Kissinger: kẻ phản bội dân quân VNCH vừa qua đời
Theo Báo Chí Quốc Tế và đài ABC TV
Henry Kissinger, cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ dưới thời chính quyền Nixon và Ford, người được cho là một trong những nhà hoạch định chính sách đối ngoại có ảnh hưởng và gây tranh cãi nhất ở Hoa Kỳ thời hậu chiến, đã qua đời. Anh ấy đã 100 tuổi. Thông tin này đã được công ty tư vấn của Kissinger xác nhận vào tối thứ Tư.
Kissinger Associates, Inc. cho biết trong một tuyên bố hôm thứ Tư, Kissinger sẽ được an táng tại một buổi lễ gia đình riêng và sẽ có lễ tưởng niệm vào một ngày sau đó tại thành phố New York.
Bức Tử VNCH năm 1975
Dựa theo đoạn văn ghi trên về ” sự ám ảnh với bí mật ngoại giao cá nhân” của ông Kissinger veef“ về hồ sơ năm 1975″, có thể hiểu ” bí mật ngoại giao” này là chuyến đi bí mật đến Bắc Kinh vào mùa Hè 1971 của TS Kissinger.
Theo biên bản cuộc họp giữa TS Kissinger và TT Chu Ân Lai, ông Kissinger hứa hẹn Mỹ sẽ chấm dứt chiến tranh và rút quân khỏi Việt Nam theo như yêu cầu của Thủ tướng (Chu Ân Lai) – ” I can assure you that we want to end the war in Vietnam through negotiations, and that we are prepared to set a date for the withdrawal of all our forces from Vietnam and Indochina as you suggested before “ – « Sate.Gov/ Memorandum of Conversation, Beijing, July 9, 1971 »; Về “ hồ sơ 1975 “ với kết quả cuộc ” bí mật ngoại giao cá nhânl” đã dẫn đến VNCH bị bức tử vào năm 1975.
Tướng Westmoreland đến Nam Cali và dành cho đài Radio Little Sài gòn cuộc phỏng vấn về vụ Tết Mậu Thân 1968 – và vụ tiến quân ra Bắc, do MC Việt Dũng phỏng vấn 9/1995, sau đó bài phỏng vấn được loan tải trên báo Hồn Việt (SD-Cali) 10/1995:
Tướng Westmoreland: “Chúng tôi đã biết trước cuộc tổng công kích sẽ xảy ra. Và tôi sẽ thú tội với mọi người khi nghĩ lại, là tôi đáng lý ra đã phải loan báo những tin tức này đến mọi người... Ông Averell rất là cứng rắn khi cho rằng cuộc chiến không được lan rộng ra khỏi lãnh thổ miền Nam và điều này đã trở thành chủ trương của Hoa Kỳ trong suốt thời gian tham gia cuộc chiến tại miền Nam, là chúng ta không được phát triển cuộc chiến ra ngoài phạm vi lãnh thổ này. Chúng tôi đã có những cuộc xâm nhập bí mật vào đường mòn HCM và tấn công những đơn vị Bắc Việt dùng con đường này để tiếp tế cho Miền Nam, nhưng chúng tôi không bao giờ được quyền đế cắt đứt con đường này dù chúng tôi dư sức làm điều đó, vì con đường mòn này là mạch sống của địch quân và việc cắt đứt con đường này sẽ giảm thiểu các chiến lược của chúng tôi rất nhiều”.
Đài BBC phỏng vấn ông Frank Snepp, trùm tình báo CIA ở Việt Nam và được xác nhận rằng Mỹ bỏ rơi VNCH để lấy Trung Cộng. Ông Frank Snepp nhận định rằng việc bỏ rơi này khởi đầu với Henry Kissinger, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ dưới thời Tổng thống Richard Nixon, và sau đó Gerald Ford.
Frank Snepp: Kissinger đã bỏ rơi VNCH vì lý do chính trị. Tôi đặt tựa cho cuốn sách mình viết là ‘Decent Interval’ (Khoảng cách Coi được). Tựa đó nhắc đến sự kiện năm 1972, khi Kissinger đàm phán hòa bình, dẫn đến việc ngừng bắn, điều duy nhất ông quan tâm là đưa Hoa Kỳ ra khỏi cuộc chiến, thoát khỏi vũng lầy xấu hổ. Kissinger muốn phải có một khoảng thời gian coi được giữa việc rút quân của Hoa Kỳ ra khỏi VN, và chiến thắng tất yếu sẽ đến của Cộng sản, để Hoa Kỳ không bị đổ lỗi cho việc thất trận.
Khi Kissinger gặp Chu Ân Lai năm 1971 để sắp xếp cho chuyến công du bí mật của Nixon đến Trung Quốc, ông nói với Bắc Kinh rằng nếu có ngừng bắn ở Việt Nam, Hoa Kỳ sẽ không tái can thiệp quân sự. Và chỉ cần có một khoảng thời gian hợp lý giữa cuộc ngừng bắn đến lúc Hoa Kỳ rút quân, và sự tiếp tục xâm lược của cộng sản, chúng tôi sẽ không quan tâm nếu đồng minh Bắc Việt của quý vị tấn công Nam VN, miễn là họ không tấn công ngay sau khi chúng tôi rút đi. Đó là khởi đầu của lý thuyết ‘Khoảng cách Coi được’ (Decent Interval) mà ngày nay nhiều người nhận định là sự phản bội VNCH của Hoa Kỳ.
Kissinger đến Paris vào mùa hè năm 1972 để đàm phán với Lê Đức Thọ về những gì sau đó trở thành Hiệp định Hòa bình. Lúc đó Kissinger bàn với Nixon rằng nếu mọi thứ chỉ cần kéo dài đến tháng 10 tới, tức vài tháng nữa, hay nói cách khác, qua cuộc bầu cử tổng thống kế tiếp, thì sẽ không ai thèm quan tâm đến điều gì xảy ra cho VN một năm sau đó, tức 1974. Sẽ không ai còn quan tâm và Mỹ thì đã rút khỏi cuộc chiến từ lâu.
Kissinger vẫn hoạt động chính trị trong nhiều thập kỷ kể từ khi còn đương chức và đã đảm nhận vai trò đàn anh được kính trọng đối với một số đảng viên Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ. Ông đã gặp Thống đốc lúc bấy giờ của Alaska. Sarah Palin vào năm 2008 và Mitt Romney được cho là đã nói chuyện qua điện thoại với Kissinger trong chiến dịch tranh cử năm 2012. Kissinger gặp Donald Trump ngay sau khi Trump giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 và sau đó hai người gặp nhau tại Nhà Trắng vào năm 2017.
Hillary Clinton, người tranh cử với Trump vào năm 2016, đã gọi Kissinger là “một người bạn” và nói rằng bà “dựa vào lời khuyên của ông ấy” khi giữ chức ngoại trưởng từ năm 2009 đến năm 2013.
Những năm đầu
Cựu ngoại trưởng tên khai sinh là Heinz Kissinger ở Fuerth, Đức, vào ngày 27 tháng 5 năm 1923. Cha mẹ ông, Louis và Paula Kissinger, đã trốn khỏi Đức Quốc xã và di cư sang Hoa Kỳ vào năm 1938, và chính tại quốc gia mới được ông tiếp nhận, con trai của một giáo viên người Đức gốc Do Thái đã học rất xuất sắc.
Kissinger sau này nói về thời gian trong Quân đội, “Đó là một quá trình Mỹ hóa… Đây là lần đầu tiên tôi không đứng về phía người Do Thái ở Đức, tôi đã có được niềm tin vào Quân đội.”
Ông tiếp tục nhận bằng cử nhân khoa học chính trị tại Đại học Harvard vào năm 1951 và bằng Thạc sĩ và Tiến sĩ của trường đại học này trong những năm sau đó.
Năm 1955, Kissinger được Hội đồng Quan hệ Đối ngoại tuyển dụng để đứng đầu một nhóm nghiên cứu xem xét ý nghĩa của lời kêu gọi “trả đũa ồ ạt” của Ngoại trưởng John Foster Dulles như chiến lược Chiến tranh Lạnh của Hoa Kỳ chống lại Liên Xô. Chiến lược đe dọa hủy diệt hạt nhân tại các thành phố của Liên Xô chỉ vì những vi phạm nhỏ, đã bị Kissinger chỉ trích nặng nề trong báo cáo xuất bản dưới tựa đề “Vũ khí hạt nhân và Chính sách đối ngoại” năm 1957, một cuốn sách bán chạy bất ngờ.

Kissinger sau đó làm cố vấn cho một số cơ quan chính phủ và các viện nghiên cứu, bao gồm Văn phòng Nghiên cứu Hoạt động, Cơ quan Kiểm soát Vũ khí và Giải trừ Quân bị, Bộ Ngoại giao và Tập đoàn RAND, trước khi ông được bổ nhiệm làm cố vấn an ninh quốc gia của Nixon vào tháng 1 năm 1969.
Là cố vấn an ninh quốc gia từ 1969 đến 1975 và ngoại trưởng từ 1973 đến 1977 dưới thời Tổng thống Richard Nixon và Gerald Ford, Kissinger đã cung cấp khuôn khổ khái niệm để qua đó những sáng kiến táo bạo như détente (giảm bớt mối quan hệ căng thẳng) với Liên Xô và Chiến lược Các cuộc đàm phán về hạn chế vũ khí (SALT) đã được theo đuổi.
SALT – một loạt các hội nghị song phương và hiệp ước quốc tế giữa Hoa Kỳ và Liên Xô – bắt đầu vào năm 1969 dưới thời Nixon. Hai hiệp ước tương ứng – được hai nước ký kết vào năm 1972 và 1979 – đặt ra giới hạn về số lượng tên lửa đạn đạo tầm xa mà mỗi bên có thể sở hữu và sản xuất.
Kissinger cũng tìm cách mở rộng quan hệ ngoại giao với Trung Quốc. Một trong những thành công lớn nhất của mình là Kissinger đã sắp xếp một chuyến thăm cấp nhà nước giữa Nixon và lãnh đạo Trung Quốc Chu Ân Lai vào năm 1972. Những nỗ lực này đã dẫn đến Thông cáo Thượng Hải, trong đó đưa ra những hướng dẫn về bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.
Kissinger cũng là người có công trong việc chấm dứt Chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, một cách mà ông nhắm đến để giải quyết xung đột là thông qua các vụ đánh bom bí mật vào Campuchia và thủ đô Hà Nội của Việt Nam cũng như một cuộc xâm lược trên bộ vào Campuchia vào năm 1970 trong một nỗ lực rõ ràng nhằm gây áp lực lên các lực lượng Bắc Việt hoạt động giữa hai nước…
Tuy nhiên, sau khi Kissinger và lãnh đạo Bắc Việt Lê Đức Thọ gặp nhau bí mật nhiều lần ở Paris, họ đã đàm phán một hiệp định Paris đình chiến ngắn ngủi. Điều này dẫn đến việc hai nhà lãnh đạo nhận được giải Nobel Hòa bình năm 1973, mặc dù Thọ từ chối giải thưởng.
Theo Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ , hơn hai năm sau, 30 sư đoàn Bắc Việt đã chinh phục miền Nam Việt Nam, chấm dứt xung đột một cách chóng vánh .
…
Theo Isaacson, để làm chứng trước Quốc hội khi các lực lượng cộng sản đang hoàn tất việc tiếp quản Campuchia vào năm 1975, Kissinger thừa nhận rằng Hoa Kỳ đã nhẫn tâm coi thường Campuchia trong khi cố gắng đạt được các mục tiêu của mình ở Việt Nam. Kissinger nói: “Tội lỗi, trách nhiệm của chúng tôi, hay bất cứ điều gì bạn có thể gọi nó đối với người Campuchia là chúng tôi đã tiến hành các hoạt động của mình ở Campuchia chủ yếu để phục vụ các mục đích của chúng tôi liên quan đến Việt Nam và giờ đây họ đã bị bỏ rơi trong một hoàn cảnh rất khó khăn.”
Tuy nhiên, nhiều năm sau Kissinger đã nhận xét với Time rằng: “Nếu không có sự xâm nhập của chúng tôi, những người cộng sản đã chiếm được Campuchia nhiều năm trước đó”.
Di sản đang được xem xét kỹ lưỡng
Về cuối đời, lời kêu gọi Kissinger phải ra làm chứng hoặc chịu trách nhiệm về những quyết định của mình khi còn đương chức ngày càng lớn hơn.
Năm 2001, nhà báo người Anh Christopher Hitchens xuất bản cuốn “Vụ xét xử Henry Kissinger”, trong đó ông lập luận rằng Kissinger đã cho phép các chính trị gia tàn bạo liên minh với Hoa Kỳ giết chết hàng nghìn thường dân vô tội. Đến năm 2002, những giao dịch trong quá khứ của Kissinger ở Mỹ Latinh khi còn đương chức dường như quyết tâm ám ảnh ông, nếu không muốn nói là hủy hoại danh tiếng của ông.
Sau đó đã có lệnh triệu tập Kissinger ở năm quốc gia để tìm kiếm thông tin về vai trò của ông trong Chiến dịch Condor (ở Nam Mỹ), một âm mưu bị cáo buộc giết người, tra tấn và bắt cóc do các nhà độc tài Mỹ Latinh tổ chức vào những năm 1970, kéo dài qua biên giới Chile, Argentina, Paraguay, Brazil. , Bolivia và Uruguay. Với tư cách là cố vấn an ninh quốc gia của Tổng thống Nixon, Kissinger bị nghi ngờ là có đầy đủ kiến thức về hoạt động này.
Cuộc tranh cãi lại bùng lên vào năm 2010 khi một bức điện đề ngày 16 tháng 9 năm 1976 được giải mật và phát hành bởi các cơ quan báo chí. Trong bức điện, Kissinger dường như đã từ chối đưa ra cảnh báo được đề xuất cho chính phủ Uruguay về các hoạt động của Condor và ra lệnh rằng Bộ Ngoại giao “không thực hiện thêm hành động nào về vấn đề này”, theo Los Angeles Times .
Nhưng Kissinger cho biết ngay sau khi công bố bức điện rằng ý nghĩa của nó đã bị “bóp méo” và nó chỉ nhằm mục đích phản đối một cách tiếp cận cụ thể đối với chính phủ Uruguay chứ không hủy bỏ kế hoạch đưa ra cảnh báo cho các quốc gia khác bị nghi ngờ tham gia vào mạng lưới Condor. LA Times đưa tin.
Trong một cuộc phỏng vấn với George Stephanopoulos của ABC News vào tháng 7 năm 2022, Kissinger đã bình luận về những tranh cãi xung quanh thời gian ông nắm quyền.
“Nixon và tôi, chúng tôi có xu hướng không ủng hộ việc leo thang. Nhưng chúng tôi cảm thấy rằng nếu phải leo thang, chúng tôi nên leo thang đến mức rất gần với mức mà phía bên kia có thể chấp nhận để tránh rơi vào tình thế khó khăn. một cuộc chiến tranh hạt nhân thông qua một loạt các bước nhỏ. Bước cuối cùng hóa ra là hạt nhân.”
Kissinger, khi được hỏi trong cuộc phỏng vấn về bất kỳ quyết định chính sách quan trọng nào mà ông sẽ rút lại, đã nói: “Tôi chưa đưa ra được câu trả lời tuyệt vời nào cho vấn đề đó. Bởi vì tôi đã suy nghĩ về những vấn đề này suốt cuộc đời mình. Đó là sở thích của tôi… đó là của tôi.” nghề nghiệp. Những khuyến nghị tôi đưa ra là điều tốt nhất mà tôi có thể làm được lúc đó.”
Ông Kissinger với Tổng thống Richard M. Nixon tại New York vào tháng 11 năm 1972 sau khi ông Kissinger trở về sau cuộc đàm phán bí mật ở Paris với nhà đàm phán Bắc Việt Lê Đức Thọ trong Chiến tranh Việt Nam.Tín dụng…Báo chí liên quan
Cuộc sống sau khi rời bỏ vị trí trong chính phủ
Sau khi rời chính phủ vào năm 1977, Kissinger thành lập một công ty tư vấn, Kissinger Associates, và yêu cầu những khoản thù lao lớn với tư cách là một diễn giả. Ông là thành viên của nhiều ủy ban tổng thống khác nhau và tiếp tục viết các chuyên mục báo chí và đưa ra ý kiến của mình trên truyền hình. Năm 1994, Kissinger được thuê làm cố vấn cho hội đồng quản trị của cả MGM và Credit Lyonnais.
Ngoài giải Nobel Hòa bình, Kissinger còn là người nhận Huân chương Tự do của Tổng thống năm 1977 và Giải thưởng Woodrow Wilson cho Dịch vụ Công cộng năm 2006. Năm 1995, ông được bổ nhiệm làm Chỉ huy Hiệp sĩ Danh dự theo Huân chương Thánh Michael xuất sắc nhất. và Thánh George của Nữ hoàng Elizabeth II.
Nhìn lại cuộc đời và sự nghiệp của mình, Kissinger nói với Stephanopoulos, “Khi tôi 15 tuổi ở Đức, tôi chưa bao giờ nghĩ rằng một ngày nào đó tôi có thể trở thành ngoại trưởng Hoa Kỳ và có đủ khả năng để làm điều này. Đó là một sự tri ân đáng kinh ngạc đối với nước Mỹ rằng điều này có thể thực hiện được… Tôi là thành viên của một nhóm thiểu số bị phân biệt đối xử, vì vậy điều đó không phù hợp với tư duy nghề nghiệp.”
Anh nói thêm: “Đó là một số phận phi thường – và do đó là nghĩa vụ – phải làm điều tốt nhất mà tôi có thể làm được”. Đến năm 1980, ông nói với tạp chí Time rằng: “Tôi càng rời nhiệm sở lâu, tôi càng thấy mình không thể sai lầm”.
Cựu Ngoại trưởng Mike Pompeo gọi Kissinger là “một hình mẫu phục vụ và một người Mỹ vĩ đại”.
“Ông ấy đã để lại dấu ấn không thể xóa nhòa trong lịch sử nước Mỹ và thế giới”, ông Pompeo viết trong một bài đăng trên X, trước đây là Twitter. “Tôi sẽ luôn biết ơn những lời khuyên và sự giúp đỡ ân cần của ông ấy trong thời gian tôi làm thư ký.”
Kissinger để lại vợ ông, Nancy Maginnes Kissinger, và các con của ông, Elizabeth và David, từ cuộc hôn nhân trước với bà Alfred Kissinger. Tuy nhiên, tại nhiều thời điểm trước cuộc hôn nhân thứ hai, theo người viết tiểu sử của ông, Walter Isaacson, Kissinger đã hẹn hò với các nữ diễn viên Jill St. John, Shirley MacLaine, Marlo Thomas, Candice Bergen và Liv Ullman.
CÔ GÁI NGHÈO THƯƠNG CÁC LINH HỒN
Một thiếu nữ nghèo nhưng được học giáo lý từ ngày còn nhỏ. Bởi nhà nghèo nên cô phải đi ở mướn. Cô có thói quen tốt lành là tháng nào cũng xin lễ cho các linh hồn nơi luyện ngục.
Khi rời miền quê theo ông chủ lên ở tỉnh thành, cô cũng vẫn giữ thói quen đó. Hơn nữa chính cô còn đi dự lễ hợp lời cầu nguyện với linh mục chủ tế để cầu cho các linh hồn mau chóng được ra khỏi luyện ngục.
Chúa muốn thử lòng cô gái nghèo bằng một cơn bệnh. Không những cô đau đớn bởi bệnh, mà cô còn bị mất luôn việc làm và tiêu xài hết cả món tiền nhỏ đã dành dụm được.
Khi khỏi bệnh, trong túi cô chỉ còn một đồng bạc cuối cùng. Làm sao bây giờ? Cô ngửa mặt cầu xin Chúa ban cho một chỗ làm khác. Nghe nói có một nhà cuối phố muốn tìm người ở mướn, cô liền tìm đến xin việc làm. Khi đi được nửa đường, gặp nhà thờ, cô vào để kính viếng Chúa.
Cô nhớ lại cả tháng nay không được dự lễ, nên nảy ra ý định lấy đồng bạc cuối cùng để xin lễ cầu nguyện cho các linh hồn, nhưng bụng đói quá làm sao chịu được. Cuối cùng cô vào phòng mặc áo lễ với niềm tin “Chúa biết mọi sự, bởi vinh Danh Chúa, Chúa không bỏ con”. Cô đã xin một lễ cầu cho linh hồn nơi luyện ngục, rồi cô sốt sắng tham dự Thánh lễ đó.
Dự lễ xong cô tiếp tục đi về cuối phố, phó thác tương lai cho Chúa. Đang khi cô lủi thủi bước đi thì một thanh niên dáng vẻ xanh xao đi ngược chiều. Gặp cô, chàng hỏi:
– Có phải cô đang đi tìm việc làm không? Cô cứ đến nhà đường này, số này, vào tìm bà này… bà ta sẽ nhận cô và sẽ cư xử tử tế với cô.
Nói xong chàng biến đâu mất, cô chưa kịp cám ơn chàng. Tìm đến đúng đường và đúng số nhà, cô ấn chuông cổng. Một cô gái khác đã bị bà chủ đuổi, sắp phải ra đi, vẻ tức giận càu nhàu ra mở cổng nói xẵng:
– Vào mà gõ cửa, bà ta sẽ mở cho! Rồi cô ta xách gói đồ của mình đi thẳng ra phố.
Bà chủ nhà nghe tiếng gõ cửa, ra mở và thấy cô thiếu nữ nghèo, bà hỏi ai chỉ cho mà biết đường tới đây xin việc. Cô thật thà kể lại tình cảnh. Thấy chuyện hay hay, bà bảo cô kể lại từ đầu, kể xong cô nhìn bức ảnh trên tường reo lên:
– A! Thưa bà, chính anh này bảo con tìm đến nhà bà.
Bà chủ nhà rất xúc động thấy cô nhà nghèo có lòng thương các linh hồn , đã bỏ ra đồng bạc cuối cùng để xin lễ, và như có sức thúc giục, bà ôm chầm lấy cô, nói trong nghẹn ngào:
– Con ơi, con không phải là người làm mướn của ta nữa, con là con ta. Chính con trai ta đã chỉ cho con tới đây, nó chết 2 năm nay rồi, và con đã cứu nó. Ta tin rằng nó về chỉ lối cho con. Từ nay hai chúng ta sẽ hợp nhau cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục chóng lên Thiên đàng.
_____________
(Sưu tầm)
Tháng 11, Cầu Nguyện cho Các Linh Hồn
Bạn và tôi, chúng ta có làm việc lành phúc đức, hy sinh cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục đang đợi chờ chúng ta không?
From: Ngọc Nga & KimBang Nguyen
Câu chuyện bệnh ở Việt Nam – Bác sĩ Thắng Trần
Dưới đây Bác sĩ Thắng Trần chia sẻ chia sẻ suy nghĩ của mình về số phận các người bệnh tại Việt Nam
BS Thắng Trần, Na-Uy
Cơ may cho tôi được tìm hiểu thêm về hệ thống y tế Việt Nam CS đến thật bất ngờ và đã cho tôi nhiều suy nghĩ về số phận con người.

Sau 42 năm sống xa xứ, lần đầu tiên tôi quyết định về Việt Nam “ĂN TẾT”. Về Sài Gòn 5 ngày trước tết để sắp sửa trước khi về quê ăn Tết với người thân. Tết ở Sài Gòn năm nay không có không khí như tôi nghĩ. Chợ hoa vắng người, sức mua sắm giảm nhiều vì kinh tế khó khăn và tình trạng thất nghiệp gia tăng.
Chuyện không vui xảy ra vào sáng mùng 1 tết, người thân tôi té sau khi đi từ nhà tắm ra và bà đã gãy cổ xương đùi.
Sau khi xác định qua chụp hình X-ray, tôi phải liên lạc bạn bè đồng nghiệp và cũng là bạn học thời trung học để lo cho bà đi mổ. Bác sĩ M. học cùng trường và quen thân, là bác sĩ chuyên khoa chỉnh hình đã tận tình giúp đỡ: giới thiệu bịnh viện và liên lạc bác sĩ mỗ giỏi. Anh góp ý nên đi bệnh viện tư ở Sài Gòn. Từ quê lên Sài Gòn mất 4-5 giờ xe. Các bệnh viện chỉ mổ những ca thật cấp thiết vì bác sĩ và y tá ( ở Việt Nam gọi là điều dưỡng) nghỉ tết. Tôi được khuyên đừng đưa bà lên trước mùng 6. Vì bà dùng thuốc loãng máu nên cũng phải đợi. Ở Na-Uy những trường hợp này sẽ phải mổ trong vòng 48 giờ.
BỆNH VIỆN
T.A là bệnh viện tư nhân người thân tôi nằm. Thủ tục đầu tiên là nộp giấy chứng minh thư, giấy bảo hiểm sức khỏe, tiền ứng cho tiền phòng. Có nhiều mức giá: phòng 6,3, 2 hay 1 người, ngoài ra có phòng VIP. Chúng tôi chọn phòng 1 người với giá 980.000 ngày. Đặc cọc trước 5 ngày. Trong phòng có 1 giường cho bịnh nhân và 1 giường cho người thân đi NUÔI bịnh nhân. Vì 2 vợ chồng tôi ở lại, nên mướn thêm ghế bố 30.000 mỗi ngày. Tiền phòng bao gồm cháo buổi sáng, 3 món trưa và tối cho người bệnh, 1 lần lau sàn nhà và 1 lần lấy rác. Thay ra mền vệ sinh cho bệnh nhân là trách nhiệm người nhà (!!!)
Phòng và nhà vệ sinh tệ.( Xem hình dưới đây)
ĐIỀU DƯỠNG
Trách nhiệm điều dưỡng: đưa thuốc cho người nhà để cho bệnh nhân uống, thay băng, thử máu, chích thuốc. Ngoài những việc khác người nhà phải lo cho bệnh nhân. Cây kim chích, băng thay, từng miếng bông gòn đều được ghi để tính tiền. Khi họ vào họ không giới thiệu họ là ai, phần hành gì. Khi cần gọi họ đến, nhưng không làm gì, chỉ trả lời là họ sẽ hỏi bác sĩ đã. Trong 2 ngày đầu họ coi thường chúng tôi lắm. Sau khi mổ xong người thân tôi mê sảng và sốt. Tôi yêu cầu đo nhiệt độ, thử máu và xem xét cho trụ sinh. Họ không làm ngay, tôi yêu gặp bác sĩ D, người mổ và người tôi quen. Điều dưỡng thông báo là bs bận mổ. Tôi không đồng ý và tôi tự gọi bs. D xuống ngay. Từ khi bs thông báo cho họ biết tôi là ai, họ đã làm theo yêu cầu của tôi không cần thông qua bs D. Tôi thật sự rất khó chịu tính quan liêu và kiêu ngạo.
Bệnh nhân gãy xương và sau khi mổ với cơn đau dữ dội nhưng họ chỉ cho Paracet để giảm đau. Tôi phải yêu cầu dùng morfin và chấp nhận trả tiền họ mới cho. Rõ khổ.
BÁC SĨ
Ngoài bs D quen biết và biết tôi làm gì, còn những bs khác thì hỡi ơi!
Hôm bà bị mê sảng, có 1 bs đến. Ông vào phòng với 1 điều dưỡng. Ông không tự giới thiệu mình là ai và vào làm gì. Ông hỏi bệnh nhân tên gì, tại sao vào đây? Khi nghe bị gãy cổ xương đùi, ông ta chỉ xoáy vào việc là có phải do choáng váng, mất thăng bằng và té. Ông chỉ muốn xác định là do tai biến đưa đến té. Ông hỏi có dùng thuốc loãng máu vì sao? Tôi giải thích là do trước đây vài năm có triệu chứng tai biến và khi dùng thuốc loãng máu, triệu chứng không còn sau khi uống thuốc vài phút, từ đó bs bệnh viện cho dùng tiếp. Ông ta không nhìn tôi mà chỉ chăm chăm hỏi bà cụ. Tôi không thể hiểu ông đang làm gì. 1 người đang mê sảng không thể nhớ hay có khả năng trả lời. Tôi phải ngắt lời và hỏi ông là ai? Ông báo là bs chuyên khoa thần kinh, tên S, ông muốn bà cụ phải chụp hình MRI để xác định đã bị tai biến và khi ấy mới tiếp tục dùng thuốc loãng máu. Tôi cũng xin phép tự giới thiệu về mình và giải thích yếu tố phòng hộ ban đầu đủ để bà cụ dùng thuốc loãng máu ( tiểu đường, cao áp huyết, triệu chứng tai biến). Xác định có tai biến để dùng thuốc loãng máu là phòng hộ thứ hai, người mê sảng không thể nằm yên 30 phút’ để chụp MRI và không bs nào đi lấy bệnh án người mê sảng khi không nói chuyện với người nhà. Tôi trả lời tôi không đồng ý chụp MRI, tôi tự quyết định cho bà dùng thuốc loãng máu và tôi không cần bs S ở đây. Tôi không đồng ý trả tiền cho sự có mặt của bs.
Tôi đã quen với môi trường làm việc bệnh viện Na-Uy 30 năm. Khi bệnh nhân nằm viện, mọi thứ đều được bs, y tá và trợ tá lo. Người thân không được ở lại bệịnh viện. Ở Việt Nam hoàn toàn trái ngược. Ở Việt Nam 3 y tá lo cho 30 bịnh nhân cũng không mệt. Bên Na-Uy 1 y tá lo cho 2 bịnh nhân là bù đầu bù cổ.
Tôi nghĩ những phòng 3-6 bịnh nhân, người thân lo cho bịnh nhân họ sẽ nằm ở đâu. Nằm dưới gầm giường chắc?
Cùng là số phận con người và bệnh nhân, nhưng bệnh nhân ở Na-Uy được đối xử đàng hoàng và đúng tình con người. Tôi thật sự không thể tưởng tượng hoàn cảnh bệnh nhân ở bệnh viện công ở Việt Nam thì sao?

Cảnh chờ đợi ở bệnh viện tâm thần Sài Gòn
Chi phí tôi phải trả cho 5 ngày nằm viện và mổ là 37 triệu và bảo hiểm trả 52 triệu. Với số tiền gần 80 triệu có thể là cả gia tài cho 1 gia đình.
Qua đây tôi càng thương cho số phận những người dân trong nước. Còn nhiều người lo không đủ cho chỗ ở, miếng ăn. Chắc nhiều người lo sợ bị bệnh và người thân bị bệnh. Không có quen biết và kém tài chính sẽ khó khăn lắm.
Dr. Thắng Trần
**********************************************************
Kẻ đi Tìm thông tin thêm
Dao mổ rạch ba lần mới đứt của Trung Quốc
PGS Đào Xuân Cơ – Giám đốc Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội), cho biết, sau Thông tư 14, các bệnh viện sẽ không còn phải mua vật tư giá rẻ nhất, bác sĩ sẽ được dùng thiết bị theo nhu cầu khám chữa bệnh.
Trước đây, theo quy định, các cơ sở phải tìm nơi bán giá rẻ nhất để mua. Tuy nhiên, trong y tế, với mức giá thấp nhất thì không thể mua vật tư và thuốc tốt nhất cho người bệnh.

PGS Cơ cho rằng bệnh viện sẽ tránh được tình trạng mua phải xông hút giá thấp nhất gây biến chứng chảy máu phế quản bệnh nhân, dao rạch 3 lần mới qua da như Bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HCM). Các máy móc, thiết bị hỏng hóc trước mua sắm linh kiện thay thế rất khó, Thông tư 14 giải quyết tất cả vấn đề này.
Về nỗi lo có tình trạng “thổi giá” trang thiết bị, PGS Cơ cho rằng trong thời gian qua, việc chống tham nhũng nhất là trong phòng chống dịch đã được làm chặt, các công ty nâng khống giá bị “tuýt còi”.
Cơ chế ơi là chế cơ, dân ta quá khổ vì XHCN chúng bay! Ôi thiên đường Cộng Sản, xã hội đáng sống là đây sao?
Hiện tượng ‘mất trí nhớ’ và ‘ bệnh Alzheimer’
November 29, 2023
Bác Sĩ Hồ Ngọc Minh
Nhiều người tưởng lầm là sự mất trí nhớ và bệnh Alzheimer. (Hình minh hoạ: JEAN-PHILIPPE KSIAZEK/AFP via Getty Images)
Tình trạng mất trí nhớ – dementia thường xảy ra cho người già, nhưng không phải mọi người khi già đều mất trí nhớ.
Nhiều người tưởng lầm là sự mất trí nhớ và bệnh Alzheimer cùng là một thứ bệnh, nhưng thật ra không phải như vậy.
Trung bình chỉ có 10% số người trên 65 tuổi bị bệnh Alzheimer, nhưng cho những cụ trên 85, tỷ số là 1/3.
Hiện nay, theo ước tính, có khoảng năm triệu người Mỹ trên 65 tuổi bị bệnh Alzheimer và trên toàn thế giới có khoảng 35.6 triệu người bị mất trí nhớ.
Nói đúng ra, trí nhớ của tất cả mọi người đều không hoàn hảo. Có những dữ kiện chúng ta tưởng là nhớ đúng 100% nhưng trên thực tế theo thời gian, trí nhớ bị phai mờ với những “lỗ hổng.”
Bộ não chúng ta sẽ tìm cách điền vào những “chỗ trống” đó bằng những hư cấu không có thực hay không chính xác.
Vì thế khi chúng ta lớn tuổi, chuyện giảm trí nhớ xảy ra cho tất cả mọi người, nhưng mức độ và tốc độ suy sụp tùy theo bản chất của mỗi cá nhân.
Riêng những người bị Alzheimer, tốc độ suy sụp rất nhanh, có khi trong vòng vài tháng đã thấy sự khác biệt.
Thế thì, những dấu hiệu khác biệt đó là gì?
Hầu hết các sách y khoa đều nói rằng dấu hiệu sớm nhất của bệnh Alzheimer là mất trí nhớ. Khổ nỗi là sự mất trí nhớ không xảy ra qua đêm trong thời gian đầu nên rất khó mà nhận biết. Mà nếu có chút lãng trí xảy ra thì thường bị bỏ qua hay bị người thân phán cho những chữ như “già rồi, lẩm cẩm” là xong câu chuyện.
Một khi sự mất trí nhớ xảy ra có thể nhận thấy được thì thường là quá trễ.
Người có triệu chứng Alzheimer thường bắt đầu lặp lại những câu chuyện hay câu hỏi nhiều lần và bất chợt.
– Thí dụ, có khi họ đang nói chuyện thời năm 1975, đùng một cái nhảy qua nói chuyện đánh football năm 2015, rồi quay lại thời cụ Diệm bị đảo chánh và vài ngày sau lại nhắc lại những chuyện đó. Hoặc, họ có vấn đề theo dõi câu chuyện của người khác.
– Thí dụ người ta đang bàn chuyện đám cưới, người có vấn đề lại “đóng góp” chuyện lính Mỹ đổ bộ ở Normandy!
Nghĩa là, nhớ đâu nói đó, không có thứ tự. Không nên nhầm lẫn với thói quen suy nghĩ của người bệnh. Đa số, thường bị bỏ qua là “lâu nay tánh vẫn thế!” Cùng lúc với chuyện lãng trí, quên chỗ này, chỗ kia, dấu hiệu sớm nhất của bệnh Alzheimer là việc đi đứng không vững và hay té ngã.
Dĩ nhiên là khi người lớn tuổi hay bị té ngã có thể do nhiều nguyên do khác nhau đưa đến, nhưng không nên bỏ qua mà phán cho câu “già yếu nên như vậy.”
Có người đang ngồi trên ghế vẫn bị té lăn quay xuống đất vì không giữ được thăng bằng, như vậy không phải hoàn toàn là yếu.
Người bị Alzheimer thường có dáng đi như lê lết trên mặt đất như chim cánh cụt. Họ không nhấc được bàn chân khỏi mặt đất và hai chân thường hay bị quíu như không biết chân nào phải bước trước và chân nào theo sau. Có khi họ như lúng túng muốn bước hai chân tới trước cùng một lúc. Đó là lý do tại sao họ dễ bị té.
Ngoài ra, lý do dễ mất thăng bằng và hay bị té là khả năng nhìn vật thể chung quanh theo định thức không gian ba chiều không còn chính xác nữa.
Thí dụ cái bàn, cái ghế có thể bị nhìn méo đi hay khoảng cách ước lượng từ điểm A đến điểm B không còn đúng nữa.
Họ mất khái niệm về thời gian và không gian. (Hình minh hoạ: CLEMENT MAHOUDEAU/AFP via Getty Images)
Khoa học vẫn chưa tìm ra gene di truyền gây ra bệnh Alzheimer. Người ta đã tìm khắp bộ DNA của con người và ghi nhận được 33 điểm khả nghi.
Tuy nhiên, những người có gene apolipoprotein E (APOE) ở trên nhiễm sắc thể số 19 sẽ có nguy cơ tăng cao. Ngoài ra, nguy cơ có thể thay đổi qua sự tương tác giữa gene và môi trường.
Căn nguyên của bệnh Alzheimer là do những vảy – plaques chung quanh tế bào não, tương tự như vảy đóng trong mạch máu.
Khác với vảy cholesterol trong máu, những vảy trong não này được tạo thành bởi chất protein.
Những vảy protein như những chất cách điện, hệ quả là những tín hiệu được truyền đi từ một tế bào thần kinh này đến tế bào khác bị ngăn chặn.
Hiện tượng cách ly này không chỉ xảy ra giữa tế bào này với tế bào khác, mà còn ở ngay trong tế bào thần kinh, như những chùm tơ nhện, gọi là “tangles of Tau protein.”
Ngoài việc cách ly sóng điện, những vảy protein còn tiết ra chất độc để hủy diệt tế bào thần kinh, vì thế não bộ dần dần teo nhỏ lại.
Hiện tượng đóng vảy không xảy ra qua đêm mà kéo dài có khi cả chục năm trước khi triệu chứng đầu tiên xuất hiện. Nói cho dễ hiểu, “người thường” không có bệnh Alzheimer cũng bị đóng vảy trong não chút đỉnh khi… già yếu.
Nhưng đối với người có bệnh, tốc độ suy sụp, đổ dốc sẽ rất nhanh. Dĩ nhiên, triệu chứng mấu chốt của bệnh mất trí nhớ phải là sự mất khả năng tư duy, khả năng nhớ, nhưng những triệu chứng khác do sự suy yếu của não bộ đưa đến, ví dụ như khả năng nói và vệ sinh cá nhân sẽ xảy ra cùng lúc, chứ không theo thứ tự.
Như thế, sự suy yếu xảy ra một cách toàn bộ, từ trí nhớ, đến suy yếu thị giác và khả năng giữ thăng bằng.
Khi bệnh càng nặng, người bệnh sẽ mất khả năng tư duy, không còn nhận biết người quen, không nhớ những chuyện mới xảy ra gần như tức thì.
Họ sẽ có vấn đề hiểu câu hỏi, sử dụng từ ngữ để diễn tả hay tốn nhiều thì giờ để trả lời một câu hỏi có khi rất đơn giản.
Khuôn mặt như khờ đi, không biểu lộ được cảm xúc.
Họ mất khái niệm về thời gian và không gian.
Tâm tính của người bị mất trí nhớ cũng thay đổi, có khi họ trở nên trầm cảm, cô đơn nhưng có lúc hung dữ, bướng bỉnh vì trong tư duy hạn hẹp, không ai hiểu được họ.
Cuối cùng là mất luôn khả năng vệ sinh cá nhân như tiểu tiện và đại tiện.
Người bệnh chỉ nhận biết được một vài người thân săn sóc cho họ.
Khi thiếu những người này hay khi phải rời xa những môi trường quen thuộc, thường sẽ bị kích động những cơn sợ khủng hoảng tinh thần, gọi là panic attacks, làm cho họ cứng người đi, càng dễ bị té ngã thêm.
Trong phạm vi bài viết này, tôi không đi sâu vào việc chẩn bệnh và thuốc chữa trị. Tuy nhiên, dựa trên những kiến thức cơ bản ở trên, tôi hy vọng bạn đọc có thể phát hiện ra bệnh tình của người thân và đưa họ đến gặp bác sĩ càng sớm càng tốt.
Nên nhớ tất cả các loại “thuốc chữa” hiện nay không có khả năng chữa dứt bệnh mà chỉ làm cho tốc độ phát triển của bệnh chậm đi.
Họ trở nên trầm cảm, cô đơn. (Hình minh hoạ: PATRICK HERTZOG/AFP via Getty Images)
Và nếu thuốc chữa càng sớm thì phẩm chất đời sống của bệnh nhân cũng như của người thân săn sóc cho bệnh nhân sẽ đỡ khổ hơn nhiều.
Nói chung, mọi người khi lớn tuổi đều có nguy cơ bị mất trí nhớ. Để giảm bớt nguy cơ bị mất trí nhớ, một số biện pháp cần thực thi ngay từ bây giờ:
Trước hết, bạn phải có một chế độ ăn uống cân bằng, điều độ, nhiều rau trái, tập thể dục đều đặn, như đi bộ ba tới năm giờ mỗi tuần và ngủ đủ tám tiếng mỗi ngày.
Ngủ đêm không đủ thì tranh thủ ngủ ngày! Những người ngủ đầy đủ và có ngủ trưa thường sống lâu và ít bị mất trí nhớ. Ta nói nôm na là tập… “nhảy đầm.” Nghiên cứu đăng trên tờ New England Journal of Medicine năm 2003 cho biết khiêu vũ vừa là một môn thể dục thể thao, vừa là một trò chơi đòi hỏi suy nghĩ, tiến thoái trong mỗi bước.
Khi khiêu vũ, lượng máu không những chỉ dồn về bắp thịt mà còn đổ về phía não bộ nhiều hơn vì khiêu vũ đòi hỏi cả thể lực lẫn trí tuệ.
Nhiều nghiên cứu cho thấy người chơi nhạc cụ trên 10 năm sẽ có trí nhớ tốt hơn một người không chơi nhạc.
Trong trường hợp bạn không có đủ thời giờ hay năng khiếu âm nhạc, nên tập nghe và thưởng thức âm nhạc.
Một nghiên cứu đăng trên tờ Neurology năm 2013 cho biết những người nói thông thạo hai thứ tiếng, khả năng bị mất trí nhớ chậm đi bốn năm rưỡi so với người chỉ biết một thứ tiếng.
Một nghiên cứu của Pháp năm 2013 cho thấy những ai chơi cờ, hay chơi các loại game như bingo, xì lát, poker… Nhưng đừng ghiền quá và cũng tránh “ngồi computer” hay TV nhiều nhé, khả năng bị mất trí nhớ giảm đi 15%.
Nghiền ngẫm nội dung của sách, truyện. Đọc truyện mới lạ có lợi hơn là đọc chuyện cũ đã biết.

Nhiều nghiên cứu cho thấy người chơi nhạc cụ trên 10 năm sẽ có trí nhớ tốt hơn một người không chơi nhạc. (Hình minh hoạ: Dave Kotinsky/Getty Images for The Alzheimer’s Association)
Đừng đọc Thiên Long Bát Bộ hay Tam Quốc Chí đến lần thứ 10!
Thí dụ khi ăn thì đừng xem TV! Ngoài ra nên biết dùng thời giờ một cách hữu hiệu.
Khảo sát thống kê năm 2013 cho biết những người có những thú vui kể trên, trí óc minh mẫn hơn những người không có “thú vui” để tiêu khiển.
Sống lạc quan, yêu đời và có giao thiệp với bạn bè người thân làm bớt tình trạng cô độc, sầu muộn.
Viết văn, viết truyện, viết thơ cho bạn bè, viết nhật ký, viết hồi ký… làm giảm khả năng mất trí nhớ về sau.
Những người làm lụng chân tay, làm việc trong nhà ít bị mất trí nhớ hơn người ngồi một chỗ xem TV hay nhìn “bóng câu qua khung cửa sổ.”
Nói chung là phải tích cực “động não” chứ “không động kinh !!!” Tất cả các hoạt động trên đây nên bắt đầu từ hôm nay, bất kỳ ở lứa tuổi nào. Không nên đợi tới 60, 70 mới lo ngăn ngừa mất trí nhớ!
– Học khiêu vũ.
– Học chơi một thứ nhạc cụ hoặc nghe nhạc.
– Học một ngôn ngữ khác.
– Học đánh cờ hay chơi video game.
– Đọc sách.
– Chú tâm làm một việc cho xong, đừng ôm đồm nhiều thứ vô một làm hai ba việc cùng một lúc.
– Học đan, may vá hay làm vườn.
– Sống có mục đích.
– Tập viết.
– Cuối cùng, tập làm việc nhà.
S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Nhân Văn Giai Phẩm
Tác Giả: Tưởng Năng Tiến
Cuối năm 1973, nhà văn Bùi Ngọc Tấn được thả khỏi tù. Lúc đến văn phòng làm thủ tục giấy tờ phóng thích, ông chợt nhìn thấy tác phẩm của mình trên bàn giấy của những nhân viên công an ở trại:
“Tên hắn in trên bìa sách chứng tỏ điều đó. Như có một ma lực, hắn bước đến chỗ ấy. Hắn buộc miệng kêu to như gặp lại con mình:
- Thưa các ông các bà, đây là sách tôi viết.
Mọi người ngơ ngác…
- Cái gì? Anh nói cái gì?
Hắn cầm lấy cuốn truyện. Bìa có đóng dấu trại. Hắn nhìn mãi vào những tên hắn in trên bìa sách. Thật không tin được. .. Hắn lắp bắp như người ngẹn thở:
- Quyển sách này của tôi.
Cô trung sĩ nhìn giấy tờ của hắn. Rồi lại nhìn tên hắn in trên bìa sách. Cô đưa tờ lệnh tha cho ông Thanh Vân đọc. Ông ngẩng lên nhìn hắn chăm chú từ đầu đến chân. Rồi với giọng hiểu biết:
- Anh lại Nhân văn Giai Phẩm chứ gì?
Báo cáo ông, Nhân văn Giai Phẩm có từ năm 1956, tôi bị bắt năm 1968.
- Thế anh bị bắt về tội gì? ( Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập I. CLB Tuổi Xanh, Hoa Kỳ: 2000, 127- 129).
Từ 1956 đến 1973 là một khoảng thời gian khá dài, đủ dài để nhà nước CHXHCNVN biến bốn từ “Nhân Văn Giai Phẩm ” thành một … tội danh : “Anh lại Nhân văn Giai Phẩm chứ gì?”
Và thêm mười năm sau nữa thì “Nhân Văn đã hoàn toàn bị tẩy sạch” – theo như tường thuật nhà phê bình văn học Thụy Khuê , trong phần lời tựa tác phẩm (*) của bà :
“Năm 1984, khi trở về Hà Nội, tôi muốn tìm lại, dù chỉ một dấu vết nhỏ, chứng minh sự hiện diện của Nhân Văn Giai Phẩm trong lòng người dân Bắc. Nhưng vô ích. Tất cả đều đã bị xóa sổ. Kín đáo dò hỏi những người thân trong gia đình sống ở Hà Nội, thuộc thế hệ ‘phải biết’ Nhân Văn, xem có ai còn nhớ gì không? Nhưng không, tuyệt nhiên chẳng ai ‘nghe nói’ đến những cái tên như thế bao giờ: linh hồn Nhân Văn đã bị xóa trong ký ức quần chúng, và như vậy, ‘nọc độc’ Nhân Văn đã hoàn toàn bị tẩy sạch.
Ðó là lý do chính khiến vài năm sau, khi thực sự bước vào nghề cầm bút, tôi đã coi Nhân Văn Giai Phẩm là một trong những nghi vấn văn học hàng đầu, cần phải tìm hiểu. Bài viết đầu tiên của tôi về phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, đăng trên nguyệt san Văn Học, California, số 27, tháng 4 năm 1988; tiếp theo là những buổi phát thanh trên đài RFI, trong nhiều chương trình từ 1991 đến 2004, trong số đó có những buổi phỏng vấn các tác nhân chính của phong trào: Lê Đạt, Hoàng Cầm và Nguyễn Hữu Đang.
Cuốn sách này tổng kết công việc tìm kiếm và thu thập các dữ kiện xung quanh phong trào Nhân Văn Giai Phẩm trong hơn 20 năm, từ 1988 đến ngày nay.”
Thụy Khuê mô tả thành quả “công việc tìm kiếm và thu thập các dữ kiện xung quanh phong trào Nhân Văn Giai Phẩm trong hơn 20 năm” của mình bằng tên gọi (khiêm tốn và giản dị) chỉ là một cuốn sách. Thực ra, đây là một công trình biên khảo (dầy đến 957 trang giấy) và chỉ cần xem qua thư mục cũng như phần phụ lục – gồm 164 trang – cũng đủ khiến cho bất cứ ai còn quan tâm đến phong trào Nhân Văn cảm thấy ấm lòng, và bồi hồi xúc động.
Trong buổi tọa đàm bỏ túi – tại toà soạn Diễn Đàn Giáo Dân, vào sáng hôm 03/ 03/ 2012 – những người hiện diện (Trần Văn Cảo, Nguyễn Đình Cường, Nguyễn Chí Thiện, Trần Nguyên Thao, Trần Phong Vũ … ) đều lặng nhìn tác phẩm, còn thơm mùi mực của Thụy Khuê, với rất nhiều xúc cảm. Cái cảm xúc của những kẻ được chứng kiến cảnh một chiếc tầu chìm (mang theo hàng ngàn sinh mạng, cùng với những di sản vô giá) đã nằm im lìm dưới lòng đại dương – hơn nửa thế kỷ qua – vừa được trục vớt ra khỏi biển sâu.
Nhờ vào sự tận tụy của Thụy Khuê, và một số những đồng nghiệp của bà (trong cũng như ngoài nước: Lại Nguyên Ân, Phạm Thị Hoài …) những tiếng kêu uất nghẹn và những mảnh đời oan khuất – tưởng đã tiêu trầm với thời gian (nay) vẫn còn tươi rói và nguyên vẹn, gần như không thiếu một ai (**).
Thụy Khuê chia tác giả của Nhân Văn Giai Phẩm ra làm hai thành phần khác biệt:
“Loạt bài chính luận trực tiếp định hướng tư tưởng của các nhà trí thức và loạt bài sáng tác dấn thân nói lên khát vọng tự do của các văn nghệ sĩ. Hai thể loại này đan cài và bổ sung cho nhau, tạo nên làn sóng đấu tranh toàn diện cho tự do dân chủ và tự do tư tưởng.”
Cả hai, tất nhiên, đều phải trả giá bằng những đòn thù hung bạo và ti tiện như nhau. Trong khuôn khổ của một trang sổ tay, chúng tôi xin phép sẽ không nhắc đến tên những hung thủ hay thủ phạm (họ không đáng gì để chúng ta phải bận tâm) và chỉ ghi lại đôi nét chính, về vài ba nhân vật (theo thứ tự alphabétique) mà số phận bi đát nhất so với những người đồng cảnh, qua ngòi bút của Thụy Khuê:
– “Thụy An (1916 – 1989) là một khuôn mặt nổi trội, bị kết án nặng nề nhất. Trường hợp của bà giống như một bi kịch Hy Lạp, và cho đến nay, chưa mấy ai hiểu được những khúc mắc ở bên trong.”
“Thụy An là ai?
“Là phụ nữ duy nhất, không viết bài cho NVGP, nhưng tên bà bị nêu lên hàng đầu trong ‘hàng ngũ phản động’, bà bị quy kết là ‘gián điệp quốc tế’, lãnh án 15 năm tù cùng với Nguyễn Hữu Đang…”
“Về việc bà chọc mù mắt, dư luận chính thức loan rằng bà bị tai nạn ở mắt, khi đi lao động cải tạo. Chúng tôi hỏi nhà thơ Lê Đạt, người rất thân với bà trong suốt hành trình Nhân Văn Giai Phẩm: có phải trong Hỏa Lò chị Thụy An tự chọc mù mắt ? Lê Đạt lặng lẽ gật đầu, không thêm một lời nào cả…”
“Tháng 10/1974 Thụy An được thả theo diện ‘Đại xá chính trị phạm trong hiệp định Paris’, cùng với Nguyễn Hữu Đang. Bà bị trả về quản thúc ở Hoà Xá. Trên đường giải về làng, khi bị đẩy xuống xe tù, bà bị ném đá. Bà mất ngày 10/6/1989, tại nhà riêng ở đường Lê Văn Sỹ, Sài gòn.”
– “Phùng Cung (1928-1998) đại diện cho tất cả những người bị tù không có án, thậm chí không có lý do, hoặc lý do mơ hồ, khó hiểu, trong danh sách hàng trăm người bị xử lý nặng, hoặc hàng ngàn người, đã ‘liên hệ’ xa gần với NVGP, với nhóm ‘Xét lại chống đảng’ những năm sáu mươi. Mỗi cá nhân là một trường hợp, là một chân dung bị xoá, bị đưa đi biệt tích, trong cô đơn, đau khổ…”
“Dưới mắt Phùng Cung, chính sách đấu tranh giai cấp của đảng cộng sản, được mô tả dưới dạng phân chia giai cấp giữa Chó và Người. Giai cấp mà ông gọi là chó thuộc thành phần những kẻ ‘úp mặt hôn mê liếm lộc’, những kẻ ‘cưỡng bức ngữ ngôn’, những kẻ ‘tình nguyện trọn kiếp bút nô’, những kẻ ‘ngợi ca tội ác’… Và trong bối cảnh, chó đô hộ người, các công tác dò thám, hãm hại, thủ tiêu, đạt đỉnh điểm. Sự triệt tiêu văn hoá trở thành quốc sách. Chưa một ngòi bút nào đi xa đến thế trong việc mô tả xã hội độc trị…”
“Bài Nghe đêm gói trọn nỗi cô đơn cuối đời của con người bị lưu đầy, vì chữ nghĩa, từ tuổi thanh niên đến lúc đầu bạc:
Đêm chợt nghe
Trong gối vọng tiếng ru
Lắng tai mới rõ
Tiếng tóc mình chuyển bạc …
Đó là sự cô đơn của kẻ một mình một ngựa trên hành trình mở nước và dựng nước về phía văn hóa, tình nước và tình người.”
– “Nguyễn Hữu Đang (1913-2007) là một trong những khuôn mặt trí thức dấn thân tranh đấu cho tự do dân chủ can trường nhất trong thế kỷ XX. Là cột trụ của phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, Nguyễn Hữu Đang đã bị bắt, bị cầm tù, bị quản thúc và mất quyền tự do phát biểu trong 49 năm, từ tháng 4/ 1958 đến tháng 2/2007, khi ông mất…”
“Sau thời kỳ quản thúc ở Thái Bình, được về sống tại Cầu Giấy, ngoại ô Hà Nội, ông vẫn bị ‘chăm sóc’ kỹ càng. Điện thoại của ông, cũng như của các thành viên cựu Nhân Văn đều bị kiểm soát, nhưng riêng ông, ông không được phục hồi quyền phát biểu, tức là không được quyền trả lời phỏng vấn công khai như những người khác…”
“Nguyễn Hữu Đang là một khuôn mặt chính trị, văn hoá và đấu tranh, hiếm có trên chính trường Việt Nam dưới chế độ cộng sản. Một người theo đảng từ lúc 16 tuổi, hiểu rõ hơn ai hết quy luật tuân thủ của một cán bộ cộng sản. Nhưng ông đã đi ra ngoài trật tự ấy. Nguyễn Hữu Đang luôn luôn giữ vị trí tự do trong hành động cũng như tư tưởng của mình. Chính trong tư thế tự do ấy, ông đã đứng lên lãnh đạo phong trào Nhân Văn Giai Phẩm, đã tạo được một thời kỳ sôi nổi, trong vòng bốn tháng, trí thức và văn nghệ sĩ, dám nói, dám viết những điều mình nghĩ, dám chủ trương cải tiến xã hội Việt Nam thành một nước dân chủ theo đà tiến của thế giới bên ngoài.”
“Nhưng Nguyễn Hữu Đang đã thất bại. Sự thất bại của Nguyễn Hữu Đang cũng là sự thất bại chung của một dân tộc. Và hậu quả kéo dài đến ngày nay: nước Việt là một trong những nước cuối cùng, ở thế kỷ XXI, vẫn còn chưa biết nhận diện, để đòi hỏi những quyền cơ bản và tất yếu nhất của con người, đầu tiên là quyền tự do tư tưởng.”
Công trình biên khảo của Thụy Khuê không chỉ giới hạn vào phong trào Nhân Văn. Trong phần lời tựa, bà cho biết thêm :
“Trong quá trình làm việc, có những ngã rẽ bất ngờ: khảo sát về Phan Khôi, tôi thấy sau khi đi Pháp về, Phan Châu Trinh giao cho Phan Khôi nhiệm vụ viết lại lịch sử đời mình, từ đó, phải tìm hiểu về những ngày Phan Châu Trinh ở Pháp, dẫn đến mối tương quan giữa Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh, người tự nhận là lãnh tụ đầu tiên của phong trào Việt kiều Yêu Nước.”
“Tôi tìm đọc nguyên văn tiếng Pháp các bài viết ký tên Nguyễn Ái Quốc, mới thấy tác giả những bài viết này phải là người biết tiếng Pháp rất sâu và có văn tài; không thể là người mà Trần Dân Tiên mô tả trong cuốn hồi ký ‘Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch’. Vậy có một sự giả mạo lịch sử quan trọng cần phải tìm hiểu đến nguồn cội. Đó là lý do tại sao có phần biên khảo về Vấn đề Nguyễn Ái Quốc trong cuốn sách này.”
“Sự giả mạo lịch sử quan trọng” này, và công việc “tìm hiểu đến nguồn cội” của Thụy Khuê đã đưa đến lời khẳng định của bà, ở đầu chương 16, như sau:
“Tiểu sử Hồ Chí Minh là một bí mật. Chỗ nào ông muốn viết (hoặc sai người viết), chỗ nào giấu đi hoặc thêm thắt vào, đều có chủ đích rõ ràng. Và ông không hề ngần ngại nhận mình là tác giả những bài viết và những công trình không phải của ông. Trong phạm vi khảo luận này … chỉ chú ý đến thời kỳ Nguyễn Tất Thành ở Pháp, từ 1919 đến1923. Thời gian này, ông tự nhận mình là Nguyễn Ái Quốc và chính những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc đã xây dựng nên huyền thoại Hồ Chí Minh.”
Về cú “knockout” vô cùng ngoạn mục này của Thụy Khuê (kể như đã chấm dứt vĩnh viễn sự nghiệp giả trá của một nhân vật lịch sử vào bậc quan trọng nhất ở Việt Nam) chúng tôi xin…
03/2012
—————
(*) Nhân Văn Giai Phẩm & Vấn Đề Nguyễn Ái Quốc, biên khảo của Thụy Khuê, sách dầy 976 trang, bìa cứng, Tiếng Quê Hương xuất bản năm 2012, giá bán 40 M.K, có thể đặt mua theo địa chỉ sau: Tủ Sách Tiếng Quê Hương, P.O.Box 4653, Fall Church, VA 22044, email: info@tiengquehuong.com
(**) Theo chỗ hiểu biết của chúng tôi, trong công trình biên khảo này, chị Thụy Khê đã không nhắc đến một số tên tuổi quen thuộc khác, cũng có liên quan ít nhiều đến phong trào Nhân Văn như Bùi Quang Đoài, Thanh Châu, Hoàng Huế, Hoàng Yến, Hữu Loan, Tạ Hữu Thiện … Tuy nhiên, nếu nói theo Lê Đạt (“…ở đất nước Việt Nam, những người đau khổ vì Nhân Văn chắc rất nhiều, không thể đếm xuể được”) thì sự sai sót – dù vì bất cứ lý do gì – là điều rất khó tránh khỏi.
Ai được lãnh Bí tích Truyền Chức Thánh?-Cha Vương
Nhạc sĩ, nhà văn Nguyễn Đình Toàn qua đời, hưởng thọ 87 tuổi
November 28, 2023
FOUNTAIN VALLEY, California (NV) – Nhạc sĩ, nhà văn Nguyễn Đình Toàn, tác giả bài hát nổi tiếng “Sài Gòn Niềm Nhớ Không Tên” và từng một thời phụ trách chương trình Nhạc Chủ Đề trên đài phát thanh Sài Gòn trước năm 1975, vừa qua đời lúc 7 giờ 15 phút tối Thứ Ba, 28 Tháng Mười Một, tại bệnh viện Fountain Valley, California, hưởng thọ 87 tuổi.
Tin này được anh Nguyễn Đình Thư, con trai cố nhạc sĩ, xác nhận với nhật báo Người Việt.
Nhạc sĩ, nhà văn Nguyễn Đình Toàn. (Hình: Người Việt)
Theo Wikipedia, ông Nguyễn Đình Toàn sinh ngày 6 Tháng Chín, 1936 tại huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Ông còn có bút hiệu Tô Hải Vân khi viết văn và Hồng Ngọc khi viết nhạc.
Năm 1954, ông di cư vào Nam.
Ông đóng góp nhiều sáng tác văn học nghệ thuật dưới nhiều dạng như tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch nói, và bút ký. Tác phẩm “Áo Mơ Phai” của ông đoạt Giải Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam Cộng Hòa năm 1973.
Ông cũng viết nhiều truyện dài đăng thành nhiều kỳ trên các báo miền Nam Việt Nam như tạp chí Văn, Văn Học và các nhật báo như Tự Do, Chính Luận, Xây Dựng, và Tiền Tuyến.
Sau năm 1975, ông bị bắt và giam học tập cải tạo 10 năm mới được thả. Năm 1998 ông cùng gia đình xuất cảnh sang Mỹ, định cư ở Nam California, và tiếp tục hoạt động trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. (Đ.D.)
ĐẤT NƯỚC MÌNH
Đất nước mình lạ quá phải không em
Đến tù nhân giờ cũng đầy học thức
Nhiều giáo sư tiến sĩ nơi tù ngục
Chắc thế giới ít nơi nào có được
Đất nước mình kỳ quá phải không em
Có biết bao người lao động chân tay
Dám nghĩ dám làm chế tạo máy bay
Còn Giáo sư, Tiến sĩ cứ chơi hoài
Đất nước mình ngộ quá phải không em
Lương công chức mà xây toàn biệt phủ
Bao ” Đầy tớ ” giờ trở thành tỷ phú
Gánh nợ công để ” Chủ ” gánh hết đời
Đất nước mình rồi sẽ đi về đâu
Nạn tham nhũng cứ hoành hành tác quái
Bao tỷ đồng chảy vào túi những ai ?
Lò Bác Trọng vẫn đốt hoài đâu hết !
NVM (28/11/2023)
Ảnh sưu tầm
Cay Nghiệt -Truyện ngắn hay
Sỏi Ngọc
Thằng bé mới một tuổi rưỡi, nhảy tưng tưng trên đùi mẹ, nó đưa mấy ngón tay bụ bẫm lên sờ mặt mũi mẹ, vừa bập bẹ nana… nana, nó đang mọc răng nên dãi nhớt chảy đầy miệng, nhỏ xuống dưới người mẹ, bà lấy khăn chùi miệng cho nó, xiết nó vào lòng, hôn lên đôi má bầu của nó:
– Thằng chó cưng của bà! Không bao giờ ngồi yên được cả… Thôi ra chơi với mẹ mày đi!
Bà bế đưa cho tôi:
– Con trông nó nhé, mẹ sửa soạn đi công chuyện đây…
Tôi đang ngồi học bài, ngẩng đầu lên nhìn mẹ:
– Con đã nói với mẹ bao nhiêu lần rồi… Mẹ muốn “giữ” nó thì mẹ trông nó đi! Con mắc học thi, không có thì giờ với nó đâu!… Mẹ muốn con rớt khóa này hay sao?
– Mẹ sẽ cho nó bú một bình sữa, ru nó ngủ, con không cần làm gì cả, chỉ khi nào nó thức dậy nửa chừng, khóc thì con hãy bế nó, chơi với nó một chút, chờ mẹ về…mẹ trông cháu cho…
– Thật phiền quá… Con đã nói là bỏ nó đi từ hồi bên đảo rồi mà!
Mẹ nhìn tôi với cặp mắt trách móc nhưng dịu lại ngay, vẫn không nói gì; bà cố gắng chịu đựng những lời nói cay đắng như xát muối vào tim của tôi vì bà muốn đền bù cho tôi đã phải cực khổ mang cái bào thai của những tên đầu trâu mặt ngựa mất nhân tính trên đảo khi tàu chúng tôi được tàu Thái Lan vớt và đưa vào một đảo của đất nước này.
Tôi biết những lời nói của tôi thật hỗn hào, làm nhói lòng mẹ, nhưng tôi không thể kiềm chế mình được, không thể tự chủ được mỗi lần mẹ bảo tôi trông nó! Nó dễ thương thật nhưng… nhìn thấy thằng bé, tôi không thể nào quên được quá khứ nhục nhã ấy.
Lúc ấy tôi mới chỉ 15 tuổi, cái tuổi mới lớn dậy thì của đứa con gái Việt Nam, chưa hiểu hết về vấn đề tình dục, nhìn tôi bé nhỏ ai cũng tưởng tôi chỉ 10 tuổi thôi. Thế mà tôi đã bị những tên man rợ trên đảo hãm hiếp trong một buổi chiều khi tôi đi giặt đồ ở suối cuối con đường của những lều dân tỵ nạn. Tôi đi với mấy chị nữa, khi giặt xong chúng tôi cùng về, nhưng vừa đứng lên thì một chiếc dép của tôi bị đứt quai, tôi đành phải ngồi lại để cột; chỉ trễ có năm phút thôi, tôi thấy từ xa có hai tên cầm dao đi đến, mặt mày đỏ như gấc, mùi rượu nồng nàn.
Tôi hết hồn vơ cái chậu quần áo bỏ chạy, vì đôi dép mới cột chưa chắc lắm, làm tôi trợt chân, té sóng soài trên bờ đá, lăn xuống ngay trước mặt hai tên ấy. Chúng vừa thấy tôi, như con hổ lâu năm bị nhốt trong chuồng, đói và thiếu thốn, nay được xổ chuồng, chúng nắm lấy tôi ngay, cười khoái trá, con dao kè cổ, tôi không dám kêu la sợ bị giết chết… Hai tên đó coi như tôi không là con người, chúng cứ tha hồ vui sướng trên thân thể nhỏ bé mỏng manh của tôi, tôi ráng chống cự hết sức bình sinh, nhưng làm sao có thể chống lại hai tên khỏe mạnh ấy! Đến khi tôi không thể chịu đựng nổi nữa, đã ngất đi bên bờ suối, và khi người trong làng đem tôi về lều cho mẹ thì trong lòng tay tôi còn mãi nắm sợi dây đeo cổ bằng những sợi dây chỉ thết lại của một trong hai tên dã man khốn kiếp ấy.
Khi biết mình mang thai, tôi đã khóc vật vã, muốn phá cái thai, muốn dứt bỏ nó, tôi luôn tay đập vào bụng mình, tôi gào thét, ném đồ, đã bao lần cắt tay tự vẫn…nhưng mẹ đã cầu xin tôi, nắm chặt hai cánh tay tôi, nài nỉ van lơn tôi hãy giữ nó lại làm phước, đừng giết một mạng người, nó còn chưa ra đời nữa mà!
Những đứa trẻ con chạc tuổi tôi trên đảo, họp lại với nhau chơi đủ thứ trò, la hét cười đùa trước lều; chỉ riêng tôi, dù còn nhỏ tuổi nhưng như bà lão, gầy còm cõi, đôi mắt thất thần, ướt mượt chỉ muốn khóc thôi, tôi chán nản đến câm nín, không muốn ăn uống, không muốn soi gương, chỉ rúc mình vào xó nhà, ngồi bệt xuống đất nghĩ làm sao cho mình chết quách đi!
Khi nó được chào đời, được một tháng tuổi, tôi đã lén mẹ trong một buổi trưa khi mẹ vắng nhà, đi một khoảng khá xa làng tôi ở, đặt nó dưới một gốc cây, rồi vội vã quay trở về làng. Vừa đi vừa chạy thật nhanh vì sợ nó khóc, người ta sẽ tìm ra tôi… Tôi vừa chạy vừa khóc, hai tay bịt tai sợ nghe tiếng khóc của nó, nước mắt đầm đìa, trong lòng tôi hình ảnh bé nhỏ đỏ hỏn của nó hiện ra, đôi mắt nhắm thật yên bình, đôi môi mấp máy mút mút như đang bú sữa vậy, tôi có ác quá không? Quá tàn nhẫn khi bỏ nó một mình dưới gốc cây? Lỡ nó bị ai lấy đi và đem bán cho người xấu thì sao? Bao nhiêu câu hỏi lo lắng đầy lấp tâm trí tôi. Không nỡ tâm, tôi lại lính quýnh quay lại nơi tôi đã bỏ nó. Thằng bé vẫn nằm yên đó, nhắm mắt ngủ thật an lành!
Tôi nhặt nó lên, nhìn kỹ vào mặt nó, nó không mang một chút nét nào của tôi, như một kẻ xa lạ, vết hận trong lòng vẫn bừng bừng ngút ngàn, muốn ném nó ra xa khỏi tôi, nhưng nó vẫn chỉ là một đứa bé vô tội! Ý nghĩ giằng xé trong tôi, nên bỏ hay đem nó về?!
Hình như tôi có nợ với nó! Tôi lại bế nó về lều, không hé môi kể chuyện này cho mẹ nghe.
Tôi không phải thù ghét nó, nhưng cứ nhìn thấy nó là kỷ niệm nhơ nhuốc kia lại hiện ra. Tôi không biết tôi giận ai, giận cái gì! Chỉ biết tôi ghét cái thân thể đã bị vùi dập này, tôi thù cuộc đời cay nghiệt này, tôi không thể nào ôm nó vào lòng nựng nịu như tôi đã từng bế và yêu con búp bê bằng bông của tôi khi chưa có nó!
Nhưng kỳ diệu thay, từ ngày có nó, gia đình ba người của tôi gặp nhiều điều rất may mắn: dòng giáo dân ở Mỹ, thuộc tiểu bang Pennsylvania muốn tạo phước lành, họ nhận nuôi bảo trợ một vài gia đình đi tàu vượt biên có con nhỏ nhất ở đảo Thái Lan, họ sẽ chịu trách nhiệm nuôi ăn ở, sinh hoạt trong vòng 7 năm. Không biết rõ đây là chương trình gì nhưng rất ít gia đình được chọn lựa đến, thế mà tên của ba người chúng tôi có trên danh sách ấy và được đi ngay trong vòng một tháng sau khi làm thủ tục giấy tờ.
Họ đưa chúng tôi đến Pittsburgh, thành phố lớn của Pennsylvania, cảnh yên bình thật đẹp, với những sông ngòi, tàu bè và nhất là những chiếc lá thu đổi màu từ xanh sang đỏ vàng mà lần đầu tiên tôi được ngắm.
Chúng tôi được dòng cha xứ cho rất nhiều quần áo cũ của nhà thờ, dẫn chúng tôi đến ở một cái ấp khá rộng rãi chỉ có một phòng ngủ thôi, nhưng chúng tôi kê thêm giường ngoài phòng khách cho tôi ngủ để đừng bị thằng bé khóc làm phiền, sáng hôm sau tôi phải dậy sớm đi đưa báo từ 6 giờ sáng và tối thì đi học để sau này ra trường sẽ tự lập và nuôi gia đình.
Khi làm giấy tờ bên đảo để đi Mỹ, lúc bấy giờ mẹ mới đặt tên cho thằng bé là Kora (để kỷ niệm tên đảo Koh Kra, Thái Lan)
Vì sợ thằng bé làm phiền đến danh phận của tôi, nên ai hỏi mẹ cũng đứng ra nhận đại nó là con trai của mẹ cho qua chuyện! Mẹ còn rất trẻ mới gần 40 nên ai cũng tin nó là con của mẹ, em tôi! Mẹ dậy nó gọi tôi là dì, gọi mẹ bằng bà, nhưng trên giấy tờ thì nó thực sự là con tôi. Mẹ nói bây giờ nó còn nhỏ thì cứ cho là vậy, sau này lớn lên đi học, thì tính tiếp!
Ở xứ tự do, không khí trong lành này, thằng Kora lớn như thổi, thông minh, láu cá, nó ăn nhiều và rất ngoan, ít khóc và hiểu chuyện, nó dần chuyển hóa tình cảm của tôi đối với nó. Mỗi lần nghe tiếng chìa khóa lách cách mở cửa, đang chơi đồ chơi, nó ném hết xuống, vội vàng chạy ra mở cửa cho tôi, chưa biết nói nhiều, nó ê a lấy tay đập đập vào chiếc ghế gần đấy ý bảo tôi hãy ngồi xuống, rồi nó chạy đi tìm đôi dép cho tôi thay, xong chạy vào bếp lấy ly nước cho tôi uống đỡ khát. Nó mới gần 3 tuổi thôi nhưng biết để ý người lớn làm gì rồi bắt chước làm lại cho người khác, rất dễ yêu. Ai thấy nó đều không thể nào không khen được!
Sự dễ yêu của Kora làm các bạn trong nhà trẻ yêu mến, làm nhiều lúc tôi cũng quên đi nó chính là con của kẻ đã hại tôi. Sự ghét bỏ, lạnh nhạt với nó ngày càng vơi đi, nhưng tôi vẫn cảm thấy không thể nào ôm lấy nó hôn như những cử chỉ âu yếm của người mẹ đối với con được, cái tình mẫu tử thiêng liêng vẫn chưa nẩy nở trong trái tim tôi.
Ngày tháng trôi qua, tôi bận rộn từ sáng sớm đưa báo đến tối về thật trễ vì lấy cours đêm học, nhiều lúc không có thì giờ nhìn mặt thằng bé, sáng thì thằng bé chưa dậy, còn về đến nhà thì nó đã đi ngủ. Cuối tuần tôi lại bận rộn đi chợ búa nhanh nhanh với mẹ rồi phóng lên thư viện học bài cho những lần thi cử…
Thằng bé quấn lấy bà ngoại như người duy nhất có thể bảo vệ nó, nó sợ làm phiền tôi, sợ bị tôi la, sợ bị tôi hất hủi. Tôi nhớ có một lần tôi đang mải mê học bài trong phòng, bỗng nghe tiếng vỡ toang của ly nước sau lưng, quay lại thấy nó, mặt xanh mét đứng yên, tôi la lên:
– Tại sao lại vào đây? Ai cho phép vào! Đi ra!
Thằng bé òa khóc nức nở, nói trong tiếng nấc :
-�� Con muốn… con muốn đem…nước… vào cho dì…
– Có ai nhờ đem nước đâu! Có thấy là vỡ ly rồi đó không! Thiệt là…
Nó khóc to hơn nữa vì sợ hãi và muốn cầu cứu, mẹ tôi chạy vào thấy cảnh thằng bé bị la đến nỗi thất thần, đã tè ra nhà, đứng chết trân, môi xám nghoét vì sợ và khóc ngất, ly nước bể toang dưới chân, mảnh chai văng tung tóe trên sàn, còn tôi thì đứng la um sùm.
Mẹ mới bế nó vào lòng vỗ về:
– Con yêu của bà, nín đi, không sao rồi, ai bảo con đem nước vào phòng dì vậy?
– Con thấy dì…học bài… mệt nên… đem nước cho dì… con xin lỗi… bể ly…
– Con ngoan lắm, để bà sẽ nói dì mà, con nín đi và đừng làm phiền dì nhe, dì bận học nên la con thôi…
– Tại sao dì… ghét con hả bà?
– Không đâu! Dì không ghét con đâu, con thật là một cậu bé ngoan lắm, chỉ tại dì bận học, bây giờ phải quét vụn thủy tinh vỡ rơi đầy nhà nữa thấy chưa! Con làm cho dì phải bận thêm nữa…
– Con…xin lỗi… Bà ơi… bà đừng ghét con như dì nhe bà!… đừng ghét con!
Thằng bé mếu máo gào to hơn và ôm chặt cổ bà để tìm sự thương yêu nơi bà.
Lúc ấy trái tim tôi se lại, một chút tình tội nghiệp nào đó len lén vào tim, nhưng tôi vẫn không thể đưa tay ra ôm, vỗ về nó như mẹ tôi đang làm được, tôi cảm thấy chút gì căm hận, xa lạ thế nào ấy! Lại quay mặt đi, trốn nhìn cảnh đáng thương của thằng bé.
Năm tôi 21 tuổi, sắp ra trường đại học về hành chánh, thằng bé Kora lên 6 vào lớp một, tôi vừa bước vào nhà vì đi học và đi làm về muộn, thấy nó vẫn chưa ngủ, ngồi vẽ trong phòng dường như đợi tôi. Khi thay quần áo xong, tôi bưng bát cơm vào vừa ăn vừa thăm nó:
– Sao giờ này con chưa ngủ mà còn vẽ gì thế? Ngày mai con phải dậy sớm đi học nữa mà!
Nó phụng phịu nhìn tôi:
– Dì ơi! Con… không muốn đi học nữa!
– …Tại sao? Ai ăn hiếp con hả?
– Không ai dám ăn hiếp con đâu… chỉ là…
– Là sao??…
– Con muốn nhờ dì…
– Làm gì?
– Nhờ dì làm. Mẹ con…
– … ??
– Sắp đến ngày họp lớp, các bạn con đều có cha mẹ nó đi họp! chỉ mình con chẳng có ai… vậy mẹ con ở đâu hả dì?…
– … Ngày đó … dì đi học và làm cả ngày, để dì sẽ nói bà đi họp lớp cho con nhé!
– Không được đâu, cô giáo nói phải là cha mẹ cơ… tại sao con không có cha cũng chẳng có mẹ chứ?…Dì có biết cha mẹ con ở đâu không?
Khi nghe nó nhắc đến cha, niềm căm phẫn tự dưng dâng trào:
– Cha con đã chết mất xác rồi! Dì không có tin của ông ta, còn mẹ con…
Thằng bé mở to mắt đầy hy vọng, tôi quanh co:
– Mẹ con … đi làm thật xa, nên dì và bà mới nuôi con đây!
– Vậy có bao giờ mẹ về không dì?
– Khi nào rảnh, hết việc mẹ mới về chứ!
– Sao… con chả bao giờ thấy mẹ hết công việc vậy? Mẹ… làm gì mà bận vậy?
Thằng bé vẫn cứ nài nỉ:
– Hay dì đóng kịch giả làm…mẹ con nhe dì?
Tôi gắt ngang:
– Dì sẽ nói bà đi họp cho con!
– Không! Con muốn… nhờ dì…
– Đã nói là dì bận mà!… Dì không muốn đi!
Thằng bé cúi mặt nhìn xuống đất, hai tay xoắn vào nhau, không dám cãi lời tôi, nó phụng phịu ngồi yên vẽ những con rồng phun nước với những chiếc móng nhọn hoắt như trái tim nó đang bị cào cấu, hờn dỗi. Phải chăng nó đã quen với những lời nói thẳng thừng chẳng chút tình cảm nào của tôi từ bé đến bây giờ, nên không dám nài nỉ hay trả treo như những đứa con được yêu thương khác.
Tôi bước ra khỏi phòng, vừa cảm thấy bị phiền toái, vừa cảm thấy lương tâm cắn rứt! Trong thâm tâm nó, tôi chỉ là một người dì không hơn không kém, nên nó đâu thể mè nheo với tôi được. Nghĩ cũng tội nghiệp, từ nhỏ đến lớn đã thiếu tình thương của cha, cả người mẹ ở ngay trước mặt nó, mà nó cũng chẳng hay biết! Đã sáu năm nó vẫn sống trong sự hất hủi của chính người mẹ ruột, sáu năm nó cố gắng làm hết sức để mua chuộc tình cảm của mẹ nó mà vẫn mãi bị từ chối! Nó có tội tình gì không? Hay nó cũng chỉ là nạn nhân của một cuộc đời nghiệt ngã thôi? Càng nghĩ tôi càng thấy một chút xót xa dâng lên se thắt trái tim.
Buổi tối, tôi học bài rất khuya đến 1, 2 giờ sáng, bỗng nghe mẹ tôi nói to bên phòng bên cạnh:
– Kora, Kora bà đây dậy đi! Dậy uống thuốc nhe, con nóng quá rồi nè.
Tôi vội vàng chạy qua phòng, thấy mẹ đang bồng Kora dậy, cho nó uống Tylenol để hạ sốt, miệng nó vẫn cứ nói sảng:
– Con muốn mẹ! Con muốn có mẹ!
Mẹ nhìn tôi, mắt đỏ hoe:
– Hay là… con hãy nhận cháu nó đi, tội nghiệp nó, nó đã lớn, đã đi học, biết thế nào là thiếu tình mẫu tử, con không thể nào giấu mãi thân phận mình. Cháu nó sốt cao quá, nếu có mệnh hệ nào, suốt đời này mình sẽ ân hận lắm…
Tôi không nói gì, sờ lên trán nóng hổi của thằng bé, chiếc miệng đỏ au vì sốt cao, mắt nhắm nghiền nhưng nó vẫn không ngừng:
– Con không muốn đi học nữa! … Con muốn mẹ!
Ngày họp phụ huynh đã đến, tôi tới trễ, cả lớp các học sinh ai cũng có cha mẹ dẫn đi, duy chỉ có Kora là đi với bà ngoại, tất cả các em cùng phụ huynh ngồi bên ngoài, chờ cô giáo điểm danh mới bước vào phòng trong để nghe cô giáo nói về hạnh kiểm và học lực của mỗi em cho phụ huynh biết.
Thằng bé thấy tôi bước vào, khuôn mặt bật vui tươi rạng rỡ đứng dậy, tôi nhẹ nhàng vào ngồi bên cạnh nó, ánh mắt nó sáng ngời nhìn tôi trong vui sướng và đầy biết ơn, mẹ tôi quay qua hỏi:
– Sao hôm nay con được nghỉ buổi chiều à?
– Vâng! Con đã xin nghỉ để….đi họp cho Kora!
Mẹ ngạc nhiên nhìn tôi dò hỏi, vì đã 6 năm nay tôi chẳng bao giờ đi họp cho nó, có nhắc đến tôi cũng tỉnh bơ bỏ qua coi đó không phải là chuyện của tôi!
Mẹ nói:
– Con có chắc chắn sẽ … họp với nó chứ? Con…
Mẹ chưa hết câu thì tiếng cô giáo đã gọi:
– Kora Nguyen
Thằng bé đứng bật dậy, mắt nó nhìn tôi cầu khẩn. Cả mẹ và tôi cùng đứng lên một lúc, chúng tôi nhìn nhau. Tiếng cô giáo lại vang lên:
– Who is Kora’s mother? (Ai là mẹ của cháu Kora?)
Cả hai chúng tôi đểu trả lời:
– Me! (tôi)
Cô giáo ngạc nhiên nhìn mẹ và tôi, sau đó mẹ tôi mới chỉ vào tôi nói:
– I’m sorry, it’s her! (xin lỗi, chính bà này mới là mẹ của Kora)
– Go inside please (Xin mời vào bên phòng trong)
Kora sung sướng nhét bàn tay bé xíu của nó vào lòng bàn tay tôi, níu tôi vào bên trong phòng, nó tự tin ra mặt và nói ngay với cô giáo:
– Thưa cô, đây là mẹ con!
Cô giáo nhìn tôi một lúc rồi hỏi:
– Bà là mẹ của Kora?
– ….Vâng!
– Mấy lần tôi hỏi Kora về mẹ của nó… nó thường trốn tránh trả lời câu hỏi này của tôi, bà không gần gũi cháu vì bận làm à?
– ….
Rồi cô giáo khen thằng bé học giỏi, thông minh, biết chia sẻ kiến thức và giúp đỡ bạn bè… thằng bé lúc nào cũng đứng nhất lớp nhưng nó lại rất ít kể về tình gia đình, cô giáo nói với tôi rằng ở tuổi của nó phải được cười đùa cùng lũ bạn, đàng này cô thấy nó thỉnh thoảng rút lui vào một góc, vẽ những bức tranh kỳ quái nói lên tâm hồn của nó bị dầy vò vì một điều gì khó tả lắm! Cô giáo khuyên tôi nên bên cạnh nó, tâm sự và đi chơi nhiều hơn với nó vì nếu không sau này nó sẽ không có niềm tin vào gia đình, sẽ làm những việc không tốt cho xã hội. Tuổi thơ phải gắn liền với một gia đình hạnh phúc! Nghe cô giáo người Mỹ nói, tôi cảm thấy có lỗi với nó vô cùng, tôi đã hành động sai, thật đáng bị phạt.
Họp xong, dắt tay Kora ra khỏi lớp, nó rút nhẹ bàn tay bé nhỏ ra khỏi tay tôi.
Tôi giữ chặt lại không để nó rút ra, ngồi xuống nhìn thẳng vào mắt nó:
– Sao… con lại không muốn để tay con trong tay dì?
– Vì… mình đã đóng kịch xong rồi mà! Con cám ơn dì đã giả làm… mẹ con thật hay lắm!
– Con có muốn dì mãi mãi là mẹ thật của con không?
– Làm sao có thể được? …Con sẽ làm phiền dì, dì cũng… không thích con mà!?
Nước mắt nhạt nhòa trên mặt, ôm nó vào lòng, lần đầu tiên tôi ôm chặt lấy thân thể bé nhỏ của nó; lẽ ra tôi đã bỏ, đã vứt, đã muốn giết nó khi nó mới chỉ là phôi thai, tôi cảm thấy cả trái tim thổn thức, cả tâm hồn lay động, tôi thật hối hận, tôi đã lầm lỗi bao lâu nay! Phải chi tôi ôm nó một lần trong quá khứ thì chắc nó sẽ chuyển hóa được tình cảm của tôi rồi, trái tim nhỏ của nó đập nhẹ nhàng bên cạnh lồng ngực tôi, tôi thì thầm:
– Kora yêu quý của mẹ!
– ….!!
– Kora hãy tha thứ cho mẹ… mẹ rất yêu con, mẹ chính là mẹ ruột của con, chứ không phải là dì như từ trước đến giờ con gọi dì đâu! Con có muốn gọi mẹ là mẹ không?
– … Thật không? Có thật dì là… mẹ con không? Con không nằm mơ chứ? Con mong có được một người mẹ lắm… Mẹ ơi, mẹ ơi…
Nó choàng hai tay bụ bẫm quanh cổ tôi, không hề hỏi han tại sao dì bỗng nhiên biến thành mẹ nó như thế, nó mừng vui đến nỗi vừa khóc ré lên, lại vừa cười sung sướng trong tiếng nấc:
– Từ đây… con sẽ có mẹ rồi, mẹ hứa ở bên con mỗi ngày nhe mẹ! Con sẽ nói với các bạn rằng con là đứa con ngoan ngoãn nhất nên ông Trời đã cho con một người mẹ hiền và đẹp nhất trong đám bạn… Mẹ ơi…
Cả hai trái tim chúng tôi cùng một nhịp đập, tôi ôm nó thật chặt như sợ sẽ không bao giờ còn dịp để giữ chặt nó bên tôi nữa.
Sỏi Ngọc
From: NGOC PHAN & KimBang Nguyen
Thánh James ở Marche (1394-1476)- Cha Vương
THÀNH TỰU KHOA HỌC HOA KỲ
Phát minh robot chui vào cơ thể tiêu diệt khối ác tính trong cơ thể và thông các mạch máu bị tắc hay cầm máu bên trong…
Hy vọng phát minh này sẽ giúp được nhiều cho nhân loại.
Con robot hình cua này bé tí xíu, chỉ nửa mm. Nhưng nó có thể chui vô cơ thể người để tìm và diệt các khối u ác tính, thông các mạch máu bị tắc hay cầm máu bên trong. Nó vừa được nhóm nghiên cứu tại đại học Northwestern tại Mỹ phát minh ra và công bố. John A. Rogers, một giáo sư về khoa học vật liệu và kỹ thuật là người đứng đầu nhóm nghiên cứu này.
Thêm vào đó, bởi vì toàn bộ cơ thể robot nhỏ hơn một milimet không cần dây điện hoặc điện để hoạt động, nó thậm chí có thể đi lang thang trong cơ thể con người vào một ngày nào đó, hoạt động giống như một trợ lý y tế sáu chân.
Túm lại, đây là một thành tựu mới cho Y khoa thế giới từ các bước tiến vượt bậc của khoa học vật liệu và robot.
Vì ở nhiều xứ sách giáo khoa là miễn phí, đi học phổ thông từ nhỏ tới hết lớp 12 cũng miễn phí, nên hỏng xảy ra các vụ tranh cãi mất thời gian làm gì. Rảnh thì ráng làm cái gì cả nhân loại đều cần như con robot tí hon này sẽ đem lại nhiều lợi lạc cho thế gian hơn nhiều.
Hình từ đại học Northwestern















