CHIỀU KÍCH VÔ CÙNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi!”.

Isaiah 2:2 | Book of isaiah, Read bible, Scripture verses

Trong cuốn “The Fight”, “Cuộc Chiến”, John White viết, “Một nhân chứng tốt khác hẳn một người bán hàng! 

Như một bảng chỉ đường, không quan trọng người ấy già, trẻ, đẹp, hay ít đẹp. Chỉ cần chỉ đúng hướng, dễ hiểu. Là chứng nhân Chúa Kitô, bạn phải sống làm sao để chỉ được ‘chiều kích vô cùng’ ơn Ngài cứu độ!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Bàn tiệc Lời Chúa Mùa Vọng cống hiến cho dân Chúa những món ăn tuyệt vời từ các bài đọc Cựu Ước, đặc biệt với sách Isaia, vốn được gọi là “Phúc Âm thứ năm”. Chẳng hạn hôm nay, Isaia nói đến “Núi nhà Đức Chúa”, nơi “Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi!”. Qua đó, ‘chiều kích vô cùng’ của ơn cứu độ được tỏ hiện.

Ở Cận Đông cổ đại, núi được coi là nơi ở của thần linh; Isaia ngước nhìn núi nhà Đức Chúa ở Giêrusalem và tiên báo những cuộc hành hương của muôn dân nước mai ngày. Mùa Vọng, mùa ngước nhìn Đền Thờ Giêsu, nơi các dân nước với con số muôn vàn sẽ đổ về. Vào những buổi đầu của Kitô giáo, nào ai có thể nghĩ, một ngày nào đó, mối hiệp thông của nó sẽ lên tới con số ‘tỷ’, một con số không hề có trong bất kỳ từ vựng nào vào thời đó!

Cũng từ Giêrusalem, rồi đây, với các môn đệ Giêsu, Tin Mừng cứu độ sẽ được loan đi tận trời cuối đất, bất chấp biên giới, vượt quá lãnh thổ, đạt đến một ‘chiều kích vô cùng’ trong các tâm hồn và muôn triệu con tim. Và Giêrusalem không cần và không còn phải là trung tâm thờ tự; vì ở đâu có Kitô hữu, ở đó có Đền Thờ và sự hiện diện của Giêsu, Đấng Phục Sinh. Thông điệp họ rao truyền là thông điệp hoà bình, yêu thương, “Họ đúc gươm đao thành cuốc thành cày”, một thông điệp không chỉ để rao giảng nhưng để sống!

Vậy mà, để có thể loan truyền sứ điệp đó, bạn và tôi cần được ‘lấp đầy’ bởi Giêsu; và cùng Ngài, đến với các tâm hồn, nói với họ như Isaia đã nói, “Hãy đến đây… ta cùng đi!”; Thánh Vịnh đáp ca có chung một tâm tình, “Ta vui mừng trẩy lên đền thánh Chúa!”. Thật trùng hợp, Tin Mừng hôm nay nói đến sự lấp đầy đó. Chúa Giêsu không cần lấp đầy nhà viên đại đội trưởng ngoại giáo, nhưng Ngài cần lấp đầy lòng ông, một người vốn đại diện cho thế giới ngoại giáo. Và quả như vậy, “Tôi không thấy một người Israel nào có lòng tin như thế!”.

Anh Chị em,

“Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, nước nước dập dìu kéo nhau đi!”. Có biết bao anh chị em của thế giới ngoại giáo cần những bảng chỉ đường. Mùa Vọng, mùa bạn và tôi coi lại ơn gọi chỉ đường của mình.

Tôi có chỉ đúng hướng Đền Thờ Giêsu? Mùa nhìn lại lòng mình, ở đó có sự hiện diện của Giêsu? Và Mùa Vọng, còn là mùa mời Giêsu vào nhà, nếu ở đó, vắng bóng Ngài. Hãy nhìn viên đại đội trưởng! Bằng cách tự coi mình bất xứng, vô tình, ông tỏ ra rất xứng đáng để Giêsu không chỉ vào nhà mà còn ‘vào lòng’ ông; vì vào nhà mà chẳng vào lòng cũng bằng không.

Pin on Children's Church

Vì một khi đầy Ngài, bạn mới có thể là một bảng chỉ đường “chỉ đúng hướng, dễ hiểu”, kể cả khi phải chỉ ra ‘chiều kích vô cùng’ ơn Ngài cứu độ!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con chỉ trệch hướng! Thay vì chỉ Giêsu, con chỉ về con; thay vì chỉ về ‘chiều kích vô cùng’, con chỉ về những ‘chiều kích có cùng!’”, Amen.

 

From: Nguyen Kim Bang gửi đăng.


Vụ bắt ông Lưu Bình Nhưỡng trưởng ban dân nguyện QH, làm bao nhiêu người còn mơ tưởng về sự phản tỉnh của Cộng Sản, phải vỡ mộng

Kim Âu Hà văn Sơn nhận định về Bò Đỏ ngu dốt không biết đọc lịch sử chỉ hò hét chửi rửa manh động.

Chính bọn đặt mìn, pháo kích bừa bãi và xâm lăng phá hoại cuộc sống yên lành của dân Miền Nam là bọn phản động.

Làm sao chính quyền Việt Nam xóa bỏ được Lịch sử Thế Giới Về Người tỵ nạn bỏ mình ở Biến Đông vì chạy trốn Cộng Sản để Tìm Tự Do

Ông Hà văn Sơn kết luận, từ lớn chí bé Cộng Sản là bọn nói dối, cần dậy dỗ:

Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm

Kissinger không phải là người Việt Nam!

Ba’o Tieng Dan

 Yên khê

3-12-2023

Căm ghét

Kissinger không phải là người Việt Nam, đương nhiên rồi. Nhưng Kissinger được nhiều người Việt biết đến, nhất là những người Việt xuất thân từ miền Nam Việt Nam, vì ông ta là kiến trúc sư lớn nhất cho việc người Mỹ rút quân khỏi Việt Nam sau khi ký hiệp định Paris với Cộng sản Bắc Việt năm 1973.

Hơn hai năm sau khi hiệp định Paris ký kết, Sài Gòn sụp đổ. Gần một triệu người Việt bỏ chạy khỏi Việt Nam, hàng trăm ngàn quân nhân, viên chức Việt Nam Cộng hòa bị cầm tù không án trong cái gọi là “trại cải tạo”. Người Việt Nam, nhất là người Việt hải ngoại căm ghét Kissinger vì những điều kể trên.

Realpolitik

Đó là đối với Việt Nam. Đối với thế giới ông ta được biết như là một gương mặt tiêu biểu cho một chính sách ngoại giao gọi là Realpolitik, Chính trị Thực dụng, tức là hành xử để có lợi, không bị ràng buộc bởi ý thức hệ, và cả… đạo đức.

Nhưng Henry Kissinger không phải là người duy nhất của loại hành xử chính trị ngoại giao Realpolitik, trong đó các nước nhỏ chỉ là những con cờ, chỉ có các đại cường chơi với nhau, những chuyện như là dân chủ, nhân quyền… xem là chuyện vặt. Có thể kể vài tên tuổi như là Thucydides người Hy Lạp, Machiavelli người Ý,… một số nhân vật cộng sản như Mao Trạch Đông cũng có thể được xếp vô loại Realpolitik, một loại chính trị chẳng xa lạ gì với thế giới Đông Á. Đâu phải tự nhiên mà người Trung Quốc (và người Việt bắt chước theo) có câu, “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”! (Một vị tướng thành công là cả vạn người chết).

Đương nhiên, xã hội loài người thay đổi, thời của Kissinger khác với Machiavelli, càng khác với Thucydides. Cùng thời như Kissinger và Mao, nhưng cái khung xã hội cũng khác. Tuy nhiên, cái chung của những nhân vật này là họ hành xử trong cái hệ thống của họ, họ là đại diện cho hệ thống ấy, cho nên họ chẳng bị xử phạt, trừng trị gì cả. Mao là thủ phạm của khoảng 30 triệu cái chết trong cái gọi là “đại nhảy vọt”, Hồ Chí Minh là thủ phạm của mấy chục ngàn người chết của cái gọi là “cải cách ruộng đất”. Thế nhưng, cả tỷ người Trung Quốc, gần 100 triệu người Việt, hàng ngày móc bóp ra là gặp hình hai ông này.

Trong trường hợp Kissinger, ông ta đại diện cho hệ thống tư bản Mỹ, hệ thống tư bản toàn cầu, trong đó ranh giới quốc gia mờ nhạt. Thế nên, chúng ta cũng không ngạc nhiên lắm khi Kissinger nói rằng, ông ta không quan tâm đến những người Do Thái ở Liên Xô có được đi định cư ở Israel hay không, hay là bị chế độ Soviet bỏ vào phòng hơi ngạt, mặc dù ông ta là người Do Thái. Stephen B. Young, một giáo sư Mỹ rành tiếng Việt, nhận định với BBC Việt ngữ rằng Kissinger chẳng yêu gì nước Mỹ, ông ta chỉ hành động cho thỏa cái tự cao tự đại của ông ta thôi.

Tổng thống Nga Putin gặp cựu Ngoại trưởng Kissinger ngày 12-2-2005. Nguồn: Điện Kremlin

Tất cả những điều này cũng không nằm ngoài những khuôn khổ của hệ thống tư bản toàn cầu. Cho nên những lời buộc tội ông ta, nào là bàn tay nhuốm máu, nào là đồ tể,… có lẽ cũng hơi quá. Tất cả những chuyện ông ta làm, mà hậu quả là cả triệu người thiệt mạng, hay tù đày, … đều là vì quyền lợi của hệ thống mà ông ta đại diện.

Cùng một mục tiêu chống hệ thống cộng sản, ở Đông Á ông ta bắt tay với Mao, nhưng tại Chile ông ta ra tay âm mưu lật đổ Allende. Nếu người Việt chống Cộng sản căm thù Kissinger vì cho rằng ông ta “phản bội” VNCH, gây đau khổ cho hàng triệu người Việt, thì họ có đồng ý với Kissinger qua chuyện lật đổ Allende, một người theo chủ nghĩa Marxist, dẫn tới việc hàng triệu người Chile phải đau khổ dưới chế độ độc tài Pinochet không?

Xem các nước nhỏ chỉ là con cờ, Kissinger không thèm đếm xỉa đến các viên chức Việt Nam Cộng Hòa về thái độ đối với Bắc Việt, cũng như chính sách chiến tranh Việt Nam, mà lại đi vấn kế Jean Sainteny, một người Pháp thân thiết với Hồ Chí Minh. Vì dưới mắt ông ta, người Mỹ, người Pháp chơi cờ, còn người Việt chỉ là những con tốt.

Đã nửa thế kỷ trôi qua kể từ khi Kissinger đặt bút ký hòa đàm Paris với Hà Nội, nửa thế kỷ trôi qua kể từ khi Allende tử nạn vì cuộc đảo chánh phản dân chủ của Pinochet, hơn nửa thế kỷ từ khi Kissinger cho ném bom Cambodia, không chỉ làm hàng ngàn người chết, mà còn dẫn đến sự trỗi dậy của phong trào Khmer Đỏ và chế độ diệt chủng sau đó.

Cựu tổng thống Obama nói với báo The Atlantic hồi năm 2016, rằng Mỹ đã bỏ bom Cambodia và Lào còn nhiều hơn số bom bỏ ở châu Âu hồi Thế Chiến Thứ Hai, và cuối cùng thì được cái gì?  Ông Obama nói tiếp, rằng chỉ được sự hỗn độn chết chóc cùng với các chế độ độc tài. Khi Nixon và Kissinger bàn chuyện bỏ bom Cambodia, họ có biết điều đó không? Khó mà nói được họ có thông minh và viễn kiến để thấy như vậy hay không. Và chính phủ VHCH lúc đó có ủng hộ việc ném bom đó không? Tôi cho rằng có, vì nó nằm trong kế hoạch cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh, con đường tiếp liệu của Bắc Việt.

Đương nhiên, nếu không biết được tương lai ra sao thì trách nhiệm có thể sẽ nhẹ hơn. Trường hợp Kissinger, người ta cho rằng ông ta biết người miền Nam Việt Nam sẽ gánh chịu sự cai trị của cộng sản khổ sở ra sao, người Chile sẽ bị tay độc tài Pinochet đàn áp thế nào… Người ta cho là thế, dựa vào sự biện hộ của Kissinger khi chuyện đã xảy ra.

Trường hợp Chile, ông ta nói rằng ông ta phải ra tay vì sự bất cẩn của dân chúng Chile đã bầu lên một người Marxism. Trường hợp Việt Nam, ở chỗ riêng tư ông ta nói rằng, miền Nam Việt Nam chỉ trụ giỏi lắm là một năm rưỡi. Thực tế, ông ta chỉ đoán sai chín tháng, từ ngày ký hiệp định Paris cho đến khi Sài Gòn sụp đổ là hai năm ba tháng. Ông ta biện hộ như thế dựa trên những điều ông ta đoán trước khi ra quyết định, hay chỉ là cái thói tự cao tự đại, tao như thế chúng mày làm gì tao!?

Nhưng một lần nữa, ông ta hành động trong hệ thống tư bản toàn cầu qua cuộc cạnh tranh với chủ nghĩa cộng sản, mà trong cuộc cạnh tranh đó, chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, có một phần công lớn của nhà ngoại giao Realpolitik, Henry Kissinger.

Một thế giới đã thay đổi với những ám ảnh quá khứ

Sau khi có tin Kissinger qua đời, ông Jim McGovern, dân biểu liên bang Hoa Kỳ từ Massachusetts, viết rằng, Kissinger đã hủy diệt với bạo lực kinh hoàng ở Chile, Vietnam, Cambodia, Đông Timor, Bangladesh. Đây là cái nhìn của một người Mỹ, của chủ nghĩa tư bản toàn cầu Mỹ, thuộc thế hệ sau Kissinger.

Ông Juan Gabriel Valdes, đại sứ Chile ở Mỹ, nhận xét rằng, Kissinger là một một kẻ thông minh không thèm che dấu sự thảm hại đạo đức của chính mình. Chính phủ hiện nay của Chile là một chính phủ khuynh tả, được thành lập sau một thời gian dài nước Chile bị đàn áp dưới chế độ độc tài Pinochet do Mỹ giúp dựng nên.

Có thể Kissinger đã góp phần vào sự sụp đổ của VNCH. Đó là một thời kỳ thực nghiệm dân chủ phôi thai duy nhất trong lịch sử Việt Nam. Nền dân chủ phôi thai ấy bị hy sinh cho một ý tưởng to lớn hơn, là tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản toàn cầu. Những nền dân chủ phôi thai cùng thời kỳ ở Đông Á như Nam Hàn, Đài Loan, đâu phải là không khó khăn, đâu phải là không có Kissinger, nhưng họ đã thoát và củng cố nền dân chủ hùng mạnh cho tới nay.

Một Lạt Ma Tây Tạng từng nói như thế này: Ta đã sống qua quá khứ, đâu có cần thiết phải sống lại với nó, nếu ta muốn sống với những vết thương quá khứ thì ta hy sinh hiện tại và tương lai, không thông minh chút nào cả.

Nếu không có những ồn ào bằng tiếng Việt quanh sự ra đi của Kissinger, tôi cũng không để ý lắm. Đối với tôi, ông ta chỉ là một người Mỹ, hành động với quyền lực của một siêu cường.

Và hơn hết, ông ta có phải là người Việt Nam đâu! Người Việt Nam chúng ta phải chịu trách nhiệm về thân phận của đất nước Việt Nam.


 

CÁC PHÉP LẠ CỦA THÁNH PHANXICÔ XAVIÊ…

CÁC PHÉP LẠ CỦA THÁNH PHANXICÔ XAVIÊ…

1–Thánh Phanxico Xavier đã hoán cải được rất nhiều linh hồn. Trong một năm mà ngài xây dựng được đến 45 cộng đoàn Công giáo ở trong vùng truyền giáo của ngài. Thiên Chúa đã sử dụng ngài để làm nhiều phép lạ kỳ diệu.

Tại Malacca, thánh Phanxico Xavier đã làm cho một người chết đã chôn trong nhiều ngày được sống lại. Khi Thánh Phanxico đi xa trong nhiều ngày thì người con gái của một phụ nữ chết. Người mẹ này đi tìm kiếm ngài khắp nơi khi con gái bà còn bịnh. Khi bà biết được thánh Phanxico về rồi thì bà tin rằng ngài có thể làm cho con bà sống lại. Giống như thánh Martha nói với Chúa Giêsu rằng:

“Nhưng bây giờ con biết là ngài xin điều gì với Thiên Chúa thì Chúa sẽ ban cho ngài.” (Gioan 11:22)

Khi người mẹ gặp thánh Phanxico thì bà quỳ mọp dưới chân ngài giống như bà thánh Martha. Thánh Phanxico ngạc nhiên trước đức tin vững mạnh của bà mẹ và ngài đã cầu nguyện để xin Chúa cho người con gái của bà sống lại. Rồi ngài bảo người mẹ hãy ra ngoài mộ tìm con vì con gái bà đã sống lại. Người mẹ vừa mừng, vừa sợ bởi vì thánh Phanxico không tự mình ra mộ và con bà thì đã được chôn 3 ngày rồi.

Tuy nhiên bà không hỏi thêm ngài mà chạy vào nhà thờ, nơi có mộ con bà. Tại đó, bà cùng nhiều người chứng thấy tảng đá lấp mộ được rời đi và người con gái đã được chôn 3 ngày mà sống lại. Ai ai cũng vui mừng vì phép lạ ấy.

2–Thánh Phanxico có quyền năng dù ở một nơi xa nhưng làm cho người chết sống lại. Tại Nhật Bản ở vùng Cagoxima, có một người giàu có ngoại giáo vừa mất một con gái duy nhất. Ông ta  quá sức đau buồn. Có một số người Kitô giáo cảm thương ông nên bảo ông hãy tìm đến gặp Thánh Phanxico Xavier, một thầy giáo vĩ đại người Bồ Đào Nha. Người cha bèn đến gặp ngài và quỳ dưới chân ngài. Ông ta nức nở mà không nói thành lời nhưng vị thánh hiểu tâm tình của người cha đau khổ.

Thánh Phanxico bèn vào nhà nguyện dâng thánh lễ. Người giúp việc ngài là ông Joam Fernandez, đi vào nhà nguyện với ngài. Sau khi thánh Phanxico cầu nguyện, ngài đi ra ngoài và bảo người cha tội nghiệp ấy rằng lời cầu nguyện của ông ta đã được Chúa nhận lời. Thế là người cha đi về và cảm thấy buồn bã.

Trên đường đi, ông ta gặp một người đầy tớ báo tin rằng con gái của ông vừa được sống lại. Rồi người con gái chạy đi và gặp cha mình. Cô ta kể rằng khi cô tắt thở thì có hai con quỷ ghê gớm đến kéo cô đi. Bọn chúng đang định ném cô vào hỏa ngục thì có hai người thánh đến cứu cô ra. Và thế là cô được sống lại khỏe mạnh.

Khi người cha dắt con gái đến gặp thánh Phanxico thì cô ta nhận ra chính là ngài và ông Fernandez đã cứu cô thoát hỏa ngục. Thế rồi hai cha con đã xin học đạo và rửa tội.

3–Một phép lạ khác xảy ra khi thánh Phanxico ở trên chiếc tàu tên Santa Croce đến vùng San Chan. Bỗng dưng một bé trai 5 tuổi rớt xuống biển khi tàu đang chạy mau. Người cha đau buồn trong suốt 3 ngày. Đến khi Thánh Phanxico gặp ông trên tàu, ngài hỏi xem ông có tin Chúa Giêsu cứu được con ông không. Ông ta nói rằng ông ta tin dù biết đứa con đã rớt xuống biển 3 ngày và tàu đã đi xa nơi con ông rớt hàng trăm dặm.

Sau khi thánh Phanxico cầu nguyện thì người cha bỗng dưng thấy lại đứa con đang chạy đến với ông với vẻ vui mừng và hoan hỉ. Thế là hai cha con đều xin được rửa tội.

4–Tại Nhật Bản ở vùng Cagoxima, thánh Phanxico đã chúc lành cho một em bé bị tàn tật nặng nề, ngay lập tức, thân xác em trở lại bình thường và đẹp đẽ.

Một đức tính của vị thánh: Làm cho mọi người ngay thẳng và đẹp đẽ trong đôi mắt của Thiên Chúa.

5–Ngoài ra, thánh Phanxico còn làm cho một phụ nữ ngoại đạo được sống lại sau khi bà ta đã chết một ngày. Tại Malacca, ngài làm cho một người thanh niên tên là Francis Ciavos sống lại. Người này sau trở nên một linh mục dòng Tên.

Thánh Phanxico mất ngày 3 tháng 12 năm 1552, vào lúc ngài được 46 tuổi. Sau đó, khi cải táng, người ta tìm thấy xác ngài còn nguyên như ngù mà không hư hại.

Sau chỉ có 12 năm kể từ khi ngài ra đi truyền giáo thì ngài chết và xác ngài được đưa về Goa để tôn kính. Có rất nhiều phép lạ xảy ra chung quanh xác của ngài. Khi xác ngài được đặt tạm ở nguyện đường College of St. Paul vào ngày 15 tháng 3 năm 1554, có rất nhiều người mù được sáng mắt, những người liệt được hết bệnh, những người động kinh được khỏe mạnh. Ngày nay xác ngài được đặt tại Vương Cung Thánh Đường Born Jesu ở vùng Goa, nước Ấn Độ.

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

CHÚ CHÓ…ÂN TÌNH (Truyện rất ngắn)

Một người đàn ông vừa mất, và con chó thân thích của ông ấy được người con trai chăm sóc….
Mấy ngày sau, anh mới phát hiện ra rằng:
– Con chó đã biến mất…
5 ngày sau! Từ nghĩa trang điện thoại báo với anh ấy rằng… Có một con chó đã đào mộ của cha anh ấy và cứ lẩn quẩn ở đó không chịu đi.
Anh ra nghĩa trang bắt chó về, lấp đất lại cho ngôi mộ Nhưng hôm sau nó lại bỏ đi… và lại đào mộ lên.
Và cứ như thế nhiều lần…
Anh đành bỏ chó lại bên ngôi mộ cha mình và hàng ngày chịu khó đem cơm nước ra cho nó.
Nhưng tuyệt nhiên, con chó không đụng đến cơm nước và không cho ai bước gần tới ngôi mộ…
Một tuần sau, nó chết trên mộ của người chủ sở hữu mình.

– Bạn thấy đấy, chó là sinh vật duy nhất trên trái đất này… sẵn sàng hy sinh cho bạn vì bạn mà quên thân mình.

From: NGOC PHAN & KimBang Nguyen

Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến. (Mc 13:33)-Cha Vương

Mùa vọng tràn đầy ân sủng của Chúa nhé.

Cha Vương

CN: 3/12/2023

TIN MỪNG: Anh em phải coi chừng, phải tỉnh thức, vì anh em không biết khi nào thời ấy đến. (Mc 13:33)

SUY NIỆM: Chắc bạn đã từng nghe câu thành ngữ dân gian Việt Nam: “mong như mong mẹ về chợ”. Câu này diễn tả nỗi mong ngóng của một em bé ngồi nhà trông mẹ đi chợ về xem mẹ mua gì về cho con. Cảm giác này cũng là tinh thần của Mùa vọng. Sách Giáo Lý của Giáo hội Công Giáo dạy rằng: Mùa vọng là  Hằng năm khi cử hành phụng vụ Mùa Vọng, Hội Thánh hiện tại hóa niềm mong đợi Đấng Mê-si-a: khi hiệp thông với việc chuẩn bị lâu dài cho Đấng Cứu Thế đến lần thứ nhất, các tín hữu làm bừng sáng niềm khát khao mong mỏi Người đến lần thứ hai (x. Kh 22,17). Khi mừng sinh nhật và cuộc tử đạo của vị Tiền Hô, Hội Thánh cũng hợp ý với thánh nhân “Đức Ki-tô phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi”—Ga 3,30. (SGLHTCG, số 524). Thiết tưởng hai câu hỏi then chốt được đặt ra hôm nay để giúp bạn chuẩn bị tâm hồn gặp Chúa không những trong Mùa vọng này mà cả khoảng thời gian còn lại trong cuộc đời của bạn.

(1) Bạn mong đợi nơi Chúa điều gì?

(2) Chúa mong đợi nơi bạn điều gì?

Bạn hãy tự trả lời 2 câu hỏi này đi. Hãy hoán cải, hãy lắng nghe, hãy tỉnh thức, hãy vui mừng nhé.

 LẮNG NGHE: Thật thế, lời chứng về Đức Ki-tô đã ăn sâu vững chắc vào lòng trí anh em, khiến anh em không thiếu một ân huệ nào, trong lúc mong đợi ngày Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, mặc khải vinh quang của Người. (1 Cr 1:6-7)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, trong tâm tình ngày đầu Mùa vọng, xin giúp con chuẩn bị tâm hồn cho xứng đáng để Chúa và con có thể gặp nhau trò chuyện trong lời cầu nguyện mỗi ngày.

THỰC HÀNH: Đừng quá bận rộn trong công việc mua sắm quà Giáng Sinh, trang trí đèn mà mà quên đi việc chuẩn bị tâm hồn. Mời bạn hãy lập ra kế hoạch cụ thể cho mỗi ngày của Mùa vọng năm nay.

From: Do Dzung

Tỉnh Thức Và Cầu Nguyện 

TỬ HUYỆT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Điều Thầy nói với anh em, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là phải tỉnh thức!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Mùa Vọng, thời gian của hy vọng; trong đó, ký ức về ‘lần đến’ đầu tiên khiêm nhường và ẩn giấu của Con Thiên Chúa được làm mới lại trong tâm hồn chúng ta. Và trong chính mình, mỗi người làm mới lại nỗi khát khao sự trở lại vinh quang của Chúa. Quan trọng hơn, Mùa Vọng còn là mùa sám hối, mùa nhận ra điểm yếu, ‘tử huyệt’ của mình để mỗi người trở về với Chúa, sẵn sàng nghinh đón Ngài trong giờ Ngài đến!

Mùa Vọng còn là thời gian để nhìn thế giới như nó vốn là, để thừa nhận những thứ hỗn độn đang diễn ra, để nhận ra những thất bại của mình do sự thờ ơ bản thân gây ra. Bài đọc thứ nhất là một lời cầu nguyện tuyệt vời của Mùa Vọng. Đại diện cho dân, Isaia thưa lên, “Lạy Chúa, tại sao Ngài để chúng con lạc xa đường lối Ngài? Tại sao Ngài làm cho lòng chúng con ra chai đá, chẳng còn biết kính sợ? Phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống!”. Thánh Vịnh đáp ca có chung một tâm tình, “Lạy Thiên Chúa, xin phục hồi chúng con!”. Mùa Vọng còn là mùa tạ ơn vì hồng ân được làm con cái Chúa. Phaolô trong thư Côrintô hôm nay viết, “Trong Đức Kitô Giêsu, anh em đã trở nên phong phú về mọi phương diện… khiến anh em không thiếu một ân huệ nào!”.

Có lẽ chúng ta đã quá mất tập trung, quá đắm chìm trong những mời mọc của thế gian; đắm chìm trong những cuộc trò chuyện liên miên trên điện thoại. Mùa Vọng là món quà giúp chúng ta dành thời gian để thấy rõ, chúng ta cần một Vị Cứu Tinh, lắng nghe tiếng Ngài thầm thì trong tâm hồn mình. Mùa Vọng, mùa bạn và tôi được mời sống chậm lại để biết rằng, tôi cần ‘Chúa đến’, chỉ cho tôi ‘tử huyệt’, đưa tôi trở lại con đường đúng đắn để cùng anh em, tôi sống trên hành tinh này như ý Ngài định.

Lời Chúa hôm nay được đánh dấu sâu sắc bởi lời kêu gọi tỉnh thức đến ba lần. Với lần thứ ba, Chúa Giêsu lên tiếng một cách trang trọng, “Điều Thầy nói với anh em, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là phải tỉnh thức!”. Nhưng tôi đâu có mê ngủ, tôi phải tỉnh thức điều gì?

Thần thoại Hy Lạp nổi tiếng với Achilles, con của Peleus, vua Hy Lạp và thuỷ thần Thetis. Khi vừa hạ sinh Achilles, Thetis được tiên tri rằng, con bà sẽ tử trận. Vì thế, bà đem con nhúng xuống dòng sông bất tử Styx; vua cha tưởng bà hại con nên tức giận tuốt kiếm xông ra. Bà mẹ không giải thích mà bỏ về thủy cung khi chưa kịp nhúng hai gót chân con trai xuống nước. Kể từ đó, Achilles mình đồng da sắt, sức mạnh thần thánh vô địch; nhưng về sau, phải chết vì một mũi tên bắn trúng gót chân, ‘tử huyệt!’.

Anh Chị em,

Mùa Vọng, mùa tự hỏi, “Gót chân Achilles, ‘tử huyệt’, của tôi là gì?”. Điểm yếu nhất của tôi là gì? Ngoại tình? Trộm cắp? Dối gian? Phá vỡ hiệp nhất? Đây không chỉ là những câu hỏi đưa đến một lời khuyên khổ hạnh, nhưng là một lời mời gọi sống như trẻ thơ, sống trong ánh sáng ban ngày. Tôi có sẵn lòng để Chúa, người Thợ Gốm; và tôi, đất sét trong tay Ngài? Tôi có sẵn sàng để Chúa định hình đời tôi? Chúng ta tin Chúa, nhưng có tin cậy Chúa đủ, hầu cho phép Ngài uốn nắn và uốn nắn theo những hướng khác với ý muốn của bản thân? Hãy lùi lại khỏi ghế điều khiển và để Chúa cầm lái! Như thế, Mùa Vọng, còn là mùa mở lòng ra để được biến đổi bởi ân sủng.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin hãy ‘nhúng’ linh hồn con, trí tri con, toàn thân con trong nước ân sủng Chúa! Xin tha thứ cho con, để Mùa Vọng này còn là mùa con được đổi mới!”, Amen.

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

HÀ GIANG…. NGƯỜI ĐÀN BÀ HIẾM CÓ TRONG ”TRẠI TÙ” LAO CẢI (Phạm Tín An Ninh)-Truyện ngắn hay

Tác giả Phạm Tín An Ninh:

Phạm Tín An Ninh : Sinh ra và lớn lên tại Khánh Hòa, Tuổi Quý Mùi. Mất mẹ lúc 3 tuổi, nên sống với ông bà nội. Lúc nhỏ, theo học tại trường Trung học Văn Hóa và Võ Tánh Nha Trang. Nhập ngũ: Khóa 18 SQ Trừ Bị Thủ Đức. Phục vụ tại Sư Đoàn 23 BB. Sau tháng 4/75: Đi tù tại các trại tù Nam và Bắc Việt Nam.(Thân sinh cũng bị đi tù và chết trong tù cải tạo vào tháng 6/1976). Vượt biên, định cư tại Vương Quốc Na-Uy từ năm 1984. Đi học và làm việc trong ngành Ngân Hàng Bưu Điện. Về hưu từ đầu năm 2008. Tác phẩm: Ở Cuối Hai Con Đường (2008), Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân (sẽ xuất bản)
Nghỉ hè ở Mallorca

1-
Mallorca, một hòn đảo du lịch nổi tiếng của Tây Ban Nha, nằm trong quần đảo Balearic. Trước khi đến đây, vì nghĩ là đảo, nên tôi tưởng chỉ có rừng núi và biển cùng một vài làng mạc hay khu phố nhỏ. Nhưng tôi rất ngạc nhiên khi phi cơ đáp xuống phi trường Palma rộng lớn, kiến trúc tân kỳ, sang trọng còn hơn nhiều phi trường quốc tế khác mà tôi đã từng đi qua. Palma là thủ phủ tráng lệ của Mallorca, nằm trên một dãy đồi cao nhìn xuống biển xanh. Đặc biệt khu nhà thờ Cathedral nằm bên cạnh giáo đường Mussulman, gồm những kiến trúc độc đáo, nổi tiếng theo kiểu Mediterranean Gothic từ thế kỷ thứ 13.

Chiếc xe bus của công ty du lịch đưa chúng tôi đi qua vài thành phố cảng, sang trọng và sầm uất, nằm dọc theo bờ biển, để đến Alcudia, khu nghỉ mát nằm phía đông bắc Palma chừng ba giờ xe. Chúng tôi chọn nơi này, vì bờ biển đẹp, một cái vịnh nhỏ, nằm khuất sau dãy núi Victoria, nên không có sóng và khá an toàn cho trẻ em. Những em bé năm, sáu tuổi có thể lội ra cách bờ 50-60 mét.
Thực ra kỳ nghỉ hè này chỉ là món nợ mà vợ chồng tôi phải trả cho con bé cháu nội. Trước đây hai năm tôi hứa với cô bé là sẽ thưởng một kỳ nghỉ hè hai tuần lễ ở Mallorca nếu nó đọc và viết được tiếng Việt. Chúng tôi ở trong một khách sạn, đi bộ ra biển chừng vài phút. (Đa số khách sạn ở vùng này giống như những khu apartment, mỗi phòng trọ, ngoài các phòng ngủ, còn có phòng khách và bếp với đầy đủ dụng cụ nấu ăn). Ở Bắc Âu thời tiết lạnh đến bảy, tám tháng, không có nhiều dịp được ra biển tắm, nên con bé cháu nội rất mê biển. Sáng nào, mới vừa thức dậy, con bé cũng giục ông bà nội ra biển, mãi đến chiều, khi trời sắp tắt nắng mới chịu trở về. Đã vậy khi về đến khách sạn, cô bé còn xin được tiếp tục bơi lội trong hồ tắm của khách sạn đến tối mịt mới chịu vào phòng. Trong khi bà xã làm thức ăn, tôi có nhiệm vụ ngồi trên bờ hồ trông chừng con bé.

Ở đây, hầu hết khách du lịch đến từ Âu Châu, đa số là người Bắc Âu và Đức. Suốt tuần lễ đầu tiên, tôi không gặp người Á châu nào, ngoại trừ gia đình người Tàu làm chủ một nhà hàng buffet, sinh sống ở đây đã lâu năm. Một hôm, khi nằm trên chiếc ghế dựa bên hồ tắm nhìn trời, bất ngờ nghe cô bé cháu nội nói chuyện bằng tiếng Việt với một người nào đó. Nhìn xuống hồ tôi nhận ra một cô gái tóc đen đang tắm và đùa giỡn với con bé. Thấy tôi nhìn, cô gái lạ đưa tay vẫy, và nở một nụ cười chào tôi. Giữa một nơi xa lạ, người đồng hương dễ quen nhau.

Trưa hôm sau, trong lúc vợ chồng tôi nằm trốn nắng dưới cây dù lớn ngoài bãi tắm, con bé cháu nội dắt tay cô gái đến chào chúng tôi. Cô gái tự giới thiệu tên mình là Lam Khê, khoảng chừng 19, 20 tuổi, khuôn mặt khá xinh và đôi mắt thật to, tự nhiên dễ mến. Nhưng điều làm tôi chú ý chính là cái tên Lam Khê, trùng hợp với một địa danh vẫn còn đậm trong ký ức, cho dù cuộc đời thăng trầm đây đó của tôi còn có biết bao nhiêu cái tên để nhớ.

Buổi chiều, khi vợ chồng tôi và cô bé cháu nội đang ăn tối trong nhà hàng buffet của một người chủ gốc Tàu, thì bất ngờ thấy Lam Khê đi vào cùng với một người đàn bà Việt Nam và một người đàn ông ngoại quốc. Có lẽ Lam Khê đã kể về chúng tôi, nên cả hai người đến chào và bắt tay chúng tôi. Khi đứng lên bắt tay bà mẹ, tôi bất ngờ đến giật mình khi nhận ra người đàn bà này chính là người mà tôi vừa nghĩ tới sáng nay khi gặp Lam Khê. Trong khi tôi đang ngạc nhiên về những cuộc hạnh ngộ bất ngờ trong đời mình, thì bà nở nụ cười giới thiệu người đàn ông ngoại quốc đi bên cạnh:
-Đây là ông xã em. Anh người Đức. Chúng em sống ở thành phố Hamburg.
Tôi đưa tay bắt tay và gật đầu chào người đàn ông, nhưng lại hỏi bà:
-Xin lỗi, tên bà có phải là Hà Giang?
-Sao ông bà biết tên tôi? Người đàn bà trố mắt nhìn chúng tôi ngạc nhiên.
-Không ngờ tôi lại gặp bà ở đây – Tôi vừa nói vừa kéo ghế mời cả ba người- Hóa ra chúng ta đã từng gặp nhau. Chúng tôi xin được mời ông bà và cháu Lam Khê.
Bà ngồi xuống bên cạnh vợ tôi, nét ngạc nhiên vẫn còn nguyên trên mặt. Để đánh tan không khí căng thẳng, tôi giải thích:
– Tôi biết bà khi tôi đang ở tù ngoài miền Bắc. Sáng nay khi gặp và biết tên cháu Lam Khê, tôi đã nghĩ ngay đến bà. Bởi cái tên Lam Khê, tôi và đám bạn tù không thể nào quên. Không ngờ bây giờ lại gặp bà ở đây. Xin cám ơn tình cảm và lòng tốt của bà đã dành cho chúng tôi trong những ngày sa cơ khốn khó.
Bà nhìn tôi dò xét. Suốt bữa ăn, chúng tôi nhắc lại những ngày vui buồn ở vùng núi xa xăm ấy. Trong khung cảnh vui vẻ, nhưng nhìn khuôn mặt và nụ cười không trọn, tôi có cảm giác bà ta đang ưu tư một điều gì đó.

Lam Khê, cái tên khá đẹp đó lại là một khu núi rừng Thanh Hóa, tiêu điều hoang vắng, nằm sát biên giới Lào-Việt, mà bọn tù “cải tạo” chúng tôi bị đưa đến đây để phát rừng trồng cây, xây dựng một lâm trường, trong một mùa hè nắng và gió Lào muốn cháy cả thịt da.
Ngày đầu mới đến, giữa một khu núi rừng xa xôi hẻo lánh, chúng tôi chỉ thấy có hai căn nhà lá cọ vừa mới dựng lên, trong đó chỉ có vài người ở. Họ được giới thiệu là “những bảo vệ và cán bộ lâm trường”. Điều làm chúng tôi vừa ngạc nhiên vừa thích thú là sự có mặt của một cô con gái trẻ, trông dáng dấp e ấp thư sinh, mà lại là “thủ trưởng” toàn bộ lâm trường này. Tôi nhớ một câu ví von của người nào đó: “Hoa lạc giữa rừng gươm”!

Cả đội tù chúng tôi trên sáu mươi người được lệnh ngồi trên một bãi cỏ bên bìa rừng, để “nghe nữ đồng chí giám đốc lâm trường lên lớp”. Mặc một bộ đồ công nhân màu xanh, rộng thùng thình, khuôn mặt không một chút phấn son, nhưng trông khá xinh với đôi mắt thật to và buồn. Cô chào chúng tôi bằng một nụ cười, nói năng từ tốn, tự giới thiệu tên là Hà Giang, trước khi nói về địa thế, đặc tính khu rừng, cách thức phát hoang và phương pháp an toàn. Cô gọi chúng tôi là các chú và xưng mình là em. Sự kiện chưa từng thấy trong những năm tù. Cuối cùng cô nhờ anh đội trưởng cắt cử cho cô năm người để cô hướng dẫn việc đo đạc, cấm cọc, căng giây. Tôi được may mắn nằm trong năm thằng được chọn.

Dường như từ ngày có chúng tôi, đôi mắt của cô trông bớt buồn hơn. Nhiều lúc cô đùa giỡn rất thân tình. Mỗi ngày năm đứa chúng tôi theo cô vào rừng để đo đạc. Những lúc ấy cô thường ngồi tâm tình. Cô kể về đời mình và thường hỏi mỗi người chúng tôi về hoàn cảnh cha mẹ, vợ con ở quê nhà. Nghe chúng tôi kể sự gian truân của gia đình cùng nỗi nhớ thương vô vọng, nhiều lần cô đã lau nước mắt. Thấy một anh đeo trên cổ tấm ảnh của vợ lồng trong mảnh gỗ mun nhỏ, cô xin được xem rồi bảo nhỏ “các chú thật chung tình”.

Hà Giang là một sinh viên giỏi, được gửi sang Đông Đức học về Lâm Nghiệp. Sau khi tốt nghiệp trở về đúng vào lúc đảng Cộng Sản phát động phong trào “trí thức đi thực tế”, cô được đưa lên Lào Cai, hướng dẫn những người dân tộc trồng và bảo vệ rừng. Mới đến Lào Cai vài tháng, chưa quen với khí hậu khắc nghiệt và tập quán địa phương, thì giặc “bành trướng” Trung Quốc tràn qua biên giới. Rất may mắn, lúc ấy cô đang về học một lớp chính trị ở Hà Nội, nên thoát nạn và được Bộ điều vào Thanh Hóa để thành lập lâm trường mới. Đó chính là lâm trường mà chúng tôi đang có mặt. Thực ra đây chỉ là một vùng núi rừng hoang vắng, với ban điều hành gồm năm người, do cô làm giám đốc, cơ sở chỉ là hai căn nhà lá, công nhân là 60 thằng tù khổ sai bọn tôi, và dụng cụ chỉ có toàn dao phát rừng và vài cái cuốc chim!

Một hôm, thấy thấp thoáng một người đàn ông lạ, chúng tôi hỏi cô. Ngập ngừng một lúc thì cô mới buồn bã tâm sự. Người đàn ông ấy là một công nhân máy kéo tiên tiến, đang phục vụ ở một lâm trường khác, cách nơi này hơn hai mươi cây số, có nhiều tuổi đảng, được đảng bộ sắp xếp để lâp gia đình với cô, làm gương cho kế hoạch “trí thức cùng chung sống với công nhân” của đảng mới đề ra. Mục đích làm cho đám công nhân ít học, phấn khởi trước sự ưu ái của đảng, đem hết sức lực ra phục vụ và trung thành với đảng. Đây cũng là “phần thưởng” để cô được bổ nhậm về lâm trường mới này với chức danh giám đốc!

Chúng tôi ngạc nhiên, vì gã công nhân tiên tiến này trông lớn hơn cô nhiều tuổi, rổ mặt, đen đủi, cục mịch. Không có điều nào hợp với cô con gái có học và dễ thương này. Cô còn bảo là trong trái tim cô, không hề có một ngăn nhỏ nào dành cho anh ta, nhưng không dám làm trái ý đảng, sẽ bị kỷ luật nặng, vì vậy cô phải gật đầu, nhưng tìm cách trì hoãn đám cưới được ngày nào hay ngày ấy. Cô nói là cô đang trong thời kỳ “nín thở qua sông”!

Mặc dù có cảm tình và tội nghiệp cô, nhưng chúng tôi luôn “đề cao cảnh giác” không dám nói điều gì. Vì kinh nghiệm cho chúng tôi biết, Cộng Sản luôn gài nhiều cái bẫy chung quanh, và chuyện “mỹ nhân kế” không phải bây giờ mới có. Một hôm, trong lúc ngồi nghỉ trưa, cô lấy ra từ chiếc bao nhỏ, mời chúng tôi mỗi người một củ khoai lang luôc, rồi buột miệng hỏi:
-Nghe nói các anh ở trong trại bị bọn công an hành hạ dữ lắm phải không?
– Bọn tôi là những người thua trận, thì chuyện bị tù đày, hành hạ cũng là lẽ thường tình – Một anh bạn tù trong bọn tôi trả lời.
Cô trầm ngâm giây lác rồi lên tiếng:
– Theo em thì trong cuộc chiến ấy, tất cả chúng ta, miền Bắc và miền Nam, chẳng có ai chiến thắng. Chỉ có những kẻ ngu muội, luôn cúi đầu làm tay sai ngoại bang, mà cứ tưởng là mình đại thắng, để cầm tù và hành hạ lẫn nhau thôi. Chỉ trong các nước Cộng Sản mới có chuyện lạ đời: một lũ ngu dốt lại được giao trách nhiệm “giáo dục, cải tạo” những người trí thức, mà đòi hỏi người ta phải tiến bộ tốt! Khôi hài thật!

Bọn tôi chỉ im lặng. Những lần nói chuyện sau đó cô thường bảo là cô rất ghê tởm cái đảng Cộng sản, nhưng muốn chống lại hay thoát ra, phải trả bằng mạng sống, có khi làm khốn khổ cho cả gia đình. Điều làm chúng tôi vui là được lao động thoải mái, không cần phải đạt một chỉ tiêu nào, và thường được cô cho bồi dưỡng bằng khoai, có khi mì sợi. Anh em nào có áo quần dân sự hay khăn tắm mang theo, Cô nhận mang đi đổi lấy gạo, đường hay vài loại thực phẩm khác.
Lâm trường mới khởi công vừa được hơn ba tuần thì trại tù có lệnh biên chế. Tôi bị chuyển sang một trại mới, tiếc nuối những ngày lao động tương đối thoải mái, hiếm hoi trong gần bảy năm tù.

2-
Chiều hôm sau, khi dắt con bé cháu nội ra hồ tắm trong khách sạn, tôi bất ngờ gặp Hà Giang và cô con gái Lam Khê. Hai mẹ con đang nằm trên ghế đọc sách. Thấy tôi, Hà Giang ngồi dậy, mời tôi ngồi vào ghế bên cạnh và vui vẻ bảo Lam Khê xuống hồ bơi và chơi đùa với con bé cháu nội của tôi, dặn dò trông chừng con bé, và có nhã ý muốn đến phòng trọ thăm bà xã của tôi.
Chúng tôi mời cơm, nhưng bà từ chối, chỉ xin uống trà. Khi tách trà vừa cạn, bà đề nghị chúng tôi cứ gọi bà bằng cô và đột ngột hỏi tôi:
– Anh còn nhớ anh Đôn không ?
Thấy tôi chau mày, bà nói thêm như để xác định:
– Trần Chánh Đôn!
Tôi hỏi lại:
– Đôn pilot, cùng toán đo đạc với tôi lúc làm việc với cô ở lâm trường?
Hà Giang gật đầu, không nói. Một lúc, tôi thấy bà đưa khăn tay lau nước mắt. Và sau đó, vợ chồng tôi ngồi nghe tâm sự của bà:
– Anh Đôn đã chết rồi! Tất cả là do lỗi của em. Chính em đã cung cấp cho anh Đôn thực phẩm, thuốc men, tấm bản đồ và một chiếc la bàn, em lấy của lâm trường khi ấy, và chỉ vẽ cho anh cách thức trốn khỏi lâm trường cùng với ba người bạn tù khác. Với tấm bản đồ, cái la bàn và sự hướng dẫn tường tận của em, em tin chắc là các anh ấy đã dễ dàng trốn được qua khỏi biên giới. Không ngờ sau hơn ba tuần, khi em đang khấp khởi mừng thầm thì được tin tất cả đều bị bắt tại Lào. Em như muốn quỵ xuống, mất ăn mất ngủ, nhưng cũng cố giữ bình tĩnh tìm cách hỏi một số cán bộ công an trại giam.

Họ cho biết là tất cả bốn anh đều bị công an bắn chết trên đường dẫn độ từ Lào về trại, bởi các anh đã chống cự để tìm cách thoát thân. Mặc dù tin tưởng vào thái độ kiên cường và tư cách của các anh, dù có tra tấn thế nào các anh cũng sẽ không khai ra sự tiếp tay trợ giúp của em, nhưng em vẫn lo sợ bị liên lụy, nếu họ phát hiện tấm bản đồ và cái la bàn của lâm trường thì hậu quả khôn lường, nên em đã khẩn trương chạy về Bộ, năn nỉ và hối lộ tất cả số tiền dành dụm để ông Thứ Trưởng cho em được trở lại Đông Đức hai tuần, đệ trình cho trường đại học cũ một số nghiên cứu mà em vừa viết xong, sau hơn một năm tốt nghiệp và ra thực tế ngoài lâm trường. May mắn em được ông ta gật đầu, và liên lạc can thiệp bên tòa đại sứ Đức cấp visa sớm. Chỉ hơn mười ngày là em rời khỏi nước. Tất nhiên đó chỉ là cái cớ. Sau khi sang Đức, em trốn lại ở nhà vợ chồng người bạn Đức mà em quen thân lúc còn học ở đây. Ông chồng em mà anh chị gặp tối hôm qua trong quán ăn, là anh ruột của cô bạn thân này. Anh ấy đã hết lòng lo lắng và chở che em.

Rời khỏi Việt Nam, ngoài quê hương và gia đình, em còn mang theo hình ảnh của anh Đôn. Xin anh chị đừng ngạc nhiên, em yêu anh ấy! Ngoài sự hiểu biết, đẹp trai với nụ cười độ lượng, em còn nhìn thấy bên trong của anh Đôn là sự thủy chung và lòng tự trong, có cả một chút nghệ sĩ lãng mạn nữa.Thời gian làm việc bên nhau, trong khu núi rừng Lam Khê ấy, em đã học được ở anh rất nhiều điều hay, nghe anh hát những bản tình ca, đọc những bài thơ lãng mạn, tuyệt vời. Trái tim em lần đầu tiên biết rung động. Tội nghiệp, em yêu anh Đôn trong một hoàn cảnh quá nghiệt ngã. Điều duy nhất mà em có thể làm được cho người yêu của mình là giúp anh trốn trại, vượt ra khỏi khung cảnh đày ải man rợ, để anh ấy luôn được xứng đáng với những điều anh đang có. Vì chính những điều ấy đã làm cho trái tim em rung động, để em biết thế nào là một tình yêu, mà nếu không gặp anh ấy, có lẽ suốt cả đời em không có được. Quan trọng hơn, đó lại là thứ vũ khí tốt nhất, hiệu quả nhất giúp em đủ can đảm và nghị lực để chống lại số phận, mà trước đó em nghĩ là sẽ tới một ngày em sẽ phải đầu hàng, buông xuôi, bất lực.

Hà Giang ngưng lại, lau tiếp những giọt nước mắt chảy dài trên gò má. Tôi rót thêm trà mời cô.
Bà xã tôi hỏi:
– Cô có giữ tấm ảnh nào của anh Đôn?
– Tiếc là khi ấy anh Đôn không có tấm ảnh nào hết. Anh có cho em địa chỉ của bố mẹ anh ở thành phố Nha Trang, nhưng em gởi mấy cái thư về địa chỉ ấy đều bị trả lại, với lý do: người nhận không còn ở tại địa chỉ này. Nghe nói bố mẹ anh đều là thầy giáo, không biết có bị đi vùng kinh tế mới hay không?
Tôi đưa tay ngăn lời cô:
– Cô còn nhớ địa chỉ ấy không? Chúng tôi cũng đều là người gốc Nha Trang. Tôi có thể hỏi thăm tin tức cho cô. Nhân tiện chúng tôi cũng muốn biếu cha mẹ anh ít tiền, vì Đôn cũng là bạn tù của tôi.
Hà Giang chau mày:
– Lâu quá, nên em quên, nhưng có thể em còn giữ ở nhà. Em xin địa chỉ e-mail để gởi đến anh chị, nếu em tìm lại được. Em thiết tha muốn gặp bố mẹ anh Đôn, nếu các người còn sống.

Thực ra chuyện Hà Giang yêu Đôn, cũng chẳng làm tôi ngạc nhiên nhiều lắm. Đúng như Hà Giang nói: Đôn là một phi công trẻ. Bao nhiêu năm trong cảnh khốn cùng, đã không làm mất đi nét đẹp trai, tính nghệ sĩ và tư cách của Đôn. Bạn tù ai cũng quí mến. Chuyện Đôn cùng ba người bạn tù khác trốn trại, khi tôi đã bị chuyển đi trại khác hơn tám tháng, sau này ra hải ngoại, tôi có nghe đám bạn bè kể lại, nhưng mỗi người mỗi cách.

Chỉ hơn một tuần về lại nhà, sau kỳ nghỉ hè khá thú vị, nhất là bất ngờ gặp lại Hà Giang, hồi tưởng lại một thời tù đày, tôi nhận được e-mail của Hà Giang gởi thăm, có ghi địa chỉ của ông bà Trần Chánh Nghị, cha mẹ Đôn, ở Nha Trang.
Tôi viết thư nhờ người bạn thân còn ở lại Nha Trang, tìm đến địa chỉ nhà Đôn mà Hà Giang vừa mới cho. Tôi cũng cho anh bạn biết là gia đình Đôn đã dọn đi nơi khác, nhưng từ đó hỏi thăm biết đâu có thể tìm ra manh mối.

Sau gần hai tháng, tôi nhận được thư hồi âm của người bạn cũ. Một đoạn trong thư làm tôi bất ngờ, nhưng sáng lên hy vọng:
“Đúng như mày viết, gia đình người này đã dọn đi khá lâu rồi. Nhưng có người láng giềng cho biết là ông bà chủ nhà đã qua đời hơn hai mươi năm nay. Ông bà chỉ có người con trai duy nhất bị tàn tật, hình như là đang đi tu ở một ngôi chùa nào đó. Tao dò tìm khắp nơi theo lời kể khá mơ hồ của những người hàng xóm, đến nay vẫn chưa gặp được…“
Tôi đọc đi đọc lại dòng chữ “Ông bà chỉ có người con trai duy nhất“, rồi chạy ra ngân hàng gởi một ít tiền cho người bạn, kèm theo lời nhắn: Mày cố gắng mọi cách tìm gặp người con trai này, và hỏi có phải tên là Trần Chánh Đôn. Có gì ra bưu điện gọi điện thoại cho tao biết.

Tôi nôn nao chờ đợi, bỗng một hôm, lúc nửa đêm, điện thoại reo. Bốc ống nghe lên, tôi vui mừng và hồi họp khi nghe tiếng của người bạn từ Việt Nam:
“Tao đã tìm được anh ta. Đúng là Trần Chánh Đôn. Bây giờ là đại đức Thích Thiện Hòa. Anh đang tu ở một ngôi chùa nhỏ, nằm dưới triền núi, phía trên đèo Ngoạn Mục, đèo Bellevue đó, thuộc quận Đơn Dương, cách Đà Lạt gần bốn mươi cây số. Chùa do người bác ruột xây dựng và làm trụ trì. Tội nghiệp, ông Thiện Hòa bị mù một con mắt và què cả hai chân, nhưng khuôn mặt trông đẹp và phúc hậu lắm. Tao nghĩ là ông không bao giờ rời khỏi chùa, vì từ dưới chân núi đi lên, tao đếm hơn năm mươi bậc tam cấp.“
Tôi viết e-mail cho Hà Giang, báo cho cô cái tin bất ngờ này. Đắn đo mãi, cuối cùng mới quyết định nói thật mọi điều. Nhớ lại nhiều lần cô lau nước mắt khi kể về Đôn với vợ chồng tôi ở Mallorca, tôi nghĩ là cô sẽ đau lòng lắm khi nhận được tin này.

Sáng hôm sau tôi nhận e-mail hồi âm của Hà Giang:
“Anh Chị ơi.
Em đã khóc hết nước mắt khi nhận được tin anh Đôn. Suốt cả đêm hôm qua em không thể nào chợp mắt. Em phải xin nghỉ làm hôm nay, và bây giờ lòng dạ cứ thẫn thờ. Không thể ngờ là anh Đôn vẫn còn sống. Em vừa mừng nhưng cũng vừa đau lòng lắm, khi biết anh đã bị mù một mắt và tàn phế cả đôi chân.
Suy nghĩ mãi, em mới dám nói ra điều này với anh chị, vì anh cũng là bạn của anh Đôn và với em như là một người anh, người chú.
– Cháu Lâm Khê, đứa con gái mà anh chị đã gặp ở Mallorca, chính là giọt máu của anh Đôn. Trước ngày chia tay, để anh ra đi, chúng em có đôi ngày hạnh phúc ngắn ngủi trong rừng, em tự nguyện dâng hiến cho anh, thay cho lời hẹn ước, là dù góc biển chân trời nào, dù có phải trải qua bao nhiêu giông bão, chúng em cũng sẽ tìm gặp để đoàn viên. Nhưng rồi ông trời đã hại em, vì em cứ đinh ninh là anh ấy đã chết. Để tang cho anh đến sáu năm, em mới lấy ông chồng này, đền đáp lòng yêu thương và cưu mang đùm bọc của ông khi em thân cô trôi dạt xứ người. Bây giờ biết được anh Đôn còn sống, nhưng đã trở thành một vị đại đức, em vừa hối hận vừa băn khoăn, không biết phải làm sao. Em tha thiết xin anh chị cho em một lời khuyên, để em biết mình sẽ phải làm gì. Bây giờ chắc anh ấy chẳng cần một sự giúp đỡ vật chất nào, nhưng còn Lam Khê, dù sao nó cũng l giọt máu của anh. Làm thế nào để cha con nhận ra nhau? Lam Khê cũng nghĩ là ba nó đã chết. Thỉnh thoảng cháu hỏi em về ba nó. Cháu thương và hãnh diện về ba cháu lắm.“

3-
Cuối cùng, vợ chồng tôi bàn tính mãi nhưng cũng không tìm ra một lời khuyên nào để giúp Hà Giang, ngoài việc hỏi cô nếu muốn gặp Đôn, vợ tôi có thể giúp cô, cùng về Việt Nam, vì vợ tôi sống ở Nha Trang khá lâu, lại có thằng bạn thân ở đó, biết rõ đường đi đến vùng núi Đơn Dương, Đà Lạt, nơi có ngôi chùa.

Không ngờ Hà Giang mừng rỡ đón nhận đề nghị này, và xin vợ tôi về Việt Nam ngay trong tuần để đón giùm mẹ con cô tại phi trường Tân Sơn Nhất. Đây là lần đầu tiên cô bước chân đến miền Nam Việt Nam. Số chuyến bay và giờ đến phi trường, cô sẽ cho biết sớm.

Và dưới đây là lời kể của vợ tôi, về cuộc trùng phùng:
…Họ gặp nhau và nhận ra nhau. Mới đầu, Hà Giang ôm chầm lấy Đôn mà khóc nức nở. Cô quên mất anh đang là một vị thầy tu. Xúc động nhất là khi Hà Giang cho anh biết Lam Khê chính là con của anh. Hai cha con họ ôm lấy nhau thật lâu và cả hai đầm đìa nước mắt. Thầy đem cả triết lý đời và đạo để an ủi, khuyến khích và hướng dẫn Lam Khê bước đi trong cuộc sống có quá nhiều muộn phiền và bất trắc. Thầy nói thật hay và cảm động.

Thầy kể lại chuyện trốn tù, lý do vì sao bị bắt, chuyện thầy bị đánh vỡ một con mắt và bị bắn nát hai bàn chân chỉ vì thầy nhất định không khai người nào đã giúp thầy cùng ba người bạn tù trốn trại một cách tài tình mà chúng nghi ngờ, mặc dù thầy đã kịp giấu tấm bản đồ và cái la bàn dưới một tảng đá trước khi bị bắt. Họ không đưa về trại cũ mà giao cho một trại tù khác. Bị biệt giam ở đây đến mấy năm mà thầy chẳng biết vì sao không chết. Hà Giang ngồi khóc nức nở.
Sau khi mọi người tìm lại được sự bình tĩnh, Hà Giang xin cúng dường cho chùa một số hiện kim, nhưng thầy Thiện Hòa từ chối, bảo là nhà chùa không cần một số tiền lớn như vậy. Hà Giang tha thiết xin được đưa thầy đi sang Đức làm đôi chân giả và thay con mắt mù lòa, thầy cũng chối từ, bảo thầy đã quen rồi với những mất mát ấy, hơn nữa bây giờ thầy đã tu hành, năm tháng chỉ quanh quẩn trong chùa, không cần thiết phải đi đó đi đây. Thầy có mở một lớp học dạy các em học sinh nghèo hiếu học trong vùng, nhưng phòng học là gian nhà trống vách ngay phía sau chùa.

Đêm cuối cùng ở Nha Trang, Hà Giang quyết định đổi vé máy bay, ở lại một thời gian nữa. Cô cho biết là mẹ con cô sẽ cố gắng thuyết phục Đôn, để mua cho anh cái xe lăn, xin được xây lại ngôi chùa mới, thay những bậc tam cấp bằng con đường lát đá, đặc biệt phía sau chùa, từ gian phòng Thầy dạy học nhìn ra, đã có sẵn khu rừng với ít hoa dã quỳ, cô sẽ cho sửa sang lại thành một khu vườn đẹp đẽ, trồng thêm hoa, làm suối nước, và xin đặt tên là Lam Khê Viên, vì chữ Lam nghe cũng hợp với khung cảnh chùa chiền…

Khi ngồi viết những dòng này, tôi không biết là những điều mong ước của Hà Giang có được thầy Thích Thiện Hòa chấp nhận hay không, và cuộc tình đẹp và bi tráng này có còn sống mãi trong lòng mỗi người cho đến thiên thu.

PHẠM TÍN AN NINH


 

Thêm một người bị kết tội tổ chức đám cưới giả ở Nam California

Ba’o Nguoi-Viet

December 1, 2023

LOS ANGELES, California (NV) – Thêm một người nữa ở Nam California bị kết tội có liên quan đến tổ chức hàng trăm đám cưới giả, và lần này là một ông ở Los Angeles.

Theo đài KTLA, bị cáo có tên Engilbert Ulan, 42 tuổi, người có quốc tịch Philippines đang cư ngụ ở Los Angeles. Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ cho biết ông bị kết tội tổ chức đám cưới giả, khai gian giấy tờ nhập cư.

Văn phòng làm đám cưới giả của nhóm 11 người ở Los Angeles. (Hình: Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ)

Ông bị bắt và bị truy tố cùng 11 người khác vào Tháng Tư năm ngoái vì có liên quan đến công ty lường gạt người khác do ông Marcialito Benitez đứng đầu.

Bắt đầu từ năm 2019, nhóm người này tổ chức nhiều đám cưới giả tại nhiều văn phòng ở Los Angeles. Họ chuẩn bị và nộp nhiều hồ sơ giả để làm bằng chứng cho đám cưới với mục đích giúp khách hàng lấy được quốc tịch Mỹ.

Công việc của ông Ulan là giúp khách hàng và người họ sắp cưới giả chuẩn bị phỏng vấn với Sở Di Trú, giúp họ biết cách che giấu đám cưới giả và biết cách trả lời câu hỏi khi phỏng vấn lấy thẻ xanh.

Bộ Tư Pháp cho biết một người phải trả phí cho dịch vụ đó từ $20,000 đến $30,000.

Ông Ulan là người thứ 10 bị kết tội, và chín bị cáo khác trong nhóm đã nhận tội. Người đứng đầu là ông Benitez cũng mới nhận tội hồi Tháng Chín vừa qua, và sẽ nhận bản án vào Tháng Giêng, 2024. Bị cáo Ulan sẽ ra tòa nhận bản án vào Tháng Ba, 2024.

Theo Bộ Tư Pháp, bản án tối đa của tổ chức đám cưới giả và khai gian giấy tờ nhập cư là năm năm trong nhà tù liên bang, ba năm quản chế và đóng tiền phạt lên đến $250,000. (TL) [qd]


 

ĂN NĂN

ĂN NĂN

Vợ chồng tôi sắp li hôn.

Sau 2 năm yêu nhau và 16 năm chung sống. Chúng tôi đến với nhau từ thời tôi còn hai bàn tay trắng. Hai vợ chồng trầy trật tạo dựng sự nghiệp, cuối cùng rồi cũng có ngày phát triển như hôm nay. Nhưng khi kinh tế đã đủ đầy thì tình yêu cũng thay đổi..Thực ra là do tôi đã nguôi dần cảm xúc với vợ. Tôi ngoại tình và tự thấy cuộc sống hôn nhân quá tẻ nhạt. Sống chung thực ra chỉ làm vợ tôi thêm đau khổ, vậy nên tôi nghĩ li hôn là giải pháp. Vợ tôi ngày xưa rất cá tính, cô ấy tất nhiên không chịu, nhưng sự im lặng kéo dài cũng khiến cô ấy ngột ngạt. Phụ nữ thực ra không giỏi chịu đựng như người ta tưởng, nhất là về phương diện tình cảm, nếu không níu được họ vẫn biết sẵn sàng buông….

Hôm qua nhà bên vợ có đám giỗ, vợ bảo nhà năm này không làm cỗ, chỉ bày chút hoa quả cúng tổ tiên thôi. Anh về cũng được, nếu bận thì thôi. Vợ nói thì nói vậy, tôi tự thấy vẫn nên về.

Bộ Sưu Tập Hình Ảnh Nhà Quê Miền Tây Cực Chất: Hơn 999+ Hình Ảnh 4K

Bố mẹ vợ đón tôi vẫn bằng nụ cười như mọi khi nhưng có vẻ hơi khách khí. Có lẽ vì biết chúng tôi sắp chia tay nên họ đón tôi như khách, không cho tôi động tay động chân việc gì. Mẹ vợ nhìn tôi lạnh nhạt, còn bố vợ đối với tôi vẫn thân tình niềm nở. Bố vợ tôi là người ít nói. Từ ngày làm rể ông, chưa bao giờ tôi thấy ông can thiệp vào chuyện gia đình con cái.

Nhưng lần này có vẻ như ông muốn nói. Ông bảo: Từ trước giờ bố vẫn đối với tôi như hai người đàn ông với nhau. Nhưng hôm nay bố muốn nói chuyện với tôi là tư cách bố vợ.

Giọng ông chậm rãi, đều đều, nhỏ đủ để tôi nghe.

Ngày xưa hồi cái Bống nó yêu con, bố mẹ không đồng ý. Bố mẹ chỉ có mình nó là con, bao yêu thương chăm sóc dồn cho nó cả. Tính nó từ bé đã ương bướng vì được bố mẹ nuông chiêu, cưng như hoa như trứng. Bố vẫn nghĩ nó lớn lên trong đủ đầy sẽ không thể nào chịu được khốn khó. Ngày nó nói yêu con và muốn lấy con, bố đã cản ngăn, không phải vì chê con mà vì sợ con gái bố nông nổi. Nó quen ăn sung mặc sướng, con thì thiếu thốn khổ nghèo. Nó vốn quen đón đưa, con thì một mái nhà để ở cũng không có. Nó yêu con, tưởng tình yêu là vĩ đại lắm, tưởng phong ba gì cũng vượt được, nhưng khi đối mặt với thực tại cơm tiền có chịu nổi không? Bố chỉ sợ nó lấy con rồi, được dăm bữa nửa tháng sẽ chạy về nhà than rằng con không quen chịu khổ, như vậy sẽ rất thiệt thòi cho con. Dù vậy nó vẫn kiên quyết lấy, nó khóc lóc suốt ngày, nó quỳ lạy van xin. Làm cha mẹ, không thể thấy con mình yêu sống yêu chết mà nỡ can ngăn. Thôi thì nó lớn rồi, tự làm tự chịu. Các con về với nhau, nhà phải đi thuê. Ba lần bảy lượt bố nói các con về sống chung, nó bảo không về. Nó không muốn con cảm thấy xấu hổ vì cậy nhờ nhà vợ, ăn không dám ăn, nói không dám nói. Rồi trong lúc khốn khó, con tập tành kinh doanh. Nó cũng nghỉ việc nhà nước hỗ trợ con. Nó mang bầu trong thời gian làm ăn nhiều thất bại. Đôi bận nó về nhà, người lả đi vì suy nhược, nhưng nó giấu con, không muốn con nghĩ ngợi mông lung. Cuối cùng thì có công trồng cây cũng đến ngày hái quả. Các con dần có của ăn của để. Đứa trước lớn lên, đứa sau ra đời. Bố mẹ nhìn vào, cảm thấy hạnh phúc vì con mình đã trưởng thành, cứng cáp. Lâu rồi nó về nhà, mấy lần trốn trong nhà tắm khóc. Mẹ con biết mới cố tra hỏi, nó bảo chồng con ngoại tình. Nó bảo nó không khóc trước mặt chồng, không muốn tỏ ra yếu đuối. Bố cũng không ngờ đứa con gái cá tính và bướng bỉnh ngày xưa nay lại trở nên yếu mềm như vậy. Từ bé tới lớn, người có thể làm nó khóc cũng chỉ có con. Người ta nói:

– Khó khăn thử thách lòng chung thủy của đàn bà.
– Giàu có thử thách lòng chung thủy của đàn ông.

Khó khăn không làm lung lạc ý chí và tình yêu của vợ con, nhưng tiền bạc đã làm con thay đổi. Bố không biết rốt cuộc là con gái bố đã làm sai điều gì với con, nó không biết ăn ở hay đối nhân xử thế tệ bạc? Nó ăn chơi trác táng hay bỏ bê chồng con? Là nó không tốt ở chỗ nào, hay chỉ vì đơn giản là con khát thèm sự mới mẻ? Con nhìn xem, người phụ nữ đầu ấp tay gối với con 16 năm qua. 16 năm tuổi thanh xuân đẹp nhất cuộc đời nó dành để cùng con mưu sinh bươn chải. 16 năm nó bận bịu cho chồng cho con đến quên cả đòi hỏi.

Giờ đến khi kinh tế đủ đầy rồi thì lại đối diện với cảnh chia ly.

Người phụ nữ đã vì con mà từ bỏ đầy đủ ấm êm. Vì con mà cam tâm chịu khổ. Vì con mà mạnh mẽ, cũng vì con mà yếu đuối.

Cuối cùng con lại làm khổ nó chỉ vì một người phụ nữ chưa một ngày vì con mà hao tâm tổn sức. Người phụ nữ con đang yêu hiện tại, bố nghĩ nó chẳng có gì hơn vợ con, ngoại trừ tuổi trẻ. Tuổi trẻ vợ con cũng đã từng có, nhưng nó đã dành hết cho con rồi. Tiền bạc mà người phụ nữ kia đang được hưởng từ con, cũng có một phần mồ hôi và nước mắt của vợ con trong đó.

Là đàn ông bố biết, bản năng chinh phục ẩn giấu trong mỗi người. Nhiều khi chúng ta nhìn con mồi nằm gọn trong hang của mình rồi thì thèm khát những con mồi đang tung tăng ngoài kia. Ta thường đứng bên này đồi rồi ngó sang bên kia đồi xuýt xoa “ở bên kia cỏ sao mà xanh thế”. Thực tế thì đứng núi này chắc chắn sẽ thấy núi khác cao hơn. Bố không muốn trách móc con. Nhưng bố là bố thì cũng như con đối với con của mình.

Làm bố, không thể thấy con mình khổ đau mà làm ngơ, không thể thấy con mình chịu ấm ức mà không lên tiếng. Làm bố của một cô con gái, ngay cả khi thấy nó cười vẫn cảm thấy bất an…

Chưa bao giờ tôi thấy bố vợ tôi nói nhiều như hôm nay, cũng chưa bao giờ ông uống rượu nhiều như vậy. Cả buổi tôi không nói một lời nào, chỉ sợ mỗi câu mình nói ra sẽ trở nên vô duyên vô dụng.

Vợ tôi từ đâu chạy ra, giật chén rượu trên tay bố:

Bố ạ, bố đừng uống nữa, đừng nói những chuyện vô nghĩa như thế nữa. Con đã giữ đúng lời hứa với bố ngày xưa “Dù khổ cực đến đâu cũng không phụ bỏ anh ấy”. Bố xem con gái bố mạnh mẽ thế này, con có khóc đâu mà bố lại khóc!

Bạn trai Hòa Minzy ẩn ý gia đình đã có con với bức ảnh 3 người và bé ...

Trong giây phút ấy nghe lời kể của ông, bao nhiêu kí ức hiện về trong trí nhớ như một cuộn phim quay chậm lại từng chi tiết. Người ta vẫn thường nói “khi bình yên, người ta thường quên đi những lời thề trong giông bão”, quả không sai.

Dù sao thì ngày mai tôi vẫn phải đến tòa án…

Đến tòa để rút lại đơn li hôn.

NB

 From: Ngoc Bich& KimBang Nguyen


 

THANH THOÁT – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời!”.

“Cuộc sống tôi chỉ là tấm lụa dệt ‘giữa Chúa và tôi. Tôi không thể chọn màu, Ngài dệt nó đều đặn. Chúa thường dệt những nỗi buồn; và tôi ngu ngốc tự hào, tôi phát hiện điều này! Ngài nhìn phía trên; tôi nhìn phía dưới. Mãi cho đến khi khung dệt lặng yên, kim thoi ngừng bay; Ngài mở khung, giải thích. Các sợi xám thật cần thiết giữa sợi vàng sợi bạc, trong bàn tay khéo léo của Ngài, theo khuôn mẫu Ngài định!” – Benjamin Malachi Franklin.

Kính thưa Anh Chị em,

Chúng ta thường chăm nhìn phía dưới ‘bức tranh’ đời mình nên nhiều lúc lòng phải chùng xuống. Và kìa, thế giới vật chất cũng luôn kéo ghì bạn và tôi xuống! Lời Chúa ngày cuối năm phụng vụ nâng chúng ta lên, nhắc chúng ta đừng trở nên ươn lười trong đời sống đức tin để có thể ‘thanh thoát’ và khỏi những ngổn ngang bởi “say sưa, lo lắng sự đời”.

“Nặng nề vì chè chén say sưa!”. Điều này trước hết được hiểu ở cấp độ nghĩa đen; tuy nhiên, “say sưa” còn được hiểu ở cấp độ tâm linh, khi chúng ta tìm kiếm một sự thoát ly nhất thời, tìm kiếm những gì cung cấp một cảm giác an toàn giả tạo. Tôi không nặng nề và say sưa vì chè chén, nhưng có thể tôi đang lang thang tìm kiếm ‘một thứ an thần’ nào đó. Và mỗi khi thoả hiệp với cám dỗ này, đời sống thiêng liêng của tôi trở nên uể oải.

Thứ đến, tôi có thể quá bận tâm với vật chất và lo lắng sự đời đến nỗi mất niềm tín thác vào Chúa. Chính những lo lắng thái quá này là nguồn gốc của việc quá tải; và khi quá tải, chúng ta có xu hướng tìm một lối thoát. Thông thường, những ‘lối thoát’ ấy lại là thứ khiến chúng ta rũ liệt, đẩy Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống và tự mình chống chọi cho đến khi kiệt sức, đến nỗi mất hết niềm vui và nhuệ khí. Từ đó, chúng ta không thể chu tất bổn phận và trách nhiệm của mình một cách tập trung và nhiệt huyết.

Đang khi cuộc sống là thời gian chuẩn bị, không chỉ cho một tình bạn với Thiên Chúa, mà còn cho sự “tấn công” của ba thù và những “gian khổ”. Cuộc chiến tâm linh là có thật, dù nhận thức hay không nhận thức, muốn hay không muốn! Chúng ta phải chiến đấu mỗi ngày và trận chiến quan trọng nhất vẫn là trận chiến trong sâu thẳm của trái tim. Chúa Giêsu muốn chúng ta chiến thắng bằng cách cầu nguyện và tỉnh thức trong đời sống đức tin hầu có thể ‘thanh thoát’ và không trở nên bải hoải, chìm vào u mê.

Anh Chị em,

“Chớ để lòng mình ra nặng nề!”. Hôm nay, thứ Bảy cuối năm phụng vụ, bạn và tôi ngước nhìn lên Mẹ Maria, một con người hoàn toàn ‘tòng thuộc’ Thiên Chúa. Giữa bao sóng gió cuộc đời, trái tim Mẹ vẫn giữ được niềm vui và sự tự do. Thử thách, gian truân, những ‘sợi chỉ xám xịt’ màu tối, không chi phối được Mẹ; không gì ngăn cản Mẹ cất cao lời kinh “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa”. Trái lại, con tim Mẹ ‘thanh thoát’; vì lẽ, Mẹ đã giao ‘khung lụa đời mình’ để Chúa tự do vẽ và dệt. Mẹ hiến dâng mọi sự cho Chúa, Đấng đầy ắp Mẹ. Trái tim Mẹ được dẫn dắt bởi tình yêu và sự tín thác vốn cho phép Mẹ luôn chọn điều tốt nhất và từ chối bất cứ điều gì xấu xa vốn có thể phương hại cho ‘bức tranh’ đời Mẹ.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con thường chọn màu cho bức lụa đời con; đôi khi con dành Chúa để dệt nó. Cho con tỉnh táo, khôn ngoan, giao mọi sự cho Chúa hầu con được ‘thanh thoát!’”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen