Tại sao Chúa Giêsu tỏ ra quan tâm đến các bệnh nhân nhiều đến thế?

Dù bạn đang ở trong bất cứ hoàn cảnh nào hôm nay, hãy luôn nhớ rằng, Chúa không bao giờ bỏ rơi bạn đâu. Hãy vững tin vào Ngài luôn nhé, mọi sự rồi sẽ ổn thôi bạn ạ.

Cha Vương

 Thứ 6: 06/10/2023

GIÁO LÝ: Tại sao Chúa Giêsu tỏ ra quan tâm đến các bệnh nhân nhiều đến thế? Chúa Giêsu đến trần gian để bày tỏ cho thấy tình yêu của Chúa. Người có mặt khi chúng ta đặc biệt bị đe dọa sợ hãi: khi ta bệnh tật Chúa muốn cứu chữa ta cả xác lẫn hồn, Người mời gọi ta tin nơi Người và nhận ra rằng Nước Chúa đang đến. (YouCat, số 240)

SUY NIỆM: Đôi khi ta cũng phải mắc bệnh tật để ý thức rằng: mọi người đều cần đến Chúa dù là có bệnh tật hay không. Bởi vì ta được sống là nhờ Người. Vì thế các bệnh nhân và các tội nhân thường có bản năng đặc biệt ham muốn điều cốt yếu là được sống còn. Ngay thời Tân ước, chính những bệnh nhân là những người tìm cách đến gần Chúa Giêsu; họ cố gắng tìm cách chạm đến Chúa vì có một sức mạnh phát xuất từ Người, và Người chữa lành cho mọi người (Lc 6,19).

Giữa sự xấu hơn của thế giới Kitô giáo và sự tốt hơn của

thế giới ngoại giáo, tôi luôn chọn thế giới Kitô giáo vì thế giới Kitô giáo dành một chỗ cho những người không bao giờ có thể có được chỗ đó trong thế giới ngoại giáo: đó là những người bệnh tật, ốm đau, già nua và yếu đuối, và họ được một điều còn tốt hơn là một chỗ: đó là được tình yêu thương đối với những người mà trong thế giới ngoại giáo và không có Thiên Chúa, người ta đã coi và vẫn còn coi họ là vô ích vô dụng. (Heinrich Boll—1917 – 1985, văn gia

Đức), (YouCat, số 240 t.t.)

❦ Người bệnh tật cảm nghiệm được các sự việc tốt hơn mọi người khác. (Reinold Schneider—1913-1958, văn sĩ người Đức)

LẮNG NGHE: Đức Giê-su đáp lại họ rằng: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. (Lc 5:31)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, trong hoàn cảnh đau đớn, ốm đau, bệnh tật, già nua và yếu đuối xin đừng để con ngã lòng mà quên đi lời Chúa hứa: “Hỡi tất cả những ai gồng gánh nặng nề, hãy đến với Ta, Ta sẽ cho anh em được nghỉ ngơi bồi dưỡng.”

THỰC HÀNH: Mỗi khi đau đớn hãy hết lòng khẩn nài và thốt lên: Lạy Chúa xin ở bên con luôn mãi.”

From: Do Dzung

XIN BÊN CON CHÚA ƠI – Jb. An Ninh I Ca sĩ Tuyết Mai

TRẢI NGHIỆM BỊ TỪ CHỐI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy!”.

Một nhà giáo dục nói, “Điều quan trọng nhất mà cha mẹ có thể giúp trẻ sáng tạo là dạy chúng không sợ thất bại. Để sáng tạo, trẻ cần khám phá và thử thách với những điều mới. Ngoài ra, cần học cách chịu đựng khi bị cười nhạo, sẵn sàng chấp nhận sự chỉ trích và không ngại khác biệt! Đó là một trải nghiệm cần thiết, trải nghiệm bị từ chối!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay cho thấy không phải lúc nào Chúa Giêsu và các môn đệ của Ngài cũng thành công! Họ còn phải “học cách chịu đựng khi bị cười nhạo, chấp nhận chỉ trích và không ngại khác biệt”. Họ cần học biết thế nào là một ‘trải nghiệm bị từ chối!’.

Chúng ta đang sống trong một nền ‘văn hoá thành công!’. Đôi khi giá trị của một người có thể được đánh giá qua mức độ thành công của người ấy ‘chỉ ở một mặt’ nào đó. Và Chúa Giêsu, một người rất dễ chấp nhận người khác, dường như thường bị người khác chối từ. Tin Mừng kể tên ba thành mà Ngài đã công khai quở trách, Ngài nhắc cho dân của những thành này rằng, họ sẽ lãnh lấy hậu quả nếu từ chối Ngài, “Khốn cho ngươi hỡi Chorazin! Bethsaida!”, và “Khốn cho ngươi hỡi Capharnaum!”.

Trong bối cảnh sai các môn đệ đi truyền giáo, Chúa Giêsu đề cập sự khước từ này. Phải chăng, Ngài đang chuẩn bị cho họ điều chắc chắn sẽ xảy đến với bất cứ ai trong tư cách sứ giả của ‘một Thiên Chúa bị từ chối!’. Ngài không ngần ngại tuyên bố mạnh mẽ sự thật sâu sắc của nó, “Ai nghe các con là nghe Thầy; và ai khước từ các con là khước từ Thầy!”; chưa hết, “Mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy!”.

Là những người có đức tin, không ít lần, bạn và tôi cũng trải qua sự ê chề này. Đức tin của bạn, việc làm của bạn, Phúc Âm mà bạn cố sức rao giảng bằng cả cuộc sống… không phải lúc nào cũng được đón nhận nồng nhiệt. Đối tượng của bạn không chỉ là những người không biết Chúa, nhưng còn là những anh chị em trong cộng đoàn, gia đình; hoặc thậm chí với những người có trách nhiệm nhất trong công cuộc loan báo Tin Mừng. Vì một lý do nào đó, có thể họ sẽ coi thường hoặc không tiếp nhận những gì mà một số người đã cống hiến, cho dù đó là những gì tốt đẹp nhất, thiết yếu nhất, những công việc mà không phải ai cũng muốn làm, dám làm và có khả năng làm!

Anh Chị em,

“Ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy!”. Nhân loại đã khước từ Con Thiên Chúa, “Ngài đã đến nhà của Ngài, và người nhà của Ngài đã không tiếp nhận Ngài”. Sự khước từ thê thảm nhất, ‘trải nghiệm bị từ chối’ tột cùng nhất của Chúa Giêsu là cái chết trên thập giá. Vậy mà, sự từ chối Ngài và Tin Mừng của Ngài không bao giờ có tiếng nói cuối cùng. Thiên Chúa có thể tác động một cách mạnh mẽ để thực hiện kế hoạch cứu độ của Ngài thông qua những trải nghiệm như vậy theo những cách mà không phải lúc nào con người cũng có thể hiểu một cách đầy đủ. Vì thế, tất cả những gì Thiên Chúa yêu cầu là bạn và tôi cứ trung thành với lời chứng của mình, bất kể nó được đón nhận như thế nào.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, dạy con học chịu đựng khi bị cười nhạo, chấp nhận sự chỉ trích và không ngại khác biệt, miễn sao con mải miết làm vui lòng Chúa và những gì Chúa muốn!”.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Nguyễn Duy Kiên

Ba’o Đàn Chim Việt

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

05/10/2023

Vài hôm trước, trước khi “toàn dân nô nức” kỷ niệm Ngày Giải Phóng Thủ Đô,  nhà thơ Hoàng Hưng đã viết một câu ngăn ngắn (và hơi khó hiểu) trên trang FB của ông: “Sắp đến ngày 10/10! Biết bao người con tinh hoa của Hà Nội vui mừng đón ngày ấy rồi tan nát cả đời sau ngày ấy huhu…”

Mà chả riêng gì ông nhà thơ mà còn nhiều “nhà” khác (nhà báo, nhà văn, nhà bình luận thời sự… ) cũng đã từng trải qua cái tâm tư “huhu” tương tự :

  • Lê Phú Khải: “Ngày vui ngắn chẳng tày gang”, không khí hồ hởi vui tươi sau chiến thắng Điện Biên Phủ, sau hòa bình lập lại 1954 ở Hà Nội cũng như toàn miền Bắc mau chóng nhường chỗ cho những ngày ảm đạm, u ám của những cuộc ‘đấu tranh giai cấp’, của cải cách ruộng đất, dư cải tạo tư sản, đấu tố bọn “Nhân văn Giai phẩm.”
  • Nguyễn Văn Luận: “ Đỗ Mười về tiếp thu Hải phòng nói rằng các nhà tư sản vẫn được làm ăn bình thường. Một tháng sau, cha tôi bị tịch thu tài sản. Trở về Hà Nội, trắng tay, cả nhà sống trong túp lều ở ngoại ô, cha tôi đi đánh giậm, vớt tôm tép trong các ao hồ, rau cháo nuôi vợ con.”
  • Nguyễn Khải: “Một nửa nước được độc lập nhưng lòng người tan nát tài sản một đời chắt chiu của họ bị nhà nước tịch thu hoặc trưng thu khiến họ trở thành những người vô sản bất đắc dĩ. Tầng lớp trí thức chẳng có tài sản gì ngoài cái đầu được tư duy tự do, thì cái đầu cũng bị nhà nước trưng thu luôn.
  • Trần Đĩnh: “Chú họ tôi ở ngã năm Nguyễn Du – Bà Triệu, một công chức lưu dụng… Tin yêu Cụ Hồ, chú ở lại cùng công nhân viên bảo vệ Sở điện nên được lưu dụng… Thình lình cắt tiêu chuẩn lưu dụng, lương tụt một nhát ngỡ như chính bản thân chú bị sập hầm.”

Riêng với “nhà nhiếp ảnh” thì còn bị nhà nước cách mạng đối xử cách riêng (khắt khe và tàn tệ  hơn nhiều) theo như ghi nhận của tác giả Nguyễn Quỳnh Hương :

Nhà nhiếp ảnh Nguyễn Duy Kiên (1911-1979) sinh ra và sống giữa lòng phố cổ Hà Nội. Ông chơi ảnh và chụp ảnh chỉ như để ghi lại ký ức của mình về một Hà Nội mà cả đời ông và gia đình gắn bó. Hà Nội hiện diện trong ảnh của Nguyễn Duy Kiên ăm ắp tình với những khuôn diện thanh lịch, những di tích già nua nhuộm màu thời gian nhưng đầy sức sống, những vùng quê ngoại ô lam lũ mà vẫn toát lên cốt cách của một xứ sở văn hiến.

Chủ nhân của những bức hình tuyệt đẹp về Hà Nội lại có một số phận nhiều buồn thương… Đam mê nhiếp ảnh từ thời trai trẻ, Nguyễn Duy Kiên là bạn ảnh cùng thời với Lê Đình Chữ, Võ An Ninh, Phạm Văn Mùi, Đỗ Huân… Ông chơi ảnh rất công phu: sắm buồng tối tại nhà, tự tay in phóng ảnh, mày mò tìm ra các kỹ xảo.

Rời hiệu thuốc là ông lại lang thang khắp hang cùng ngõ hẻm của Hà Nội để ghi lại từng vẻ đẹp phong cảnh và con người, những biến chuyển thời cuộc in dấu lên từng con phố mà ông thân quen từ thơ bé.

Nguyễn Duy Kiên chụp ảnh cho Hà Nội của chính ông. Những khuôn hình nghiêm cẩn, kỹ càng  và chan chứa tình. Sau này, khi di sản tinh thần của ông đến tay những nhà chuyên môn, họ đã choáng váng vì những bức ảnh quá đẹp. Quan trọng hơn – di sản ấy còn là những sử liệu vô giá bằng hình ảnh về Hà Nội trong suốt 20 năm nhiều biến động 1940-1960.

Với 5 đứa con, người vợ đảm đang hết mực tin yêu chồng, Nguyễn Duy Kiên yên ổn với cuộc sống của mình – chỉ cần ông còn được chụp ảnh. Nhưng tai nạn đã ập đến với họ bất ngờ, để rồi tổ ấm của họ phải sẻ đàn tan nghé.

 Đó là một ngày của năm 1967, Nguyễn Duy Kiên có lệnh khám nhà. Người ta tìm thấy trong kho ảnh của ông có 1 tấm hình khỏa thân. Sau này bạn bè ông nói đó là tấm ảnh một người đến phóng nhờ buồng tối rồi để quên lại, cũng có người nói ông chụp để gửi dự thi quốc tế, vì BTC yêu cầu hồ sơ bộ ảnh phải đủ tĩnh vật- phong cảnh- chân dung và ảnh khỏa thân. Không ai biết chính xác “lý lịch”  tấm ảnh định mệnh ấy, còn Nguyễn Duy Kiên thì chỉ im lặng.  Bị kết tội chụp ảnh suy đồi cái tội đủ để làm tan nát danh dự một gia tộc.

Quá khứ đã qua, nhưng ám ảnh kinh hoàng vẫn đọng trong lời kể của bà Kiên: “Chồng tôi đau đớn lắm, nhưng ông biết thời thế, biết phận mình phải như thế. Oan khuất biết kêu ai? Nên bố cháu chỉ im lặng.

Ông bị xử điển hình, kết án 11 năm tù. Chồng tôi cải tạo tận Lào Cai- xứ rừng thiêng nước độc. Cứ nửa năm tôi và cháu lớn lại được lên thăm bố cháu một lần, đường rừng toàn đá tai mèo nhọn sắc, hai mẹ con đi bộ hàng chục cây số máu rỏ dọc đường. Mỗi lần thăm  bố cháu lại tiều tụy hơn”.

Ông bị bệnh thận, bà Miễn viết đơn xin giảm án cho chồng, Nguyễn Duy Kiên đựơc trở về với gia đình sau 8 năm thụ án. Ông về, nhớ nghề ảnh thì mang máy ra chụp loanh quanh trong nhà, ông không dám ra ngoài, bạn bè cũng e ngại không còn ai lui tới.

Đoàn tụ của họ lặng lẽ và ngậm ngùi, chẳng nỡ làm nhau đau hơn – ông không kể những ngày trên trại, bà không kể những năm tháng một mình tủi cực nuôi con. Năm 1979, ở với vợ con đựoc 4 năm thì ông mất vì sức khỏe suy kiệt. Bà Kiên vẫn rơm rớm nước mắt khi nhớ lại: “Khi bố cháu mất, danh dự vẫn chưa được rửa, ông ấy xuôi tay mà không nhắm được mắt…”

Gần nửa thế kỷ đã qua (kể từ khi Nguyễn Duy Kiên nhắm mắt xuôi tay) nhưng nỗi oan khuất của ông và tâm cảm u uẩn của bà chưa bao giờ thực sự được quan tâm hay chia sẻ bởi bất cứ ai, ngoài những lời lẽ đãi bôi của giới truyền thông nhà nước:

Báo Tiền Phong: “Trải qua bao nỗi gian truân, may mắn thay, ngần ấy năm trời, bà quả phụ Nguyễn Duy Kiên vẫn lưu giữ lành lặn được hơn 200 tác phẩm của chồng. Ấy cũng là nề nếp gia phong, nghĩa tình chung thủy của người Hà Nội xưa”.

Báo Vnexpress: “Nguyễn Duy Kiên từng là nghệ sĩ nổi tiếng trong giới nhiếp ảnh Hà Nội, cùng thời với Võ An Ninh, Phạm Văn Mùi, Nguyễn Cao Đàm… nhưng hầu như đã bị hậu thế lãng quên.”

Báo Nhịp Sống Hà Nội: “Số phận đã không cho Nguyễn Duy Kiên may mắn được chụp, trưng bày và xuất bản nhiều nhưng di sản mà ông để lại là những sử liệu vô giá bằng hình ảnh về Hà Nội trong suốt 20 năm nhiều biến động 1940-1960. Đây là món quà quý giá mà ông gửi lại cho Hà Nội của chúng ta hôm nay.”

Báo Nông Nghiệp: “Tiếp lửa tình yêu nghệ thuật, lưu giữ những khoảnh khắc lịch sử vô giá cho những người đang sống hôm nay, nhưng NSNA Nguyễn Duy Kiên dường như bị quên lãng. Hà Nội đã tôn vinh nhiều cá nhân, vậy mà cái tên Nguyễn Duy Kiên đến nay vẫn chưa được trân trọng đánh giá đúng với những gì ông xứng đáng được vinh danh.”

Vấn đề e không giản dị thế đâu!

Hà Nội không thể ngang nhiên mang một nghệ sỹ đi chôn sống, rồi lại thản nhiên “vinh danh” nạn nhân bằng cách in lại tác phẩm của đương sự (bằng tiền tài trợ của một công ty nước ngoài) và coi “đây là món quà quý giá mà ông gửi lại cho Hà Nội của chúng ta hôm nay.”

 Hà Nội không thể chà đạp lên cuộc đời của một người dân cho đến mức bầm dập te tua rồi đổ thừa (“số phận đã không cho tác phẩm Nguyễn Duy Kiên may mắn được chụp, trưng bày và xuất bản”) tỉnh rụi như vậy được.

Hà Nội cũng không ai có thể giày xéo lên số phận của cả một gia đình, buộc một người phụ nữ đơn chiếc phải tần tảo nuôi mấy đứa con thơ, rồi xưng tụng đó là nhờ vào “nề nếp gia phong, nghĩa tình chung thủy của người Hà Nội xưa.”

Tội ác đâu có dễ lấp liếm hay che dấu như thế!

Giáo dục thời Việt Nam Cộng Hòa – Nam Sơn Trần Văn Chi

Thuha T. Tran

– Thu Hương post-

Sau năm 1954 nước Việt Nam bị chia làm hai, từ vĩ tuyến 17 trở vô đến Cà Mau có 20 triệu dân, là vùng đất Tự Do, theo chế độ Cộng Hòa, thủ đô là Sài Gòn. Nước VNCH về hành chánh chia ra 40 tỉnh và về quân sự chia ra 4 vùng chiến thuật

Vùng I có 5 tỉnh: Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi.

Vùng II có 12 tỉnh: Kontum, Bình Ðịnh, Pleiku, Phú Bổn, Phú Yên, Darlac, Khánh Hòa, Quảng Ðức, Tuyên Ðức, Ninh thuận, Lâm Ðồng, Bình Thuận.

Vùng III có 9 tỉnh: Tây Ninh, Bình Long, Phước Long, Bình Dương, Long khánh, Bình Tuy, Gia Ðịnh, Biên Hòa, Phước Tuy.

Vùng IV có 17 tỉnh là Châu Ðốc, Kiến Phong, Kiến Tường, Hậu Nghĩa, Kiên Giang, An Giang, Vĩnh Long, Ðịnh Tường, Long An, Chương Thiện, Phong Dinh, Vĩnh Bình, Kiến Hòa, Gò Công, An Xuyên Bạc Liêu, Ba Xuyên.

Những năm đầu sau khi Pháp rút về nước, giáo dục Việt Nam tiếp tục cái gì có trước. Cho đến Ðại Hội Giáo Dục Toàn quốc năm 1958, VNCH mới xây dựng nền giáo dục độc lập dựa trên 3 nguyên tắc: Nhân Bản-Dân Tộc và Khai Phóng.

– Nhân Bản: Giáo dục coi con người là cưu cánh, tôn trọng giá trị thiêng liêng của con người.

– Dân Tộc: Giáo dục tôn trọng giá trị của gia đình, quốc gia, phù hợp với truyền thống văn hóa, phong tục, đạo đức Việt Nam.

– Khai Phóng: Giáo dục theo phương pháp khoa học, nội dung khoa học, theo đà tiến bộ của nhân loại và tôn trọng giá trị các quốc gia khác.

Giáo dục VNCH có ba cấp như các nước trên thế giới là: tiểu học, trung học và đại học.

Bậc tiểu học học trình 5 năm

Từ lớp 1 đến lớp 5. Trẻ em từ 6 tuổi được cha mẹ ghi tên vào lớp 1, học miễn phí. Tuy VNCH không có chủ trương cưỡng bách giáo dục, nhưng do phụ huynh có ý thức cao cho nên tất cả trẻ em hầu như đều học qua bậc tiểu học.

Chương trình học gồm các môn Việt Văn, Toán, Khoa học Thường thức và Ðức Dục hay Công Dân Giáo Dục.

Giáo dục tiểu học thời VNVH phát triển nhanh chóng và vượt trội so với thời Tây đặc biệt vế số lượng học sinh. Thời Tây 1930, toàn Ðông Dương có 406,669 học trò gồm sơ và tiểu học trong đó có 20% là học trò Lào và Miên.

Thời Ðệ I Cộng Hòa, năm học 1960 miền Nam có 1 triệu 214,621 học sinh tiểu học, 112, 129 học sinh trung học. Tăng 200% so với niên học 54-55, lúc mới thâu hồi độc lập từ tay Pháp.

Bậc trung học chia ra 2 cấp

  1. Trung Học Ðệ I Cấp/Trung học Cấp I: học trình 4 năm, có 4 cấp lớp 6, 7, 8, 9:

Học sinh vào trường công phải thi tuyển, không đậu có thể học trường tư. Chương trình gồm Việt Văn, Lý Hóa, Vạn Vật, Toán, Sử Ðịa, Công Dân và Sinh Ngữ. Môn Nhiệm Ý là Nhạc, Hội họa, Thể thao, Nữ công dành cho nữ sinh.

Cuối năm thứ Tư/lớp Ðệ Tứ, học sinh thi lấy bằng Trung Học Ðệ I Cấp.

Ðậu bằng Trung Học Ðệ Nhứt Cấp học sinh có thể ra đi làm, có thể thi vào trường Sư Phạm Cấp Tốc để trở thành giáo viên tiểu học; hoặc tiếp tục học tiếp lên.

  1. Trung Học Cấp II Cấp/Trung học cấp II: học trình 3 năm, có 3 cấp lớp 10, 11, 12:

Muốn vào học lớp 10, phải có bằng Trung Học Ðệ I Cấp. Học sinh học các môn như Trung Học Ðệ I Cấp nhưng sâu hơn và có thêm môn Triết Học cho học sinh lớp 12.

Từ lớp 10, có phân 4 ban: Ban A Khoa Học Thực Nghiệm), Ban B (Toán), Ban C (Sinh Ngữ), Ban D (Cổ Ngữ). Học sinh tự do chọn ban theo sở thích cá nhân.

Xong lớp Ðệ Nhị tức lớp 11, học sinh thi lấy bằng Tú Tài I. Học tiếp lớp 12/Ðệ Nhứt, thi lấy bằng Tú Tài II.

Trường Trung Học Nguyễn Ðình Chiểu Mỹ Tho là một trường trung học có lâu đời ở miền Nam.

Trường Nguyễn Ðình Chiểu Mỹ Tho khởi đầu từ một trường Tiểu Học (École Primaire) gọi là trường tỉnh, dạy tới lớp Nhứt. Lúc đó trường tiểu học Mỹ Tho bằng lá, cất ở gần khu Nhà Việc làng Ðiều Hòa, nay là khu Trung Tâm Thương Mại Mỹ Tho.

Năm sau trường tiểu học Mỹ Tho dời đến nơi mà trước kia là nhà của vị quan triều Vua Tự Ðức tên là Ngô Phước Hội, gần tòa bố.

Ngày 14 Tháng Sáu 1880, Le Myre de Vilers thống đốc Nam Kỳ ban hành nghị định 17 Tháng Ba 1879, cho phép tỉnh Mỹ Tho thành lập một trường trung học lấy tên là trường là “Collège de My Tho”, trường trung học đầu tiên ở xứ Nam Kỳ.

Collège de My Tho (lúc đầu còn bao gồm cấp tiểu học) thành lập trên khu đất rộng 25,000 mét vuông, 4 hướng bao bọc bởi 4 con đường. Hướng Ðông có cổng chánh quay ra đường số 9, sau đổi tên là Rue D’Aries, đến 7 Tháng Tư 1954 Thủ Hiến Nam Phần đổi tên là đường Lê Lợi tới nay.

Hướng Tây quay ra đường Filippini nay là Hùng Vương.

Hướng Bắc quay ra là đường số 3, sau đổi tên là Colombert, rồi Maréchal Pétain, Albert Buissiere, đến ngày 7 Tháng Tư 1954 Thủ Hiến Nam Phần đổi tên là đường Ngô Quyền tới nay.

Hướng Nam quay ra đường số 20, rồi sau đổi tên Rue de Landes, ngày 7 Tháng Tư 1954 Thủ Hiến Nam Phần đổi tên là đại lộ Lê Ðại Hành tới nay.

Collège de My Tho hoạt động được 10 năm, đến ngày 11 Tháng Mười Hai 1889 Thống đốc Nam Kỳ ra lịnh đóng cửa hệ trung học (tiểu học vẫn tiếp tục) vì không có ngân sách, cho nên học trò một số có tiền lên Sài Gòn học ở trường Collège D’Adran.

Ðến năm 1894 Collège D’Adran ngưng hoạt động nên Thống Ðốc Nam Kỳ phải mở lại trường Collège de My Tho để thâu nhận học trò Lục Tỉnh.

Năm 1941, Nhựt chiếm Mỹ Tho lấy Collège de My Tho làm nơi đóng quân, một số lớp dời đến học tại đình Ðiều Hòa cho tới năm 1942 Nhựt mới chuyển đi nơi khác.

Ngày 2 Tháng Mười Hai 1942 trường đổi tên là Collège Le Myre de Vilers. Năm 1953 tổng trưởng giáo dục Việt Nam là Nguyễn Thành Giung ký Nghị định 179-NÐ ngày 22 Tháng Ba 1953 đổi tên trường Collège Le Myre de Vilers thành trường trung học Nguyễn Ðình Chiểu tới nay.

Giáo viên tiểu học trước năm 1975 có chỉ số 250, giáo học bổ túc là 320, giáo sư Ðệ I cấp chỉ số 400, Ðệ II cấp lên 470. Lương giáo viên, giáo sư như thế so với ngạch công chức và quân đội, tương đối cao, nên đời sống bảo đảm, thư thả; đặc biệt vị trí người thầy luôn được xã hội tôn trọng, cha mẹ học sinh kính nể.

“Muốn sang thì bắc cầu kiều,

Muốn cho hay chữ phải yêu mến thầy”.

(Ca dao)

Bậc đại học đào tạo cử nhân, cao học và tiến sĩ.

Sau Thế Chiến Thứ II, Pháp trở lại Việt Nam, Ðại Học Ðông Dương ở Hà Nội được đổi tên là Ðại Học Hà Nội, viện trưởng vẫn là người Pháp. Sau đó có một số khoa được mở ở Sài Gòn như Luật, Y khoa và Khoa Học, do phó viện trưởng là người Việt điều hành.

Sau năm 1954, chi nhánh đại học Hà Nội tại Sài Gòn cải tên là Viện Ðại Học Quốc Gia Việt Nam, đến năm 1957 đổi tên là Viện Ðại Học Sài Gòn, tên nầy giữ cho tới năm 1975.

Khi bắt đầu diễn ra Hội Nghị Paris (trong kế hoạch chuẩn bị hậu chiến) năm 1972 VNCH thành lập Hệ Thống Ðại Học Cộng Ðồng, năm sau 1973 Viện Ðại Học Bách Khoa Thủ Ðức thành lập.

Hệ thống đại học ở VNCH không thuộc Bộ Giáo Dục, và cũng không có cơ quan chủ quản (trư trường Y Dược thuộc Bộ Y Tế chủ quản). Ðại học Việt Nam tự trị về học vụ chuyên môn. Ngân sách của đại học là bộ phận trong ngân sách Bộ Giáo Dục do Quốc Hội chuẩn duyệt hàng năm; nhân viên và giáo sư đại học thuộc Tổng Ủy Công Vụ.

Ðại học VNCH bấy giờ có hai hệ thống: Ðại Học Quốc Gia và Ðại Học Cộng Ðồng Ðịa Phương.

Ðại Học cấp Quốc Gia:

  1. Viện Ðại Học Sài Gòn:

Sau năm 1954, Viện Ðại học Hà Nội chuyển vào Nam nhập vào Viện Ðại Học Sài Gòn. Viện có 8 phân khoa là Y, Dược, Nha, Sư Phạm, Khoa Học, Văn Khoa, Luật và Kiến Trúc. Có đại học xá Minh Mạng dành cho nam, Trần Quý Cáp dành cho nữ, có trung tâm Y tế chăm sóc sức khỏe cho sinh viên.

  1. Viện Ðại Học Huế:

Thành lập theo sắc lịnh VNCH-1 do Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ký vào Tháng Ba năm 1957 gồm có 4 khoa như Sư Phạm, Y khoa, Văn khoa và Luật.

  1. Viện Ðại Học Cần Thơ:

Ðược thành lập ngày 31 Tháng Ba 1966 do nghị định của chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương ký. Có 4 khoa là: Khoa Học, Văn Khoa, Sư Phạm, Luật & Khoa Học Xã Hội.

  1. Học Viện Quốc Gia Hành Chánh thuộc Phủ Thủ Tướng:

Học viện được thành lập từ 29 Tháng Năm 1950 theo Quyết Ðịnh của Chánh Phủ Quốc Gia Việt Nam (tên gọi lúc đó), lúc đầu đặt ở Ðà Lạt, năm 1958 dời về đường Trần Quốc Toản, Sài Gòn.

  1. Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, thuộc Bộ Quốc Phòng:

Sinh viên học 4 năm, môn chánh là võ khoa; môn phụ là Toán, Khoa học tự nhiên, Khoa học Xã Hội. Tốt nghiệp bằng Cử Nhơn Võ Khoa, một ngành mới mẻ đối với Việt Nam.

  1. Viện Ðại Học Bách Khoa Thủ Ðức:

Thành lập do sắc lệnh của tổng thống VNCH, và hoạt động chánh thức năm 1974.

Viện bao gồm một số trường có trước như Trung Tâm Phú Thọ, Ðại Học Nông Nghiệp, Ðại Học Kỹ Thuật. Viện có lập một số trường mới như là Ðại Học Kinh Thương, Ðại Hoc Khoa Học Căn Bản, Ðại Học Thiệt Kế Ðô Thị và Nông Thôn…

Ðại học Cộng Ðồng Ðịa Phương

Trường Ðại Học Cộng Ðồng Ðịa Phương chỉ huấn luyện về chuyên môn và thực dụng, học trình 2 năm.

Cho tới năm 1975, VNCH có 5 trường:

– Ðại Học Cộng Ðồng Quãng Ðà

– Ðại Học Cộng Ðồng Nha Trang

– Ðại Học Cộng Ðồng Tiền Giang Mỹ Tho

– Ðại Học Cộng Ðồng Long Hồ Vĩnh Long

– Ðại Học Cộng Ðồng Ban Mê Thuột, mới có quyết định.

Giáo Dục Việt Nam trước 1975 ngoài hệ thống công lập còn có hệ thống trường tư.

Ðại học tư trước năm 1975 :

– Viện Ðại Học Ðà Lạt

– Viện Ðại Hoc Minh Ðức

– Viện Ðại Học Vạn Hạnh

– Viện Ðại Học Cao Ðài/Tây Ninh

– Viện Ðại Học Hòa Hảo/An Giang

Nền giáo dục Việt Nam mình từ thời dạy và học bằng chữ Hán, chữ Tây đến chữ Việt lúc nào cũng lấy phương châm “Tiên học Lễ, Hậu học Văn” làm gốc.

Từ năm 1954 nền giáo dục Việt Nam Cộng Hòa phát triển nhanh, chú trọng chuyên môn khoa học nhưng không buông lơi giáo dục đạo đức-luân lý cho học sinh, nhứt là bậc tiểu học.

Học sinh tiểu học trước năm 1975 được dạy Ðức Dục, Công Dân Giáo Dục từ 2 giờ đến 2 giờ 30 phút mỗi tuần. Học sinh trung học, môn Công Dân Giáo Dục 2 giờ mỗi tuần.

Nam Sơn Trần Văn Chi

(Nguồn Bảo tồn văn Hoá)

Hạ vi

CÁI TÔI CỦA NGƯỜI VIỆT- TS Alan Phan, đã qua đời

Pham Mylan – Những câu chuyện Nhân Văn

Một dân tộc chỉ trưởng thành khi mỗi người biết đến sự khiêm tốn.

(trích dẫn từ một bài viết của TS Alan Phan, đã qua đời)

Bài: Matthew NChuong

Nước Việt nghèo, chậm tiến, lạc hậu. Đáng lẽ người Việt phải khiêm nhượng, biết người, biết mình.

Thảo luận với người Việt rất khó, vì ai cũng nghĩ là mình nắm chân lý trong tay. Nghĩ khác là xúc phạm anh ta, xúc phạm chân lý, bôi nhọ sự thật. Phải căm thù, phải tiêu diệt, phải triệt hạ, phải tố cáo, chụp mũ.

Cái tôi lớn, phải chăng đó là nét đặc thù của một dân tộc đầy tự ti mặc cảm?

******

Tôi gặp không biết bao nhiêu người vỗ ngực, tự cho mình là vĩ nhân.

In một hai cuốn sách tào lao tặng bố vợ, nghĩ mình ngồi chung một chiếu với Marcel Proust, Victor Hugo.

Làm vài bài thơ, câu trên vần (hay không) với câu dưới, nghĩ mình là Baudelaire, Nguyễn Du tái sinh.

Lập một cái đảng có ba đảng viên, kể cả em gái và mẹ vợ, nghĩ mình là lãnh tụ, ăn nói như lãnh tụ, đi đứng, tắm rửa như lãnh tụ.

Viết vài bài lăng nhăng, đầu Ngô mình Sở, nghĩ mình là triết gia, trí thức, sẵn sàng dẫn dân tộc đi lên (hay đi xuống).

*****

Thomas Edison nói: nếu hài lòng với đèn dầu, tìm cách cải thiện đèn dầu, sẽ không bao giờ kiếm ra điện. Còn người Việt ta dễ thoả mãn quá, dễ kiêu hãnh quá, dễ “tự sướng” quá.

Mỗi lần tôi nghe, hay coi Jean Marie Le Clézio, Patrick Modiano trong những chương trình văn học trên France Culture, hay trên France 5, ít người nghĩ họ đã chiếm giải Nobel Văn chương.

Le Clézio (Nobel 2008) khoanh tay, chăm chú nghe một tác giả vừa chân ướt chân ráo vào nghề, nói về một cuốn sách đầu tay.

Modiano (Nobel 2014) tìm chữ một cách khó khăn, ngượng ngập, ít khi chấm dứt một câu, như muốn nói: Thôi, bỏ qua đi, những điều tôi muốn nói chẳng có gì đáng nghe. Ông ta thực sự ngạc nhiên không hiểu tại sao có người nghĩ đến mình để trao giải.

Ông ta nói có người đọc sách của mình đã là một phép lạ.

Những năm đầu ở Pháp, có thời tôi cư ngụ Rue Marcadet, Paris. Bên cạnh là một cặp vợ chồng già, hiền lành, bình dị như một cặp thư ký hay công nhân về hưu. Mỗi lần gặp ở thang máy, bà vồn vã chào, hỏi thăm đủ chuyện.

Tuyệt nhiên không bao giờ ông bà nói về mình. Nếu không coi TV, chắc không bao giờ tôi biết bà là Yvonne Loriot, danh cầm hàng đầu của Pháp, chiếm giải nhất 7 lần khi học ở Conservatoire de Paris, trước khi trở thành một giáo sư âm nhạc có uy tín.

Ông là Olivier Messaien, một trong những tác giả nhạc cổ điển lớn nhất của hậu bán thế kỷ 20. Rất nhiều các nhạc sư, nhạc trưởng nổi tiếng ở Âu Châu, như Pierre Boulez, Iannis Xenakis hãnh diện là đệ tử của ông. Tác phẩm opéra “Saint-Francois d’Assise”của ông được trình diễn trên khắp thê giới, được đón nhận như những tác phẩm của Mozart, Beethoven.

Ông bà sống trong một căn nhà bình dân, ăn uống đơn giản như một cặp vợ chồng nghèo. Tiền bản quyền nhạc đem tặng – một cách kín đáo – các hội từ thiện, hay giúp trùng tu nhà thờ Notre Dame de Lorette gần nhà. Những lúc rảnh rỗi, bà theo ông vào rừng, thu thanh để nghiên cứu tiếng chim hót.

*****

Khi nào ta có những người như Modiano, Le Clézio, Messaien – chưa nói tới tài năng, chỉ nói tới thái độ khiêm tốn – Việt Nam sẽ là một dân tộc trưởng thành.

Chúng ta đều đồng ý với nhau là đất nước đang trên bờ vực thẳm, không thể nhẫn tâm khoanh tay nhìn.

Nhưng chúng ta không ngồi nổi với nhau, vì cái TÔI nó lớn quá. Lớn hơn cả vận mệnh dân tộc

Sưu tầm

My Lan Phạm

VƯỜN NHO CUỘC ĐỜI – TGM Giuse Vũ Văn Thiên

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Cha mẹ sinh con bao giờ cũng đặt niềm kỳ vọng nơi con cái, với ước mong chúng sẽ thành đạt và là người có ích cho xã hội.  Có những người cha mẹ được toại nguyện và tự hào về con cái mình; nhưng cũng có những người cha mẹ đau khổ vì những đứa con bất hiếu, thậm chí còn là nỗi hổ nhục cho bậc sinh thành.  Thiên Chúa là Cha của hết thảy mọi người.  Cũng như những bậc cha mẹ ở trần gian, Ngài luôn muốn cho chúng ta được những điều tốt lành.  Khi tạo dựng con người và vũ trụ, Thiên Chúa muốn san sẻ cho họ một phần vinh quang và sự tốt lành của Ngài cho mọi tạo vật.  Có nhiều người đã cậy dựa vào ơn Chúa, cố gắng vượt qua những cám dỗ thử thách để nên thánh, như những đứa con sống đẹp lòng cha mẹ, hiếu thảo với đấng sinh thành; nhưng cũng có những người khước từ lời mời gọi của Ngài, cố tình sống trong ích kỷ và tội lỗi, giống như những người con bất hiếu phản nghịch.  Tình trạng này được diễn tả trong đoạn trích sách ngôn sứ Isaia.

Parable of the Workers in the Vineyard – The Rollo and Slappy Show

Israen là một đất nước nghề trồng nho phát triển, vì thế những chi tiết liên quan đến cây nho, cành nho, vườn nho, người trồng nho, việc cắt tỉa chăm sóc cây nho được nhắc tới nhiều lần trong Cựu Ước.  Đây là Chúa nhật thứ ba liên tiếp, Phụng vụ dùng hình ảnh vườn nho để giáo huấn chúng ta về lòng thương xót của Chúa.  Đặc biệt trong Chúa nhật XXVII này, Bài sách thánh thứ nhất và bài Tin Mừng cùng nói về vườn nho.  Trước hết chúng ta thấy Lời Chúa trong sách ngôn sứ Isaia, vừa như một lời than vãn, vừa như một lời trách móc giận hờn.  Quả vậy, Thiên Chúa giống như người trồng nho, thế gian này là một cánh đồng nho mênh mông rộng rãi.  Người trồng nho chăm bẵm chuyên cần, mong thu được những hoa thơm trái ngọt.  Tuy vậy, khi đến mùa hái nho, trái ngọt đâu chẳng thấy, chỉ thấy nho dại và trái đắng.  Tâm huyết và kỳ vọng của chủ vườn nho đã trở nên vô nghĩa.  Người trồng nho thất vọng và sẽ để cho vườn trở thành tan hoang tiêu điều.  Ngôn sứ Isaia đã được sai đến để chuyển tải cho người Do Thái một thông điệp: họ là những kẻ bất trung.  Họ không đền đáp cân xứng tình yêu thương và bao dung nhân hậu của Chúa.  Họ sẽ phải lãnh lấy những án phạt xứng với tội ác họ đã phạm.  Đất nước sẽ ra hoang vu, vì tội lỗi và bất trung của dân phản nghịch.

lectionarypondering: Matthew 20:1-16

Tiếp nối giáo huấn của Cựu ước, Đức Giêsu trong Tin Mừng Thánh Matthêu cũng dùng hình ảnh vườn nho.  Dụ ngôn nhấn mạnh đến mối tương quan giữa ông chủ vườn và những người thợ làm vườn, cũng gọi là những tá điền.  Trong câu chuyện này, những tá điền được diễn tả như những người bất lương, tham lam mưu mô chiếm đoạt tài sản của ông chủ, là người đã cưu mang và tạo việc làm cho mình.  Từ thân phận người làm thuê, họ muốn thay ngôi đổi chủ để trở thành người giàu có.  Họ cố tình chiếm hữu tài sản không phải là của mình.  Họ vừa cướp của, vừa giết người.  Mà người bị giết là con của ông chủ, tài sản bị cướp là tài sản của ông chủ, người rất tốt với họ, sẵn sàng đón nhận họ kể cả ở giờ thứ mười một và trả lương cho họ cách hào phóng (Tin Mừng chúa nhật trước).  Những chi tiết này của câu chuyện đã nêu bật sự gian ác bất lương của họ.

Với một dụ ngôn ngắn, Chúa Giêsu đã phác họa toàn bộ lịch sử cứu chuộc với những can thiệp của Thiên Chúa, vào những giai đoạn khác nhau nhằm đem lại cho con người hạnh phúc.  Tuy vậy, con người đã khước từ tình thương của Thiên Chúa.  Đối lại với những lời giảng dạy nhằm thiết lập tình bác ái, những thượng tế, luật sĩ,biệt phái và một số người Do Thái đã lên án tử cho Chúa.  Chúa Giêsu là Con Một của Thiên Chúa, đã bị kết án tử hình thập giá và đã chết ngoài thành Giêrusalem, như người con thừa kế bị giết bên ngoài vườn nho.

Nếu Thiên Chúa luôn luôn ban ơn và hướng dẫn hầu đem lại cho con người hạnh phúc, thì con người lại khước từ và phản bội Chúa.  Thái độ của những người tá điền cũng là thái độ của con người nói chung, nhất là của những tội nhân.  Nhiều lần chúng ta khước từ lời mời gọi của Chúa.  Thay vì làm theo ý Chúa thì chúng ta lại làm theo ý mình, thậm chí làm những điều trái ngược với lời dạy của Người.

Như thế, hình ảnh vườn nho diễn tả cuộc sống trần gian của chúng ta.  Thiên Chúa đã đặt chúng ta trong “vườn-cuộc-đời.”  Ngài thường xuyên chăm sóc, tỉa cảnh để chúng ta đem lại những hoa thơm trái ngọt cho đời..  “Tôi những mong trái tốt, sao nó sinh nho dại…  Chúa chỉ mong con người sống công bình, mà chỉ thấy toàn là đổ máu; đợi chờ họ làm điều chính trực, mà chỉ nghe vẳng tiếng khóc than” (Bài đọc I).

Cả bài Sách Thánh trích ngôn sứ Isaia cũng như bài Tin Mừng của Chúa nhật này đều có phần kết không mấy sáng sủa: đó là những lời cảnh cáo và trừng phạt vì một lối sống bất nhân, thiếu đạo đức, lỗi công bằng.  Phải chăng cả hai bài đọc Lời Chúa này đều diễn tả thực trạng của xã hội hôm nay: đó là sự bất trung và coi nhẹ Thượng đế cũng như các giá trị thần linh.  Giống như những tá điền bất lương, con người hôm nay muốn thay thế vị trí của Thiên Chúa.  Họ còn dám coi mình là thượng đế, có thể giải đáp được mọi vấn nạn và đáp ứng mọi nhu cầu của con người.  Những thông tin thời sự gần đây cho thấy nhà cầm quyền Trung Quốc vẫn tiếp tục thi hành chiến dịch đập phá nhà thờ, xúc phạm các nơi thiêng thánh của các tôn giáo, trong đó có những nơi thờ tự thiêng liêng của Phật giáo đã tồn tại trên ngàn năm.  Theo một nguồn tin cho biết, trong năm 2019, chính quyền Trung Quốc đã triệt hạ khoảng 900 nhà thờ Kitô giáo.  Họ còn báng bổ tôn giáo đến nỗi xây nhà vệ sinh trên những nền cũ của nhà thờ, nhà chùa, đốt sách vở tôn giáo và đập phá ảnh tượng.  Những hành động phỉ báng thần linh chắc chắn sẽ phải lãnh nhận hậu quả.

Theo các bản tin địa phương và các nhà hoạt động nước ngoài, Nhà thờ Chân đèn Vàng ở tỉnh Sơn Tây đã bị cảnh sát bán quân sự phá hủy trong tuần này.

Tín dụng…ChinaAid, thông qua Associated Press

Nhà thờ năm 2009

…Andy Wong/Nhà báo liên kết (với New York Times)

Nếu cuộc đời này được sánh như một vườn nho, thì mỗi chúng ta, dù ở địa vị xã hội hay trình độ văn hoá nào, thì cũng đang là người tá điền trong vườn nho đó.  Có những tá điền bất trung nhưng chắc chắn cũng có những tá điền tốt lành, nhân hậu, lắng nghe ý kiến và trung thành với chủ của mình.  Quả vậy, Thiên Chúa sẽ đến gặp gỡ chúng ta vào lúc cuối đời, để đón tiếp chúng ta như một người Cha.  Tuy vậy, một người sống tội lỗi và đầy mưu mô phản loạn không thể xứng đáng ra trình diện trước nhan Chúa.  Cũng như ông chủ vườn nho sai con mình đến thu hoa lợi, Thiên Chúa sai Con của Ngài đến để phán xét chúng ta vào ngày tận thế.  Chúa Giêsu đã nói về ngày phán xét chung ở tận cùng của lịch sử.  Lúc đó, mọi người sẽ bị xét xử về những công việc họ đã làm cũng như về thái độ đối với anh chị em mình, khi họ còn sống trên dương gian.

Ngẫm chuyện xưa để học những bài học cho đời nay, Thánh Phaolô khuyên chúng ta hãy cố gắng sống tốt lành, năng cầu nguyện cùng Thiên Chúa và chuyên tâm thực hành lời Ngài dạy.  Thánh nhân nêu cụ thể những thực hành đạo đức như sau: “Những gì chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh đáng khen, thì xin anh em hãy để ý thực hành.”   Khi thực hành như thế, sự bình an của Chúa sẽ ở với chúng ta.  Những thực hành đó sẽ giúp chúng ta kết hợp với Đức Giêsu và sẽ đạt được sự bình an đích thực là quà tặng của Thiên Chúa dành cho những ai yêu mến Ngài (Bài đọc II).

Chúa Nhật XI Thường Niên - HỘI ĐỨC MẸ MÂN CÔI

Kính thưa anh chị em, chúng ta vừa bước vào tháng Mân Côi.  Mỗi khi Đức Mẹ hiện ra tại một nơi nào, Mẹ thường gửi đến cho nhân loại thông điệp sám hối và lời mời gọi đọc kinh Mân Côi.  Đó cũng chính là thông điệp của Chúa Giêsu, vì Chúa Giêsu đã khởi đầu sứ vụ rao giảng Tin Mừng bằng lời mời gọi sám hối.  Khi đọc kinh Mân Côi là chúng ta cùng với Đức Trinh nữ Maria suy niệm cuộc đời và giáo huấn của Chúa Cứu thế.  Vì vậy, Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gọi kinh Mân Côi là cuốn Tân Ước rút gọn.  Vị Giáo Hoàng người Ba Lan cũng quả quyết: Kinh Mân Côi là kinh cầu nguyện mà ngài ưa thích nhất.  Vào thế kỷ 13, nhờ kinh Mân Côi, mà Giáo Hội được cứu khỏi cơn khủng hoảng và những mâu thuẫn.  

Trong tháng này, chúng ta hãy suy niệm kinh Mân Côi với tâm tình của Đức Mẹ, để qua Đức Mẹ, chúng ta đến với Chúa Giêsu.  Hai mươi mầu nhiệm Mân Côi giúp chúng ta chiêm ngưỡng Chúa Giêsu, đồng thời học hỏi nơi Người sự khiêm nhường, vâng lời và phó thác nơi Thánh ý Chúa Cha.  Trong tất cả các mầu nhiệm ấy, Đức Trinh nữ luôn hiện diện để lắng nghe, suy niệm và thực thi Lời Chúa.  

Cùng với Chúa Giêsu, Mẹ đã thông phần đau khổ và đã đạt được ngành thiên tuế của phúc tử đạo.  Ước chi mỗi chúng ta biết sống các mầu nhiệm Mân Côi như Đức Mẹ, để cùng với Mẹ hưởng vinh quang Thiên quốc.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim

Người Việt ở Mỹ xây đài tri ân các chiến sĩ đồng minh của Việt Nam Cộng Hòa

Theo VOA Tieng Viet

Toàn cảnh Đài Tri Ân trong khuôn viên Công viên Tưởng niệm Cựu chiến binh ở thành phố Jeffersontown ở bang Kentucky, Mỹ.

Toàn cảnh Đài Tri Ân trong khuôn viên Công viên Tưởng niệm Cựu chiến binh ở thành phố Jeffersontown ở bang Kentucky, Mỹ.

Một công trình tôn vinh sự đóng góp của những binh sĩ từ các nước đồng minh của Việt Nam Cộng Hòa thời Chiến tranh Việt Nam sẽ được khánh thành vào ngày 9 tháng 10 tại ở ngoại ô thành phố Louisville thuộc bang Kentucky của Mỹ. Công trình này cũng sẽ đóng vai trò như một viện bảo tàng ngoài trời để nâng cao nhận thức của công chúng về người tị nạn chạy lánh chế độ cộng sản ở Việt Nam.

Việc hoàn tất và ra mắt công trình này là thành quả của những nỗ lực kéo dài trong hơn một thập niên của cộng đồng người Việt địa phương cùng những cựu chiến binh Chiến tranh Việt Nam và những người ủng hộ khác, vượt qua những khó khăn to lớn gây ra bởi sự gián đoạn vì đại dịch COVID-19.

Đài Tri Ân được đặt tại Công viên Tưởng niệm Cựu chiến binh ở thành phố Jeffersontown, bên ngoài Louisville, và được xây dựng dựa theo thiết kế giành chiến thắng trong một cuộc thi tuyển với sự tham gia của 128 thí sinh đến từ 29 quốc gia vào năm 2016, thông cáo báo chí của Hội Tri Ân, tổ chức đứng sau việc xúc tiến xây dựng đài tưởng niệm này, cho biết.

Hình ảnh được công bố cho thấy kiến trúc này bao gồm bốn bức tường bao quanh tám cây cột cao 30 feet (khoảng 9 mét) đại diện cho tám nước đồng minh bao gồm Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ, Hàn Quốc, Úc, Thái Lan, Philippines, New Zealand, và Đài Loan. Một bức tường dài 120 feet (khoảng 36,5 mét) trưng bày những hình ảnh cho thấy binh sĩ Việt Nam và Mỹ kề vai sát cánh chiến đấu cùng với những hình ảnh người tị nạn chạy lánh chủ nghĩa cộng sản năm 1954 và 1975, theo thông cáo.

“Chúng tôi muốn ghi nhận những nỗ lực nhân đạo của chánh quyền Mỹ và những người Mỹ đã giúp dân Miền Nam trong suốt và sau cuộc chiến. Và chúng tôi cũng nhớ về những người đã chết hay chịu đau khổ trong các trại cải tạo và trại lao động cưỡng bức,” thông cáo nói.

Ông Nguyễn Tiến Dũng, người sáng lập và chủ tịch Hội Tri Ân, cho biết những ý tưởng đầu tiên bắt đầu từ khoảng 11 năm về trước khi cộng đồng người Việt ở Louisville muốn bày tỏ lòng biết ơn đối với những người Mỹ không chỉ chiến đấu trên chiến trường mà còn hỗ trợ xây dựng nền kinh tế và xã hội ở Miền Nam Việt Nam trong thời chiến.

Với sự thành lập của Hội Tri Ân vào năm 2013, kế hoạch xây dựng đài tưởng niệm bắt đầu được xúc tiến với việc tìm kiếm địa điểm và lựa chọn thiết kế. Theo thời gian, ý nghĩa giáo dục của nó được chú ý nhiều hơn khi quá khứ chiến tranh dần lùi xa.

“Chúng tôi muốn dùng đài kỉ niệm này như là một viện bảo tàng ngoài trời để ghi chép lại những hình ảnh, những câu chuyện không phải là chỉ nói riêng về việc chiến đấu trong chiến tranh mà cũng còn nói thêm về những cái hình ảnh như là của người tị nạn Việt Nam trước chiến tranh năm 1954 di cư từ Bắc vào Nam, rồi những cái cuộc di cư khổng lồ sau năm 1975.” ông Dũng nói với VOA.

“Những hình ảnh đó, những cái câu chuyện đó là những cái chúng tôi muốn ghi lại, nhất là để cho những thế hệ con cháu của mình ở xứ Mỹ này lớn lên có cơ hội để nhìn thấy lại những chuyện đó, và cũng đồng thời để cho dân Mỹ ở đây họ cũng có cái dịp để nhìn thấy những hình ảnh.”

 

 

Ông Dũng cho biết toàn bộ chi phí dành cho công trình này là khoảng 2,4 triệu đôla, phần lớn đến từ các khoản đóng góp của các thành viên Hội Tri Ân, cộng đồng người Việt ở vùng Louisville, các cơ sở thương mại, và các ủng hộ viên khác.

Con số dự tính ban đầu chỉ bằng khoảng một nửa phí tổn cuối cùng, ông nói, nhưng nguồn cung ứng nguyên vật liệu bị gián đoạn và chi phí vận chuyển tăng vọt do hệ quả từ đại dịch COVID-19 đã khiến thời gian thi công kéo dài hơn và đội chi phí tổng thể lên cao hơn.

“Mỗi một cái container chở đá từ ở Việt Nam sang đây, về phần vận chuyển thì tăng lên gấp mấy lần luôn. Rồi tất cả mọi thứ đều lên giá. Phí tổn của Đài Tri Ân lên thêm gần 1 triệu bạc. Cho nên lúc đó là những cái lúc mà mình thấy là khó khăn rất là lớn. Thật sự là không biết là mình có vượt qua được hay không,” ông Dũng nhớ lại.

“Nhưng mà cũng may mắn là ở đây chúng tôi cũng có được nhiều bạn bè Hoa Kỳ, nhiều người ủng hộ mình rất là tốt. Và cộng đồng ở Louisville cũng rất là đoàn kết trong việc làm này, cho nên nó có nhiều yếu tố để đưa đến sự thành công cuối cùng.”

Bà Trần Lý Văn, một thành viên của Hội Tri Ân góp sức trong việc gây quỹ trong cộng đồng, nói bà “rất xúc động” mỗi khi đến thăm trong lúc công trình đang được xây dựng. Kể từ khi chính quyền thành phố Louisville thông qua nghị quyết công nhận lá cờ vàng ba sọc đỏ là lá cờ đại diện cho cộng đồng người Việt ở đây vào năm 2012, các nhà lãnh đạo cộng đồng đã nỗ lực tìm một nơi để có thể treo cờ một cách trang nghiêm, bà nói.

“Mình và cộng đồng Việt Nam ở đây không thể nào nghĩ mình sẽ xây được một cái tượng đài nó oai nghi như vậy,” bà nói với VOA. “Với dự án xây đài tưởng niệm, chúng tôi được sự hỗ trợ và giúp đỡ của lãnh đạo các tôn giáo, các đoàn thể. Ngoài ra, chúng tôi còn được sự ủng hộ và khuyến thích của rất nhiều cộng đồng bạn cũng đến tham gia và ủng hộ và đóng góp rất nhiều cho cái dự án này.”

“Đây là một sự thành công lớn của cộng đồng Việt Nam ở Louisville và những vùng lân cận. Mọi người ai cũng rất là vui, rất là nhiệt tình, từ những em trẻ cho tới thế hệ trung niên cho tới các bác lớn tuổi.”

Lễ khánh thành có sự tham dự của ban quân nhạc Sư Đoàn Dù 101, là một trong những sư đoàn có mặt ở rất nhiều chiến trường nóng bỏng trong Chiến tranh Việt Nam, chủ tịch Hội Tri Ân cho biết. Quan khách cũng sẽ nghe lời phát biểu của Thiếu Tướng Dean Allen Youngman và Thiếu Tướng LapThe Flora, hai vị chỉ huy cao cấp từ hai thế hệ khác nhau có liên hệ đến Chiến Tranh Việt Nam.

Vì Đài Tri Ân được xây dựng trong khuôn viên một khu tưởng niệm cựu chiến binh Mỹ của thành phố Jeffersontown nên việc chăm sóc và bảo trì thuộc trách nhiệm của thành phố, ông Dũng cho biết.

“Lúc nào họ cũng giữ nghiêm trang cho cái chỗ đó cho nên chúng tôi thấy mình rất là may mắn có được cái chỗ như vậy,” ông nói.


 

Thánh Maria Faustina

 

Cha Vương

05/10/2023

Hôm nay 05/10, Giáo hội mừng kính Thánh Maria Faustina sứ giả của lòng thương xót Chúa.

Uớc mong bạn cảm nhận được tình yêu vô biên của Thiên Chúa.

Chúc mừng quan thầy đến những ai chọn Ngài làm bổn mạng.

Khi vị thánh nữ này cất tiếng khóc chào đời tại Ba Lan ngày 25 tháng Tám năm 1905, thì song thân thánh nữ đã đặt tên cho ngài là Helen. Trong cuộc đời ngắn ngủi tại thế, Helen đã thực hiện một sứ vụ quan trọng là dạy cho thế giới biết về Lòng Thương Xót của Đức Chúa Giêsu. Ngay từ lúc lên 7, Helen đã muốn sống cuộc đời tận hiến cho Thiên Chúa như một nữ tu. Khi được 25 tuổi, Helen vào tu trong dòng Chị Em Con Đức Mẹ Thương Xót, và nhận tên là sơ Maria Faustina.

Công việc của sơ Maria Faustina thật giản dị. Sơ nấu ăn, làm vườn và giữ cửa cho tu viện. Chỉ có sự tốt bụng, trầm lặng và hồi tâm là đáng lưu ý. Và ít có người biết được những chiều sâu đích thực về đời sống tâm linh của sơ Faustina. Thiên Chúa đã chúc lành cho sơ Faustina Maria bằng nhiều ân sủng đặc biệt, kể cả ơn thị kiến, ơn tiên tri và ơn được nhận năm Dấu Thánh cách vô hình.

 

 

Trong một thị kiến mà sơ Maria Faustina nhận được, Chúa Giêsu đã hiện ra trong y phục màu trắng. Người giơ cao một tay để chúc lành và tay kia thì chạm vào Thánh Tâm Người. Có hai tia sáng phát ra từ Thánh Tâm Chúa Giêsu, một màu đỏ và một màu nhạt. Tia sáng đỏ tượng trưng cho Máu cứu chuộc của Chúa Kitô, còn tia xanh nhạt biểu trưng nước thanh tẩy trong bí tích Rửa tội. Chúa Giêsu nói: “Con hãy cho vẽ lại bức ảnh như con xem thấy Cha, kèm theo dòng chữ: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa!” Chúa Giêsu đã nói với sơ Maria Faustina rằng Chúa nhật sau lễ Chúa Phục Sinh sẽ được gọi là Chúa nhật kính Lòng Thương Xót.

Sơ Maria Faustina đã viết nhật ký, chép lại mọi điều Chúa Giêsu muốn cho thế giới biết về Lòng Thương Xót của Người. Trong đó, Maria Faustina đã viết những lời cầu nguyện thật dễ thương, biểu lộ mối tương quan rất mực thân thiết đối với Đức Chúa Giêsu. Và Đức Chúa Giêsu nói với Maria Faustina rằng thánh nữ chính là thư ký nhỏ của Người. Chính công việc đặc biệt của thánh nữ Maria Faustina đã khích lệ nhiều người tin tưởng vào Lòng Thương Xót vô hạn lượng của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu hứa ban ơn tha thứ và ân sủng dư tràn cho bất cứ ai tôn sùng lễ kính Lòng Thương Xót Chúa. Tận hiến cho Lòng Thương Xót Chúa bao gồm tin tưởng vào lòng nhân hậu Chúa, yêu thương tha nhân, năng lãnh nhận bí tích Hòa giải để luôn ở trong tình trạng có ân sủng và rước lễ ngày Chúa nhật kính Lòng Thương Xót Chúa.

 

 

Chỉ sau 13 năm sống trong bậc tu trì, sơ Maria Faustina Kowalska đã về trời vào ngày mùng 5 tháng Mười năm 1938 vì bệnh lao phổi, vừa tròn 33 tuổi.

Chúa Giêsu đã nói với thánh nữ Maria Faustina Kowalska: “Cha mong muốn con hãy luôn bày tỏ lòng thương xót ra khắp mọi nơi. Con không thể tự biện minh gì về điều này!” Phương thế tốt nhất để chứng tỏ chúng ta tin cậy vào Lòng Thương Xót của Đức Chúa Giêsu là biết tỏ bày lòng thương xót và luôn tha thứ cho những người xúc phạm đến chúng ta. Chúng ta có sẵn lòng cùng nhau thực hiện như vậy không? Vậy hôm nay mời bạn dành thời gian lần chuỗi Lòng Thương Xót Chúa để đền tội mình và tội lỗi của toàn thế giới. Sau đây là câu nói của ngài:

(1) Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi Cực Thánh! Bao nhiêu lần hít thở, bao nhiêu lần nhịp tim đập, bao nhiêu lần dòng máu luân chuyển trong cơ thể con là bấy nhiêu ngàn lần con muốn tôn vinh Lòng Thương Xót Chúa. (Thánh Faustina)

(2) Chúa Thánh Thần không nói với một linh hồn chia trí và lắm lời. Chúa Thánh Thần nói qua những soi động lặng lẽ của người với một linh hồn tịnh tâm, một linh hồn biết giữ thinh lặng. (Thánh Faustina)

Câu nào đánh động bạn nhất?

.

Phim, Nhạc về Lòng Thương Xót Bao La Vô Cùng Tận của Chúa

Nhật Ký Lòng Thương Xót Chúa - Thánh nữ Faustina ---Tập 1 đến 106

Đúng như dự đoán, cổ phiếu VinFast nhanh chóng tiến đến giá trị của cổ phiếu đồng xu

Theo VOA và các báo tài chánh

Cổ phiếu có mã VFS của hãng xe hơi điện Việt Nam VinFast giảm hàng chục phần trăm chỉ trong 3 ngày gần đây và trong trạng thái quay đầu rơi tự do trong vòng chưa đầy 1 tháng rưỡi ngay sau khi lên đến mức đỉnh là 93 đô la.

 

Kết thúc phiên giao dịch trên sàn Nasdaq hôm 4/10, giá của VFS là 8,05 đô la, giảm hơn 26% so với mức ở thời điểm thị trường đóng cửa trong ngày giao dịch cuối cùng của tuần trước, 29/9.

Giá cổ phiếu của VinFast giảm liên tục 3 ngày nay sau khi Ủy ban Giao dịch và Chứng khoán Mỹ (SEC) công bố bản cáo bạch của hãng đề ngày 2/10 cho thấy các cổ đông của hãng chào bán 75,7 triệu cổ phiếu ra công chúng.

Số lượng cổ phiếu nêu trên được tung thêm vào thị trường nhiều gấp 17 lần so với con số 4,5 triệu cổ phiếu VFS đã được giao dịch trong thời gian qua. Tuy nhiên, đại đa số phần còn lại của tổng cộng hơn 2,3 tỷ cổ phiếu VFS vẫn chưa được mua bán tự do vì phải tuân theo một thỏa thuận khi VinFast sáp nhập với đối tác là Black Spade Acquisition Co để lên sàn ở Mỹ.

Theo bản cáo bạch mới nhất, trong số gần 76 triệu cổ phiếu mới có hiệu lực giao dịch, tới hơn một nửa – 46,29 triệu cổ phiếu – sẽ do 2 công ty của tỷ phú Phạm Nhật Vượng bán ra. Đó là Công ty Cổ phần Tập đoàn Đầu tư Việt Nam và Asian Star Trading & Investment, hai hãng đầu tư riêng của ông Vượng, chủ sở hữu kiêm người điều hành Vingroup, tập đoàn mẹ của VinFast.

 

Theo quan sát của VOA, một số chuyên gia tài chính đưa ra tính toán rằng tùy theo các mức giá ở những thời điểm giao dịch khác nhau, số cổ phiếu do 2 hãng con của ông Vượng bán ra có thể mang về cho VinFast từ hơn 500 triệu đến hơn 700 triệu đô la để hãng chi cho hoạt động, hoặc dùng làm vốn đối ứng để vay thêm tiền. Với việc bán ra lượng cổ phiếu nêu trên, giờ đây Vingroup cùng với một số hãng con vẫn còn sở hữu khoảng gần 97% cổ phiếu của VinFast.

 

Trước khi sụt giảm còn hơn 8 đô la, thấp hơn cả mức giá 10,45 đô la của VFS trong ngày đầu tiên lên sàn ở Mỹ hôm 14/8, VFS có lúc tăng vọt lên đỉnh hôm 28/8, đạt giá 93 đô la. Nhưng kể từ đó, giá xem như đã rơi tự do liên tục trong 6 tuần cho đến nay, chỉ còn 8,6% của mức đỉnh.
Tình trạng giá cổ phiếu của VinFast thụt lùi về sau cả vạch xuất phát diễn ra song song với những tin tức không tích cực về doanh số bán xe của hãng. Các trang tin trong đó có CNBC và Barron’s đưa ra số liệu rằng trong nửa đầu năm 2023, VinFast mới chỉ bán được 11.315 xe so với mục tiêu từ 40.000 đến 50.000 xe trong cả năm.

VinFast Up 1.6% on Q3 Deliveries, Stock Swings Continue

Trong con số hơn 11.000 xe đó, theo CNBC, chỉ có hơn 4.200 xe là đến tay những khách hàng cá nhân, còn phần lớn được giao cho một hãng taxi cũng thuộc tập đoàn mẹ Vingroup, một động thái mà trang mạng Jalopnik chuyên về ô tô gọi là “VinFast chủ yếu bán xe cho chính mình”.
Theo Jalopnik và CNBC, doanh số bán của VinFast ở Mỹ còn ảm đạm hơn khi chỉ có 137 xe đã được giao trong nửa đầu năm nay.


Công An và Kiếm Sát Tỉnh Bình Thuận làm gương cho cả nước: Bồi Thường và Xin Lỗi Người bị điều tra oan

Viện Kiểm sát Nhân dân tỉnh Bình Thuận, Việt Nam, ra quyết định bồi thường ông Võ Tê 1,9 tỷ đồng cho việc ông bị bắt giam oan cách đây 43 năm, và thông báo cho gia đình ông hôm 3/10, theo tường thuật của các báo Việt Nam trong đó có Thanh Niên, Công An Nhân Dân và VNExpress.

 

Ông Võ Tê, sinh năm 1932, bị bắt và tạm giam trong 4 tháng cuối năm 1980 vì bị tình nghi đã gây ra vụ án giết người cướp của vào ngày 31/7 cùng năm. Nạn nhân trong vụ này là một phụ nữ có tên là Phan Thị Khanh sinh năm 1954.
Tuy nhiên, sau 152 ngày bị giam, công an xác định “không có đủ cơ sở, chứng cứ” để buộc tội ông là người thực hiện hành vi giết người, vì vậy, ông được trả tự do. Nhà chức trách cũng thừa nhận việc khởi tố, tạm giam ông trong khoảng thời gian đó là “không đúng quy định pháp luật”.

 

Mặc dù được công an thả nhưng vì không có quyết định đình chỉ bị can của cơ quan công quyền, nên theo báo chí trong nước, kể từ ngày ông Tê bị bắt oan, cả gia đình ông sống trong tủi nhục, bị hàng xóm xa lánh, các con của ông phải bỏ học giữa chừng, ông buồn bã, lâm bệnh, rồi qua đời năm 1994, khi vẫn còn mang thân phận bị can.

 

Đến năm 2020, con trai của bà Khanh tự lần ra chứng cứ, dấu vết và tố cáo với công an rằng ông Trương Đình Chi, sinh năm 1956, có thể là nghi phạm thực sự trong vụ án giết người cướp của. Tháng 11/2021, công an xác định ông Chi chính là nghi phạm.

Nhưng kể từ năm 1980 đến 2021 là 41 năm nên đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông Chi, căn cứ theo một quy định trong Bộ luật Hình sự của Việt Nam viết rằng thời hiệu xử lý tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là 20 năm. Do đó, công an Bình Thuận đã ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án hình sự và quyết định đình chỉ bị can đối với ông Võ Tê.

Trên cơ sở quyết định đó, con trai của ông Võ Tê đã làm đơn yêu cầu minh oan, bồi thường oan sai cho việc khởi tố, bắt giam oan ông cách đây 43 năm.
Hồi tháng 6/2022, công an Bình Thuận và Viện Kiểm sát Nhân dân của tỉnh đã công khai xin lỗi gia đình ông Võ Tê, thừa nhận việc bắt giam sai trái đã gây tổn thất tinh thần và vật chất cho ông và gia đình, gây ảnh hưởng đến cuộc sống, ông phải gánh chịu những mất mát, thiệt thòi trong quá trình bị tạm giam và trong cuộc sống tại địa phương…
Viện KSND tỉnh Bình Thuận bồi thường oan sai cho gia đình ông Võ Tê - Ảnh 1.

Ông Võ Ngọc (con trai người bị oan Võ Tê – mặc áo trắng, thứ 3 từ trái qua) và anh Đỗ Thanh An (con trai nạn nhân Phan Thị Khanh – bìa trái) trong ngày tổ chức xin lỗi công khai ở H.Hàm Tân, Bình Thuận

Tại buổi xin lỗi, cơ quan tố tụng các cấp thừa nhận sai sót và từ vụ việc này rút ra bài học kinh nghiệm sâu sắc trong quá trình tiến hành tố tụng.

 

Thay mặt gia đình, người con trai của ông Võ Tê đã chấp nhận lời xin lỗi của các cơ quan tố tụng, các báo trong nước cho hay.
Lời Bàn của Kẻ Đi Tìm:
  • Những người vội vàng thi hành án tử hình đối với Anh Lê văn Mạnh, Thanh Hóa  nên học bài học này. Nhất là Chánh Án Tòa tối cao Nguyễn Hòa Bình.
  • Thực ra thì Bình Thuận nào có đủ dũng khí, quyền lực và khôn ngoan để làm việc minh oan này mà là do chỉ thị từ Chủ tịch nước trước đây, ông Nguyễn Xuân Phúc: 

Liên quan đến vụ án ông Võ Tê bị oan sai ở Bình Thuận, vào ngày 7-9-2022., văn phòng Chủ tịch nước đã có văn bản truyền đạt ý kiến của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc. Theo đó, văn bản do Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước Lê Khánh Hải ký, gửi Bộ Công an và Viện KSND tối cao, nêu: Chủ tịch nước nhận được văn bản kiến nghị của luật sư Phan Trung Hoài (TP.HCM) là người tư vấn, hỗ trợ miễn phí cho anh Đỗ Thanh An (con trai của nạn nhân Phan Thị Khanh) và ông Võ Ngọc (con ruột ông Võ Tê, người bị khởi tố, bắt giam oan)… Sau khi xem xét các kiến nghị trên, Chủ tịch nước có ý kiến chỉ đạo đề nghị Bộ Công an và Viện KSND tối cao xem xét cụ thể vụ việc theo đúng quy định, báo cáo Chủ tịch nước kết quả giải quyết.