Tại sao ung thư khó điều trị?.

Kimtrong Lam

Có hơn 200 loại ung thư khác nhau, vô số đột biến tồn tại, tế bào khả năng sống sót rất tốt… là nguyên nhân khiến bệnh khó điều trị.

Bác sĩ Trần Đức Cảnh, Khoa Nội soi và Thăm dò chức năng, Bệnh viện K Trung ương, cho biết tại Việt Nam hiện tỷ lệ mắc mới ung thư tăng lên 9 bậc (xếp thứ 90/185 quốc gia) và tỷ lệ tử vong do ung thư tăng 6 bậc (xếp thứ 50/185 quốc gia), so với ghi nhận năm 2018. Ước tính có 182.563 ca mắc mới và 122.690 ca tử vong do ung thư mỗi năm.

Sở dĩ ung thư khó điều trị do nhiều nguyên nhân sau:

Ung thư không phải là một căn bệnh duy nhất

Ung thư không phải một căn bệnh cụ thể mà là thuật ngữ chung cho hơn 200 bệnh khác nhau. Mỗi loại ung thư chính lại có nhiều nhóm nhỏ, mang các đặc điểm di truyền và phân tử khác nhau. Nguyên nhân do ung thư phát triển từ tế bào của cơ thể nên các tế bào ung thư cũng đa dạng như chính các tế bào của cơ thể chúng ta.

Vô số đột biến tồn tại

Nguyên nhân của ung thư là đột biến vật liệu di truyền của tế bào, cụ thể là ADN. Bệnh hình thành từ sự tích tụ của các đột biến ADN và khi phát triển thì sẽ càng có nhiều đột biến khác nhau xuất hiện.

Điều này có nghĩa hai người mắc cùng một loại ung thư nhưng có thể do xuất phát từ các đột biến khác nhau. Những loại phổ biến hơn sẽ được nghiên cứu nhiều hơn để tìm phương pháp điều trị phù hợp. Tuy nhiên, với những loại đột biến hiếm gặp thì những phương pháp điều trị này lại ít hoặc không có tác dụng. “Do đó, một loại thuốc có tác dụng với bệnh nhân ung thư này nhưng lại có thể không tác dụng với bệnh nhân khác”, bác sĩ cho hay.

Các tế bào ung thư trong một khối u không giống nhau

Các tế bào ung thư trong một khối u không giống nhau, có thể có những đột biến khác nhau, các đột biến mới xuất hiện khác với đột biến ban đầu. Do vậy, một phương pháp điều trị có thể tiêu diệt tất cả một loại tế bào giống nhau trong khối u nhưng những tế bào khác sẽ kháng thuốc và tiếp tục tồn tại sau quá trình điều trị, phát triển tăng số lượng. Đây là lý do khiến nếu không được phát hiện sớm, ung thư sẽ di căn sang những cơ quan khác trong cơ thể, làm xuất hiện nhiều đột biến mới hay những dòng tế bào ung thư mới, tồn tại trong máu và tiếp tục di căn.

Phương pháp điều trị cuối cùng có thể không còn hiệu quả

Các đột biến gene mà tế bào ung thư có được theo thời gian thay đổi cách thức hoạt động, trở thành vấn đề rất khó với việc điều trị. Đột biến khiến các tế bào ung thư hình thành khả năng kháng lại phương pháp điều trị, sau thời gian đáp ứng tốt với phương pháp điều trị ban đầu, phương pháp này không còn hiệu quả nữa. Khi đó, bệnh nhân sẽ cần có phương pháp điều trị khác, tuy nhiên cũng có thể sẽ không còn phương pháp điều trị thay thế nào.

Tế bào ung thư có khả năng sống sót rất tốt

Các tế bào bình thường có cơ chế an toàn để ngăn chúng phát triển hoặc phân chia quá mức, hàng ngày hệ thống miễn dịch của cơ thể cũng sẽ phát hiện và tiêu diệt các tế bào bất thường có nguy cơ. Tuy nhiên các tế bào ung thư không có cơ chế này, chúng ẩn náu khỏi hệ thống miễn dịch nên vẫn tồn tại, tiếp tục phát triển không kiểm soát được. Tế bào ung thư có thể hình thành rất nhiều phương thức để lẩn tránh sự tiêu diệt của cơ thể.

Hình ảnh tế bào ung thư được biểu thị bằng đồ họa. Ảnh: University of Chicago.

Tế bào ung thư được biểu thị bằng đồ họa mô phỏng. Ảnh: University of Chicago

Những tiến bộ trong hiểu biết của con người về bệnh ung thư giúp tìm ra những phương pháp điều trị mới. Theo bác sĩ Cảnh, 6 căn bệnh ung thư có khả năng được tiên lượng điều trị tốt nhất, bao gồm ung thư tuyến tiền liệt, ung thư tuyến giáp, ung thư vú, ung thư tinh hoàn, ung thư da, ung thư tiêu hóa giai đoạn sớm.

Trong đó, tỷ lệ sống sau 5 năm của người mắc ung thư tuyến tiền liệt, ung thư tuyến giáp, ung thư đường tiêu hóa phát hiện sớm có thể lên đến 100%. Gần như 100% bệnh nhân ung thư vú có thể sống trên 5 năm nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm. Với ung thư tinh hoàn, tỷ lệ bệnh nhân sống thêm 5 năm sau khi được chẩn đoán là 95,3%, ở ung thư da là 91,5%.

Điều quan trọng vẫn là tầm soát và điều trị kịp thời, ông Cảnh nói. Nhóm nguy cơ cao nên thực hiện tầm soát ung thư theo hướng dẫn của bác sĩ. Đối với người đã xuất hiện triệu chứng bất thường, nên đi kiểm tra sức khỏe từ sớm.

Những loại ung thư tỷ lệ chữa khỏi cao

Tuyến tiền liệt, giáp, da, tiêu hóa hay vú là những loại ung thư có thể chữa khỏi gần như 100% nếu được phát hiện sớm.

Loại ung thư da ác tính nhất

Ba nhóm ung thư da thường gặp gồm biểu mô tế bào đáy, biểu mô tế bào vảy và tế bào hắc tố, trong đó ung thư tế bào hắc tố là loại ác tính nhất, nguy cơ tử vong cao.

Thúy Quỳnh


 

VẾT THƯƠNG KHÔNG BAO GIỜ LÀNH-Nguyễn Duy An-Truyện ngắn

 Kimtrong Lam

Tác gỉả : Nguyễn Duy An .

Nguyễn Duy An là người Á Châu đầu tiên đảm nhận chức vụ Senior Vice President National Geographic tổ chức văn hóa khoa học lớn nhất thế giới.

Bài viết của ông mang theo một thông tin đặc biệt: Truyền hình National Geographic chiếu phim ‘Inside the Vietnam War’ nhân kỷ niệm 40 năm trận chiến Mậu Thân.

  1. Tôi rất ngạc nhiên khi bà thư ký dẫn vị sĩ quan an ninh của Sở vào văn phòng với nét mặt hoảng hốt và rụt rè lên tiếng:

– Duy à… Có chuyện rồi! Ðại uý Morrow cần gặp riêng Duy. Bà ta vội vã quay lưng, với tay đóng cửa và buớc nhanh ra ngoài. Tôi vừa bắt tay đại uý Morrow vừa hỏi:

– Mời đại uý ngồi. Anh tìm tôi có việc gì quan trọng?

– Xin lỗi anh Duy nhé. Ở dưới nhà có 3 nguời ‘homeless’ cứ nằng nặc đòi gặp anh cho bằng đuợc. Nhân viên an ninh đã giữ họ lại và báo cáo cho tôi tìm gặp ông để thảo luận. Những người này có vẻ không đàng hoàng… nhưng có một nguời tên Norman khai rằng anh là bạn của hắn ta.

– Ồ… Ðó là anh chàng thỉnh thoảng vẫn thổi kèn Saxophone kiếm tiền ở trạm xe điện ngầm Farragut West đó mà. Anh ta đàng hoàng lắm. Không sao đâu. Ðể tôi xuống gặp họ.

– Anh chờ chút. Chúng tôi muốn sắp xếp để canh chừng vì hai anh chàng kia trông có vẻ ‘ngầu’ lắm. Mấy tay này cứ luôn miệng chửi thề và ‘càm ràm’ với giọng điệu rất hung hăng về cuộc chiến Việt Nam. Tôi đoán chắc họ thuộc nhóm cựu chiến binh Việt Nam mắc bệnh tâm thần… Anh tính sao?

– Tôi nghĩ không cần thiết lắm đâu. Tôi biết tôi không thể dẫn họ lên văn phòng, nhưng có thể mời họ vào ‘cafeteria’ uống ly nước, chắc không sao chứ?

– Cũng được, nhưng cẩn thận vẫn hơn. Ðể tôi bảo nhân viên để ý trông chừng trong lúc anh gặp họ ở ‘cafeteria’. Anh không ngại chứ?

– Cám ơn các anh, nhưng đừng lộ liễu quá, họ tủi thân.

Trong lúc theo với đại uý Morrow xuống nhà gặp ‘khách’, tôi nghĩ về kỷ niệm quen biết Norman từ gần 10 năm trước.

  1. Hồi đó, tôi mới về làm cho National Geographic, vì chưa quen đường sá ở thủ đô Hoa Thịnh Ðốn nên thường đi làm bằng xe ‘Metro’. Một buổi sáng Thứ Sáu, tôi đi trễ hơn bình thường vì phải ghé qua trường học để ký một số giấy tờ cho các con truớc ngày tựu truờng. Vừa ra khỏi xe điện ngầm ở trạm Farragut West, tôi nghe vọng lại tiếng kèn Saxophone rất điêu luyện đang ‘rên rỉ’ bài Hạ Trắng:

Gọi nắng… trên vai em gầy đường xa áo bay

Nắng qua mắt buồn, lòng hoa bướm say

Lối em đi về… trời không có mây

Ðường đi suốt mùa nắng lên thắp dầy…

Lên khỏi cầu thang ở trạm xe điện, tôi sững sờ khi trông thấy một nguời Mỹ ‘homeless’ đang ‘ngất ngưởng’ thả hồn vào một cõi xa xăm vô định, miệt mài thổi Saxophone. Bài hát vừa dứt, đám đông vây quanh vừa vỗ tay tán thưởng, vừa bỏ một vài đồng bạc lẻ vào cái mũ vải bên cạnh… Tôi tiến đến gần hơn, móc ví lấy tờ giấy bạc $10 bỏ vào mũ biếu anh ta, một người Mỹ có lẽ là cựu chiến binh Việt Nam vì anh ta đang mặc chiếc áo khoác quân nhân, với bảng tên Norman Walker trên túi áo và bên cạnh còn treo lủng lẳng một số huy chương. Tôi chưa kịp bỏ tiền vào mũ, anh ta đã hỏi bằng tiếng Việt:

– Mày Việt Nam hả? Biết bài hát vừa rồi không?

– Ðương nhiên rồi. Ông thổi kèn rất hay và có hồn. Ông nói tiếng Việt cũng giỏi.

– Ðại khái thôi. Kêu mày tao được rồi. Tao đã từng đấm đá gần 8 năm trời trên quê hương của mày, nhưng khi trở về bị quê hương tao ruồng bỏ. Nản bỏ mẹ. Tao nhớ Việt Nam nên tập thổi nhạc Trịnh, thỉnh thoảng ra đây biểu diễn kiếm thêm ít đồng mua cơm mua cháo sống qua ngày với đám bạn không nhà không cửa trở về từ cuộc chiến.

– Ông…

– Lại ông nữa. Mày tao cho thân tình. Không phải nguời Việt tụi mày vẫn nói thế sao?

– Tôi không quen gọi nguời lạ như thế. Hay gọi nhau là ‘anh tôi’ được không?

– Tùy mày. Tiếng Việt tụi mày rắc rối lắm. Mày có cần phải đi làm chưa?

Tao phải tiếp tục thổi thêm vài tiếng nữa mới đủ sở hụi. Tao nghỉ lúc 11giờ, mày có thể tới nói chuyện. Nếu bận thì thôi. Thứ Sáu nào tao cũng làm ăn tại đây. Nếu không chê, mày có thể trở lại.

– Tôi sẽ trở lại truớc 11 giờ. Văn phòng tôi làm việc cũng chỉ cách đây một quãng đường ngắn.

-Mày không sợ hả?

-Sợ gì?

-Tụi tao là loại nguời bị ruồng bỏ và khinh chê.

– Không có đâu. Tôi sẽ trở lại.

– Ði đi. Hẹn gặp lại.

  1. Tôi đã trở lại gặp Norman và mời anh ta cùng ăn trưa hôm đó. Anh ta rất cảm động, và chúng tôi trở thành ‘bạn’ từ dạo dó. Tôi thắc mắc tự hỏi không hiểu tại sao hôm nay Norman không gọi điện thoại cho tôi mà lại dẫn theo hai người bạn tới văn phòng tìm tôi, gây xáo trộn cho thêm rắc rối.

Tôi chỉ sợ Norman và bạn của anh ta sẽ buồn và mất cảm tình với National Geographic cũng như cá nhân tôi vì bị những nhân viên an ninh của sở ‘hạch hỏi’. Ðã từ lâu lắm rồi, tôi cảm nhận được nội tâm đơn thuần và tính tình chân thật của những cựu chiến binh không nhà không cửa lang thang khắp đường phố thủ đô Hoa Thịnh Ðốn. Có những người đã từ bỏ tất cả để sống kiếp lang thang tại vùng thủ đô để thỉnh thoảng có dịp ghé thăm và tưởng nhớ những đồng đội đã hy sinh trong cuộc chiến được khắc tên trên bức tường cẩm thạch mầu đen ở đài tưởng niệm Binh Sĩ Hoa Kỳ Trong Cuộc Chiến Việt Nam (Vietnam Veterans Memorial).

Những cựu chiến binh râu ria xồm xoàm, quần áo rách nát và bẩn thỉu, thân thể xâm đầy những bức hình ngổ ngáo hay những dòng chữ ngang tàng để che dấu một nội tâm lúc nào cũng khắc khoải trong đau thương tủi nhục và nhức nhối từng đêm vì những ám ảnh từ cuộc chiến Việt Nam. Tôi cảm thương với hoàn cảnh của họ và trân quý những hy sinh họ đã dành cho Quê Hương Yêu Dấu Việt Nam của chúng ta.

Vừa gặp mặt, Norman siết chặt tay tôi cuời lớn, rồi lên giọng:

– Gặp mày còn khó hơn gặp sĩ quan cao cấp ngoài mặt trận nữa. Hôm nay nói tiếng Anh nhé. Bạn tao không biết tiếng Việt và tao cũng không muốn đám ‘cớm dổm’ ở đây nghi ngờ, gây thêm phiền phức cho thằng bạn người Việt rất thân của tao.

Norman đổi giọng, nói tiếng Anh:

– Ðây là thằng Duy rất thân của tao. Nó là người Việt tỵ nạn nhưng đang làm lớn ở đây. Chắc nó giúp được tụi mình. Còn đây là Bernie và Bob, hai thằng bạn thân ‘homeless’ của tao.

Norman vẫn không buông tay nên tôi đành bắt tay trái với Bernie và Bob, rồi lên tiếng mời:

– Mời các bạn xuống ‘cafeteria’ uống nuớc và nói chuyện.

– Có tiện không? Hay tụi tao chờ mày ở ngoài kia, lúc nào rảnh ra nói chuyện.

– Không sao đâu. Tuy nhiên, Norman đừng đòi cà phê sữa đá, ở đây không có đâu.

Norman cuời ha hả trả lời bằng tiếng Việt:

– Biết rồi! Khổ lắm, nói mãi! Ðúng không? Rất đúng. Nghe giống hệt ‘một ông già Bắc kỳ’ thứ thiệt.

Chúng tôi vui vẻ buớc vào gọi cà phê, cùng tiến về một bàn trống phía trong cùng truớc bao nhiêu con mắt kinh ngạc của những nguời đang có mặt trong’cafeteria’ sáng hôm dó. Vừa ngồi xuống bàn, Norman vội vàng lên tiếng:

– Ðể khỏi mất thì giờ của mày, tao vào đề ngay nhé. Hôm qua Bernie đọc thấy ở đâu đó nói tuần này National Geographic sẽ có ‘preview’ cuộn phim ‘Inside the Vietnam War’ truớc khi trình chiếu vào dịp kỷ niệm 40 năm biến cố Tết Mậu Thân. Ðúng không?

– Ðúng rồi. Chúng tôi sẽ bắt đầu chiếu trên đài National Geographic từ ngày 18 tháng 2 này.

– Ðài của tụi mày chỉ có trên ‘Cable’ và ‘Direct-TV’. Dân ‘homeless’ tụi tao làm sao xem được. Tao biết họ vẫn mời mày 2 vé ‘preview’ mỗi khi có phim mới. Mày kiếm thêm vé cho 3 đứa tao đi xem với. Ðược không?

– Chắc được. Mấy lần truớc tôi đưa vé cho bạn nhưng có bao giờ xuất hiện đâu!

– Lần này khác… vì họ nói về tụi tao và những bạn bè từng đấm đá trên Quê Hương của mày.

  1. Ðể giữ sĩ diện cho tôi, cả 3 người ‘bạn’ cựu chiến binh đều ăn mặc quần áo tươm tất, đầu tóc chải gọn gàng đứng chờ ngoài hành lang ‘Explorer Hall’ cả giờ đồng hồ trước khi tôi xuống dẫn vào xem phim trong hội truờng chính của National Geographic. Sau khi cầm trong tay 4 tấm vé ‘preview’, tôi đã liên lạc nhờ mấy người trong nhóm ‘Audio & Video’ của sở sắp xếp để chúng tôi ngồi trong góc cuối của hội truờng, tránh xa những vị ‘tai to mặt lớn’ trong sở cũng như những vị khách từ Bộ Quốc Phòng, Bộ Cựu Chiến Binh, Quốc Hội, và viên chức Chính Phủ Mỹ.

Sau những lời giới thiệu, những bài diễn văn theo thủ tục, cuộn phim bắt đầu chiếu. Mấy người bạn cựu chiến binh Mỹ của tôi chăm chú lắng nghe, mắt người nào cũng long lanh ngấn lệ, cùng siết chặt tay nhau để nén lại những cảm xúc đang cuồn cuộn trào dâng trong tim của mỗi nguời.

Thỉnh thoảng tôi nghe thoang thoảng đâu đó một vài tiếng sụt sùi nho nhỏ vang lên khắp hội truờng. Ba người bạn của tôi vẫn ‘án binh bất động’ dõi mắt đăm chiêu theo từng tấm hình, từng tiếng súng, từng bước đi, từng câu nói, từng tiếng khóc… trên màn ảnh. Tới đoạn phim chiếu lại cảnh những cựu chiến binh trở về từ Việt Nam bị ‘dân Mỹ’ và có lúc cả gia đình và bạn bè miệt thị, Bob bật tiếng khóc thật lớn, rồi Bernie, rồi Norman và một vài người chung quanh cùng khóc theo!

Ai đó đã ra lệnh tạm ngưng. Ðèn hội truờng bật sáng. Tôi vội vã xin lỗi những nguời chung quanh rồi vội vàng ‘kéo’ ba nguời bạn cựu chiến binh ra khỏi hội trường. Cả ba vừa đi vừa khóc, lững thững lê gót ‘khật khưỡng’ bước theo tôi như ba cái xác không hồn!

Mấy ngày sau, tôi nhận được một cú điện thoại từ nhóm thực hiện cuộn phim tài liệu ‘Inside the VietNam War’ nhờ tôi sắp xếp một cuộc gặp gỡ với 3 nguời bạn cựu chiến binh ‘homeless’ đã cùng tôi đi xem ‘preview’ hôm đó, và cũng nhờ họ mời thêm những bạn bè khác vì Bộ Quốc Phòng và Bộ Cựu Chiến Binh cùng một vài viên chức trong chính phủ muốn gặp gỡ và giúp đỡ họ.

Có lẽ đã tới lúc người Mỹ nhận thức được ‘món nợ phải trả’ cho sự hy sinh của những cựu chiến binh từng tham chiến ở Việt Nam.

Lòng tôi chợt nhói lên một niềm đau khi nghĩ tới số phận của những cựu quân nhân và công chức của Miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Ai còn? Ai mất?

Nguyễn Duy An

khoa1hocviencsqg.com/


Trích tâm tình của anh Nguyễn Chí Tuyến

 Võ Hồng Ly

29.02.2024

Trích tâm tình của anh Nguyễn Chí Tuyến :

“…Tất cả những việc chúng ta làm, tuỳ vào góc nhìn và quan điểm mà người đời gọi chúng ta là những kẻ ngu ngơ, ngốc nghếch, ngang ngược hay ngạo nghễ. Mặc kệ đời ! Cái quan trọng là chúng ta được sống như chính con người của chúng ta.

Người đời đặt câu hỏi: Làm vậy để làm gì? Danh tiếng? Tiền bạc? Lợi ích? Thật khó trả lời trọn vẹn  người anh em nhỉ. Chỉ biết rằng chúng ta làm vậy chỉ vì chúng ta sống đúng với lương tâm, trách nhiệm và nhận thức của mình để cảm thấy trong lòng thanh thản. Cái khó nhất chẳng phải là chiến thắng chính bản thân mình, là đối diện với chính bản thân mình, phải vậy không!

Nhiều người nói, chúng ta như châu chấu đá xe, chẳng làm nên cơm cháo gì được đâu. Ồ, chúng ta có đấu đá ai, tranh giành gì của ai đâu nhỉ. Chúng ta chỉ hành động theo lương tâm mách bảo, nói ra những suy nghĩ, những khát khao, những ước vọng chẳng nhẽ cũng không được sao? Hay là cứ phải âm thầm mà sống, lầm lũi mà sống, bịt tai, bịt mắt lại mà sống ? Sống như vậy đâu phải là sống !

Thôi kệ, mỗi người một nhân sinh quan, mỗi người có lựa chọn sống của riêng mình. Chúng ta đã lựa chọn con đường đầy chông gai và gian khó thì hãy cùng nhau vững bước đi đến cuối con đường, vậy thôi! …”

Mong Anh vững vàng và bình an !


 

LỊCH SỬ MÙA CHAY-Trầm Thiên Thu

Trầm Thiên Thu

(Chuyển ngữ từ CatholicEducation.org)

Mùa Chay là thời gian đặc biệt để cầu nguyện, sám hối, hy sinh và làm việc lành để chuẩn bị mừng lễ Phục sinh.  Muốn canh tân phụng vụ Giáo hội, Hiến pháp về Phụng vụ Thánh của Công đồng Vatican II nói: “Hai yếu tố là đặc tính của mùa Chay – nhớ lại Bí tích Thánh Tẩy hoặc chuẩn bị cho Bí tích này, và sám hối – nên được nhấn mạnh trong phụng vụ và giáo lý.  Qua đó, Giáo hội chuẩn bị cho các tín hữu về việc cử hành lễ Phục sinh, trong khi họ lắng nghe Lời Chúa nhiều hơn và dành thời gian cầu nguyện nhiều hơn” (số 109).  Chữ Lent (mùa Chay) được rút ra từ chữ Lencten trong ngôn ngữ Anglo-Saxon, nghĩa là “mùa Xuân”, và Lenctentid không chỉ có nghĩa là “mùa Xuân” mà còn có nghĩa là “tháng Hai & Ba”, vì mùa Chay thường rơi vào tháng này.

Từ thời Giáo hội sơ khai, có chứng cớ về mùa Chay để chuẩn bị lễ Phục sinh.  Chẳng hạn, Thánh Irênê (qua đời năm 203) đã viết cho Thánh Giáo hoàng Victor I, nói về việc cử hành lễ Phục sinh và sự khác nhau giữa hai việc cử hành này trong Giáo hội Đông phương và Tây phương: “Sự tranh luận không chỉ về ngày này, mà còn về đặc tính của việc ăn chay.  Một số người nghĩ rằng họ nên ăn chay một ngày, một số người nghĩ nên ăn chay hai ngày, một số người khác lại nghĩ nên ăn chay nhiều ngày hơn; một số người khác lại nghĩ nên ăn chay 40 giờ cuối cùng.  Sự khác nhau trong cách giữ luật như vậy đã không có nguồn gốc như ngày nay, mà rất khác trước, từ thời xa xưa” (Eusebius, Lịch sử Giáo hội, V, 24).  Khi Rufinus dịch đoạn văn này từ tiếng Hy Lạp sang tiếng Latin, có dấu phẩy giữa số 40 và chữ “giờ” khiến ý nghĩa hóa thành 40 ngày, mỗi ngày 24 giờ.  Do đó, tầm quan trọng của đoạn văn vẫn là từ thời tổ tiên xa xưa – luôn được diễn tả là thời các tông đồ, và thời gian 40 ngày mùa Chay đã xuất hiện.  Tuy nhiên, việc thực hành thực sự và thời gian mùa Chay vẫn chưa tương ứng trong cả Giáo hội.

Mùa Chay trở nên phổ biến hơn sau khi Kitô giáo được công nhận năm 313 (sau công nguyên).  Công đồng Nicê (325), trong giáo luật ghi rằng hai công nghị nên được tổ chức hằng năm, “một công nghị trước 40 mùa Chay.”  Thánh Athanasiô (qua đời năm 373) trong các “Lễ Thư” (Festal Letters) kêu gọi giáo đoàn ăn chay 40 ngày trước khi ăn chay nghiêm ngặt hơn trong Tuần Thánh.  Thánh Cyril thành Giêrusalem (qua đời năm 386) nói trong các bài giảng giáo lý, ngày nay gọi là RCIA (Rite of Catholic Initiation for Adults, nghi thức khai tâm Công giáo cho người lớn), trong đó có 18 điều hướng dẫn trước khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội được trao cho các tân tòng trong mùa Chay.  Thánh Cyril thành Alexandria (qua đời năm 444) viết trong một loạt “Lễ Thư” cũng cho biết rằng việc thực hành đó trong mùa Chay chú trọng thời gian 40 ngày ăn chay.  Cuối cùng, Thánh Giáo hoàng Leo (qua đời năm 461) đã giảng rằng các tín hữu phải “hoàn tất việc ăn chay 40 theo luật”, đồng thời chú ý nguồn gốc mùa Chay.  Có thể kết luận rằng, vào cuối thế kỷ IV, thời gian 40 ngày ăn chay chuẩn bị lễ Phục sinh được coi là mùa Chay như ngày nay, cầu nguyện và ăn chay đã tạo nên các bài luyện tập tâm linh thời sơ khai.

Dĩ nhiên, con số 40 luôn có ý nghĩa tâm linh đặc biệt quan tâm sự chuẩn bị.  Trên núi Hô-rép (núi Sinai), chuẩn bị nhận Mười Điều Răn, “Môsê ở đó với Đức Chúa 40 ngày và 40 đêm, không ăn không uống, và ông viết trên những bia các điều khoản của giao ước, tức là Thập Điều” (Xh 34:28).  Êlia đi bộ “40 ngày và 40 đêm lên núi Hô-rép để gặp Thiên Chúa” (1 V 19:8).  Quan trọng nhất là Chúa Giêsu ăn chay và cầu nguyện “40 ngày và 40 đêm” trong hoang địa trước khi Ngài công khai sứ vụ (Mt 4:2).

Khi 40 ngày chay được thiết lập, việc kế tiếp là quan tâm mức độ ăn chay.  Chẳng hạn, tại Giêrusalem, người ta ăn chay 40 ngày, các ngày từ thứ Hai tới thứ Sáu trong tuần, nhưng không ăn chay vào thứ Bảy hoặc Chúa nhật, do đó mùa Chay kéo dài 8 tuần.  Tại Rôma và Tây phương, người ta ăn chay 6 tuần, các ngày từ thứ Hai tới thứ Bảy trong tuần, do đó mùa Chay kéo dài 6 tuần.  Cuối cùng, người ta ăn chay 6 ngày mỗi tuần trong 6 tuần, thứ Tư lễ Tro được thiết lập để tăng số ngày cho đủ 40 ngày trước lễ Phục sinh. Luật ăn chay có khác nhau.

Thứ nhất, một số vùng kiêng cữ các loại thịt và các sản phẩm làm từ động vật, một số vùng lại trừ các thức phẩm như cá.  Chẳng hạn, Thánh Giáo hoàng Grêgôriô (qua đời năm 604), viết cho Thánh Augustine thành Canterbury, nói về quy luật này: “Chúng ta phải kiêng những đồ tươi như thịt, và các loại tươi khác như sữa, bơ và trứng.”

Thứ nhì, luật chung cho mọi người là mỗi ngày chỉ ăn một bữa, buổi tối hoặc lúc 3 giờ chiều.

Luật ăn chay trong mùa Chay cũng thay đổi. Cuối cùng, được phép ăn nhẹ trong ngày để giữ sức khỏe mà làm việc.  Được phép ăn cá, và sau đó cũng được phép ăn thịt suốt tuần, trừ thứ Tư lễ Tro và thứ Sáu.  Rồi được phép ăn các sản phẩm làm từ sữa, và cuối cùng luật này được hoàn toàn nới lỏng.  Tuy nhiên, kiêng cữ cả các sản phẩm sữa cũng dẫn đến việc ăn trứng Phục sinh và ăn bánh kẹp vào thứ Ba béo (Gras Mardi, Shrove Tuesday), trước thứ Tư lễ Tro.

Thời gian trôi qua, luật được thay đổi dần, thế nên ngày nay việc ăn chay không chỉ đơn giản mà còn quá dễ.  Thứ Tư lễ Tro vẫn là khởi điểm mùa Chay, từ đó kéo dài 40 ngày, không kể Chúa nhật.  Luật ăn chay và kiêng thịt ngày nay rất đơn giản: Chỉ giữ vào thứ Tư lễ Tro và thứ Sáu Tuần Thánh, các tín hữu ăn chay (một bữa no, hai bữa nhẹ) và kiêng thịt; còn các thứ Sáu khác trong mùa Chay chỉ phải kiêng thịt.  Giáo hội khuyến khích “từ khước cái gì đó” để hy sinh trong mùa Chay.  Có điều thú vị vào các Chúa nhật và lễ trọng như lễ Thánh Giuse (19 tháng Ba) và lễ Truyền Tin (25 tháng Ba), người ta “được miễn trừ” và có thể tận hưởng bất cứ thứ gì phải kiêng trong mùa Chay.

Hãy hy sinh từ khước điều gì đó vì Chúa.  Làm thật lòng chứ đừng như người Pharisêu (giả hình) để được người ta “chú ý.”  Hãy chú trọng hoạt động tâm linh, như tham dự đi Đàng Thánh Giá, Thánh lễ, chầu Thánh Thể, cầu nguyện, đọc sách thiêng liêng, xưng tội và rước lễ.  Hãy tập trung vào hoạt động mùa Chay: Sám hối, canh tân đời sống, thể hiện đức tin và chuẩn bị cử hành mầu nhiệm cứu độ.

Trầm Thiên Thu (Chuyển ngữ từ CatholicEducation.org)

From: ngocnga_12 & NguyenNThu


 

MỘT PHẦN ĐỊNH MỆNH – Lm. Minh Anh, Tgp Huế

Lm. Minh Anh, Tgp Huế

“Ta là Chúa, Ta dò xét lòng người, thử thách mọi tâm can. Ta sẽ thưởng phạt ai nấy tuỳ theo cách nó sống và việc nó làm!”.

“Hãy trân trọng từng phút giây bạn có; chia sẻ cho người khác khi còn kịp! Ngày kia, bạn sẽ thấy của cải vô dụng như thế nào. Người nghèo luôn có đó, họ không phải là một phần của cảnh quan tô điểm cuộc sống của bạn, nhưng là ‘một phần định mệnh’ của bạn! Hãy nhớ, chiếc đồng hồ không ngừng chạy, không đợi bất cứ ai, vì bất cứ lý do gì!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Đồng tình với ý tưởng của nhà tu đức trên, Lời Chúa hôm nay cho thấy, tha nhân không phải là một phần của cảnh quan, nhưng là những con người cần được tôn trọng, yêu thương, ‘một phần định mệnh’ của bạn. Chúa Giêsu từng ví họ là Ngài, là “Nhà Tạm di động” của Ngài – Phanxicô.

Bài đọc Giêrêmia tiết lộ, Thiên Chúa ghi nhận và ân thưởng cho mọi hành vi bác ái của bạn, “Ta là Chúa, Ta dò xét lòng người, thử thách mọi tâm can. Ta sẽ thưởng phạt ai nấy tuỳ theo cách nó sống và việc nó làm!”. Đó là những con người nương ẩn nơi Chúa, “Phúc thay người đặt tin tưởng nơi Chúa!” – Thánh Vịnh đáp ca cũng đồng tình.

Trái với những ai ‘nương ẩn’ nơi Chúa, Tin Mừng thuật chuyện một người ‘ẩn nương’ nơi của cải! Đó là một phú hộ sống xa hoa, cách biệt với người nghèo, đam mê thời trang và những món ăn ngon. Tuy thế, ông không làm hại ai; ông không tước đoạt Lazarô, người hành khất nghèo khó; không ngại việc Lazarô lảng vảng; cũng chẳng miệt thị Lazarô biếng nhác. Vậy thì đâu là tội của ông? Tội của ông là không coi Lazarô như một con người; ông cho rằng, Lazarô chỉ là một phần của cảnh quan trang trí nhà ông. Một người mù đã từng nói, “Tôi thấy người ta đi lại như cây cối!”. Đúng thế, nhà phú hộ xem ra cũng chỉ nhìn thấy Lazarô ‘ngang mức cây cối!’.

Lazarô, biểu tượng cho mọi ‘tiếng kêu thầm lặng’ thời hiện đại và những mâu thuẫn của một thế giới mà của cải và tài nguyên vô ngần đang nằm trong tay một số người. Điều này giúp chúng ta hiểu rằng, bỏ qua một người nghèo, hoặc coi họ chỉ ‘ngang mức cây cối’ đích thị là khinh miệt Thiên Chúa! Họ là ‘một phần định mệnh’ của bạn và tôi như Lazarô là ‘một phần định mệnh’ của ông nhà giàu!

Anh Chị em,

“Ta là Chúa, trả công cho mỗi người!”. Như thế, người nghèo không phải là một điều gì chúng ta muốn, hoặc không muốn. Họ là những món quà Chúa gửi đến cho chúng ta! Nhờ họ và qua họ, chúng ta lãnh nhận bao ân phúc của Chúa. Đừng quên, Thiên Chúa không bao giờ xem chúng ta là một phần cảnh quan có cũng được không cũng được đối với Ngài. Chúng ta là những con trai, con gái rất yêu dấu được máu châu báu của Con Một Ngài đổ ra để cứu chuộc. Mùa chay, mùa bạn và tôi ý thức, ngày kia “của cải sẽ vô dụng như thế nào”; mùa sử dụng của cải để “làm những gì có thể khi còn kịp”; mùa mỗi người không còn coi anh chị em mình ‘ngang mức cây cối’ nhưng là những hiện thân của Chúa Giêsu, hầu có thể yêu thương, trân trọng và cứu giúp! Họ là con cái Chúa.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con biết rằng, con luôn mắc nợ người nghèo, họ là ‘một phần định mệnh’ của con. Dạy con biết chia sẻ khi còn kịp!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp Huế

From: KimBang Nguyen


 

CHẶNG THỨ 14: Đức Giêsu được chôn táng trong mộ-Cha Vương

Chúc bình an đến bạn và gia đình! Xin Chúa luôn gìn giữ hồn xác bạn hôm nay và mãi mãi.

Cha Vương

Thứ 5: 29/02/2024

CHẶNG THỨ 14: Đức Giêsu được chôn táng trong mộ

TIN MỪNG: Khi đã nhận thi hài [Chúa Giê-su], ông Giô-xếp lấy tấm vải gai sạch mà liệm, và đặt vào ngôi mộ mới, đã đục sẵn trong núi đá, dành cho ông. Ông lăn tảng đá to lấp cửa mồ, rồi ra về. (Mt 27:59-60)

SUY NIỆM: Đi đâu và bất cứ nơi nào bạn cũng thấy các nghĩa trang những ngôi mộ có hoặc không tên tuổi; đó là hậu quả của chiến tranh, xung đột, ẩu đả, chém giết, bệnh tật, tai nạn và thiên tai. Còn cái chết của Chúa Giê-su thì sao? Cái chết của Chúa Giê-su không phải vì tội của Ngài nhưng Ngài chấp nhận cái chết để đem đến cho nhân loại sự cứu rỗi. Đức Giáo Hoàng Benedict XVI tuyên bố rằng Thánh giá chắc chắn trở thành biểu tượng của sự cứu rỗi, biểu tượng của sự sống. Qua Thập giá, chúng ta được hưởng sự cứu rỗi. Thánh giá trở thành dấu chỉ chiến thắng của Con Người. Qua dấu chỉ này, Chúa Giêsu đã đến như một người chiến thắng và bây giờ Ngài dẫn đường chúng ta đến với Thiên Chúa hằng sống. Do đó, Thập giá trở thành một dấu chỉ của sự cứu rỗi và thông qua Thập giá, chúng ta hợp nhất với Người. Việc Chúa Giê-su đã “yêu đến cùng” góp phần thanh tẩy chúng ta như câu thánh kinh: “Họ là những người đã đến, sau khi trải qua cơn thử thách lớn lao. Họ đã giặt sạch và tẩy trắng áo mình trong máu Con Chiên” (Kh. 7:14). Thật vậy, vì chúng ta đã nên một với Đức Ki-tô nhờ được chết như Người đã chết, thì chúng ta cũng sẽ nên một với Người, nhờ được sống lại như Người đã sống lại. (Rm 6:5)

XÉT MÌNH: Chết là hậu quả của tội lỗi, bởi vì mọi người đã phạm tội (x. Rm 5:12-21) Có bao giờ bạn làm cho người khác tai tiếng dẫn họ tới phạm tội không? Bạn có giận giữ hay phẫn uất, nuôi thù hận trong lòng với người khác, không tha thứ, từ chối tha thứ cho người khác, có âm mưu hay trả thù người chống đối bạn không? Có bao giờ bạn dính líu tới hay giết người, ước muốn cho người khác chết không? Có bao giờ bạn có ý định tự tử, hay trợ giúp người khác tự tử không? Có bao giờ bạn phá thai hay khuyến khích người khác bằng việc cổ võ hay buôn bán thuốc phá thai không? Bạn có cắt bỏ bộ phận thân thể nào để làm mất khả năng sinh sản không? Mời bạn bỏ ra đôi phút, trong thinh lặng hãy tự xét mình và xin ơn hoán cải trong lối suy nghĩ, trong cách cảm nhận, và trong hành động của mình.

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, vì tội lỗi của con mà Chúa đã phải chôn trong mồ huyệt nhưng Chúa đã biến nó thành ngôi mộ của tình yêu và sự sống; Chúa nói: Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. (Ga 12:24). Xin cho con biết chết cho chính mình, vâng theo thánh ý Chúa mỗi ngày và tin vào ơn cứu độ của tình yêu tự hiến để được sống muôn đời với Chúa. Amen.

Bạn thân mến, 14 ngày qua bạn đã cùng mình suy niệm những chặng đàng thánh giá và tự xét mình. Ước mong mỗi chặng là một tia sáng của Sự Thật soi vào lương tâm đang chết dần chết mòn vì tội. Mời bạn hãy dành thời gian đi xưng tội để đón nhận niềm vui đến từ ơn tha thứ của Chúa nhé.

From: Do Dzung

https://www.youtube.com/watch?v=sb5eJFY_k0s

Kiếp Tro Bụi – Phương Anh & Phương Ý | Nhạc Thánh Ca

CANH TÂN CÁCH THỰC HÀNH ĐỨC TIN – TGM Giuse Vũ Văn Thiên

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

Cứ mỗi độ xuân về, người dân Việt chúng ta, sau khi đón xuân mới, là khởi đầu chiến dịch đi lễ hội đầu năm.  Từ một hai thập kỷ trở lại đây, nhờ đời sống kinh tế được cải thiện, những lễ hội truyền thống sau một giấc ngủ dài trong thời bao cấp, được khôi phục khắp nơi, đua nhau nở rộ như nấm mọc sau mưa.  Nhìn chung, những lễ hội này diễn tả truyền thống văn hóa phong phú của người Việt, và đều góp phần tích cực giúp con người hướng thiện.  Tuy vậy, khá nhiều lễ hội bị nhuốm màu thương mại và mê tín dị đoan, mang theo những hệ lụy không đẹp do cách hành xử thiếu văn hóa, như cướp giật, đánh nhau đến đổ máu.  Lễ hội đang bị lạm dụng nghiêm trọng và làm mất đi ý nghĩa linh thiêng.

Vào thời Chúa Giêsu, Đền thờ Giêrusalem là nơi thiêng thánh cũng bị lạm dụng.  Người ta buôn bán chiên bò, chim câu và đổi tiền.  Tất cả những dịch vụ này cũng núp dưới danh nghĩa phục vụ khách hành hương, nhất là vào dịp lễ trọng của người Do Thái là lễ Vượt qua.  Chúa Giêsu đã chứng kiến cảnh này.  Người đã nghiêm khắc xua đuổi họ ra khỏi Đền Thờ.  Cả bốn thánh sử đều ghi lại sự kiện này, nhưng Thánh Gioan là người diễn tả hành động của Chúa Giêsu một cách mạnh mẽ quyết liệt nhất: “Người liền lấy dây làm roi mà xua đuổi tất cả chiên cũng như bò, ra khỏi Đền Thờ.”  Tuy vậy, nếu ba tác giả của Tin Mừng nhất lãm đều nói đến việc Đức Giêsu “đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi Đền Thờ,” thì thánh Gioan lại cho biết, Chúa chỉ yêu cầu mang các loại hàng hóa trần tục xâm nhập Đền Thờ và làm cho nơi thánh trở thành chốn thương mại.  Phải chăng Thánh Gioan muốn nói với chúng ta: Chúa Giêsu không xua đuổi con người tội nhân, nhưng xua đuổi những hành động tội lỗi, và như thế, Người mời gọi chúng ta hãy canh tân cách thực hành Đức Tin.

Từ đầu Mùa Chay, Phụng vụ đã mời gọi chúng ta canh tân đổi mới cuộc đời.  Canh tân để làm cho trái tim, tâm hồn và cuộc đời của chúng ta được đổi mới.  Chúa nhật thứ Ba của Mùa Chay, Phụng vụ dạy chúng ta hãy xem xét lại cách tôn thờ Chúa của mình.  Nói cách khác, mỗi chúng ta là người tin vào Chúa.  Đức tin ấy phải được thể hiện qua tâm tình thờ phượng Chúa.  Có nhiều người tin Chúa mà không thực hành các bổn phận của đức thờ phượng.  Thờ phượng Chúa là nhận ra quyền năng vô biên và tình yêu của Ngài đối với chúng ta, đồng thời dâng lời tạ ơn, ca tụng và cầu nguyện với Ngài.  Đối với một số tín hữu, đức tin của họ mang tính vụ lợi, tức là chỉ chạy đến nài van Chúa khi gặp hoạn nạn gian nan, còn những lúc khác thì không cần biết Chúa là ai.  Nhiều người khác coi Chúa như Bà Chúa Kho, đến để xin lộc và vay tiền lúc đầu năm với hy vọng năm mới phát tài.

Hành động của Chúa Giêsu khi xua đuổi chiên bò ra khỏi Đền thờ được gọi là “thanh tẩy Đền thờ.”  Quả thật, Chúa muốn khôi phục tinh thần thờ phượng đích thực, không nhuốm màu thương mại và cạnh tranh vật chất.  Mùa Chay cũng giúp ta thanh tẩy đời sống đức tin và tâm tình thờ phượng Chúa.  Những thực hành đạo đức của cộng đoàn cũng như cá nhân phải dẫn đưa người tín hữu đến gặp gỡ Đức Giêsu, Đấng đang sống và đang hiện diện giữa chúng ta.  Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết trong Tông huấn Đức Kitô đang sống như sau: “Chúng ta có nguy cơ coi Chúa Giêsu Kitô chỉ như một mẫu gương trong quá khứ, như một kỷ niệm, như một Đấng đã cứu chúng ta cách nay hai ngàn năm.  Điều này không ích gì cho chúng ta, vì nó sẽ để chúng ta cũ kỹ y như trước, nó sẽ không giải thoát chúng ta.  Đấng đổ đầy ân sủng của Người trên chúng ta, Đấng giải thoát chúng ta, Đấng biến đổi chúng ta, Đấng chữa lành và an ủi chúng ta đang sống.  Người là Đức Kitô phục sinh, tràn đầy sức sống siêu nhiên, mặc lấy ánh sáng vô hạn” (số 124).  Những lời trên đây của Đức Thánh Cha giúp chúng ta hiểu rõ hơn về sự hiện diện của Chúa Giêsu trong cuộc sống hiện tại.  Nhiều người tín hữu chỉ coi Người như một vĩ nhân đã lùi vào dĩ vãng.  Không phải như vậy.  Người đang sống và hiện diện giữa chúng ta.  Nếu ý thức được điều ấy, lời nói, cử chỉ và cách sống của chúng ta sẽ thận trọng hơn.  Lời cầu nguyện và việc thờ phượng Chúa sẽ thấm đượm tâm tình mến yêu hơn.  Xác tín điều đó, người tín hữu cảm thấy như được chạm tới Chúa, được Người hướng dẫn và soi sáng đường đi nước bước trong cuộc đời.

Gặp gỡ Chúa Giêsu, Đấng đang sống, sẽ giúp chúng ta sống tốt hơn trong cuộc sống hằng ngày.  Bài sách thánh trích sách Xuất hành ghi lại luật Giao ước Thiên Chúa ban cho dân Israel qua ông Môisen mà chúng ta vẫn gọi là Mười điều răn.  Có thể nói Mười điều răn trong sách Xuất hành là bộ luật đầu tiên trong lịch sử nhân loại.  Vì dân tộc Do Thái là một dân được tuyển chọn, nên phải có một bộ luật làm tiêu chuẩn và để duy trì trật tự trong việc điều hành cai quản, làm chuẩn mực chung cho mọi nền văn hoá và mọi dân tộc.  Rất tiếc, nhiều Kitô hữu, nhất là những bạn trẻ, không thuộc kinh Mười Điều Răn, vì vậy, họ không định hướng được cuộc đời của mình.  Họ nói tin vào Chúa mà không biết Chúa là ai và phải làm gì để thực hành Đức Tin.

Đức Giêsu đã thanh tẩy Đền Thờ Giêrusalem.  Người cũng dùng máu Người đổ ra trên thập giá để thanh tẩy tội lỗi của nhân loại.  Hai ngàn năm nay, Giáo Hội không ngừng rao giảng mầu nhiệm thập giá, “điều mà người Do Thái coi là ô nhục và dân ngoại cho là điên rồ” (Bài đọc II).  Trái lại với sự xét đoán của thế gian, Đức Giêsu là sự khôn ngoan của Thiên Chúa.  Có những lúc, người tin vào Chúa bị coi như những người điên rồ hoặc những người đi ngược dòng.  Tuy vậy, cũng như sự điên rồ của thập giá đã cứu vớt nhân loại, những ai theo Chúa Giêsu, dù có thể bị coi là ngu dại, chắc chắn sẽ tìm được sự thanh thản trong tâm hồn và niềm vui của Đấng phục sinh.  Mùa Chay cũng là mùa suy niệm cuộc thương khó của Đức Giêsu.  Thập giá là một huyền nhiệm của tình thương Thiên Chúa.  Thập giá không phải là câu chuyện của quá khứ, nhưng là câu chuyện của hiện tại.  Thập giá đang đi ngang qua những mâu thuẫn gia đình, những khó khăn về tài chính tiền bạc, những xung khắc trong mối tương quan với người xung quanh, những thất bại trong học vấn, những bế tắc trong nghề nghiệp.  Đó là những thập giá mà chúng ta đang phải vác đi.  Vác thập giá không phải là cam chịu, nhưng là đón nhận và hóa giải những thất bại và khúc mắc thành kinh nghiệm, để rồi nhờ ơn Chúa, chúng ta sẽ vượt lên những khó khăn, biến gian khổ thành niềm vui và biến nước mắt thành nụ cười.  Quả vậy, khi có lòng bao dung, sự kiên nhẫn và nhất là tình yêu quảng đại, chúng ta sẽ có thể hoá giải mọi thương đau trong cuộc đời.

Đức tin của người Công giáo không phụ thuộc vào mùa lễ hội và những cạnh tranh.  Lòng yêu mến Chúa và tâm tình thờ lạy tôn vinh Ngài như hơi thở, như cơm ăn nước uống đối với người tín hữu.  Con người cần có Chúa để hiện hữu, để hoạt động và để nên trọn lành.  Ý thức được sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời, dâng lên Chúa tâm tình yêu mến và cầu xin Ngài trợ lực để vượt lên mọi khó khăn thử thách, những điều này làm cho đức tin của chúng ta nên vững mạnh.

Mùa Chay là mùa canh tân đổi mới.  Canh tân cách thực hành Đức Tin là điều kiện thiết yếu để chúng ta đổi mới cuộc đời.  Bởi lẽ, nhờ Đức Tin tinh tuyền, chúng ta mới có thể sống Đạo chân thành trước mặt Chúa và trước mặt mọi người.

TGM Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim


 

“Tôi sẵn lòng hi sinh đời mình cho tự do”

Ba’o Tieng Dan

Nguyễn Anh Tuấn

29-2-2024

Ngay lúc này đây, rất nhiều công an thường phục và sắc phục đang khám nhà blogger Nguyễn Chí Tuyến, được biết đến với tên thân mật là Anh Chí.

Một nguồn tin ở hiện trường cho biết khả năng cao là sẽ có lệnh bắt.

[Cập nhật: Anh Chí đã bị công an đưa đi]

Trước Tết, Anh Chí đồng thời nhận được Thông báo kết quả giải quyết nguồn tin tội phạm và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh để phục vụ điều tra từ Cơ quan Anh ninh Điều tra Hà Nội – thủ tục thường thấy trước những vụ bắt giữ gần đây.

Vụ án nhắm đến Anh Chí đã được bắt đầu từ một năm trước đây bằng tin báo tội phạm của Phòng An ninh mạng CA Hà Nội (PA05) và Anh Chí sau đó đã bị triệu tập nhiều lần. Tin báo này cáo buộc Anh Chí vi phạm Điều 331 và 117.

Bẵng đi một thời gian những tưởng vụ việc đã khép lại, nhưng đến nay không hiểu sao lại được khơi lại bằng những động thái gấp rút của cơ quan điều tra.

Sáng nay, Anh Chí quyết định không đến làm việc theo giấy triệu tập nữa. Lời nói cuối cùng anh nhắn lại người anh em cùng chí hướng đơn giản chỉ là: “Anh không đến làm việc nữa đâu, không việc gì phải vậy, lần tới anh có đi sẽ mang theo ba lô để đi luôn.”

Đúng như lời Anh Chí từng nói với nhà báo John Fuller trên tờ Mekong Review 7 năm trước đây – những lời mà giờ người ta không còn nói với nhau nữa: “Tôi sẵn lòng hi sinh đời mình cho tự do”

***

Là một nhà hoạt động dày dặn, Anh Chí lăn lộn với bà con nông dân Văn Giang, Dương Nội, Đồng Tâm trong cuộc đấu tranh giữ đất từ những ngày đầu, lăn xả trong những cuộc biểu tình dậy sóng Hà Nội mươi năm trước, lên tiếng mạnh mẽ trước những bất công áp bức mà người dân thấp cổ bé họng phải gánh chịu.


 

 S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Ghế Súp

 Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Nhà văn Võ Hồng ví von: “Bụng to như bụng xe đò.” Nhận xét của ông, rõ ràng (và hoàn toàn) không… trật! Xe đò thường đầy khách mới chịu rời bến nhưng trên đường đi tài xế vẫn luôn dừng bánh “hốt” thêm mấy con nhạn là đà để kiếm thêm chút đỉnh. Khách lên sau thì ngồi ghế súp.

Dù có nguồn gốc La Tinh (supplementum) nhưng ghế súp thì chắc phải là sáng kiến (riêng) của giới xe đò xứ Việt, như một giải pháp tình thế, khi cái đít nhiều hơn cái ghế.

Trên chính trường Việt Nam ghế cũng ít, đít cũng nhiều. Đã vậy, nhiều vị chính khách nhất định ngồi lì vì sợ “cái đít nó nhớ cái ghế” nên nhu cầu ghế súp còn khẩn thiết hơn trên xe đò nữa. Chỉ có điều khác biệt là người làm chính trị không ăn nói bỗ bã như tui, hay như mấy cha nội tài hay lơ xe. Họ không gọi nhau là “súp chủ tịch nước” hay “súp thủ tướng.”

Ngôn ngữ của chính giới nghe “diplomatic” hơn nhiều – theo ghi nhận của Wikipedia:“Phó Thủ tướng Việt Nam là một chức vụ trong Chính phủ Việt Nam, được quy định ngay từ Hiến pháp 1946. Trong Chính phủ Việt Nam từ năm 1955 có nhiều ghế Phó Thủ tướng. Kỷ lục nhất là vào năm 1987 có tới 12 Phó Thủ tướng tại nhiệm và trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa VII (1981-1987) tổng cộng có tói 17 người đảm nhiệm Phó Thủ tướng.”

Thiệt là ớn chè đậu. Cái gì mà nhiều (hay nhiều quá) thì thường dễ ớn, và rất ít khi được ưa chuộng hay quan tâm. Người Việt chỉ có dịp nghe đến tên tuổi qúi vị phó thủ tướng của nước này khi báo chí nhắc đến những câu “danh ngôn” của họ:

Nói (nghe) đã tệ, cung cách làm việc (xem ra) còn tệ hơn nhiều – theo như ghi nhận của G.S Nguyễn Văn Tuấn:

“Tôi vừa dự một hội nghị chuyên ngành từ Phú Quốc về, và trong thời gian ngắn ngủi đó cũng được nhìn thấy sự quan liêu và lãng phí ghê gớm trong các quan chức cao cấp ở nước ta.

Hội nghị thu hút khoảng 270 người đến tham dự, với sự tài trợ nhiệt tình của các công ti dược. Khách sạn Sasco Blue Lagoon Resort được chọn làm nơi tổ chức, và khách tham dự đã đặt phòng từ một tháng trước.

Tưởng rằng đã đặt phòng thì chắc ăn sẽ có phòng để ở, nhưng ở Việt Nam ‘sự đời’ không đơn giản như thế. Một số khách đến ngày hội nghị, đến nơi check-in thì được biết là đã… mất phòng!

Tại sao? Tại vì phái đoàn tùy tùng của ông phó thủ tướng Hoàng Trung Hải ra thị sát hay đi holiday gì đó ở đảo Phú Quốc, và vì khách sạn là của Nhà nước, nên họ phải dành phòng cho tùy tùng của ông phó thủ tướng, và tống cổ khách đi khách sạn khác. Một kiểu làm business rất đặc thù của các công ti thuộc Nhà nước Việt Nam.

Chưa hết. Khoảng 10 khách mời và diễn giả (speakers) của hội nghị từ Hà Nội cũng không tham dự được, cũng chỉ vì người ta dành ưu tiên cho chuyến bay của ông Hoàng Trung Hải. Cần nói thêm rằng những người này đã mua vé máy bay (Vietnam Airlines) từ cả tháng trước. Nhưng bất chấp mọi qui luật business, Vietnam Airlines vẫn lấy chỗ của các hành khách này để cho đoàn tùy tùng của ông Hoàng Trung Hải! Một số còn ‘đau’ hơn, vì họ đã bay vào Sài Gòn, nhưng đành phải bay về Hà Nội chứ không có chỗ để đi Phú Quốc…

Sống ớ nước ngoài lâu, tôi chưa bao giờ chứng kiến cái cảnh bộ trưởng hay phó thủ tướng đi mà có xe cảnh sát dọn đường, chưa bao giờ chứng kiến cảnh bộ trưởng, thậm chí thủ tướng, ăn trên ngồi trước.

Tôi cũng từng có cơ duyên gặp một hay hai bộ trưởng Úc nên thấy được phong cách bình dân của họ như thế nào. Thủ tướng Úc đi công tác các tiểu bang chỉ có 2 người (ông ấy và bảo vệ) và đi trên chuyến bay dân sự như mọi người dân khác. Còn ở Việt Nam, tôi thấy các quan chức cứ như là những ông trời hay thần thánh sao ấy.”

Nhà báo Trương Duy Nhất là một nhân chứng khác:

“Khách sạn Phương Đông, thành phố Vinh. Cửa vào thang máy có 3 khoang. Khoang chính giữa mở nhưng bị một tay bảo vệ mặc sắc phục vàng đứng ngáng giữa chặn lại. Vài người bước vào liền bị bảo vệ lôi ra. Tất cả khách muốn lên xuống phòng đều được hướng dẫn đứng xếp hàng chờ hai cửa khoang thang máy hai bên.

Tôi ngạc nhiên:

– Sao khoang giữa mở mà không cho ai vào?

Tay bảo vệ thật thà:

– Đây là chuyên khoang dành chờ Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng.”

Nói tóm lại thì những ông PTT Việt Nam – gần đây – đều là những người gù về tài năng cũng như nhân cách. Câu chuyện ghế súp, tất nhiên, chưa chấm dứt ở đây. Báo Dân Trí lại hân hoan cho biết:

“Chiều 30/12, tại Hà Nội, Ban Tổ chức Trung ương đã trao quyết định của Bộ Chính trị về việc bổ nhiệm hai Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương chuyên trách và ba Phó Trưởng Ban Kinh tế Trung ương kiêm nhiệm…”

Chỉ có Trời (may ra) mới biết là cái ông Trưởng Ban Kinh Tế Trung Ương làm cái mẹ gì ở đất nước này, nói chi đến mấy ông thổ tả được mệnh danh là Phó Trưởng Ban. Và ngay cả Trời chắc cũng không biết tại sao tất cả qúi ông “phó” này trông đều tươi vui sung sướng ra mặt như thế.

Sự hớn hở của họ khiến tôi nhớ đến một bức thư khiếu nại, đọc được cách đây khá lâu, trên Cơ Quan Ngôn Luận Của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ TP HCM:

“Tôi đặt vé xe qua điện thoại của doanh nghiệp vận tải Thanh Thủy để đi từ Vĩnh Long đến TP.HCM, nhưng đến lúc lên xe thì không được ngồi đúng số ghế đã đặt. Nhân viên nhà xe lý giải là do lỡ nhận số khách nhiều hơn số ghế của xe nên gây ra tình trạng dư khách và đề nghị tôi ngồi ghế ‘xúp’. Vì sợ công việc bị chậm trễ nên tôi buộc lòng phải chấp nhận.

Sau khi tới nơi, tôi gọi điện thoại đến đường dây nóng của doanh nghiệp để phản ánh. Tuy nhiên, người tiếp điện thoại (không chịu xưng tên, chỉ tự khẳng định mình là quản lý cấp cao của doanh nghiệp) không hề xin lỗi tôi về sự sai sót cũng như có hướng giải quyết thỏa đáng, mà còn trách tôi tại sao không chịu thông báo ngay lúc trên xe.

Tôi giải thích rằng tôi không thích tranh cãi ồn ào ở chốn đông người, muốn giữ hình ảnh của doanh nghiệp và không muốn phiền các hành khách khác trên xe. Tuy nhiên, người quản lý này cho rằng đã gọi là đường dây nóng thì phải gọi ngay lúc việc xảy ra, bây giờ về đến nhà thì nguội mất rồi, không chấp nhận xử lý bởi vì đó là lỗi của tôi không chịu gọi ngay. Tôi thấy doanh nghiệp này chưa tôn trọng khách hàng.” Nguyễn Thị Bảo Ngọc (Vĩnh Long)

Chớ có “doanh nghiệp cách mạng” nào mà tôn trọng khách hàng nhưng phải chi khi bị ấn đầu ngồi xuống cái ghế (súp) Phó Chủ Tịch Nước mà Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thị Định, Nguyễn thị Bình, Trương Mỹ Hoa … cũng dám viết một cái thư lầu bầu mấy câu như trên thì cũng đỡ tủi cho oan hồn của MTGPMN – chút xíu.

ĐỜI NGƯỜI NGẮN NGỦI

Trang thơ Thái Bá Tân – Bài học cuộc sống

Thông điệp hôm nay

ĐỜI NGƯỜI NGẮN NGỦI

Cuộc đời người ngắn ngủi,

Như gió thoảng mây bay.

Chợt sinh rồi chợt chết,

Vùi sâu dưới đất dày.

 

Quãng thời gian ngắn ấy

Đáng lẽ ta, con người,

Sống đẹp và tận hưởng

Những niềm vui cuộc đời.

 

Ừ, đáng lẽ là thế,

Nhưng ta, vì vô minh,

Bon chen rồi đấu đá,

Tự mình làm khổ mình.

 

Bị cuốn vào cơn lốc

Của cái Tham Sân Si,

Ta sống như ma ám.

Chết mang theo được gì?

 

Người xưa đã từng dạy,

Với lương thực nghìn kho,

Ta ăn, ngày nhiều lắm,

Nửa đấu gạo là no.

 

Với hàng nghìn cung điện

Lộng lẫy, sáng như gương,

Trong khi ta, đơn giản

Chỉ cần một chiếc giường.

 

Ngày mưa và ngày nắng,

Đó là luật của trời.

Một chồng và một vợ,

Đó là luật của người.

 

Một khi đã là luật,

Thì hợp lý, hài hòa.

Sao đàn ông cứ thích

Ngủ với nhiều đàn bà?

 

Tiền cần lắm, hẳn thế.

Nhưng bao nhiêu là vừa.

Người có học, giác ngộ

Mới biết đủ và thừa.

 

Thế giới luôn sôi động.

Vất vả cuộc mưu sinh.

Ai cũng cố giành giật

Và vơ vét cho mình.

 

Cái vơ giành giật được

Tưởng nhiều mà không nhiều.

Tưởng sướng mà lại khổ,

Vì thiếu tình thương yêu.

 

Thiếu cái tâm tĩnh tại

Để hòa vào thiên nhiên.

Thiếu thời gian đọc sách

Để vươn tới cái thiền.

 

Trong khi, rất đơn giản,

Nên quan niệm thế này:

Tiền chỉ cần đủ sống

Và không phải đi vay.

 

Giàu nghèo không quan trọng.

Quan trọng là gia đình

Sống với nhau hòa thuận,

Có trách nhiệm, có tình.

 

Nhà to hay nhà nhỏ

Thì cũng thế mà thôi.

Chỉ cần có đủ chỗ

Để sống là tốt rồi.

 

Quần áo không quan trọng

Hàng hiệu hay hàng thường,

Miễn là đẹp, đủ ấm,

Lịch sự khi ra đường.

 

Con có là tiến sĩ

Hay đứa bán hàng rong,

Nếu biết sống tử tế,

Cha mẹ đã yên lòng.

 

Vợ xấu hay vợ đẹp,

Không đáng để bận lòng.

Quan trọng là đức hạnh

Biết thương con, yêu chồng.

 

Không quan trọng chức tước,

Danh vọng và tiền tài.

Quan trọng là sống thiện

An lạc và yên bài…

 

Vâng, đơn giản chỉ thế,

Khỏi giành giật làm gì.

Đời người quan trọng nhất

Là Hỉ Xả Từ Bi.

 

Las Vegas


 

Kẻ Đánh Mất Quốc Thể

Kimtrong Lam   Lương Văn Can 75.

CHUHONGQUY.

Xuất khẩu lao động (hình internet)

Năm mươi năm trước, lao động Nam Hàn sang Sài Gòn làm cửu vạn, bồi bàn.

Năm mươi năm sau, cũng người Hàn sang Việt Nam, nhưng là các chuyên gia cao cấp, nhà đầu tư tỷ đô. Dòng người ngược lại là culi Việt Nam ào ào chạy dạt đu càng sang Hàn Quốc làm nô lệ với đúng nghĩa của từ này. Không được hưởng quyền làm người tối thiểu là quyền chữa bệnh. Ốm đau không dám nằm viện vì sợ cảnh sát phát hiện lao động bất hợp pháp sẽ bị trục xuất về nước.

Trên quê hương của “người ra đi tìm đường cứu nước” Nguyễn Tất Thành, mới mấy ngày đầu năm nay đã có gần một vạn nam thanh nữ tú Nghệ An đội rét dưới mưa phùn gió Bấc để chen chúc nhau làm visa đu càng sang Hàn Quốc đi tỵ nạn lao động, làm culi trong các nông trại, nhà xưởng, hay dưới tàu cá với cuộc sống cùng cực. Mới cuối tháng trước, có người đã chết rét ở Đài Loan vì không dám bật lò sưởi khi thời tiết âm độ bởi không có tiền trả tiền điện.

Niềm tự hào Việt Nam – Quốc thể, nay còn gì?

Xin chia sẻ bài viết cũ của tiến sỹ Nguyễn Ngọc Chu, một người con xứ Nghệ, một bậc đại trí thức luôn đau đáu cho vận mệnh Dân tộc và quặn thắt nỗi đau vì Quê hương, Đất nước.

******

Kẻ đánh mất Quốc Thể chính là hàng chục cựu UVTƯ Đảng bị tống vào lò vì đã tàn phá tài sản nhà nước như Đinh La Thăng, Vũ Huy Hoàng, Trần Văn Minh, Nguyễn Văn Hiến…

Kẻ đánh mất Quốc Thể chính là các cựu UVTƯ Đảng hàng ngày rao giảng đạo đức, hàng đêm đếm tiền tham nhũng như Nguyễn Bắc Son, Trương Minh Tuấn…

Kẻ đánh mất Quốc Thể chính là các tướng lĩnh “thét ra lửa” lấy vỏ bọc chống tội phạm để phạm tội như Trần Việt Tân, Phan Văn Vĩnh, Bùi Văn Thành…

Kẻ đánh mất Quốc Thể chính là các quan phụ mẫu cướp đất của dân để làm giàu như Tất Thành Cang, Nguyễn Hữu Tín…

Kẻ đánh mất Quốc Thể chính là những Tư bản Cộng sản lợi dụng lỗ hổng cơ chế để biến sở hữu toàn dân thành sở hữu cá nhân như Vũ Nhôm, Út Trọc, Phạm Nhật Vũ…

Chính chúng đã đánh mất Quốc Thể. Chính chúng đã lũng đoạn quyền lực, làm khánh kiệt Quốc Gia, đẩy bao người dân vào cảnh khốn cùng phải bỏ quê hương ra nước ngoài kiếm sống.

Nhân tròn một năm (2018-2019), xin chia sẻ lại bài viết về Quốc Thể đăng ngày

29/12/2018.

___________________

Chiếc áo quốc thể duy nhất còn lại của họ là do tổ tiên truyền đời. Để mỗi lần đất nước lâm nguy, họ lại tự nguyện khoác lên mình hiến dâng cả tính mạng.

QUỐC THỂ – TRĂM ĐƯỜNG TRỐN CHẠY. CHUNG MỘT TỦI HỜN.

Chưa kịp giãi bày cuộc trốn chạy về phương Đông – nơi “Đất nước mặt trời mọc”, thì bàng hoàng nghe tin cuộc trốn chạy của 152 đồng bào đến Trung Hoa Dân Quốc.

Họ trốn chạy đến đó không phải để làm bộ trưởng, cũng không phải để làm giáo sư, giám đốc. Họ trốn chạy để làm những việc cơ cực, nặng nhọc, vì một đồng lương ngược đãi, cam chịu một thân phận rẻ rúng.

Thì vẫn biết hàng ngày hàng giờ, nhiều đồng bào phải rứt ruột bỏ quê hương mà đi. Nhưng vẫn nuốt nước mắt tự an ủi vì không nghe, không thấy. Điếc mù câm – đôi khi cũng có chút hữu dụng. Nhưng phải tự điếc, tự mù, tự câm, thì đó là khổ nạn.

CỬA ẢI NHẬP CẢNH

Bước xuống phi trường Kansai, dẫu có Visa nhập cảnh, đã chụp ảnh, lăn tay, photocopy hộ chiếu, người Việt Nam vẫn phải qua một cuộc sát hạch tại trạm xuất nhập cảnh. Người có hộ chiếu nhiều lần xuất nhập cảnh, đặc biệt là Visa vào Nhật Bản và các nước Âu Mỹ, biết khá tiếng Anh thì cuộc sát hạch nhanh chóng kết thúc. Ngược lại là chuỗi dài những câu hỏi.

Ngay cả những doanh nhân, có tiền, đến để làm việc, hay tham quan, mà xuất ngoại ít, yếu tiếng Anh, đều bị phỏng vấn dài. Trước khi cho qua, cảnh sát biên phòng còn dặn dò, đừng làm điều gì để ảnh hưởng đến người Nhật viết thư mời xin Visa.

Không phải họ lo cho mình. Mà họ lo cho chính đồng bào của họ. Tính cách Nhật đã tỏa sáng ngay từ biên giới nước Nhật.

Chạnh lòng, tìm hiểu nguyên nhân, thì biết rằng trước đó đã có người Việt bỏ trốn. Vừa đến “ Đất nước mặt trời mọc” mà mặt trời đã lặn trong tâm. Ngoài trời thì mới bình minh, mà trong lòng thì đã hoàng hôn.

HỌC KHÔNG XUỂ

Muốn đánh giá đời sống và nhịp sống của một nước, hãy đến ga tàu điện ngầm. Tàu điện ngầm ở Tokyo có hơn 300 ga. Tàu đi đúng từng giây. Phục vụ ở ga tàu điện ngầm khá nhiều người đứng tuổi. Những dòng người hối hả xuôi ngược liên tục cho đến đêm khuya. Hàng triệu người đi lại mà nhà ga và trên tàu sạch bong. Người Nhật không để lại thứ gì nơi mình ngồi. Tất cả được gói gém trong túi nilon mang theo người khi rời khỏi chỗ. Điều mà ngay cả ở trên máy bay ở Việt Nam cũng chưa làm được.

Những tòa nhà cao tầng xây nhiều chục năm vẫn đẹp. Trong khi khu vực mới của Hà Nội ở đường Phạm Hùng không tìm thấy được một tòa nhà bắt mắt. Để thấy sự cách biệt không bắt kịp, ngoài tự sướng bằng những sáo từ.

Người Nhật không nói đến Công Nghiệp 4.0, mà đâu đâu cũng ngập tràn công nghệ. Ngay cả trên đồng ruộng vùng nông thôn bao la cũng đan chen những “cánh đồng” pin mặt trời. Sự sáng tạo có mặt khắp mọi nơi. Không phải chỉ ở trong các phòng sáng chế của các tập đoàn lớn. Không chỉ ở các trường đại học và các viện nghiên cứu. Mà từ người làm bánh đến người trồng rau, người Nhật không ngừng sáng chế. Ở đâu, sản phẩm của người Nhật cũng không ngừng được hoàn thiện.

Là kẻ bại chiến, thế mà người Nhật đã trở thành đối thủ của bất cứ cường quốc nào.

Tính kỷ luật của người Nhật cũng không kém tính nguyên tắc của người Đức. Có khác chăng là ở hình thức thể hiện.

Đến bố mẹ mà còn không trung lập được với con cái, còn cảm tình người con này, ưu tiên người con kia. Thì đối với người dưng làm sao mà trung lập như nhau? Làm sao mà chúng ta có thể không có bạn bè, người thân, đứng một mình trong một thế giới biến động không ngừng?

Người Nhật luôn tìm kiếm cơ hội, tìm kiếm bạn bè, tìm kiếm đồng minh. Họ tìm kiếm cơ hội, bạn bè, đồng minh ở cả nước giàu lẫn nước nghèo, ở cả nước lớn lẫn nước bé, bao gồm cả nước mạnh lẫn nước yếu. Người Nhật là bậc thầy về tìm kiếm cơ hội, bạn bè, đồng minh. Vì thế mà họ đã hùng cường lại còn hùng cường hơn.

Người Nhật chu đáo với khách, nhưng càng rất chu đáo với chính người Nhật. Không ai nói ra, càng không hô khẩu hiệu, nhưng máu giống nòi mãnh liệt cuộn chảy trong máu mỗi người Nhật.

Chữ Nhật nhiều chữ giống Trung Quốc. Nhiều nơi người Nhật đề cả tiếng Anh lẫn tiếngTrung Quốc. Có khá nhiều người Trung Quốc. Nhưng những người Trung Quốc ở Nhật đã cam chịu tính cách Nhật. Không lỗ mãng nghênh ngang, ồn ào, bẩn, trắng trợn đòi trả Nhân Dân Tệ như ở Đà Nẵng hay Nha Trang. Người Trung Quốc ở Nhật đã nhập gia tùy tục, nép mình trong khuôn mẫu của pháp luật và luân lý Nhật.

Đi đến đâu cũng thấy phải học. Học không xuể.

TRĂM ĐƯỜNG TRỐN CHẠY. CHUNG MỘT TỦI HỜN.

Trong chiến tranh, chúng ta có dòng người trốn chạy. Hòa bình vẫn tiếp tục trốn chạy.

Đến bây giờ vẫn không ngừng trốn chạy.

Trong chiến tranh, dòng người trốn chạy chủ yếu là do chính trị. Thì nay, không chỉ vì chính trị, mà còn những nguyên do khác.

Kẻ có tiền trốn chạy bằng thẻ xanh.

Kẻ ít tiền trốn chạy để bán sức lao động.

Kẻ vay tiền trốn chạy bằng mạo hiểm sinh mạng.

Kẻ trốn chạy cầu mong tình duyên.

Kẻ trốn chạy kiếp đời nô lệ tình dục.

Kẻ trốn chạy bán cả giọt máu đào nòi giống.

Kẻ trốn chạy bị cướp đi nội tạng.

Kẻ trốn chạy để tìm cơ hội hợp tác.

Kẻ trốn chạy để tìm kiếm kiến thức.

Kẻ trốn chạy vì đời sống an toàn…

Trăm đường trốn chạy.

Chung một tủi hờn.

BAO GIỜ THÌ ĐỒNG BÀO THÔI KHỎI PHẢI TRỐN CHẠY?

Khi mà xuất khẩu lao động còn là chỉ tiêu góp phần tăng GDP và ngoại tệ cho Chính phủ, thì chừng đó đồng bào còn mãi phải trốn chạy.

TRỐN CHẠY VỀ ĐÂU?

Trốn chạy về phương Tây.

Trốn chạy về phương Đông.

Nếu có thể, đã trốn chạy lên sao Kim, sao Hỏa.

QUỐC THỂ? TẠI SAO LẠI PHẢI TRỐN CHẠY?

Một Dân Tộc đã vượt qua những năm dài chiến tranh khốc liệt thì không thể không vượt qua được những khó khăn mưu sinh. Cái gốc, với nhiều người trốn chạy, là do môi trường mưu sinh chưa tốt, chưa tốt đến nỗi phải thúc ép họ đi tìm môi trường mưu sinh ở xứ người.

Từ đó để thấy được, cải thiện môi trường mưu sinh là cực kỳ quan trọng và cấp bách. Đừng tự ru ngủ bằng những bình chọn mơ hồ “thành phố đáng sống”, “đất nước đáng sống”, “con hổ”, “con rồng” – trong khi hàng ngàn đồng bào phải kéo nhau vượt biên xa xứ.

Chúng ta vui mừng vì lần đầu tiên tăng trưởng GDP vượt 7%. Chúng ta vui mừng vì GDP đạt 245 tỷ USD. Những điều đó không sai.

Nhưng một đất nước 95 triệu dân mà đạt GDP chỉ có 245 tỷ USD, trong khi Singapore chỉ có dân số 5 triệu 638 ngàn 700 người lại có GDP là 349 tỷ 659 triệu USD. Quốc thể chúng ta ở đâu?

Trong cuộc trốn chạy của hàng chục ngàn đồng bào có lỗi của mỗi chúng ta. Chúng ta đã không chung tay để thay đổi môi trường sống về hướng tốt hơn. Chúng ta cam chịu một môi trường sống ngày càng thêm ô nhiễm.

Môi trường mưu sinh trùm chứa nhiều bình diện của một kiếp người, không đơn thuần chỉ là miếng ăn, kiếm sống.

Nhìn đồng bào của mình bị còng tay dắt đi trong con mắt khinh rẻ của người, một nỗi xót thương quặn thắt trào dâng nghẹn họng. Cũng là cùng kiếp người, sao thân phận đồng bào mình bị đẩy trôi đến lớp đáy của xứ người? Ai đã buộc họ đến nông nỗi này?

Nhớ lại đoạn phim thời sự.Tổng thống Kennedy đã bỏ họp ra khỏi phòng khi nhìn thấy cảnh hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Ông tự nói rằng, bên đó chính quyền phải làm những điều gì đó mới đẩy nhà sư đến hoàn cảnh tự thiêu như thế này.

Khi người Đông Đức vượt tường Berlin sang Tây Berlin bị phơi xác trên tường, nghĩa là có điều gì ở Đông Đức buộc họ phải mạo hiểm tính mạng sang Tây Đức.

Khi người Duy Ngô Nhĩ phải trốn sang Móng Cái để đến nước thứ ba, nghĩa là chính quyền Trung Quốc đã làm điều gì đó ở Tân Cương buộc họ phải rời bỏ quê hương.

Người có tầm nhìn là thấy nguyên nhân qua hiện tượng. Người Đài Loan và thế giới sẽ hỏi tại sao người Việt Nam phải vay mượn, bán tài sản để trốn sang Đài Loan làm những việc cặn đáy? Người đánh mất quốc thể không phải là những người bỏ trốn!

Mà chính chúng ta mới là người đánh mất quốc thể. Chính chúng ta, những kẻ có tiền, có quyền, có chữ – những kẻ uống chai rượu mười tấn thóc, đi chiếc xe trăm con trâu, lại may cho người dân chiếc áo quốc thể mạng nhện, chưa khoác đã tan biến trong gió mưa đói rét.

Chiếc áo quốc thể duy nhất còn lại của họ là do tổ tiên truyền đời. Để mỗi lần đất nước lâm nguy, họ lại tự nguyện khoác lên mình hiến dâng cả tính mạng.

Không yêu tư tưởng nào cả. Không yêu chủ nghĩa nào cả. Hãy yêu lấy đồng bào của mình.

Hãy yêu lấy giống nòi của mình. Chỉ khi người cầm quyền biết thở không khí của nhiều kiếp phận, không thở không khí của phòng họp nhiều ngàn tỷ, thì dòng người trốn chạy tất sẽ tự dừng, chiếc áo quốc thể tự nhiên sẽ chói sáng.

CHUHONGQUY

(TS. Nguyễn Ngọc Chu đăng ngày 29/12/2018)


 

Chủ tiệm bánh Kim Ninh đặt tình thương vào bánh, và làm ‘cho đã cái nư’

Ba’o Nguoi-Viet

February 26, 2024

Đoan Trang/Người Việt 

WESTMINSTER, California (NV) – Nếu ai ở California từng phải đặt bánh pía và các loại “bánh tuổi thơ” của tiệm bánh Kim Ninh bên Dallas, Texas, thì nay chẳng cần đi đâu xa, vì Kim Ninh Bakery nay đã có tại Westminster, trung tâm Little Saigon. 

Vợ chồng chủ tiệm bánh Kim Ninh trên đường Westminster. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Từ Texas sang California

“Lấy chị mấy cái bánh quai vạt đi cô chủ,” chị Phượng Tôn ở Westminster vừa bước vào đã nhanh chóng “order” loại bánh mà theo chị, mấy chục năm rồi mới được ăn lại.

Trong lúc chờ lấy bánh, chị Phượng kể, hồi nhỏ ở Việt Nam, chỉ khi vô chùa chị mới được ăn bánh quai vạt, sau này người ta chiên, bán ở lề đường.

“Tôi sang Mỹ lâu lắm rồi, giờ mới biết tiệm bánh Kim Ninh có bán bánh này, mừng húm, dù bị đường cao nhe, mà thèm quá, cứ mua ăn đại, rồi uống thuốc,” chị vừa cười vừa nói.

Cô chủ tiệm bánh Kim Ninh tên là Trịnh Mỹ Yêm. Tên khó gọi, nên chị nói từ nhỏ, mọi người gọi chị là “Kim con” vì ba của chị tên Kim, chủ tiệm bánh lớn Vĩnh Kim, ở Buôn Mê Thuột.

Năm 2005, chị lập gia đình và theo chồng sang Mỹ định cư, sống bên Dallas, Texas. Sau khi sanh được ba người con, năm 2011, chị quyết định mở tiệm bánh – nghề truyền thống ba đời của gia đình.

“Thật ra mấy năm ở nhà sanh và nuôi con, mình đã làm bánh bán tại nhà, vì ngoài nghề làm bánh, mình không biết làm gì khác,” chủ tiệm bánh Kim Ninh, mà chúng tôi cũng gọi tên thân mật là Kim, kể.

Lúc mới qua Mỹ được một tháng, vào Tháng Sáu, 2005, mẹ chồng chị được biếu hộp bánh từ một tiệm nổi tiếng bên California, bà ăn mà tấm tắc khen ngon. “Nổi máu” làm bánh, chị liền ăn thử, rồi chê, và nói với mẹ chồng: “Mẹ muốn, con sẽ làm cho mẹ ăn.”

Bà mẹ chồng ăn thử bánh con dâu làm, thấy ngon quá, liền kêu chị làm thêm để đem biếu. Vì ba mẹ chồng của chị Kim làm việc trong cộng đồng người Việt ở Dallas, nên quen biết nhiều người, ai ăn cũng khen, rồi đặt mua.

“Đặc sản” của Kim Ninh là bánh pía. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Năm đầu tiên xa quê, chị vừa vác bụng bầu, vừa làm bánh bán. Nhà có cái lò nướng nhỏ xíu, một lần nướng chỉ được bốn cái, nên chị làm tới khuya cũng chưa xong. Nhưng vừa nhớ nhà, vừa nhớ nghề, chị làm mãi mà không biết mệt là gì. Năm đó, chị làm được 200 hộp bánh. Người ăn khen ngon, chị… sướng quá, nên năm kế tiếp chị nhận làm tới cả ngàn hộp, và số bánh đặt cứ tăng dần vào những năm sau.

Chị kể, khách hàng đặt bánh hay nói: “Muốn ăn bánh con làm, bác phải chờ cả năm, thôi mở tiệm đi, để ngày nào bác cũng có bánh ăn.”

Nhưng vì con còn nhỏ, dù muốn lắm, vẫn phải chờ cho đến khi cậu út được 1 tuổi, chị mới mở tiệm.

“Lấy chồng qua Mỹ, cứ nghĩ sẽ phải bỏ nghề truyền thống gia đình, ai dè, mình không vái ông tổ, mà ông tổ qua tới đây luôn,” chị Kim nói. “Biết bố mẹ chồng lo cho chồng mình ăn học đến nơi đến chốn, nên khi mở tiệm bánh, mình bàn: ‘Bố không phải là người trong nghề, nhưng để cảm ơn bố, và muốn mọi người gọi tên bố mỗi ngày, tiệm của mình sẽ ghép tên bố anh và bố em.’ Ninh là tên bố chồng mình, nên tiệm có tên Kim Ninh là vậy đó.”

Năm 2022, khi chồng của chị nghỉ hưu, anh chị quyết định chuyển sang California sinh sống, để được hưởng thời tiết mát mẻ, thuận hòa.

“Lúc mới sang đây, mình thấy ok, nhưng một hôm nghe văn phòng nha sĩ nhắc đi làm răng, có câu ‘ngày hẹn của chị đúng Tết Trung Thu nhe.’ Đang vui vẻ, tự nhiên nghe tới từ ‘Trung Thu’ mình mệt ngang, cảm giác buồn mà ‘không biết vì sao tôi buồn,’ rồi nằm dẹp lép cả chục ngày trời, không ăn, không uống, giống như mắc cái bệnh gì ghê gớm lắm,” chị Kim kể.

Thật ra chị buồn vì không được làm bánh, chứ chẳng có bệnh tật gì cả. Tháng Tám, 2023, chị quyết định mợ tiệm bánh trên đường Westminster, giữ nguyên tên Kim Ninh.

Chị Phượng Tôn (phải) dù bị cao đường vẫn thích ăn bánh Kim Ninh. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Ba đời làm bánh 

Chị Kim nói, ông bà nội ngoại và ba mẹ chị đều là người Hoa. Sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, nên chị giỏi tiếng Việt hơn tiếng Hoa. Ông ngoại của chị Kim, một trong những người đầu tiên làm bánh pía ở Việt Nam, vừa làm thầy giáo, vừa làm bánh.

Ông bà ngoại của chị có sáu người con, các cậu các dì đều làm bánh, có tiệm trên Pleiku, như Thái Sơn, Mỹ Ngọc, Kim Vinh,… Bố mẹ chị cũng theo nghề gia đình, mở tiệm bánh Vĩnh Kim. ở Buôn Mê Thuột, sau đó ông bà tách riêng, bà dọn lên Pleiku mở tiệm bánh Kim Sơn.

Năm 15 tuổi, chị Kim được mẹ giao hết “tài sản” của tiệm, chủ yếu là mối lái, để chị chủ động đặt hàng, giao hàng đi khắp nơi, các tỉnh miền Tây, qua tới Lào, Cambodia.

“Cực nhất là Tháng Tám, vào mùa Trung Thu, ngày nào cũng vậy, 2 giờ sáng mình vẫn chưa được về nhà, vì phải lo bỏ mối, rồi lấy bánh ở tiệm bán chậm đưa qua tiệm bán chạy, để bánh không bị tồn,” chị Kim nhớ lại. “Bỏ mối hơn 40 tiệm chứ có ít đâu. Có lần làm cực quá vừa xuống xe là xỉu, thợ thầy khiêng vô nhà thương, vì tưởng mình đi toong, ai cũng nói đó là ngày giỗ của mình. Nhưng nằm có một đêm, sáng ra mình tỉnh dậy khỏe ru!”

Chị Loan Trần (bìa phải) có tiệm ở Los Angeles, tới mua bánh để tặng nhân viên. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Tôi thắc mắc, không biết chị được cha mẹ truyền nghề cho khi nào, mà có thể một mình đứng tiệm từ Texas, sang tới California, mà không thuê bất cứ người thợ nào khác.

Chị cười, nói: “Thiệt ra hồi mình còn nhỏ, mẹ không cho làm bánh đâu, mà bắt rửa chén, lau chùi, quét dọn, đó là những việc thợ không làm. Mẹ nói: ‘Muốn làm chủ phải biết từ chuyện nhỏ nhất, thì mới thành công.’ Nhà làm bánh bán sỉ, nên khoảng 10, 12 tuổi, mẹ đã cho đi bỏ bánh, giao hàng, thu tiền. Đến năm 13 tuổi mới được đi nhận đặt hàng.”

“Còn làm bánh hả? Hình như nó ngấm từ trong máu, chẳng biết tự bao giờ, mà lớn lên là mình biết làm đủ loại bánh, bánh quai vạt, bánh dừa, bánh in, bánh phục linh, Trung Thu thì làm bánh dẻo, bánh nướng,… mà ‘đặc sản’ vẫn là bánh pía.”

Chị Kim nói, 11 năm bán bánh ở Dallas, cho đến khi mở tiệm ở Orange County, chị đều làm một mình, từ đi mua nguyên vật liệu, làm bánh, bán hàng, dọn dẹp,… tất tần tật mọi thứ, mà không cần người phụ, vì chị làm đúng như lời mẹ dặn, là phải biết làm từ chuyện nhỏ nhặt nhất.

Xấp bao thơ là những tấm chi phiếu khách hàng gửi trả tiền cho tiệm, sau khi nhận được bánh. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Làm cho đã cái nư, không cần sự nổi tiếng

“Mùa Trung Thu thì có các con và chồng phụ, thỉnh thoảng mướn thêm vài người Mễ dọn dẹp. Ngày mình làm 18-20 tiếng, nhưng không mệt, vì khách vô khen là thấy khỏe. Ai nhìn thấy mặt mày bơ phờ, bột dính tùm lum khắp người, nói ‘Ôi trời, sao em cực vậy, tội quá!’ Nhưng mình thấy vui, khỏe mà, làm cho đã cái nư, không cần nổi tiếng, lời lỗ tính sau,” chị Kim nói.

Đang rôm rả kể chuyện, khách lại vô, chị Kim đứng dậy chào đón.

Cô Phước Trần, nói mình là khách quen của Kim Ninh, chia sẻ: “Tui dân Dallas nè, con gái dọn qua đây, tui đi theo. May sao giờ Kim Ninh cũng qua luôn, mừng quá!”

Tưởng tôi là khách, cô Phước quay qua giới thiệu: “Mua đi, nó làm bánh ngon lắm đó! Mà kêu tặng nó tặng liền hà. Đúng nhận sai cãi, nhỏ kia!”

Chị Kim gật đầu: “Dạ đúng!”

Cô Phước tiếp: “Thấy chưa, tui biết nó quá mà. Ăn bánh nó làm, riết ghiền đó nha!”

Nhớ lại lúc sáng, khi thấy chị Loan Trần ở Los Angeles ghé mua bánh để tặng nhân viên trong tiệm nail, hỏi bánh này ngon không, bánh kia thế nào, chị Kim cắt bánh mời ăn thử, khách khen ngon, chị còn tặng thêm bánh để… ăn cho đã, vì là người ở xa.

Gia đình chị Kim tại tiệm bánh Kim Ninh hồi còn ở Dallas, Texas. (Hình: Nhân vật cung cấp)

“Bán bánh lời bao nhiêu mà sao thoải mái đem tặng và cho ăn thử vậy chị?” tôi hỏi.

“Người bỏ tiền ra mua bánh sẽ không biết bánh đó ngon hay dở, mình cứ mời họ dùng thử, bánh mình ngon thì không sợ lỗ, vì khách sẽ quay lại. Mình tự tin 100% là khách sẽ quay lại,” chị Kim trả lời.

Bác Cúc Phan, 82 tuổi, ở Reno, Nevada, tới mua bánh, kể: “Hôm qua bác bay xuống Los Angeles là kêu người cháu lái xe tới Kim Ninh để mua bánh cho em gái. Em bác ăn ngon, nên hôm nay bác quay trở lại mua thêm đó mà.”

“Cũng làm bánh pía, và các loại bánh thông thường khác, vậy bánh Kim Ninh khác bánh nơi khác ở điểm nào, mà nhiều khách ghiền quá vậy?” tôi lại hỏi.

Vừa nâng niu, sắp xếp lại quầy bánh, chị Kim vừa trả lời: “Khác chứ, vì bánh Kim Ninh có tình thương của người làm bánh đặt vào trong đó. Bữa nào giận ông chồng, hoặc có chuyện buồn, mình không làm bánh, vì biết chắc bánh hôm đó sẽ không ngon. Làm dở mất công đi xin lỗi khách.”

“Chị có bí quyết, hay công thức đặc biệt nào không?”

“Công thức y chang nhau thôi, nhưng công thức của mình có tình thương, có tình cảm trong đó. Chiếc bánh giống như con mình, nó nhúc nhích một chút là mình biết nó muốn cái gì, cần gì, để thêm bớt, hay thay đổi,” chị Kim tâm sự. “Lúc Kim Ninh thành công bên Dallas, có người muốn mua công thức với giá $1 triệu, nhưng mình từ chối, vì tình thương thì không mua bán gì được. Nhưng nếu biết chắc ai thương bánh như mình, là người có đạo đức, mình sẵn sàng đưa công thức, mà không lấy một xu!”

Tiệm bánh Kim Ninh trên đường Westminster. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Vì tiệm mới mở được sáu tháng, nên không có nhiều khách California, nhưng bù lại, chị Kim vẫn có khách đặt từ 50 tiểu bang, và cả ở ngoại quốc, như Úc.

Chỉ một xấp bao thơ trên bàn, chị giải thích: “Khách đặt hàng, mình gửi bánh đi, họ trả tiền sau bằng chi phiếu, có cả thơ cảm ơn trong đó nữa. Có người tới tiệm mua cả trăm đồng tiền bánh, không đủ tiền trả, mình nói đi đi, khi nào có, tới trả cũng được, mà hồi nào tới giờ, mình chưa bị ai quỵt.”

“Mình may mắn được làm chủ, vì nếu làm công, mình sẽ không có được quyền chăm sóc khách hàng như vậy. Lúc đóng cửa bên Dallas, mình khóc quá trời, mấy bác cũng khóc, nói sẽ nhớ bánh Kim Ninh lắm. Đó là niềm động viên mình phải làm bánh giỏi hơn, ngon hơn, thương khách hơn, yêu khách hơn.”

——
Liên lạc tác giả: doantrang@nguoi-viet.com