CÁI CHẾT CỦA CÁC TÔNG ĐỒ

Niềm Vui Tin Mừng

  1. Thánh Mátthêu chịu tử đạo ở Êthiôpia. Người ta đã dùng gươm để giết chết ngài.

The Martyrdom of Saint Matthew by Caravaggio (c. 1599-1600)

 

2. Thánh Máccô chết ở Alexandria, Ai cập. Người ta đã dùng những con ngựa để kéo bừa ngài qua các đường phố cho đến chết.

3. Thánh Luca bị treo cổ ở Hy Lạp vì ngài đã giảng rất hùng hồn về sự lầm lạc, hư mất.

4. Thánh Gioan chịu tử đạo bởi hình phạt bị thiêu sống trong cái bồn khổng lồ chứa đầy dầu đang sôi, trong cuộc tàn sát ở Rôma.

Tuy nhiên, Ngài đã đựơc cứu sống một cách nhiệm lạ. Rồi ngài bị kết án đi đày trong các hầm mỏ ở nhà tù trên đảo Pátmô.

Saint John the Evangelist on Patmos by Pedro de Orrente (c. 1620)

Thánh Gioan đã viết Sách Khải Huyền tại đảo này. Sau này, Tông đồ Gioan đựơc trả tự do và trở về thi hành sứ vụ giám mục của Edessa, Thổ Nhĩ Kỳ. Ngài qua đời trong lúc tuổi già. Ngài là vị tông đồ duy nhất qua đời một cách bình an.

5. Thánh Phê-rô bị đóng đinh quay đầu xuống đất trên thập giá hình chữ X. Theo truyền thống Giáo hội giải thích, bởi vì ngài nói với những người xử tử là ngài cảm thấy không xứng đáng để được đóng đinh giống Đức Giêsu Kitô.Crucifixion of St. Peter by Caravaggio (1600)

6. Thánh Giacôbê là người lãnh đạo Giáo hội tại Giêrusalem, đã bị ném xuống đất từ nóc đền thờ ở huớng đông nam, cách mặt đất gần cả trăm mét vì ngài đã từ chối từ bỏ đức tin vào Chúa Kitô. Khi người ta phát hiện ngài vẫn chưa chết, những kẻ thù đánh đập ngài cho đến chết bằng gậy của thợ nhuộm vải.

Đỉnh đền thờ này cũng là nơi Satan đã dùng trong cơn Cám dỗ Đức Giêsu.

  1. Thánh Giacôbê (tiền) là con ông Dêbêđê. Ngài là người làm nghề đánh cá. Khi được Đức Chúa Giêsu kêu gọi, ngài đã theo từ đó để thi hành sứ vụ. Với tư cách là ngừơi lãnh đạo mạnh mẽ của Giáo hội, Giacôbê đã bị chém đầu cuối cùng tại Giêrusalem. Tên lính La Mã canh giữ ngài đã rất ngạc nhiên khi ngài bảo vệ đức tin của mình trước toà án xét xử ngài. Sau đó, lính canh đi bên cạnh ngài đến nơi hành hình. Bỏ qua mọi sự thuyết phục, anh ta đã tuyên xưng niềm tin của mình và quỳ bên cạnh Thánh Giacôbê để chấp nhận bị chém đầu như một Kitô hữu.8
  2. Thánh Bathôlômêô, cũng đựơc gọi là Nathanael, đã truyền giáo ở Á châu. Ngài sống chứng nhân cho Chúa ở vùng Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Thánh nhân chịu tử vì đạo vì rao giảng Tin Mừng ở Armenia, tại đây ngài đã bị lột da cho đến chết bằng roi da.

The Martyrdom of Saint Bartholomew by Jusepe de Ribera (1634)

  1. Thánh Anrê bị đóng đinh trên thánh giá hình chữ X ở Patras, Hy Lạp. Sau khi những tên lính đánh ngài bằng roi cách dã man, chúng cột (trói) thân xác ngài vào thập giá bằng những sợi dây thừng cho đến khi ngài hấp hối. Những môn đệ của thánh nhân kể lại rằng, khi ngài đựợc dẫn đến thập giá, ngài đã chào cây thập giá bằng những lời này: “Tôi đã ước ao và mong chờ giờ hạnh phúc này đã từ lâu”. Cây thập giá đã đựơc treo thân xác Đức Kitô và Người đã thánh hiến nó thành cây thánh giá. Thánh nhân tiếp tục giảng đạo cho những tên lính hành hình ngài trong hai ngày cho đến khi trút hơi thở cuối cùng.The Crucifixion of St. Andrew by Caravaggio (1607)
  2. Thánh Tôma đã bị đâm bằng một cái giáo ở Ấn Độ vào một trong những chuyến đi truyền giáo của ngài để thành lập cộng đoàn Giáo hội tại lục địa nhỏ (subcontinent).
  3. Thánh Giuđa (Tađêô) bị giết chết bằng những mũi tên khi ngài kiên quyết bảo vệ niềm tin vào Chúa Kitô.
  4. Thánh Mátthia, được chọn để thay thế chỗ cho tên phản bội Giuđa Iscariot, đã bị ném đá và rồi bị chặt đầu.
  5. Thánh Phaolô bị hành hạ và rồi bị chặt đầu vào năm 67 dưới thời bạo chúa hoàng đế Nerô ở Rôma. Thánh Phaolô chịu đựng việc tống giam trong thời gian dài. Thời gian này đã giúp ngài viết nhiều lá thư mục vụ cho các giáo đoàn mà ngài đã thiết lập trên khắp đế chế La Mã. Những lá thư này truyền dạy những đạo lý nền tảng của Kitô giáo và chiếm một phần lớn trong Bộ Tân Ước.

Nguồn: Tổng hợp

 

Thánh Giacôbê (James) Tông Đồ

Chúc một ngày zui zẻ, phẻ mạnh, và an lành trong Chúa và Mẹ nhé. Hôm nay 25/07 Giáo Hội mừng kính Thánh Giacôbê (James) Tông Đồ. Mừng quan thầy đến những ai chọn Thánh Giacôbê làm quan thầy hay có tên là James nhé.

Cha Vương

Thứ 3: 25/07/2023

Thánh Giacôbê [Cả] là anh của Thánh Gioan Thánh Sử. Cả hai được Ðức Giêsu mời gọi khi họ đang trên thuyền đánh cá, làm việc với người cha ở biển Galilê.

Lecturas y comentario del Martes VIII del Tiempo Ordinario. - Obispado ...

Trước đó, Ðức Giêsu đã gọi một đôi anh em khác cũng từ một hoàn cảnh tương tự, đó là Phêrô và Anrê. “Ði xa hơn một chút, Người thấy ông Giacôbê, con ông Zêbêđê, và người em là ông Gioan. Hai ông đang vá lưới ở trong thuyền. Người liền gọi các ông. Và các ông bỏ cha mình là ông Zêbêđê ở lại trên thuyền với những người làm công, mà đi theo Người” (Máccô 1:19-20).

Thánh Giacôbê là một trong ba người được ưu tiên chứng kiến Chúa Hiển Dung, được thấy con gái ông Giairút sống lại và có mặt trong giờ thống khổ của Ðức Giêsu trong vườn Giệtsimani.

Có hai biến cố trong Phúc âm diễn tả tính khí của thánh nhân và người em. Thánh Mátthêu kể rằng mẹ của hai ông đến để xin cho họ được chỗ ngồi vinh dự trong vương quốc (một bên phải, một bên trái Ðức Giêsu). “Ðức Giê-su bảo: ‘Các người không biết các người xin gì. Các người có uống nổi chén Thầy sắp uống không?’ Họ đáp: ‘Thưa được’ (Mt 20:22). Sau đó Ðức Giêsu bảo, quả thật họ sẽ uống chén và chia sẻ sự thanh tẩy của Người trong sự đau khổ và cái chết, nhưng việc ngồi bên phải hay bên trái thì không phải là quyền của Ðức Giêsu – chỗ đó “được dành cho những người đã được Cha Thầy chuẩn bị” (Mt 20:23b).

Do You Always Want to Be First? — Watchtower ONLINE LIBRARY

Các tông đồ khác phẫn nộ khi thấy tham vọng của Giacôbê và Gioan. Sau đó Ðức Giêsu dạy họ bài học về sự khiêm tốn phục vụ: Mục đích của quyền bính là để phục vụ. Họ không được áp đặt ý muốn của mình trên người khác, hay sai bảo người khác. Ðây là vị thế của chính Ðức Giêsu. Ngài là tôi tớ của tất cả; sự phục vụ được giao phó cho Ngài là tuyệt đối hy sinh tính mạng mình.

Trong một trường hợp khác, Giacôbê và Gioan chứng minh rằng biệt hiệu mà Ðức Giêsu đặt cho họ – “con của sấm sét”- thì rất thích hợp với họ. Người Samaritanô không đón tiếp Ðức Giêsu vì Người đang trên đường đến Giêrusalem. “Thấy thế, hai môn đệ là ông Giacôbê và ông Gioan nói rằng: ‘Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó không?’ Nhưng Ðức Giê-su quay lại quở mắng các ông…” (Luca 9:54-55).

Hiển nhiên Thánh Giacôbê là vị tông đồ đầu tiên chịu tử đạo. “Vào thời kỳ ấy, vua Hêrôđê ra tay ngược đãi một số người trong Hội Thánh. Vua cho chém đầu ông Giacôbê, anh ông Gioan, và khi thấy việc đó làm vừa lòng người Do-thái, nhà vua lại cho bắt cả ông Phê-rô nữa” (CVTÐ 12:1-3a).

Chúng ta đừng nhầm lẫn Thánh Giacôbê với Thánh Giacôbê con Alphê, Thánh Giacôbê hậu “anh em họ” của Đức Giêsu và sau này là Giám Mục Jerusalem cũng là tác giả Thư Thánh Giacôbê.

 

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã ban cho thánh Giacôbê vinh dự là tông đồ đầu tiên đã chết để làm chứng cho Tin Mừng. Xin cho Hội Thánh tìm được sức mạnh nhờ gương tử đạo của thánh nhân, và nhờ Người cầu thay nguyện giúp, Hội Thánh được luôn nâng đỡ phù trì (Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Giacô-bê tông đồ).

From: Đỗ Dzũng

và ĐƯỜNG CON THEO CHUA FEAT HIỆP HỘI ĐA MINH TIN MỪNG

( Nhóm Tinh Thần, Hạnh Thánh)


 

Việt Nam: “cường quốc” vé số

Một người bán vé số dạo ở Sài Gòn (ảnh: NLĐ)

Nền kinh tế có cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” đang chứng kiến đợt suy trầm nghiêm trọng nhất trong nhiều năm qua, khi số doanh nghiệp phá sản, đóng cửa trong sáu tháng đầu năm vượt hơn 100,000 doanh nghiệp và tăng trưởng GDP thấp hơn bất cứ dự đoán tiêu cực nào (3.72%).

Thế nhưng, đối nghịch với bức tranh màu xám đó, người ta lại ghi nhận mức tăng trưởng kỳ lạ của hai “ngành” kinh tế: Xổ số và thương mại tâm linh. Hai “ngành” này mang lại lợi nhuận béo bở hơn bất cứ ngành nghề nào hiện tại. Có lẽ đó là “đặc thù” của một nền kinh tế trong một quốc gia còn thiếu bệnh viện, trường học nhưng đâu đâu cũng chùa to, tượng lớn. Dường như cuộc sống càng khó khăn thì người Việt lại càng cầu may rủi và trông đợi “ơn trên” được ban phát bởi những sư thầy dắt “thẻ ngành” trong túi đãi (loại túi thường đựng kinh sách, vật dụng của sư).

Thật khó tin khi biết doanh thu của “công nghiệp vé số” lớn hơn cả doanh thu từ xuất khẩu dầu mỏ và than đá cộng lại. 

Với “đặc thù” là ngành siêu lợi nhuận, mức lương các sếp và nhân viên ngành này sánh ngang với các ngành đặc quyền đặc lợi như dầu khí, hải quan, tài nguyên môi trường, phòng cháy chữa cháy… Năm 2016, dư luận từng xôn xao khi biết mức lương giám đốc một công ty xổ số là 130 triệu/tháng, thậm chí lương bảo vệ công ty đó cũng gần 40 triệu/tháng. Hiện thời, mức lương các sếp những công ty xổ số trung bình là 200 triệu/tháng. Thật xót xa nếu so sánh với thu nhập bèo bọt không đủ sống của giáo viên và bác sĩ.

Về lý thuyết, nhà nước thu tiền từ công nghiệp vé số để xây dựng các công trình công ích xã hội. Có lẽ, người Pháp mang xổ số vào Việt Nam từ năm 1930. Khi đó, số lượng vé phát hành rất ít và cả năm cũng chỉ có một kỳ. Có một thời gian, xổ số kiến thiết bị ngừng phát hành. Tới thời đệ nhất VNCH, khi ngân sách cho xây dựng hạ tầng xã hội eo hẹp, Tổng thống Ngô Đình Diệm cho phép phát hành xổ số kiến thiết để lấy tiền xây dựng các công trình công ích. Tiền lời từ việc phát hành tám kỳ xổ số liên tiếp đủ để xây dựng Đại học Y khoa Huế. Thời đó, mỗi tháng chỉ có một kỳ phát hành với số lượng hạn chế. Giá mỗi tờ vé số theo qui định là 10 đồng.

…….

Sau 1975, ý nghĩa và mục đích của ngành xổ số kiến thiết dần bị “biến thái”. Không những số lượng công ty phát hành xổ số kiến thiết nhiều như “lá rụng mùa thu” mà mỗi tỉnh đều có công ty phát hành vé số riêng. Số kỳ và lượng vé phát hành có thể tăng gần như… vô hạn tùy theo mức độ “ăn nên làm ra” ở mỗi tỉnh thành. Mặc dù đem về doanh thu, lợi nhuận khủng nhưng nguồn lợi khổng lồ này được dùng chủ yếu để bù đắp cho thâm hụt ngân sách trung ương và chi cho hoạt động của bộ máy quan liêu địa phương, giống như một thứ “quĩ đen” mà hàng tháng người ta chia phần với nhau.

Xổ số cũng là một ngành sử dụng nguồn nhân lực lao động rất lớn mà không phải trả tiền lương, không phải đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động. Công ty phát hành vé số chỉ phải trích phần chiết khấu cho đại lý cấp 1, cấp 2. Các đại lý đầu lậu này sẽ phân chia phần chiết khấu với hàng chục ngàn người bán vé số dạo.

Không có thống kê xã hội nghề nghiệp nào khảo sát cho biết bao nhiêu người bán vé số dạo ở các tỉnh miền Nam. Chắc chắn là một con số cực lớn. Đằng sau sự giàu có của những doanh nghiệp xổ số, những mức lương hàng trăm triệu của những kẻ lãnh đạo là cả một thế giới cơ cực, trần ai, những góc khuất u ám mà nhà cầm quyền Việt Nam không bao giờ muốn bị phơi bày, trong đó là hình ảnh phổ biến là những bà cụ còng lưng, những em bé ở độ tuổi lên 9 lên 10, và thậm chí những người tàn tật.

Một cách tổng quát, lực lượng chính của đội quân bán vé số dạo là người cao tuổi, trẻ mồ côi, người nhập cư thất nghiệp trôi dạt lên đất Sài Gòn từ các tỉnh khắp Nam-Trung-Bắc, người mất sức lao động, không có tay nghề, không nơi nương tựa… Tất cả đều là những người yếu thế trong xã hội, dễ bị tổn thương và dễ bị bóc lột nhất. Hãy nhớ lại những người bán vé số bỗng trở nên “thất nghiệp” và sống khổ sở bi thảm như thế nào hồi xảy ra đại dịch.

Đội quân hàng trăm ngàn người này làm việc bất kể thời gian, bất kể nắng mưa. Họ là những nhân viên bán hàng cho doanh nghiệp mà không được nhận bất cứ trợ cấp hoặc chế độ an sinh xã hội nào ngoài phần chiết khấu theo số lượng vé số bán được mỗi ngày mà đại lý trả cho họ. Nếu nhỡ ốm đau, bệnh tật, tai nạn, nghỉ ngày nào thì đói ngày đó.

Tôi không thể nào quên hình ảnh những đứa bé còi cọc, lấm lem vừa đi vừa khóc, cầm trên tay tập vé số tới sát giờ vẫn còn nguyên, cầu van nài nỉ mọi người mua ủng hộ. Tôi không thể nào quên đôi mắt ầng ậc nước và tiếng nói lạc giọng của bà cụ mời tôi mua vé chiều hôm qua…

Có hàng triệu kiếp người đọa đày như thế trên mảnh đất chữ S này. Họ đổi những vắt cơm bằng bát mồ hôi chan nước mắt. Họ làm gần như không công cho những doanh nghiệp Đỏ, làm giàu cho đám quan chức sống vương giả hàng ngày rao giảng tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội. Có thể nói đây là mảnh đất kinh doanh tàn nhẫn nơi người ta có thể dễ dàng bóc lột người lao động mà không phải chịu bất cứ trách nhiệm và ràng buộc luật pháp nào.

From: phó nhòm U-Minh, thợ vườn

KHÔNG ĐỂ HỎNG CUỘC GỌI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người!”.

Anthony Fortosis nói, “Chúa các chúa trở nên tôi tớ hèn hạ để phục vụ một nhân loại khốn cùng! “Con Người Của Các Nỗi Buồn” làm quen với vực thẳm của đau buồn để trở thành niềm vui cho thế giới. Chúng ta đến với thế giới để sống; Ngài đến với thế giới để chết!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng lễ thánh Giacôbê mô tả bức tranh nội tâm rất thật của người môn đệ! Hai người xin chỗ nhất, mười người ghen tức; họ “đến với thế giới để sống!”. Con Thiên Chúa hiến dâng mạng sống, Ngài “đến với thế giới để chết!”. ‘Không để hỏng cuộc gọi!’, bạn và tôi quyết nên giống Ngài!

Con người luôn đặt quyền lợi và cái tôi trên hết; Chúa Giêsu thì ngược lại, “Tôi đến để phục vụ!”. Được gọi để nên tông đồ, bạn và tôi lẽ ra phải nên giống Ngài; vậy mà, chúng ta thường quên phục vụ là sứ mạng trọng tâm của mình! Cuộc sống chúng ta đang tiêu hao bởi một dòng chảy không ngừng của những công việc ‘quan trọng và khẩn cấp’; giữa những điều này, xem ra chúng ta thực sự đã bỏ lỡ rất nhiều cơ hội phục vụ. Và như thế, sứ vụ của chúng ta bị gạt sang một bên. Nếu phục vụ không là một yếu tố bình thường trong cuộc sống của bạn và tôi với tư cách người môn đệ, chắc chắn một điều, chúng ta đã không thắng nổi việc tự lừa dối mình hoặc đã lạc đường. Và như thế, đã làm hỏng ơn gọi!

Qua thư Côrintô hôm nay, Phaolô xác tín, “Sứ vụ chúng tôi mang nơi mình như chứa đựng kho tàng trong những bình sành”, sứ vụ hiến mình không dè giữ cho người khác, một ‘sự tiếp nối Đức Kitô’. Vì thế, nếu việc phục vụ nơi tôi không là sự kéo dài, mở rộng tình yêu Chúa Kitô; cũng như không trao Chúa Kitô cho người khác; hoặc nếu những người tôi phục vụ không khám phá ra Chúa Kitô trong tôi, thì sự phục vụ của tôi đơn giản không phải là phục vụ! Nó có thể là từ thiện, đồng cảm, nhưng không có nghĩa phục vụ đích thực. Như Gioan Tẩy Giả, bạn và tôi phải nên ‘ít hơn’, để Chúa Kitô có chỗ ‘nhiều hơn’, hầu tha nhân không bị lừa dối khi gặp gỡ một Đức Kitô họ thầm ao ước trong bạn và tôi.

Anh Chị em,

“Đến để phục vụ và hiến dâng mạng sống!”. Đúng như Fortosis nói, “Ngài đến với thế giới để chết!”, và Ngài đã chết thật! Không chỉ chết chiều thứ Sáu, Ngài đã chết từng ngày qua phục vụ, qua nhẫn nhục… và Ngài đã phục sinh cho thế giới được sống! Thánh Vịnh đáp ca thật sâu sắc, “Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong hân hoan!”. May thay, những con người như Giacôbê, như các tông đồ, vốn chỉ “đến với thế giới để sống” đã được Chúa Phục Sinh kịp biến đổi, và họ đã nên giống Thầy mình. Họ đã “phục vụ những con người đáng thương”, “trở thành niềm vui cho thế giới”. Không chỉ đến với thế giới để chết; Giacôbê và các tông đồ cùng những ai tiếp nối các ngài còn đến với thế giới để sống và cứu rỗi nó. Cũng thế, chúng ta sẽ ‘không để hỏng cuộc gọi’, bạn và tôi hãy cho phép mình được biến đổi.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, để có thể trở thành niềm vui cho thế giới, giúp con trước hết, dám chết cho nó! Để được vậy, xin ‘vẽ lại’ bức tranh nội tâm của con như Ngài đã vẽ nơi các tông đồ!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang nguyen

THÁNH GIACÔBÊ (TIỀN) TÔNG ĐỒ – Lm. Giuse Đinh Tất Quý

Lm. Giuse Đinh Tất Quý

  1. Thân thế của Giacôbê:

Giacôbê là con của ông Dêbêđê và bà Salômê, anh của thánh Gioan Tông Đồ; sống nghề chài lưới ở biển Giênêgiaréth, bạn chài với Phêrô và Andrê. Tin Mừng thường nhắc đến hai anh em Giacôbê và Gioan Tông Đồ nhiều lần.

 

Họ thuộc nhóm những môn đệ tâm giao của Chúa Giêsu (cùng với Phêrô và Gioan).  Các ngài được chứng kiến:

Việc Chúa cho con gái ông Giairô sống lại.

Sự hiển dung của Chúa ở đồi Thabor.

Lúc Chúa cầu nguyện ở vườn Cây Dầu.

Giacôbê là người đầu tiên trong Nhóm Mười Hai đã lấy máu đào của mình làm chứng cho Chúa Giêsu: vua Hêrôđê Antipa đã ra lệnh chặt đầu ngài vào năm 44 (Cv 12,2; Mt 20,22-23).  Như thế ứng nghiệm lời Chúa tiên báo cho ông: “ông đã thông chia chén của Chúa.”

  1. Tính tình của Giacôbê: Giacôbê được gọi là vị Tông Đồ cao vọng (Mt 20,20).

Giacôbê được Chúa gọi là “con của thiên lôi,” điều này cho thấy rằng ông là con người nóng nảy và cuồng nhiệt đến thế nào.  Quả vậy, phản ứng của ông đối với các dân thành Samaria đã giải thích điều đó.  Khi Chúa qua con đường Samaria để về Giêrusalem, dọc đường những người Samaria đã từ chối không đón tiếp Chúa, Giacôbê đã đề nghị với Chúa: “Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống mà tiêu diệt chúng không?” (Lc 9,54).

Cao vọng của Giacôbê còn được thể hiện qua sự việc bà Salômê, là mẹ của ông, đã thỉnh cầu Chúa Giêsu cho Giacôbê và Gioan rằng: “Xin Ngài truyền lệnh cho các con tôi đây được ngồi một đứa bên tả, một đứa bên hữu Ngài trong Nước của Ngài” (Mt 20,21).

Cao vọng của người mẹ truyền sang cho người con đến độ người mẹ không xin thì con cũng tự xin.  Bằng chứng là Márcô kể lại câu chuyện thỉnh nguyện này mà không nhắc đến người mẹ, nhưng chỉ kể Giacôbê và Gioan tự miệng nói ra câu ấy (Mc 10,37).

Tuy Giacôbê có cao vọng như vậy, nhưng Chúa vẫn chọn ông và tín nhiệm ông, và Người đã hoán cải ông.  Chúa hoán cải các môn đệ:

Bằng đời sống gương mẫu của ngài: Chúa Giêsu rửa chân cho các Tông Đồ và Người bảo các Tông Đồ hãy rửa chân cho nhau, vì “Ai muốn làm lớn trong anh em, thì hãy hầu hạ anh em” (Mt 20,27).

Bằng cái chết của Người: con Người đến để thí mạng sống mình hầu làm giá chuộc thay cho nhiều người (Mt 20,28).  Các Tông Đồ đã lần lượt chịu tử đạo để theo gương Chúa.

  1. Nhận thức và áp dụng:

Thánh Giacôbê thuộc giới thợ thuyền làm nghề chài lưới vất vả; đàng khác lại có tham vọng đi ngược với vai trò và tinh thần của người tông đồ, nhưng Chúa Giêsu vẫn gọi và chọn ông đi theo Chúa và làm Tông Đồ cho Chúa.  Điều này chứng tỏ ơn thánh của Chúa Kitô quả có sức làm biến đổi tâm hồn và cuộc sống của Giacôbê đến độ ông đã hiến mình trọn vẹn cho Chúa.

Noi gương thánh Giacôbê: người tông đồ không nên tự ty mặc cảm về những hèn kém của mình, nhưng tin tưởng vào tình thương và sức mạnh của ơn Chúa để hiến thân trọn vẹn cho Chúa.

Đi theo Chúa, Giacôbê vẫn còn có những tham vọng phàm trần, song nhờ sự giáo huấn của Chúa và nhất là gương sống của Chúa đã khiến ông từ bỏ mọi sự và từ bỏ chính bản thân mình để hiến mình cho Chúa cách trọn vẹn.

Người tông đồ cần lắng nghe lời Chúa để đón nhận những giáo huấn của Chúa; đồng thời phải biết chiêm ngắm gương sống của Chúa để noi gương bắt chước sống trọn vẹn cho Chúa.

Giacôbê được Chúa dành riêng trong nhóm những người thận cận của Chúa để được chứng kiến những sự việc cần thiết cho sứ mạng làm chứng nhân trong vai trò người Tông Đồ.

Những ai được mời gọi sống đời thánh hiến, cũng được tuyển chọn riêng trong thời gian tu luyện để tìm gặp Chúa, đến với Chúa, ở lại với Chúa và để được biến đổi trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa, hầu có thể chu toàn sứ vụ tông đồ của mình.

Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi nhuận,
xin dạy con biết phục vụ âm thầm.

Giữa một thế giới say mê thống trị và chiếm đoạt,
xin dạy con biết yêu thương tự hiến.

Giữa một thế giới đầy phe phái chia rẽ,
xin dạy con biết cộng tác và đồng trách nhiệm.

Giữa một thế giới đầy hàng rào kỳ thị,
xin dạy con biết coi mọi người như anh em.

Lm. Giuse Đinh Tất Quý

Nguồn: tgpsaigon.net

From: Langthangchieutim

Đi Tìm Mối Chúa – Sách Cấm Tạ Duy Anh

Theo Tạp Chí Luật Khoa

Đi tìm mối chúa qua cuốn sách cấm của Tạ Duy Anh
By Thiên Tân • 25 Jul 2023 • Comment
View in browser
Ảnh bìa sách: Công ty Nhã Nam, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn. Đồ họa: Luật Khoa.
Bạn nhận được thư này vì đã đăng ký nhận thư tin của Luật Khoa, một tạp chí độc lập về pháp luật và chính trị. Bạn có thể quản lý tài khoản tại đây.

______

Giữa lúc dư luận bàn tán rất xôn xao và chính trường Việt Nam bị phủ bóng đen bởi những phiên tòa xét xử vụ chuyến bay giải cứu, cuốn tiểu thuyết “Mối Chúa” gây tranh cãi một thời của Đãng Khấu nổi lên như một tác phẩm nói thẳng vào những vấn đề trầm kha của xã hội Việt Nam, nơi cả quốc gia phải sống dưới những đường đi lắt léo có tính hệ thống của bầy mối.

Đãng Khấu là một bút danh của nhà văn Tạ Duy Anh, mà theo chính tác giả đề cập trong lần xuất bản đầu tiên của cuốn sách, vốn chỉ là một cái tên cúng cơm được đặt bừa chứ không có ý nghĩa gì. Tuy vậy, cái tên này nếu hiểu theo nghĩa Hán Việt sẽ là diệt trừ kẻ xấu, một cách vô tình lại giúp làm rõ hơn nội dung của cuốn sách.

Tác phẩm được ra mắt vào đầu tháng 9/2017 và rất nhanh sau đó vào cuối tháng đã bị Cục Xuất bản, In và Phát hành đình chỉ phát hành với lý do “phần lớn các nhân vật trong tác phẩm từ thấp đến cao đều được xây dựng với hình ảnh đen tối, vô vọng, đau đớn”. Cuốn sách bóc trần mặt tối của xã hội đến mức độ nào mà khiến chính quyền phải tức tốc thu hồi?

Nhà văn đương đại Tạ Duy Anh

Sách của Lão Tạ, như nhà văn Sương Nguyệt Minh từng viết, “cứ 3 tiểu thuyết thì phải thu hồi 2 quyển và 1 quyển còn lại cũng bị nhắc nhở, hoặc đình bản chờ hội đồng thẩm định rồi mới cho phát hành tiếp hay không”, quả thực dám nói đến những điều thực tế ai cũng thấy nhưng không phải ai cũng can đảm nói ra, qua đó lột tả được nỗi uất ức của những người dân lao động bình thường trước sự trấn áp dữ dội của những thế lực bề trên.

Câu chuyện trong cuốn sách “Mối Chúa” …

Người kể chuyện là Việt, một chàng trai du học ở phương Tây được tiếp thu lối tư duy thoáng mở cùng tinh thần dân chủ, bỗng dưng thừa hưởng công ty lớn của cha mình là ông Nam sau khi ông qua đời. Ở vị trí chủ tịch công ty với hàng loạt dự án tham vọng đang được triển khai, Việt phải đứng trước ngã ba khi một bên là sống với những lý tưởng tự do khai phóng, bên kia là chịu hạ thấp mình, luồn cúi với nhiều người tai to mặt lớn để xây dựng cơ nghiệp.

Những dự án của công ty khiến hàng ngàn nông dân trong vùng rơi vào cảnh mất đất. Đứng trước những cám dỗ bạc tiền và áp lực giữ nhà giữ cửa, người trong làng kẻ thì dẫn dụ người khác, kẻ lại bị lừa trắng tay; rồi lại quay sang căm ghét nhau, tình cảm láng giềng sứt mẻ, người kia thân tàn ma dại, kẻ nọ cũng tự vẫn để hối lỗi với bà con.

Dân oan mất đất – Chuyện của Pín

Việt càng dấn sâu, càng nhận ra những sự thật cay nghiệt. Anh biết được bố mình ngay từ đầu đã chẳng có toàn quyền kiểm soát công ty, thay vào đó quyền hành rơi vào một nhân vật “trùm cuối” được gọi là Mối Chúa cùng bộ sậu các “papa” – những cá nhân rất mưu mẹo, khéo léo, có mối quan hệ tốt với chính quyền.

Anh bắt đầu hành trình vừa thoát khỏi vị trí chủ tịch đầy nhiễu nhương, vừa đi tìm chân tướng Mối Chúa để qua đó diệt trừ mối họa cho người dân. Tiểu thuyết phê phán hiện thực xã hội này không chỉ đơn giản là một câu chuyện về mafia thường thấy, nơi công dân lương thiện phải đương đầu với thế lực hắc ám. Điều gây ám ảnh trong tác phẩm chính là sự xấu xa được bọc lấy bởi lớp vỏ đạo đức, nhân văn, do dân và vì dân.

Cán bộ ở địa phương trong “Mối Chúa” là những quan chức cố hết sức để đem tiền tài, lợi ích về cho bản thân. Từ ông chủ tịch cấp xã đến vị tỉnh trưởng, ai nấy đều tranh thủ câu kết với doanh nghiệp để vơ vét những gì có thể, bất chấp người dân trong vùng bị bần cùng hóa đến cực độ, ruộng đất cằn cỗi chẳng cày cấy được mấy sào cũng bị tước đi mất để làm dự án, xây nhà máy, cất biệt thự, dựng sân golf.

Xuyên suốt câu chuyện, Lão Tạ tả lại cảnh ăn chơi không ai sánh bằng của quan chức xứ này, nào là những buổi làm tình với những thiếu nữ trinh tiết, những bữa tiệc tùng liên miên với rượu vang đỏ nhập khẩu trực tiếp từ Tây, v.v.

Vietnam organizes caricature contest to intensify fight against ...

Tạ Duy Anh đã thành công trong việc xây nên một thế giới hư cấu vô cùng gần gũi với đời thật, nơi tính cách của các nhân vật ở hai đầu quyền lực được phát triển đối nghịch nhau, tức là hoặc rất hống hách và trơ trẽn, hoặc rất cam chịu và tủi hèn. Ông còn đưa vào câu chuyện của mình một nhân vật giữ vai trò là nhân tố mới của xã hội: cô sinh viên tên Diệu, một người trẻ được kỳ vọng sẽ giúp xóa bỏ các lề thói cũ, đem tới thông điệp về hy vọng cho tương lai đất nước.

Tuy vậy, nhìn chung đây không phải là một tác phẩm xuất sắc, ít nhất là khi đem so sánh với những cuốn sách từng được xuất bản trước đó của ông. Tác giả đã rất dày công dựng nên những nhân vật bí ẩn đầy nguy hiểm, đứng sâu trong “cánh gà” mà một tay đạo diễn cả “sân khấu” lớn là xã hội, để rồi lại trao cho họ một cái kết quá dễ đoán và thiếu thuyết phục, cách tháo gỡ vấn đề đơn giản đến khó chịu.

Lối kể, chủ đề truyện, cũng như những thông tin, mẩu chuyện, thông điệp được đưa vào tác phẩm không phải là mới mẻ, thậm chí đã được nhiều tiểu thuyết với nội dung tương tự làm tốt hơn vào nhiều năm trước đó, có thể kể đến như những cuốn sách cấm “Thời của thánh thần” hay “Chuyện kể năm 2000”.

Giữa không khí đốt lò nóng hầm hập như hiện nay, độc giả hoàn toàn có thể nhâm nhi cuốn sách này, qua đó tự tìm kiếm cho mình mối chúa cùng bầy mối vẫn đang hiển hiện ngay trước mắt mỗi chúng ta. Mối chúa không là ai cả, mà cũng có thể là bất kỳ ai, như cách Đãng Khấu từng nói “Đó chính là sự kỳ diệu. Sáng tác không dừng lại mà tiếp tục tồn tại trong độc giả, độc giả sẽ sáng tác tiếp.”

Tác phẩm này đã được Nhà xuất bản Penguin khu vực Đông Nam Á (đặt văn phòng tại Singapore) thông báo phát hành phiên bản tiếng Anh vào tháng 11/2023. Cuốn sách được dịch bởi Giáo sư văn học Hà Mạnh Quân (Đại học Montana, Mỹ) và Giáo sư văn học Charles Waugh (Đại học Utah State, Mỹ).


 

ANH TÔI – (Nguyễn Thị Thái Hòa)

ANH TÔI – (Nguyễn Thị Thái Hòa)

TamAn

Sau ngày mất nước người anh còn lại bị bắt đi “cải tạo”.

Anh tôi cũng như ba tôi trước sau đều phục vụ thuộc tại tiểu đoàn 12 Pháo Binh. Tuy là sĩ quan cấp úy, nhưng không hiểu sao anh tôi lại bị đưa ra Bắc.

Đầu năm 1977 gia đình tôi mới nhận được tin và xin giấy đi thăm nuôi. Gia đình đơn chiếc, nên tôi phải thay Mẹ làm “thân cò” lặn lội ra Bắc tìm anh Hai.

Nói là đi tìm vì thực sự tôi chưa biết đích xác là anh tôi đang ở đâu? Sau tháng tư Đen, trong miền Nam cũng như ngoài Bắc nhà tù CS mọc lên như nấm dại. Có những nhà tù chúng nó dựng lên chưa kịp đặt tên thì những người Lính miền Nam “bị gảy súng” đã đầy ắp và người Tù cũng bị di chuyển liên miên.

Tuy rằng khi nhận tin thân nhân mình ở chổ này, nhưng khi ra tới nơi thì họ đã bị chuyển đi nơi khác nên mỗi khi đi

thăm nuôi mà gặp ngay được người nhà của mình đúng như lời nhắn thì thật là họa hiếm.

Tôi nghe ngóng, lần mò hỏi thăm mười mấy người lối xóm và theo họ đi ra Bắc tìm thăm thân nhân. Ai cũng tay xách nách mang, trên mặt người nào cũng đầy vẻ lo âu mệt mỏi. Phương tiện di chuyển là xe lửa, xe đò nhưng rất khó khăn nên phải mất hơn mười ngày mới ra tới Hà Nội. Chưa ra tới nơi, chưa kịp gặp thân nhân thì những giỏ quà của chúng tôi bị bọn công an dọc đường tịch thu hơn phân nữa. Có người mất sạch!

Trong đoàn người đi tìm thăm thân nhân này có tôi là trẻ nhất, ốm yếu nhất . Hỏi thăm đủ nơi, đủ chổ, có khi mất thêm đôi ba ngày nữa mới tìm tới được nơi nhốt thân nhân của mình. Cũng là may mắn, một số người đi chung tìm được thân nhân của họ tôi thì tìm được nơi anh tôi bị giam giữ là một vùng đất xa tít tuốt trên Cao Bằng, Lạng Sơn.

Tới nơi thì trời đã sẩm tối, đoàn người ngồi chờ trong một cái chòi tranh phía ngoài trại tù . Đâu chừng một giờ sau, một gã công an xuất hiện. Với cái giọng Nghệ An trọ trẹ nặng như đeo đá, gã gọi từng người, trình đủ thứ giấy tờ, hạch hỏi đủ thứ chuyện, rồi đến cái màn lục xét những giỏ đồ thăm nuôi, và sau cùng mới gọi người tù ra.

Tôi sốt ruột vì ai cũng được gọi gặp thân nhân mà tên của anh tôi thì chẳng nghe . Lo âu, mệt & đói, làm hai mắt hoa lên, đầu óc nặng trỉu, hết đứng lên ngồi xuống, trong lòng như lửa đốt.Thấy những người cùng đoàn đang khóc mừng , tíu tít hỏi thăm thân nhân họ, trong lòng tôi cứ như bị kim châm.

Ngơ ngác chưa biết tìm ai để hỏi. Bỗng có một gã công an đến gần tôi ra lệnh :

– Người nhà của cô bị nhốt chỗ khác, xách đồ đi theo tôi…

Như có sức mạnh vô hình, tôi quên mệt. Rất nhanh, đứng dậy xách hai giỏ đồ đi theo .

Trời tối như mực. Gã công an mang súng đi trước với cái đèn pin nhỏ

Quanh co một đổi quảng chừng năm mười phút cách nhà tù. Tôi hỏi: Thưa ông, gần tới chưa?

Gã không trả lời lầm lũi đi tiếp.

Thêm một đoạn nữa cũng đâu chừng năm phút gã dừng lại, tôi nghe như có tiếng nước chảy của một con suối nhỏ, một tên đứng phía dưới khoát nước lên nói : ê, đừng lại đây đi!

Có tiếng xì xào của vài tên công an nữa đang chờ sẳn ở đó. Chúng nó hỏi gã dẫn đường

Tới rồi à?

Gã công an dẫn đường ra dấu cho tôi đứng lại.

Tôi sốt ruột hỏi :

Dạ thưa ông chừng nào thì tới chổ anh tôi ở?

Chúng nó phá lên cười rồi nói:

Gấp gì, đằng nào cô cũng gặp người nhà mà, ở đây “ủng hộ” chúng tôi một tí đi… đã!

Chúng nó kéo dài chữ “đã” ra và cười hô hố…

Tôi chưa kịp phản ứng gì thì chúng đã xúm lại , giựt hai giỏ xách đồ của tôi liệng ra xa, lột áo quần, đè tôi xuống, hai

thằng trong bọn chúng đứng phía trên đầu tôi, mỗi thằng một bên, dùng hai chân đạp mạnh lên hai cánh tay giang thẳng của tôi cho một thằng khác hảm hiếp.

Sau mỗi một thằng, chúng nó bắt tôi xuống con suối nhỏ đó rửa ráy, rồi leo lên cho thằng khác làm tiếp….

Giữa núi đồi hoang vu, giữa đồng mông hiu quạnh, kêu trời, trời chẳng thấu, kêu đất , đất chẳng nghe.

Với bản năng sinh tồn tôi cắn răng mềm người chịu đựng, nước mắt ứa ra nhưng không dám kêu la, không dám kháng cự mặc cho một lũ “đười ươi” sáu, bảy thằng “phóng uế” lên thân xác mình… Lòng thầm mong sao cho chóng qua tấn tuồng bỉ ổi này!

Trước khi kéo nhau đi, chúng vổ vai nhau cười ngả nghiêng, cười thỏa mãn, cười man rợ, giọng cười của lũ ác quỷ hiện hình, một tên trong bọn chúng quay lại hăm dọa:

-Liệu mà câm mồm lại nhá…

Khi chúng bỏ đi, tôi lăn mình xuống suối để rửa cho hết những vết dơ trên người. Mặc lại áo quần, mò mẩm trong bóng tối tìm lại hai giỏ đồ…

Lạnh lẻo, run rẫy, toàn thân tôi đau đớn vô cùng , hai cánh tay tôi như muốn gẩy nát, tôi không đi nổi, tôi lết từng đoạn, nhắm hướng mà lết và không biết bao lâu, khi lết tới được trại tù thì trời cũng gần sáng.

Tôi mong mặt trời lên, mong nhìn thấy được anh Hiệp của tôi mong trao được giỏ quà và để theo kịp đoàn người thăm tù trở về Nam.

Vậy mà chờ cũng gần tới trưa chúng nó mới cho gọi anh Hiệp ra.

Bằng cái giọng rất đểu cáng, một tên công an vờ vịt nạt nộ tôi:

– Đi đâu cả đêm qua bây giờ mới mò tới? Hết giờ thăm nuôi rồi biết chửa?!

Rồi chúng nó bảo là đã qua giờ thăm nuôi, nên tôi chỉ được đứng bên ngoài hàng rào kẽm gai 15 phút và được gởi giỏ đồ ăn lại.

Có gã công an dẫn đường đêm qua đứng gần đó , hai con mắt cú vọ của nó gờm gờm nhìn tôi..

Dù tôi không được nói ra được nhưng nhìn thần sắc thiểu não, nhìn bộ đồ nhầu nát lấm sình đất chưa kịp khô trên người tôi, anh Hiệp cũng đoán được chuyện gì đã xẩy ra cho em gái mình.

Tôi biết đêm qua, khi tấm thân của tôi bị vùi dập bởi loài quỉ đỏ thì lòng dạ anh Hiệp cũng nôn nóng từng giây chờ gặp tôi. Anh Hiệp nhìn tôi, hai mắt đỏ rực, những tia máu trong mắt anh như muốn nổ tung. Anh cắn chặt vành môi . Tay đấm mạnh vào ngực, rồi nghiến răng, hai con mắt như tóe lửa quay qua nhìn tên công an.

Hai chữ  “trời ơi” của anh không thoát ra khỏi cổ họng, mà sao tôi nghe rõ mồn một, như xoáy vào tim óc tôi, nghe như tiếng rên siết của trái tim anh.

Tôi biết anh Hiệp đau khổ đến cùng độ. Anh nhìn tôi với anh mắt đau đớn, thương xót đứa em gái bất hạnh khốn khổ của mình.

Hai anh em chỉ cách nhau có một hàng rào kẻm gai, mà sao như cách xa ngàn dậm không sao vói tới. Một tay anh bấu vào hàng rào kẻm gai đến chảy máu, tay khác cố thò ra ngoài tỏ dấu muốn nắm lấy tay tôi. Đầu anh gục xuống sát hàng dây kẻm gai miệng thì cứ rên siết có một câu : Ti ơi, Ti ơi …

Tôi không nói được gì hết, chỉ nhìn anh mà khóc.Tiếng khóc uất nghẹn của tôi như một lời xác nhận khiến anh Hiệp càng đau, càng điên thêm. Rồi thì anh té nhào xuống, ngất đi. Bạn Tù khiêng anh vào trong . Tôi đứng chết trân nhìn theo, khóc nghẹn, tôi thấy máu trong lòng bàn tay anh tươm ra. Trời hởi, trời ơi

Bọn công an đuổi tôi về. Tôi không muốn về. Tôi kêu gào, tôi van xin chúng cho tôi được ở lại với anh tôi.

Những người đi chung trong đoàn, thấy hoàn cảnh thê lương của tôi, họ thương hại, họ dỗ dành, an ủi, họ bảo nhau cố nán lại chờ tôi về cùng. Họ xúm lại dìu tôi đi.

Tôi đành phải theo họ ra về mang theo tủi hờn và nét mặt đau đớn của anh Hiệp…

Đó là lần gặp gở sau cùng của anh em tôi.

Trở về nhà, tôi sống trong những ngày tháng đau đớn trên thân xác. Kinh hoàng trong tâm tưởng. Âm thầm đau khổ. Không dám than thở với ai, kể cả người mẹ thân yêu của mình.

Trời hởi, trong đoàn người cùng đi thăm chồng, thăm cha, thăm anh em của họ, tại sao chỉ có mình tôi trở thành nạn nhân của loài quỉ đỏ? Tại sao lại là tôi? Tại sao lại là tôi chứ? Tại sao tôi phải nhận chịu tai họa ghê tởm đó?

Có ai hiểu thấu tâm trạng của một người đàn bà trẻ yếu đuối sa cơ thất thế, khi rơi vào tay những tên công an độc ác!

Nhưng trong muôn ngàn cay đắng, tôi thầm tạ ơn Trời Đất, vì đã không có một giọt máu nào của loài quỉ dữ thành hình trong tôi. Tôi chỉ biết lấy đó làm điều an ủi…

Và rồi mỗi lần đến kỳ thăm nuôi, trong lòng tôi cứ đắn đo, lo lắng, suy nghĩ. Những đôi mắt cú vọ của những tên công an khốn kiếp, cái cảm giác kinh hoàng cứ lẩn khuất trong tâm tưởng không thôi… Nhưng mà trời hởi, tôi không thể không đi, bởi hình ảnh ghẻ lở ốm đói của những người tù mà tôi được nhìn thấy làm tôi chạnh lòng , tôi đau xót, nghĩ rằng biết đâu anh của mình cũng sẽ như thế nên tôi không nở, nên lại tất tả ngược xuôi mua sắm và chuẩn bị cho lần ra đi tới… Tôi không thể ích kỹ, tôi nhớ tới anh Lộc, anh Kính, hai người anh tôi đã chết cho tôi được sống trong tết Mậu Thân 68.

Hai tháng sau cái đêm khốn nạn đó, tôi ra thăm lần nữa thì mới hay anh Hiệp đã bị bắn chết ngay tại hàng rào sau trại chỉ vài hôm sau khi tôi ra về. Về sau bạn tù của anh kể lại : Khi tôi ra về rồi, một lúc sau thì anh Hiệp tỉnh lại. Lầm lì mấy ngày không nói. Trong một buổi “học tập chính trị” anh tôi đã không giữ được bình tỉnh, chửi bới công an khốn kiếp, lợi dụng, hiếp dâm thân nhân của tù cải tạo, thì ngay tối hôm đó anh tôi bị lôi ra khỏi chổ nằm. Không ai biết anh Hiệp bị đưa đi đâu. Đang đêm họ nghe hàng loạt tiếng súng. Họ đoán trước được số phận của anh tôi.

Sáng sớm hôm sau, trước giờ “lao động” Bạn Tù thấy xác anh Hiệp nát bấy bên cạnh hàng rào sau lưng trại tù. Chúng phao tin là anh âm mưu trốn trại nên bị bắn hạ.

Họ được lệnh bó chiếu chôn cất anh…

Vô tình và oái oăm, Bạn Tù chôn anh ngay trên phần đất mà tôi bị hảm hiếp hai tháng trước.

“Anh Hiệp ơi, Anh Hiệp ơi…”

Bạn Tù của anh để mặc tôi kêu gào, rũ rượi bên nấm mồ mới đắp sơ sài của anh. Trước mặt mấy tên công an, họ không dám nói lời an ủi tôi, họ không dám khóc anh.

Hơn một tuần lễ ở lại trong buôn làng của người Nùng , sau mọi thủ tục tiền và vàng lo lót, chúng chịu để yên cho tôi mướn người đào mộ lên, mướn họ đem xác anh tôi đi thiêu .

Có lẽ vì có tính toán trước dùm tôi , nên Bạn Tù chôn anh rất cạn.

Khi thấy xác anh Hiệp được cất lên, tôi có cảm tưởng như anh tôi bị chôn sống như những người trong gia tộc hồi tết Mậu Thân.

Thêm một lần phải chứng kiến cái cảnh nát lòng này.

Trời hởi, những cái chết đau thương vẫn không buông tha những người ruột thịt thân yêu của tôi!

Đêm hôm đó, giữa núi rừng lạnh lẽo, cô đơn ngồi nhìn đống lửa thiêu rụi thi thể anh tôi. Đống lửa cao ngất trời. Lửa hỏa ngục ở trần gian. Lửa thiêu đốt thân xác người anh thân yêu của tôi. Lửa đang đốt cháy trái tim tôi.

Tôi thấy nét mặt anh tôi ẩn hiện trong ngọn lửa.. Nét mặt rạng rỡ của tuổi thanh niên. Nét mặt sạm nắng của thời lao vào bom đạn. Dáng dấp anh trong bộ đồ lính trận, giọng nói ồ ề mỗi lần về phép. Từ đầu thềm nhà đã lên tiếng gọi : Ti ơi, anh về nè

Anh Hiệp ơi, sao không là Mẹ, là Ba, là ông bà Nội , không là ai khác, mà gọi con Ti đầu tiên?

Trước khi bị bắn gục anh cũng gọi “Ti ơi” có phải không?

Trời ơi, cho tới bây giờ, tôi vẫn không thể nào quên được đôi mắt đỏ ngầu của anh tôi, vẫn không quên được cái âm thanh thê thiết của bốn chữ “Trời ơi, Ti ơi”. Cho tới bây giờ tôi vẫn nghe rõ, rõ lắm.

Nhưng mà tiếng tôi gọi “Trời ơi, anh Hiệp ơi” thì không ai nghe thấy hết…

Cho đến bây giờ tôi vẫn không thể nào quên được nét mặt đau đớn tột cùng của anh tôi khi biết đứa em gái nhỏ bé của mình bị hảm hiếp…

*** Khi viết lại những dòng chữ này, tôi thương, tôi nhớ vô cùng những người anh thân yêu của tôi. Những người anh cùng chung huyết thống. Những người anh bất hạnh, vắn số của tôi đã chết cho tôi được sống.

Anh tôi bị bắn chết đau đớn, chết không kịp trối trăn chỉ vì lên tiếng phản đối những tên công an quỉ dữ đội lốt người , đã hảm hiếp em gái mình.

Từ Cao Bằng, Lạng Sơn, mang tro cốt của anh Hiệp trở lại Huế. Tôi định gởi anh lại trong phần đất hương hỏa của Gia Tộc ở Phủ Cam, để cho anh nằm chung với những người anh khác. Sẽ về Long Khánh nói dối mẹ rằng Anh Hiệp vẫn còn sống. Nhưng không ngờ trên sân ga Huế, lũ công an mọi rợ xét giỏ xách của tôi, chúng đổ tung hai trái bầu khô mà người Nùng cho tôi để đựng tro cốt của Anh Hiệp xuống đất chỉ vì nghi tôi dấu vàng trong đó. Tìm không thấy vàng, chúng nó đá hai trái bầu khô văng xuống đường rầy xe lửa rồi bỏ đi…

Tôi quì, tôi bò xuống thềm ga mong hốt lại được phần nào tro cốt của anh tôi. Nhưng mà xác anh bay trong gió. Xác anh bị lôi theo bước chân của những người qua lại, vô tình.

“Anh Hiệp ơi, đừng đi. Đứng lại đi anh Hiệp…”

Tôi khóc, tôi kêu xin anh tôi.

Nước mắt tôi rơi theo mớ xương tro cốt tung tóe khắp nơi. Xác anh lẫn trong tóc, bám trên khuôn mặt đầy nước mắt của tôi. Trong lòng hai bàn tay của tôi chỉ còn được một ít thôi…

Trời hởi, cũng trên sân ga này, tôi đã từng ôm xác của Linh, đứa em khờ dại của tôi. Chỉ chưa đầy một năm sau, tôi lại ôm mớ hài cốt không trọn vẹn của anh Hiệp với một trái tim tan nát…

Bao nhiêu năm tháng qua rồi, nước mắt không bao giờ rửa sạch những nỗi đau trong lòng vì cái chết đau thương của anh Hiệp. Người anh đau khổ, người anh yêu dấu, người anh rất tội nghiệp của tôi.

***Năm năm trời ngược xuôi trên nhiều nẻo đường từ Nam ra Bắc vì thương cha già và những người anh sa cơ thất thế lọt vào tay quỉ dữ, tôi cố gắng làm tròn bổn phận của một đứa con, của một đứa em, mặc dù thân xác tôi chịu nhiều đắng cay tủi nhục. Đau đớn lắm, nhưng tôi không cho phép mình ngã quỵ khi những người thân yêu của tôi đang cần tôi.

Mỗi lần nhìn người mẹ có quá nhiều đau khổ, tôi không dám mở lời, tôi đành câm nín. Tôi tự nhủ phải đứng vững vì mẹ. Tôi không nỡ để mẹ bị đọa đày thêm trong nỗi đau khi biết dứa con gái độc nhất mà bà thương yêu trân quí phải hứng chịu những oan khiên khốn khổ…

Giờ đây, tôi tin là các anh của tôi luôn phù hộ cho tôi, đứa em gái bất hạnh, lắm nổi truân chuyên của họ nên tôi mới vượt qua mọi thăng trầm, mọi nỗi gian nan mà sống cho đến ngày hôm nay…

Thực tình, tôi không muốn khơi lại những vết đau cũ. Một đoạn đời hơn 35 năm sau ngày mất Nước, không đủ làm tôi nguôi ngoai, những vết đau vẫn còn mưng mủ, vẫn còn làm tâm trí tôi nhức nhối không thôi.

Với tôi, hình ảnh những người thân yêu có thể để ngủ yên trong tâm trí. Nhưng những hành động bỉ ổi man rợ của bè lũ CS & tay sai thì không thể tha thứ và không được quên !

Gia đình tôi, bản thân tôi chỉ là một trong muôn vạn những gia đình nạn nhân khác, nhưng khi viết lại những câu chuyện đau thương của chính mình, & gia đình tôi như một lời tâm sự, nhắc nhở, tôi mong nó được xem như một lời cảnh báo cho những thế hệ sau tôi về chế độ phi nhân phi nghĩa của CS mà hơn 40 năm trước đã có những lớp người trẻ cùng trang lứa tôi, các anh tôi, vì mù quáng, vì non dại vô tình bị gạt gẩm đã chạy theo chúng …

Tôi muốn tát vào mặt những người ăn cơm Quốc Gia thờ ma CS. Những người bán rẻ lương tâm mình cho Ác Quỷ . Bởi vì tôi thấy những đau khổ, oan khiên trong quá khứ của tôi vẩn còn dính chặt trên khuôn mặt hắc ám của bè lủ tác tạo ra nó.

Còn một điều khốn nạn nữa là ra tới hải ngoại này mà phải hít thở cùng một bầu không khí với những kẻ cơ hội chủ nghĩa, đón gió trở cờ, phải nhìn thấy những khuôn mặt bẩn thĩu của những người tự xưng là trí thức háo danh , tham lợi, biết CS là độc ác, vô luân mà vẫn chạy theo chúng, làm ngơ trước đau khổ của đồng loại…

Tôi đã trải qua mọi đọa đày, khổ ải, hiểm nguy, thiệt thòi, mất mát từ thể chất tới tinh thần.

Lớn lên trong chiến tranh nên sợ hải bao phủ trọn không gian ,thời gian của tuổi thơ. Mới chín, mười tuổi đầu, tai đã sớm nghe những lời rên siết, than van của ông bà, cha mẹ, đã dược dạy phải tránh né người này, phải xa lánh người kia, mà chẳng hiểu tại sao? Mắt đã sớm nhìn thấy những xác người cháy đen sau mổi lần xóm làng bị đạn pháo kích mà không hiểu từ đâu? Trái tim non nớt của tôi biết đau rất sớm mà không biết vì nguyên nhân nào? Tâm trí đặc quánh những sợ hải. Đầu óc đã biết phân vân tự hỏi, tại sao người ta lại giết nhau

Không ai giải thích cho trẻ con những việc làm của người lớn!

Tuổi thơ của tôi có rất nhiều đêm thảng thốt, giật mình khi nghe tiếng đại bác vọng về.Tuổi thơ của tôi là giữa đêm khuya ngơ ngác khi bị lôi tuột xuống giường đẩy vào hầm trú ẩn.Tuổi thơ của tôi đã nhìn thấy những chiếc quan tài phủ cờ chở về trong xóm…

Tuổi thanh xuân của tôi gắn liền với hình ảnh những thi thể không trọn vẹn được lôi lên từ những mồ chôn tập thể của tết Mậu Thân. Phải nhìn thấy những xác người bê bết máu, xác trẻ thơ vô tội, xác người sình thúi, lúc nhúc những ruồi bọ trên những con đường mà thường ngày mình đến trường.

Những giấc mơ trong tưổi thanh xuân của tôi là những đôi mắt mở trừng, những con mắt oán hờn, trách móc, của những người anh bị bắn chết trong nhà của ông bà nội…

Tuổi thanh xuân của tôi đặc kín những lo âu, buồn phiền, sợ hải, nghi ngờ…

Tôi đã sống như con ốc thu mình trong vỏ. Dè dặt với mọi người. Không dám đối diện những người bạn của các anh mình. Những người cùng lớp cùng trường, ăn cùng mâm, ngủ cùng chiếu. Mới hôm qua là bạn , nay là thù, đứng về phía bên kia hàng ngủ của lủ Quỉ Đỏ, quay lại cầm súng sát hại những người anh thân yêu ruột thịt của mình…

Cái chết là lẽ đương nhiên của con người, vì đâu có ai sống hoài.Thân xác nào rồi cũng phải nằm ngay ngắn trong qua tài, dưới ba tấc đất, nhưng nào ai muốn trở thành những thân xác co quắp, không toàn hình hài, bị vùi chung nhau một hầm!

Chỉ có bọn CS ác độc vô luân mới hành xử như thế với đồng loại của mình…

Tâm trí tôi đau đớn theo từng cái chết đau thương của từng người thân trong gia đình. Thân xác tôi là cái giá phải trả để đổi lấy giỏ quà thăm nuôi, từng viên thuốc, cho những người thân yêu trong gia đình đang mang thân tù tội.

Người dù đã chết trong đau đớn tủi nhục, bây giờ thân xác họ cũng đã thoát ra khỏi cảnh đời ô trọc này rồi. Nhưng người còn sống, không sao tự giải thoát mình khỏi những vết thương đã quá ăn sâu trong da thịt, trong tâm hồn… Nhắc lại chuyện đã qua chỉ thêm đau lòng. Nhưng mà khổ nổi, tôi không thể nguôi ngoai!

Brisbane 15-8-2005

Thái Hòa


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến –  Ký sinh & tầm gửi

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Họa sỹ Lê Huy Cầm cho biết: “Vừa dứt xong cái tranh cho cựu sinh viên Đại Học Dalat sẽ đấu giá kiếm tiền cho sinh viên nghèo trong ngày họp mặt 20 năm.” Bên dưới thông tin này là lời nhắn của FB Hue Chau (“Nếu dành cho cựu SV ĐH Dalat pre 75 thì trên tháp chuông nhà Nguyện Năng Tĩnh kg phải là cái…ngôi sao – Lê Huy” và hồi đáp của tác giả: “Sinh viên ra trường năm 2000 nên vẽ như vậy.” )

Tôi rời Viện Đại Học Đà Lạt đã lâu, ngay sau Mùa Hè Đỏ Lửa, vào năm 1972. Gần nửa thế kỷ đã vụt đi với không biết bao nhiêu là nước suối, nuớc sông (cùng với nước mưa/nước mắt) đã ào ạt qua cầu và qua cống. Nhìn lại hình ảnh trường xưa không khỏi có thoáng chút bồi hồi, và cũng thấy có hơi hụt hẫng.

Tuy thế, tôi hoàn toàn đồng ý với lời giải thích thượng dẫn của tác giả bức tranh. Thấy sao thì vẽ vậy thôi. Mà sao vàng và cờ đỏ thì được “gắn” vào tất cả những công trình kiến trúc ở VN (trường học Yersin, nhà ga Đà Lạt, bưu điện Sài Gòn, Toà Đô Chính, Dinh Gia Long, Dinh Độc Lập …) chớ có sót chỗ nào đâu.

Ngó riết rồi cũng quen mắt thôi mà!

Chỉ riêng có “chỗ” này thì phải công nhận là nhìn hơi quá chướng, theo nhận xét của một nhà văn miền Nam – lần đầu đặt chân đến Hà Nội – hồi năm 1989 :

“Ô nhưng cái gì thế kia? Trên đỉnh Tháp Rùa có một ngôi sao! Cái này ra ngoài dự kiến của tôi về cảnh trí ở đây. Tôi chợt hiểu và liên tưởng ngay đến các ngọn tháp chuông ở điện Cẩm Linh mà tôi thấy trên báo chí Liên Xô, trên mỗi tháp cũng có gắn một ngôi sao. Dấu hiệu của Cách Mạng.

Chỉ tiếc khi nhìn ngôi sao trên đỉnh tháp Rùa thì trí tưởng tượng của tôi về câu chuyện con rùa đòi thanh gươm của Lê Lợi không thể nào hoạt động được, nó tê cứng như con chuột bị con rắn thôi miên vậy.

Tôi tự hỏi có phải trong trường hợp nào cũng cần phải đem cái hiện tại đè lên trên cái cổ truyền như thế không. Thỏa mãn một nhu cầu nhất thời có khi lại làm hại một sự thành tựu đã lâu đời. Và nếu ‘ý chí’ muốn rằng cái nhất thời phải thành vĩnh viễn trong tương lai thì nên tạo ra một công trình mới, ở chỗ khác, chứ sao lại sống tầm gửi vào những gì đã thành lịch sử như thế.” (Phạm Xuân Đài. Hà Nội Trong Mắt Tôi. NXB Thế Kỷ: Westminster 1994).

Ah, thì ra thế! Thế ra là chủ trương “sống tầm gửi” có nguồn gốc tuốt bên Nga, quê hương cách mạng tháng mười, từ hồi đầu thế kỷ trước lận (và đã trở thành truyền thống chung của khối anh em vô sản trên toàn thế giới) chớ đâu có phải là chuyện tình cờ hay cá biệt! Tuy thế, khách quan mà nói, chính sách “tầm gửi” khi vào đến Việt Nam thì mới phát huy được thêm hai “mảng” mới tinh: đám thuyền nhân (boat people) và bọn công nhân xuất khẩu.

Những kẻ trôi sông lạc chợ này sinh sống gần như là một loài cá vậy, cá hồi. Họ được (hay bị) Đảng và Chính Phủ đẩy ra khỏi nước, tứ tán khắp nơi, tha phương cầu thực. Tất cả đều chăm chỉ cần mẫn mưu sinh, và cần kiệm từng đồng, để mỗi khi hồi hương thì có được một mớ đô la nặng túi. Đó là chưa kể số tiền gửi về hàng quí, hay hàng tháng, cứ như thể là đóng hụi (chết) vậy.

Theo tạp chí Thương Gia Online: “Việt Nam tiếp tục trong top 10 nước nhận kiều hối nhiều nhất thế giới. Kiều hối chuyển về năm nay ước đạt 16,7 tỷ USD … tăng nhẹ so với 16 tỷ USD của năm 2018.” Nếu không có những đồng tiền thấm đẫm mồ hôi (và nước mắt) của hàng triệu khúc ruột xa ngàn dặm thì cái  “chính phủ tầm gửi” hiện hành, chắc chắn, đã không thể nào tồn tại được tới ngày nay.

Trong cái đám dân bá vơ này (thảng hoặc) cũng có vài cá nhân nổi bật, được Nhà Nước VN đặc biệt quan tâm. Nghệ sỹ dương cầm Đặng Thái Sơn là một người như thế. Từ Nga, có lần, ông gửi thư về cho thân phụ (một nhân vật bất đồng chính kiến – nhà thơ Đặng Đình Hưng) với những dòng chữ nhạt nhoà nước mắt :

“Con bị ốm nặng bố ạ, có lẽ vì hành trình đi Vac-sa-va quá dài mà con đi bằng xe lửa. Sứ quán bác đơn xin tiền lộ phí của con để đi thi, họ cũng khước từ bảo hộ cho danh xưng của con trong cuộc thi. Nhưng con quyết định liều và giáo sư Na-ta-xon một lần nữa lại giúp con, ông ấy cho con tiền đi đường, tiền thuê dàn nhạc đệm và tiền trọ… Trong cơn sốt 39.5 độ, con đã chảy nước mắt ròng: Các nước tham dự cuộc thi đều được chào cờ và cử quốc ca của mình, mà Việt Nam thì không có – Con tham dự với tư cách thí sinh tự do… Nhưng cũng nhờ sự cay đắng đó mà con gặp đươc Chopin – Những nỗi đau giao thoa với nhau đã bật lên tiếng đàn của hồn ông…” (Thế Giang. “Cây Đắng Nở Hoa.” Thằng Người Có Đuôi. Nguời Việt: Westminster 1987).

Ngay sau khi “cây đắng nở hoa” thì … thánh đế hồi tâm. Đặng Thái Sơn được trao  danh hiệu Nghệ Sỹ Nhân Dân, cùng với nhiều lời tung hô thái quá (tung toé) trên khắp những trang báo quốc doanh:

  • Âm thanh thế kỷ 20 dưới tiếng đàn Đặng Thái Sơn
  • Huyền Thoại Dương Cầm Đặng Thái Sơn
  • Cánh chim tìm về tổ
  • Đặng Thái Sơn, tiếng đàn vọng lên từ những căn hầm trú ẩn
  • Đặng Thái Sơn, những nổi đau của một dân tộc đấu tranh đòi độc lập

Bên cạnh câu chuyện đắng cay này, có không ít những lời bình vô cùng cay đắng:

  • Đặng Chương Ngạn: “Tiền đi thi không cho, đến cả cái danh xưng thí sinh Việt Nam cũng không cho, nhưng sau khi đoạt giải lại nhận ông ấy là người Việt Nam.”
  • Lê Công Định: “Tôi nhớ ngày anh Đặng Thái Sơn đoạt giải về nước, cả hệ thống truyền thông bu lại ca ngợi đảng và nhà nước đã hun đúc tài năng của dân tộc!”
  • Hoàng Khởi Phong: “Cha anh, nhạc sĩ và nhà thơ Đặng Đình Hưng được nhìn thấy con ông như một con cá kình, quẫy thủng cái lưới mà thoát ra biển khơi.”
  • Nhat Vu Hong: “Chính vì sự bội bạc đó nên Đặng Thái Sơn không về VN mà định cư tại Canada.”
  • Son Nguyen & Bùi Phi Hùng: “Cũng giống như Ngô Bảo Châu, người Việt được chăm bón, vun trồng ở tận đẩu tận đâu rồi thành quả, về ‘báo công’ cho nhà nước hít hà, phả ra đầy khí quyển những lời hào sảng hết cỡ; đưa tất cả lên đỉnh, tưởng chừng như thế gian này chỉ còn có người Việt; người Việt sẽ làm cho TG thăng hoa…”

Trường hợp của G.S Ngô Bảo Châu thì tương đối vẫn còn mới mẻ, rất nhiều người biết nên cũng chả cần phải rườm lời, trừ sự kiện này: ông không phải là một con cừu nên không quen bám lề, và thỉnh thoảng lại đi “trật đường rầy” một khoảng (hơi) xa. Có lẽ xa nhất là lời bình luận của ông vào hôm 19 tháng 5 năm 2016, nhân ngày sinh nhật lần thứ 126 của Hồ Chí Minh: “Có quý‎ mến ai thì mong họ thoát khỏi vòng luân hồi, đừng bắt họ sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta.”

Thế là Nhà Nước VN xùy chó ra cắn ngay :

  • Ngô Bảo Châu  tiếp tục cổ súy cho các hành động sai trái chống phá đất nước của những tên phản động như Lê Công Định, Nguyễn Đình Thục, Đặng Hữu Nam, Mẹ Nấm…
  • Ngô Bảo Châu một con trâu biết làm toán
  • Ngô bảo Châu đã tìm cho riêng mình một con đường khác, đi ngược lại con đường mà đảng, Bác Hồ cùng nhân dân đã chọn hơn 70 năm qua…
  • Ngô Bảo Châu trên con đường ngụy dân chủ phản bội dân tộc.

Ngó bộ thì lũ chó này chưa chắc đã cắn rách được gấu quần của nạn nhân nhưng tư cách của đám chủ thì ai cũng nhìn thấy rõ: đồ ăn hại và phường vô lại.

Khảo tả đặc điểm của nhóm… “người Bắc có lý luận”

Báo Tiếng Dân

Blog RFA

Đồng Phụng Việt

24-7-2023

“Người Bắc có lý luận” chính thức trở thành yếu tố định tính của những cá nhân thủ giữ vai trò “trụ cột quốc gia” hồi 2015 – thời điểm đảng CSVN chuẩn bị cho Đại hội đảng CSVN lần thứ 12 (1/2016) để bầu giới lãnh đạo đảng nhiệm kỳ từ 2016 đến 2020.

Bị cáo Nguyễn Thị Hương Lan, cựu Cục trưởng Lãnh sự, Bộ Ngoại giao

Thân sinh của khái niệm “người Bắc có lý luận” dường như là ông Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí thư đảng CSVN nhiệm kỳ 11 và sau đó, ông Trọng tiếp tục đảm nhiệm vai trò Tổng Bí thư nhiệm kỳ 12 rồi nhiệm kỳ hiện nay, bất chấp Điều lệ đảng CSVN minh định – không chấp nhận bất kỳ ai đảm nhiệm vai trò Tổng Bí thư quá hai nhiệm kỳ liên tục (Khoản 1, Điều 17) [1]. Chuyện ông Trọng và đảng của ông bất chấp Khoản 1, Điều 17 là ví dụ cho đặc điểm đầu tiên của nhóm… “người Bắc có lý luận”: Nói một đằng, làm một nẻo. Cũng vì vậy “kỷ luật nghiêm minh” ở phần giới thiệu về “Ðảng và những vấn đề cơ bản về xây dựng đảng” trong Điều lệ đảng CSVN chỉ để cho… vui, còn thiên hạ có… vui hay không,  “người Bắc có lý luận” không bận tâm!

Cựu đại sứ Trần Việt Thái ăn tiền của gái mại dâm, ngư dân

Đặc điểm thứ hai của nhóm… “người Bắc có lý luận” là kiểu “lý luận” bất chấp luận lý. Luận lý là một lĩnh vực khoa học (Luận lý học) được Việt hóa từ Logic học (một nhánh của triết học nhằm hỗ trợ con người tư duy và hành động hợp lý, hợp cách). Nếu đa số người Bắc bình thường tư duy và hành động theo lẽ thường dù có học luận lý hay không thì thiểu số người Bắc chịu khó… “phấn đấu” để được học “lý luận” ở mức “cao cấp” và trở thành thành viên trong nhóm “người Bắc có lý luận” lại thể hiện kiểu tư duy và hành xử theo hướng đặc biệt khác thường, mức độ khác thường vượt xa khả năng hình dung không chỉ của đồng hương, đồng bào mà ngay cả phần còn lại của đồng loại cũng không thể tưởng tượng được!

Hoạt động giải cứu người Việt ở nước ngoài khi COVID 19 trở thành đại dịch trên phạm vi toàn cầu, hay việc nghiên cứu – nghiệm thu – sản xuất – cung cấp bộ xét nghiệm COVID 19 dưới danh nghĩa Công ty Việt Á,… là một số trong vô số ví dụ cụ thể minh họa cho đặc điểm thứ hai. Chính kiểu “lý luận” bất chấp luận lý biến Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh thành nơi bị thiên hạ dè bỉu là chuyên đào tạo và cung cấp phạm nhân cho đủ loại đại án “kinh thiên, động địa”. Thực tế cho thấy, nếu chưa phải là tội phạm thì các thành viên trong nhóm “người Bắc có lý luận” cũng đã là ứng cử viên của tội nào đó vì “ăn xương, uống máu” đồng bào, đồng loại theo kiểu nào đó và chưa… đắc cử là vì chưa… thất thế và chỉ vì thế mà thôi.

Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa nhiệm kỳ 2015-2020 Trịnh Văn Chiến phát biểu tại phiên bế mạc Đại hội, sáng 25/9. (Ảnh: TTXVN)

Có rất nhiều ví dụ cho khía cạnh vừa đề cập, chỉ xin dẫn trường hợp mới nhất: Ông Trịnh Văn Chiến – cựu Ủy viên BCH TƯ đảng CSVN, cựu Bí thư Thanh Hóa. Ông Chiến vốn đã là tâm của đủ thứ scandal khuấy động dư luận cách nay hàng chục năm, chẳng hạn scandal liên quan đến cô Trần Vũ Quỳnh Anh (2), song nhân vật thuộc nhóm “người Bắc có lý luận” này vẫn “bình an vô sự”. Mãi tới cuối tháng vừa rồi vì lẽ nào đó, nhóm “người Bắc có lý luận” mới chính thức xác định ông Chiến có “sai phạm”, cần “xử lý” (3). Nếu đem các sai phạm của những người như ông Chiến đặt bên cạnh “quá trình công tác” của họ ắt sẽ nhận ra đặc điểm thứ ba của nhóm “người Bắc có lý luận”. Đó là nói lấy được và làm lấy được cho chính mình!

Bởi vậy, đừng ngạc nhiên khi đã đứng trước vành móng ngựa, thành viên nào trong nhóm “người Bắc có lý luận” cũng thản nhiên biện bạch kiểu như bà Nguyễn Thị Hương Lan (Cục trưởng Cục Lãnh sự của Bộ Ngoại giao, bị truy tố do đã nhận 25 tỉ khi thực hiện hoạt động “giải cứu” hàng trăm ngàn người Việt kẹt lại ở nước ngoài giữa đại dịch COVID 19) vừa… tự bào chữa:  Xin Hội đồng xét xử xem xét tinh thần và thái độ trách nhiệm của bị cáo. Trong quá trình làm việc, bị cáo luôn đặt công tác bảo hộ công dân lên trên hết, đặt lợi ích của công dân lên trên tất cả. Bị cáo luôn coi công dân bị mắc kẹt hoặc gặp khó khăn ở nước ngoài như người thân của gia đình, cần phải hỗ trợ để đưa công dân về nước sớm nhất và hiệu quả nhất (4)…

Bỏi nói lấy được và làm lấy được cho chính mình là đặc điểm chung nên ngoài bà Lan còn có những viên chức khác như ông Trần Việt Thái (Đại sứ Việt Nam tại Malaysia) không những không động lòng trắc ẩn trước tình trạng thê thảm của 1.900 người Việt bị Malaysia giam giữ vì đánh bắt hải sản trong lãnh hải Malaysia hay hoạt động mại dâm tại Malaysia,… rồi được Malaysia trả tự do, tống xuất vì đang có đại dịch mà còn xem đó là cơ hội để cưỡng ép đồng bào, đồng loại phải cống nạp 44 tỉ đồng (5)… Ba đặc điểm vừa kể của nhóm “người Bắc có lý luận” tạo ra đặc điểm thứ tư của nhóm này: Phi nhân, phi nghĩa, chỉ trung và hiếu với lợi ích cá nhân. Sở dĩ “người Bắc có lý luận” quần tụ thành nhóm với các đặc điểm như vừa đề cập vì đặc điểm thứ năm…

Đại sứ Việt Nam tại Malaysia Trần Việt Thái (Nguồn: Vietnamnet)

Đại sứ Việt Nam tại Malaysia Trần Việt Thái (Nguồn: Vietnamnet)

Tại Việt Nam, chỉ “người Bắc có lý luận” mới có tư cách nắm giữ công quyền và sử dụng công quyền để cưỡng đoạt, chia chác mọi thứ lợi ích chính đáng của hàng trăm triệu người Việt. Phiên xử việc tổ chức – thực hiện hoạt động giải cứu người Việt bị kẹt tại nước ngoài chính là ví dụ mới nhất về đặc điểm thứ năm và đó cũng chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Không cần tìm kiếm, chỉ nhìn quanh nơi mình sống, người Việt nào cũng có thể nhận ra thực tế: Các thành viên hoặc thân nhân, thân hữu của các thành viên trong nhóm “người Bắc có lý luận” đã cũng như đang và sẽ tiếp tục còn là chủ những bất động sản có giá trị cao nhất, những tài sản có giá trị lớn nhất, sinh hoạt xa hoa nhất và hành xử, phát ngôn trịch thượng nhất!

Bình đẳng không chỉ là tiêu chí mà còn là giá trị được tất cả các cộng đồng văn minh chung sức kiến tạo, bảo vệ bằng mọi giá, đồng thời không ngừng điều chỉnh để bình đẳng hoàn chỉnh hơn ở tất cả các khía cạnh, các đối tượng. Ở Việt Nam, xương chất thành núi, máu chảy thành sông cũng vì khát vọng đạt được sự bình đẳng về chính trị – tiền đề để có bình đẳng trong sinh hoạt kinh tế, sinh hoạt xã hội, không chỉ nhằm bảo đảm cơm no, áo ấm mà còn bảo vệ phẩm giá con người, tạo ra động lực cho phát triển. Có nên tiếp tục chấp nhận tình trạng “người Bắc có lý luận” trở thành giai tầng duy nhất được phép nắm giữ quyền lực tại Việt Nam và sử dụng quyền lực làm công cụ tước đoạt mọi thứ cả ở hiện tại lẫn tương lai?

Tham khảo

(1) https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-kien-tu-lieu-ve-dang/dieu-le-dang/dieu-le-dang-do-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xi-cua-dang-thong-qua-3431

(2) https://vtc.vn/duong-thang-tien-than-toc-cua-hot-girl-quynh-anh-o-thanh-hoa-ar353403.html

(3) https://laodong.vn/thoi-su/trien-khai-xu-ly-sai-pham-cua-nhieu-lanh-dao-nguyen-lanh-dao-thanh-hoa-1210640.ldo

(4) https://www.tiktok.com/@tinchinhtrivn/video/7257147368104103175

(5) https://nld.com.vn/noi-thang/noi-thang-an-ca-tien-giai-cuu-tu-nhan-thi-khong-noi-dau-nao-bang-20230717010259899.htm

Tôi cần dọn mình cách nào để có thể lên Rước lễ?

Chúc bạn và gia đình ngày Thứ 2 được mọi sự tốt lành trong Chúa và Mẹ Maria nhé.

Cha Vương

Thứ 2: 24/07/2023

GIÁO LÝ: Tôi cần dọn mình cách nào để có thể lên Rước lễ? Tôi cần phải là người Công giáo, và nếu lương tâm nghĩ mình đang có tội trọng thì phải xưng tội đã. Trước khi tới gần bàn thờ, bạn phải làm hòa với người thân cận. (YouCat, số 220)

SUY NIỆM: Trước đây ít năm [trước 1964] có thói quen không ăn gì trong 3 tiếng đồng hồ trước rước lễ, vì muốn cho mình sửa soạn rước Chúa Kitô. Ngày nay, Hội thánh truyền dạy giữ chay ít là một tiếng đồng hồ. Một dấu hiệu tỏ lòng tôn kính khác là ăn mặc cho xứng đáng, vì thực ra đây là cuộc hẹn gặp với Chúa của vũ trụ. (YouCat, số 220 t.t.)

Điều 919, Bộ Giáo luật 1983, có quy định về việc kiêng ăn uống trước khi rước lễ hay còn gọi là việc giữ chay Thánh Thể như sau:

Điều luật này có ba triệt phân biệt ba đối tượng: Đối với các tín hữu nói chung, trong tình trạng bình thường, TRIỆT 1 quy định: “Ai muốn rước Thánh Thể thì ít là trong khoảng một giờ trước khi rước lễ phải kiêng mọi thức ăn, thức uống, chỉ trừ nước lã và thuốc chữa bệnh.” TRIỆT 2 quy định: “Linh mục cử hành Bí tích Thánh Thể hai hoặc ba lần trong cùng ngày, có thể ăn uống gì đó trước khi cử hành lần thứ hai, lần thứ ba, dẫu không cách quãng tới một giờ.” Như thế, nếu linh mục chỉ cử hành Thánh lễ một lần trong ngày thì vẫn theo quy định của triệt 1. Ngoại lệ của triệt 2 chỉ dành cho linh mục cử hành nhiều Thánh lễ trong ngày. TRIỆT 3 cũng là một ngoại lệ dành cho “những người tuổi cao và bệnh tật cùng những người chăm sóc” khi quy định: “Những người già nua và bệnh hoạn và những người coi sóc họ, có thể rước Thánh Thể, dầu đã ăn uống gì đó trong khoảng một giờ trước.”

Lưu ý ở triệt 2 và triệt 3 có định ngữ “ăn uống gì đó”, có thể được hiểu là “ít, đơn giản và chỉ để chống đói”, để không bị đánh mất đi lòng tôn kính với Bí tích cực trọng này.

❦ Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời thì linh hồn con sẽ được lành sạch. (Mt 8:8)

LẮNG NGHE: Vì thế, bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa. Ai nấy phải tự xét mình, rồi hãy ăn Bánh và uống Chén này. 1Cr 11:27-28

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, mỗi khi rước Mình và Máu Thánh Chúa con được kết hiệp mật thiết với Chúa, xin giúp con biết chuẩn bị và dọn mình cho xứng đáng.

THỰC HÀNH: Cố gắng giữ gìn luật giữ chay trước khi tham dự Thánh Lễ nhé.

From: Đỗ Dzũng

GIÊSU, CHÚA BÊN CON – Lumen Choir

CUỘC ĐỜI THĂNG TRẦM CỦA NỮ BÁC SĨ ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM: HENRIETTE BÙI QUANG CHIÊU

nguồn: chuyenxua.net

  Khi thực dân Pháp chiếm Việt Nam làm thuộc địa, cùng với đó là sự du nhập của văn hoá Tây Âu là phương pháp chữa bệnh theo Tây Y.

Ban đầu, Tây Y và bác sĩ chỉ phục vụ cho quân Pháp và gia quyến đi cùng.

Dân Việt vẫn chỉ chữa bệnh, sinh đẻ theo các bài thuốc, phương pháp Đông Y cổ truyền từ thầy lang và bà đỡ.

Tuy nhiên cùng với quá trình thâm nhập sâu rộng của văn hoá Pháp vào đời sống dân Việt, hệ thống bác sĩ, bệnh xá lần lượt được xây dựng và phát triển.

Những vị bác sĩ Tây Y người Việt tiên phong cũng lần lượt xuất hiện, nhưng đặc biệt nhất có lẽ phải kể đến nữ bác sĩ đầu tiên của Việt Nam Henriette Bùi Quang Chiêu.

Tài năng và tên tuổi của bà một thời từng là niềm tự hào của người Việt trước sự lấn lướt, khinh miệt của người Pháp.

Giống như hầu hết những tri thức thời kỳ này, bà Henriette xuất thân trong một gia đình quyền quý.

Cha bà Henriette là chính khách nổi tiếng ở Nam Kỳ, nghị viên Bùi Quang Chiêu.

Trước năm 1945, Ông Chiêu là một nhân vật tích cực trong giới chính trị, ông tham gia thành lập Đảng Lập Hiến, đấu tranh cho quyền bình đẳng cho người Việt, quyền tự do báo chí, hỗ trợ nhiều du học sinh người Việt sang Pháp du học,… Thời trẻ, ông Chiêu cũng từng là du học sinh Pháp, là người Việt đầu tiên có bằng kỹ sư canh nông của Pháp. Ông cũng là người Việt duy nhất được đưa vào thăm vua Hàm Nghi khi vua bị Pháp đày sang Algérie.

Em gái của ông Bùi Quang Chiêu chính là bà nội của Trần Lệ Xuân (phu nhân của Ngô Đình Nhu).

Mẹ bà Henriette là bà Vương Thị Y, vốn là con gái trong một gia đình gốc Hoa giàu có ở Nam Kỳ. Ông Bùi Quang Chiêu và bà Vương Thị Y có 6 người con chung, bà Henriette là con thứ.

Gia đình Bùi Quang Chiêu. Ảnh gia đình chụp năm 1921 tại Phú Nhuận. Từ trái sang: Madeline, Henriette, ông Bùi Quang Chiêu, Louis, Camille và Helène.

HỌC VẤN XUẤT SẮC – SỰ NGHIỆP RỰC RỠ

Dù có gốc gác Nam Kỳ, lớn lên ở Sài Gòn nhưng bà Henriette lại được sinh ra ở Hà Nội vào ngày 8 tháng 9 năm 1906.

Ngay từ nhỏ, cô bé Henriette đã được giáo dục kỹ lưỡng theo truyền thống học hành của gia đình.

Thời tiểu học, Henriette được gửi vào học tại trường St Paul de Chartres (tức trường Nhà trắng) tại Sài Gòn (ngày nay ở đường Tôn Đức Thắng).

Vốn thông minh và hiếu học, năm 1915, khi vừa tròn 9 tuổi, Henriette được thi vượt cấp vào trung học, nhận bằng Certificat d’Études sớm 2 năm so với các bạn cùng trang lứa.

Ngôi trường tiếp theo Henriette theo học là trường Collège des Jeunes Filles (tức trường Trung Học Gia Long Sài Gòn và là trường Nguyễn Thị Minh Khai ngày nay), sau đó là trường Lycée Marie Curie.

Bà đậu bằng Certificat d’Études với thứ hạng cao, rồi sau đó nằng nặc đòi thân phụ cho đi học ngành Y khoa ở Paris như người anh Louis Bùi Quang Chiêu của bà.

Người cha Bùi Quang Chiêu đành phải nhượng bộ cho Henriette sang du học ở Agen, một thành phố ở miền nam nước Pháp, và đã phải thuê một vị giáo sư để đi cùng với cô con gái bé bỏng Henriette ra bến tàu Sài Gòn, để chăm lo việc sinh hoạt và học tập của bà.

Bà xuất ngoại mùa Hè 1921, khi chưa tròn tuổi 15. Bà học rất giỏi, ngoài tiếng Việt, tiếng Pháp và Trung Hoa, bà còn thông thạo nhiều ngôn ngữ khác như tiếng Anh, Tây Ba Nha, Ý và cả những cổ ngữ như La Tinh và Hy Lạp. Việc học của bà bị gián đoạn một năm vì bệnh đau mắt (trachoma), tuy nhiên bà cũng tốt nghiệp bậc trung học tại Lycée d’Agen và Bordeau năm 1925, thuộc miền Tây Nam nước Pháp, và lấy bằng tú tài năm 1926 dưới sự giám hộ của giáo sư triết Madame Meyerson.

Từ niềm kính phục, trân trọng người anh của mình là Louis Bùi Quang Chiêu – một bác sĩ chuyên về bệnh Ho lao nổi tiếng tại Sài Gòn, và cũng vì người mẹ đã mất vì bệnh tật, năm 1927, bà vào học trường Đại Học Y khoa Paris. và trong thời gian này, bà được giới thiệu rồi trở thành thân thiết với nhà bác học Marie Curie và nhà sử học Charles Seignobos.

Ngoài một số người ngoại quốc, bà còn quen biết với nhiều nhân vật nam nữ người Việt Nam du học tại Pháp mà sau này sẽ đóng những vai trò rất quan trọng trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, văn hóa và giáo dục trong nước.

Về phía nam giới, bà quen biết với vua Bảo Đại đang theo học tại Pháp; ông Nguyễn Văn Xuân, sinh viên trường École Polytechnique, sau này là Trung tướng Nguyễn Văn Xuân (Thủ tướng Chính phủ Quốc Gia Việt Nam đầu tiên vào năm 1948); Hoàng Xuân Hãn, sinh viên Polytechnique, sau này là Bộ Trưởng Giáo Dục trong Chính phủ Trần Trọng Kim; ông Ngô Đình Nhu, sinh viên École de Chartres, sau này là cố vấn chính trị của Tổng thống Ngô Đình Diệm,…

Về phía nữ giới , bà là bạn của bà Hoàng Thị Nga, em gái của Giáo sư Hoàng Cơ Nghị, vị nữ tiến sĩ khoa học đầu tiên của Việt Nam; bà Nguyễn Thị Bính, vợ của Thạc sĩ Hoàng Xuân Hãn, vị nữ dược sĩ đầu tiên của Việt Nam,…

Trong những năm cuối cùng tại trường Y, bà đã chọn những ngành chuyên môn như: pathological anatomy, obstetrics, gynecology, podiatry và infant care.

Cũng giống như các vị nữ bác sĩ thời đó, bà chuyên về việc chữa trị các bệnh đàn bà và trẻ em trong thời gian nội trú tại các bệnh viện la Charité, Beaujon, Cochin và Bichat tại Paris.

Năm 1932, bà tốt nghiệp đại học. Sau hai năm thực tập, bà là người phụ nữ Việt Nam lấy bằng bác sĩ y khoa đầu tiên ở Pháp.

Khi tốt nghiệp, bà dự định viết một luận án về đề tài “thụ tinh nhân tạo cho những người bị hiếm muộn”, tuy nhiên vào thời đó thì đề tài này quá mới mẻ và gây nhiều tranh cãi cho một người phụ nữ trẻ tuổi, do đó bà đã nghe lời khuyên của các vị giáo sư mà đổi sang một đề tài “truyền thống” hơn: “The Phebitis of Gestation”. Bài luận án của bà đã được Hội đồng giám khảo khen ngợi và tưởng thưởng huy chương vào năm 1934.

Năm 1935, ngay sau khi tốt nghiệp và nhận tấm bằng bác sĩ, bà Henriette trở về Việt Nam. Cũng trong năm này, bà được giao giữ chức Trưởng khoa hộ sinh ở bệnh viện Chợ Lớn (nay là bệnh viện Từ Dũ). Bà trở thành người phụ nữ Việt Nam đầu tiên được giao trọng trách quan trọng trong hệ thống bệnh viện Tây y của Việt Nam.

Không chỉ dốc lòng cho công việc cứu người, bà Henriette còn không ngừng trau dồi và phát triển chuyên môn của mình.

Năm 1957, bà từng có thời gian đến Nhật để học thêm về các phương pháp châm cứu, áp dụng trong sản khoa.

Bà cũng là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên thành lập Bảo Sanh Viện trên đường Richeaud (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu)

Trong suốt hơn 40 năm hành nghề, đặc biệt là trong những năm tháng làm việc tại Việt Nam, bà Henriette đã nhiều lần công khai chống đối cấp trên người Pháp, đấu tranh cho quyền lợi của các bác sĩ và bệnh nhân người Việt trước những bất công và sự đối xử thiếu công bằng từ ban lãnh đạo bệnh viện người Pháp.

Ví dụ như cùng là bác sĩ tốt nghiệp từ trường Đại học Y khoa Paris, cùng chức phận và công việc như nhau nhưng trong khi bác sĩ người Pháp được trả 1.000 đồng một tháng thì bác sĩ người Việt chỉ được trả lương 100 đồng một tháng;

Hay việc bệnh nhân người Pháp luôn được ưu tiên và đối xử tử tế hơn bệnh nhân người Việt;

Sự đối xử thiếu tôn trọng, thậm chí là thái độ khinh miệt kẻ cả của những y bác sĩ người Pháp đối với đồng nghiệp người bản địa; Hoặc như có lần ông giám đốc bệnh viện người Pháp yêu cầu bà phải mặc đầm khi đến bệnh viện làm việc để nhận được sự tôn trọng từ những đồng nghiệp người Pháp, bà đã thẳng thừng từ chối, kiên quyết mặc áo dài truyền thống đi làm.

Năm 1970, sau khi từ Pháp trở lại Việt Nam và trước khi quay trở lại Pháp vào năm 1971, bà đã quyết định đến làm việc không lương ở Khoa hộ sản và nhi khoa tại bệnh viện Phú Thọ.

Sau 5 năm quay lại Pháp hành nghề y, bà nghỉ hưu vào năm 1976, khi vừa tròn 70 tuổi. Cả cuộc đời cống hiến cho nghề không mệt mỏi, về già Henriette bà không ngần ngại hiến tặng luôn biệt thự riêng của mình ở số 28 đường Testard (nay là đường Võ Văn Tần) làm cơ sở cho trường Đại Học Y Khoa thuộc viện Đại Học Sài Gòn.

Địa điểm này ngày nay nằm trong khuôn viên của Bảo Tàng Chứng Tích Chiến Tranh, căn nhà cũ của Henriette (cũng là trụ sở đại học Y Khoa cũ) đã bị đập bỏ.

Villa địa chỉ số 28 đường Testard (sau 1954 là đường Trần Quý Cáp, nay là Võ Văn Tần 

BI KỊCH GIA ĐÌNH

Như đã nhắc ở trên, bà Henriette mồi côi mẹ từ năm 16 tuổi khi đang du học tại Pháp, tuy nhiên nỗi đau đó chưa phải là lớn nhất khi cuối năm 1945, một tấm bi kịch khủng khiếp khác một lần nữa đổ xuống gia đình bà.

Ông Bùi Quang Chiêu do từng giữ chức Viện Trưởng Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ (trước năm 1939) và đại biểu Nam Kỳ tại Thượng Hội Đồng Pháp quốc hải ngoại, ông bị lực lượng Việt Minh kết tội làm tay sai cho thực dân Pháp. Và kết cục là ngày 29 tháng 9 năm 1945, tại Chợ Đệm (Bình Chánh, Sài Gòn), ông Bùi Quang Chiêu cùng năm người khác trong đó có ba người con trai và con gái của ông đã bị kết án tử.

Ông Bùi Quang Chiêu

Lúc sinh thời, ông Bùi Quang Chiêu là người nhiệt thành ủng hộ phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh cũng như phong trào Đông Du của Phan Bội Châu. Ông đã đọc trước mồ cụ Phan Châu Trinh: “Tây Hồ anh ơi, tôi xin thề hy sanh cho chủ nghĩa Pháp Việt đề huề”. Năm 1919 ông đứng ra thành lập Đảng Lập hiến Đông Dương, là một chính đảng hoạt động ở Nam Kỳ trong thập niên 1910 đến 1930, vận động đòi tự trị cho Việt Nam để lần hồi giành lại độc lập hoàn toàn cho người Việt. Đảng Lập Hiến dùng 3 tờ báo: La Tribune Indochinoise (Báo Đông Dương), L’Echo Annamite và Đuốc Nhà Nam làm diễn đàn. Tuy gọi là Đảng nhưng những Đảng Lập hiến lại tổ chức giống như một câu lạc bộ chính trị của giới điền chủ, nghiệp chủ, công chức người Việt ở Nam kì. Bùi Quang Chiêu cũng là đảng viên đảng Cấp tiến và Xã hội Chủ nghĩa Cấp tiến của Pháp, nên nhân lúc Alexandre Varenne của đảng Xã hội Cấp tiến Pháp được bổ nhiệm làm toàn quyền vào năm 1926 với hứa hẹn cải tổ cai trị ở Đông Dương, Bùi Quang Chiêu lại sang Pháp vận động chính giới Pháp với loạt bài “Pour le Dominion Indochinois”. Ông đưa ra “Bản yêu sách 9 điều khoản” gồm: Tự do ngôn luận, Tự do báo chí, Tự do hội họp và lập hội, Tự do đi lại, Cải cách giáo dục, Điều chỉnh chế độ lương bổng cho công bằng giữa người Pháp và người Việt, Nới rộng quyền đại diện chính trị, Nâng cao đời sống lao động, Bãi bỏ độc quyền kinh tế. Với thanh thế đó, ông về lại Sài Gòn tranh cử cuộc bầu cử tháng 10 năm 1926. Kết quả là ông cùng 9 đảng viên đảng Lập Hiến đắc cử Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, chiếm trọn 10 ghế của người bản xứ. Ông được bầu làm Phó chủ tịch Hội đồng. Năm 1927 nhờ sự vận động của ông cùng các nhân sĩ khác như Phan Văn Trường, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn An Ninh, Vũ Đình Dy và Nguyễn Phan Long, người Pháp mới bãi bỏ điều kiện Pháp tịch cho những học sinh muốn sang Pháp du học. Cũng vì quan tâm đến việc giáo dục, ông mở tư thục “An Nam Học đường” ở Sài Gòn. Hoạt động chính trị của ông bị nhà chức trách cho là bài Pháp nên ông và báo La Tribune Indochinoise bị liệt danh vào “sổ đen” của mật thám Pháp. Ở phía ngược lại, ông cũng bị Việt Minh kết tội là tay sai cho Pháp.

THOÁT KHỎI NHỮNG SẮP XẾP VÀ ĐỊNH KIẾN 

Bà Henriette kết hôn lần đầu tiên theo sự sắp xếp của cha vào năm 1935 ngay sau khi du học trở về nước. Bà kể về lần kết hôn này như sau: 

“Hồi đó, ngay cả ở Pháp, phụ nữ học ngành y cũng rất ít. Ra trường, cũng không ít nữ bác sĩ bỏ nghề vì phải lấy chồng, sinh con. Tôi cũng không thoát khỏi định kiến xem thường phụ nữ thời ấy. Vừa tốt nghiệp bác sĩ, tôi đã bị cha triệu về Việt Nam để gả chồng…”

Như bao gia đình quyền quý khác, ông Bùi Quang Chiêu chọn cho cô con gái cưng một người chồng vô cùng “môn đăng hộ đối”, xuất thân trong một gia đình quyền quý không kém gia đình ông. Đó là luật sư Vương Quang Nhường, cháu ruột của thái hậu Từ Dũ, tiến sĩ Luật Khoa người Việt đầu tiên, đồng thời là thành viên Đảng Lập Hiến Đông Dương do ông Bùi Quang Chiêu sáng lập.

Tuy nhiên, với bà Henriette, cuộc hôn nhân khiên cưỡng này lại hoàn toàn không mang lại cho bà hạnh phúc. Đặc biệt là tư tưởng của hai người cực kỳ khác biệt, trong khi ông chồng chỉ muốn bà ở nhà nội trợ, sanh con đẻ cái với tuyên bố:

“Tôi là trạng sư, lương đủ cho bà ở nhà, đi chơi”, thì bà lại kiên quyết theo đuổi công việc bác sĩ của mình: “Tôi thích làm, không thích chơi”.

Sau hai năm gắng gượng duy trì cuộc hôn nhân đầy những bất đồng, bà Henriette quyết định đưa đơn ly dị chồng, giải phóng cho bản thân, bất chấp những lời dị nghị. Không chỉ thẳng thắn và quật khởi trong hôn nhân, vượt qua những định kiến về giới, bà Henriette trở thành người phụ nữ đầu tiên mua và lái xe hơi trên đường phố Sài Gòn trước bao ánh nhìn và lời bàn tán của mọi người.

Sau cuộc hôn nhân đầu tiên thất bại, đạp lên mọi luồng dư luận và bất chấp những ý kiến trái chiều từ gia đình, bà quyết định tái hợp và chung sống với mối tình sâu đậm nhất của mình mà không cần bất cứ hôn lễ hay tờ hôn thú nào.

MỐI TÌNH SÂU NẶNG VÀ CUỐI CÙNG

Người chồng thứ hai của bà Henriette là ông Nguyễn Ngọc Bích, cũng là mối tình sâu đậm, dài lâu và cuối cùng trong cuộc đời bà.

  Nguyễn Ngọc Bích, con trai Đốc phủ sứ Nguyễn Ngọc Tương 

Đó là những năm tháng du học tại Pháp, mùa đông Paris lạnh giá và khắc nghiệt, cậu em họ xa Nguyễn Ngọc Bích thường xuyên đau bệnh, nên người chị họ Henriette vốn là một sinh viên y khoa giàu kiến thức đã tận tình qua lại chăm sóc cho sức khoẻ của cậu em.

Bất chấp những định kiến, lễ giáo về quan hệ họ hàng, hai người dần nảy sinh tình cảm lúc nào không hay. Khi tình cảm vừa chín tới, cũng là lúc bà Henriette tốt nghiệp phải về nước lấy chồng theo lệnh cha.

Nói về ông Nguyễn Ngọc Bích, đây cũng thực sự là một người đàn ông tài giỏi, thông minh hiếm có khiến bà Henriette không chỉ yêu mà còn nể phục.

Ông Nguyễn Ngọc Bích là con trai thứ của đốc phủ sứ Nguyễn Ngọc Tương (về sau là Giáo Tông của Ban Chỉnh Đạo Hội Thánh Cao Đài). Tuy nhỏ tuổi hơn bà Henriette đến 5 tuổi (sinh năm 1911) nhưng ông cũng được gia đình gửi đến Pháp du học từ sớm cùng hai người anh trai và đậu vào ngành kỹ sư cầu đường tại đại học École Polytechnique, ngôi trường danh tiếng hàng đầu tại Paris, nơi chỉ tuyển những sinh viên xuất sắc nhất.

Năm 1936, ông Nguyễn Ngọc Bích tốt nghiệp đại học và về nước làm việc tại sở Thuỷ Lợi tỉnh Sóc Trăng.

Sau khi bà Henriette ly hôn chồng, gặp lại ông Nguyễn Ngọc Bích và rồi tình cũ không rủ cũng tới, hai người quyết định dọn về chung sống cùng nhau mà không cần bất cứ lễ cưới nào, bất chấp sự phản đối của cả hai gia đình.

Trong khi bà Henriette tiếp tục công việc bác sĩ tại Sài Gòn thì ông Bích đi đi về về với công việc tại Sóc Trăng.

Năm 1940, ông Bích nghỉ việc tại Sóc Trăng, trở về quê nhà Bến Tre, gia nhập lực lượng Việt Minh và nhanh chóng trở thành thành viên chủ chốt.

Một mình ở lại Sài Gòn, bà Henriette vẫn dành trọn tình yêu và chờ đợi những chuyến về thăm của chồng.

Năm 1944, bà Henriette đón nhận cú sốc từ người chồng mà bà nhất mực yêu thương. Ông Nguyễn Ngọc Bích có con riêng với một cô sinh viên trường nữ công gia chánh ở Sóc Trăng.

Tuy nhiên, đó chỉ là một mối tình say nắng, trót dại của ông Bích, dù hai người không có hôn thú, ông Bích vẫn nhất quyết không bỏ vợ. Cô gái kia biết chẳng thể chia cắt ông bà cũng đành đi lấy chồng khác.

Bà Henriette dù rất đau khổ, vẫn bao dung và điềm tĩnh giúp ông thu vén mọi chuyện gọn gàng.

Năm 1947, bà Henriette tiếp tục phải đối mặt với một biến cố khác từ chồng.

Trong một trận càn quét vào vùng kháng chiến ở Sóc Trăng, ông Nguyễn Ngọc Bích bị quân đội Pháp bắt làm tù binh. Lúc này, ông đang giữ những vị trí khá quan trọng trong chính quyền Việt Minh, là Khu bộ phó Khu 9 (vùng Tây Nam Bộ), đại biểu quốc hội khoá 1 VNDCCH, Uỷ viên dự khuyết Ban thường trực Quốc hội.

Ban đầu, ông Bích bị kết án tử hình. Tuy nhiên, nhờ ông Bích có quốc tịch Pháp và những mối quan hệ giao tế với nhiều nhân vật có tiếng nói tại Pháp đã gây sức ép lên chính quyền quân sự Đông Dương, khiến họ không thể ghép ông vào tội tử hình chỉ với những cáo buộc “phản loạn”. Đổi lại, ông Bích bị buộc phải rời khỏi Việt Nam, đến cư trú tại Paris và chịu sự giám sát của chính quyền Pháp. Bà Henriette lại một lần nữa, nén nỗi đau, gom góp tiền bạc, tiễn chồng sang Pháp.

Tại Paris dưới sự động viên và hỗ trợ của vợ từ quê nhà, ông Bích cùng bạn mở một nhà xuất bản sách tiếng Việt mang tên Minh Tâm.

Đầu thập niên 1950, ông Bích tiếp tục theo học y khoa và trở thành bác sĩ ung thư tại Pháp.

Đầu thập niên 1960, nhiều thông tin trong chính giới vận động ông như một ứng viên sáng giá có thể thay thế tổng thống đương nhiệm Ngô Đình Diệm trên chức vụ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa qua cuộc bầu cử năm 1961.

Tuy nhiên, hồ sơ ứng cử tổng thống của ông đã bị chính quyền Sài Gòn tuyên bố không hợp lệ vào giờ chót vì “lý do kỹ thuật”.

Năm 1961, vợ chồng bà Henriette quyết định chuyển đến Pháp làm việc, mở phòng mạch riêng và chung sống cùng chồng. Những năm cuối đời, ông Bích mắc bệnh ung thư vòm họng, bà đưa ông trở về Việt Nam dưỡng bệnh và chăm sóc ông cho đến tận ngày ông qua đời vào ngày 4 tháng 12 năm 1966 tại Thủ Đức.

Đối với người con trai riêng của chồng là Nguyễn Ngọc Châu, chính bà là người gợi ý và tận tình hỗ trợ ông bảo lãnh con trai sang Pháp du học và sinh sống cùng khi anh tới tuổi thành niên.

Chính vì vậy mà dù sau khi cha mất, Nguyễn Ngọc Châu vẫn luôn coi bà Henriette giống như mẹ của mình. Khi được hỏi về người chồng quá cố, ở tuổi 101, bà Henriette vẫn minh mẫn trả lời một cách rõ ràng và rành mạch:

“Tôi biết cô hỏi tôi yêu ông Bích vì cái gì phải không? Tình yêu thật kỳ lạ. Người ta yêu nhau không phải vì cái gì cả, chỉ biết là chúng tôi đã yêu thương nhau, cùng nương tựa nhau đi qua những thăng trầm của lịch sử, đời người. Nhưng tôi thương ông Bích vì ông ấy thông minh. Tôi muốn giúp người thông minh, học giỏi đi đến cùng ước mơ của họ. Và vì thế mà tôi sẵn sàng tha thứ, chia sẻ với nỗi khổ tâm rất riêng tư của chồng tôi. Tôi vẫn yêu ông ấy, ngay cả khi ông không còn trên cõi đời này nữa. Vì lẽ đó mà mỗi lần gặp Nguyễn Ngọc Châu, tôi rất vui, vì Châu là phiên bản của chồng tôi. May mà còn có Ngọc Châu. Cuộc sống vẫn kỳ diệu hơn điều người ta nghĩ, phải không?!”.

Những năm cuối đời, bà Henriette sống trong một nhà dưỡng lão cao cấp tại Pháp, đồng thời bày tỏ ý nguyện sẽ dành tặng toàn bộ số tiền tiết kiệm cho một tổ chức từ thiện sau khi bà qua đời.

Ngày 27 tháng 4 năm 2012, bà Henriette mất tại Paris ở tuổi 106.

chuyenxua.net biên soạn

From: TU-PHUNG

Đặt cược của Mỹ vào năng lượng gió đang gặp phải một vấn đề lớn

Theo báo Barrens.

Công nhân kiểm tra khuôn cánh tuabin gió tại một nhà máy ở Đan Mạch. COURTESY OF VESTAS WIND SYSTEMS

Các quan chức công cộng ở New York và Massachusetts đã tung tin phấn khởi vào tháng trước khi các cơ sở tuabin đầu tiên được lắp đặt. Chủ tịch Hạ viện Massachusetts Ronald Mariano cho biết: “Những chiếc cối xay gió cung cấp năng lượng cho hàng trăm nghìn ngôi nhà đang bắt đầu nổi lên khỏi mặt nước. Gió ngoài khơi là một công nghệ quan trọng để khử cacbon cho các trung tâm dân cư ven biển lớn, bao gồm các thành phố như Boston và New York mà có lẽ sẽ không thể trở nên xanh nếu không có nó. Vì vậy, sự xuất hiện của nó là một cột mốc quan trọng trong quá trình chuyển đổi năng lượng của quốc gia.

Trang trại điện gió ngoài khơi đầu tiên của Mỹ, thuộc sở hữu của công ty Đan Mạch Orsted, nằm ở ngoài khơi đảo Rhode Island. Vùng bờ biển phía Đông, đặc biệt hấp dẫn đối với các tua-bin ngoài khơi. DAVID GOLDMAN/AP

Nhưng đằng sau hậu trường, tin tức về năng lượng gió nghiêm trọng hơn. Về mặt tài chính, ngành này đang bấp bênh, với hàng loạt công ty dự định đàm phán lại hoặc rút khỏi hợp đồng, gây nguy hiểm cho các kế hoạch cho các dự án được kỳ vọng sẽ cung cấp điện cho hàng triệu ngôi nhà. Lạm phát đang xóa sạch lợi nhuận, khiến một số công ty năng lượng lớn nhất thế giới phải lùi bước. “Lợi nhuận từ gió ngoài khơi đang ngày càng trở nên khó khăn hơn,”Vỏ bọcGiám đốc điều hành Wael Sawan nói với Barron vào tháng trước, chỉ vài ngày sau khi một liên doanh của Shell cho biết họ sẽ rút khỏi hợp đồng điện ở Massachusetts. Ông cho biết Shell sẽ không xây dựng các dự án năng lượng tái tạo không thể kiếm được lợi nhuận ban đầu tối thiểu từ 6% đến 8%.

Ít nhất tám công ty đa quốc gia ở ba bang đã lặng lẽ bắt đầu rút lui khỏi các hợp đồng gió hoặc yêu cầu đàm phán lại các thỏa thuận theo cách sẽ chuyển nhiều chi phí hơn cho người tiêu dùng. Ngoài Shell (mã: SHEL), chúng bao gồmBP(BP), Đan Mạchdây buộc(DNNGY), Na Uyđiểm phân(EQNR), Tây Ban NhaIberdrola(IBDRY), Bồ Đào NhaEnergias de Bồ Đào Nha(EDPFY) và của Pháptham gia(ENGIY) và Electricite de France thuộc sở hữu nhà nước. Các dự án mà các công ty này đang xây dựng sẽ tiêu tốn tổng cộng hàng chục tỷ đô la để xây dựng và kết nối với lưới điện. Các vấn đề về chi phí mà họ đang phải đối mặt khiến gió ngoài khơi trở thành một đề xuất đầu tư mạo hiểm ngày nay, với khả năng bị ghi giảm đáng kể trong tương lai.

Cam kết khử từ khí thải cacbon của nước Mỹ do vậy cũng đang gặp rủi ro. Tổng thống Joe Biden đã công bố mục tiêu vào năm 2021 là lắp đặt 30 gigawatt điện gió ngoài khơi vào năm 2030, đủ để cung cấp điện cho khoảng 10 triệu ngôi nhà, tăng từ con số 0 như hiện nay. “Chúng tôi sẽ đảm bảo rằng đại dương mở cửa cho năng lượng sạch trong tương lai của chúng ta,” Biden nói vào năm ngoái. Nhà phân tích Mark Freshney của Credit Suisse nói rằng có rất ít cơ hội để đất nước đạt được mục tiêu của Biden.

Các vấn đề với việc khởi động các dự án gió ngoài khơi ở Hoa Kỳ vượt ra ngoài tầm nhìn bị che khuất. Trong nhiều năm, chi phí lắp đặt tua-bin quá cao so với năng lượng mà những tua-bin đó tạo ra.

Người châu Âu ít nhạy cảm hơn với giá cao hơn vì họ đã trả phí điện cao hơn so với người tiêu dùng Mỹ, những người được hưởng lợi từ trữ lượng than và khí đốt tự nhiên dồi dào để tạo ra điện giá rẻ.

Châu Âu bắt đầu xây dựng các trang trại gió vào những năm 1990. Ở trên, tua-bin gió ở Biển Bắc. COURTESY OF VESTAS WIND SYSTEMS

Năng lượng gió trên đất liền rẻ hơn ngoài khơi và đã chiếm 10% sản lượng điện của Hoa Kỳ, nhưng không khả thi ở nhiều khu vực. Các nhà phát triển cần đàm phán với chủ đất tư nhân để có không gian và thường vấp phải sự phản đối vì các tác động trực quan. Tua-bin không thể cao và mạnh bằng tua-bin ở dưới nước. Gió giật ngoài khơi cũng ổn định hơn nhiều so với trên bờ.

Bờ biển phía Đông đặc biệt hấp dẫn đối với các tua-bin ngoài khơi. Nước nông và đáy đại dương là cát chứ không phải đá, cho phép thép được lắp đặt trực tiếp vào lòng đất thay vì phải dựa vào các bệ nổi đắt tiền hơn. Gió luôn mạnh. “Sự kết hợp giữa gió mạnh và vùng nước nông có thể khiến Massachusetts trở thành Ả Rập Saudi của gió,” Hạ nghị sĩ bang Massachusetts Jeff Roy, Chủ tịch Ủy ban Hỗn hợp về Viễn thông, Tiện ích và Năng lượng cho biết.

…Hiện tại ở New York, các nhà máy điện khí đốt tự nhiên chiếm gần 60% công suất phát điện của thành phố. Thành phố khó có thể đạt được mục tiêu nếu không có điện gió ngoài khơi.

Các công ty như BP, Shell và Equinor, nổi tiếng về sản xuất dầu, gần đây đã chuyển sang sản xuất điện gió ngoài khơi để khử cacbon trong hỗn hợp năng lượng của họ trước áp lực của chính phủ và nhà đầu tư. Với dòng tiền cao từ nhiên liệu hóa thạch trong vài năm qua, những công ty đó đã đầu tư lớn vào gió ngoài khơi.

Khi cạnh tranh gia tăng, giá thầu trên diện tích thềm đại dương ở một phần của đại dương ngoài khơi New York đã tăng vọt vào năm ngoái. Một số công ty châu Âu, bao gồm cả các liên doanh liên quan đếnTổng năng lượng(TTE) và Shell, mỗi bên đã trả hơn 700 triệu USD cho các phần dưới đáy đại dương. Theo Freshney, nhà phân tích của Credit Suisse, các lô đất có diện tích ít hơn so với các trang trại mà các công ty khác đã cho thuê với giá dưới 10 triệu đô la trước đại dịch. Ông nói: “Chi phí đã tăng vọt. “Đó là một bong bóng của giá thuê.”

Cơ quan lập pháp của New Jersey cũng vừa thông qua luật sẽ chuyển tiền thuế liên bang đến cho công ty điện gió Orsted để hoàn thành một dự án ngoài khơi được gọi là Ocean Winds 1 sẽ cung cấp đủ điện cho 500.000 ngôi nhà. Những khoản tiền đó trước đây dự kiến ​​​​sẽ đến tay người tiêu dùng điện. Đảng Cộng hòa phản đối nó, với Thượng nghị sĩ bang Edward Durr gọi đó là “khoản tài trợ khổng lồ gây thiệt hại cho các khách hàng tiện ích của New Jersey”, một khoản có thể lên tới 1 tỷ đô la. Orsted nói với Barron’s rằng dự luật chỉ từ chối mỗi người trả giá ở New Jersey khoảng 2,40 đô la mỗi năm và sẽ không dẫn đến việc tăng giá điện thực sự.

Một số công ty đang để mắt đến các chiến lược mới để khiến các dự án điện gió đuọc thành công. Giám đốc điều hành BP, Bernard Looney, cho biết trong một cuộc phỏng vấn với Barron’s vào đầu năm nay rằng BP có kế hoạch thu lợi nhuận bằng cách tích hợp năng lượng mà các tua-bin gió của họ sản xuất vào các phân khúc kinh doanh khác của mình—về cơ bản là bán thêm điện tử cho các doanh nghiệp sạc hydro và xe điện. Ông nói: “Chúng tôi sẽ có nhu cầu 10 gigawatt đối với điện tử trong cơ sở hạ tầng sạc của chính mình. Shell’s Sawan đã vạch ra một chiến lược tương tự.

Nhưng ngay cả với những dự án tiềm năng đó, trường hợp đầu tư công cho điện gió ngoài khơi hiện có vẻ không ổn. Orsted, cách trực tiếp nhất để đặt cược vào gió ngoài khơi, đã ghi lại giá trị của một trong những dự án ở Hoa Kỳ. Cổ phiếu tăng 25% so với mức thấp nhất trong tháng 10, nhưng còn quá sớm để báo hiệu một điều hoàn toàn rõ ràng. Freshney cho biết, ngành công nghiệp này có thể đang ở giai đoạn đầu của một chu kỳ tin xấu, với nhiều công ty khác nhau sẽ bị suy yếu hơn. Các vấn đề khác hiện ra lờ mờ, bao gồm các cuộc biểu tình về cách các tuabin tác động đến cá voi.

Cuối cùng, hàng trăm tua-bin có thể sẽ chạy ào ào dọc bờ biển và cả ở Vịnh Mexico nữa. Chúng sẽ đại diện cho một bước tiến trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu mà giá của nó sẽ là bất cứ điều gì, do đó điện gió vẫn là điều dễ dàng.

Viết thư cho Avi Salzman tạiavi.salzman@barrons.com