Tên lửa Artemis 1 được lắp ráp như thế nào?
CÁI QUÁI GÌ VẬY?
Lê Khôi – ĐẤU TRƯỜNG DÂN CHỦ (Nhóm Muôn Chiều)
Michael Paul
CÁI QUÁI GÌ VẬY?
Hôm qua tôi hỏi một bạn, bạn này là đảng viên, rất yêu chế độ cộng sản.
Tôi hỏi: Giờ có hai lựa chọn đi du lịch và học tập, một là Hàn Quốc, hai là Triều Tiên, em chọn nơi nào để đi?
Ảnh: Hoàng Thị Nhật Lệ, cô gái vàng của làng Dư Luận Viên đã giành được suất lao động tại Nhật Bản.
Cô gái: Tất nhiên em không muốn ăn cỏ và gặp lãnh tụ là khóc như mưa mà chỉ để học phóng tên lửa hạt nhân rồi, em muốn sang xứ sở xứ Kim Chi Hàn Quốc.
Tôi lại hỏi tiếp: Bây giờ có hai nước là Mỹ và Venezuela, em chọn quốc gia nào để sinh sống và phát triển sự nghiệp?
Cô gái: Rõ ràng là em không muốn bới rác để ăn rồi. Em sẽ qua Mỹ bằng mọi cách.
Tôi lại hỏi tiếp: Bây giờ có hai đất nước, là Indonesia và Malaysia, họ cấm cộng sản hoạt động. Em sẽ vẫn đeo huy hiệu hoặc cờ đảng cộng sản ra đường bày tỏ chứ?
Cô gái: Dạ không. Em phải giấu đi chứ, bên đó họ tấn công người nào có biểu hiện như vậy.
Giờ thế này nhé: Giữa nước Pháp bảo vệ tự do, dân chủ đến cùng và một nước Trung Quốc muốn kiểm soát, chấm điểm phân hạng công dân, em chọn nơi nào để sinh sống?
Cô gái: Em không muốn làm nạn nhân của Thiên An Môn hay bị soi xét đến cả lời ăn tiếng nói và nội tạng, rõ ràng là em chọn Pháp rồi.
Tôi lại đặt ra giả dụ: Giờ có hai nơi, một là Việt Nam và hai là Nhật Bản, em có chọn Việt Nam để chữa bệnh hoặc học tập không?
Cô gái: Xứ sở mặt trời mọc là lựa chọn ưu tiên hàng đầu của em. Em đang làm thủ tục để qua đó.
Tôi đành phải nói: Sao em vừa lưu manh lại vừa khốn nạn thế? Mặc áo một đằng mà lại sẵn sàng xảo trá để đạt mục đích của mình và chỉ chọn những “đế quốc tư bản” vậy?
Luân Lê
Tô Thùy Yên Và Những Bài Thơ Viết Trong Tù – Phạm Tín An Ninh
Thu Hương – TRANG VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM
Để tưởng niệm nhà thơ Tô Thùy Yên (nhân dịp giỗ lần thứ tư của ông), mời đọc (lại): Tô Thùy Yên Và Những Bài Thơ Viết Trong Tù
Phạm Tín An Ninh
(Hình minh họa : Nhà thơ Tô Thùy Yên ) Ảnh của Wikipedia.
Một người dốt đặc về thơ phú như tôi mà lại từng được làm bạn và lạm bàn về thơ cùng với một nhà thơ nổi danh như Tô Thùy Yên thì đúng là chuyện lạ. Cho dù đó là chuyện ở trong tù. Vì vậy, khi biết tin anh qua đời, một số bạn tù khuyên tôi nên viết một bài để tưởng niệm anh, nhưng tôi không dám, vì thấy rất nhiều nhà văn nhà thơ tên tuổi bậc thầy đã viết về anh, hơn nữa tôi ngại người đời thường dị nghị chuyện “thấy người sang bắt quàng làm họ.” Hôm nay nhân ngày giỗ lần thứ ba của anh, theo tập tục Việt nam, là ngày chính thức mãn tang anh, tôi xin viết đôi điều để tưởng nhớ anh và nhắc lại vài kỷ niệm cùng anh trong tù.
Khi còn ngoài Bắc, có thời gian tôi đã từng ở chung trại tù với anh Đinh Thành Tiên (tên khai sanh của Tô Thùy Yên), nhưng khác đội, lúc ấy chưa biết nhiều về anh và cũng chưa có dịp thân quen anh. Mãi đến tháng 9 năm 1981, chuyển vào Nam, đến Trại Z- 30 C Hàm Tân, anh và tôi được “biên chế” ở cùng một đội, và nằm gần nhau trong gần hai năm, cho đến khi tôi ra tù. Đặc biệt trong đội này có cả anh Đặng Trần Huân, cũng nằm cách chúng tôi vài ba người. Và tôi được hân hạnh thân thiết với cả hai. Khi ấy, tôi biết danh anh Đặng Trần Huân nhiều hơn là anh Đinh Thành Tiên, vì trước đây quanh năm chỉ hành quân trong núi rừng chưa có cơ hội được đọc nhiều thơ Tô Thùy Yên, chỉ biết mỗi bài Chiều Trên Phá Tam Giang được phổ nhạc và loáng thoáng chuyện tình giữa anh và nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ. Riêng anh Đặng Trần Huân thì có nhiều chuyện vui trên báo Chiến Sĩ Cộng Hòa, và “Chuyện Cấm Đàn Bà”mà tôi thường đọc. Cả hai anh đều lớn tuổi hơn tôi, và sau khi biết cha tôi bị chết ở một trại tù khác trong Nam, vợ con nheo nhóc, nên tôi trở thành một trong những con bà Phước trong tù, hai anh đều thương quí tôi.
Nằm bên cạnh anh Tô Thùy Yên, nên tôi thường được anh đọc cho nghe những đoạn thơ anh ứng khẩu hay sáng tác. Anh có thói quen làm bài thơ nào cũng dài. Bất cứ lúc nào, ngay cả khi đang phải lao động, anh thì thầm ứng khẩu một vài câu hay vài đoạn, đến tối nằm đọc lại, ghi vào mẩu giấy nhỏ để sau đó ghép thành một bài dài. Có khi cả năm mới đủ một bài. Nghe anh thì thầm những câu thơ anh viết, thét rồi tôi thuộc lòng và còn nhớ hơn cả chính anh. Tôi dốt về thơ nhưng lại có tính mê thơ từ nhỏ. Vì vậy có nhiều khi anh quên, tôi có nhiệm vụ phải nhắc bài thơ đã đến đâu rồi, để anh tiếp tục. Anh làm thơ trong trí, lẩm bẩm một minh, đọc cho tôi nghe, rồi chép vội vào một mảnh giấy nhỏ, nhét ở đâu đó.Thỉnh thoảng anh nhờ tôi giữ hộ một số.
Có lần anh bỏ vào cuốn tự điển Anh-Việt được gia đình thăm nuôi, không biết nhờ ngụy trang bằng cái bìa của cuốn truyện “Thép Đã Tôi Thê Đấy”hay bằng cách nào đó, nên qua mắt được gã công an kiểm soát. Anh học Anh văn bằng cách say sưa đọc cuốn sách gối đầu giường của người cộng sản, tác phẩm nổi tiếng của văn hào Nga Nikolai A. Ostrovsky, nhưng kỳ thực, chỉ có cài bìa, còn cả phần ruột là cuốn tự đỉển Anh – Việt của tác giả Nguyễn Văn Khôn.
Có một lần không may, bất ngờ cả trại bị khám xét “đột xuất”. Các tù nhân có lệnh mang theo tất cả đồ đạc tư trang ra ngoài sân để chuyển trại. Một tên công an lục lọi đủ mọi thứ, khám phá cuốn sách mang tên “Thép đã tôi thế đấy” lại là cuốn sách toàn chữ của “đế quốc Mỹ”, và trong đó còn có cả mấy mẩu giấy có vài câu thơ “phản động” nên anh bị cùm hơn hai tuần. Cuốn sách và mấy bài thơ, tất nhiên bị tịch thu. Hôm mới được thả về đội, anh yếu và mệt quá, thêm một chút “phản kháng” nữa, nên anh dặn tôi, khuya này, khi nào nghe anh rên thì tôi hô to ‘cấp cứu, có tù bệnh đột xuất”. Lúc ấy người phụ trách trạm xá là Bác sĩ Anh, nguyên là Y sĩ Thiếu Tá bị bắt trong vụ nhà thờ Vinh Sơn sau 1975, kêu án 30 năm tù. Nghe nói ông có một ông anh lại là Trung Tá Bác sĩ Công An CS, nên bảo lãnh để được ra làm ở trạm xá thay vì phải lao đông. Dường như Bác sĩ Anh là bạn khá thân với anh Đinh Thành Tiên trước kia, nên hai người có hẹn nhau, nếu khi nào anh Tiên gọi cấp cứu thì bác sĩ Anh đến khám và cho lên bệnh xá nằm vài hôm, khỏi phải đi lao động. Anh được ban cho cái bệnh loét bao tử. Đây cũng là dịp để anh thoải mái làm thơ. Chỉ có tôi là người duy nhất biết được giao kèo bí mật này, nên khi anh Tiên kéo tay tôi và bắt đầu rên là tôi hô to “Cấp cứu! Cấp Cứu! Có tù bị bệnh đột xuất”. Và lần nào, đám công an cũng đưa Bs Anh đến khám và cho khiêng anh vê trạm xá! Bac sĩ Anh là một bác sĩ giỏi, một con người khẳng khái, tư cách và rất hết lòng với anh em.
Trong những bài thơ anh viết, bài mà tôi thuộc lòng và thích nhất đó là bài “Tháng Chạp Buồn”. Anh viết mấy đoạn đầu của bài thơ này vào giữa tháng Chạp năm 1981, mãi đến tháng Chạp năm 1982 anh mới viết xong mấy đoạn cuối (tức là khi đã ở tù gần tám năm, nhưng sau này có bài được viết là chín năm) Anh đọc và giải thích từng câu, từng đoạn trong bài thơ cho tôi nghe. Có nhiều câu tôi rất tâm đắc, như : “Tám năm áo rách bao nhiêu lượt, con vá chồng lên những nỗi niềm”, nhưng cũng có đôi câu tôi dốt nên không hiểu, như “Cha mẹ già như trúc trổ bông”, nhờ anh giải thích tôi mới biết khi trúc trổ bông là trúc sắp chết. Tôi nể phục sự hiểu biết, tài làm thơ của anh và rất cảm động khi đọc bài thơ anh viết, bởi câu nào cũng mang đầy tâm trạng của anh mà cũng của chính tôi và những người bạn tù khác nữa. Anh bảo viết bài thơ này tặng tôi. Và anh tặng thật. Anh viết vào một mảnh giấy được xếp thật nhỏ với chữ cũng thật nhỏ đầy kín cả hai mặt. Chữ anh viết khá đẹp. Mảnh giấy xếp nhỏ có thể kẹp giữa hai ngón tay. Khi nghe báo tin tôi được ra tù, anh mừng cho tôi, nhưng tôi cũng nhận ra nét thoáng buồn trong mắt anh, vì từ nay sẽ mất thằng bạn tù anh xem như thằng em thân thiết, từng lắng nghe và thuộc những bài thơ mang cả nỗi lòng anh. Biết tôi đã thuộc nằm lòng, anh vẫn bảo cố giấu mảnh giấy có chép bài thơ mang về làm kỷ niệm, vì khá dài nên cũng chóng quên. Nhưng khi lên ban chỉ huy trại xếp hàng chờ lãnh tấm giấy ra trại, thấy mấy anh bạn tù phía trước bị khám xét quá kỹ quá, tôi nhát gan, vội bỏ mảnh giấy vào miệng nhai nát rồi nuốt vao cái dạ dày đang đói. Khi về đến nhà, tôi liền ngồi viết lại cả bài thơ và đưa cho vợ tôi đọc. Nàng rơm rớm nước mắt.
Khi biết tin anh đến Mỹ, tôi đang định cư ở NaUy, nên nhờ cô con gái lớn đang sang học ở Cali liên lạc tìm thăm anh. Anh vui lắm. Từ đó anh em thường liên lạc thăm nhau. Tôi chép lại bài thơ “Tháng Chạp Buồn” gởi cho anh, vì anh cho biết đã không còn nhớ rõ một vài câu trong đó.
THÁNG CHẠP BUỒN
Tết này con vẫn chưa về được
Chân mỏi còn lê nặng kiếp tù
Con nghĩ mà đau muôn nỗi nhớ
Tám năm lòng bạc những thiên thu
Tám năm những tưởng là vô tận
Rồi cũng qua như tiếng rụng rời …
Thương nhớ nghe chừng sông biển cạn
Nghe chừng gãy những cánh chim bay
Con đi đã mấy miền Nam Bắc
Ðâu cũng thì đau đớn giống nòi
Con khóc hồn tan thành nước mắt
Lâu rồi trời đất hết ban mai
Tuổi con đã quá thời nghi hoặc
Sao vẫn như người đi giữa đêm
Tám năm áo rách bao nhiêu lượt
Con vá chồng lên những nỗi niềm
Con nhớ cội mai già trước ngõ
Xuân này có gắng gượng ra hoa
Xót xa thế, thiết tha là thế
Ðời mất đi từng mảng thịt da
Căn nhà đã có thời gian ngụ
Bụi mọt rơi và ngọn gió qua
Thăm thẳm nghìn đêm chong mắt đợi
Ai trầm luân đó đã về chưa ?
Con nhớ khu vườn sau vắng lạnh
Mỗi cây làm chứng một thâm tình
Quây quần bên mẹ cha buồn bã
Như một phần con đứng lặng thinh
Tám năm con thức ngàn đêm trắng
Mơ sáng ngày mai đời đổi thay
Con nắm tay mình trong bóng tối
Hiểu rằng sống được cũng là may
Tám năm con giấu trong tâm tưởng
Thanh kiếm giang hồ thuở thiếu niên
Mà đợi ngày mai trời trở giấc
Ðem thân làm trận lốc kinh thiên
Tết này con vẫn chưa về được
Sông núi còn ngăn những tấm lòng
Nên đành lấy nhớ thương mừng tuổi
Cha mẹ già như trúc trổ bông

* * *
Tết này anh vẫn chưa về được
Chắc hẳn em buồn như cỏ thu
Ngọn gió mùa xưa hiu hắt thổi
Dòng đời nghe lạnh nỗi thờ ơ
Tám năm hiu quạnh vang mòn mỏi
Những tiếng vang từ mỗi nhịp tim
Những tiếng vang sâu từ cõi chết
Qua ngàn lớp cửa nặng nề im
Con sông nước chảy đôi miền nhớ
Biền biệt trôi, ngày một một xa
Còn gọi nhau qua từng giấc mộng
Bàng hoàng như một cánh chim sa
Trong ấy mùa xuân có đến không ?
Mùa xuân hoa nở má em hồng
Mùa xuân áo mới như hy vọng
Nắng mật ngời lên ánh mắt trong
Ở đây có lẽ xuân không đến
Rừng núi chưa tan giấc não nề
Thương nhớ tràn như cơn lũ máu
Lòng anh đã vỡ những con đê
Lòng anh đau nỗi quê hương mất
Ðời bỏ đi chưa hả nhục nhằn
Có chết cũng thành ma vất vưởng
Ðêm về thương khóc nhớ quê hương
Anh nhớ con đường em vẫn đi
Cỏ hoa bối rối gọi nhau về
Thời gian có ngủ mê từ đó
Nhan sắc bây giờ có ủ ê ?
Anh nhớ bao điều tưởng đã quên
Tình xưa như nước chảy trăm miền
Tình xưa như hạt cây khô rụng
Từ những mùa xa lá phủ lên
Anh nhớ làm sao mà chẳng nhớ
Căn nhà ấm tiếng nói thân thương
Căn nhà như giấc chiêm bao biếc
Có ánh trăng và hương dạ lan
Làm sao em chẳng buồn cho được
Tám độ mai rơi hết mộng vàng
Mái tóc ủ thời con gái cũ
Bây giờ e cũng đã phai hương
Tết này anh vẫn chưa về được
Lau sậy già thêm một tuổi xuân
Còn nhớ thương ai miền gió cát
Bao giờ mới dứt được trầm luân !
* * *

Tết này cha vẫn chưa về được
Chắc hẳn con buồn cạn tuổi thơ
Từ buổi cha đi, nhà tróc nóc
Tuổi thơ thôi cũng nhuốm bơ phờ
Từ buổi cha đi đời lặng lẽ
Mắt nai héo đỏ nỗi mong chờ
Mỗi lần có khách đi vào ngõ
Con bỏ vui đùa đứng ngẩn ngơ
Con sáo trong lòng con đã chết
Bé ơi sao bé mãi đi tìm
Con kêu lạc giọng ơi… ơi… sáo
Rồi khóc trong chiều muộn nhá nhem
Tám năm mưa gió qua rền rĩ
Chim nhỏ không còn vui líu lo
Ngơ ngác tuổi thơ người lớn sớm
Nhìn đâu cũng chỉ thấy bơ vơ
Ðã tám năm rồi con bỏ học
Cuộc đời như một bát cơm thiu
Mỗi lần có phải qua trường cũ
Con bước nhanh vì sợ bạn kêu
Lần hồi rau cháo mẹ nuôi con
Con lớn lên theo vạn nỗi buồn
Mơ ước ngày sau làm tráng sĩ
Ðem thân vào những chốn đau thương
Ngày sau con dựng ngôi nhà lớn
Trồng lại tình thương dọc nẻo đời
Tạc lại con người khôi việt đẹp
Làm nên thế giới mới tinh khôi
Cha thương con biết bao mà kể
Ôi mắt nhung reo ánh nỗi niềm
Mái tóc tơ hồng hương nắng hạ
Tuổi thơ mùi sách mới lâng lâng
Xa con cha thấy buồn vô hạn
Như mất thêm lần nữa tuổi thơ
Cha tiếc không cùng con sống lại
Ngày vui cha vẫn giấu trong mơ
Ôi cánh diều băng mùa hạ cũ
Xương tàn còn đọng ngọn tre cao
Ðến nay trời nổi bao lần gió
Con tưởng oan hồn vật vã đau
Tết này cha vẫn chưa về được
Ðành hẹn cùng con tết khác thôi
Con nhớ để dành cây pháo cũ
Ðể dành một chút tuổi thơ vui.
Tô Thùy Yên
Sau này, bài thơ TA VỀ, anh viết khi ra tù, đã trở thành một tuyệt tác, đưa tên tuổi anh lên tột đỉnh thi ca. Bài thơ mà gần như người Việt khắp thế giới đều biết đến, ngay một vài tờ báo văn nghệ trong nước cũng đã đăng tải, bình phẩm và ngợi ca. Bài thơ rất dài, nhưng nhiều người thuộc nằm lòng, chỉ cần nhắc đến một vài chữ, như “cám ơn hoa đã vì ta nở”…là biết ngay đến Tô Thùy Yên. Nhưng với tôi, bài thơ “Tháng Chạp Buồn” lại gây cho tôi nhiều xúc động hơn, không chỉ nó mang nhiều tâm trạng của “tám năm áo rách bao nhiêu lượt, tôi vá chồng lên những nỗi niềm” mà còn gợi lại nhiều kỷ niệm gắn bó giữa anh Tô Thùy Yên và cá nhân tôi trong những năm tù ngục
Trong tù, anh có kể cho tôi nghe cuộc tình của anh với nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ. Anh cũng tỏ ra ân hận và thấy có lỗi với cả hai người đàn bà, chị Nguyễn Thị Thụy Vũ và chị Huỳnh Diệu Bích, người vợ chính thức mà anh hết lời ca ngợi. Cuộc tình này đã gây cho anh khá nhiều tai tiếng và cũng để lại nhiều dằn vặt trong anh.

Nhà văn Nguyễn thị Thụy Vũ
Anh Đặng Trần Huân lớn hơn anh Đinh Thành Tiên mười tuổi, khi ấy tóc đã bạc trắng, cùng phục vụ trong Tổng Cục CTCT nhưng người Bắc người Nam, khác tính nhau và dường như không mấy thân nhau. Tô Thùy Yên thì trầm ngâm, ít nói, còn Đặng Trần Huân thì thường vui đùa, bỡn cợt. Khi tâm tình với tôi, anh Đặng Trần Huân cũng thường có ý trách anh Tô Thùy Yên về chuyện Nguyễn Thị Thụy Vũ. Tôi vừa đùa vừa bênh vực: tình của giới văn nghệ mà, nên thông cảm, bố ạ! Tôi thường gọi anh Đặng Trần Huân là bố và anh cũng xưng bố với tôi. Vì có lần anh đùa, bảo “ bố có cô con gái út chưa chồng, nếu mai này mày ra tù mà vợ đã lấy chồng khác tao sẽ gã nó cho mày!” (xin lỗi cô gái út, nếu đọc được mấy dòng này)
Cả hai anh đều sang Mỹ cùng gia đình theo diện HO. Anh Đặng Trần Huân mất vào năm 2003 tại Nam Cali, sau khi sinh hoạt báo chí, văn nghệ một thời gian. Anh Tô Thùy Yên thì nổi tiếng với bài thơ Ta Về, nhưng không còn sáng tác nhiều.. Sau khi in Thơ Tuyển (1994 và 1995), anh chỉ tổ chức ra mắt duy nhất tập thơ Thắp Tạ (2004), và sau đó in thêm Tô Thùy Yên-Tuyển Tập Thơ (2019), nhưng chỉ dành để tặng bạn bè).
Đọc tập thơ Thắp Tạ anh gởi tặng, tôi nghĩ có lẽ đây là một kết thúc, khi ở đầu tập thơ anh viết:
Thắp tạ càn khôn một vô ích
Thắp tạ nhân quần một luyến thương
Và
Thức cho xong bài thơ
Mai sớm ra đi
Cài hờ lên cửa tặng
Tôi gọi sang cám ơn anh và đùa:
–Đọc tập thơ này có nhiều câu em không hiểu được. Vả lại, ông anh còn yêu đời quá mà “thắp tạ” làm chi sớm vây?
Tập thơ xuất bản năm 2004, mãi đến mười lăm năm sau, ngày 21 tháng 5 năm 2019, nhà thơ Tô Thùy Yên mới ra đi. Và đúng là anh cũng đã yêu đời thật, khi trải qua một cuộc tình đẹp đầy tính văn nghệ với một cô con gái trẻ, mê thơ và ngưỡng mộ anh!
Rồi mọi người sẽ nhớ tới anh, nhớ mãi thơ anh. Bài thơ Ta Về sẽ trở thành bất tử. Riêng tôi sẽ không thể nào quên người anh, bạn tù, một nhà thơ lớn, có tâm hồn, lãng mạn, nhưng luôn khí khái, đã cho tôi nhiều kỷ niệm dễ thương, thi vị ngay trong cảnh khốn cùng nhất của kiếp con người.
Bắc Âu, 21.5.2022
Phạm Tín An Ninh
https://phamtinanninh.com/?p=6365
TÌNH GIÀ – (Tác giả: Phan Khôi)
Thu Hương–TRANG VĂN CHƯƠNG MIỀN NAM
Kỷ niệm 91 năm bài thơ Tình Già của Phan Khôi ra đời, mở đầu cho phòng trào thơ mới ở Việt Nam.
Phan Khôi (1887 – 1959), bút danh Chương Dân, là một học giả tên tuổi, một nhà thơ, nhà văn, thành viên nhóm Nhân Văn – Giai Phẩm, cháu ngoại của Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu, đỗ Tú tài chữ Hán năm 19 tuổi nhưng lại mở đầu và cổ vũ cho phong trào Thơ mới.
TÌNH GIÀ
(Tác giả: Phan Khôi)
Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa,
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ, hai mái đầu xanh kề nhau than thở:
– “Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng, mà lấy nhau hẳn đà không đặng;
Để đến nỗi tình trước phụ sau, chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!”
– “Hay! Nói mới bạc làm sao chớ! Buông nhau làm sao cho nỡ?
Thương được chừng nào hay chừng nấy, chẳng qua ông Trời bắt đôi ta phải vậy!
Ta là nhân ngãi, đâu có phải vợ chồng mà tính việc thủy chung”
…
Hai mươi bốn năm sau, tình cờ đất khách gặp nhau;
Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được!
Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi! Con mắt còn có đuôi!
Ảnh minh họa
Nhà văn Phan Khôi cùng người vợ thứ hai Nguyễn Thị Huệ và hai con: Phan Nam Sinh, Phan An Sa
Share từ Fb:Nhất Thống Nguyễn
HOA QUẢ THỨ 12: Khiết Tịnh – Cha Vương
9 sự thật kỳ lạ chứng minh cơ thể người là một hệ thống đầy bí ẩn …
9 sự thật kỳ lạ chứng minh cơ thể người là một hệ thống đầy bí ẩn …
Cơ thể con người vô cùng đặc biệt. Nó là một cơ chế phức tạp và có nhiều bí ẩn mà các nhà khoa học vẫn đang nghiên cứu hàng thế kỷ.
Dưới đây mà một số sự thật về khả năng kỳ diệu của cơ thể bạn mà chính bạn còn chưa biết.
- Bộ não của chúng ta là bộ nhớ có dung lượng lớn nhất thế giới
Bộ não có thể ghi nhớ đén 2,5 triệu GB thông tin, tức là khoảng 300 năm video. Đỉnh cao của khả năng ghi nhớ xảy ra ở tuổi 25 và bắt đầu giảm ở tuổi 50, trừ khi bạn huấn luyện lại bộ não của mình.
- Cơ thể sẽ làm chậm mọi quá trình để bảo vệ bạn khi đuối nước
Hiệu ứng này được gọi là “phản xạ lặn”. Khi não bộ nhận ra cơ thể bạn đang bị chìm trong nước, nó sẽ làm chậm nhịp tim để máu từ các chi về lại những bộ phận quan trọng và duy trì oxy. bạn lặn càng sâu hay ở dưới nước càng sâu thì nhịp tim sẽ càng chậm đi.
- Bạn có sức mạnh siêu phàm khi mới đẻ
Trẻ sơ sinh rất khỏe so với kích thước và trong lượng cơ thể. Nếu cho một đứa trẻ nắm thanh ngang, nó có thể đu trên đó một thời gian dài mà không thấy mệt.
Phản xạ nắm bắt lòng bàn tay này được thừa hưởng từ tổ tiên của chúng ta khi những con khỉ mới sinh phải ôm lấy mẹ của chúng, nắm lấy tóc của mẹ. Từ 3 tháng tuổi, trẻ sơ sinh thường mất khả năng này.
- Chiều dài của tất cả các mạch máu bên trong cơ thể của chúng ta là đủ để quấn quanh Trái đất 2,5 lần vòng theo đường xích đạo
Nếu bạn rút tất cả các mạch máu ra khỏi một người trưởng thành và trải chúng ra, nó có thể dài hơn 160.934 km, đủ để quấn 2,5 vòng quanh Trái đất.
Ngoài ra, trái tim của con người bơm trung bình 5,7 triệu lít máu trong suốt cuộc đời. Thể tích này đủ để lấp đầy 3 bể bơi kích thước Olympic.
- Màu sắc của những giấc mơ của bạn có thể phụ thuộc vào loại tivi bạn xem
Loại TV bạn xem khi còn nhỏ có thể ảnh hưởng đến màu sắc trong những giấc mơ của bạn. Nghiên cứu này cho thấy phần lớn những người khi bé xem phim đen trắng sẽ nhìn thấy những giấc mơ màu đen trắng.
Trong khi đó, những người được sinh ra ở thời đại TV màu lại có những giấc mơ đầy màu sắc.
- Cơ bắp của bạn được thiết kế để nâng hàng tấn
Năm 1982, tại Georgia, Mỹ, anh chàng Tony Cavallo đã bị chiếc xe Chevolet Impala 1964 đè lên người trong khi sửa chữa nó. Tưởng chừng Tony sẽ chết vì sức nặng hơn 1,5 tấn của chiếc xe, nhưng may mắn thay mẹ của anh là Angela Cavallo đã xuất hiện kịp thời và làm một việc phi thường: nâng chiếc xe lên với hai bàn tay không, cứu thoát con trai mình.
Đây không phải là trường hợp duy nhất mà ai đó đã làm được điều tưởng như không thể. Chúng ta có 640 cơ bên trong cơ thể chúng ta, và không ai biết đâu là giới hạn của chúng.
- Cơ thể bạn là một cỗ máy sản xuất dịch nhầy
Trung bình, cơ thể 1 người lớn sản xuất 1,5 lít dịch nhầy mỗi ngày. Chúng ta đã nuốt hết phần lớn số đó mà không chú ý đến nó. Ngoài ra, một cơ thể cũng sản xuất một lít nước bọt, 3 lít dịch dạ dày, 3,5 lít dịch đường ruột và một lít mật.
- Nước mũi có thể là dịch từ não
Chất lỏng chảy ra từ mũi bạn có thể là dịch ở não. Dịch này phân bổ quanh não và được giữ bởi một màng đặc biệt. Đôi khi nó có thể rò rỉ qua mũi của bạn với số lượng nhỏ, chỉ trông như chất lỏng trong suốt.
- Cơ thể của bạn là cấu trúc được bảo vệ mạnh nhất trên thế giới
Bạn có thể thấy tế bào bạch cầu đang đuổi theo một con vi khuẩn và nuốt nó. Bạch cầu được gọi là những “vệ sĩ” của cơ thể, bảo vệ khỏi những kẻ xâm lược xấu xa.
Đồng thời, cơ thể chúng ta cũng loại bỏ các tế bào đã chết. Ví dụ, trong khi bạn đang đọc câu này 22 triệu tế bào của bạn đã chết. Trong 30 giây sau, cơ thể bạn sẽ sản xuất 72 triệu tế bào hồng cầu mới và sẽ loại bỏ 174 nghìn tế bào da chết.
ST
From: TU-PHUNG
CẦU NGUYỆN VỚI THIÊN CHÚA BA NGÔI – Tứ Quyết SJ
Tứ Quyết SJ
Mỗi lần thức dậy, mỗi khi đi ngủ, trước bữa ăn, khi vào nhà thờ và rất nhiều lần trong ngày, chúng con làm dấu Thánh Giá: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Đó là lúc con tuyên xưng Chúa Ba Ngôi trong mọi khoảnh khắc cuộc sống. Dù chưa hiểu nhiều, nhưng con tin và con dần nhận thấy dấu ấn của Chúa Ba Ngôi trong cuộc đời.
Truyện kể rằng, ngày xưa, có vị thánh thông thái nọ, muốn giải nghĩa tường tận về mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Ngài cố gắng mãi mà vẫn chưa được. Thế là, Ngài đi bộ dọc bờ biển để vừa giải trí cho thông thoáng, vừa tiếp tục ngẫm nghĩ. Ngài gặp một em bé chơi bên bờ biển. Bé lấy vỏ sò để múc nước đổ vào cái lỗ nhỏ. Ngạc nhiên, thánh nhân dừng lại hỏi bé: Bé đang làm gì thế? Bé hồn nhiên đáp lại: Con muốn tát cạn nước biển để đổ vào cái lỗ nhỏ này. Rồi bé biến mất. Thánh nhân vỡ lẽ ra nhiều điều. Ngài hiểu rằng, em bé kia chính là thiên thần mà Chúa gửi đến để soi sáng cho mình. Ngài hiểu rằng, mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi quá cao vời khôn dò và trí khôn bé nhỏ của mình chỉ hiểu được chút ít. Ngài thầm khiêm tốn tạ ơn Chúa và bình an bước tiếp.
Truyện kể rằng, có nhà truyền giáo kia, đến vùng truyền giáo nọ. Ngài hết sức yêu mến Chúa Ba Ngôi, nên Ngài ra sức giảng giải cho bà con, với hy vọng mọi người hiểu được Chúa Ba Ngôi và hết lòng yêu mến Chúa. Thấy bà con chăm chú lắng nghe, Ngài lấy làm thích thú. Sau những bài giảng sôi nổi hùng hồn, cha hỏi lại bà con rằng: Mọi người có tin Chúa Ba Ngôi không? Bà con vui vẻ đáp lại: Tin chứ thưa cha, Chúa là Thiên Chúa mà. Cha hỏi tiếp: Mọi người có hiểu mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi mà tôi giảng giải không? Bà con đáp lại hồn nhiên: Hiểu hiểu thưa cha. Cha thêm phần phấn khởi. Bà con nói tiếp: 4 hay 5 ngôi tụi con còn tin nữa là, 3 ngôi ăn thua gì thưa cha. Đến khúc này, cha tiu nghỉu và không nói thêm được gì nữa.
Truyện kể rằng, có vị cha xứ nọ dạy giáo lý cho các em nhỏ. Cha cũng thích thú dạy về bài Chúa Ba Ngôi. Cha hỏi: Chúa Cha có là Thiên Chúa không? Các em thưa: Dạ có. Tiếp đến là các câu hỏi về Chúa Giêsu rồi về Chúa Thánh Thần. Các em đều trả lời rất tốt, cha lấy làm vui và tặng kẹo cho các em. Đến câu hỏi tiếp theo, cha nói: Thế là, có mấy Chúa? Các em đồng thanh hồn nhiên: Dạ có 3 Chúa. Cha cụt cả hứng, đòi lại kẹo và cho các em ngưng học bữa đó.
Ba câu chuyện trên thật hấp dẫn, thực tế và cụ thể, để nói về một mầu nhiệm khôn lường. Ý thức được sự cao cả khôn thấu của Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi, nên có nhà truyền giáo lão luyện nọ đã viết lại kinh nghiệm mục vụ của mình rằng: Hầu hết người ta có thể hiểu được cuộc thương khó của Chúa Giêsu, ít người có thể kinh nghiệm được niềm vui đặc biệt của Cuộc Phục Sinh của Chúa, và càng ít người có thể hiểu được phần nào đó về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi.
Khi một thầy chủng sinh hỏi cha giáo nhiều về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, cha giáo bình thản đáp lại: Nếu Chúa Giêsu không tỏ cho chúng ta, thì chúng ta chẳng bao giờ biết. Trước đây, Thiên Chúa tỏ cho dân Do Thái rằng, Ngài là Thiên Chúa Duy Nhất. Và Chúa Giêsu mặc khải cho chúng ta rằng: Thiên Chúa Duy Nhất có Ba Ngôi là Cha, Con, và Thánh Thần. Cha giáo nói tiếp: nếu ai muốn hiểu mầu nhiệm ấy, thì hãy tập trung vào cuộc đời Chúa Kitô, và xin ơn tập sống tập nhìn tập nghe Chúa, rồi dần dần sẽ hiểu. Và hiểu như thế nào cũng tùy ơn Chúa ban cho từng người theo nhiều cách thế khác nhau.
Chúng ta hãy cũng nhau lắng nghe và suy ngẫm chính những lời mà Chúa Giêsu nói với các môn đệ. Những lời này trực tiếp nói tới Chúa Ba Ngôi. Đó là Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần. Chúa Giêsu nói:
“Thầy còn nhiều điều phải nói với các con, nhưng bây giờ các con chưa thể hiểu được, bây giờ các con chưa có sức chịu nổi. Khi Thần Chân Lý đến, Ngài sẽ dạy các con biết tất cả sự thật, vì Ngài không tự mình mà nói, nhưng Ngài đã nghe gì thì sẽ nói như vậy, và Ngài sẽ nói cho các con những việc sẽ phải làm. Ngài sẽ làm vinh danh Thầy, vì Ngài lãnh nhận tất cả từ nơi Thầy mà loan truyền cho các con. Tất cả những gì Chúa Cha có, đều là của Thầy, thế nên như Thầy đã nói: Thánh Thần sẽ lãnh nhận từ nơi Thầy mà loan truyền cho các con.”

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh, Ngài đang ngắm nhìn chúng con trong mọi cảnh huống cuộc đời. Chúng con đây, nơi thì hòa bình, nơi thì chiến tranh, nơi giàu có, nơi nghèo khó, nơi sáng sủa, nơi tăm tối, nơi hạnh phúc, nơi khổ đau, người cười kẻ khóc, người no kẻ đói, người sống kẻ chết… với mọi màu da sắc tộc văn hóa ngôn ngữ… Xin cho con nhận thấy rằng, Chúa biết mọi sự, Chúa thấy mọi người, và Chúa đang tìm mọi cách để cứu độ chúng con, để yêu thương chúng con. Xin cho con sống tình con thảo với Chúa Cha, như người môn đệ trung thành và người anh em trung tín của Chúa Con, như người học trò nhanh nhạy của vị Thầy nội tâm là Chúa Thánh Thần. Lạy Chúa Ba Ngôi, Ngài cao sang nhưng thật gần con, Ngài cao siêu nhưng rất cụ thể, Ngài cao cả nhưng rất khiêm tốn giản dị. Xin cho con gặp được Ngài trong cõi lòng và trong cuộc đời. Amen!
Tứ Quyết SJ
From: Langthangchieutim
NHÀ THỜ CỔ TRÊN NÚI TÀ LƠN (KOBOR), CAMPUCHIA
Suy tư Tin mừng CN: Thiên Chúa Ba Ngôi – mầu nhiệm hiệp thông, tình yêu và sáng tạo
Các bạn thân mến!
Khi nói đến mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, chúng ta thường hay nói đến mầu nhiệm tối tăm, cao siêu, khó hiểu. Điều này rất đúng bởi vì mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi không phải là đối tượng của trí hiểu mà là đối tượng của đức tin và của cuộc sống.
Sẽ là không tưởng nếu chúng ta tìm những bằng chứng để cố gắng thuyết phục lý trí con người về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Tuy nhiên ít nhiều trong mặc khải Ki-tô giáo, bao gồm cả Thánh Kinh và Thánh Truyền, truyền thống của Giáo Hội, cử hành phụng vụ, bí tích, bạn và tôi đã và đang tuyên xưng mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Sách Sáng Thế kể về việc Thiên Chúa Sáng Tạo. “Thiên Chúa phán: ‘Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất.Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ.”[1] Trong biến cố Chúa chịu phép rửa và biến cố biết hình, bạn cũng nhận thấy việc mặc khải mối liên hệ giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.[2] Chính Chúa Giê-su Ngài cũng xin Chúa Cha. Thầy sẽ sai Một Đấng Bảo Trợ khác đến với anh em để Người dạy dỗ anh em mọi điều Thầy đã nói với anh em và dẫn anh em đến sự thật toàn vẹn.[3] Thánh Phao-lô trong lời cầu chúc cho cộng đoàn Cô-rin-tô cũng đã dùng lời cầu chúc có hình ảnh về Chúa Ba Ngôi: “Cầu chúc toàn thể anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô, đầy tình thương của Thiên Chúa, và ơn hiệp thông của Thánh Thần.”[4] Lời cầu chúc của Thánh Phao-lô phản ánh kinh nghiệm cá nhân được ân sủng của Đấng Phục Sinh đụng chạm để thôi thúc Ngài đi làm chứng nhân cho dân ngoại. Trong phụng vụ đặc biệt là thánh lễ, linh mục thường bắt đầu thánh lễ bằng lời chào: “Nguyện xin ân sủng Đức Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em.” Trong việc rửa tội, Giáo Hội cũng dùng công thức Chúa Ba Ngôi. “Cha rửa con, nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần.” Trong đời sống thường nhật, bạn và tôi cũng làm dấu trước khi cầu nguyện hoặc xin ơn thánh hóa. Như thế mầu nhiệm về Thiên Chúa Ba Ngôi vừa cao cả những lại hết sức gần gũi đối với mỗi người chúng ta. Cao cả là bởi vì mầu nhiệm đó diễn ta tương quan sâu kín nhất nơi Thiên Chúa, gần gũi là bởi vì hằng ngày chúng ta vẫn tuyên xưng và thực hành điều đó trong đời sống của mình. Có thể nói, chúng ta đã sống trong mầu nhiệm về Thiên Chúa Ba Ngôi trước khi chúng ta có thể hiểu và giải thích về Thiên Chúa.
Xét trong truyền thống của Giáo Hội, một số nhà thần học cũng cố gắng suy tư, tìm cách giải thích về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi bằng phương pháp loại suy hay bằng những hình ảnh gần gũi. Tiêu biểu cho nỗ lực này là Augustine, Richard of St Victor và Thánh Thomas Aquinas[5]. Trong khi Agustine dùng loại suy về tình yêu: tình yêu gồm 3 yếu tố, người yêu, kẻ được yêu và chính tình yêu. Người yêu cần diễn tả tình yêu của mình cho kẻ được yêu. Tương quan giữa người yêu và kẻ được yêu là chính tình yêu. Như thế cả ba yếu tố: người yêu, kẻ được yêu và chính tình yêu diễn tả hình ảnh về Thiên Chúa Ba Ngôi. Cũng thế, Richard of St. Victor dùng loại suy về Thiên Chúa là Đấng toàn thiện và tốt lành để nói về Thiên Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa là Đấng toàn thiện. Đấng toàn thiện đó cũng là tình yêu tối hậu. Tình yêu tối hậu này cần một đối thể trao tặng tình yêu và đón nhận tình yêu. Nơi con người không thể có một đối thể khác vì con người vốn giới hạn còn nơi Thiên Chúa thì lại khác, Ngài là Đấng hoàn hảo cho nên nhất thiết phải cần nhiều ngôi vị thần thiêng để diễn ta mối tương quan hiệp thông. Hơn nữa tình yêu tối hậu này không chỉ là tình yêu lẫn nhau của hai ngôi vị nhưng còn là tình yêu tối hậu được chia sẻ. Như thế tương quan của Chúa Cha và Chúa con là tình yêu trao hiến. Tương quan của Chúa con và Chúa Cha là tình yêu trao tặng trở lại. Tương quan của Chúa Cha và Chúa Thánh Thần là tình yêu tối hậu dành cho Con bằng tình yêu được chia sẻ. Tình yêu của Con dành cho Cha là tình yêu được chia sẻ cho Chúa Thánh Thần. Tương quan của Chúa Thánh Thần với Chúa Cha và Chúa Con là tình yêu tối hậu được chia sẻ trao tặng trở lại với Cha và Con. Như thế trong tương quan tình yêu tối hậu nhất thiết phải có tương quan lẫn nhau giữa việc trao hiến, trao tặng trở lại và chia sẻ. Đây chính là hình ảnh nói về Thiên Chúa Ba Ngôi. Còn Thánh Thomas Aquinas giải thích về Thiên Chúa Ba Ngôi dựa trên ẩn dụ về lý trí. Tâm trí có lý trí và ý chí. Lý trí là Ngôi Lời, còn ý chí là Tình Yêu. Hoặc nơi Thiên Chúa có 2 tương quan. Tương quan của Cha với Con là tương quan nhiệm sinh, còn tương quan của Cha và Con với Thánh Thần là tương quan nhiệm xuất. Cả Cha, Con và Thánh Thần đều là Thiên Chúa không hơn không kém. Như thế cả Cha, Con và Thánh Thần là Ba Ngôi Vị trong cùng một Bản Thể. Dĩ nhiên đây là một vài những ẩn dụ hoặc loại suy về Thiên Chúa Ba Ngôi. Nếu áp dụng kiểu loại suy này, bạn đang nhìn về Thiên Chúa Ba Ngôi trong chiều kích nội tại. Chiều kích nội tại về Chúa Ba Ngôi xem ra có vẻ tối tăm và rối rắm. Tuy nhiên bạn cần nhìn Chúa Ba Ngôi trong tương quan ngoại tại, tức là trong tương quan với sáng tạo, cứu chuộc và quan phòng.
Một câu hỏi thực tế hơn đối với bạn đó là việc hiểu về Thiên Chúa Ba Ngôi có tương quan gì với đời sống của tôi. Như chúng ta đã biết Thiên Chúa Ba Ngôi là sự hiêp thông, tình yêu và sáng tạo. Nơi Thiên Chúa Ba Ngôi, Cha, Con và Thánh Thần không ngừng hiệp nhất trong tình yêu và trong việc trao ban sự sống cho nhau và cho vạn vật. Cha ban tình yêu và sự sống cho Con và Thánh Thần. Con trao ban tình yêu và sự sống của mình cho Cha và Thánh Thần. Thánh Thần trao ban tình yêu và sự sống cho Cha và Con. Chính việc trao ban sự sống và tình yêu trong sự năng động ấy làm nên sức sống của Thiên Chúa. Đây cũng là khuân mẫu cho đời sống đức tin và con đường cứu độ. Chính những đặc nét này sẽ ảnh hưởng đến chiều kích Giáo Hội, cứu độ và đời sống gia đình. Giáo Hội muốn tồn tại và phát triển phải phản ánh chính mối tương quan hiệp thông hiệp của Thiên Chúa Ba Ngôi. Sự hiệp thông giữa các cấp trong Giáo Hội, giữa Giáo Hội hoàn vũ và Giáo Hội địa phương, giữa đầu và thân thể phản ánh mối hiệp thông của Ba Ngôi Vị. Một khi Giáo Hội mất đi mối liên hệ hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi và với chính mình, Giáo Hội sẽ mất đi sức sống và sức năng động tông đồ.
Cũng thế, mối liên hệ trong sự hiệp thông, tình yêu và trao ban sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi phải là mối liên hệ căn bản trong đời sống gia đình. Cha mẹ trao ban sự sống và tình yêu của mình cho con cái. Con cái cũng trao ban sự sống tình yêu của mình cho cha mẹ. Tương quan này phản ánh chính tương quan trao đổi tình yêu và sự sống nơi Thiên Chúa Ba Ngôi. Chính mối tương quan này làm nên sức sống và hạnh phúc cho đời sống gia đình. Chúng ta tự hỏi đời sống gia đình sẽ ra sao nếu mất đi mối liên hệ với Thiên Chúa? Đời sống gia đình sẽ ra sao nếu mất đi mối liên hệ với nhau và đánh mất đi tình yêu và việc trao tặng sự sống. Nền tảng của gia đình là tình yêu và mục đích của gia đình là yêu thương và trao ban sự sống. Gia đình mà thiếu tình yêu và sự trao ban sự sống sẽ trở thành gia đình chết. Chính nơi gia đình mà tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa Ba Ngôi được trở nên sống động. Cũng thế, khát khao của con người mọi thời là được thông hiệp với Chúa. Đối với người Ki-tô hữu đó là được ở trong Chúa và ở trong tương quan tình yêu của Cha, Con và Thánh Thần. Chính mối dây của bạn và tôi với và trong Chúa Ba Ngôi làm cho bạn và tôi có được sự sống đời đời. Như thế Thiên Chúa Ba Ngôi vừa đang tuôn đổ sự sống của Ngai cho chúng ta, vừa hoạt động trong chúng ta để làm cho chúng ta sống.
Các bạn thân mến! khi suy niệm về Thiên Chúa Ba Ngôi, bạn và tôi không phải đi tìm một lý do hợp lý cho những đòi hỏi của lý trí nhưng là đi tìm một con đường giúp bạn và tôi có được sự sống vĩnh cửu. Con đường để có được sự sống vĩnh cửu là con đường của sự hiệp thông, tình yêu và sự sống. Khao khát của bạn và tôi là có sự sống vĩnh cửu và sự sống vĩnh cửu là nhận biết và ở trong tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi. “Ai yêu mến Thầy thì sẽ giữ lời Thầy, Cha Thầy và Thầy sẽ yêu mến người ấy, Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại trong Người ấy.” Amen.
Gioan Phạm Duy Anh SJ
[1] St, 1, 26-27; Cn 8:22-23, 27, 30-31
[2] Mt 3, 13-17
[3] Ga 15, 26; 16, 7
[4] 2 Cr 13, 14
[5] Dr. Jake C Yap, One God and Triune, Loyola School of Theology
Một ông ở Bắc Giang đốt nhà em trai do mâu thuẫn
June 2, 2023
BẮC GIANG, Việt Nam (NV) – Bị can Từ Minh Toán, 64 tuổi, ở huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, vừa bị bắt, khởi tố với cáo buộc “giết người.”
Theo báo Pháp Luật TP.HCM hôm 1 Tháng Sáu, do mâu thuẫn nội bộ trong gia đình, khoảng 1 giờ 30 phút sáng 27 Tháng Năm, bị can Từ Minh Toán mang theo một bình gas và 10 lít xăng trèo tường vào hiên nhà chính của em trai ruột, ông Từ Văn Thịnh, 58 tuổi, ở cùng huyện, rồi dùng hộp quẹt đốt.
Bị can Từ Minh Toán (phải) và hiện trường. (Hình: Pháp Luật TP.HCM)
Khi bị can Toán chuẩn bị đốt tiếp hiên nhà ngang thì bị gia đình ông Thịnh phát giác và bắt giữ.
Nhà chức trách cùng người dân sau đó kịp thời dập tắt đám cháy nên may mắn không có thiệt hại nhân mạng trong vụ này.
Các vụ đốt nhà do mâu thuẫn trong gia đình xảy ra thường xuyên trong thời gian qua.
Hồi Tháng Tư, theo báo Lao Động, bị cáo Nguyễn Thu Anh, 51 tuổi, ở Hà Nội, bị kết án 16 năm tù với hai cáo buộc “giết người” và “hủy hoại tài sản.”
Theo cáo trạng, bị cáo Thu Anh ly hôn, làm mẹ đơn thân của hai con và không có công việc ổn định.
Bà này mong muốn được dọn về sống chung nhà với mẹ và em trai trong một căn nhà cũ có nhiều gia đình sống chung, ở phố Nguyễn Đình Chiểu, quận Hai Bà Trưng, nhưng ông NPT, người em trai, không đồng ý.
Trong lúc lời qua tiếng lại, ông T. dùng tay đánh vào đầu, mặt của bà Thu Anh và được mọi người can ngăn.
Bà Thu Anh sau đó nói với mẹ: “Nếu dồn con vào đường cùng, con sẽ đốt nhà đấy,” rồi bỏ đi uống rượu với bạn.
Rạng sáng 16 Tháng Năm năm ngoái, bà Thu Anh về nhà, lấy chai đựng xăng đổ ra khu vực lối đi chung trước cửa rồi châm lửa đốt.
Hiện trường một vụ dùng xăng đốt nhà. (Hình minh họa: Truyền Hình Thông Tấn)
Thấy ngọn lửa cháy to, bà Thu Anh la to rồi gọi số 114 báo cháy.
Lực lượng cứu hỏa đến hiện trường, kịp thời giúp 17 người thoát nạn, trong đó có mẹ và vợ chồng người em của bị cáo.
Hồi Tháng Giêng, một vụ đốt nhà do “huynh đệ tương tàn” xảy ra tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.
Theo báo Người Lao Động, vào 2 giờ chiều 22 Tháng Giêng (Mùng Một Tết Quý Mão), sau khi cãi nhau trong bữa trưa mừng Tân Niên, nghi can LVT, 28 tuổi, đi mua 2 lít xăng mang đến đốt nhà anh trai.
Phát giác sự việc, mọi người xung quanh dập lửa và đưa người anh đi cấp cứu trong tình trạng bỏng toàn thân. (N.H.K)
S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Chùa Xưa Người Cũ
Tác Giả: Tưởng Năng Tiến
Tôi không có duyên lắm với những người phụ nữ cầm bút, đặc biệt là những cô hay những bà làm thơ, kể cả Bà Huyện Thanh Quan. Vấn đề hoàn toàn chả phải vì lý do cá nhân, hay tư riêng gì ráo. Điều không may chỉ vì tôi gặp nữ sỹ hơi quá sớm, thế thôi!
Thuở ấy, thuở mười ba mười bốn, tôi mới bước chân vào trung học mà đã giáp mặt với nàng thơ rồi. Có hôm, tôi vừa hối hả rời sân bóng đá (chạy vào phòng học) mồ hôi chưa kịp ráo lưng, đã nghe vị thầy phụ trách môn Việt Văn trầm giọng đọc bài Thăng Long Hoài Cổ :
Tạo hoá gây chi cuộc hý trường,
Đến nay thấm thoát mấy tinh sương.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,
Nước còn chau mặt với tang thương…
Tôi vừa cắm cúi ghi chép, vừa khuých tay thằng ngồi cạnh :
– Cuộc hý trường là cuộc gì?
– Không biết.
– Thăng Long ở đâu?
– Không biết luôn.
Thằng bạn chung bàn của những ngày xưa thân ái đã xa xôi và phôi pha ấy (nay) chả hiểu đã lưu lạc phương nào, sống chết ra sao? Còn tôi, sau cái cuộc hý trường (1975) thì lâm vào cảnh đời tha phương cầu thực và tha hương cho mãi đến bây giờ. Chiều qua, ở một góc trời xa, tôi tình cờ đọc lại một truyện ngắn (“Mái Chùa Xưa”) của Võ Hồng và mới chợt hiểu (thấm thía) thế nào là nỗi niềm hoài cổ :
Làng tôi có ba ấp, mỗi ấp có một ngôi chùa. Tôi ở ấp Quảng Đức, lên năm tuổi đã biết tên chùa là Châu Lâm…, đã thấy ông thầy chùa đầu tiên trong đời, thỉnh thoảng đi về trên con đường xuyên qua xóm.
Ngoại trừ cái áo nâu dài mặc đi ra đường là tươm tất, còn khi ở chùa thì thầy mặc áo vải thô vạt hồ màu xám có nhiều mụn vá nơi vai hoặc nơi cùi chỏ. Cái vạt áo nhọn làm cho dáng thầy từ mảnh mai trở nên gầy gò… Đi ra đường thì thầy mang guốc sơn, còn ở chùa thì mang guốc bằng gỗ cây sầu đông tự thầy đẽo lấy. Quai guốc là một mảnh da trâu cứng.
Một cảnh chùa nghèo nàn như vậy không thể ban phát lợi lộc vật chất cho ai hết, nhưng nhờ đó mà nó trở nên thân mật với mọi người. Ai muốn ghé chơi chùa cũng được, ghé vào giờ nào cũng được, cửa Tam quan gần như không bao giờ đóng. Nhà chùa không phải coi chừng kẻ trộm cắp vì chẳng có chi đáng để trộm cắp…
Trải qua cuộc chiến giằng co, ấp Quảng Đức của tôi đã thành bãi chiến trường. Đồng bào bỏ nhà cửa ruộng vườn lũ lượt gồng gánh ra đi. Ngôi chùa xưa chắc còn tịch liêu tàn phế hơn xưa, những con chim chào mào chìa vôi chắc cứ ngang nhiên làm tổ ngay ở chái sau, hiên trước.
Cuối cùng “cuộc chiến giằng co” rồi cũng đến lúc kết thúc, hoà bình được tái lập. Chùa chiền nhiều nơi được trùng tu với qui mô lớn, đạt kỷ lục thế giới bởi những quần thể tu viện mênh mông và những pho tượng phật khổng lồ. Đây đều là những công trình tập thể, đòi hỏi sự kết hợp của nhiều thành phần xã hội – theo nhận xét của T.S. Nguyễn Xuân Diện :
“Để tạo thành được những Chùa Bái Đính, Chùa Ba Vàng, Chùa Tam Chúc, Chùa Yên Tử như hiện nay, phải hội đủ ba mặt: Chức sắc Phật giáo + Chính quyền huyện đến tỉnh sở tại + Đại gia. Thiếu một trong ba thì không thể nào vẽ ra được các khu kinh doanh như vậy.”
Sau khi đã “vẽ” xong “các khu kinh doanh như vậy” thì vấn đề kế tiếp là điều hành, quản lý. Đây là giai đoạn cần sự “can thiệp” của Chính Quyền Trung Ương và Bộ Nội Vụ, với những ban ngành “có nhiệm vụ đào tạo sư sãi để ‘yểm’ Hội Phật Giáo Việt Nam, để trấn giữ hệ thống chùa toàn quốc.”
Phương thức tổ chức này được nhập khẩu (nguyên con) từ nước bạn Trung Hoa Vỹ Đại :
“Tất cả các nhóm tôn giáo dựa trên đức tin ở Trung Quốc, bao gồm 41 viện nghiên cứu Phật giáo trên toàn quốc, đều được Ban Tôn giáo Chính phủ [State Administration of Religious Affairs] giám sát.” (“The decline and fall of Chinese Buddhism: how modern politics and fast money corrupted an ancient religion.” South China Morning Post, Sep. 21, 2018 translated by Hoàng Kim Bảo).
Chỉ có điều hơi khác là ta “can thiệp” rất vụng về và “giám sát” quá sống sượng nên đã gây rất nhiều điều tiếng :
Từ Thức: “Qua cửa BOT của chùa VN ngày nay, người ta bước vào thế giới ma quái của oan hồn, của ‘vong’ ngất nghểu, ra rả đòi tiền như nặc nô đòi nợ.”
Nguyễn Văn Tuấn: “Thuở đời nay nhà sư đã xuất gia mà ăn thịt chó, uống tiết canh, hút thuốc lào, uống rượu Tây, say xỉn bí tỉ. Đó không phải là nhà sư nữa (chưa nói đến bậc chân tu), mà là dân ‘giang hồ’ rồi.”
Đặng Văn Sinh: “Có những hòa thượng vốn là nhân viên công lực hàm cấp cao tót vời, khoác áo cà sa trụ trì ở những chùa lớn theo dõi nhất cử nhất động của giới tăng ni phật tử.”
Mạnh Kim : “Những gì đang diễn ra khiến diện mạo Phật giáo ngày càng bi thảm là kết quả của chính sách ‘nhuộm đỏ’ Phật giáo, trong lớp áo ‘Đạo pháp và Dân tộc’ ra đời từ đầu thập niên 1980.”
Vương Trí Nhàn: “Ngày Phật đản… Sao ở giữa cảnh đèn nhang nghi ngút của chùa Quán Sứ, giữa bao nhiêu cụ bà thành tâm cúng vái, lại thấy một vị sư tuổi còn thanh niên, có nét mặt trông như một trung đoàn trưởng, tiểu đoàn trưởng nào đó, mà tôi từng thấy ở các mặt trận.”
Những vị sư “có nét mặt trông như một trung đoàn trưởng nào đó” – đôi lúc – vẫn tưởng rằng mình đang ở giữa mặt trận nên đã phát biểu như một chiến sĩ (thực thụ) khiến công luận không khỏi bàng hoàng: “Chúng ta phải quyết tâm xây dựng quân đội nước ta mạnh như là quân đội của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.”
Ảnh: vietnamnet
Bây giờ thì còn tìm đâu ra một ngôi chùa nhỏ bé, nghèo nàn nhưng thân thiết như chùa Châu Lâm trong ký ức tuổi thơ của Võ Hồng :
“Ai muốn ghé chơi chùa cũng được, ghé vào giờ nào cũng được, cửa Tam quan gần như không bao giờ đóng. Nhà chùa không phải coi chừng kẻ trộm cắp vì chẳng có chi đáng để trộm… Sự liên hệ giữa dân xóm và nhà chùa là một liên hệ tinh thần, dầu không sâu đậm thiết tha nhưng mà lúc nào cũng sẵn sàng hiện diện. Khi có niềm đau nỗi buồn quá sức giải quyết của người thì về chùa để tìm sự an ủi và hy vọng. Nhà có tang mời thầy tụng kinh siêu độ, nhà có người đau ốm trầm kha mời thầy tụng kinh cầu an.
Mười năm một lần, ban trị sự Ấp tổ chức đàn tràng mời thầy hành lễ, làm chay múa lục cúng suốt ba ngày đêm để cầu an cho dân chúng cả Ấp. Người lớn trẻ con, thanh niên thiếu nữ dập dìu tới dự, áo quần tươm tất mặt mày tươi vui khiến tôi nghĩ rằng đây vừa là lễ Tạ Ơn cho mười năm đã qua vừa là Lễ Cầu An cho mười năm sẽ tới. Cỗ bàn dọn ra, ai có mặt cũng được mời ngồi và cầm đũa thọ trai, không phân biệt kẻ lớn người nhỏ kẻ sang người hèn. Y như trong những ngày lễ lớn làm chay ở chùa vậy.”
Những vị tu sĩ “mặc áo vải thô vạt hồ màu xám có nhiều mụn vá nơi vai hoặc nơi cùi chỏ, mang guốc bằng gỗ cây sầu đông tự thầy đẽo lấy” cũng đều đã biệt tăm/biệt tích. Những người muôn năm cũ/ Hồn bây giờ ở đâu?






















