Đọc Kết Luận Điều Tra vụ Vạn Thịnh Phát: Luật pháp có thể… đút túi? (Phần 1)

Ba’o Tieng Dan

Blog VOA

Trân Văn

29-11-2023

18 trong số 25 viên chức đã nhận tiền, quà của SCB trong khi thi hành công vụ, nay có một người được cho là đã phạm tội “nhận hối lộ”, một người “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” và 16 người “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”.

Theo Điều 354 Bộ Luật hình sự hiện hành (*) thì bất kỳ ai “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian nhận hoặc sẽ nhận bất kỳ lợi ích nào cho chính bản thân người đó hoặc cho người hoặc tổ chức khác để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ” cũng là “nhận hối lộ”.

Theo Kết luận điều tra (KLĐT) vụ án “xảy ra tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB và các đơn vị, tổ chức có liên quan”, có ít nhất 25 viên chức đã nhận tiền, quà của SCB trong khi thi hành công vụ để “làm hoăc không làm” đúng chức trách, dẫn đến thiệt hại như đã biết, song chỉ có 18/25 người là bị can của vụ án.

Nếu chịu khó đối chiếu các tình tiết được nêu trong KLĐT và nhận định của công an Việt Nam hẳn sẽ thấy, cơ quan điều tra (CQĐT) có thể tùy nghi diễn giải và áp dụng pháp luật. Luật pháp chẳng khác gì một loại đồ vật có thể dễ dàng bỏ vào hoặc lấy ra từ trong túi của bộ phận bảo vệ, thực thi pháp luật.

Công an điều tra, xử lý gần 55.000 vụ phạm tội trong 6 tháng đầu năm

***

18 trong số 25 viên chức đã nhận tiền, quà của SCB trong khi thi hành công vụ và nay bị CQĐT đề nghị truy tố, có một người được cho là đã phạm tội “nhận hối lộ” (bà Đỗ Thị Nhàn, Cục trưởng Cục Thanh tra Giám sát Ngân hàng [TTGS NH] 2, thuộc Ngân hàng Nhà nước [NHNN]), một người bị cho là đã phạm tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” (ông Nguyễn Văn Du, Quyền Chánh Thanh tra Cơ quan TTGS NH thuộc NHNN) và 16 người bị cho là đã phạm tội “lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” bao gồm: Một Phó Chánh thanh tra, một Thanh tra viên cùng của Cơ quan TTGS NH thuộc NHNN. Hai Cục phó, một Trưởng phòng, hai Phó phòng cùng của Cục TTGS NH 2 thuộc NHNN. Một Phó Giám đốc, ba Phó Chánh Thanh tra, một Phó phòng cùng của Cơ quan TTGS NH ở Chi nhánh TP.HCM của NHNN. Hai Thanh tra viên của Vụ Khiếu nại, tố cáo khối nội chính và kinh tế tổng hợp của Thanh tra Chính phủ (TTCP). Một Phó Chánh thanh tra của Kiểm toán Nhà nước (KTNN). Một Phó ban của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia (UB GSTC QG). Tuy mô tả, nhận định của CQĐT về hành vi của họ giống hệt nhau nhưng CQĐT lại đề nghị truy tố họ các tội khác nhau.

Phân tích về tội nhận hối lộ

Đây là nhận định của CQĐT về bà Đỗ Thị Nhàn, Cục trưởng Cục TTGS NH NHNN, Trưởng Đoàn Thanh tra SCB trong cả hai đợt ở trang 216 KLĐT: “Đỗ Thị Nhàn với tư cách là Trưởng Đoàn Thanh tra, đã nhận 5,2 triệu USD (tương đương 118.143.400.000 đồng), bao che, bưng bít cho các sai phạm của Trương Mỹ Lan và Ngân hàng SCB; báo cáo các cấp không trung thực, không đầy đủ, sai lệch kết quả thanh tra theo hướng giảm nhẹ sai phạm để tạo điều kiện giúp cho Ngân hàng SCB tiếp tục được tái cơ cấu, dẫn đến NHNN, chính phủ không có đủ thông tin, tài liệu để chỉ đạo xử lý các sai phạm của Ngân hàng SCB, ngăn chặn hành vi phạm tội của Trương Mỹ Lan và đồng phạm xảy ra tại Ngân hàng SCB; các hành vi làm trái công vụ của Đỗ Thị Nhàn, quy định của pháp luật thanh tra là phương thức, thủ đoạn để Nhàn giúp đỡ Lan, tạo điều kiện cho Ngân hàng SCB và thực hiện thành công hành vi nhận hối lộ. Hành vi của Nhàn đã phạm vào tội “Nhận hối lộ”, quy định tại Khoản 4, Điều 354 Bộ Luật hình sự”.

Còn đây là nhận định của CQĐT về ông Nguyễn Văn Hưng, Phó Chánh thanh tra của Cơ quan TTGS NH thuộc NHNN, cấp trên của bà Nhàn và là người trực tiếp chỉ đạo, giám sát công việc thanh tra SCB của bà Nhàn ở trang 216 KLĐT: “Nguyễn Văn Hưng vì vụ lợi, động cơ mục đích cá nhân đã chỉ đạo Đỗ Thị Nhàn, Trưởng đoàn thanh tra; Nguyễn Thị Phụng, Phó Trưởng đoàn và Tổ Tổng hợp (Nguyễn Tuấn Anh, Vũ Khánh Linh) xây dựng dự thảo, chỉnh sửa, hoàn thiện các báo cáo NHNN và chính phủ, nội dung thể hiện không trung thực, không đầy đủ về: Tình hình, thực trạng tài chính yếu kém của Ngân hàng SCB; Che giấu, không báo cáo về vi phạm, sai phạm của Ngân hàng SCB, sai lệch với kết quả thanh tra, tạo điều kiện cho Ngân hàng SCB được tiếp tục thực hiện các phương án tái cơ cấu, dẫn đến NHNN, chính phủ không có đủ thông tin, tài liệu để chỉ đạo xử lý các sai phạm của Ngân hàng SCB, ngăn chặn hành vi phạm tội của Trương Mỹ Lan và đồng phạm xảy ra tại Ngân hàng SCB”.

Theo KLĐT: “Trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của Người ra Quyết định Thanh tra và Phó Chánh thanh tra phụ trách Cơ quan TTGS NH, Nguyễn Văn Hưng khai đã nhiều lần nhận tổng số tiền 139.000 USD (quy đổi theo tỷ giá trung tâm các lần nhận tiền, tương đương 8.730.540.000 đồng)… đã phạm vào tội ‘lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ’ quy định tại Khoản 3 Điều 356 Bộ Luật Hình sự năm 2015 với vai trò là người chỉ đạo”.

Vạn Thịnh Phát

Rõ ràng hành vi phạm tội của bà Nhàn và ông Hưng chẳng khác gì nhau. Nếu đọc lại các dòng đã được tô đậm, tự nhiên sẽ thấy, khi soạn thảo KLĐT, CQĐT còn… sao chép nhận định về hậu quả bà Nhàn gây ra để đánh giá về tính chất, mức độ phạm tội của ông Hưng, chưa kể, ông Hưng mới là người chỉ đạo, ông không yêu cầu, không tán thành, bà Nhàn không thể “đổi đen thành trắng”. Thế thì tại sao chỉ có bà Nhàn bị xem là “nhận hối lộ” hình phạt nằm trong khung từ “20 năm, tù chung thân hoặc tử hình”, còn ông Hưng chỉ bị xem là “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ”, hình phạt chỉ nằm trong khung từ “10 năm đến 15 năm”?

Trong KLĐT về vụ án “xảy ra tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB và các đơn vị, tổ chức có liên quan” có rất nhiều trường hợp như vừa đề cập: Hành vi phạm tội được CQĐT mô tả, nhận định giống nhau nhưng khi xác định tội danh lại rất khác và… hình phạt khác hoàn toàn. Xin tham khảo thêm các trường hợp liên quan đến một số viên chức ở Chi nhánh TP.HCM của NHNN…

Tại trang 242 và 243 KLĐT, CQĐT nhận định như thế này về hành vi phạm tội của các ông Nguyễn Văn Dũng (Phó Giám đốc Chi nhánh TP.HCM của NHNN), Võ Văn Thuần (Phó Chánh Thanh tra phụ trách TTGS NH Chi nhánh TP.HCM của NHNN), Phan Tấn Trung (Phó Chánh Thanh tra phụ trách TTGS NH Chi nhánh TP.HCM của NHNN), Nguyễn Tín (Phó phòng Thanh tra hành chính, Giải quyết khiếu nại, tố cáo và Phòng chống tham nhũng, Cục TTGS NH TP.HCM thuộc Cơ quan TTGS NH NHNN) và bà Nguyễn Thị Phi Loan (Phó Chánh Thanh tra phụ trách TTGS NH Chi nhánh TP.HCM của NHNN): “Nguyễn Văn Dũng, Võ Văn Thuần, Phan Tấn Trung, Nguyễn Thị Phi Loan, Nguyễn Tín với vai trò là lãnh đạo Cục 2, NHNN Chi nhánh TP.HCM, TTGS NH Chi nhánh TP.HCM và Tổ trưởng Tổ Giam sát đã có các hành vi: Ngăn chặn, cản trở việc báo cáo hoặc báo cáo không trung thực các hành vi sai phạm và thực trạng tài chính rất xấu của Ngân hàng SCB lên NHNN và Cơ quan TTGS NH; Không kiến nghị NHNN đưa SCB vào diện kiểm soát toàn diện; Không kiến nghị Cơ quan TTGS NHNN; Không kiến nghị Cơ quan TTGS NHNN thanh tra pháp nhân SCB để kịp thời xử lý các sai phạm; Thu hẹp phạm vi thanh tra không đúng với đề xuất của Tổ giám sát, cố ý làm trái với ý kiến chỉ đạo của NHNN và Cơ quan TTGS NHNN. Đồng thời quá trình thực hiện, chỉ đạo công tác thanh tra, giám sát đối với Ngân hàng SCB, các cá nhân nêu trên đã nhận của Ngân hàng SCB từ 470 triệu đến 1,8 tỷ đồng”.

Đáng nói là, dù cho rằng: “Hậu quả của các hành vi sai phạm và nhận tiền của các cá nhân tại Cục 2, NHNN Chi nhánh TP.HCM và Tổ giám sát đã để cho nhóm Trương Mỹ Lan và SCB thực hiện hoạt động cho vay lũy tiến từng năm để Trương Mỹ Lan rút tiền sử dụng cá nhân/trả nợ cho các khoản vay trước đó nhằm che giấu thực trạng hoạt động tín dụng xấu của SCB, thiệt hại đến nay với số tiền đặc biệt lớn (dư nợ của các tổ chức, cá nhân thuộc nhóm Trương Mỹ Lan tính đến ngày 17/10/2022 là 677.286 tỉ đồng)” nhưng CQĐT chỉ xác định ông Dũng, ông Thuần, ông Trung, bà Loan, ông Tín phạm tội ‘lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ’ với hình phạt chỉ nằm trong khung từ “10 năm đến 15 năm”!

Ở Cộng hòa XHCN Việt Nam, không dễ để bị xem là… “nhận hối lộ” có thể vì hình phạt dành cho hành vi “nhận hối lộ” nặng tới mức các hệ thống không đành xuống tay với “đồng đội, đồng chí”, song cũng có thể vì công an… cũng thế – cũng như các viên chức mà họ điều tra! KLĐT không chỉ có những chuyện vừa kể…

(Còn tiếp)

Chú thích

(*) https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Trach-nhiem-hinh-su/Bo-luat-hinh-su-2015-296661.aspx


 

Kissinger và sự ảnh hưởng tới Việt Nam

Ba’o Tieng Dan

Dương Quốc Chính

30-11-2023

Kissinger là kiến trúc sư chính cho việc thiết lập bang giao Hoa Kỳ và Trung Quốc. Chính vì sự kiện ngoại giao này, nên ông được coi là nhà ngoại giao có sức ảnh hưởng lớn đến thế giới, do hệ quả của mối bang giao nói trên. Hệ quả chấn động nhất là Mỹ và Trung Quốc liên thủ để chống lại Liên Xô. Là một trong những tác nhân dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống XHCN.

Ảnh hưởng tiếp theo là tới Đài Loan và Việt Nam. Do Đài Loan bị Mỹ gạt ra, thế chỗ bởi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ở Liên Hiệp quốc, cũng dẫn tới thế chênh vênh của Đài Loan trước mối đe dọa TQ, biến quốc đảo này trở thành một quốc gia không chính thức.

Đối với Việt Nam, thì mối quan hệ hữu hảo Mỹ – Trung là nền tảng dẫn tới hòa đàm Paris được ký kết. Hòa đàm Paris thậm chí còn bắt đầu trước khi Kissinger đàm phán với TQ, nhưng không đi đến đâu. Chỉ sau khi Mỹ đã có mối quan hệ ngoại giao với TQ thì họ mới an tâm loại bỏ con đê chống CNCS lan tràn, là Việt Nam cộng hòa.

Mỹ yên tâm là làn sóng CS sẽ chỉ dừng lại ở Việt Nam, từ đó Nixon quyết định rút quân Mỹ khỏi VNCH. Vì lý do chính khiến Mỹ can thiệp vào VNCH là do học thuyết Domino, Mỹ lo ngại làn sóng đỏ từ TQ sẽ lan khắp Đông Nam Á, VNCH được gánh trách nhiệm là tiền đồn chống Cộng, giống Hàn Quốc và Tây Đức.

Kissinger cũng là đồng tác giả của Hiệp định Paris, ông có nhiều cuộc hội đàm bí mật với Lê Đức Thọ, từ đó dẫn đến HĐ Paris được ký kết. Hai người đều được trao giải Nobel Hòa Bình (nhưng Lê Đức Thọ đã từ chối nhận), vì có công cứu vãn hòa bình ở Việt Nam. Nhưng hòa bình chỉ thực sự diễn ra sau 2 năm, do Bắc Việt chiến thắng VNCH, chứ không phải do sự ngưng chiến theo HĐ Paris.

Ảnh chụp bìa sách “Các cuộc thương lượng Lê Đức Thọ – Kissinger tại Paris, của NXB Chính trị Quốc gia

Hiệp định Paris được cho là đã để cho VNDCCH được nhiều lợi thế để chiến thắng và chỉ nhằm mục đích để Mỹ được có hòa bình trong danh dự và ít đếm xỉa tới quyền lợi cũng như sự rủi ro của VNCH. Vì thế mà Tổng thống Thiệu đã từ chối ký HĐ cho đến khi Mỹ phải dùng B52 rải thảm Bắc Việt để lấy niềm tin là sẽ không bỏ rơi đồng minh.

Đó là vì, tuy Mỹ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam nhưng VNDCCH lại không cần rút, chỉ đóng tại chỗ kiểu da beo. Từ đó họ có thể dễ dàng chiến thắng VNCH, do không còn sự hỗ trợ của Mỹ, trong khi Bắc Việt vẫn được Trung Quốc và Liên Xô viện trợ.

Vào nhiệm kỳ của Nixon, Mỹ rơi vào khủng hoảng kinh tế và họ đã chọn việc hỗ trợ Israel đương đầu với các nước Arab, thay vì hỗ trợ VNCH chống Cộng sản. Nhiều người cho rằng, cũng nhờ bàn tay của Kissinger, một người Do Thái.

Kissinger cũng [được] coi như là người Mỹ có công lao lớn nhất khiến TQ có thể trỗi dậy như ngày nay. Thực ra công Kissinger dẹp Liên Xô không lớn vì Liên Xô tự chết là lý do chính, chứ không phải nhờ vai trò của TQ. Còn TQ trỗi dậy được thì đúng là nhờ Mỹ chơi cùng. Chứ nếu mà Mỹ cứ chặn không cho vào LHQ, vẫn o bế cho Đài Loan thì TQ còn dặt dẹo chán. Vì xét cho cùng thì TQ đi lên được là nhờ học theo Mỹ, làm gia công cho Mỹ, sử dụng các phát minh nền tảng của Mỹ.

Vì vậy, có thể thấy rằng Kissinger là một nguyên nhân cơ bản dẫn tới việc Mỹ bỏ rơi VNCH, dẫn tới sự sụp đổ, khiến nhiều người Việt cho rằng ông ta là kẻ tội đồ.


 

Bộ trưởng nói Đài Loan tiếp tục chuyển đầu tư ra khỏi Trung Quốc

Theo Báo Nikkei Á Châu

TAIPEI – Các công ty Đài Loan đầu tư nhiều vào Đông Nam Á và Nam Á hơn Trung Quốc lần đầu tiên vào năm 2022, một bộ trưởng nội các nói với Nikkei Asia, khi Bắc Kinh phô trương sức mạnh kinh tế của mình để gây áp lực với cử tri trước cuộc bầu cử tổng thống Đài Loan.

Bộ trưởng Bộ Kinh tế Đài Loan Wang Mei-hua cho biết trong một cuộc phỏng vấn độc quyền hôm thứ Ba: “Đây là lần đầu tiên vào năm 2022, khoản đầu tư của Đài Loan vào Đông Nam Á và Nam Á thực sự vượt qua Trung Quốc”. “Chúng tôi nghĩ xu hướng này sẽ chỉ tiếp tục do sức ép từ căng thẳng thương mại Mỹ-Trung.”

Bà gọi đây là một cột mốc quan trọng trong nỗ lực của Tổng thống Thái Anh Văn nhằm xoay trục sang khu vực và tránh xa Trung Quốc theo Chính sách hướng Nam mới được đưa ra vào năm 2016. Đầu tư của Đài Loan vào các quốc gia Đông Nam Á và Nam Á, bao gồm cả Ấn Độ, đạt 5,2 tỷ USD vào năm 2022, vượt qua con số 5 tỷ USD đổ vào Trung Quốc trong cùng thời kỳ, Wang nói.

Bắc Kinh đang điều tra Đài Loan vì bị cáo buộc dựng lên các rào cản thương mại và nói rằng cuộc điều tra của họ sẽ hoàn tất một ngày trước cuộc bầu cử tổng thống vào ngày 13/1, một động thái mà ông Vương cho rằng “rất có động cơ chính trị”.

Trung Quốc chưa bao giờ cai trị Đài Loan nhưng coi hòn đảo 23,5 triệu dân này là lãnh thổ của mình và không loại trừ khả năng sử dụng vũ lực để chiếm giữ. Bắc Kinh đã nhiều lần tố cáo chính quyền bà Thái và ứng cử viên tổng thống Lai Ching-te của Đảng Dân chủ Tiến bộ (DPP) cầm quyền vì bảo vệ chủ quyền của Đài Loan.

“Trên thực tế, trong mọi cuộc bầu cử tổng thống, Trung Quốc đều sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để tìm cách gây ảnh hưởng đến cuộc bầu cử ở Đài Loan”, ông Wang nói, đề cập đến việc Bắc Kinh sử dụng các hạn chế thương mại để ép buộc cử tri chọn ứng cử viên ưa thích của họ. Bà chỉ ra việc Tổng thống Mỹ Joe Biden đã cảnh báo Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình không can thiệp vào cuộc bầu cử ở Đài Loan.

Bộ trưởng cảnh báo: “Chúng tôi thấy trước các phương tiện gây áp lực kinh tế từ Trung Quốc sẽ chỉ tăng chứ không giảm”.

Chính phủ Trung Quốc hồi tháng 8 cáo buộc Đài Loan vi phạm Thỏa thuận khung hợp tác kinh tế song phương (ECFA) bằng cách áp đặt các hạn chế đối với các sản phẩm của Trung Quốc. Bắc Kinh đe dọa chấm dứt thuế quan ưu đãi đối với hàng hóa Đài Loan đã được thỏa thuận theo ECFA, trong một cảnh báo ngầm gửi tới cử tri Đài Loan.

Một số người, bao gồm cả các đảng đối lập của Đài Loan, lo lắng rằng cuộc điều tra có thể dẫn đến việc chấm dứt hoặc chấm dứt một phần ECFA, nhưng ông Wang cho biết tác động của động thái đó sẽ tương đối nhỏ.

Wang đã dành sự nghiệp của mình trong ngành công vụ sau khi được đào tạo thành luật sư. (Ảnh của Lai Yung-hsiang)

 

Wang cho biết: “Khối lượng thương mại giữa Đài Loan và Trung Quốc thực sự rất lớn. Năm 2022, khối lượng xuất khẩu của chúng tôi sang Trung Quốc là 185,7 tỷ USD, nhưng lượng sản phẩm ECFA thực tế là 20,6 tỷ USD”. “Nếu ECFA bị chấm dứt, tác động thực sự sẽ tương đối nhỏ xét về tổng khối lượng xuất khẩu của chúng tôi sang Trung Quốc, nhưng nó sẽ ảnh hưởng đến nhiều ngành công nghiệp truyền thống hơn”.

Ngoài các mối đe dọa của ECFA, gần đây Bắc Kinh đã thắt chặt hơn nữa bằng cách cấm thêm nhiều sản phẩm nông nghiệp của Đài Loan và tiến hành các cuộc điều tra vào các nhà máy của Foxconn Technology sau khi người sáng lập Terry Gou tuyên bố tranh cử tổng thống với tư cách là một ứng cử viên độc lập.

Động thái của Bắc Kinh nhằm tăng cường giám sát Gou, mặc dù ông muốn có mối quan hệ chặt chẽ hơn với Trung Quốc, và các chiến thuật gây áp lực của họ làm suy yếu lời kêu gọi của các ứng cử viên tổng thống đối lập Hou Yu-ih của Quốc dân đảng và Ko Wen-je của Đảng Nhân dân Đài Loan về quan hệ kinh tế thân thiện hơn với Trung Quốc . Gou đã rút khỏi cuộc đua vào thứ Sáu tuần trước, điều này có thể giúp củng cố phiếu bầu cho phe đối lập.

Người phát ngôn của DPP Cho Kuan-ting cho biết cuộc điều tra thương mại là cách Trung Quốc nhắm vào bà Vương, nữ thành viên nội các cấp cao nhất trong chính phủ của bà Thái và được cho là bộ trưởng quan trọng nhất ngoài quốc phòng và an ninh quốc gia. Công việc của cô liên quan đến việc giám sát các lĩnh vực quan trọng như an ninh kinh tế và năng lượng, cũng như thương mại, công nghiệp, đầu tư nước ngoài và quan trọng nhất là lĩnh vực bán dẫn quan trọng của Đài Loan…

Taiwan planning US$2b relief fund for businesses affected by COVID-19 ...

Đầu tư ngày càng tăng của Đài Loan vào Đông Nam và Nam Á là di sản mà chính quyền đương nhiệm tự hào. “Chúng tôi chưa nói về việc ‘giảm rủi ro’ vào thời điểm đó [năm 2016], nhưng nguyên tắc là như nhau: Đừng bỏ tất cả trứng vào cùng một giỏ,” Wang nói, đề cập đến Chính sách hướng Nam mới.

Các nhà cung cấp công nghệ quan trọng của Đài Loan đã đẩy nhanh động thái đa dạng hóa khỏi Trung Quốc sau khi cuộc chiến thương mại giữa Washington và Bắc Kinh leo thang vào năm 2018. Trong thời gian này, nhiều khách hàng Mỹ đã yêu cầu các nhà cung cấp của họ xây dựng năng lực tại Đài Loan và các quốc gia Đông Nam Á như Việt Nam, Thái Lan và Ấn Độ. trước tình hình bất ổn địa chính trị.

Wang cho biết, xu hướng này càng trở nên rõ ràng hơn trong năm nay, đồng thời chỉ ra rằng khoản đầu tư vào Đông Nam Á và Ấn Độ của các công ty Đài Loan đạt 4,3 tỷ USD trong 9 tháng đầu năm 2023, so với chỉ 1,26 tỷ USD của Trung Quốc trong cùng kỳ.

“Sau chiến tranh thương mại Mỹ-Trung, các cuộc thảo luận về các sản phẩm điện tử liên quan đến an ninh mạng, từ máy chủ đến sản phẩm mạng, đã xuất hiện”, ông Wang nói và cho biết thêm rằng yêu cầu của khách hàng Mỹ và châu Âu rời khỏi Trung Quốc sẽ chỉ làm giảm thêm lợi ích của Đài Loan. dấu chân sản xuất ở đó.

Ông Wang cho biết, Đài Bắc đã tuân thủ chặt chẽ các quy định và kiểm soát xuất khẩu của Hoa Kỳ, và cái gọi là Danh sách thực thể của Washington – về cơ bản là danh sách đen thương mại của nước này – đóng vai trò là khuôn mẫu cho chuỗi cung ứng công nghệ của Đài Loan, đặc biệt là lĩnh vực bán dẫn.

“Chúng tôi nghiên cứu rất chặt chẽ các quy định kiểm soát xuất khẩu của Mỹ, vì các công ty của chúng tôi sử dụng nhiều công nghệ có nguồn gốc từ Mỹ”, ông Wang nói và cho biết thêm rằng chính phủ Mỹ cũng cử các chuyên gia kiểm soát xuất khẩu của họ tới Đài Loan để giải thích chi tiết về các quy tắc đó.

Nvidia unveils more AI products after $184 billion rally | Mint

Chính phủ Mỹ tháng trước đã thắt chặt hơn nữa các biện pháp kiểm soát xuất khẩu, hạn chế bán chip trí tuệ nhân tạo của tập đoàn chip Nvidia của Mỹ sang Trung Quốc, cũng như hạn chế xuất khẩu thêm thiết bị sản xuất chất bán dẫn sang các nước bao gồm Trung Quốc, Việt Nam và Trung Đông nhưng ngoại trừ Israel. Thiết bị sản xuất chip rất quan trọng để các công ty nâng cao năng lực sản xuất chip của mình.

Đài Loan sẽ sớm làm theo những động thái đó. Trong năm nay, chính phủ sẽ ban hành danh sách các công nghệ quan trọng cần được bảo vệ, Giám đốc Hội đồng An ninh Quốc gia Wellington Koo nói với Nikkei Asia gần đây.


 

Người Mỹ gốc Việt ‘không tiếc thương gì’ Henry Kissinger (vừa qua đời)

Theo VOA Tiếng Việt

Những người Việt ở Mỹ thuộc chính thể Việt Nam Cộng hòa trước đây bày tỏ thái độ bàng quan trước sự ra đi của cựu Ngoại trưởng Henry Kissinger và lên án ông đã gây ra sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam vào tay của quân cộng sản Bắc Việt, theo tìm hiểu của VOA.

Tiến sỹ Kissinger là một trong những ngoại trưởng nổi bật nhất trong lịch sử nước Mỹ, từng phục dưới hai chính quyền Richard M. Nixon và Gerald Ford, và cũng từng là Cố vấn an ninh quốc gia. Ông là người có ảnh hưởng trên chính trường Mỹ và định hình chính sách ngoại giao của Mỹ trong nhiều thập kỷ, kể cả từ sau khi ông rời chức vụ.

Ông đã qua đời tại nhà riêng ở bang Connecticut hôm 29/11 khi tròn 100 tuổi, Kissinger Associates, công ty tư vấn do ông sáng lập, loan báo nhưng không cho biết nguyên nhân.

Một trong những di sản đáng nhớ nhất của ông là Hiệp định Paris được ông ký kết với ông Lê Đức Thọ, cố vấn đặc biệt của phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, hồi đầu năm 1973, để chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Nhờ Hiệp định này mà ông cùng ông Thọ đã được trao giải Nobel Hòa bình nhưng ông Thọ không nhận.

Henry Kissinger bắt tay với Lê Đức Thọ sau khi ký kết Hiệp định Paris vào năm 1973

Vấy máu miền Nam?

Trong khi sự ra đi của ông Kissinger, nhân vật lịch sử có nhiều duyên nợ với Việt Nam, đã gây sự tiếc thương rộng rãi trong chính giới và dân chúng Mỹ thì trong cộng đồng người Việt ở Mỹ, phần đông có gốc gác Việt Nam Cộng hòa, phản ứng lại rất khác biệt.

Từ miền Nam bang California, nhà văn Phan Nhật Nam, từng là đại úy Binh chủng nhảy dù trước năm 1975, nói với VOA ông đang bận tâm về sự ra đi của nhà văn Nguyễn Đình Toàn và Hòa thượng Thích Tuệ Sỹ vốn là những người có giao tình với ông hơn là cái chết của ông Henry Kissinger.

“Ông ta đã 100 tuổi thì chết là đương nhiên,” ông Nam nói. “Tôi không buồn, cũng không thương tiếc. Tôi đang viết bài tưởng nhớ ông bạn tôi là nhà văn Nguyễn Đình Toàn.”

Khi được hỏi nhận định về ông Kissinger, nhà văn này cho biết hồi năm 1973 sau khi Hiệp định Paris được ký kết, ông đã từng viết trong cuốn sách có tựa đề ‘Tù binh và Hòa bình’ như sau: “Tôi bảo rằng ông ta cũng như Lê Đức Thọ là những người hân hoan trên bàn tiệc máu Việt Nam với giải Nobel hòa bình.”

Theo lập luận của ông thì cố Ngoại trưởng Kissinger ‘có trách nhiệm rất lớn trong việc để miền Nam sụp đổ’ vì Hiệp định Paris được ký kết xong thì hai năm sau ‘cộng sản cưỡng chiếm miền Nam bằng vũ lực vào ngày 30/4.

“Thành quả lớn của hiệp định này là ‘hòa bình’ thì rõ ràng không hề có hòa bình. Thành ra hiệp định này trật lất hết,” ông Nam nói. Ông cho biết ông có quen biết nhiều người trong chính giới Việt Nam Cộng hòa đi đàm phán Hiệp định Paris và bản thân ông là thành viên trong ban liên hiệp quân sự thi hành Hiệp định nên phải tuân thủ mệnh lệnh của cấp trên.

Tuy nhiên, ông cho rằng với tư cách là một học giả, trí thức, nhà nghiên cứu thì ông Kissinger ‘không thể nào dốt nát hay dại dột’ khi ký hiệp định đó được. Theo lập luận của ông Nam thì ý định chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam ‘có quá trình kéo dài từ thời Tổng thống Lyndon Johnson cho đến Gerald Ford qua cả hai đảng Dân chủ và Cộng hòa chứ không phải của một mình ông Kissinger’.

“Tôi không chê trách những con người lịch sử. Người ta ở trong giai đoạn đó thì người ta phải làm như thế, đó là ông Kissinger, ông Nixon,” ông nói.

‘Vua đi đêm’

Ông Trung Tạ, kỹ sư làm việc trong ngành Quốc phòng và Không gian Mỹ, nhận định với VOA từ Quận Cam, bang California, rằng ông Kissinger là ‘một nhà ngoại giao tài giỏi nhưng rất là quỷ quyệt’.

Theo lời ông Trung thì ông Kissinger đã vận dụng tài năng ngoại giao của mình vào ‘con đường tà đạo, không đàng hoàng’ và nhắc lại biệt danh của ông là ‘Vua đi đêm’.

“Tôi không có thiện cảm gì với ông Kissinger, cho nên sự ra đi của ông không gây ra thắc mắc gì đối với tôi cả,” ông Trung, vốn là giáo viên dạy học ở Buôn Mê Thuột trước năm 1975, nói.

“Ông ta là tội đồ đối với người Việt Nam Cộng hòa tại vì chính ông với sự đồng thuận của Tổng thống Nixon lúc bấy giờ đã bức tử một chế độ rất là tốt đẹp là chính thể Việt Nam Cộng hòa và đặc biệt chính ông ta đã bức tử một quân đội rất oai hùng, rất can đảm,” ông phân tích.

Khi được hỏi đứng trên quan điểm lợi ích quốc gia của nước Mỹ thì hành động bỏ rơi Việt Nam Cộng hòa để lôi kéo Trung Quốc có nên được thông cảm hay không, ông Trung nói rằng chính sách đó của ông Kissinger ‘chưa chắc gây ra sự phân hóa giữa Liên Xô và Trung Quốc’.

Thời gian ‘đã chứng tỏ đường lối của ông Kissinger là sai lầm’, ông Trung nói, vì sau khi chiến tranh Việt Nam xong xuôi, mối liên hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc ‘vẫn rất là gắn bó’.

Về việc ông Kissinger sau khi về hưu vẫn các được đời tổng thống Mỹ về sau tham vấn về chính sách đối ngoại, ông Trung cho rằng ‘tình hình thế giới biến đổi nhiều so với thời Kissinger còn làm ngoại trưởng nên có thể sự suy xét của ông không còn đúng nữa’ và có thể các tổng thống ‘vẫn lắng nghe Kissinger nhưng sẽ quyết định theo ý kiến của những nhân sự trong chính quyền của họ’.

Ông dẫn ra một phát biểu của ông Kissinger hồi tháng 5 năm ngoái rằng Ukraine nên chấp nhận nhượng một phần lãnh thổ cho Nga để có hòa bình và cho rằng đó là ‘phát ngôn rất bậy bạ’ vì nó ‘xâm phạm chủ quyền của một quốc gia’.

Kissinger tells Ukrainians to get real | The Seattle Times

“Đáng lẽ ông ấy phải nói là vấn đề chủ quyền phải để cho người dân Ukraine và chính quyền Ukraine quyết định.”

Người kỹ sư này bày tỏ hy vọng sự ra đi của ông Kissinger sẽ ‘làm vơi bớt sự tức giận đối với ông trong lòng những người Việt Nam Cộng hòa’.

“Đó là điều tốt. Đối với những người dân Việt Nam Cộng hòa là mình bỏ đi được vết thương lòng vì người Việt Nam có câu nói nghĩa tử là nghĩa tận,” ông nói.

‘Hãy để lịch sử phán xét’

Khác với ông Nam và ông Trung, ông Từ Đức Tháo, chủ tịch cộng đồng người Việt ở bang Oregon, nói với VOA từ Portland rằng ‘ông sẵn sàng gửi lời chia buồn đến với gia đình ông Kissinger’.

“Ông ấy đã chết thì mình cũng nên chia buồn, nhưng hãy để lịch sử phán xét công tội của ông ấy,” ông Tháo, vốn còn nhỏ tuổi khi ông Kissinger làm Ngoại trưởng và có cha là đại úy thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa, nói.

“Đối với tôi thì cũng không có gì phải căm thù ông ta cả. Chẳng qua ông ta chỉ thực hiện nhiệm vụ mà nước Mỹ giao phó cho ông ta.”

Theo nhận định của ông Tháo thì chính sách lôi kéo Trung Quốc của Henry Kissinger ‘về mặt kinh tế thì làm lợi cho nước Mỹ’ vì sau khi hai nước thiết lập bang giao, Mỹ có thể tiếp cận thị trường khổng lồ cũng như nguồn nhân công rẻ của Trung Quốc.

“Nhưng chủ thuyết cho rằng thay đổi kinh tế sẽ dẫn đến thay đổi về chính trị là hoàn toàn sai lầm, vì từ ngày Mao Trạch Đông gặp Nixon đến nay đã là 51 năm rồi mà chế độ cộng sản Trung Quốc có suy suyển gì đâu?” ông lập luận.

Ông nhắc lại lúc ba ông còn sống, ông ‘không có lời nào ca ngợi Kissinger cả’. “Ba tôi nói rằng Hiệp định Paris mà Kissinger là một trong các tác giả đã dẫn đến sự thất bại của miền Nam vào ngày 30/4,” ông cho biết.

Ông nói hiệp định đó mang tiếng là ‘hòa bình’ nhưng ‘thực tế là giấy thông hành cho Bắc Việt đưa thêm quân vào miền Nam’.

“Việt Nam Cộng hòa bị cắt viện trợ còn súng đạn đâu nữa mà đánh, trong khi đó khối cộng sản vẫn viện trợ cho Bắc Việt đến cùng.”

Theo lời ông thì hiệp định đó đã đem lại hậu quả tai hại cho miền Nam là ‘hàng trăm ngàn người bị đưa vào các trại cải tạo và biết bao nhiêu người đã chết trên biển khi tìm cách đi vượt biên’.

“Những người Việt thuộc về phía quốc gia họ không bao giờ trân trọng những gì ông Kissinger đã làm trong thời gian ông ta làm việc cho Chính phủ Mỹ,” ông Tháo nói.

Theo giải thích của ông Tháo thì chính sách của Kissinger là ‘thực dụng’ vì nó nghĩ đến lợi ích nước Mỹ trên hết nên đã ‘bỏ rơi một nước đồng minh nhỏ bé như Việt Nam Cộng hòa để bắt tay với một đất nước khổng lồ đem lại lợi ích cho Mỹ nhiều hơn’ trong khi Mỹ đã đổ xương máu ở Việt Nam quá nhiều mà không được gì.


 

Để con ‘thua ở vạch xuất phát’, người Đức sở hữu một nửa giải Nobel thế giới

Quỳnh Chi

Cha mẹ ngày nay rất coi trọng việc giáo dục con cái. Một số người đã dạy con học thơ, viết chữ, toán, ca hát và khiêu vũ… ngay từ khi con còn đang học mẫu giáo. Ở Đức, việc các bậc phụ huynh ép trẻ em học hành khi chúng chưa đến tuổi đi học bị cấm. (Ảnh: Shutterstock)
Posted by GLN

82 triệu người Đức đã giành được một nửa giải Nobel, còn hơn 6 tỷ người còn lại trên Trái đất chỉ đạt được một nửa còn lại. Rốt cuộc họ làm sao bồi dưỡng được nhiều nhân tài xuất sắc như vậy?

Cha mẹ ngày nay rất coi trọng việc giáo dục con cái. Một số người đã dạy con học thơ, viết chữ, toán, ca hát và khiêu vũ… ngay từ khi con còn đang học mẫu giáo. Tóm lại, trẻ học càng nhiều, cha mẹ càng vui… Đặc biệt, một số cha mẹ sẽ so sánh con cái họ với nhau, rằng con của họ đã viết được bao nhiêu chữ, thuộc bao nhiêu bài thơ…

Nhưng người Đức thì không làm vậy. Họ dám để con “thua ở vạch xuất phát”.

Ở Đức, việc các bậc phụ huynh ép trẻ em học hành khi chúng chưa đến tuổi đi học bị cấm. Tất nhiên, không phải là người Đức không lo lắng gì đến tương lai của con em mà là họ có những lý giải riêng về việc học đối với những đứa trẻ.

Trẻ em ở Đức đi học mẫu giáo ở khắp mọi nơi

Nhà trẻ ở Đức không giống nhiều quốc gia khác, họ không phân lớp rõ ràng, thông thường đều quản lý chung. Ở Đức, trẻ em không đến trường mẫu giáo để học một số tri thức, ví như đọc thuộc lòng, biết chữ, v.v. mà chúng được “chơi” và học ở khắp mọi nơi.

Mỗi ngày sau khi đến nhà trẻ, các bé sẽ tự chơi, tự kết bạn, tự chọn những thứ đồ chơi mà mình thích. Bởi vì đối với trẻ nhỏ thì “chơi” là nhiệm vụ quan trọng. Đôi khi thầy cô sẽ đưa các em đi tham quan những nơi như: tiệm bánh mì, trại trẻ mồ côi, sở cảnh sát và thậm chí là nhà tang lễ, thầy cô sẽ mời người làm việc ở những nơi này chia sẻ một số thường thức cơ bản cho các bé.

Mỗi ngày sau khi đến nhà trẻ, các bé sẽ tự chơi, tự kết bạn, tự chọn những thứ đồ chơi mà mình thích. Bởi vì đối với trẻ nhỏ thì “chơi” là nhiệm vụ quan trọng. (Ảnh: Shutterstock)

Ví dụ: Cho trẻ đến đồn cảnh sát, học cách báo cảnh sát, cách đối phó với người xấu, v.v. hay đến thư viện, học cách mượn sách và trả sách; học cách trả tiền, đi chợ mua đồ, phân biệt các cửa hàng; học cách đi xe buýt, học nhớ đường về nhà; đi đến công viên và học cách nhận biết hoa cỏ cây cối; vào mùa thu hoạch, đi đến các vùng nông thôn để hái trái cây và nấu ăn cùng các giáo viên…

Hình thức giáo dục mẫu giáo này chính là tự do “chơi” và “sống”.

Nếu hỏi trẻ em mẫu giáo ở Đức đã học được những gì, thì những gì chúng đã học được thể hiện ở ba khía cạnh: Thứ nhất, học ý thức xã hội cơ bản; Thứ hai, rèn luyện kỹ năng thực hành của trẻ; Thứ ba, tôn trọng bản chất của trẻ em, bảo vệ cảm xúc và cải thiện trí tuệ cảm xúc của chúng. Những điều này rất khác so với một số trường mẫu giáo ở các đất nước khác.

Dám để trẻ “thua ở vạch xuất phát” và không khai thác quá mức trí thông minh của trẻ

Nhiều bậc phụ huynh có lẽ sẽ nói rằng, nếu chiếu theo loại hình giáo dục mẫu giáo như ở nước Đức, thì trẻ em chắc chắn sẽ “thua ở vạch xuất phát”. Đúng vậy, nhưng người Đức dám để đứa trẻ “thua ở vạch xuất phát”, nguyên nhân là vì trí thông minh của trẻ không thể bị khai thác quá mức.

Họ cho rằng trẻ em nên lớn lên khỏe mạnh và hạnh phúc, nếu phát triển trí thông minh sớm sẽ biến bộ não của trẻ thành một đĩa lưu trữ, điều này sẽ làm giảm trí tưởng tượng và sáng tạo của trẻ.

Thậm chí, để tôn trọng bản tính vui chơi của trẻ em, luật pháp của họ còn cấm việc ép trẻ em học hành khi chúng chưa đến tuổi đi học; Không làm những điều vi phạm quy tắc tăng trưởng của trẻ em, cho phép trẻ tự do phát huy trí tưởng tượng của mình.

Trẻ em nên lớn lên khỏe mạnh và hạnh phúc, nếu phát triển trí thông minh sớm sẽ biến bộ não của trẻ thành một đĩa lưu trữ, điều này sẽ làm giảm trí tưởng tượng và sáng tạo của trẻ. (Ảnh: Shutterstock)

Người Đức bác bỏ việc học hành trước tuổi, hơn nữa càng chú ý bảo vệ trí tưởng tượng của trẻ

Không có gì ngạc nhiên khi người Đức sở hữu một nửa giải thưởng Nobel thế giới, nguyên do là họ đã bác bỏ việc ép trẻ em học kiến thức trước tuổi, để bảo vệ trí tưởng tượng của trẻ. Còn ở các trường mẫu giáo của đất nước chúng ta, rất nhiều kiến thức lớp 1 gần như đã được hoàn thành trước. Việc này khiến quá nhiều thứ được lưu trữ cố định trong não của trẻ, sẽ ảnh hưởng đến trí tưởng tượng của chúng.

Điều này cũng giống như việc cho trẻ em xem TV. Khi một đứa trẻ đã được xem phim hoạt hình “Bạch Tuyết”, nếu bạn yêu cầu nó vẽ bức tranh về Bạch Tuyết, thì rất có thể đứa trẻ sẽ vẽ hình dáng công chúa Bạch Tuyết như những gì nó đã được xem trên TV. Còn nếu đứa trẻ chưa được xem phim Bạch Tuyết, chúng sẽ biết tưởng tượng hình ảnh công chúa Bạch Tuyết từ những mô tả trong câu chuyện cổ tích mà chúng đã được nghe, và sẽ vẽ Bạch Tuyết theo trí tưởng tượng của riêng mình. Khi này, những bức tranh được vẽ tất nhiên sẽ đa dạng, phong phú, không cố định ở một hình mẫu Bạch Tuyết trên phim hoạt hình ở TV.

Theo người Đức, nếu ép trẻ học hành sớm, kiến thức cơ bản của trẻ có thể sẽ vững chắc, nhưng trí tưởng tượng và khả năng tư duy độc lập của chúng thì đã bị phá hủy.
Các bậc cha mẹ, bạn có nghĩ rằng bạn có thể để con bạn “thua ở vạch xuất phát” không?

Quỳnh Chi biên dịch

From: NGOC PHAN & KimBang Nguyen

 


 

VƯƠN TẬN TRÙNG KHƠI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Hãy đi theo tôi!”.

“Những người tự mãn thường đạt điểm thấp trong các bài kiểm tra đo lường hạnh phúc. Hãy tìm một điều gì đó cao cả hơn; ‘một Ai đó’ vĩ đại hơn! Đừng chỉ hài lòng với những con cá quèn của ao đầm! Hãy vươn tận trùng khơi cho những gì vô biên hơn!” – Anon.

Kính thưa Anh Chị em,

“Hãy ‘vươn tận trùng khơi’ cho những gì vô biên hơn!”. Thật thú vị, ý tưởng của nhà tu đức trên được gặp lại qua Lời Chúa ngày lễ kính thánh Anrê tông đồ.

Trong cái nhìn của Thiên Chúa, mỗi người chúng ta luôn được nhắm tới cho một điều gì đó cao cả hơn, vĩ đại hơn, và cũng vĩnh cửu hơn. Không chỉ biển hồ Galilê, Chúa Giêsu muốn Anrê, các bạn chài của ông, và mỗi chúng ta ‘vươn tận trùng khơi’ bao la để “lưới người như lưới cá”. Ngoài biển hồ Galilê, còn có một đại dương bao la hơn, mênh mông hơn, có tên là “Thế Giới” đã vẫy gọi Anrê, đang vẫy gọi bạn và tôi. Bởi lẽ, thế giới chúng ta đang sống vẫn là một thế giới mà Thiên Chúa còn khá xa lạ, nếu không nói, một thế giới đang cố loại trừ Ngài.

Trong thư Rôma hôm nay, Phaolô viết, “Làm sao kêu cầu Đấng họ không tin? Làm sao tin Đấng họ không được nghe? Làm sao nghe, nếu không có ai rao giảng? Làm sao mà rao giảng, nếu không được sai đi?”. Như Anrê, chúng ta được sai đi từ ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội; để rồi, cùng Anrê và bao chứng nhân mọi thời, chúng ta ‘vươn tận trùng khơi’ để “lưới người như lưới cá”. Thánh Vịnh đáp ca xác nhận sứ vụ lớn lao này, “Tiếng các ngài đã vang dội khắp hoàn cầu!”.

Và dẫu sứ vụ cao cả đến thế, ơn gọi đến với Anrê và các bạn chài xem ra vẫn không mấy ấn tượng. Chúa Giêsu không tỏ mình cho họ cách đặc biệt; thay vào đó, ngay trong nghề nghiệp của họ, Ngài gọi họ. Cũng thế, với mỗi người chúng ta, chính giữa cuộc sống thường nhật của mình, bạn và tôi khám phá Ngài. Ở đó, Ngài tỏ mình và làm cho tình yêu Ngài được cảm nhận trong mỗi trái tim; cũng ở đó, Ngài biến đổi từng trái tim.

Chúa Giêsu không nhìn các môn đệ về mặt thể chất nhưng về mặt tâm linh, không nhìn về ngoại hình nhưng ‘thấy sâu hơn’ tấm lòng. Ngài chọn họ trước tiên không phải vì họ là tông đồ nhưng vì họ có thể trở thành tông đồ; không vì con người thật của họ mà vì con người họ có thể trở thành. Ngài không từ chối những điều tốt đẹp chưa định hình, không chọn những gì họ có, những gì họ là; Ngài chọn những trái tim!

Anh Chị em,

“Hãy theo tôi!”. Đức Phanxicô nói, “Trên bờ hồ Galilê, một vùng đất không thể tin được, cộng đồng môn đệ Kitô đầu tiên ra đời. Ước gì sự hiểu biết về những khởi đầu này khơi dậy trong chúng ta ước muốn mang Lời, tình yêu và sự dịu dàng của Chúa Kitô đến mọi vùng ngoại vi, trong mọi bối cảnh, ngay cả những bối cảnh khó khăn và kháng cự nhất. Mọi không gian sinh hoạt của con người đều là những mảnh đất để gieo hạt Lời, chúng sẽ trổ sinh hoa trái cứu độ!”. Biết bao linh hồn đang ở tận trùng khơi. Đừng hài lòng với những con cá quèn, bạn được kêu gọi cho một điều gì đó cao cả hơn, ‘một Ai đó’ vĩ đại hơn, một biển lớn mất hút chân trời!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con thường tự mãn với những gì trong ao đầm. Cho con dám ‘vươn tận trùng khơi’, hầu có thể đánh bắt cho Chúa từ mẻ này đến mẻ khác, mẻ các linh hồn!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

PHÚC ĐỨC TẠI MẪU!-Truyện ngắn

Mẹ không được học hành nhiều, vậy mà khi con học xa nhà, có một lần mẹ đã cố gắng viết cho con mấy dòng ngắn ngủi, nét chữ run rẩy và to như trẻ con học mẫu giáo tậρ viết. Mẹ viết: “Mẹ ít học hơn con nên mẹ tin con hiểu đời nhiều hơn mẹ. Mẹ chỉ muốn dặn con một điều rằng con đi xa hãy nhớ: Ăn một miếng của người ta, con tạc ân vào lòng vào dạ. Học một chữ ở đời, con xem nặng nhẹ bao nhiêu…!”

Lời dặn của mẹ đã làm con khóc….!Con tâm niệm điều đó suốt cả cuộc đời, và nó đã trở thành lẽ sống của con… Hôm con đi ρhỏng vấn xin việc ở công ty của Nhật cùng với ba chục người khác. Con không giỏi vi tính và ngoại ngữ như họ, nhưng người được lựa chọn lại là con. Mẹ có biết họ hỏi con câu gì không…?

Họ hỏi con rằng câu nói nào và của ai gây ấn tượng và có tác động mạnh đến cuộc sống của con; con đã thuật lại lời mẹ dặn…

Họ bảo: “Vi tính và ngoại ngữ cần, nhưng bạn có thể học trong vài tháng. Chúng tôi cần hợρ tác với một người nặng lòng biết ơn và biết chắt lọc trong học hỏi…

-“Mẹ ơi, chính mẹ đã để ρhúc đức cho con…!”

Con và chồng con có xung đột vì con nghi ngờ anh ấy vẫn lén gặρ bạn gái cũ. Con giận, bỏ nhà chồng về khóc lóc với mẹ. Tối ấy mẹ mở chiếc hộρ cũ lấy ra một tậρ thư đã ố vàng. Đó là những lá thư của người yêu cũ gửi cho bố con trước đây. Mẹ bảo khi bố quyết định lấy mẹ, bố toan đem hết mớ thư từ và ảnh người yêu cũ ra đốt sạch để chứng minh bố một lòng một dạ với mẹ. Nhưng mẹ đã ngăn lại và bảo:

“Thư anh đốt mà lòng anh còn nhớ cũng chẳng ích gì. Hãy cứ để em giữ lại làm kỷ niệm. Thỉnh thoảng anh đọc lại cũng thấy vui. Dù sao đấy cũng là những kỷ niệm gắn bó với anh một thời, sao lại cạn tàu ráo máng như vậy…?”. Bố sững sờ và ôm chầm lấy mẹ cảm động lắm…!

Thỉnh thoảng bố mẹ còn đọc lại những lá thư ấy, và bố cả đời thủy chung với mẹ. Hôm ấy con đã khóc thật nhiều và con trở về nhà làm lành với chồng. Mẹ nói ít nhưng mẹ dạy nhiều. Chính mẹ đã đem lại cho con hạnh ρhúc…!

Khi em trai con đưa người yêu về ra mắt, con không ưng ý lắm. Mẹ im lặng không nói gì… Sau hôm gặρ mẹ cô ấy, mẹ nhận xét: “Mẹ cô ấy hiền hậu, ρhúc đức lắm. Người mẹ như thế chắc chắn cô con gái sẽ là đứa con ngoan, dâu hiền…!”.

Mẹ đã không lầm. Hôm mẹ chồng tương lai của con sang chơi với mẹ, cụ cũng nhận xét về con y như thế. Hóa ra nhiều người nhìn nết mẹ mà đoán tính cách của con….!
Năm trước con đọc báo thấy có chuyện một cô gái đang tâm đẩy con chồng xuống sông Hồng. Một thời gian sau thấy báo đưa tin có bà dì ghẻ bắt con chồng tự khâu miệng mình lại. Con nhận xét rằng ρhụ nữ nhiều người ác quá. Mẹ lại bảo “Phúc đức tại mẫu. Những người như thế rồi lại ác giả ác báo thôi…!”

Mẹ nói với con rằng những người ác chỉ là số ít, đừng vì thế mà vơ đũa cả nắm. Mẹ chỉ cho con thấy bao nhiêu người mẹ đã hy siпh hết lòng vì con, không ít người ρhụ nữ đã nhận nuôi hàng mấy chục trẻ mồ côi mặc dù bản thân mình còn khó khăn, vất vả. Trong đời có hai vùng sáng tối, mẹ bảo con nhìn ánh sáng mà đi….!

Thấy con ρhàn nàn về sự chểnh mảng học tậρ của các cháu, mẹ bảo: “Con giục các cháu đi học bài, mà vợ chồng con cứ ngồi xem ti vi. Con chê các cháu lười học tiếng Anh mà bản thân con cũng không biết ngoại ngữ thì dạy bảo chúng nó thế nào…?” Ngẫm kỹ lời mẹ nói, con đã quyết định đi học lớρ tiếng Anh buổi tối cùng cháu. Tối về, mẹ con trao đổi bài rôm rả. Đúng như mẹ nói, khi thấy cả bố và mẹ đều miệt mài làm việc, các cháu cũng tự động lấy sách ra làm bài. Đến nay chúng con rất yên tâm về việc học hành của các cháu. Sao có mỗi bài học đơn giản rằng muốn con chăm thì mẹ ρhải siêng; muốn con hiền thì mẹ ρhải thảo mà con không nhớ, ρhải để mẹ nhắc nhở…!

Mẹ nghèo không có tiền bạc cho con, nhưng mẹ đã cho con hiểu giá trị của sự tần tảo, lòng bao dung, đức hy siпh. Mẹ không đi học, không được như con, nhưng mẹ dạy con biết sống đúng mực, trọng ân tình. Cuộc đời con lúc nào cũng có mẹ ở bên. Con có cuộc sống hạnh ρhúc hôm nay là do bàn tay mẹ tạo dựng. Đến bây giờ con đã hiểu rằng công sinh thành dưỡng dục do cả mẹ cả cha chung sức. Không ρhải vô cớ mà trong nhạc, trong thơ,… đâu đâu cũng thấy vang lên những “Huyền thoại mẹ”, “Tình mẹ”, “Lòng mẹ”,….
Con à…, Mẹ đã tạo Phúc Đức cho chính các con của mẹ…!

Sưu tầm.

From: giang pham & KimBang Nguyen

 

CHÚA KITÔ NHƯ LÀ VŨ TRỤ – Rev. Ron Rolheiser, OMI

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Pierre Teilhard, một trong các cuộc đối thoại của ông với Bộ Tín điều về Đức tin ở Rôma, đã được hỏi: “Ông đang cố gắng làm điều gì?”  Câu trả lời của ông như thế này: Tôi đang cố gắng viết một học thuyết Kitô học sao cho đủ lớn để bao gồm trọn vẹn Chúa Kitô vì Chúa Kitô không chỉ là Đấng cứu thế thiêng liêng được phái đến để cứu con người; Chúa Kitô còn là cấu trúc trong một vũ trụ thực thể, một con đường cứu rỗi cho chính trái đất.

Điều này có nghĩa là gì?  Làm sao Chúa Kitô lại là một cấu trúc trong một tạo vật thực thể?

Có lẽ phần bị bỏ quên nhiều nhất trong hiểu biết của chúng ta về Chúa Kitô, mặc dù được giảng dạy rõ ràng trong Kinh Thánh, là ý niệm mầu nhiệm Chúa Kitô lớn hơn những gì chúng ta nhìn thấy hữu hình trong cuộc đời Chúa Giê-su và trong đời sống lịch sử của các giáo hội Ki-tô.  Chúa Kitô đã là một phần của chính tạo vật thực thể và là trọn vẹn của sáng tạo đó.  Như chúng ta thấy điều này được nói lên trong Thư gởi tín hữu thành Côlôxê: Khi mô tả thực tại Chúa Giê-su, tác giả viết: Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo, vì trong Người, muôn vật được tạo thành trên trời cùng dưới đất, hữu hình và vô hình.

Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới, tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người.  Người có trước muôn loài muôn vật, tất cả đều tồn tại trong Người.  Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh; Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu (Cl 1: 15-18).

Cũng vậy, trong thư gởi tín hữu Rôma, thánh Phaolô nói với chúng ta rằng cũng giống y như người phàm trần rên rỉ trong những giới hạn sinh tử của mình và khao khát được bất tử, tất cả các tạo vật thực thể đều như vậy.  Trái đất cũng khao khát được cứu rỗi.  Và mầu nhiệm Chúa Kitô là con đường dẫn tới bất tử, giống như đó là con đường dẫn tới cùng đích của chúng ta.

Mầu nhiệm Chúa Kitô rộng hơn, sâu hơn, và bao gồm nhiều hơn những gì có thể được nhìn thấy đơn thuần trong cuộc sống hữu hình của Chúa Giêsu và trong lịch sử hữu hình của các giáo hội Ki-tô.  Cứ công nhận là, những gì chúng ta thấy một cách rõ ràng trong cuộc đời Chúa Giê-su và lịch sử các giáo hội là điều rất đáng quý và vinh dự.  Các giáo hội Ki-tô (như Maria, mẹ Chúa Giêsu) là nơi mà Chúa bước vào thế giới này một cách rõ ràng, cụ thể, hữu hình, như trong quá trình lịch sử đã cho thấy.

Nhưng như Thánh Kinh và thần học Ki-tô khẳng định, mầu nhiệm Chúa Kitô bao gồm nhiều hơn những gì chúng ta có thể thấy một cách rõ ràng từ trong lịch sử.  Nó còn bao gồm những gì mà Thư gởi tín hữu Côlôxê dạy, đó là bản thân tạo vật thực thể đã được tạo ra thông qua Chúa Kitô theo cách nào đó, rằng Chúa Kitô gắn kết chúng lại với nhau, và rằng Chúa Kitô ban cho nó một tương lai vĩnh viễn.  Mầu nhiệm Chúa Kitô không chỉ là về việc cứu rỗi chúng ta, những người trên hành tinh này, mà còn về việc cứu lấy chính hành tinh này.

Đưa điều này vào cái hiểu của chúng ta sẽ đem lại những hệ quả lớn lao trong cách chúng ta hiểu hành tinh của mình lẫn cách hiểu các tôn giáo khác.  Nếu mọi sự vật đều được sáng tạo thông qua Chúa Kitô và vì Chúa Kitô thì hành tinh trái đất chúng ta, và tất cả các tạo vật thực thể đều có giá trị trong tự thân mà không phải chỉ có giá trị trong mối liên hệ với chúng ta.  Trái đất cũng là con của Chúa, không tự có ý thức như chúng ta, nhưng có những quyền chính đáng của nó và quyền được tôn trọng.  Nói một cách đơn giản, trái đất không chỉ là một sân khấu để chúng ta diễn trên đó.  Nó còn là một phần của mầu nhiệm Chúa Kitô và mầu nhiệm cứu rỗi.  Chúng ta phải tôn trọng nó vì chính nó, mà không phải vì sức khỏe của chúng ta tùy thuộc vào sức khỏe của nó.  Những gốc rễ sâu xa cho bất kỳ thuyết thần học-sinh thái nào nằm sâu hơn mối quan ngại thực tiễn về làm sao tiếp tục có đủ nguồn cung cấp không khí, nước và thức ăn tốt cho sức khỏe.  Thiên nhiên cũng nằm bên trong mầu nhiệm của Chúa Kitô.

Từ đó rút ra những ý nghĩa lớn lao trong cách chúng ta nhìn nhận những tôn giáo khác.  Là Ki-tô hữu, chúng ta cần nghiêm túc tiếp nhận lời dạy của Chúa Giêsu rằng Chúa Kitô chính là con đường (duy nhất) đưa tới cứu rỗi và không ai đi đến Chúa Cha mà không qua Chúa Kitô.  Như vậy, những người không phải Ki-tô hữu và những con người có tấm lòng chân thực khác thì như thế nào, xét thực tế là vào bất kỳ thời điểm nào, 2/3 thế giới cũng đều không liên quan gì đến Chúa Giêsu hay giáo hội Ki-tô giáo lịch sử?

Trừ khi chúng ta hiểu được mầu nhiệm Chúa Kitô sâu sắc hơn và rộng hơn mức chúng ta có thể nhìn thấy rõ ràng và dựa vào lịch sử từ trước đến nay, thì tình thế khó khăn này chắc chắn sẽ dẫn chúng ta tới chỗ hoặc từ bỏ lời dạy của Chúa Giê-su về chuyện quy chuẩn hoặc đi đến thái độ loại trừ vốn đi ngược lại ý chí cứu rỗi phổ quát của Chúa.  Nếu khi nói mầu nhiệm Chúa Kitô, chúng ta chỉ nói duy nhất đến Chúa Giêsu hữu hình và giáo hội hữu hình, thì chúng ta bị vướng trong thế lưỡng nan không lời giải đáp.  Tuy nhiên, nếu khi nói mầu nhiệm Chúa Kitô là ý nói về mầu nhiệm việc Chúa tái sinh bên trong tạo vật thực thể, đã bắt đầu trong sự sáng tạo nguyên sơ, tiếp tục là linh hồn liên kết tạo vật thực thể này thành một chỉnh thể, và hiện diện ở đó vừa như là nguồn năng lượng thu hút tạo vật về phía Đấng sáng tạo ra nó vừa là sự hoàn thành tạo vật đó, thì tất cả mọi thứ đều liên quan đến Chúa Kitô, dù chúng có nhận ra điều đó hay không, và tất cả sự thờ phụng chân thực đều dẫn đến Chúa Cha, cho dù chúng ta có nhìn thấy điều đó hay không.  Nói như Kenneth Cragg: Cần trọn thế giới để hiểu trọn Giê-su.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Ngọc Nga & KimBang Nguyen


 

THẾ GIỚI CẦN THIÊN CHÚA – TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

Thế giới của chúng ta hiện nay, Đông cũng như Tây, đang mắc một căn bệnh trầm kha: đó là bệnh lãng quên Thiên Chúa.  Không những chỉ lãng quên, mà con người còn chủ ý gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc đời.  Thỉnh thoáng chúng ta nghe những anh chị em Phật giáo nói đến “thời mạt pháp,” tức là thời mà quan điểm về luân lý của con người trở nên hỗn loạn.  Họ không còn giảng dạy hoặc không tuân theo giáo pháp chân chính nữa.  Khi gạt bỏ Thiên Chúa, hoặc gạt bỏ vai trò của tôn giáo nói chung, thế giới trở thành một mớ hỗn độn, luân thường đạo lý suy đồi.  Con người sống vô cảm, thậm chí là hoang dã đối với đồng loại.  Những vụ đại án vô cùng nghiêm trọng đã và đang xảy ra ở đất nước chúng ta cho thấy: một xã hội để được văn minh phát triển, chỉ có “pháp trị” thôi thì không đủ, mà còn cần đến “đức trị” nữa!  Người ta có thể tìm thấy “đức trị” ở đâu?  Thưa, không ở nơi các vĩ nhân, các triết gia và các lãnh đạo, mà là nơi thế giới tâm linh.  Trong một xã hội chỉ quản lý và điều hành bằng luật pháp, con người dễ dàng gian dối, lừa đảo.  Cần có Thượng Đế hay Thần Linh để kiểm soát hành vi tư tưởng của con người.

Trong bối cảnh thế giới như được diễn tả ở trên, chúng ta cùng bước vào Mùa Vọng.  Mùa Vọng nhắc chúng ta về nhu cầu cần đến Thiên Chúa.  Ngài là nền tảng của hòa bình đích thực, và là nguyên lý xây dựng tình liên đới giữa các dân tộc.  Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đíc-tô XVI đã viết trong Thông điệp Về niềm hy vọng Ki-tô giáo (Spe Salvi – năm 2008) như sau: “Thiên Chúa là nền tảng của hy vọng: không phải bất cứ thần minh nào khác, nhưng chính là Thiên Chúa Đấng có một dung mạo loài người và đã yêu thương chúng ta đến cùng, mỗi người chúng ta và nhân loại trong tổng thể của nó.  Nước Ngài không phải là một hình ảnh tưởng tượng đời sau, tọa lạc đâu đó trong tương lai mà chẳng bao giờ đến; nhưng Nước Ngài hiện diện bất cứ nơi nào Ngài được yêu thương và bất cứ khi nào tình yêu của Ngài đến được với chúng ta” (Số 31).

Thiên Chúa yêu thương nhân loại và Ngài luôn hiện diện giữa trần thế.  Đức Giê-su là Ngôi Lời nhập thể làm người để ở với chúng ta.  Người là bằng chứng sống động cho tình thương vô bờ của Thiên Chúa.  “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời” (Ga 3,16).  Đức Giê-su là niềm hy vọng của thế giới.  Nơi bản thân và cuộc đời của Chúa Giê-su, Thiên Chúa đã đến viếng thăm con người và ở lại với họ, đem cho họ niềm vui và lòng thương xót của Ngài.

Sống tinh thần Mùa Vọng cách cụ thể, trước hết là cảm nhận nhu cầu cần thiết có Thiên Chúa.  Con người cần Thiên Chúa như cây cần ánh mặt trời; như cá cần nước và như thân xác cần lương thực hằng ngày.  Không có Thiên Chúa, thế gian sẽ thành bãi chiến trường, như chúng ta đã kinh nghiệm trong thực tế xã hội hiện nay.  Ngôn sứ I-sai-a trong Bài đọc I đã nói lên niềm khát vọng của con người mong có Chúa: “Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống…  Tất cả chúng con đã trở nên như người nhiễm uế, mọi việc lành của chúng con khác nào chiếc áo dơ…”  Đó là tiếng rên xiết của cả nhân loại, mong ngóng Chúa đến để được giải thoát khỏi tình trạng đọa đầy đau khổ.

Sống tinh thần Mùa Vọng là vững tin vào Đức Giê-su, Đấng đã đến trong lịch sử và đang sống giữa chúng ta.  Đức Giê-su là nguồn cậy trông và là mẫu mực lý tưởng của chúng ta.  Con đường tiến tới hoàn thiện của chúng ta sẽ trở thành vô vọng, nếu không có Người trợ giúp.  Thánh Phao-lô khuyên giáo dân Cô-rin-tô: “Anh em hãy nên vững chắc đến cùng, nhờ thế không ai có thể trách cứ được anh em trong ngày của Chúa chúng ta là Đức Giê-su.”  Như thế, cuộc sống của chúng ta là những nỗ lực không ngừng để sống trung thành với Chúa Giê-su và được nên giống như người cách trọn vẹn.

Sau cùng, sống tinh thần Mùa Vọng là chu toàn bổn phận của mình trong cuộc sống cụ thể, đối với Chúa và đối với tha nhân.  Mỗi người sinh ra ở đời đều có một sứ mạng.  Chính Thiên Chúa là Đấng trao cho chúng ta sứ mạng ấy và Ngài kiểm soát chúng ta.  Mỗi người đều phải chu toàn bổn phận mà Chúa trao.  Hình ảnh một ông chủ trước khi đi xa trao cho các đầy tớ chăm sóc cơ nghiệp, diễn tả việc Thiên Chúa trao cho chúng ta sứ mạng phải hoàn thành.  Chúng ta không biết lúc nào Ông Chủ về.  Không biết lúc nào Chúa đến gọi chúng ta.  Ở địa vị người đầy tớ hay người quản lý, chúng ta phải luôn tỉnh thức và trung thành.  Đó là tinh thần sẵn sàng để có thể đón Chúa.  Mỗi chúng ta đóng vai trò “người giữ cửa” để chờ đợi và đón chủ đi xa sẽ về lúc bất chợt.  Người giữ cửa, không chỉ để đợi chủ, mà còn phải canh chừng để không cho những thù địch tấn công cướp phá gia nghiệp của chủ mình.

Maranatha, Amen, lạy Chúa Giê-su, xin ngự đến!  Đó là lời cầu nguyện kết thúc toàn bộ Kinh Thánh (Kh 22,20).  Đó cũng là niềm khát vọng của toàn thể vũ trụ. Đó là tâm tình đặc biệt của Ki-tô hữu, không chỉ trong Mùa Vọng, mà trong suốt cuộc đời, vì thế giới của chúng ta cần Thiên Chúa.  Duy chỉ có Ngài là Đấng lấp đầy những khát vọng thâm sâu của chúng ta.

 TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim