TÂM SỰ CUỐI ĐỜI – Tác giả: Phùng Văn Phụng

Tác giả: Phùng Văn Phụng

– Có những chia ly… chưa kịp chuẩn bị đã không còn gặp lại.

– Có những cuộc tình… chưa chạm hạnh phúc đã cảm nhận niềm đau.

– Có những lời hứa… chưa kịp thực hiện đã không còn cơ hội.

– Có những quyết định… chưa kịp đưa ra đã không còn giá trị.

– Có những lỗi lầm… chưa kịp sửa chữa đã quá muộn màng.

– Có những sự việc… chưa kịp buông bỏ đã không còn tồn tại.

– Có những chân lý diệu huyền, chưa một lần tỏ ngộ đã tắt nắng hoàng hôn.

Thời gian, vốn dĩ là không dừng lại và cơ hội chỉ đến vào một thời điểm nhất định. Ai người tỉnh thức thì sẽ nắm lấy, không để cuộc đời của mình là những chuỗi ngày chìm trong nuối tiếc mênh mang.

    – “Khi còn khỏe mạnh, ai cũng nghĩ rằng ngày tháng còn dài, cơ hội tương phùng không thiếu. Nhưng ai biết chăng đời người như ánh chớp giữa hư không, nhân sinh vốn là cơn ảo mộng.  

– Ngày đi, tháng chạy, năm bay

Thời gian nước chảy, chẳng quay được về.

Sưu Tầm trên NET từ bài “Những suy ngẫm cuối đời”

Nguồn:  dominhtam9238& NguyenNThu

*****

 Trong tháng 12 năm rồi và tháng 01 năm nay 2024, đã có ba người bạn của tôi ra đi là bà Lê t Bích Th. vợ của anh Hoà, cùng quê Chợ Núi (Cần Giuộc), Lê Đình Th. và Nguyễn Thi B. là khách hàng mua bảo hiểm của tôi, đã ra đi.

Cũng tháng trước có chị Nhân gọi lại cho biết anh Chu, chồng chị đã nằm nhà thương ba tháng qua vì bị bịnh mất trí nhớ (Alzheimer) còn riêng chị bị “stroke”. Anh nhỏ hơn tôi một tuổi, còn chị nhỏ hơn tôi vài tuổi. Hiện tại hai vợ chồng lo cho nhau, còn các con đã có nhà riêng hết.

*****

Có lẽ già rồi, lớn tuổi rồi thích nói về sự chết, để thường xuyên nhắc nhở, chuẩn bị cho cái chết của chính mình.

Thời gian qua mau, phút chốc đã già. Đời người như bóng câu qua cửa sổ.

Thời gian, sức khỏe, tài năng là do Thiên Chúa ban cho. Ngày lại ngày, làm sao xử dụng được hết tất cả những ân huệ, ân sủng của Chúa ban?

*****

Những năm đói khổ ở Lào Cai, Vĩnh Phú, Hà Nam Ninh đã qua. Làm sao quên được thời gian chịu đựng đói khổ triền miên năm này sang năm khác. Một bữa ăn bánh mì trộn than đá ở Lào Cai khoảng năm 1977, vừa ăn vào đã vội nhả ra vì nhai không được. Hôm ấy nhà bếp thu hồi lại, nấu thành cháo cho tù nhân ăn. Đã đói thường xuyên, bữa đó uống nước cháo cầm hơi, càng đói nhiều hơn nữa.’

Năm 1979 trời mùa hè nắng gay gắt như đỗ lửa, tôi gánh hai thùng nước để tưới rau. Tôi gánh mỗi bên một phần ba thùng nước. Cán bộ quản giáo kêu tôi đến hỏi:

-Sao anh gánh nước chỉ một phần ba thùng như vậy?

-Tôi nói: “Sức tôi chỉ gánh được một phần ba thùng. Cán bộ đến rờ ngực tôi, xem tim tôi đang nhảy, tôi mệt quá rồi, tôi không gánh nhiều nổi. Không biết tôi còn sống được bao lâu nữa.”

Anh bạn là sinh viên năm thứ hai y khoa, coi phòng y tế của trại tù, khám tim tôi và cho rằng tôi bị bịnh tim. Sức khoẻ của tôi lúc đó đang suy sụp trầm trọng. Lúc nào cũng quá mệt, làm như bị kiệt sức. Mấy tháng trời bị cảm liên miên không dứt.

Tôi cứ đinh ninh rằng tôi sẽ bỏ xác ở trong lao tù cộng sản chứ không có hy vọng ngày về. Anh Quế là giáo sư trung học, người Quảng Nam, thanh tra trung học, anh đi cải tạo vì là thành viên đảng dân chủ. Một đêm kia người bạn nằm kế bên anh giữa đêm khuya la lên rằng “anh Quế đã chết rồi”. Anh Quế chết vì kiệt sức do bị đói và do lao động quá sức. Cứ vài ngày, anh em đóng hòm, đem ra bìa rừng, chôn các bạn tù ở trong trại.

Cha mẹ, vợ con không bao giờ biết được người thân của mình đã mất.

*****

Cuối năm 1982, tại trại K4 Tân Lập, Vĩnh Phú, tất cả các tù nhân được sắp hàng theo đội, ngồi trong sân của trại.

Cán bộ gọi tên một số được thả về trong dịp tết cuối năm 1982 còn một số chuyển qua trại Hà Nam Ninh. Lúc đó anh em tù nhân chú ý đến hồ sơ cán bộ cầm trên tay. Hồ sơ mỏng và hồ sơ dày. Hồ sơ mỏng được thả về hay chuyển qua trại Hà Nam Ninh và được thả về sau Tết. Còn những người có hồ sơ dày được chuyển về Hàm Tân trong nam. Tôi còn nhớ có anh?- tôi quên tên-, dầu có hồ sơ mỏng, nghĩa là sẽ được thả về nhưng anh ấy đã thất vọng, không tin mình được về nên đã vô rừng, treo cổ tự tử chết.

Tôi được thả về vào tháng 02 năm 1983 sau Tết âm lịch.

*****

Steve Jobs từng từ chối phẫu thuật trị ung thư

Steve Jobs qua đời vì căn bệnh ung thư tuyến tụy. Cuộc sống của ông có thể đã được kéo dài nếu nhà đồng sáng lập Apple chọn cách điều trị khác.

Ngày 5/10/2011, Steve Jobs qua đời ở tuổi 56 sau thời gian chiến đấu với căn bệnh ung thư tuyến tụy.

iPhone 4 là thiết bị cuối cùng mà Steve Jobs giới thiệu. Ảnh: Wikimedia Commons.

Thời gian qua mau sức lực, sức khoẻ dành cho việc kiếm tiền chiếm hết thì giờ, thiếu thời gian đọc sách tâm linh, suy tư về sự sống và sự chết.

Thoát một chớp mắt đã quá già để có thể làm một cái gì đó cho gia đình, cho đất nước.

*****

Ôn lại cuộc đời đã qua, nhiều món nợ ân tình không bao giờ trả được.

Trong một bài báo: “Người công giáo với bệnh ung thư” tác giả là Vũ Duy Ty viết phần kết luận như sau: “Giờ đây bệnh ung thư không làm chúng ta phải lo sợ, buồn chán nữa. Những người bị bịnh ung thư không phải là những người “chết tươi ăn năn tội chẳng kịp”. Hãy vui lên, hãy nở nụ cười trên môi và miệng lưỡi hãy ca tụng Chúa nếu mình mắc bịnh ung thư, vì với con mắt đức tin của người Công Giáo bệnh ung thư chính là một ân huệ Chúa ban.

Thân xác hiện tại của mỗi người chúng ta có thể tồn tại 100 năm (rất hiếm), chắc chắn là chúng ta phải chết, đó là quy luật tất yếu của sinh mệnh con người, chết là thể phách còn là tinh anh (truyện Kiều) vậy phần còn lại sau khi chết là gì? Chính là linh hồn của chúng ta.

Linh hồn của chúng ta sẽ được hưởng hạnh phúc đời đời nếu chúng ta làm nhiều việc lành, phúc đức, yêu mến Chúa và yêu mến tha nhân, Thiên Chúa sẽ cho chúng ta sống lại trong ngày sau hết.

Tác giả: Phùng Văn Phụng

tháng 01/2024

 


 

Vết thương lòng – Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Thuy Phan

 Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

 Ai chưa từng trải qua cơn đau, người ấy thật sự chìm sâu trong cõi đời này. Người nào chưa hề có một vết trầy xướt trên cơ thể thì chưa hoàn toàn đi vào cõi hiện sinh nhân thế. Vết thương ngoài da đã đau đớn, vết thương lòng còn nhức nhối biết chừng nào. Vết thương bên ngoài có thể được nhìn thấy, có thể dễ dàng tìm thuốc chữa trị, chứ vết thương lòng thì ai biết phải xoay sở ra sao. Chẳng ai biết nó nông sâu thế nào, chẳng ai đo lường được mức tác hại của nó, cũng chẳng ai có thể biết một phương dược chính xác chữa lành, lại càng chẳng biết đến bao giờ thì sẽ không còn vết thương ấy nữa.

Tôi mang trong mình một vết thương, một kiểu đau nhức chẳng diễn tả được thành lời, một nỗi buồn không tên, một nỗi uất ức chôn kín. Đó là khi tôi đã từng yêu da diết, đã từng trao gửi tất cả nỗi niềm và trọn vẹn con tim cho một người với một niềm hy vọng vô cùng lớn lao. Để rồi, cái mà tôi nhận được là một sự hụt hẫng vô ngần vô hạn. Tôi trách người nhưng trách luôn cả mình. Trách người sao quá vô tâm và tàn nhẫn; trách mình sao quá vội vã, quá cả tin. Tôi đau một nỗi đau hơn dao cứa, cơn nhức nhối cứ làm cả con người muốn nổ tung. Tôi muốn chôn vùi nó, dùng sự quên lãng để lấp nó, nhưng đâu đó, những sục sôi trong tâm cảm vẫn cứ trở về. Máu vẫn cứ rỉ ra từng giọt. Tôi khóc cho vơi nhẹ tâm can. Tôi tìm về cô đơn để trốn tránh thực tại. Tôi cố tưởng tượng là mọi chuyện đã qua đi. Nhưng tôi không đủ quyền năng để quay ngược thời gian, để biến mọi chuyện như chưa từng xảy đến.

Vết thương ấy làm tôi đau đã đành, nó còn làm cho tôi mất đi niềm tin vào tất cả. Tôi chẳng còn dám mở con tim mình ra với ai. Tôi sợ rằng vết thương kia sẽ bị xé toạc một lần nữa, và lần này, nếu chuyện đó xảy ra thật, thì chắc tôi sẽ chết mất thôi. Người ta nói thời gian sẽ chữa lành tất cả. Tôi cũng tin vậy, nhưng chẳng biết là sẽ đến bao giờ. Tôi bỗng nhận ra là thế gian này chẳng có gì đáng mong đợi, chẳng có ai là đáng để cậy nhờ. Tôi sống một cuộc đời bất chấp. Ai muốn yêu thì cứ yêu; còn tôi, cứ khép mình là an toàn nhất, để khỏi bị phản bội, khỏi phải thất vọng, khỏi phải dùng nước mắt để xoa dịu vết thương.

Tôi cũng dùng lý trí để tự trấn an mình. Rằng vết thương ấy làm tôi lớn lên, giúp tôi nhận biết rõ ràng hơn sự phũ phàng của cuộc sống. Rằng lỗi một phần cũng do bản thân ta, chứ trách ai bây giờ. Rằng tôi đã sai, tôi hối tiếc lắm. Rằng tôi phải thật mạnh mẽ để cho người khác biết rằng chẳng có gì có thể quật ngã được tôi… Nhưng khi đối diện với lòng, tôi chẳng thể che giấu được một con người yếu đuối, mềm mỏng. Tôi không thể giả vờ như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Cái giả vờ mà tôi đang cố gắng thể hiện càng chứng tỏ cho tôi thấy mình đang đau biết chừng nào. Tôi vẫn phải tự nhủ với bản thân “vết thương ơi, cứ tạm thời chợp mắt đi nhé!”

Vết thương lòng là một kiểu vết thương rất kỳ lạ. Nó làm người ta đau nhức vô cùng, nhưng người ta, trong một phút tủi thân, lại cứ thích nghĩ về nó. Và cứ mỗi lần nghĩ về, vết thương lại bị khoét thêm một chút nữa. Ta muốn giải bày ra tất cả những nỗi niềm, nhưng chẳng biết nói cùng ai. Liệu rằng trên thế gian này, có ai đó trân trọng tình cảm của ta, sẽ lắng nghe, sẽ cảm thông và không bỡn cợt niềm tin của ta như người trước không? Có ai đó sẵn sàng giang rộng vòng tay đón tiếp ta, ôm lấy ta, ôm lấy cả vết thương trong lòng ta, cùng ta khóc, cùng ta cười, cùng đau chung với ta không? Nhiều câu hỏi đặt ra như thế, âu cũng chỉ là muốn nói lên khát vọng yêu và được yêu của một hữu thể nhỏ bé giữa dòng đời vạn biến vô thường này.

Một ngày nào đó, tôi lôi vết thương trong lòng ra, nhìn vào nó cách trực diện. Tôi không trốn tránh nó, không giả vờ quên nó, không cất giấu nó âm ỉ trong lòng. Tôi không nhìn về nó như một kiểu khơi lại những ký ức nuối tiếc. Tôi không khoét sâu nó bằng những cảm xúc ủy mị với hai chữ “giá như.” Tôi không tiếp tục nuôi dưỡng nó bằng một kiểu suy nghĩ trách móc. Tôi biết rằng thời gian đã trôi qua và dù thế nào chăng nữa, mọi cái cũng chẳng thể quay trở về như trước. Có biết bao nhiêu khả thể trong cuộc sống này mà tôi không dự đoán được, nhưng cái hiện thể mà tôi biết chính là vết thương mà tôi đang mang đây. Nó là một phần của tôi, là cái làm nên cuộc đời tôi, là nơi tôi gặp được chính mình, thấy rõ mình, biết mình đang ở đâu, tìm gì, đi đường đúng hay sai.

Lâu lâu gợi nhớ về vết thương ấy, tôi thấy mình chơi vơi đắm chìm giữa dòng chảy thời gian, thấy nhân tình thế thái đổi dời như cơn lốc và tôi chỉ là một phần nhỏ giữa những quay cuồng này. Tôi ôm vết thương lòng như một hành trang, một chút kỷ niệm, một cái gì nhỏ bé để gợi nhớ cho thời cuồng điên thiếu tự chủ. Dầu vết thương có lành, nó cũng để lại sẹo. Cái sẹo ấy trở thành dấu chứng cuộc đời, là cái giúp tôi nhớ rằng mình không phải thần thánh. Nhìn về cái sẹo ấy, tôi mỉm cười về một thời đã qua, dù đớn đau nhưng cũng ngọt lịm vô cùng. Tôi đã không sai khi chọn yêu. Ít là tôi cũng đã được cảm nếm một chút niềm hạnh phúc không trọn vẹn. Vết thương lòng không còn làm tôi đau nữa, vì tôi đã sẵn sàng chấp nhận cái giá của tình yêu tôi chọn lựa. Tôi yêu và tôi không hối tiếc, vết thương lòng chẳng qua chỉ là bằng chứng của tình yêu thôi!

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ


 

Em đi tu anh nhé!

Peter Vũ Thoại

Em đi tu anh nhé!

Câu nói của em khiến con tim tôi bàng hoàng sửng sốt, giữa Thiên Chúa và tôi em đã đưa ra chọn lựa cuối cùng!!!

Ngày này 12 năm về trước, em là cô bé huynh trưởng nhiệt tình trong việc phụng sự nhà Chúa, tôi là một tên con trai ngỗ nghịch hay quậy phá và… tôi là một người ngoại đạo. Nhà tôi sát bên nhà thờ, chiều chiều vẫn cà kê ra hiên ngồi cafe, và chiêu chiều tôi lại thấy em.

Em chăm lo việc đạo đức cho hồn mình, lại còn dễ thương và xinh xắn, chính vì thế mà em đã lọt vào đôi mắt của tôi. Chiều hôm ấy, buổi chiều hoàng hôn thật đẹp, tôi đánh bạo đi vào khuôn viên nhà xứ, tôi cố tình tìm em giữa khuôn viên hàng cây được cắt tỉa cẩn thận. Em thấy tôi, nở một nụ cười thật tươi, tôi cố gắng bắt chuyện và nói rằng: “Tôi đã để ý em từ lâu, em có thể cho tôi làm quen được chứ?”

Đôi mắt cô bé ấy sáng bừng vẻ ngạc nhiên, nhưng cũng nhẹ nhàng chấp nhận. Tôi thích em, em luôn hồn nhiên và năng động, tôi tìm mọi thì giờ ở bên em nhiều hơn, và cũng từ lần ấy, tôi có cảm giác rằng em chính là một nửa của đời tôi.

Quen em được 3 tháng, em hướng dẫn cho tôi cách học hành và tôi dĩ nhiên trở thành tân tòng. Nhưng tôi làm thế là để khiến em vui thôi, chứ tôi cũng không có ý định trở thành một người Công giáo. Em lúc nào cũng thế, trên người luôn mang một vẻ giản dị và đơn sơ, chiếc quần tây đen và áo sơ mi. Đã nhiều lần tôi tìm cách hướng dẫn em mặc những trang phục thật bắt mắt và ‘hot’ thời đó, nhưng em chỉ mỉm cười và từ chối. Quen em đã lâu, những buổi hẹn hò cũng ngày nhiều hơn, em cũng kéo tôi đi nhà thờ nhiều hơn, và trong tôi cũng đã có cảm giác khác lúc đầu, tôi đi vì tôi cũng thấy yêu mến Chúa hơn.

Cũng vào một buổi chiều ấy, em lặng lẽ ngồi ở khuôn viên nhà xứ, đối diện với tượng đài Đức Mẹ. Tôi thấy rằng em đang buồn nhưng nét mặt lại bình an và hạnh phúc. Em thấy tôi, và em là người bắt đầu: “Cảm ơn anh vì đã bên em trong thời gian qua, em rất quý mên anh, nhưng tất cả chỉ dừng lại ở tình nghĩa anh em, vì em đã yêu rồi, em đã yêu một người từ rất lâu rồi.”

Tôi sững sờ và đau đớn, chỉ cố gắng nén lại mà hỏi: “Đó là ai?”

Em quay mặt không nhìn tôi, chỉ nhìn thẳng vào phía Thánh giá mà nói: “Đó chính là Người! Em đi tu anh nhé!”

“Giữa Thiên Chúa và anh, em phải chọn thôi!!!”

“Mãi mãi em chọn Người, anh ạ! Ngày mai là ngày em sẽ bước vào nhà Dòng, khởi đầu một cuộc sống mới, một cuộc sống hiến thân hoàn toàn cho Đức Kitô”. Tôi và em chia tay trong chiều hôm ấy, lòng tôi quặn đau, nhưng vẫn mỉm cười chúc em hạnh phúc.

Hôm nay, tôi gửi cho em tấm thiệp cưới, xuất hiện trong lễ cưới của tôi là một nữ tu áo trắng lúp đen, nét mặt thánh thiện và bình an. Tôi đã hiểu vì sao em lại chọn Thiên Chúa. Em đến gần tôi và chỉ nhìn vào ánh mắt của tôi, em có thể thấy rằng tôi đang rất hạnh phúc. Ngày hôm nay là ngày cưới của tôi, ngày hôm nay tôi bước sang một trang mới cho cuộc đời, ngày hôm nay, tôi trở thành LINH MỤC.

Nguồn: https://thienanart.com.vn/em-di-tu-anh-nhe/


 

Làm người Việt yêu nước thật khó!

Ba’o Nguoi-Viet

January 21, 2024

Tuấn Khanh/SGN

Tưởng niệm 50 mất Hoàng Sa, nhưng mọi thứ có vẻ đi qua ở Việt Nam im lặng và chìm ngập trong làn sóng mua bán, vui chơi.

Chưa bao giờ có một ngày tưởng niệm mất nước lại đau như vậy. Đau như ai bóp nát sức sống Việt, ngấu nghiến lòng yêu nước ngàn đời của tổ tiên Việt bằng mù loà cơm áo. Đôi ba lời giận dữ vang lên trên mạng xã hội, vài tiếng kêu tuyệt vọng thư ngỏ phát đi, lạc lõng tựa như đang sống trong một vùng đất khác, quyền lực khác, không phải của người Việt.

Mới nhớ chuyện đã qua, mà ngẫm.

Năm 2015, trong lần đến gặp nhà nghiên cứu Phan Thuận An ở Huế, ông giới thiệu cho thấy một văn bản thú vị có từ thời vua Bảo Đại – rất quan trọng – để chứng minh rằng Hoàng Sa thuộc về Việt Nam.

Bản gốc tấu chương năm 1939, của học giả Phạm Quỳnh, bấy giờ có chức Tổng lý đại thần, gửi cho vua Bảo Đại để xin ủy lạo cho binh sĩ đồn trú ở Hoàng Sa, nơi thuộc quyền kiểm soát của Việt Nam.

(Hình: Tuấn Khanh)

Vào thời ấy việc di chuyển ra Hoàng Sa bằng thuyền, đồn trú luân phiên của binh sĩ rất khó khăn. Không chỉ là trấn giữ phần đảo chủ quyền, mà đôi khi phải đánh nhau với hải tặc và cứu hộ cho ngư dân Việt.

Bắc Kinh thì luôn đưa ra những lý luận cho thấy rằng Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc, lấn át và thách thức Việt Nam về các chứng cứ chủ quyền. Văn bản quý của nhà nghiên cứu Phan Thuận An đưa ra là một trong những chứng cứ mạnh mẽ và dứt khoát về việc Hoàng Sa thuộc người Việt Nam cho đến tận thời kỳ vương triều cuối cùng.

Với tấm lòng yêu nước, nhà nghiên cứu Phan Thuận An gửi tặng bản gốc tấu chương cho Hà Nội, để nhằm góp vào những cứ liệu bảo vệ chủ quyền Tổ Quốc, theo lời kêu gọi lúc ấy. Ông chụp lại để làm bằng chứng, và kỷ niệm, treo ngay trong phòng khách nhà mình.

Nhưng không hiểu vì sao chưa bao giờ thấy Hà Nội chính thức sử dụng tư liệu này trong việc tranh cãi về chủ quyền Hoàng Sa với Trung Quốc, và cũng không thấy chia sẻ bản văn này với bất kỳ nhóm nghiên cứu hay nhà nghiên cứu nào về biển Đông trong việc chống lại các luận điệu xâm lược hàm hồ của Trung Quốc.

Khi hỏi ông rằng, liệu ông có biết giờ này văn bản đó ở đâu không? Nhà nghiên cứu cả đời gắn với Huế, cười buồn, “chỗ mô thì chỉ có họ biết thôi”. Ông nói rằng ông chỉ làm hết trách nhiệm của một công dân với Tổ Quốc – đặc biệt là một công dân ý thức mình là người Việt Nam – chứ không vì bất kỳ chuyện công danh hay lý tưởng chủ nghĩa gì cả.

Khác với những kẻ sau năm 1975 được tự tung tự tác chiếm đoạt các tài liệu quý của nhà Nguyễn, cũng như từ văn khố lưu trữ của nhà nước Việt Nam Cộng Hòa, rồi tự xưng mình là Huế học hay là nghiên cứu cách mạng gì đó, nhà nghiên cứu Phan Thuận An tự mình đã viết lên hàng trăm công trình nghiên cứu, chọn sống một đời kể lại quá khứ có thật, và khiêm tốn.

Theo lời của nhà nghiên cứu Phan Thuận An thì sau tấu chương của Phạm Quỳnh, các binh sĩ được Hoàng đế Bảo Đại thưởng hậu.

Cũng như hậu sinh Phan Thuận An, học giả Phạm Quỳnh cũng đã làm tất cả mọi thứ trong đời mình với một trách nhiệm công dân, chứ không chỉ là một quan chức dâng tấu chương. Thế nhưng tâm huyết của ông với đất nước và văn hóa Việt Nam được đổi lại bằng án tử hình bởi những người cộng sản, hay nói chính xác hơn là từ Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Thừa Thiên, vào năm 1945.

Trong tạp chí Xưa và Nay số 269 (Tháng 10/2006), do người chịu trách nhiệm là nhà sử học Dương Trung Quốc, cũng ghi chép lại việc tử hình ông bởi cách mạng. Toàn văn kết án của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương kính gửi Tòa án quân sự Thuận Hóa ngày 9/12/1945, ghi rằng:

“Phạm Quỳnh, một tay cộng sự rất đắc lực của giặc Pháp trong việc củng cố địa vị của Pháp ở Đông Dương, đã bao phen làm cho quốc dân phải điêu đứng. Phạm Quỳnh đã giúp sức cho quân cướp nước làm mê muội dân chúng Việt Nam. Với cái nghề mãi quốc cầu vinh, Phạm Quỳnh đã từ một tên viết báo nhảy lên một địa vị cao nhất trong hàng quan lại Nam triều. Phạm Quỳnh lại còn dựa vào thế lực Pháp và địa vị của mình bóc lột, vơ vét tài sản của quốc dân. Mặc dầu chính quyền của giặc Pháp đã bị truất sau ngày đảo chính 9-3-1945, nhiều triệu chứng tỏ rằng Phạm Quỳnh chỉ chờ cơ hội rước bọn thực dân Pháp đến làm cho diệt nước chúng ta”. (trích)

Trong văn bản này, còn hai người nữa bị kết án tử hình nữa là Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân, thuộc gia đình của tổng thống đệ nhất VNCH Ngô Đình Diệm. Được biết, vừa khởi nghĩa chiếm chính quyền, Ủy ban Cách mạng vừa cho người đến bắt ngay cả ba ông, vào ngày 23-8-1945.

Xưa và Nay cũng có trích lời của nhà sử học Cộng sản Trần Huy Liệu rằng việc kết án và giết hại Phạm Quỳnh là điều sai lầm và hoàn toàn vô lý. Kết luận của bài nghiên cứu lịch sử rằng việc giết người đó, vô cùng “lạc lõng” trong thời đại cách mạng đang muốn chinh phục lòng người của ông Hồ Chí Minh. Tiếc thay sự thật thì vẫn còn đó, nhưng những câu chuyện để bảo vệ sự thật như ở Xưa và Nay, thì cũng hết sức lạc lõng trong một thời đại thiếu ánh sáng.

(Hình: Tuấn Khanh)

Đọc chuyện xưa, mà sợ. Những nỗ lực gây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam với tư cách công dân yêu nước của học giả Phạm Quỳnh chỉ được đổi lại bằng cái chết, và sự thật bị bóp méo.

Nghe chuyện nay, rồi buồn. Tư liệu nghiên cứu công phu với tư cách công dân yêu nước của nhà nghiên cứu Phan Thuận An cũng được đổi lại bằng sự thờ ơ, và lãng quên.

Và cũng có rất nhiều công dân yêu nước khác trên đất nước này đã làm tất cả theo bổn phận và lương tâm, nhưng rồi chỉ được đổi lại bằng sự đe dọa, sách nhiễu hay tù đày như Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Văn Hóa, Hoàng Bình, Trần Đức Thạch… và rất nhiều người khác nữa, không thể kể hết.

Ngẫm lại, sống với một lương tâm công dân yêu nước Việt, thật khó biết bao.


 

Vụ tấn công 2 đồn công an ở Đắk Lắk: 10 người bị tuyên án chung thân

Ba’o Nguoi-Viet

January 21, 2024

ĐẮK LẮK, Việt Nam (NV) – Chỉ sau năm ngày xét xử 100 bị cáo trong vụ bạo động tại hai đồn công an xã ở tỉnh Đắk Lắk, phán quyết của tòa án tỉnh này tuyên 10 án chung thân, số còn lại bị kết án từ chín tháng đến 20 năm tù.

Theo báo VNExpress hôm 20 Tháng Giêng, hai trong số bị cáo bị án chung thân là Y Sôl Niê và H Wuêñ Êban bị quy kết là “cầm đầu, lôi kéo, kích động các bị cáo khác.”

Các bị cáo nghe tòa công bố phán quyết hôm 20 Tháng Giêng. (Hình: VNExpress)

Đáng lưu ý, theo tờ Tuổi Trẻ, Y Sôl Niê, 45 tuổi, cư trú tại tiểu bang North Carolina, Hoa Kỳ.

Phán quyết của tòa Đắk Lắk cũng kết án khiếm diện từ chín đến 11 năm tù đối với sáu bị cáo đang ở ngoại quốc và bị truy nã với cáo buộc “khủng bố” gồm các ông Y Mut Mlô, Y Quynh Bdap, Y Čhik Niê, Y Niên Êya, Y Bút Êban và Y Chanh Byă.

Trong số này, ông Y Quynh Bdap, bị kết án 10 năm tù, là người đồng sáng lập tổ chức Người Thượng Vì Công Lý (MSFJ).

Đề cập vụ chính quyền tỉnh Đắk Lắk khép tội ông Y Quynh Bdap, Facebook MSFJ viết: “…Không có bằng chứng cụ thể nào, mà chính quyền chỉ dùng các hình ảnh rồi chỉnh sửa bằng photoshop để bôi nhọ danh dự và vu khống, nhắm vào ông Y Quynh Bdap nhiều nhất, rồi còn tung ra lệnh truy nã và còn phạt tù với tội ‘khủng bố’ trong khi đó ông Y Quynh chỉ hoạt động về nhân quyền cho người bản địa. Sau khi thấy lệnh truy nã thì ông đã báo cáo ngay với quốc tế về vụ việc này, vì đây là sự trả thù của chính quyền đối với nhà hoạt động chân chính.”

“Chính quyền chiếm đất đai, đẩy họ [người Thượng] vào cảnh nghèo khổ. Dù không có gì đáng ghét hay thù hận, nhưng đó là sự thật và ai cũng thấy rõ. Nếu chính quyền không thay đổi, liệu người dân có thể im lặng mãi không? Sự im lặng đáng đặt câu hỏi – họ sẽ làm gì trong thời gian tới? Tất cả sẽ đoàn kết và hoạt động mạnh mẽ hơn vì nhân quyền, cất tiếng nói của mình với thế giới,” theo Facebook MSFJ.

Liên quan phiên tòa, Luật Sư Đặng Đình Mạnh được đài Á Châu Tự Do (RFA) dẫn lời: “…Chưa đầy năm ngày để xét xử 100 bị cáo là bất khả thi. Vì chỉ cần Hội Đồng Xét Xử, công tố và luật sư xét hỏi để làm rõ tội trạng của từng bị cáo đã không đủ thời gian chứ nói gì đến một loạt thủ tục trước và sau đó. Trừ phi đây là phiên tòa mà dân gian hay gọi xách mé về nền tư pháp trong nước là án bỏ túi’.”

Phiên tòa hạn chế sự tham dự của người dân và thân nhân các bị cáo. (Hình: VNExpress)

Luật Sư Mạnh cũng bình luận thêm rằng trong vụ án này, việc xét xử của tòa án, tranh luận của công tố và bào chữa của luật sư “đều chỉ là hình thức và thực hiện quấy quá cho xong.”

Vụ bạo động hôm 11 Tháng Sáu năm ngoái được mô tả là do một nhóm người bịt mặt, mang theo các loại vũ khí gồm súng và bom xăng tấn công hai đồn công an ở xã Ea Tiêu và Ea Ktur, huyện Cư Kuin, vào rạng sáng 11 Tháng Sáu, khiến chín người thiệt mạng, trong đó có bốn viên chức công an cùng bí thư xã Ea Ktur, chủ tịch xã Ea Tiêu. (N.H.K) [kn]


 

“Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1:15)

“Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1:15)

Nguyện xin Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho bạn và gia đình mãi mãi nhé. Have a beautiful Sunday!

Cha Vương

CN: 21/01/2024

TIN MỪNG: Ông Giô-na bắt đầu vào thành, đi một ngày đường và công bố: “Còn bốn mươi ngày nữa, Ni-ni-vê sẽ bị phá đổ.” Dân Ni-ni-vê tin vào Thiên Chúa, họ công bố lệnh ăn chay và mặc áo vải thô, từ người lớn đến trẻ nhỏ. (Gn 3:4-5)

SUY NIỆM: Điều gì sẽ xảy ra nếu hôm nay Thiên Chúa sai một đấng tiên tri đến đứng giữa bạn và nói: (Thí dụ) “Còn bốn mươi ngày nữa, [nước Mỹ] sẽ bị phá đổ. Dân [Mỹ] tin vào Thiên Chúa, họ công bố lệnh ăn chay và mặc áo vải thô, từ người lớn đến trẻ nhỏ”? Mỗi ngày Chúa ban cho bạn rất nhiều cơ hội để giúp bạn tiến lên trên con đường hoàn thiện để được sống. Lời cống bố của tiên tri Giô-na  đến với dân Ni-ni-vê là một cơ hội vàng, không có cơ hội thứ 2–thành phố và tất cả cư dân của họ sẽ bị hủy diệt nếu họ không ăn năn hối lỗi và trở về với Chúa. Dân Ni-ni-vê đã đáp lại và lập tức không bỏ lỡ cơ hội vàng đó. Từ người lớn đến trẻ nhỏ họ đã thành tâm thống hối ăn năn và họ đã được sống. Đúng là một sự đáp lại kịp thời đã đã đưa họ vào con đường của sự sống. Còn bạn thì sao? Cũng giống như người dân thành Ni-ni-vê, mời bạn hãy nắm lấy cơ hội vàng, thành tâm trở về với Chúa là Đấng giàu lòng thương xót, trở về để lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần đang thì thầm trong trái tim, để hoán cải, để loại bỏ những khẩu hiệu giả dối cũng như những hành động mù quáng và để tìm thấy Thiên Chúa ngay trong tận đáy lòng bạn. Ngài ở đó chờ đợi và sẵn sàng giang tay ôm lấy bạn và cả nhân loại nữa. Bạn hãy sám hối và tin vào Tin Mừng đi. Điều gì khiến bạn ngần ngại không quay trở lại với Chúa trong giây phút này?

LẮNG NGHE: Người nói: “Thời kỳ đã mãn, và Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1:15)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin lấy tình yêu của Chúa biến đổi từng phút giây trong cuộc đời con để con trở thành nhân chứng sống động của Thiên Chúa tình yêu.

THỰC HÀNH: Đọc Kinh Ăn Năn Tội và cố gắng chừa bỏ tội lỗi và những cơ hội có thể dẫn đến việc phạm tội.

From: Do Dzung

https://www.youtube.com/watch?v=a8BkXTOyV2U

Trở Về Bên Chúa 2 (Sáng tác: Lm. Nguyễn Văn Tuyên) – Kiều Oanh Nguyễn

 

Về đâu số phận bốn đứa trẻ của đôi vợ chồng “bán con” ở Trà Vinh?

Ba’o Tieng Dan

Thái Hạo

20-1-2024

Theo chia sẻ của một cán bộ nơi hai vợ chồng đã bị kết án 23 năm tù vì “bán con”: Ba đứa lớn đã được giao về cho ông bà nội của các bé, đứa con út (bị “bán”) thì đang được chính quyền địa phương chăm sóc.

Gia đình người vợ (cô Nhung) là người Khơ-me, ruộng vườn không đáng kể, chủ yếu sống bằng nghề làm thuê bấp bênh, ai kêu gì làm nấy.

Vị này còn cho biết, gia đình hai bên nội ngoại của vợ chồng này đều rất nghèo khó. Khi bố mẹ đã bị đi tù, ba đứa con lớn được giao về cho ông bà nội nhưng họ là những lao động đã già yếu, chỉ có thể làm thuê bằng những công việc giản đơn và không ổn định. Ngày công của họ (nếu là ngày có việc làm) thì cả hai người chỉ kiếm được tổng cộng trên dưới 100 nghìn.

Tuy nghèo khổ như vậy nhưng không thuộc diện hộ nghèo, vì xã “đang xây dựng nông thôn mới” nên tỉ lệ hộ nghèo bị khống chế.

Từ khi cha mẹ các bé bị bắt (năm 2022) thì cơ bản các cháu cũng chỉ được chính quyền hỗ trợ ít gạo và quần áo.

Hỏi về cách để liên hệ trực tiếp với ông bà các bé thì được biết rằng họ không có điện thoại, tất nhiên cũng không có tài khoản ngân hàng. Mọi sự giúp đỡ nếu không thể đến gặp trực tiếp thì phải thông qua chính quyền xã (Hội Chữ Thập đỏ hoặc Mặt trận Tổ quốc?).

P/S: Tôi nhớ không nhầm thì hiện 3 đứa lớn đang ở với Ông Bà là gia đình chị Kim Thị Chane Tha, cư trú tại ấp Hòa Lạc A, xã Lương Hòa A, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

***

Chu Mộng Long: Xưa bán con được ca tụng, nay bán con phải ở tù

Bi kịch của chị Dậu bán con để cứu chồng được ngợi ca trong tất cả các giáo trình, giáo khoa cho trẻ con học. Hiển nhiên, ca tụng chị Dậu là để tố cáo chế độ thực dân, phong kiến đã đẩy thân phận con người vào bước đường cùng.

Có học trò viết: “Chị Dậu bán chó để cứu chồng thì có thể chia sẻ, cảm thông, nhưng bán con để cứu chồng là nhẫn tâm”. Cô giáo cho ăn hột vịt lộn vì bình luận như vậy là xúc phạm tấm gương người mẹ Việt Nam. Học trò chua chát viết trên nhóm Zalo: “Đề yêu cầu trình bày ‘suy nghĩ của em’, nhưng lại chấm theo suy nghĩ của cô giáo!”

Báo nhà nước từng đăng về chuyện bà Võ Thị Cầm bán đứa con thứ 4 của mình cho nhà giàu để cứu đói cho gia đình. Chuyện mới xảy ra vào khoảng sau năm 1957, lại ở miền Bắc XHCN. Đứa con ấy có tên là Vương Đình Huệ, người thật, không phải tiểu thuyết.

Ảnh chụp màn hình bài trên báo GDVN

Không biết luật thời đó có cấm cha mẹ bán con không? Không thấy toà nào xử các bà mẹ trên.

Nay có ông cha bà mẹ sinh cả đàn con. Cũng nghèo túng, cơm không đủ sống, phải bán con để giải quyết khó khăn, đói nghèo. Toà xử đến 13 năm tù. Ở ngoài không đủ cơm ăn thì được ăn cơm tù?

Thôi thì coi như bố mẹ đi tù để được ăn cơm tù là hình phạt nhân đạo. Nhưng làm vậy có khác nào kết án tử hình đối với 3 đứa trẻ vô tội đang sống lây lất ngoài đời?

Toà hiện nay chí ít cũng đã từng học tấm gương chị Dậu từ lớp 9, và chí ít cũng đọc báo về tấm gương mẹ con Vương Đình Huệ. Chẳng lẽ khi kết án, toà không có chút liên tưởng nào đến những tấm gương đã học, đã đọc?

_____

Bài liên quan: Bé sơ sinh 50 ngày tuổi bị mẹ bán với giá 18 triệu đồng (GĐ&XH). – Tuyên án 23 năm tù đối với cặp vợ chồng mua bán con ruột (Báo TV). – Bán con với giá 18 triệu đồng, hai vợ chồng lãnh án (CAND). Cùng một vụ án, nhưng thông tin từ báo Tiền Phong hơn một năm trước, ngày 20-12-2022, thì hơi khác: Bé sơ sinh bị mẹ ‘cho’ người khác với giá 20 triệu đồng.


 

Thánh Eustochia Calafato (1434-1491)-Cha Vương

Chúc bình an! Nguyện xin Chúa tươi ghé mặt nhìn đến bạn hôm nay và mãi mãi nhé.

Cha Vương

 Thứ 7: 20/01/2024

 Hôm nay Giáo Hội mừng kính thánh Eustochia Calafato (1434-1491) ngoài lịch. Smerelda Colonna sinh ngày 25 tháng 3 năm 1434 tại Annunziata, Messina, Ý Đại Lợi. Từ khi chào đời, Smerelda Colonna đã được hưởng nhiều lợi ích nhờ người mẹ nhân đức và thánh thiện. Là một thiếu nữ xinh đẹp, giàu có thuộc giới quý tộc, ái nữ của công tước Calafato, Smerelda đã được nhiều chàng trai theo đuổi cầu hôn nhưng đều bị tế nhị từ chối.

Sau khi thân phụ qua đời, vì không còn ai chống đối ơn gọi tu dòng của mình nữa. Smerelda liền gia nhập dòng thánh Clara khó nghèo tại đan viện Santa Maria de Basico và được nhận tên là Eustochia. Sau 11 năm sống trong đan viện này, chị Eustochia được ơn soi động thành lập một đan viện mới để áp dụng đúng luật lệ nguyên thủy của thánh nữ Clara, sống rất nghiêm nhặt và tuyệt đối khó nghèo. Được phép của Đức Giáo Hoàng Calistus III, chị Eustochia đem theo hai nữ tu cùng với người cháu gái và em gái mình để thành lập đan viện Accomandata giữa muôn ngàn bách hại, gian nan và đau khổ. Vì hoàn cảnh nghèo khó của đan viện, năm năm sau đó, các nữ tu buộc phải chuyển đến vùng đồi Trinh Nữ (Montevirgine) ở phía Đông Bắc đảo Sicily. Tại đây đã tổ chức lễ kỷ niệm 500 năm thành lập đan viện vào năm 1964.

Trong cuốn tiểu sử của nữ tu Pollicino, một chị em trong nhóm đầu tiên đồng hành với Chị Eustochia khi thành lập đan viện mới, có kể lại nhiều chứng từ cho thấy tính cách anh hùng trong các nhân đức của chị Eustochia. Ngoài ra rất nhiều phép lạ của chị thánh làm cho lương thực hóa nhiều cũng được ghi lại. Truyện kể lại chị quản lý không còn đủ tiền chi tiêu, chị thánh đã làm dấu Thánh Giá trên hai hay ba miếng bánh mì nhỏ, thế là đủ lương thực nuôi tất cả 10 chị em trong đan viện.. Sau 51 năm chu toàn Thánh Ý Chúa, chị Eustochia đã qua đời một cách lành thánh vào ngày 20 tháng 1 năm 1485 tại Montevirgine, Sicily, Ý Đại Lợi sau khi được mang trên mình những dấu thánh huyền nhiệm Cuộc Khổ Nạn Chúa trong nhiều năm.

Đức Giáo Hoàng Pius VI đã tôn phong Đấng Đáng Kính Eustochia Calafato lên bậc Chân Phước ngày 14 tháng 9 năm 1782 tại Rome và hơn 200 năm sau Chân Phước Eustochia Calafato được Đức Giáo Hoàng John Paul II nâng lên bậc Hiển Thánh ngày 11 tháng 6 năm 1988 tại Messina, Sicily, Ý Đại Lợi.

Có lẽ phép lạ nhãn tiền nhất mà chị thánh đã làm là che chở thành phố cho khỏi những trận động đất kinh khủng xảy ra vào năm 1615. Khi ấy thành phố bị rung chuyển suốt ngày đêm do những cơn địa chấn hầu như liên tục. Hội đồng và dân chúng thành phố kêu xin các nữ tu cầu nguyện cùng chị thánh Eustochia che chở cho họ. Các nữ tu đã đưa thi hài bất hoại của chị thánh ra khỏi nhà nguyện là nơi lưu giữ thi hài hơn 150 năm và đặt trong tư thế đứng trong ghế triều ca ngày trước. Sau khi các nữ tu cầu nguyện giao phó việc che chở thành phố cho chị thánh.

Người ta thấy môi xác thánh mở ra và nghe thấy tiếng ngài hát câu đầu tiên trong thánh vịnh giờ kinh tối. Các nữ tu quá hoảng sợ, tuy nhiên cũng hợp với chị thánh đọc kinh và cúi đầu khi đọc đến kinh Vinh Danh. Kể từ lúc đó, theo lời kể lại, cơn động đất liền chấm dứt. Phép lạ nầy được kể lại trong các hồ sơ do đan viện miền Đồi Trinh Nữ (Montevirgine) biên soạn vào năm 1964 trong thời gian chuẩn bị mừng dịp kỷ niệm 500 năm thành lập đan viện.

Thi hài của chị thánh Eustochia hoàn toàn nguyên vẹn hiện đang được lưu giữ tại đan viện miền đồi Trinh Nữ. Mặc dầu hơi sạm màu sau quãng thời gian đã trên 500 năm, nhưng xét trên mọi phương diện, thi hài chị thánh vẫn còn tốt lành, hai ngón tay giơ lên trong tư thế đang ban phép lành. Xác thánh đầu quàn chiếc khăn kim tuyến, mặc trang phục trắng thêu kim tuyến rất xinh đẹp. Tuy nhiên báu vật lộng lẩy nhất và tốt đẹp nhất trên thi hài là những dấu thánh Cuộc Khổ Nạn mà cho đến nay vẫn còn hiện rõ trên bàn tay hơi sạm của vị sáng lập dòng.

(Nguồn: Trích Patron Saints & The Incorruptibles của Joan Carroll Cruz / Matthias Ngọc Đính, CMC chuyển ngữ)

From: Do Dzung

Dâng Hiến Đời Con | Angelo Band 

 XIN BÌNH YÊN MÀ SỐNG

Gieo Mầm Ơn Gọi

Nếu có thể

hãy nói câu nồng ấm

Sưởi lòng người bớt lạnh lúc đêm đông

Để ngày mai rạng rỡ ánh nắng hồng

Muôn hoa nở bên song chào ngày mới.

 

Nếu có thể

Hãy mang niềm vui tới

Mang tin yêu phơi phới tỏa hương đời

Mang nụ cười mang hạnh phúc xinh tươi

Luôn tràn ngập trên môi người yêu dấu.

 

Nếu có thể

hãy quên câu sầu não

Hãy lạc quan với mọi chuyện trên đời

Tan hay hợp âu cũng là phận số

Chữ “duyên”… ừ… cũng nhạt nhẽo thế thôi…

 

Nếu có thể…

hãy nói lời tha thiết

Lời yêu thương lưu luyến thật chân thành

Bởi đâu biết quãng đời kia dài ngắn

Hay chắc mình đoán trước được tử sinh.

 

Nếu có thể

xin bình yên mà sống

Và tránh xa những toan tính nhọc nhằn

Buông đi hết những bon chen hèn kém

Thả xuôi dòng danh lợi với nhục vinh…

Hoàng Khánh Linh

 


 

 Vụ 4 tiếp viên hàng không xách ma túy: Số bị can lên 500, nhưng chi tiết ‘mù mờ’

 Ba’o Nguoi-Viet

January 20, 2024

SÀIGÒN, Việt Nam (NV) – Công An ở Sài Gòn vừa công bố số bị can bị khởi tố liên quan vụ bốn nữ tiếp viên Vietnam Airlines xách ma túy từ Pháp về Việt Nam hiện đã lên 500 người.

Báo Người Lao Động hôm 20 Tháng Giêng dẫn lời ông Mai Hoàng, phó giám đốc Công An ở Sài Gòn, cho biết kể từ vụ bốn nữ tiếp viên bị chặn bắt quả tang tại phi trường Tân Sơn Nhất hồi Tháng Ba năm ngoái, đến nay đã triệt phá 150 đường dây ma túy tại nhiều tỉnh thành.

Tuy tang vật là ma túy rành rành trong các tuýp kem đánh răng nhưng bốn nữ tiếp viên Vietnam Airlines mau chóng được trả tự do. (Hình: Chính Phủ)

Ông Mai Hoàng nói thêm đây là đường dây ma túy lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, dự kiến khởi tố 500 bị can.

Chi tiết về nhân thân các bị can vẫn “mù mờ” trong phát ngôn của giới chức công an này.

Đáng nói, mới hồi đầu Tháng Giêng, con số bị can bị khởi tố liên quan vụ bốn tiếp viên được công bố là 381 người, kèm tang vật là 130 kg ma túy.

Nhân dịp này, ông Mai Hoàng tiếp tục lên tiếng giải thích về chuyện công an mau chóng thả bốn nữ tiếp viên Vietnam Airlines: “Các nữ tiếp viên thường tận dụng việc vali đựng hành lý thừa cân trong các chuyến bay để vận chuyển hàng về Việt Nam lấy tiền công. Việc trả tự do cho bốn nữ tiếp viên thời điểm đó dù nhiều áp lực nhưng điều đó đảm bảo không làm oan người vô tội và đặt tính nhân văn lên hàng đầu.”

Dường như phát ngôn của ông Mai Hoàng là để thuyết phục công luận thêm một lần nữa, dù trước đó, báo Tuổi Trẻ dẫn lời ông Tô Ân Xô, phát ngôn viên Bộ Công An, giải thích: “Các tiếp viên không biết bên trong 327 tuýp kem đánh răng nhận vận chuyển, có 157 tuýp đã bị trà trộn, cất giấu ma túy. Do đó, các cơ quan chức năng xác định chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự bốn nữ tiếp viên hàng không của Vietnam Airlines.”

Ông Tô Ân Xô nói thêm, kết quả điều tra sơ bộ xác định khi bốn nữ tiếp viên hàng không nêu trên đang lưu trú tại Pháp, thì có một nghi can người Việt Nam nhờ chuyển hàng tiêu dùng là 327 tuýp kem đánh răng và 17 chai nước súc miệng về Việt Nam qua phi trường Tân Sơn Nhất, để “gửi cho người nhà.”

Phát ngôn của ông Tô Ân Xô được cho là “bất nhất” với tường thuật của các báo ở Việt Nam trước đó.

Bốn nữ tiếp viên Vietnam Airlines bị chặn bắt quả tang tại phi trường Tân Sơn Nhất sau một chuyến bay từ Pháp. (Hình: VietNamNet)

Báo Dân Trí ghi nhận lời khai ban đầu của bốn tiếp viên Vietnam Airlines là họ “đã nhận lô hàng kem đánh răng hàng chục kg thông qua một đồng nghiệp làm chung hãng, rồi chia ra cho từng người để đưa về Tân Sơn Nhất.”

Bốn nữ tiếp viên cũng cung cấp các đoạn tin nhắn thỏa thuận tiền công vận chuyển với người giao hàng tại Pháp. (N.H.K)

 


 

YÊU THƯƠNG THUỐC TIÊN CHỮA BỆNH

Có thể bạn chưa tin nhưng nghiên cứu mới tại Mỹ cho thấy điều mà tế bào ung thư sợ nhất không phải là hóa trị hay bất kỳ loại thuốc trị ung thư nào.

Sau khoảng thời gian tiếp xúc với nhiều bệnh nhân từ nhiều quốc gia trên thế giới, Tiến sĩ David Hawkins – một bác sĩ rất nổi tiếng tại Mỹ cho biết, chỉ cần nhìn thấy bệnh nhân là ông biết người đó vì sao bị bệnh. Bởi trên cơ thể người bệnh không xuất hiện chữ “yêu”, thay vào đó là “khổ, hận, phiền muộn”.

Điều này có thể khiến nhiều người trong chúng ta không tin nhưng đây là kết luận hoàn toàn dựa trên cơ sở khoa học. Sau 20 năm nghiên cứu về cơ và vận động học, tiến sĩ Hawkins đã phát hiện ra “ý nghĩa của thang bậc chỉ số rung động trong cơ thể con người từ 1 đến 1000”. Tần số rung động chính là từ trường mà mọi người thường hay nói. Theo đó, những người có suy nghĩ tiêu cực thường rất hay bị bệnh. Đó là những người có chỉ số rung động dưới 200.

Rất nhiều người bị bệnh vì không được yêu, ở họ chỉ thấy nỗi khổ và phiền muộn.

Từ góc độ y học ông cho rằng, ý niệm có ảnh hưởng vô cùng lớn đến sức khỏe con người. TS Hawkins đã từng làm bệnh án cho hàng triệu người, các chủng loại người khác nhau trên toàn thế giới, tất cả đều cho một đáp án giống nhau.

Chỉ cần tần số rung động thấp hơn 200 là người đó sẽ bị bệnh. Trên 200 sẽ không bị bệnh, những suy nghĩ có tần số rung động trên 200 gồm có:

– quan tâm đến người khác,

– giàu lòng từ bi, nhân ái, hướng thiện,

– bao dung, độ lượng, v.v.

Đây đều là những đức tính có tần số rung động rất cao, đạt đến mức 400 – 500.

– Mặt khác, người có tính căm ghét, phẫn nộ, hay chỉ trích, trách móc, đố kị, đòi hỏi người khác, luôn tư lợi cá nhân, ích kỷ, không màng đến cảm nhận của người khác sẽ có tần số rung động rất thấp.

Tần số rung động thấp là nguyên nhân dẫn đến các bệnh như ung thư, tim v.v.

Lý giải cho điều này, tiến sĩ Hawkin cho biết những người hay oán giận, chỉ trích, hận thù người khác, tần số của họ chỉ là 30, 40. Trong quá trình trách móc người khác sẽ làm tiêu hao rất nhiều năng lượng của họ vì thế tần số rung động sẽ giảm thấp hơn 200, những người này có nguy cơ bị mắc rất nhiều loại bệnh.

Chỉ số rung động cao nhất là 1000, thấp nhất là 1. Tiến sĩ Hawkin cho biết trong cuộc đời của mình, ông chưa gặp ai có tần số rung động đạt ở mức cao nhất, 1000. Những người mà ông ấn tượng nhất cũng chỉ đạt mức 700. Năng lượng trong cơ thể họ rất dồi dào. Khi những người này xuất hiện, họ sẽ làm ảnh hưởng đến từ trường của cả khu vực xung quanh.

Lấy ví dụ, như khi bà tu sĩ Teresa lên nhận giải thưởng Nobel Hòa bình, không khí cả hội trường rất tốt, tần số rung động rất cao, từ trường của bà làm cho cả hội trường đều cảm nhận được năng lượng tràn ngập sự tốt đẹp và cảm động từ bà.

Khi người có năng lượng cao xuất hiện, từ trường của họ sẽ làm cho vạn vật trở lên tốt đẹp hơn.

Còn với người có suy nghĩ tiêu cực,không chỉ làm tổn hại chính họ mà còn làm cho từ trường xung quanh cũng bị xấu đi.

Một trường hợp cụ thể nhất về tác động của tình yêu với các tế bào ung thư chính là nghệ sỹ chơi đàn Violoncelle Sean của Nhật Bản. Khi bị bệnh ung thư, ông đã không ngừng chiến đấu với bệnh tật nhưng xem ra tình trạng ngày một nặng hơn.

Cuối cùng, ông quyết định thay đổi tâm trạng và chuyển sang yêu từng tế bào ung thư trong cơ thể mình. Ông lạc quan với cuộc sống, mọi việc ông đều luôn thấy vui vẻ và biết ơn các tế bào ung thư. Ông thấy cảm giác này rất tuyệt. Sau đó, ông đã quyết định yêu mọi thứ trong cuộc sống, bao gồm cả mỗi con người và mỗi sự việc.

Kết quả hết sức bất ngờ và nằm ngoài sức tưởng tượng của tất cả mọi người, toàn bộ các tế bào ung thư đã không còn nữa. Sau này, ông trở thành bác sĩ trị liệu nổi tiếng tại Nhật Bản.

Đây chính là bản chất của cuộc sống Thương Yêu

Các nhà khoa học cho biết, căn nguyên của bệnh tật là do trong cơ thể người bệnh thiếu tình yêu thương. Bệnh tật bị đẩy lùi một cách vô điều kiện là nhờ “yêu thương và được thương yêu”.

MD Đức Tâm

 MẤT TRÍ – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Thân nhân của Chúa Giêsu hay tin, liền đi bắt Ngài, vì họ nói, “Ngài đã mất trí!””.

Holmes Jr., “Người Bất Đồng Vĩ Đại”, được coi là một trong những thẩm phán xuất sắc nhất lịch sử Toà án Tối cao Hoa Kỳ. Holmes ngồi trên Toà Tối cao suốt 30 năm cho đến tuổi 91. Ngày kia, Roosevelt đến thăm Holmes, thấy ông đang đọc Plato; tổng thống hỏi, “Ngài đọc Plato?”; Holmes đáp, “Tôi cải thiện tâm trí, vì tôi được tiếng là mất trí!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Không chỉ Holmes được tiếng là ‘mất trí’, Chúa Giêsu cũng thế! Tin Mừng hôm nay cho biết, thân nhân Ngài tìm cách bắt Ngài! Đây là một chi tiết thú vị vốn tiết lộ phần nào hành trình đức tin của tất cả chúng ta; vì đôi khi, bạn và tôi cũng được tiếng là ‘mất trí!’.

Hãy bắt đầu với tiền đề hiển nhiên là Chúa Giêsu hoàn hảo về mọi mặt! Ngài là Thiên Chúa; mọi điều Ngài nói, mọi việc Ngài làm… chứng tỏ tình yêu của Ba Ngôi. Nhưng đáp lại là gì? Dĩ nhiên, một số người đã đón nhận Ngài với niềm tin và sự ngạc nhiên tột độ; họ nhận biết Ngài là Con Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ thế giới. Ngược lại, số khác, ngay trong họ hàng Ngài, nghĩ rằng, Ngài ‘mất trí!’. Theo cha John Bartunek, “Chúa Giêsu được tiếng là ‘mất trí’, vì với Ngài, không gì quan trọng hơn việc nuôi dưỡng các linh hồn bằng tình yêu và lẽ thật, nó quan trọng đến nỗi Ngài bỏ mặc việc nuôi sống bản thân. Thái độ hy sinh quên mình này thấm nhuần từng giây phút của Ngài trên trần gian, và đỉnh điểm là sự phục tùng trọn vẹn thánh ý Chúa Cha trên thập giá”.

Nếu người ta gọi Chúa Giêsu là ‘mất trí’, họ sẽ gọi chúng ta những gì còn tệ hơn nếu chúng ta đi trên con đường Ngài đi và làm theo điều Ngài dạy. Bởi lẽ, trong cuộc sống, việc thực hành ý muốn thánh thiện của Thiên Chúa không phải lúc nào cũng được chấp nhận; nói cách khác, điều tốt lành chúng ta nói và làm sẽ dẫn đến sự chỉ trích của người khác, ngay cả những người thân. Khi điều này xảy ra, đừng ngạc nhiên, đừng cho là tổn thương, gương xấu hay xúc phạm. Ngược lại, hãy vui mừng, bạn đang giống Chúa Giêsu; đồng thời, nhớ lại bao phán xét sai lầm người ta gán cho Ngài và nhất là, không để những cay đắng đang trải nghiệm ngăn cản chúng ta tiếp tục làm điều Chúa muốn.

Đavít là một ví dụ. Với tư cách bề tôi, cậu đã liều mạng với Philitinh, đem chiến thắng về cho Saun; nhưng cũng vì đó, chuốc lấy sự cừu hận. Đến khi ‘Chúa trao Saun vào tay Đavít’, thì Đavít lại nhân ái với người tìm giết mình. Một lần nữa, bài đọc Samuel hôm nay chứng thực điều đó. Hay tin Saun tử trận, Đavít khóc lóc thảm thiết thay vì ăn mừng. Với các thuộc hạ của Đavít, thân chủ của họ khác nào một người ‘mất trí!’.

Anh Chị em,

“Họ nói, “Ngài đã mất trí!””. Chúa Giêsu ‘mất trí’ vì quá say mê Thiên Chúa, say mê con người. Cuộc đời Ngài thực sự được điều hướng bởi sự say mê này. Ngài say mê đến độ quên ăn quên uống, vì “Của ăn của Tôi là làm theo ý Đấng đã sai Tôi”; và cũng vì say mê, Ngài bị treo lên thập giá. Nhưng đó là chiến thắng bất tận của tình yêu. Ai khôn ngoan? Phải chăng là người chỉ lo làm giàu, chăm chút bản thân và gia đình? Còn những người sống vị tha, những người độc thân vì Nước Trời, các anh hùng tử đạo, những người miệt mài trên những cánh đồng truyền giáo là hạng ‘mất trí?’. Không đâu!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con khờ khạo, ‘mất trí’ chỉ vì những chuyện vô duyên của thế gian; cho con dám điên vì Chúa, vì sự thật và vì tình yêu đối với các linh hồn!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen