LỊCH SỬ VIỆT NAM LÀ LỊCH SỬ CỦA SỰ LỪA DỐI

Hoai Linh Ngoc Duong

 Nói thật trước đây mỗi lần giở những trang sử Việt Nam tôi vô cùng tự hào với những chiến công hiển hách. Nào là “Phá Tống, Bình Nguyên, dẹp Minh, đạp Thanh”, nào là ” Hỡi sông Hồng tiếng hát 4000 nghìn năm. Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?. Lớn lên một tí tôi bắt đầu hoài nghi khi thấy 18 đời vua Hùng mà trị nước hơn 2000 năm, khi thấy triều đình nhà Lê tru di tam tộc một bậc khai quốc công thần là Nguyễn Trãi, khi nghe thuật lại huyền sử về vụ án Lệ Chi Viên, mối thù tranh giành quyền lực giữa anh em nhà Trần (Trần Cảnh và Trần Liễu) do một tay Trần Thủ Độ sắp xếp, về việc Lê Chiêu Thống sang cầu cứu nhà Thanh, Gia Long viện đến quân Xiêm để đánh Tây Sơn và Nguyễn Huệ thực chất cũng chả đánh nhau với 20 vạn quân Thanh mà chỉ là một dúm quân nhỏ của Tôn Sĩ Nghị sau đó vẫn cho sứ sang thần phục nhà Thanh để được yên ổn.

Sau khi suy ngẫm sâu sắc câu nói của người Mỹ “Mọi chế độ độc tài luôn bịa ra một kẻ thù để nhân dân không coi chúng là kẻ thù” tôi mới thấy rằng lịch sử Việt Nam đều là sản phẩm bịa của các nhà chép sử được các chế độ độc tài quân chủ trả lương.

Thật tình rằng sau khi đô hộ nước ta 1000 năm, các triều đại quân chủ Trung Hoa không bao giờ muốn chiếm nước ta để rồi cắt cử ra thái thú ban hành chính sách cai trị nữa. Một phần lãnh thổ Trung Hoa vô cùng rộng lớn không đủ sức cai quản, một phần phải đối phó với các cuộc khởi nghĩa nông dân dưới hình thức chống xâm lược rất hao người tốn của nên các triều đại quân chủ Trung Hoa chỉ muốn xem An Nam như một vùng đất chư hầu thần phục thiên triều. Mỗi năm chư hầu phải sang triều cống, nhận lệnh. Và các cuộc tảo thanh dưới vó ngựa thực chất không phải là xâm lược mà chỉ là để dạy cho chư hầu một bài học. Mỗi khi thấy nội bộ chư hầu lủng củng là triều đình đưa quân Nam tiến để dằn mặt. Sau đó kéo quân về khi triều đình mới tỏ ý thần phục.

Nhưng các cuộc tảo thanh này đều được các sử gia nô bộc của các triều đại quân chủ Việt Nam tung hô lên là những cuộc chiến chống xâm lược.

Tung hô lên để làm gì?

Mục đích là đánh đồng giữa chính quyền với nhân dân. Thực chất trong “Hội nghị Diên Hồng” chính quyền nhà Trần và các bô lão là hai thực thể chính trị khác nhau. Ngày nay giới chính trị có một câu nói bất hủ là ” Tin tưởng vào chính quyền là tự sát” nhưng bằng việc vẽ ra quân xâm lược nhà Trần đã khiến người dân tuân phục sự chính danh của thế lực cai trị.

Quyền lực có tính tha hóa. Triều đình nhà Trần cũng giống như các triều đại khác đều tha hóa như chế độ cộng sản hiện nay. Nghĩa là giữa các thế lực nắm hành pháp, lập pháp và tư pháp đều thông đồng với nhau để đàn áp, bóc lột người dân . Nhưng với việc hướng mũi dùi vào ngoại xâm , các nhà viết sử đã khiến Nho giáo “trung quân ,ái quốc” chói ngời trên các bài văn của các sĩ tử, trí thức mài đũng quần đọc sách thánh hiền và theo đạo “quân xử thần tử thần bất tử bất trung”.

Lịh sử 4000 năm ấy được Ban chuyên láo của Đảng CSVN khai thác mạnh ngay từ khi mới manh nha thành lập chính quyền. Cùng với việc tuyên truyền về thuyết “Con Rồng cháu Tiên”, các vua Hùng bịa đặt, các trang sử không kiểm chứng hoặc chỉ kiểm chứng bằng cảm tính Ban tuyên giáo đã khiến dân Việt Nam không phân biệt được nhân dân bị cai trị và tầng lớp thượng lưu chuyên nói láo để cai trị, để ăn trên ngồi trốc.

Các trang sử càng chói ngời oanh liệt càng thúc đẩy hàng triệu thế hệ thanh niên lao như con thiêu thân vào các cỗ máy chiến tranh để chết thế. Họ nghĩ rằng đi theo tiếng gọi của non sông, theo truyền thống của cha ông giết giặc cứu nước nhưng thực chất là chẳng hề cứu tổ quốc lâm nguy mà chỉ cứu cái đảng độc tài khỏi bị thiên triều truất phế, dạy cho một bài học hay cứu quyền lực của một đảng chính trị mượn một học thuyết kinh tế để nắm giữ quyền lực trong một quốc gia sau đó bành trướng ra khắp thế giới.

Tổng thống Mỹ Biden đã nói rất chí ý rằng ” Rất nhiều quốc gia đã được thiết lập dựa trên sắc tộc, nòi giống chỉ có nước Mỹ là được thiết lập dựa trên một ý tưởng. Đó là ý tưởng về sự kiểm soát quyền lực”

Các quốc gia xây dựng trên truyền thuyết về nòi giống, sắc tộc, tôn giáo đều cần các nhà chép sử, viết sử một chiều để thiết lập một truyền thống hào hùng, bất khuất. Thật ra truyền thống này chẳng giúp ích gì cho tự do,dân chủ, pháp luật , công lý mà chỉ siết chặt suy nghĩ của người dân vào cái vòng kim cô nô lệ cho quyền lực.

Bởi khi anh đánh đổ một thế lực ngoại xâm này để bảo vệ một triều đình nhưng triều đình này hàng năm lại sang triều cống , nhận lệnh thế lực ngoại xâm đó thì tinh thần chống ngoại xâm của anh cũng chỉ là vô ích.

Chỉ khi nào anh có một nền dân chủ đa đảng, có tam quyền phân lập, có đối lập thì lịch sử mới được soi rọi từ những góc nhìn đa chiều và từ đó có được sự trung thực đáng cho học sinh học tập.

Lịch sử phải được viết lại như những gì nó vốn có kể cả sai và đúng chứ không phải là lịch sử là những thứ được nhào nặn lại “xấu che tốt khoe” nhằm định hướng các thế hệ sau.

Khi lịch sử được các chế độ độc tài viết lại thì không nên học làm gì bởi mục đích cuối cùng của nó vẫn là để tạo ra các cỗ máy chết thế cho quyền lực của các ông vua chứ không bao giờ vì đất nước.

Lịch sử này đã biến dân tộc Việt thành một trong những dân tộc hiếu chiến bậc nhất thế giới. Xuyên suốt lịch sử này hầu hết các võ tướng được dựng tượng và đều có liên quan đến chiến trận, các quan văn xây dựng đất nước bằng chính sách đều bị bỏ quên. Cũng vì lịch sử này mà sau năm 1945 Việt Nam đã trải qua 4 cuộc chiến tranh, hy sinh hơn 3 triệu người nhưng vẫn không kiểm soát được sự tha hóa của quyền lực khiến những nấm mồ liệt sĩ chết cho chiến trận là vô nghĩa.

Hoa Kỳ có bỏ qua yếu tố nhân quyền trong nâng cấp quan hệ với Việt Nam?

RFA

“Việt Nam không nên ảo tưởng rằng Mỹ sẽ bỏ qua các vấn đề về nhân quyền trong quá trình phát triển mối quan hệ giữa đôi bên.”

2023.04.17

Ông Blinken gặp một nữ tu tại Hà Nội

Reuters

Tiến sỹ Nguyễn Hồng Hải, chuyên gia về Khoa học Chính trị, nghiên cứu viên tại Trung tâm Tương lai Chính sách, Khoa Nhân văn và Xã hội học, Đại học Queensland, Úc nhận định như vậy với RFA sau khi ông Blinken rời Hà Nội, kết thúc chuyến thăm chính thức hai ngày đến Việt Nam, từ 14 đến 16/4/2023.

Trong hai ngày ở Việt Nam, ông Blinken đã gặp Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Hà Nội vào sáng ngày 15/4. Cả hai đã từng gặp gỡ chính thức vào hồi tháng 5/2022 tại thủ đô Washington D.C của Mỹ. Ông Blinken cũng có cuộc hội kiến với Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

Ngoại trưởng Mỹ cũng đã dự lễ động thổ để tiến hành xây dựng khu phức hợp Đại sứ quán Mỹ trị giá 1,2 tỷ USD tại Hà Nội. Đây được nói là một trong những Đại sứ quán Mỹ lớn nhất trên Thế giới.

Trong dịp này, ông Blinken đã đến thăm các nữ tu Dòng Thánh Phaolô thành Chartres. Các nữ tu của dòng này đã nhiều lần biểu tình, khiếu nại với chính quyền để đòi lại các phần đất có đầy đủ giấy tờ của nhà dòng bị phía chính quyền và một số hộ dân lấn chiếm, xây dựng trái phép trên đó.

Ý nghĩa của chuyến thăm

Tiến sỹ Nguyễn Hồng Hải cho rằng chuyến thăm lần này của Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đã đạt kết quả như kỳ vọng của đôi bên. Ông rút ra năm ý nghĩa chính về quan hệ song phương Việt – Mỹ sau chuyến đi Hà Nội lần này của người đứng đầu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Thứ nhất là nó đánh dấu trở lại sự tiếp xúc thường xuyên giữa quan chức cấp cao giữa hai chính quyền của hai nước:

“Năm 2021 thì phó tổng thống Mỹ Harris và bộ trưởng quốc phòng đã đến thăm Việt Nam, nhưng mà phải đến gần hai năm nay rồi thì đây là chuyến thăm cấp cao nhất của chính quyền tổng thống Joe biden đến Việt Nam.

Những cuộc tiếp xúc song phương vào các dịp giữa các hội nghị khu vực, hội nghị thượng đỉnh của khu vực hoặc là hội nghị Thượng đỉnh Asean – Mỹ…, chúng ta không thể tính những cuộc gặp đó bởi vì nó không phải là chuyến thăm chính thức.”

Ý nghĩa thứ hai là nhấn mạnh hơn về khả năng nâng cấp mối quan hệ hai nước lên tầm Đối tác chiến lược:

“Kết quả thứ hai là cả hai bên đạt được sự đồng thuận vững chắc hơn trong việc nâng cấp quan hệ.

Trong điện đàm với tổng thống Mỹ Joe Biden hôm 29/3 thì tổng thống Joe biden và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi đó chỉ nói là đề nghị giao cho các cơ quan chức năng của hai bên trao đổi các nội hàm cụ thể để nhằm thúc đẩy mối quan hệ trong thời gian tới, chứ không nói rõ là có nâng cấp mối quan hệ hay không.

Nhưng mà trong buổi tiếp Ngoại trưởng Blinken thì Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lại nói rằng là quan hệ Việt – Mỹ có nhiều kết quả tích cực, là cơ sở để phát triển lên tầm cao mới. Tức là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng án chỉ là hai bên sẽ nâng cấp mối quan hệ.

Và trong họp báo kết thúc chuyến thăm thì Ngoại trưởng Blinken đã phát biểu hết sức khả quan về điều này. Ngoại trưởng Blinken nhấn mạnh rằng đối với nước Mỹ và chính quyền Tổng thống Joe biden thì quan hệ với Việt Nam là một trong những mối quan hệ năng động và quan trọng nhất. thì đó là kết quả thứ hai là khẳng định là hai nước sẽ tiến tới nâng cấp quan hệ vững chắc hơn.”

Kết quả thứ ba, theo ông Hải, là chuyến thăm càng khẳng định hơn là hai ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ và Tổng thống Mỹ Joe Biden sẽ gặp mặt nhau trong năm nay:

“Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong buổi tiếp Ngoại trưởng Blinken thì đã nói rằng giao cho các cơ quan chức năng thu xếp để tiến hành chuyển thăm đó vào thời gian thích hợp, còn Tổng thống Mỹ Joe Biden qua lời Ngoại trưởng Blinken nói rằng mong muốn sớm thăm Việt Nam.

Tóm lại là kết quả thứ ba là nó khẳng định chắc chắc chắn rằng trong năm nay sẽ có một hoặc hai chuyến thăm của hai nhà lãnh đạo sang Hà Nội hoặc là Washington, còn thời gian cụ thể thế nào thì hiện tại chúng ta chưa thể biết bởi vì vẫn còn các đàm phán, còn có những việc phải bố trí về thời gian lịch trình.”

Ý nghĩa thứ thư là về mặt niềm tin. Tiến sỹ Hải cho rằng chuyến thăm này khẳng định cam kết về quan hệ ổn định, lâu dài giữa hai nước:

“Nó thể hiện qua để động thổ xây dựng quần thể mới của Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, mà theo phía Mỹ nói thì đây sẽ là một trong những quần thể sứ quán Mỹ lớn nhất trên thế giới.

Ngoài ra, Ngoại trưởng Mỹ đã nói lên và nhấn mạnh cam kết và lòng tin của phía Mỹ trong quan hệ Việt – Mỹ, và những cam kết đó nó sẽ thể hiện bằng những hành động cụ thể để từ đó trấn an cũng như củng cố lòng tin của Việt Nam đối với Mỹ.”

Ý nghĩa về nhân quyền

Ý nghĩa thứ năm và cũng là cuối cũng trong chuyến thăm mà tiến sỹ Nguyễn Hồng Hải đúc kết được đó chính là về vấn đề nhân quyền. Ông nói:

“Mỹ vẫn thể hiện cam kết về vấn đề nhân quyền cho dù hai nước có tiến tới Đối tác chiến lược. 

Mặc dù là mang tính biểu tượng thôi nhưng việc mà Ngoại trưởng Hoa Kỳ đến thăm tu viện như vậy thể hiện cam kết của phía Mỹ đối với vấn đề nhân quyền. Nói cách khác là nó truyền tín hiệu gián tiếp rằng trong quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, cho dù là nâng cấp lên mối quan hệ đối tác chiến lược thì Mỹ vẫn quan tâm và xem xét đến vấn đề nhân quyền.

Và rõ ràng là trong cuộc gặp với thủ tướng Phạm Minh Chính thì Ngoại trưởng Blinken cũng đã đề cập đến vấn đề nhân quyền.

Tuy nhiên, cách tiếp cận của Mỹ trong vấn đề về nhân quyền với Việt Nam sẽ ý nhị hơn. Tức là cách tiếp cận mang tính xây dựng và mang tính đối thoại, không chỉ trích, phê phán quá mạnh mẽ. Điều này rất khác đối với quan hệ Mỹ và Trung Quốc.”

Tiến sỹ Hồng Hải khẳng định vấn đề nhân quyền sẽ luôn luôn đặt ra trong quá trình đàm phán nâng cấp mối quan hệ Việt – Mỹ, bởi vì nhân quyền là một trụ cột trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Chính vì vậy, ông Hải nói:

“Đối với các nước như Việt Nam, khi quan hệ với Mỹ, thì không nên ảo tưởng rằng là Mỹ sẽ từ bỏ vấn đề nhân quyền.

Tuy nhiên, mặc dù nhân quyền là một trong những trụ cột trong chính sách đối ngoại của Mỹ nhưng mà phía Mỹ khi triển khai thực hiện vấn đề nhân quyền thì họ luôn luôn dựa trên chiến lược của họ. Chính vì thế cho nên mức độ ưu tiên nó sẽ khác nhau.”

Hơn nữa, theo tiến sỹ Hồng Hải, trước đây, khi Mỹ là một siêu cường duy nhất thì lúc đó Mỹ có thể dùng những chính sách nhân quyền để  gây áp lực cho các nước khác.

Tuy nhiên, hiện nay, trong một thế giới mà sự đa cực ngày càng rõ và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn hơn thì chính phủ Mỹ phải điều chỉnh cách tiếp cận về vấn đề nhân quyền để nó phù hợp, mang tính xây dựng, tôn trọng lẫn nhau và có sự cân nhắc, đảm bảo lợi ích của tất cả các bên.

Người Việt tị nạn ở Thái Lan cảm thấy bất an sau việc ông Đường Văn Thái bị bắt

Nhà báo độc lập Đường Văn Thái phát biểu trên kênh YouTube Thái Văn Đường.

Nhà báo độc lập Đường Văn Thái phát biểu trên kênh YouTube Thái Văn Đường.

Người Việt tị nạn chính trị tại Thái Lan nói với VOA rằng họ rất “hoang mang, lo sợ” sau vụ nhà báo độc lập Đường Văn Thái bất ngờ mất tích ở Bangkok và sau đó được chính quyền Việt Nam loan rằng ông đã bị bắt vì “nhập cảnh trái phép”.

“Người tị nạn rất lo lắng, hoang mang bởi vì đây là trường hợp đầu tiên người đã có quy chế tị nạn và đã phỏng vấn tái định cư mà bị Cộng sản Việt Nam bắt cóc về”, ông Đoàn Huy Chương, cựu tù nhân chính trị Việt Nam, cho biết hôm 18/4.

Hôm 13/4, ông Đường Văn Thái, sử dụng mạng xã hội với tên Thái Văn Đường, đã biến mất tại phi trường Bangkok nơi ông chuẩn bị đón một người bạn.

Các nhà hoạt động cho biết vào buổi sáng ngày mất tích, ông Thái đã có một cuộc phỏng vấn tái định cư với Cao ủy Tị nạn LHQ (UNHCR), cơ quan đã cấp quy chế tị nạn cho ông từ năm 2020.

Đến ngày 16/4, truyền thông Việt Nam đồng loạt đưa tin rằng nhà chức trách Hà Tĩnh đã bắt giữ một “đối tượng” có tên Đường Văn Thái mà họ cho là “xâm nhập trái phép” vào Việt Nam.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoàng Dương (Kelly Nguyễn)

Cong Pham – Thiên Hạ Chuyện

Trong hình là tiến sĩ Nguyễn Thị Hoàng Dương (Kelly Nguyễn), quê Quảng Ngãi. Hiện cô làm việc tại MRC-Phòng thí nghiệm về sinh học phân tử tại Cambridge, Anh quốc. Báo chí loan tin cô sẽ được trao huy chương Colworth năm 2024 vì những kết quả nghiên cứu xuất sắc. Cô là nhà khoa học người Việt đầu tiên nhận huy chương này trong lịch sử 60 năm của giải thưởng.

Con đường của tiến sĩ Hoàng Dương bắt đầu khi học xong lớp 10 ở tỉnh nhà, cô nhận học bổng toàn phần chương trình phổ thông tại Trường nữ sinh Wellington New Zealand. Khi tốt nghiệp xong, cô có thành tích rất tốt và thi đậu học bổng toàn phần học Hóa học tại đại học danh giá Australian National University (ANU). Ở đây, cô học rất giỏi và tốt nghiệp với hạng đứng đầu khóa học First Class Honours với một huy chương University Medal. Thường 1 năm chỉ có 1 sinh viên của khoa nhận vinh dự này.

Từ kết quả đó, năm 2010 cô được nhận vào học tiến sĩ với học bổng toàn phần tại University of Cambridge (Trinity College). Cô tốt nghiệp tiến sĩ khi mới chỉ 26 tuổi và ở lại trường làm công tác nghiên cứu. Cô cũng từng qua nghiên cứu tại Đại học California Berkeley, Mỹ.

Là một nhà nghiên cứu về sinh học phân tử đầy tiềm năng, cô đã từng nhận rất nhiều giải thưởng quốc tế danh giá về chuyên ngành.

Trinity College, nơi cô theo học tiến sĩ và đang làm việc là đại học tốt nhất của Viện đại học Cambridge- trường đại học chất lượng bậc nhất thế giới. Thành lập từ 1546, trường này đã có 34 thành viên nhận giải thưởng Nobel (trong số 121 giải thưởng mà các thành viên của Đại học Cambridge nhận được). Đây là trường mà nhà vật lý Isaac Newton và rất nhiều vĩ nhân từng theo học.

Trường chỉ hiện có tổng số 180 sinh viên tiến sĩ, do đó được vào đây học hành và đỗ đạt là vô cùng vinh dự.

Có một nhà khoa học Việt tại nước Anh, trong 1 trung tâm khoa học lớn của thế giới như tiến sỹ Hoàng Dương thật quý báu.

Chúc mừng cô và mong cô đạt nhiều thành tựu khoa học mới.

Nguyễn Thị Bích Hậu

(Hình: Viet Tan)

 

CHA THÁNH MAXIMILIAN KOLBE & BẢN THIẾT KẾ CON TÀU VŨ TRỤ BAY LÊN MẶT TRĂNG

Chiến sĩ Chúa Kitô

Thánh Maximilian Kolbe được biết đến là 1 vị linh mục thánh thiện với tấm gương hy sinh quên mình ở trại tử thần Auschwitz, nơi cha thuyết phục lính Đức Quốc xã giết cha thay vì một tù nhân khác đã có vợ con. Ngoài sự súng kính và tận tụy phi thường của mình đối với Chúa và Đức Mẹ Maria, cha thánh còn có niềm đam mê với khoa học vũ trụ.

Một trong những bạn học của Thánh Kolbe ở trường dòng sau này đã giải thích rằng Kolbe đã bị mê hoặc bởi phát minh của Anh em nhà Wright với nguyên lý khí động học của máy bay. Người ta thường thấy thánh nhân cùng các chủng sinh đang thiết kế các bản vẽ về tàu vũ trụ trên lý thuyết.

Trong cuốn tiểu sử “Maximilian Kolbe, Một con người dám chết vì người khác”, tác giả Bronislaus Strycznys cho biết, “Cha đã dự đoán trước được khả năng lên mặt trăng bằng tàu vũ trụ và ông ấy đã nghĩ ra nhiều phát minh phi thường.”

Niềm đam mê khoa học của Thánh Kolbe thể hiện qua những bản thiết kế nguệch ngoạc trông có vẻ đơn giản trong sổ tay của cha, nhưng thực tế hình dạng của chúng đã được cha tạo ra dựa trên các công thức tính toán và các thông số khoa học kỹ thuật !

Thánh Kolbe đã đi xa đến mức gửi bản thiết kế cho một tạp chí khoa học vào năm 1918. Lúc đó cha mới 24 tuổi nhưng lại có đầu óc sáng tạo, niềm đam mê khoa học cùng với một trí tuệ vượt trội. Một trong những giáo sư của cha ấy thậm chí còn gợi ý rằng cha nên đăng ký bằng sáng chế cho tàu vũ trụ của mình .

Các thông số kỹ thuật cũng như các bản vẽ gốc của cha được tìm thấy trong cuốn sách “Các tác phẩm của Thánh Maximilian Maria Kolbe, Tập II.”

Qua các bản phác thảo của Cha Kolbe, cha đã dự đoán khá chính xác một con tàu vũ trụ thực tế sẽ có cấu tạo như thế nào… qua 51 năm sau. Đó là tàu vũ trụ Apollo bay lên Mặt trăng

Bản phác thảo có thể được xem tại trang web :https://www.cadblog.pl/index…/2020/12/15/swiety-innowator/ ,

trang này cũng cho biết niềm đam mê khoa học của Thánh Maximilian Kolbe cũng lan sang lĩnh vực sóng vô tuyến. Đài Radio Niepokalanow do Thánh Kolbe xây dựng đã trở thành đài phát thanh Công giáo đầu tiên ở Ba Lan vào năm 1938.

Vị linh mục người Ba Lan này thậm chí đã có kế hoạch truyền giáo qua truyền hình và phim ảnh, nhưng thật không may, những kế hoạch này đã bị phá vỡ khi Đức và Liên Xô bắt tay nhau xâm lược Ba Lan mở màn cho Thế chiến thứ II và Cha Kolbe tử đạo trong trại tù của Đức quốc xã.

Chúa Giê-su nói: “Sao lại hoảng hốt? Sao lòng anh em còn ngờ vực?… Chính Thầy đây mà!” (Lc 24:38)

Xin Chúa mở tâm trí bạn để có thể nhận ra sự hiện diện của Chúa Phục Sinh đang sống trong những người bạn gặp gỡ hôm nay.

Cha Vương

CN: 23/04/2023

TIN MỪNG: Chúa Giê-su nói: “Sao lại hoảng hốt ? Sao lòng anh em còn ngờ vực ?… Chính Thầy đây mà !” (Lc 24:38)

SUY NIỆM: Người chết sống lại là một biến cố thực sự gây hốt hoảng, khó tin. Khi Chúa hiện đến, các tông đồ đã kinh hồn bạt vía vì tưởng là ma. Chúa Giê-su đã trấn an các tông đồ và minh chứng cho việc phục sinh trước hết bằng các thương tích trên thân xác và ăn uống trước mặt các ông. Con người không phải là thiên thần và càng không là ma quỉ để làm cho người khác phải hốt hoảng ngờ vực về những việc khác thường. Nhiều khi con người lầm tưởng phải là siêu nhân mới có thể làm được những việc siêu nhiên.

Con Thiên Chúa đã hoàn tất chương trình cứu độ bằng chính cuộc sống như con người bình thường như bạn vậy. Thân phận con người yếu đuối của bạn đã được Con Thiên Chúa vực dậy bằng cách đóng đinh nó vào thánh giá và phục sinh nó trong địa vị người con của Thiên Chúa.

Vững tin vào tình yêu của Đấng Phục Sinh, bạn sẽ bước đi từng bước vững vàng. Do đó khi bạn sống cuộc đời thường nhưng sống thật hoàn hảo theo tinh thần Tin Mừng, trong niềm tin vào Đức Ki-tô phục sinh, tức là bạn đã bước vào lãnh vực siêu nhiên, đã có thể cùng Chúa Giê-su mang ơn cứu độ đến cho thế giới.

LẮNG NGHE: Con người sống theo tính tự nhiên thì không đón nhận những gì của Thần Khí Thiên Chúa, vì cho đó là sự điên rồ; họ không thể biết được, bởi vì phải nhờ Thần Khí mới có thể xét đoán. (1 Cr 2:14)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, Chúa đã phục sinh để dạy con sống thật tốt cuộc sống Chúa đã trao ban hôm nay. Xin giúp con chu toàn cùng với Ơn Thánh Chúa ban.

THỰC HÀNH: Tình nguyện làm việc người khác không muốn làm.

From: Đỗ Dzũng

TRÊN ĐƯỜNG EM-MAU – sáng tác: Lm Thành Tâm – tiếng hát: Ý Hiền-Phạm Phương

Nhà văn Dương Thu Hương đoạt giải văn học Pháp trị giá 200 ngàn euro

Báo Nguoi-viet

April 22, 2023

PARIS, Pháp (NV) – Nhà văn nữ Dương Thu Hương vừa được trao giải thưởng văn học Cino del Duca World Prize 2023 với số tiền thưởng 200,000 euro ($222,000) hôm Thứ Sáu, 21 Tháng Tư, theo báo mạng dayFREURO.

Qua đề nghị của tuyệt đại đa số ban giám khảo giải thưởng Cino del Duca World Prize, do bà Helene Carrere d’Encausee, thư ký thường trực Viện Hàn Lâm Pháp, làm chủ tịch, Ủy Ban Quỹ Del Duca quyết trao giải 2023 World Prize cho bà Dương Thu Hương để bày tỏ lòng kính trọng đối với một nhà văn có tác phẩm và nhân cách đặc biệt mang thông điệp của chủ nghĩa nhân văn hiện đại, được giải thưởng thế giới này công nhận.

Nhà văn Dương Thu Hương hồi năm 2009. (Hình: Bertrand Guay/AFP via Getty Images)

Ban giám khảo gồm 14 thành viên, đa số là thành viên Viện Hàn Lâm Pháp. Dự kiến lễ trao giải cho nhà văn Dương Thu Hương sẽ được tổ chức vào ngày 21 Tháng Sáu tại trụ sở Viện Hàn Lâm Pháp.

Theo Wikipedia, bà Dương Thu Hương sinh năm 1947 tại Thái Bình. Lúc 8 tuổi, trong thời kỳ cải cách ruộng đất, bà đi theo các đoàn học sinh để chứng kiến phong trào chia đất cho nông dân và tố cáo địa chủ.

Năm 1967, bà tình nguyện tham gia Thanh Niên Xung Phong, phong trào Tiếng Hát Át Tiếng Bom, phục vụ trong một đoàn văn công tại Bình Trị Thiên, một trong những khu vực chiến tranh ác liệt nhất lúc đó.

Sau chiến tranh, trở ra Bắc, bà viết văn và công tác trong ngành điện ảnh. Bà tham dự khóa đầu tiên của Trường Viết Văn Nguyễn Du (1980). Các tác phẩm của bà nhanh chóng nổi tiếng và thuộc những tác phẩm được nhiều người đọc lúc đó trong phong trào Cởi Mở.
Bà từng là đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam nhưng bị khai trừ năm 1989 do không tuân thủ điều lệ đảng và phê phán thể chế hiện hành.

Bà viết nhiều tác phẩm như Những Thiên Đường Mù, Bên Kia Bờ Ảo Vọng, Các Vĩ Nhân Tỉnh Lẻ, Quãng Đời Đánh Mất, Hành Trình Ngày Thơ Ấu, Đỉnh Cao Chói Lọi v.v… về hiện thực xã hội Việt Nam, đặc biệt là những năm sau khi chiến tranh chấm dứt, có nội dung chỉ trích hệ thống chính trị Việt Nam.

Bà đã từng phải vào tù do viết sách và phát biểu phê phán việc áp dụng chủ nghĩa Mác Lê Nin, kêu gọi người dân lật đổ đảng Cộng sản Việt Nam.

Mấy năm sau, với sự trợ giúp của các hội đoàn hải ngoại, bà rời Việt Nam sang định cư tại Pháp, và được ông Jacques Toubon, bộ trưởng Bộ Văn Hóa Pháp, trao tặng Huân Chương Văn Hóa Nghệ Thuật “Chevalier des Arts et des Lettres” ngày 13 Tháng Mười Hai, 1994.
Năm 1969, bà Simone Del Luca lập ra giải thưởng mang tên chồng bà, nhà xuất bản Cino Del Duca, để vinh danh những người có đóng góp mang tính nhân văn theo ý nguyện của chồng bà.

Năm 1975 bà lập quỹ Simone và Cino Del Duca để lo từ thiện và quản lý việc chọn và trao giải. Sau khi bà qua đời năm 2004, Viện Hàn Lâm Pháp tiếp tục điều hành giải này.

Nhà văn Dương Thu Hương và Huân Chương Văn Hóa Nghệ Thuật “Chevalier des Arts et des Lettres” được ông Jacques Toubon, bộ trưởng Bộ Văn Hóa Pháp, trao tặng tại Paris, Pháp, ngày 13 Tháng Mười Hai, 1994. (Hình: Joel Robine/AFP via Getty Images)

Được biết trong 54 năm qua có hai người Việt Nam được giải này. Năm 2012 là nhà khoa học kiêm nhà văn Trịnh Xuân Thuận là người Việt Nam đầu tiên được trao giải này.

Với 200,000 euro, Cino del Duca World Prize là giải thưởng văn học có số tiền lớn thứ nhì sau giải Văn Chương Nobel. (Đ.D.)

Leo lên được chức đó thì nó không hiền đâu em!

Báo Tiếng Dân

Chu Mộng Long

18-4-2023

Thật ngây ngô khi có nhiều trí thức tỏ ra tiếc nuối cho tài năng Nguyễn Quang Tuấn bị sa lưới pháp luật. Một tài năng được đi du học ở nước ngoài, được đánh giá như là… nếu không có ông ta, nhiều người sẽ chết vì tim mạch! Nhiều người còn chiêu tuyết cho tài năng, rằng thì là, làm quan trong cơ chế này ai cũng phải tham nhũng. Cơ chế mà họ nói không chỉ là cơ chế chung mà cụ thể ở đây là cơ chế thầu trang thiết bị y tế.

Ảnh: Ông Nguyễn Quang Tuấn, cựu Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội. Ảnh trên mạng

Bề ngoài những lời tiếc nuối, những lập luận chiêu tuyết tưởng có lý, nhưng rất cảm tính đến vô lý.

Đi du học thì sao? Kim Jong Un chẳng phải du học ở nước dân chủ để trở về Triều Tiên thành nhà độc tài? Vô số con ông cháu cha đi du học về làm gì, ngoài kế thừa bố mẹ chúng, không làm quan thì cũng làm đại gia bằng cách phá nát cái đất nước này? Theo tôi, với thành phần đó, bất tài thì tham lam trắng trợn, nếu có tài năng thì thành lưu manh và tham lam trá hình với nhãn hiệu nhân văn, nhân đạo. Đằng nào cũng phá hoại hơn là có ích!

Ừ thì do cơ chế. Một cơ chế lỏng lẻo như trước đây, đúng là cái cửa mở toang hoác cho các dự án, đặc biệt là các gói thầu chui hết vào bụng quan. Nhưng chuyện gì xảy ra khi nhà nước siết cơ chế? Chỉ một Nghị định siết cơ chế đấu thầu mà từ Nam chí Bắc, các quan chức y tế đã đồng loạt “đình công”, hô hoán không thể nhập thuốc, nhập vật tư, mặc cho con bệnh nằm chờ chết để gây áp lực Chính phủ mở cửa cơ chế như cũ.

Do cơ chế thì sao chính nhà nước lại tóm cổ các nhóm lợi ích này vào lò?

Tham lam là cái gene truyền thống Việt. Cái truyền thống giáo dục toàn rao giảng đạo đức giả, nhân văn giả, cho nên mỗi cá nhân luôn bộc phát tham vọng, từ chạy đua quyền lực đến tham lam, vơ vét vô độ cho cái túi tham của mình.

Nhớ một lần, ngồi nói chuyện với thầy cũ của tôi. Tôi khoe ông bạn đồng môn đã lên sếp và khen anh ta hiền. Cũng là học trò của thầy, nhưng thầy cười rất mỉa mai: “Nó đã leo lên đến chức đó thì nó không hiền đâu em!” Có nghĩa là những người này đã tham từ gốc bằng con đường chạy quan chứ không phải do làm quan mới tham. Người ta đã tham ngay từ khi chưa làm quan chứ không phải làm quan rồi mới tham. Tôi không tin có cái gọi là “tha hóa quyền lực”!

Một lần tôi hỏi một đồng nghiệp: “Mày đua quan để làm gì?” Anh ta nói: “Vì dân vì nước!”. Tôi chửi: “Dối! Vì dân vì nước thì hy sinh ở chiến trường, không phải đua quan!”

Tóm lại là, anh ta phải như thế nào mới được cất nhắc, bổ nhiệm. “Như thế nào” ấy không thể là phẩm chất đạo đức tốt và tài năng xuất chúng.

Với tôi, thằng quan nào vào lò cũng đều đáng ghét. Không thương tiếc được! Tài năng như Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát,… mắc tội chống triều đình thối nát phải gặp họa tru di thì mới đáng chiêu tuyết, chứ đủ bằng chứng tham lam vô độ thì có oan đâu mà chiêu tuyết?

Chuyện anh Lý Bửng

Lê Vi

Sài Gòn sụp đổ, anh Lý Bửng nhét cả gia đình gần chục người lên chiếc máy bay chong chóng chỉ có 2 ghế ngồi, rồi bay ra biển Đông.

Chiếc máy bay này không thể vượt Biển Đông tới Philippines. Xác xuất gặp một hàng không mẫu hạm giữa biển Đông bao la cũng cao bằng xác xuất một con đại bàng quắp cục đá bay trên trời rồi thả xuống mà trúng luôn một con rùa dưới đất. Nhưng Sài Gòn sụp đổ thì anh Lý Bửng cũng đành bay như ca dao Bắc Bộ thời đó nói về “đường lên hạnh phúc rộng thênh thang”:

Đi đâu không biết đi đâu,

Đi đâu ta cứ đi đầu ta đi

May quá ra ngoài biển, khi máy bay chỉ còn một giờ bay nữa là hết xăng, anh thấy Mẫu hạm Midway đang cứu người tị nạn. Anh đáp xuống Mẫu hạm.

Cộng đồng người Mỹ gốc Việt trở thành một phần quan trọng của lịch sử Hoa Kỳ và cũng là của Việt Nam hiện đại. Còn chiếc máy bay của anh Lý Bửng trở thành một phần của lịch sử hàng không Hoa Kỳ.

Người Mỹ không chỉ trưng bày chiếc máy bay này trong Bảo tàng Mẫu hạm Midway ở San Diago, họ còn làm mô hình của nó, trưng bày ở nhiều bảo tàng hàng không khác.

Là một dân tộc yêu đắm say kỹ thuật, người Mỹ muốn giữ lại khoảnh khắc lịch sử của một cú hạ cánh thần sầu: chiếc máy bay chong chóng lạch phạch 2 chỗ ngồi này không có bất kì thiết bị kĩ thuật nào để đáp được xuống một hàng không mẫu hạm. Nó có thể không hãm được và trượt xuống biển. Anh Lý Bửng đã thực hiện một “điệp vụ bất khả thi” trong khoảnh khắc sinh tử.

Nhưng mỗi người Việt Nam khi đứng trước chiếc máy bay này sẽ còn nhớ đến một chuyện khác mà người Mỹ không nói đến: Để rộng chỗ, tăng xác xuất thành công cho cú đáp của anh Lý Bửng, Hạm trưởng Mẫu hạm Midway đã ra lệnh anh em đẩy hơn chục chiếc máy bay xuống biển.

Không chỉ Mẫu hạm Midway, sau ngày 30/4 năm ấy, nhiều mẫu hạm khác của Mỹ đi qua Biển Đông, đã ném máy bay xuống biển để có chỗ chứa người tị nạn.

Tôn trọng luật pháp thì khó có nơi nào hơn Mỹ. Trong ngày thường mà phá hoại tài sản công thì chắc chắn tù. Nhưng không ai xét xử các hạm trưởng ném máy bay xuống biển cả. Thậm chí họ chưa từng bị hỏi “ê máy bay đâu hết rồi?”. Ai cũng biết ném xuống biển hết rồi, hỏi làm gì.

Luật pháp rất quan trọng. Nhưng khi người ta buộc phải vi phạm luật pháp để cứu người thì hoặc là cuộc sống lúc ấy quá đặc biệt đến nỗi pháp luật không quy định tới, hoặc ở chỗ ấy, luật pháp khiếm khuyết và cơ chế sai.

Thực ra không một nền luật pháp nào có khả năng quy định đúng đắn cách xử lý cho từng tình huống cụ thể của đời sống con người.

Một xã hội được vận hành đúng là xã hội trước hết chấp nhận rằng lương tri, lương năng sẽ thay thế khi luật pháp không đủ bao quát được cuộc sống quá phức tạp.

Một xã hội vui vẻ chấp nhận sự vi phạm luật pháp để làm đúng lương tri lương năng là xã hội đáng sống nhất, và đáng để bảo vệ nhất, bất kể nó vẫn đầy rẫy vấn nạn của một xã hội được xây dựng bởi con người chứ không phải bởi thần thánh trên Trời.

Còn một xã hội được thiết kế theo cách người ta buộc phải quên lương tri lương năng để sinh tồn thì… thôi (không biết nói gì.) Tôi luôn tin là xã hội đó chỉ tạm quên. Khi nó nhớ lại lương tâm của mình, không gì ngăn cản nó phục hưng.

Ảnh: Gia đình cụ ông Lý Bửng và cụ Larry Chambers, cựu Hạm trưởng Mẫu hạm USS Midway, khi cuộc sống đã bình yên.

Fb Thích Giác Hơi

Nga đang muốn chấm dứt cuộc chiến

Báo Tiếng Dân

Dialog

Tác giả: Dmitry Oreshkin

Kim Văn Chính, lược dịch

21-4-2023

Nhà phân tích chính trị Dmitry Oreshkin. Nguồn: Dialog

“Đây là một triệu chứng quan trọng,” Oreshkin giải thích ý nghĩa của “tâm trạng hòa bình” đang gia tăng ở Moscow.

Không chỉ Prigozhin nổi bật với “sáng kiến ​​hòa bình”, có những người khác ở Liên bang Nga, cho đến nay, đang cố gắng thận trọng, nhưng vẫn thúc đẩy ý tưởng về sự cần thiết phải chấm dứt chiến tranh.

Điện Kremlin hiểu rằng Putin đang thua cuộc. Trên thực tế, không chỉ Prigozhin đề xuất chấm dứt cái gọi là chiến dịch quân sự đặc biệt “SVO”. Lavrov cũng nói bằng ngôn ngữ ngoại giao rằng, chúng ta nên rút khỏi cuộc chiến. Maria Zakharova, một thành viên trong nhóm của ông Lavrov, cũng đột nhiên quan tâm đến các sáng kiến ​​hòa bình. Và ngay cả nhà tuyên truyền, “chiến binh” Simonyan cũng lên tiếng phụ họa.

Điều này cũng đã được một nhà khoa học chính trị đối lập người Nga nói trong một cuộc phỏng vấn với Vadim Gerasimovich, có thể xem trên kênh YouTube Politeka Online.

“Điều này có nghĩa là Ukraine đã đánh vỗ mặt một vố đớn đau những chiến binh xâm lược, và chúng hiểu rằng đến lúc cần phải dừng lại và thoát khỏi cuộc chiến, nhưng phải nói với vẻ mặt chiến thắng: chúng tôi đã chiến thắng tất cả mọi người”, Oreshkin nói.

Ngoài ra, chuyên gia này nhấn mạnh, Prigozhin đã nói to lên những gì nhiều người nghĩ. Nhàlãnh đạo của Wagner PMC hiểu rằng, ông ta sẽ nhận được sự ủng hộ của các đại tá và thậm chí cả các tướng lĩnh, những người suy tính hơn nhiều so với các đại tá. Họ đều nhận ra rằng Nga đang không đạt được mục tiêu ban đầu. “Vâng, bạn có thể tin chắc rằng một cuộc tấn công quyết định đang diễn ra, nhưng hãy nhìn vào bản đồ và bảo đảm rằng quân Nga đã tiến được vài chục km trong sáu tháng”, Oreshkin nói.

Nhà khoa học chính trị cũng chỉ ra rằng, tất cả những “tâm trạng hòa bình” này ở Moscow là một triệu chứng rất quan trọng.

Theo ông, Prigozhin có một khả năng linh cảm (giống như Zhirinovsky), và ông ta hiểu rằng chủ đề này (về sự kết thúc chiến tranh) đang trở nên phù hợp ở Nga. Giờ đây, điều quan trọng nhất đối với Điện Kremlin không phải là hoàn toàn không có lối thoát, mà vấn đề có hay không là do Ukraine quyết định.

Nhớ lại rằng Dmitry Oreshkin đã trả lời câu hỏi về con át chủ bài cuối cùng của Putin: “Con người”.

BIỂN TRONG ĐÊM – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thầy đây.  Đừng sợ!”

Trong tác phẩm “When All Hell Breaks Loose”, tạm dịch, “Khi Tất Cả Đổ Vỡ,” Steven J. Lawson viết, “Có thể bạn đang ở trong một cơn bão.  Chúa có mục đích khi dẫn bạn vào đó.  Ngài thừa sức bảo vệ bạn qua cơn bão.  Và, Ngài có một kế hoạch, để cuối cùng, dẫn bạn ra khỏi đó.  Hãy hướng mắt về Chúa Kitô.  Tin cậy vào Lời Ngài!”

Kính thưa Anh Chị em,

“Hãy hướng mắt về Chúa Kitô.  Tin cậy vào Lời Ngài!” Thông điệp của S. J. Lawson được gặp lại trong Tin Mừng hôm nay.  Chúa Giêsu muốn bạn và tôi đặt niềm tin vào Ngài, “khi tất cả đổ vỡ,” khi hỗn mang chụp xuống, như đã chụp trên con thuyền các môn đệ giữa ‘biển trong đêm.’

Vậy thì điều gì khiến chúng ta sợ hãi?  Với một số người, nỗi sợ xuất hiện vì bất an tài chính, sức khoẻ kém, quan hệ vỡ vụn, tương quan hỏng hóc, tội lỗi giày vò…  Và đôi khi, cả những ‘dòng lưu’ trong tâm hồn dậy sóng bởi những cảm xúc vô kiểm soát, những kiêu hãnh, phù phiếm, hay ý tưởng lăng loàn… khiến chúng ta mất phương hướng; và dường như việc chèo chống ‘con thuyền lòng’ đều trở nên vô ích giữa ‘biển trong đêm.’  Bên cạnh đó, nỗi sợ lớn nhất là sợ chết.  Thế nhưng, Đức Kitô, Chúa chúng ta, đã vượt qua cái chết và đã sống lại.  Ngài là Chúa kẻ sống và kẻ chết thì không gì có thể khiến chúng ta sợ hãi, dẫu chết là ‘biển trong đêm’ hãi hùng nhất!

Tin Mừng tường thuật bi kịch của các môn đệ: gió nổi, sóng gào, thuyền sắp chìm.  Nhưng kìa Giêsu, Đấng “Đi Trên Nước” đang đến!  Và dẫu những ngư dân dày dạn này đã trải qua nhiều đêm trên biển, nhưng Thầy của họ lại chọn lúc này để đến với họ, không phải để đưa họ vào bờ nhưng để nói với họ rằng, bất kể ‘cơn bão’ nào trong cuộc đời, Ngài vẫn có mặt ở đó theo một cách thức kỳ diệu nhất!  Ngài muốn chúng ta tin rằng, bất kể chúng ta phải vật lộn với loại hình ‘biển trong đêm’ nào, Ngài vẫn luôn có đó, gây ngạc nhiên, an ủi và đầy yêu thương.

Niềm tin vào Chúa và Lời Ngài không mở ra một con đường dẫn đến mọi việc sẽ thông suốt và thuận lợi; nó không cứu bạn khỏi những bão tố cuộc đời.  Nhưng niềm tin cho bạn một bảo đảm về sự ‘Hiện Diện’ của Đấng khuyến khích bạn vượt qua những thử thách hiện sinh; nó bảo đảm về sự chắc chắn của một bàn tay nắm lấy bạn, giúp bạn đối mặt với những khốn khó, chỉ cho bạn con đường phải đi, cả khi nó tối tăm nhất.  Bài đọc Công Vụ Tông Đồ hôm nay là một minh họa.  Khi các tín hữu kêu trách lẫn nhau vì giữa họ, có sự kỳ thị… thì Hội Thánh hướng mắt về Chúa Phục Sinh.  Các phó tế đầu tiên ra đời.  Giông bão qua đi!  Thánh Vịnh đáp ca thật sâu sắc, “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài!”

Anh Chị em,

“Thầy đây. Đừng sợ!”  Cuộc đời mỗi người như một hải trình vượt biển, nhiều ngày êm đềm; nhưng không ít ngày ‘dông tố’ cả trong lẫn ngoài.  Đó là những lúc chúng ta phải nghe cho được “Thầy đây, đừng sợ!”  Quả thế, qua cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô, Thiên Chúa đã cưới lấy nhân loại, Ngài sẽ không bỏ rơi một ai.  Nhưng có người tự hỏi, ‘Tại sao tôi khổ đau?’  Vâng, Chúa ở với chúng ta, Ngài không cất đi thánh giá, nhưng ban thêm sức mạnh để bạn và tôi vác nó, ôm lấy nó một cách ý nghĩa.  Vậy, đừng sợ bất cứ điều gì!  Bởi Chúa biết hết mọi sự, không gì nằm ngoài chương trình của Ngài.  Ngài “đưa chúng ta vào cơn bão; Ngài đem chúng ta ra.”  Điều quan trọng, dù ở đấng bậc nào, bạn và tôi vững tin, để nghe được tiếng Ngài, ngay giữa ‘biển trong đêm!’

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, lắm khi, thuyền đời con chòng chành bất định, xin hãy bước vào, nói với con “Đừng sợ!”  Có bóng Ngài, con cập bến bình an!”  Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 From: Langthangchieutim