật, tôi sợ nhất những người “Cuồng cộng” và những người “Cuồng chống cộng”. Cả hai loại người này đều rất cực đoan và nguy hiểm như nhau. Cả hai loại người này đều chỉ gây chia rẽ, thù hận dân tộc và gieo rắc tâm địa xấu ác. Họ mà cai trị đất nước thì khốn nạn như nhau. Nhưng tôi chỉ né họ, chứ không coi họ là “thế lực thù địch”. Họ vẫn là đồng bào mình.

(Chính quyền hiện nay, danh nghĩa là “cộng sản”, nhưng tôi nghĩ, không “cuồng cộng”, cũng chẳng “cộng sản”, mà thích tư bản lắm…).

TÓM LẠI, nhiều người nghĩ như tôi, hơn tôi, nhưng họ “khôn” không nói ra, hoặc không thèm nói, nên vẫn vào “diện yêu Đảng, yêu chế độ”… Tính tôi thấy cái gì lướng vướng thì nói toẹt ra để giải tỏa cho nhẹ lòng, thảnh thơi và may ra có ai đó đồng cảm cũng vui.

Biết rằng chính quyền này chỉ thích khen thôi, có gần 800 tờ báo, chí, hàng 100 kênh truyền hình, phát thanh, khen inh tai, nhức mắt suốt ngày vẫn chưa thoả; ai phê phán là mang vạ vào thân, chính quyền thù dai, ghét lâu lắm … Biết thế, nhưng Trời sinh tính rồi, biết làm sao!

25/3/2023

FB MẠC VĂN TRANG