Nguyên nhân VNCH sụp đổ ngày 30-4-1975 (Kỳ 4)

 Ba’o Tieng Dan

Trương Nhân Tuấn

3-4-2024

Tiếp theo kỳ 1 — kỳ 2 và kỳ 3

Kỳ 4: Về tập phim “The Vietnam War”

Đâu là “chính nghĩa” của CSVN trong chiến tranh Việt Nam?

Cứ mỗi lần có cuốn phim, hay quyển sách nào đó nói về chiến tranh Việt Nam được trình làng, thì cứ y như vậy, người Việt, bất kể là sử gia, chính trị gia, nhà nghiên cứu… lại bàn tán sôi nổi chung quanh. Kẻ phản đối, người ủng hộ. Đến nay đã có hàng chục tập phim lịch sử (của các quốc gia như Pháp, Mỹ…) đã trình chiếu, hàng trăm cuốn sách, cùng với hàng ngàn bài báo (với hàng tấn tài liệu được bạch hóa) đã công bố hay xuất bản. Vấn đề là không thấy (hay ít thấy) cuốn phim hay cuốn sách nào làm hài lòng tất cả các phía.

Tập phim “The Vietnam War” vừa phát hành cũng vậy. Nhiều tiếng nói phê bình trong và ngoài nước đã cất lên, hầu hết để biểu lộ sự không đồng tình. Đa số ý kiến phát biểu đều tỏ vẻ thất vọng (thậm chí cay đắng). Thật vậy, nếu có xem những tập phim đã từng xuất bản, hay có đọc những tập tài liệu của các tác giả viết về chiến tranh Việt Nam, ta thấy rằng tập phim “The Vietnam War” thành hình trên những sự kiện lịch sử được chọn lựa trước. Rất nhiều sự kiện lịch sử quan trọng khác thì bị bỏ sót, hay đơn giản hóa.

Tập phim khó có thể trở thành một tập phim “lịch sử”, như tham vọng của các nhà đạo diễn. Trong chừng mực nó (có thể trở thành) một bộ phim chủ về tuyên truyền, “định hướng dư luận”. Nói theo ý của một nhà báo lão thành hải ngoại, mục đích ra đời tập phim là nhằm chuẩn bị dư luận, một thủ tục “dọn sân” cho “đồng minh nhảy vào”.

Thời gian làm phim kéo dài tới 10 năm là quá dài. Tất cả hình ảnh trong phim, kể cả ý kiến phần lớn những nhân chứng, khán giả nào có quan tâm đến thời cuộc, nếu không từng xem qua (déjà vu), bằng không là đọc qua, ở một phim, hay một cuốn sách nào đó đã xuất bản trước đó. Theo dõi từ đầu đến cuối, ta không thấy một dữ kiện nào mới.

Về phía đảng và nhà nước CSVN, thay vì giữ thái độ im lặng hay “mạnh mẽ phản đối” như thói quen, đã có “phát biểu đáp từ”. Báo chí ghi nhận lời phát biểu của phát ngôn nhân Lê Thị Thu Hằng hồi đầu tuần trước như sau:

“Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam là cuộc kháng chiến mang tính chính nghĩa, đã phát huy được sự đoàn kết và sức mạnh của toàn dân tộc, được bạn bè và nhân dân trên toàn thế giới hết lòng ủng hộ… Những bước phát triển tích cực trong quan hệ đối tác toàn diện Việt Nam – Hoa Kỳ vừa qua là kết quả của những nỗ lực to lớn của hai nước và chủ trương của Việt Nam về việc gác lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng tới tương lai”.

Thật là “nhịp nhàng” ăn khớp. Tập phim một mặt nhằm chứng minh thiện chí của Mỹ “vượt qua khác biệt”, “gác lại quá khứ”… mặt khác, (mặc nhiên) nhìn nhận tính “chính nghĩa” của cuộc chiến thuộc về phe CSVN. Việc này củng cố ý kiến cho rằng, phía Hoa Kỳ cho xuất bản bộ phim này là để chuẩn bị tâm lý nhân dân hai nước Việt – Mỹ không bị chới với “khi đồng minh nhảy vào”.

Nhưng vấn đề đâu có đơn giản như vậy. Đâu là “chính nghĩa” của CSVN trong “cuộc kháng chiến chống Mỹ”?

Về cuộc chiến, người Mỹ gọi là “chiến tranh Việt Nam”. Tên gọi trung dung, như thói quen đặt tên các cuộc chiến như “chiến tranh Triều Tiên”, “chiến tranh vùng Vịnh”, “chiến tranh Iraq”, “chiến tranh Kuwait”… Người Mỹ đổ quân vào Việt Nam, cũng tương tự đã đổ quân vào Tây Đức, Nhật, Nam Hàn, hay ở các cuộc chiến khác, với những “lý lẽ pháp lý” khác nhau. Mục đích để biện minh sự can dự của Mỹ vào cuộc chiến phù hợp với tinh thần “jus ad bellum – quyền can dự vào chiến tranh”, theo định nghĩa các công ước quốc tế (về chiến tranh). Điều này sẽ trở lại phần dưới.

Mở đầu tập phim, như để chứng minh “chính nghĩa” thuộc về phe Cộng sản Bắc Việt, các đạo diễn đã “tuyển chọn” những tài liệu “thuận lợi” nhằm giới thiệu nhân vật Hồ Chí Minh, ca ngợi tài năng và đức độ của ông này. Trong khi nhiều tài liệu (quan trọng) khác, mô tả ông Hồ như là một kẻ “thời cơ chủ nghĩa”, thì các đạo diễn bỏ qua.

Lá thư gởi Tổng thống Pháp ngày 9-11-1911 xin vào học ở trường Hành chánh thuộc địa của Pháp là một thí dụ. Lá thư này cho thấy, mục đích của ông Hồ lúc “xuống tàu ở bến Nhà Rồng” không phải là “tìm đường cứu nưóc” như đã tuyên truyền, mà sự thật là tìm lối thoát cho bản thân, bằng cách xin được làm tay sai cho Pháp để cai trị dân bản xứ. Nhiều tài liệu khác (cũng bị bỏ qua), chứng minh ông Hồ chỉ mà một cán bộ “xách động và tuyên truyền – agiprop” của cộng sản quốc tế do Liên Xô lãnh đạo. Tài liệu khác của Trung Quốc mới công bố, cho thấy ông Hồ là một sĩ quan (thiếu tá) trong đạo hồng quân của Mao Trạch Đông.

Một người “đa diện”, “quốc tế” như vậy thì không thế là “nhà ái quốc” rồi!

Tập đầu “Déjà vu” có nghĩa là “đã xem qua, đã thấy rồi”. Tựa đề như vậy nhưng các đạo diễn lại không thấy chiến thắng Điện Biên Phủ là do công lao của Trung Quốc. Vũ khí, đạn dược, quân lính, cố vấn… đều đến từ Trung Quốc. Hiệp định Genève, nói là Pháp đàm phán với phe ông Hồ, mà thực ra là Pháp đàm phán với Châu Ân Lai. Chia cắt Việt Nam ở vĩ tuyến 17 là ý kiến của họ Châu chớ đâu phải ý kiến của ôn,g Hồ.

Tài liệu từ nhiều phía (có can dự) viết về chiến thắng Điện Biên Phủ, như Trung Quốc, nhưng các đạo diễn chỉ chọn tài liệu từ phía CSVN.

Còn về phía VNCH, không ai chịu so sánh ông Diệm, ông Thiệu thời đó với những lãnh tụ đồng thời ở các nước châu Á. Ông Thiệu, ông Diệm làm gì độc tài hay tham nhũng bằng Marcos của Phi, bằng Sukarno của Indonesia, hay với cán bộ CSVN bây giờ?

Nếu mấy ông tướng tá VNCH tham nhũng, tiền bạc đầy túi như cán bộ CSVN bây giờ, tại sao sau khi tan hàng 1975, ra nước ngoài ông nào cũng phải đi làm cu li, làm việc “thúi móng tay” để có nhà ở, cơm ăn, hết vậy?

Trong một đất nước bị chiến tranh, trí thức “phản chiến” chỉ chú mắt vào các hành vi “bảo vệ an ninh nội địa” để lên án phía VNCH là “độc tài”, vi phạm nhân quyền. Các nước như Thái Lan, Miến Điện, Singapore, Mã Lai, Indonesia… ngay thời điểm bây giờ, nếu so sánh với VNCH ngày trước, thì chế độ VNCH thời đó vẫn “tự do” và “dân chủ” gấp nhiều lần hơn.

Dân chúng miền Nam ngày xưa muốn biểu tình là biểu tình, nhà báo muốn chửi “Thọ chiếu” (chửi tổng thống Thiệu là Thiệu chó) là chửi. Chẳng có ai bắt bớ, đánh đập, bỏ tù… VNCH ngày đó làm gì có các điều 79, 88, 258… như Việt Nam bây giờ?

Không một ai thử đặt vấn đề về tình trạng dân chủ, nhân quyền ở miền Bắc thời đó. Ngay cả bây giờ cũng không thấy ai đặt vấn đề về chế độ độc tài công an trị hiện tại ở Việt Nam.

Trong chiến tranh, các đạo diễn đề cao tinh thần chiến đấu của bộ đội miền Bắc, đồng thời mạt sát quân VNCH là “hèn nhát”. Rõ ràng đây là một “thành kiến”. Với một thành kiến như vậy thì còn gì là tính “khoa học, khách quan” để có thể xếp tập phim này là tập phim “lịch sử”?

Bởi vì nếu so sánh “tinh thần chiến đấu” của quân đội VNCH với các quân đội các nước mà Mỹ từng sánh vai chiến đấu như quân đội Nam Hàn (trong cuộc chiến 1951-1953), quân đội Afghanistan (sau khi đánh Taliban), quân đội của Iraq (sau khi lật đổ Sadam Hussein)… thì rõ ràng quân VNCH vượt trội cả cái đầu.

Chiến tranh Triều Tiên, lúc đầu quân Nam Hàn đã bị quân Bắc Cộng đánh tơi bời, rượt chạy “sút quần”, cho tới Pusan (kiểu mũi Cà Mau của Việt Nam). Nếu không có Mỹ và LHQ đổ quân kịp thời “cứu giá”, thì Nam Hàn coi như “đứt bóng”.

Trong khi tinh thần quân Mỹ ở các cuộc chiến “chống khủng bố” ở Iraq hay Afghanistan, kể cả quân đội của hai nước này, cũng không hơn gì lính VNCH hồi đó (nếu không nói là thua xa).

Đánh với một bọn du kính Hồi giáo được trang bị AK47, không có Tàu, Nga ủng hộ sau lưng mà đánh hoài không thắng. Ở Iraq và Afghanistan, Mỹ cũng theo sách vở ở Việt Nam “đồng minh tháo chạy”, bỏ lại biết bao nhiêu vũ khí, quân trang, quân dụng để chạy lấy người. Mỹ vừa rút thì các quốc gia này tức thời bị sụp đổ. Quân IS vào tới đâu thì lính bỏ súng chạy tới đó. Bọn “Nhà nước Hồi giáo” (tức IS) hôm nay, họ “đánh Mỹ” bằng vũ khí của Mỹ bỏ lại. Quân đội Iraq và Afghanistan do Mỹ đào tạo dựng lên, sụp đổ trong một thời gian ngắn kỷ lục.

Nhìn các quốc gia Iraq, Afghanistan đang bị “giải thể”, các thành phố cổ kính bị tan nát bởi chiến tranh, hàng chục triệu nạn nhân chiến tranh… ta mới thấy sự bất lực của “sức mạnh Mỹ” cũng như sự vô trách nhiệm của giới lãnh đạo Mỹ.

Quân Việt Cộng hồi đó có khác chi với quân IS bây giờ? Họ đánh bằng lòng thù hận, dám “thí mạng cùi”.

Vấn đề là người Mỹ không chỉ bỏ chạy, mà lại còn “trói tay” VNCH bằng cách không viện trợ quân sự. Kết luận rằng, quân CSVN vào tới đâu thì lính VNCH bỏ chạy tới đó là một sự phỉ nhổ vào lịch sử. Cuộc chiến tăng cường độ thì Liên Xô và Trung Quốc càng tăng nhịp điệu viện trợ. Quân VNCH bắn hết đạn thì phải tháo chạy thôi.

Vấn đề là người Mỹ “tháo chạy” giao dân tộc Việt Nam lại cho “đảng cộng sản Việt Nam”. Bây giờ nhìn lại, cả dân tộc Việt Nam đang chịu nạn “nội xâm”. Chúng ăn của dân không từ một thứ gì.

Giải phóng “ách kềm kẹp của Mỹ Ngụy”, rốt cục cả nước lọt vào gông cùm của cộng sản phi nhân.

“Chính nghĩa” nào trong cuộc chiến, cho phía CSVN, nếu không phải là Mỹ đã trịnh trọng dâng cho họ vòng nguyệt quế?

Các đạo diễn lựa chọn các hình ảnh chiến tranh, biểu hiện đủ các mặt tội ác. Nhưng họ chỉ lựa chọn các mặt thấy được gây ra do lính Mỹ, lính VNCH, trình chiếu cho khán giả.

Bộ mặt tội ác phía bên kia, nào là đào mô đắp đường, giật mìn xe đò, pháo kích vào chợ búa trường học, đặt chất nổ ở nhà hàng, ném lựu đạn vào đám đông, ám sát v.v… thì không nói tới.

Những “tội ác” do lính Mỹ gây ra, không phải viết ra là để biện hộ, nhưng nguyên nhân là do du kích Việt Cộng trà trộn trong dân, núp trong dân bắn lén vào lính Mỹ. Hầu hết các đợt càn quét, các cuộc “thảm sát” (Mỹ lai, Bến Tre…) đều xảy ra đúng như vậy.

Nhìn lại cuộc chiến mà bọn khủng bố IS đang (thua) ở Iraq, Syria… ta thấy quân IS không khác một mảy may nào với Việt Cộng. Nhân chứng cuộc chiến là nhà văn Nguyên Ngọc có thố lộ là quân Việt Cộng trà trộn vào trong dân, sử dụng dân chúng như là tấm bia đỡ đạn.

Về “chính nghĩa”, nếu phía CS miền Bắc có “chính nghĩa”, tại sao không có người miền Nam chạy đi xin “tị nạn” ở miền Bắc? Người ta chỉ thấy ngược lại, các chiến binh miền Bắc xin “hồi chánh” ở lại miền Nam.

Cũng vậy, mỗi lần quân CS ra chiến dịch tấn công, là mỗi lần dân chúng chạy về phía “quốc gia”, không ai chạy về “vùng giải phóng”.

Sau khi chiếm được miền Nam, hàng triệu người dân miền Nam thà chết trong bụng cá chớ không chịu ở lại với cộng sản. Cho đến bây giờ, 99% người dân Việt Nam, kể cả cán bộ đảng viên CS, mong muốn của họ là bỏ nước Việt Nam qua Mỹ, Úc, Canada hay các xứ châu Âu để sống.

Nếu “có chính nghĩa” thì tại sao dân chỉ muốn bỏ nước ra đi?

Về “chiến tranh”, trên quan điểm quốc tế, một số học giả gọi chiến tranh Việt Nam là một cuộc “chiến tranh ý thức hệ”, mang tính “quốc tế”. Phía miền Bắc được khối cộng sản yểm trợ, phía miền Nam được khối tư bản, do Hoa Kỳ đại diện chống lưng. Chiến tranh Việt Nam là thí điểm nóng của “chiến tranh lạnh”.

Vậy “chính nghĩa” đứng ở phía nào, trong khi khối cộng sản thế giới đã sụp đổ?

Cuộc chiến Việt Nam còn được các sử gia quốc tế gọi dưới tên khác là “chiến tranh ủy nhiệm”.

Trong chiến tranh, miền Bắc được phe XHCN giúp từ “a đến z”, thực phẩm, thuốc men, cây súng, viên đạn, xe tăng, đại pháo, hỏa tiễn… cho đến nhân sự (như chuyên gia kỹ thuật), phần lớn từ Liên Xô, Trung Quốc. Miền Nam thì súng đạn, tiền bạc của Hoa Kỳ. Cả hai phía Việt Nam chỉ cung cấp xương và máu cho cuộc chiến.

Mục đích chiến tranh (ủy nhiệm), lãnh đạo CSVN có nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc”. Rõ ràng đây là lý lẽ của một tập đoàn “đánh thuê”.

“Chính nghĩa” nào cho bọn “đánh thuê”?

Sau 1975, Việt Nam trở mặt với Trung Quốc, quay đầu về Moscow, trở thành tên xung kích sừng sỏ của Liên Xô, chống lại Trung Quốc.

Theo quan điểm của Trung Quốc, Việt Nam trở thành “Cuba của phương Đông”.

Chính nghĩa nào cho một tập đoàn làm “tay sai”, theo phe này chống lại phe kia?

Phía miền Bắc gọi đó là cuộc “chiến tranh giải phóng”, “đánh Mỹ cứu nước”. Phía miền Nam thì gọi đó là cuộc chiến “bảo vệ tự do”. Mà chiến tranh, theo Machiavel, là một “phương tiện” để chinh phục và chiếm hữu quyền lực.

Nếu các đạo diễn nhìn nhận cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước” là có “chính nghĩa”. Điều này thừa nhận quân Mỹ là đạo quân “xâm lược”.

Nếu vậy thì quân Mỹ hiện diện ở Nhật, Nam Hàn, ở Tây Đức trước kia, hay ở các nước “đồng minh” trên khắp thế giới… cũng là “đạo quân xâm lược”. Không biết dư luận Mỹ, các lãnh đạo nước Mỹ, có “gánh vác” nổi vụ này hay không?

Hơn 40 năm sau, CSVN nhân danh có công “giải phóng miền Nam, thống nhứt đất nước” để giành độc quyền cai trị đất nước.

Về “thống nhứt đất nước”, có hàng chục thí dụ “thống nhứt đất nước” không tốn một giọt máu, không cần phải “đốt cháy Trường Sơn, tát cạn Biển Đông”.

Đổ máu trên 4 triệu người, đất nước tan hoang, dân tình ly tán. Cuộc chiến vì vậy là “phi nghĩa”.

Còn về mục tiêu “giải phóng miền nam”, lịch sử đã bạch hóa mà các đạo diễn không thấy, có người dân nào ở miền Nam mong đợi được “giải phóng”? Như trên đã nói, các cuộc bỏ phiếu bằng chân, quân Việt Cộng vào tới đâu, dân chạy trốn tới đó. Sau 1975 dân Việt Nam có câu ví von: “Nếu cây cột đèn có chân nó cũng vượt biên”. Rõ ràng đây là “chân lý”. Mặt thật của cuộc chiến là cuộc “xâm lăng” được bọc dưới mỹ từ giải phóng.

Chính nghĩa nào cho cuộc chiến “xâm lăng”?

Về phía Mỹ, lý do nào họ can dự vào VN?

Các cuộc chiến cận đại như chiến tranh Kuwait, chiến tranh Iraq, người Mỹ chỉ “tham gia” cuộc chiến sau khi đã được LHQ “bật đèn xanh”. Trong cuộc chiến Kuwait, Iraq đã “xâm lược” Kuwait, vi phạm nguyên tắc nền tảng của LHQ. Mỹ và nhiều nước khác, theo tinh thần một nghị quyết của LHQ, đổ quân vào Kuwait để “tống cổ” quân Iraq ra khỏi nước này. Đây rõ ràng là một cuộc chiến “giải phóng”.

Cuộc chiến Iraq, Mỹ đưa ra những bằng chứng cho thấy nước này đang “chế tạo” vũ khí hạt nhân. Như vậy Iraq vi phạm hiệp ước “không phổ biến vũ khí nguyên tử” mà họ đã ký.

Nhưng chiến tranh, nói theo triết gia Alembert “nghệ thuật chiến tranh nhằm tiêu diệt con người, đồng thời cũng là nghệ thuật chính trị nhằm lường gạt con người”.

Bây giờ ta mới biết rằng cuộc chiến Iraq, Mỹ đã “dựng” lên những bằng chứng giả để có cớ đánh Saddam Hussein.

Còn quan điểm Mác xít, qua các lý thuyết của Lenin và Mao Trạch Đông, tất cả các cuộc chiến tranh cách mạng là chiến tranh “có chính nghĩa” (chính đáng). Chiến tranh “phản động” là chiến tranh không chính đáng.

Vấn đề là trước khi Mỹ đổ quân vào Việt Nam không có một kết ước nào với lãnh đạo Việt Nam (như kết ước đồng minh).

Chỉ khi quân Mỹ vào Đà Nẵng, trước chuyện đã rồi, chính quyền Sài Gòn chỉ đưa ra một thông báo, giảm thiểu mọi thủ tục, nhìn nhận sự hiện diện của Mỹ ở miền Nam.

Trước đó, thời ông Diệm, các đời tổng thống Mỹ đã hứa hẹn “giúp miền Nam xây dựng một quốc gia độc lập, có chủ quyền”. Người Mỹ gọi “quốc gia” đó là “South Vietnam”, nhằm chống lại sự xâm lăng của một quốc gia (độc lập có chủ quyền) khác ở miền Bắc, là quốc gia North Vietnam.

Vận động “xây dựng South VN” thành một “quốc gia độc lập có chủ quyền” của Mỹ là cần thiết, trên phương diện công pháp quốc tế. Vì chỉ khi VNCH là một quốc gia độc lập, có chủ quyền thì Mỹ (và các nước có quan hệ khác) mới có quyền can thiệp (bằng chiến tranh), với lý do “quốc gia South Vietnam” bị một quốc gia khác là “North Vietnam” xâm lược.

Sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam “chính đáng – jus ad bellum” vì dựa trên “quyền tự vệ chính đáng đa phương” của LHQ. Vì vậy theo chân Mỹ, các quốc gia “đồng minh” của Mỹ như Úc, Canada, Tân Tây Lan, Thái, Nam Hàn, Phi… cũng đổ quân vào Việt Nam.

Nhưng khi có sự hiện diện của quân đội Mỹ và các nước đồng minh, cuộc “nội chiến Bắc Nam”, miền Bắc muốn “thôn tính” miền Nam, trở thành cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước”.

Rốt cục cuộc vận động của Mỹ (xây dựng VNCH thành một quốc gia độc lập có chủ quyền) đã thất bại. Mỹ phải ký hiệp định Paris 1973, nội dung công nhận hiệu lực của Hiệp định Genève 1954, tức là nhìn nhận Việt Nam là một “quốc gia duy nhứt, thống nhứt ba miền, lãnh thổ bất khả phân”.

Tức là trên phương diện “pháp lý” Mỹ đã thua, thứ nhứt vì không thuyết phục được lãnh đạo VNCH (nhứt là ông Diệm) tuyên bố VNCH “quốc gia độc lập có chủ quyền”. Bởi vì lãnh đạo miền Nam hầu hết xuất thân từ miền Bắc. Thứ hai, thua CSVN và các lực lượng trí thức thiên tả ở Paris về tuyên truyền, vận động dư luận quốc tế.

Mục tiêu “giải phóng miền Nam” được “quốc tế” ủng hộ. Rốt cục các đồng minh của Mỹ phải “tháo lui” vì thấy cuộc chiến không còn chính đáng.

Nguyên nhân Mỹ thua là vì Mỹ vào miền Nam mà không hỏi ý kiến dân Miền Nam (thông qua một cuộc trưng cầu dân ý, thí dụ vậy). Vì nếu có một “kết ước” hợp pháp giữa dân miền Nam và Mỹ, thì cuộc chiến đã quay theo chiều hướng khác.

Chiến tranh Việt Nam lý ra giống y chang chiến tranh Triều Tiên. Vấn đề là ngưòi Mỹ “bao thầu” mọi thứ, trong khi Pháp thì chống Mỹ (vì bị Mỹ đã hất chân), ủng hộ Mặt trận Giải phóng Miền Nam. Khi quân Việt Nam vào gần tới Sài Gòn, Dương Văn Minh lên làm tổng thống. Sự việc đã rồi, Mỹ đã nhìn nhận MTGPMN, gián tiếp nhìn nhận Mỹ đã “xâm lược” miền Nam. Không có kết ước nào gắn bó VNCH với Mỹ. LHQ “bó tay”, không làm được việc gì.

VNCH là phía “có chính nghĩa”, vì lãnh đạo thiếu viễn kiến, đành phải chết tức tưởi.

Cuối cùng lịch sử luôn được viết bởi phe chiến thắng.

 

TIN VÀ KHÔNG TIN-TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

Trong thời đại 4.0 này, việc tin một người đã chết rồi ba ngày sau sống lại được coi là điều nhảm nhí và điên rồ.  Điều đó chẳng có chi lạ.  Bởi lẽ, vào thời các tông đồ, các quan chức Rô-ma và những người lãnh đạo Do Thái Giáo cũng đã cho việc các ông khẳng định Đức Giê-su đã chết và đã sống lại là điều tào lao.  Các tông đồ không vì thế mà nhụt chí, vì các ông không thể không nói ra những điều mình được mắt thấy tai nghe (x. Cv 4,21).  Hơn thế nữa, các ông còn lấy mạng sống mình đề đảm bảo những gì các ông nói.

Hai mươi thế kỷ đã qua, có rất nhiều người tin vào Đức Giê-su Phục sinh, nhưng cũng có rất nhiều người phủ nhận Người.  Thống kê mới nhất của Tòa Thánh cho thấy, Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2021, dân số thế giới là 7.785.769.000 (Bảy tỷ, bảy trăm tám mươi lăm triệu bảy trăm sáu mươi chín ngàn người) trong đó số tín hữu Công giáo là 1.375.852.000 (Một tỷ ba trăm bảy mươi lăm triệu tám trăm năm mươi hai ngàn người).  Như vậy, tỷ lệ người Công giáo trên toàn thế giới ở mức 17,67%.  Đó là chưa tính những tín hữu Ki-tô thuộc các giáo phái khác.

Một người đã chết nay sống lại là điều khó tin, ngay cả với ông Tô-ma, một trong mười hai tông đồ.  Ông đặt ra những điều kiện cho niềm tin của mình, mặc dù trước đó, ông đã tận mắt chứng kiến những phép lạ ngoạn mục Chúa Giê-su đã làm.  Ông đại diện cho trường phái hồ nghi, ở thời nào cũng có, nhất là trong thời đại của chúng ta hôm nay.  Trường phái này chỉ tin vào những gì cảm nhận bằng giác quan.

Tuy vậy, khi đặt ra những điều kiện để tin như ông Tô-ma, là chúng ta đặt Thiên Chúa ngang hàng với người phàm.  Nói cách khác, khi đòi phải có điều kiện, thì không còn là đức tin nữa, vì tin là chấp nhận những thực tại vô hình hay những thực tại mình không cảm nhận bằng giác quan.  Hơn nữa, nếu đặt để niềm tin của mình nơi quyền năng của Thiên Chúa, thì cần xác tín: “không có gì mà Chúa không làm được.”

Mặc dù ông Tô-ma chẳng có lý do gì để thách thức Thiên Chúa, nhưng Chúa Giê-su Phục sinh vẫn chấp nhận lời thách thức đó.  Vào ngày thứ tám sau sự kiện phục sinh, Chúa Giê-su đã hiện ra với các tông đồ, có cả Tô-ma.  Cuộc gặp gỡ này đã chứng minh những lời các tông đồ nói trước đó là xác thực.  Đức Giê-su nhắc lại những thách thức của ông Tô-ma trước đó.  Trước những lời này của Chúa, ông Tô-ma chẳng còn nói được điều gì.  Ông chỉ có thể thưa với Chúa: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!”  Đây là lời tuyên xưng đức tin.  Đây cũng lời sám hối, đồng thời diễn tả niềm xác tín vào Đấng Phục sinh.  Chúng ta lưu ý: ông Tô-ma không còn gọi Chúa Giê-su là Thày như trước đó, mà ông tuyên xưng Người là Chúa và là Thiên Chúa.  Những danh xưng này cho thấy ông đã thực sự tin vào Đức Giê-su.  Đây cũng là lời tuyên xưng đức tin của cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi.

Trong cả ba năm A,B,C, của Chúa nhật thứ hai Phục sinh, Phụng vụ đều cho chúng ta nghe cùng một bản văn, đó là trình thuật về sự cứng lòng của ông Tô-ma trong Tin Mừng theo thánh Gio-an.  Mặc dù Chúa Giê-su Phục sinh là nhân vật quan trọng nhất, nhưng xem ra ông Tô-ma lại dành một vị trí đặc biệt trong trình thuật này.  Phải chăng Phụng vụ muốn lưu ý chúng ta: vẫn còn đó những Tô-ma, trải qua mọi thời đại.  Rất nhiều người giống như Tô-ma, chủ trương học thuyết thực nghiệm.  Họ chỉ tin vào những gì mắt thấy tai nghe.  Các tông đồ, là những chứng nhân mắt thấy tai nghe và kể lại cho chúng ta sự kiện Chúa sống lại với niềm xác tín.  Trước Công nghị Do Thái, các ông tuyên bố: Đức Giê-su, vị ngôn sứ thành Na-gia-rét, là người có quyền năng trong lời nói và hành động, đã chết và đã sống lại.  Các ông sẵn sàng lấy mạng sống để làm chứng cho điều các ông nói.  Một điều kỳ diệu, là các tông đồ vốn là những người dân chài chất phác ít học, nhưng lại uyên bác và trích dẫn Thánh Kinh để minh chứng rằng các lời ngôn sứ xưa kia đã thành hiện thực.

Chúa Giê-su Phục sinh đang hiện diện giữa chúng ta.  Tác giả sách Tông đồ Công vụ diễn tả sức sống kỳ diệu của cộng đoàn Ki-tô hữu tiên khởi: cộng đoàn đông đảo “chỉ có một lòng một ý.  Không ai coi bất cứ cái gì mình có là của riêng, nhưng đối với họ, mọi sự đều là của chung.”  Điều gì đã làm nên sự kỳ diệu ấy?  Thưa, Đấng Phục Sinh.

Thời nào cũng thế, vẫn còn đó những người tin và những người không tin vào Đức Giê-su.  Tuy vậy, khi tin Đức Giê-su là Con Thiên Chúa, là Đấng đã chết và sống lại, các Ki-tô hữu được trở nên con Thiên Chúa.  Thánh Gio-an tông đồ viết: “Phàm ai tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, kẻ ấy đã được Thiên Chúa sinh ra.”  Đó là cuộc sinh hạ trong đức tin và ân sủng.  Họ cũng sẽ chiến thắng thế gian như Đức Giê-su đã chiến thắng.  Các Ki-tô hữu cần thường xuyên ý thức về sức sống mới trong tâm hồn và cuộc sống của mình, để củng cố đức tin và thực sự nên giống Đức Giê-su Phục sinh.  Chúng ta thấy đó là lý do tại sao Phụng vụ nhấn mạnh và cầu nguyện cho những người tân tòng, trong mùa Phục sinh.

Chúa nhật II Phục sinh cũng là Chúa nhật kính Lòng Chúa thương xót.  Xin cho chúng ta cảm nhận lòng thương xót của Thiên Chúa, thể hiện qua cuộc đời và sứ mạng của Đức Giê-su nơi trần thế, nhất là qua cuộc khổ nạn và phục sinh vinh quang của Người.  Xã hội hôm nay rất thiếu vắng lòng thương xót.  Đó là nguyên nhân dẫn tới bạo lực, hận thù và xung đột chia rẽ.  Khi cảm nhận lờng thương xót của Thiên Chúa, chúng ta sẽ sống khiêm tốn hơn và dễ dàng thực thi lòng thương xót đối với tha nhân.

TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim


 

Tình Trạng Cộng Sản nằm vùng trong Cộng Đồng Việt hải ngoại

  • Tình Báo Cộng Sản nằm vùng trong quân đội VNCH nay lại mò sang Mỹ bằng cách nào?
  • Sự tỉnh ngộ, sáng mắt, phản tỉnh của các thày giáo cảm tình viên Cộng Sản sau ngày 30-4 là đương nhiên.
  • Hậu quả cuộc đời của những kẻ ăn cơm quốc gia thờ ma Cộng Sản ra sao?
  • Miền Nam mất vì bọn Cộng Sản nằm vùng phá hoai.
  • Cộng Đồng hải ngoại có thể  tan rã vì Cộng Sản nằm vùng vấy bẩn, chia rẽ, phá thối như thế nào?

Đồng Hương cần coi chừng Cộng Sản nằm vùng

Dấu hiệu dễ nhận diện Cộng Sản Nằm Vùng, Hồ Kiều trong cư dân cộng đồng:

  • Kẻ hay nói xấu VNCH với các từ việt cộng như “phồn vinh giả tạo”, tay sai đế quốc, thực dân, …
  • Kẻ luôn bới móc đời tư của chiến sĩ QLVNCH, nhất là bới móc đời tư của các dân cử Việt đang hăng hái làm việc cho Cộng Đồng.
  • Kẻ luôn chửi bới, thóa mạ và phá hoại Cộng Đồng bằng cách bất hợp tác, chia rẽ, nói xấu, vu khống, bôi nhọ nhân vật mà không đưa ra bằng chứng rõ ràng minh bạch.
  • Kẻ hay vô cớ khen, hoặc cố bào chữa cho chế độ Cộng Sản (cho dù cán bộ CS đang hủ hóa, suy thoái) và nói Việt Nam bây giờ hay, mạnh, giàu và ổn định, …                     

    Kẻ Đi Tìm

 Cuba kiệt sức khi đã chạm tay vào CNXH, còn CSVN?

Ba’o Dat Viet

April 3, 2024

Nguyễn Phú Trọng từng than thở “không biết 100 năm nữa chúng ta thấy được chủ nghĩa xã hội hay chưa.” Nếu ông sang Cuba sống với người dân tại đây, mà không bị chính quyền che mắt thì có lẽ ông sẽ mừng rỡ la lên: “A! Đây rồi, niềm mơ ước của chúng ta đang hiện diện tại Cuba!”

Biểu tình làm rung chuyển cái nôi cách mạng Cuba khi mất điện và khan hiếm lương thực. Hàng trăm người biểu tình đã tụ tập vào ngày 17 Tháng Ba tại công viên Carretera Del Morro của Santiago, hô vang “điện và thực phẩm.”

Đây có lẽ là lần biểu tình hiếm hoi tại một đất nước mà chủ nghĩa xã hội đã xuất hiện và nằm đó suốt từ ngày Fidel Castro lên cầm quyền. Ước mơ của nhà cách mạng Cuba này đã thành hiện thực khi đất nước của ông ta đạt được những thành tựu nhất định, mà mục tiêu của chủ nghĩa xã hội nhắm tới.

Người Việt trong nước, nhất là ở miền Bắc có cảm tình với đảng, khi nhắc tới Cuba thì hình ảnh Fidel Castro lại xuất hiện trong tâm trí với những câu chuyện thú vị về cách mạng Cuba do ông ta lãnh đạo, cộng với những trợ giúp mà Cuba đã gửi gắm cho Việt Nam trên bước đường chống Mỹ. Ngược lại, người Việt sống ở nước ngoài khi nhắc tới hai chữ Cuba thì hầu như ngay lập tức câu tuyên bố của Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết lại hiện lên: “Có người ví von, Việt Nam-Cuba, như là trời đất sinh ra, một anh ở phía Đông, một anh ở phía Tây, chúng ta thay nhau canh giữ hòa bình cho thế giới. Cuba thức thì Việt Nam ngủ, Việt Nam gác thì Cuba nghỉ.”

Bản chất của cộng sản là nói lời không thật, ông Triết sang Cuba chắc thấy rất rõ đời sống của người dân tại đây, nhưng vẫn buông lời dối trá, khoác lên chiếc áo lộng lẫy cho người dân nước này khi thực tế họ đang sống trong chế độ bao cấp như Việt Nam trước năm 1975. Hoàn cảnh bi đát của người dân Cuba thì ông Triết là người hiểu hơn ai hết, họ bất hạnh hơn Việt Nam khi sống dưới sự cai trị của một gia đình trị, vì sau Fidel Castro là em trai của ông này, Raul Castro, tiếp tục đè đầu người dân Cuba xuống đất với mục tiêu tuyên truyền cho chủ nghĩa xã hội mà nước này phát động từ năm 1950.

Thành tựu lớn nhất của Cuba là có tỷ lệ trẻ em biết đọc biết viết thuộc hạng cao nhất thế giới khi có tới 99.7%. Thành tựu thứ hai là số lượng bác sĩ của đảo quốc cũng không hề thua kém tỷ lệ biết đọc biết viết. Theo The Economist, Cuba là một trong những quốc gia có tỷ lệ bác sĩ cao nhất trên thế giới, với khoảng 8.4 bác sĩ/1,000 dân, trong khi tỷ lệ này ở Mỹ là 2.6 hay, tại Italia là 4.1.

Tuy bác sĩ là mũi nhọn xuất khẩu của Cuba, nhưng trong lĩnh vực kinh tế người dân sống chủ yếu vào kỹ nghệ mía đường. Trong thời kỳ Liên Bang Xô Viết, Cuba đã được viện trợ bao cấp cho rất nhiều máy móc để sản xuất nên đường là vật phẩm quan trọng giúp Cuba sống còn. Trong những năm tháng chiến tranh tại Việt Nam, Tố Hữu từng ca ngợi Cuba như một quốc gia đáng sống và tươi đẹp đến nỗi Việt Nam phải mơ ước: “Em ạ Cu Ba ngọt lịm đường/mía xanh đồng bãi hết đồi nương/cam ngon xoài ngọt vàng nông trại/ong lạc đường hoa rộn bốn phương!”

Những tưởng chủ nghĩa xã hội trong tầm tay, nhưng khi Liên Xô sụp đổ cũng là lúc Cuba đổ nhào theo. Máy móc công nghiệp không có, mía trồng ra không nơi chế biến thành đường, dầu khí ngày càng cạn kiệt, kỹ nghệ xuất cảnh bác sĩ chững lại, vì giá cả quá thấp khiến Cuba ngày càng mất phương hướng.

Tuy nhà nước vẫn bao cấp từ lon gạo ký muối cho tới bao thuốc lá cục xà phòng… người dân Cuba ngày một tuột xuống cùng cực của đói nghèo lạc hậu. Những chiếc xe sản xuất từ thập niên 40 của thế kỷ trước chạy lộc cộc trên đường phố, trông giống như đang triển lãm loại xe cổ điển không làm cho Cuba hiện đại hơn, nhưng có thể hấp dẫn khách ngoại quốc khi nhìn quốc gia này qua lăng kính một đất nước còn nghèo đến khó tin trong thời đại con người đang tính tới chuyện lên mặt trăng lập nghiệp. Ý tưởng mở cửa cho du khách nhằm cứu vãn tình trạng xuống cấp kinh tế đã nổi lên khi Tổng Thống Barack Obama tỏ thiện chí với nước này, và cho phép công dân Mỹ du lịch Cuba vào năm 2014, mặc dù ba năm trước đó muốn du lịch Cuba phải đi theo đoàn.

Tuy nhiên, khi du lịch được mở cửa thì lại nảy sinh một vấn đề khác khiến xã hội Cuba bị chia rẽ trầm trọng hơn. Khách du lịch mang đô la vào Cuba nhưng lại đòi hỏi việc phục vụ nhằm đổi lấy nó. Những ai phục vụ trong ngành du lịch sẽ kiếm được tiền nhiều hơn những người nằm bên ngoài. Lương bác sĩ $40 một tháng, trong khi một bồi phòng khách sạn có thể kiếm tới $100. Những dịch vụ làm ra tiền nằm lọt trong khu vực du lịch và người dân bên ngoài chỉ biết đứng nhìn và mơ ước, chứ không thể tham gia vì số khách du lịch vẫn còn hạn chế.

Tới khi Fidel Castro mất thì sự phân hóa càng lên cao. Cái chết của lãnh tụ trong lúc nước Mỹ thay chủ đã kéo Cuba về vị trí trước đó. Tổng thống Donald Trump có lẽ là người làm cho Cuba ngày càng tiến gần hơn đến giấc mơ xã hội chủ nghĩa khi ông công khai tuyến bố về Fidel Castro như sau: “Hôm nay, thế giới đánh dấu sự qua đời của một tên độc tài tàn nhẫn đã đàn áp chính người dân của mình trong gần sáu thập niên. Di sản của Fidel Castro là những cuộc hành quyết, bòn rút, khổ đau không tưởng, nghèo đói và sự đàn áp quyền con người. Trong khi Cuba vẫn còn là một hòn đảo phải sống dưới một chế độ độc tài toàn trị. Tôi hy vọng rằng, ngày hôm nay đánh dấu một bước tiến xa khỏi sự kinh hoàng mà người Cuba đã phải chịu đựng trong một thời gian quá lâu để hướng tới một tương lai, mà nhân dân Cuba cuối cùng có thể được sống một cuộc sống tự do mà họ vô cùng xứng đáng.”

Và việc gì tới đã tới, dưới thời ông Trump, Cuba lùi về thời gian trước khi Fidel còn sống. Người dân Mỹ không còn được phép du lịch Cuba, mặc dù hai nước chỉ cách nhau 213 cây số tính từ bờ biển Miami tới La Habana. Cuba bị Mỹ từ chối gỡ bỏ lệnh cấm vận khi Liên Hiệp Quốc có được 180 phiếu thuận vào Tháng Mười Một, 2022.

Ngày càng lún dần vào nghèo đói và khó khăn, người dân Cuba lây lất sống, lây lất chờ người thân vượt biên sang Mỹ gửi tiền về nuôi cũng ngày càng kiệt sức. Xã hội lầm than đến nỗi không còn sức sống. Những khu phố vắng lạnh, những căn nhà bỏ hoang hàng cây số. Những building từ thời cách mạng không được tu bổ, chống chỏi chấp vá như bản thân người dân Cuba ngày nay.

Vì cách xa Cuba bởi một rào cản chính trị của nước này, nên chúng ta chỉ có thể tưởng tượng ra điều tệ hại nhất, nhưng mới đây một người Mỹ gốc Việt đã sang Cuba vào năm ngoái quay lại những thước phim mô tả đời sống của người dân Cuba một cách chi tiết nhất. Trang Youtube của Ser Andy quay năm 2023 cho thấy, toàn bộ cảnh quan của thành phố Havana. Video clip có tên “Cuba Đổ Nát, Hoang Tàn – Người Dân Sống Trong Nước Mắt – Ký Sự Cuba 2023.”

Nguyễn Phú Trọng từng than thở “không biết 100 năm nữa chúng ta thấy được chủ nghĩa xã hội hay chưa.” Nếu ông sang Cuba sống với người dân tại đây, mà không bị chính quyền che mắt thì có lẽ ông sẽ mừng rỡ la lên: “A! Đây rồi, niềm mơ ước của chúng ta đang hiện diện tại Cuba!”

Kim Ngữ/Người Việt


 

SAO CON LẠI KHÓC- Lm Nguyễn Tầm Thường, sj

 Lm Nguyễn Tầm Thường, sj.

Trong đời, ai cũng có lúc khóc.  Khóc thầm lặng.  Khóc cho vơi niềm đau.  Kinh cầu tuyệt vọng là kinh cầu trong nước mắt.  Kinh cầu mong hy vọng cũng là lời kinh khao khát đẫm lệ.

Vũ trụ dường như đã có dan díu với tiếng khóc trước khi hình thành hay sao mà bây giờ ở đâu cũng thấy có nước mắt.  Có tiếng thở dài trên đường, có tiếng thở muộn phiền lúc nghỉ ngơi.  Tiếng than bên đời là buồn nhiều hơn vui.

Những trang Kinh Thánh thưở xưa cũng đong dài nhiều dòng nước mắt.  Nhưng câu chuyện nước mắt của Mađalena thật đặc biệt.  Bà khóc hai lần, hai lần khác nhau.

Ngày đó, Mađalena khóc bên chân Chúa, nước mắt và hương thơm.  Trong buổi chiều ấy, Chúa không nói gì.  Chúa cứ để Mađalena khóc.  Chúa nhận nước mắt như nhận quà tặng ân tình.  Còn Mađalena muốn đem nước mắt hòa vào hạnh phúc dầu quý cho bay đi những cơn mưa phùn của linh hồn rêu phong năm xưa.  Chiều đó, người đàn bà ấy không nói gì.  Thinh lặng và nước mắt thôi.

Thế rồi, cũng người đàn bà ấy, một sáng nọ bà khóc, buổi sáng đến mộ đá tìm xác Chúa. Nhưng tiếng khóc lần này không như tiếng khóc thuở xưa.

“Bà Maria đứng ở ngoài, gần bên mộ, mà khóc.  Bà vừa khóc, vừa cúi xuống nhìn vào trong mộ, thì thấy hai thiên thần mặc áo trắng ngồi ở nơi đã đặt xác của Đức Giêsu, một vị ở phía đầu, một vị ở phía chân.  Thiên thần hỏi bà: “Này bà, sao bà khóc?” Bà thưa: “Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu!”  Nói xong, bà quay lại và thấy Đức Giêsu đứng đó, nhưng bà không biết là Đức Giêsu.  Đức Giêsu nói với bà: “Này bà, sao bà khóc?  Bà tìm ai?”  Bà Maria tưởng là người làm vườn, liền nói: “Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về” (Yn 20:11-15).

Một Mađalena, mà hai khung trời, hai dòng nước mắt khác nhau.  Một con tim mà hai nhịp đập, hai thổn thức khác biệt.

–   Ở nhà Biệt phái: Ngày ở nhà ông Simon Biệt Phái, nước mắt bà Mađalena rơi xuống chân Chúa, nhưng chảy ngược vào tâm hồn.  Mađalena khóc thầm lặng không tiếng nói.  Bên mộ đá: Hôm nay, bên mộ đá Mađalena oà vỡ khóc thành lời nói.  Bà thổn thức báo tin cho Phêrô và Yoan.  Bà vội vã hỏi “Người làm vườn.”  Bà quả quyết với thiên thần: “Người ta lấy mất Chúa tôi rồi” (Yn 20:13).

–   Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Simon, Mađalena kín đáo tìm cách vào tận phòng tiệc cho nước mắt rơi trên sàn nhà.  Bên mộ đá:  Hôm nay, Mađalena đứng ở ngoài mộ mà thôi, tiếng khóc vang bên phía ngoài.

–   Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Biệt Phái, nước mắt Mađalena rơi trước mọi người, rơi trên chân Chúa.  Bên mộ đá: Hôm nay, nước mắt rơi trong cát bụi.

–   Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Biệt Phái, Chúa để Mađalena ngồi cạnh mình lấy tóc cùng nước mắt mà lau chân.  Bên mộ đá: Hôm nay, Chúa không cho nước mắt kia chạm tới Ngài.

–   Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Biệt Phái, trong tiếng khóc, Mađalena bị người ta kết án. Bên mộ đá: Hôm nay, Mađalena kết án người khác trong tiếng khóc của mình.  Không bằng chứng mà Mađalena dám báo tin cho Phêrô bằng cách đổ tội cho người khác rằng: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ” (Yn 20:2).

–   Ở nhà Biệt Phái: Ngày ở nhà ông Biệt Phái, trong dòng nước mắt, Mađalena nhìn rõ Chúa.  Bên mộ đá: Hôm nay, cũng là nước mắt, Mađalena nhìn Chúa nhưng ngỡ là ông làm vườn. “Thưa ông, nếu ông đem Người đi thì cho tôi biết ông để Người ở đâu?” (Yn 20:15).

–   Ở nhà Biệt Phái:  Ngày ở nhà ông Biệt Phái, Chúa thương dòng nước mắt ấy thiết tha.  Bên mộ đá:  Hôm nay, Chúa chất vấn: “Bà kia, sao lại khóc?”

*******************************

Lạy Chúa, cũng một con người được Chúa yêu, mà sao một lần khóc thì Chúa như bùi ngùi, một lần khóc thì Chúa nhìn dòng nước mắt mà hỏi: “Bà kia, sao bà lại khóc?”  Câu trả lời của Chúa như ngạc nhiên về dòng nước mắt ấy.  Câu hỏi như từ chối, như nói rằng dòng nước mắt ấy không cần thiết.  Tại sao vậy Chúa?

Tiếng khóc nào cũng có ý nghĩa.  Nước mắt nào mà không chứa đựng nghẹn ngào.  Càng nguyện vọng, nước mắt càng mặn cay, nước mắt ấy phải quý lắm chứ.  Vậy tại sao Chúa lại hỏi: “Bà kia, sao bà khóc?”

Chỉ có một lần Chúa khóc, đó là trước cái chết của Lazarô.  Cái chết nào mà không mất mát, nghẹn ngào, chính Chúa mà còn khóc.  Vậy tại sao hôm nay Chúa lại bảo Mađalena đừng khóc nữa.  Nhờ Chúa khóc trước cái chết của Lazarô, nên hôm nay, con phải suy nghĩ về nước mắt, tiếng khóc, nỗi đau của Mađalena trước mộ đá.

Khi Chúa khóc trước cái chết của Lazarô thì người chung quanh nói với nhau rằng: “Kìa, nhìn xem Ngài thương Lazarô dường bao” (Yn 11:36).  Như vậy, nước mắt của Chúa hôm Lazarô chết không phải là nước mắt tiêu điều.  Cái khóc của Chúa không là tuyệt vọng mà là tình thương.

Còn nước mắt của Mađalena bên mộ Chúa, có thương đó mà cũng có xót xa.  Chúa sống lại, nhưng Mađalena phao tin rằng người ta lấy xác Chúa.  Bà không nhìn thấy, nhưng bà nghi ngờ và đổ lỗi cho việc Chúa không còn trong mộ đá là xác Chúa đã bị đánh cắp!  Nước mắt chúng con trước cái chết của người thân yêu có lẽ cũng mang dáng dấp cả hai.  Có thương nhưng lại thương trong xót xa, và nỗi xót xa ấy nhuốm màu đau tuyệt vọng như của Mađalena.  Vì chưa hiểu niềm tin Phục Sinh, nên không thấy xác Chúa thì Mađalena cảm thấy ngày một mất mát lớn lao.  Nỗi mất mát ấy là của Mađalena, cho nên thương Chúa mà xót xa cho mình.  Xót xa và tuyệt vọng làm Mađalena nghi ngờ và đổ lỗi cho nhiều người.

Vì xót thương trước cái chết của người thương yêu, nhiều khi chúng con cũng không tránh khỏi những phàn nàn, trách nhiều nguyên nhân, có khi trách cả Chúa.  Xin Chúa cho chúng con hiểu hơn về mầu nhiệm Phục Sinh trong sự chết.

Nước mắt bên mộ đá đã đưa Mađalena vào những vùng mây mờ không chứng cớ.  Đấy là nước mắt thiếu ánh sáng Phục Sinh.  Trong nước mắt xúc cảm nhạt nhoà, bà không nhìn rõ Chúa đứng ngay bên cạnh.  Chính Chúa đó mà bà lại hỏi ông để xác Chúa tôi ở đâu.

Chúng con cũng thế thôi, vào những giờ đau đớn quá, chúng con không bình tâm nhìn thấy Chúa bên cạnh mình nữa.  Nước mắt đau đớn làm nhoà cái nhìn về sự sống đời sau.  Mađalena đã bừng tỉnh khi Chúa gọi tên bà.  Vậy con xin Chúa cũng gọi tên con trong những giờ chán nản tuyệt vọng để hồn con được an ủi.

Chúa khóc trước cái chết của Lazarô chỉ vì thương.  Xin cho nước mắt chúng con trước nỗi biệt ly cũng chỉ có một tình cảm ấy mà thôi, là chúng con hãy thương mến nhau.  Người chung quanh nhìn trước mắt Chúa mà nói: “kìa Ngài thương Lazarô biết bao.”  Chớ gì nước mắt chúng con hôm nay cũng như vậy, để một người ra đi là đem yêu thương về đầy giữa chúng con, những kẻ ở lại.

Tình thương thì đem chúng con gần lại, còn nỗi tuyệt vọng sẽ làm đời sống chúng con rã rời.  Con hiểu, cũng trước cái chết, Chúa đã khóc.  Mà cũng trước cái chết, Chúa không muốn Mađalena khóc.  Chúa muốn tiếng khóc của tình thương thôi chứ không muốn tiếng khóc tuyệt vọng.  Vì Chúa là Phục Sinh.

“Vì sao con lại khóc?”  Con mong lời Chúa hỏi Mađalena thưở xưa cũng là lời Chúa hỏi con hôm nay trong nỗi buồn này.  Con hiểu lời ấy như một an ủi nhắc con về niềm tin Phục Sinh đằng sau nỗi chia ly vĩnh biệt.  Con hiểu vì sao Chúa đặt câu hỏi ấy, vì trước giờ từ biệt Chúa đã căn dặn con: “Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Yn 14:3).  Chúa mong chúng con ở bên Chúa như vậy thì khi người thân yêu của chúng con ra đi là giây phút Chúa chờ đón.

Mađalena chỉ nhìn vào mộ đá, vì thế nước mắt chỉ là trời sương buồn nản phủ xuống hồn.  Chúa đã không muốn nước mắt ấy.  Xin cho nước mắt của chúng con hôm nay không bám víu vào nỗi mất mát cho vơi niềm đau.  Nhưng qua nước mắt, chúng con cho rơi đi những gì thiếu sót chúng con đã đối xử với nhau những ngày còn sống, để nước mắt hôm nay rửa tâm hồn chúng con cho đẹp hơn.

Xin Chúa cho nước mắt của chúng con hôm nay không kéo về những chiều hoàng hôn tuyệt vọng, mà rửa niềm tin chúng con sáng hơn để chúng con thấy người thân yêu đang ở bên Chúa và đang cầu bầu cho chính chúng con.  Amen.

Lm Nguyễn Tầm Thường, sj.

From: NguyenNThu


 

Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người,…(Luca 23:13)- Cha Vương

Hôm nay thứ 4 của Tuần Bát Nhật, ước mong Bạn nhận ra sự hiện diện của Chúa trong mỗi việc làm hôm nay nhé.

Cha Vương

Thứ 4: 03/04/2024

TIN MỪNG: Vào ngày thứ nhất trong tuần, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau,… Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người… Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người,…(Luca 23:13,16,30,31)

SUY NIỆM: Có câu chuyện kể rằng, một đôi vợ chồng trẻ vừa dọn đến ở trong một khu phố mới. Sáng hôm sau, vào lúc hai vợ chồng ăn điểm tâm, người vợ thấy bà hàng xóm giăng tấm vải trên giàn phơi.

“Tấm vải bẩn thật” – Cô vợ thốt lên. “Bà ấy không biết giặt, có lẽ bà ấy cần một loại xà phòng mới thì giặt sẽ sạch hơn”.

Người chồng nhìn cảnh ấy nhưng vẫn lặng im. Thế là, những lời bình phẩm ấy cứ thốt ra từ miệng cô vợ mỗi ngày, sau khi nhìn thấy bà hàng xóm phơi đồ trong sân.

Một tháng sau, vào một buổi sáng, người vợ ngạc nhiên vì thấy tấm vải của bà hàng xóm rất sạch, nên cô nói với chồng: “Anh nhìn kìa! Bây giờ bà ấy đã biết cách giặt tấm vải rồi. Ai đã dạy bà ấy thế nhỉ?”

Người chồng đáp: “Không. Sáng nay anh dậy sớm và đã lau kính cửa sổ nhà mình đấy”.

Thực ra mỗi người trong đời, không ít thì nhiều, ai cũng đều giống như cô vợ trẻ trong câu truyện kia, đều nhìn thế giới qua lăng kính riêng của mình. Kính đó sạch hay hoen ố? Các môn đệ trên đường Em-mau cũng vậy mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người, bởi vì lăng kính của họ có nhiều vết hoen ố của những kinh nghiệm thương đau và buồn phiền trong quá khứ. Lòng của họ đầy sự nghi ngờ và cảm xúc không thật. Chúa Giêsu đã lau sạch lăng kính của họ bằng cách gợi lại hành động thật tâm tình và trìu mến mà Ngài đã làm trong bữa tiệc ly, “Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ.” Lập tức mắt họ mở ra và nhìn thấy sự hiện diện của con Thiên Chúa đã sống lại, lòng bừng cháy với niềm tự tin và họ không ngừng loan báo Tin Mừng. Còn Bạn thì sao? Lòng Bạn có bừng cháy không khi Bạn tham dự thánh lễ? Khi lễ xong bạn được sai đi để công bố tin vui, Bạn có thực thi điều đó không?

LẮNG NGHE: Chúa Giêsu nói: “Cái gì từ trong con người xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế.” (Mc 7:21-23)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, vì cuộc khổ nạn của Chúa  xin tẩy sạch tim con những ô uế để con nhìn thấy những gì tốt đẹp nơi anh em con.

THỰC HÀNH: Tự suy và tìm ra giải pháp để lau sạch những vết hoen ố trên lăng kính của mình hôm nay nhé! Hoen ố của sự phán xét bất công, bực tức, giận hờn và bất an khi sự việc không đạt theo ý mình

From: Do Dzung

 Cho Con Thấy Chúa (Sáng tác: Sr. Hiền Hòa) – Uyên Nguyên

BÊN MỘ CON-Truyen ngan

Lê Khôi – ĐẤU TRƯỜNG DÂN CHỦ (Nhóm Muôn Chiều)

Tháng 5 năm 1975, miền Nam mất vào tay miền Bắc. Tôi là một sĩ quan thua trận ở phía miền Nam. Ngày 07/05/75 chịu chung số phận của những người thua trận, tôi ra trình diện và được đưa đi cưỡng bức lao động ở những trại tù của phe thắng trận. Khi tôi đi vợ tôi mới 20 tuổi đang mang thai đứa con đầu lòng.

Ba tháng sau từ ngày tôi bước chân vô trại tù thì con tôi ra đời. Chúng tôi đã thỏa thuận nhau từ trước đặt tên con là Dương Lục Bình Hạ Uyên.

Lục bình: để nhớ ngày nước mất đẩy cuộc đời của người dân miền Nam lênh đênh như đám lục bình.

Hạ Uyên: Đôi uyên ương mùa hạ (mùa tôi từ biệt vợ con để đi vào trại giam và con tôi cũng sanh ra vào mùa hạ).

Năm 1976, khi con được gần một tuổi, vợ tôi có ẳm con vào thăm tại Đồng Găng Diên Khánh Khánh Hòa, tôi chỉ nhìn con mà ứa lệ vì không được phép ôm nó vào lòng. Cũng vào tháng 6/1976 họ chuyển tôi ra Trại A30 Tuy Hòa Phú Yên.

Cuộc sống khó khăn sau ngày đất nước rơi vào tay kẻ ác, vợ tôi từ một cô nữ sinh trắng trẻo vừa rời ghế học đường ngày nào giờ trở thành một người mẹ 20 tuổi suốt ngày dầm mình dưới nắng mưa để làm ruộng nuôi con. Khi mẹ ra đồng theo tiếng kẻng hợp tác xã thì Lục Bình lấm lem thường ở nhà chơi một mình.

Một ngày nọ Lục Bình bị tiêu chảy và lên cơn sốt. Vợ tôi mang con đến bệnh xá huyện, ở đây những bác sĩ y tá được tốt nghiệp dưới chế độ Xã Hội Chủ nghĩa chẩn đoán là con tôi bị…sốt rét. Họ điều trị bệnh một đứa bé 3 tuổi nhiễm vi trùng đường ruột bằng cách chích thuốc chống sốt rét!

Con tôi yếu ớt chịu không nổi bị xuất huyết đường ruột lên cơn co giật. Một tuần sau thì mất. Đó là tháng giêng năm 1978 con tôi được 3 tuổi và tôi ở tù cũng vừa được 3 năm. Bao hy vọng được nhìn thấy con mình được ôm nó vào lòng đã sụp đổ. Ngày con tôi mất tôi vẫn còn đang trong trại tù tương lai mù mịt không biết ngày nào được thả ra

Ba năm sau ngày Lục Bình mất, năm 1981 được thả về. Tôi ra ngồi trước nấm mộ của con mình. Tôi khóc…

NGỒI BÊN MỘ CON

Đại Chí chiều nay ba trở lại

Cắm nén nhang này trước mộ Uyên

Cảnh cũ giờ đây sau mòn mỏi

lòng ba đau tựa nhát gươm xuyên

 

chiều lên mờ khói nhạt

hoàng hôn ngậm cỏ sầu

não nùng con dế khóc

chim lạc cánh về đâu

 

Lá lìa cành run rẩy

Đảo giữa trời co ro

Nghe dường như con gọi

tiếng não nề ba ơi

 

Ba nhớ làm sao bóng dáng con

Thiếu tình ba thuở lọt lòng son

Hạnh phúc đâu theo người chiến bại

Con chết ba đang ngậm tủi hờn

 

Ba nhớ làm sao đôi mắt Uyên

Sáng như sao sáng giữa trời đêm

Sáng rọi đường ba hằng mơ ước

Một nhát gươm vung chặt xích xiềng

 

Ba chẳng hẹn về con vẫn đợi

Ba năm rồi suốt quãng đời thơ

Đâu biết đi là không trở lại

Là xa cách mãi đến nghìn thu

 

Mẹ nói con thường ra trước sân

Nẻo vắng đường xa dõi mắt trông

Lắng tiếng xe ai ngừng trước ngõ

Có phải ba về với con không

 

Ngục tối từng đêm ba nguyện cầu

Quì xin thượng đế rất nhiệm mầu

Xiềng xích phá tan ba trở lại

cho đời con trẻ bớt sầu đau

 

Trở lại thôn xưa chiều nhạt nắng

Đói khổ lan tràn khắp lối đi

Cổng trước cài then nhà sau vắng

Mộ đã xanh màu cỏ biệt ly

 

Cỏ đã um màu xanh thương nhớ

Bóng hình con trẻ biết tìm đâu

Ba chút tình con nay đã lỡ

Đành hẹn tao phùng ở kiếp sau

Dương Quan

* Người trong hình là vợ tôi đang ẳm Lục Bình trong những ngày đợi tôi về.


 

 S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Thời hậu chiến

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Tên chị là gì? 

  • Thưa em tên Mơ. 
  • Mơ gì? Mộng mơ hay quả mơ? 
  • Tùy, ai muốn hiểu thế nào thì hiểu… 
  • Quê quán ở đâu vậy? 
  • Em ở Thạch Thất, Hà Tây. 
  • Chị công tác ở cơ quan nào? 
  • Thưa, ở ty Văn Hóa Thông Tin Hà Sơn Bình. 
  • Chắc chưa vào Ðảng…? 

 “Nơi em về trời xanh không em…?” Bên này vĩ tuyến 17 không có một câu hỏi thơ mộng, lãng mạn như vậy … Vì vậy những lời yêu đương được mở đầu bằng “Ðồng chí công tác ở cơ quan nào ?” (Thế Giang. Thằng Người Có Đuôi. Westminster, CA: Nguời Việt, 1987).

Ngoài những câu hỏi “thơ mộng” và “lãng mạn” như trên, bên kia vỹ tuyến còn có nhiều câu hỏi (nghe) rất … linh tinh:

Anh không biết bây giờ tháng mấy, em không biết anh đi về đâu, và hết nửa phần đất nước đều chia chung một nỗi băn khoăn (lớn) dù đang trong hoàn cảnh chiến tranh: Kẻ thù ta đâu có phải là người. Giết người đi thì ta ở với ai?

Ở nửa phần còn lại thì không ai mơ hồ về thời gian cả. Mọi người đều biết chính xác ngày/tháng/năm sinh của vị lãnh tụ kính yêu, cũng như thời điểm phân phối khẩu phần lương thực (ngoài tiêu chuẩn) nhân ngày sinh nhật của NGƯỜI.

Cũng chả bao giờ nghe ai hỏi ai “đi về đâu” vì ai cũng biết là mọi con đường đều dẫn ra mặt trận, và đường ra trận thì mùa nào cũng đẹp: những binh đoàn kéo nhau ra tiền tuyến, như tình yêu nối lời vô tận … Chỉ có mỗi một câu hỏi “cảm động” duy nhất được cho phép nghêu ngao trên môi mọi người thôi, dù nghe cũng không tình tứ gì cho lắm: hết rau rồi em có lấy măng không?

Không chỉ bị ám ảnh bởi cái đói mà cả nửa nước (bên kia) còn bị nhồi nặn, và kích động bởi căm thù:

“Phải ngày đêm hành quân để kịp tới chiến trường trước khi hòa bình, trước khi chiến thắng. Vào chậm, chỉ còn mỗi việc thu nhặt ống bơ gỉ, tháo gỡ dây thép gai thôi. Chẳng còn địch đâu mà đánh. Xe trước hát vang: Giải phóng miền Nam chúng ta thề quyết tiến bước. Xe thứ hai tiếp theo hào hùng: Diệt đế quốc Mỹ phá tan bè lũ bán nước. Xe thứ ba tiếp lời: Ôi xương tan máu rơi, lòng hận thù ngút trời.” (Bùi Ngọc Tấn. Biển và Chim Bói Cá. Nhã Nam & NXB Hội Nhà Văn: 2010).

Ở bên này thì không thế. Ngoài những băn khoăn siêu hình về hố thẳm tư tưởng và nỗi dằn vặt triết lý nhân sinh giết người đi thì ta ở với ai (?) có kẻ còn chắp tay nguyện cầu cho chim bồ câu trắng hiện với không ít thơ ngây:

Mẹ già cười xanh như lá mới trong khu vườn
Ruộng đồng Việt Nam lên những búp non đầu tiên
Một đoàn tàu đi nhả khói ấm hai bên rừng …

Thực tại, tiếc thay, hoàn toàn không như dự tưởng:

  • “Tôi từng đi trên những chuyến tàu hỏa hành trình bắc nam mất 72 tiếng đồng hồ, trên đó chất đầy xe đạp, khung xe đạp, vải vóc, đường sữa, gạo, giấy… chuyển từ nam ra bắc. Những chuyến hàng thực chứ hoàn toàn không giả tạo chút nào đổ về nơi từng được coi là hạnh phúc, no ấm. Nhiều người vỡ lẽ, lắc đầu ngao ngán.” (Nguyễn Thông. “Thành Ngữ Mới: Phồn Vinh Giả Tạo”).
  • Bottom of Form
  • “Ở mỗi ga, khoang tàu biến thành cái chợ hay hàng ăn, tùy vào thời điểm. Ngoài sự nghèo đói, lộn xộn, mất vệ sinh và nói chung là kém văn hóa là đặc trưng của những gì xảy ra trên chuyến tàu đó hay cho cả đất nước ta thời đó, điều tôi nhớ nhất và thất vọng vô cùng là: từ Nam ra Bắc tôi hầu như không thấy một nụ cười trên gương mặt một ai cả.” (Trần Thành Nam. “Hãy Trả Lại Rổ Tép Khô Cho Tôi”).

Dự đoán của Trịnh Công Sơn, rõ ràng, hơi trật: Khi đất nước tôi không còn giết nhau/ Mọi người ra phố mời rao nụ cười. Ước mơ của người nhạc sỹ tài hoa, xem ra, cũng khác với hiện thực hơi xa: Mẹ già cười xanh như lá mới trong khu vườn. Cười gì nổi khi con vừa hoàn thành xong nghĩa vụ quốc tế (Giải Phóng Miền Nam) thì đến ngay lượt cháu Giải Phóng Cambodia. Thế là Em Ở Nông Trường Anh Ra Biên Giới:

Từng vai áo phai sẽ xanh thêm đời
Bàn tay làm nên những mùa vui
Từ trên đất này, những con người mới
mọc lên

Mạng người chớ có phải là giá, nấm, hay rau cỏ đâu mà cứ mọc lên hoài vậy được, hả Trời? Hết cuộc chiến ở biên giới phía Tây rồi đến chiến cuộc ở biên giới phía Bắc, cuộc nào cũng phải trả giá bằng hàng mấy vạn sinh linh mà không nghe ai lên tiếng phản đối (hay phản chiến) gì ráo trọi. Cũng chả thấy ai (dám) chắp tay nguyện cầu cho chim bồ câu trắng hiện.

Rồi sau khi bốn phương im tiếng súng, Đảng “dũng cảm và quyết tâm đổi mới” để chuyển đổi sang Kinh Tế Thị Trường (theo định hướng XHCN) thì đất nước lại phát sinh ra thế lực thù địch mới – giặc nội xâm:

Khi đã phải thay phong bì bằng bao tải mới đủ chỗ chứa (hằng triệu Mỹ Kim) tiền lại quả, và khi mà số lượng ma túy bị tịch thu được tính theo đơn vị tấn (chứ không phải ký hay tạ nữa) thì mặt trận nội xâm đã kể như … toang!

Ngoại xâm cũng vậy. Ngày 19 tháng 4 năm 2020, BBC loan tin: Trung Cộng lập hai hai huyện đảo quản lý Trường Sa, Hoàng Sa. Qua hôm sau, Thông Tấn Xã Việt Nam cho biết: “Việt Nam phản đối mạnh mẽ việc thành lập cái gọi là thành phố Tam Sa … Việt Nam yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền…”

Trong Lịch sử nhân loại chưa có một cuộc xâm lăng nào bị ngăn chận bởi những lời “phản đối” hay “yêu cầu” (yếu xìu) như thế cả. Thù trong giặc ngoài, nợ công cao lút đầu, đạo đức xuống thấp đến gót chân, không khí ô nhiễm, sông hồ cạn kiệt, rừng núi điêu tàn, đất nước tan hoang… là “thành quả” của cuộc cách mạng vô sản hiện nay ở Việt Nam.

Ông Nguyễn Hộ, một đảnh viên lão thành của ĐCSVN, coi đây là “điều sỉ nhục.” Ông TBT kiêm CTN Nguyễn Phú Trọng thì không, ổng không thấy nhục nhã gì ráo trọi và vẫn nhơn nhơn ban hành Nghị Quyết Về Cuộc Cách Mạng 4.0 với những mục tiêu trời/biển như sau:

  • Năm 2025, internet băng thông rộng phủ 100% các xã, duy trì xếp hạng về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc 3 nước dẫn đầu ASEAN.
  • Năm 2030, mạng di động 5G phủ sóng toàn quốc; mọi người dân được truy cập internet băng thông rộng với chi phí thấp. Kinh tế số chiếm trên 30% GDP; năng suất lao động tăng bình quân khoảng 7,5%/năm.
  • Năm 2045, Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh, trung tâm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo thuộc nhóm dẫn đầu khu vực châu Á.

Tuy nghe hơi hoang đường nhưng cũng không khác lắm với những lời hứa hẹn của những nhân vật tiền nhiệm:

Toàn là thần chú và phép lạ cả. Điều mầu nhiệm là tuy chỉ được ăn bánh vẽ nhưng cả nước vẫn không ai kêu đói, và có người cò tấm tắc khen ngon. Mầu nhiệm hơn nữa là một dân tộc dễ chịu (và dễ dậy) tới cỡ đó mà vẫn sống sót được mãi cho đến đầu thế kỷ này.


 

Lập tài khoản giả MAGA, Trung Quốc đang phá hoại bầu cử Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

April 2, 2024

Nguyễn Cao/SGN

Theo các nhà nghiên cứu và giới chức chính phủ Mỹ, Trung Quốc đang tung ra loạt tài khoản ma, mạo danh người Mỹ ủng hộ Donald Trump, quảng bá thuyết âm mưu, gây chia rẽ nước Mỹ và tấn công Tổng thống Joe Biden…, trong bối cảnh cuộc bầu cử tổng thống Mỹ bắt đầu nóng hực.

Sự việc báo hiệu một thay đổi chiến thuật trong cách Bắc Kinh gây ảnh hưởng đến nền chính trị Mỹ, với việc nhắm thẳng vào các ứng cử viên và đảng phái cụ thể, kể cả đương kim Tổng thống Joe Biden.

Tương tự chiến dịch gây ảnh hưởng và phá hoại nền dân chủ Hoa Kỳ mà Nga thực hiện trước cuộc bầu cử 2016, Trung Quốc đang tận dụng tối đa tình trạng chia rẽ đảng phái để làm suy yếu các chính sách của chính quyền Biden. Trong bài báo ngày 1 Tháng Tư 2024, The New York Times cho biết, một số tài khoản Trung Quốc mạo danh những người hâm mộ cuồng nhiệt Trump đang làm đủ trò, từ việc chế nhạo tuổi tác của Biden đến chia sẻ những hình ảnh giả Biden trong bộ đồ tù. Có tài khoản thậm chí nói Biden là một con quỷ Satan ấu dâm!

Elise Thomas, nhà phân tích cấp cao thuộc Viện Đối thoại Chiến lược (Institute for Strategic Dialogue), một tổ chức nghiên cứu phi lợi nhuận, cho biết: “Tôi chưa bao giờ thấy bất cứ điều gì tương tự trước đây.”

Elise Thomas, cùng các nhà nghiên cứu, đã liên kết hoạt động mới này với một mạng tài khoản vốn kết nối sâu với chính phủ Trung Quốc được gọi là Spamouflage. Một số tài khoản trước đây chuyên đăng nội dung ủng hộ Bắc Kinh bằng tiếng Quan Thoại bây giờ tái xuất hiện dưới lớp vỏ là người Mỹ và viết bằng tiếng Anh.

Tổ chức Bảo vệ Dân chủ (Foundation for Defense of Democracies) ở Washington DC xác định có 170 trang và tài khoản giả trên Facebook đang thực hiện chiến dịch phá hoại nước Mỹ, từ việc đưa ra các thông điệp chống Mỹ đến những cuộc tấn công bôi nhọ nhằm vào Joe Biden.

Dù các nhà nghiên cứu cho rằng khuynh hướng chính trị tổng thể của chiến dịch tranh cử vẫn chưa rõ ràng và chưa chắc Donald Trump thắng cử, nhưng Bắc Kinh dường như đang đặt cược vào Trump. Bất luận Trump luôn mồm đe dọa Trung Quốc, Bắc Kinh vẫn muốn một người tính khí bất thường như Trump ngồi ghế tổng thống.

Tháng Hai 2024, Văn Phòng Giám Đốc Tình Báo Quốc Gia đưa ra báo cáo cho biết, Trung Quốc bắt đầu mở rộng chiến dịch gây ảnh hưởng để “gieo rắc nghi ngờ về giới lãnh đạo Mỹ, hạ thấp giá trị nền dân chủ đồng thời mở rộng và nêu bật tầm ảnh hưởng của Bắc Kinh.” Báo cáo bày tỏ lo ngại rằng Bắc Kinh sử dụng các phương pháp ngày càng tinh vi để tác động đến cuộc bầu cử Mỹ.

Elise Thomas, người có kinh nghiệm nghiên cứu các hoạt động thông tin của Trung Quốc trong nhiều năm, cho biết nỗ lực mới này cho thấy một cách tiếp cận tinh vi và phức tạp hơn các chiến dịch trước đây. Bà Elise Thomas nhấn mạnh, đây là lần đầu tiên bà thấy những tài khoản Trung Quốc giả làm người Mỹ ủng hộ Trump với thể hiện rất thuyết phục, y như thật, và quan trọng nhất là chúng có thể lôi kéo dư luận Mỹ.

Cho đến nay, nỗ lực Trung Quốc nhằm thúc đẩy hệ tư tưởng của họ ở phương Tây vẫn gặp khó khăn trong việc giành được sự chú ý, dù Bắc Kinh không mệt mỏi thúc đẩy tuyên truyền về tính ưu việt của Trung Quốc, từ văn hóa đến kinh tế; bôi nhọ nền dân chủ và khơi dậy tình cảm chống Mỹ. Do đó, Bắc Kinh đổi chiến thuật. Bên cạnh việc tiếp tục tạo ra những câu chuyện “thần thoại” về sức mạnh Trung Quốc, bây giờ là phá hoại nội bộ Mỹ.

Trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2022, công ty an ninh mạng Mandiant cho biết chiến dịch thông tin Dragonbridge của Trung Quốc đã xoáy mạnh vào sự phân cực chính trị ở Mỹ, đồng thời “xúi” người Mỹ không đi bỏ phiếu. Theo các nhà nghiên cứu, trong chiến dịch Dragonbridge, Trung Quốc đã thử nghiệm chiến thuật giả mạo, tung ra những tài khoản xưng “tôi là người Mỹ.”

Trong các chiến dịch gần đây, người ta thấy có nhiều “tôi là người Mỹ” hơn. Chúng nói về sự chia rẽ hiển hiện trong nền chính trị Mỹ. Chúng “tranh luận” về quyền của người đồng tính, về vấn đề nhập cư và tội phạm…, với quan điểm sặc mùi cực đoan cánh hữu. Chúng chứng minh rằng nước Mỹ hổ lốn đang xuống dốc không phanh…

Tháng Hai 2024, theo Viện Đối thoại Chiến lược, một tài khoản Trung Quốc trên X (Twitter) mạo danh là người Mỹ, thuộc “hệ phái” “MAGA 2024”, đã chia sẻ một đoạn video từ RT (mạng truyền hình Nga do Kremlin kiểm soát), khẳng định rằng Tổng Thống Biden và CIA đã cử một tay đầu bướu tân phát xít (neo-Nazi gangster) đến chiến trường Ukraine (vụ này sau đó bị nhóm điều tra Bellingcat vạch trần).

Tuy nhiên, vấn đề là có không ít người Mỹ tin vào những nguồn vô căn cứ như vậy. Ngay ngày hôm sau, bài đăng trên đã lan rộng, khi Alex Jones, một tay podcaster bẩn chuyên truyền bá tin giả và thuyết âm mưu, chia sẻ nó trên trang cá nhân có 2.2 triệu người theo dõi của mình.

Để tăng độ tin cậy, tài khoản (Trung Quốc) liên quan “MAGA 2024” tự mô tả rằng nó được điều hành bởi một người ủng hộ Trump, 43 tuổi, ở Los Angeles. Tuy nhiên, nó sử dụng ảnh cá nhân lấy từ blog du lịch của một người Đan Mạch! Điều khác thường nữa là dù tài khoản được mở cách đây 14 năm nhưng bài đăng công khai đầu tiên của nó là vào Tháng Tư 2023. Trong bài đăng đó, nó viết Tổng thống Biden có quan hệ với Jeffrey Epstein, một tội phạm nổi tiếng, chuyên “dắt gái” cho giới chính trị gia và dân nhà giàu, bị giam và tự tử chết trong tù năm 2019. Trong thực tế, như nhiều người đã biết, Jeffrey Epstein quen với Donald Trump chứ không phải Joe Biden.

Theo nhà phân tích cấp cao Elise Thomas thuộc Viện Đối Thoại Chiến Lược, ít nhất bốn tài khoản tương tự đang hoạt động mạnh, tất cả đều có quan hệ với lực lượng an ninh Trung Quốc. Một tài khoản trên X có dấu kiểm xanh (trao cho người dùng có danh tính được xác minh; và người dùng phải đóng phí hàng tháng) hiện liên tục chia sẻ các thông điệp ủng hộ Trump, chống Biden, loan tải thuyết âm mưu QAnon và đăng những cáo buộc gian lận bầu cử vô căn cứ.

Các bài đăng của nó hô hào “chúng ta phải làm cho mình mạnh mẽ lên, đừng bôi nhọ Trung Quốc và tạo ra tin đồn”. Người ta dễ dàng nhận ra cái đuôi “Tàu” của tài khoản này, bởi nó dùng những cụm từ như “sao dám?” (“how dare?”), thay vì “sao bạn dám?” (“how dare you?”), rồi còn có những dấu hiệu cho thấy trình duyệt web của người dùng được cài đặt sử dụng Quan Thoại chứ không phải tiếng Anh.

Cần nhắc lại, hạ tuần Tháng Ba 2024, Mỹ và Vương quốc Anh đã áp đặt các biện pháp trừng phạt nhằm vào những cá nhân và nhóm có nguồn gốc Trung Quốc chuyên phá hoại giới chính trị gia lẫn nhà báo phương Tây, trong chiến dịch gián điệp mạng quy mô do Bộ An ninh nhà nước Trung Quốc điều hành. Đó là nhóm hack được cộng đồng an ninh mạng biết đến với cái tên Mối đe dọa liên tục nâng cao 31 (Advanced Persistent Threat 31 – APT 31). Theo Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, APT 31, còn được gọi là Zirconium, Violet Typhoon, Judgement Panda và Altaire, được điều hành bởi Bộ An ninh Nhà nước Trung Quốc từ thành phố Vũ Hán.

Nhóm này từng dính vào nhiều vụ tấn công nguy hiểm. Năm 2020, Google và Microsoft cảnh báo rằng APT 31 đã hack vào email cá nhân của các nhân viên chiến dịch tranh cử làm việc cho Joe Biden. The Guardian cho biết thêm, vợ hoặc chồng của các quan chức cấp cao Tòa Bạch Ốc lẫn giới thượng nghị sĩ Mỹ cũng là mục tiêu, cùng với nhân viên tranh cử của cả hai đảng Cộng Hòa và Dân Chủ.


 

Tin nóng: Việt Nam đã tấn công tòa đại sứ Mỹ bằng hội chứng Havana (vũ khí vi sóng)

“Hội chứng Havana” bao gồm các triệu chứng như nôn mửa, chóng mặt, đau nửa đầu, suy giảm thính giác và thị giác. Những triệu chứng này có thể kéo dài hàng năm làm suy nhược thần kinh.

Người Việt Online:

Thế giới ngoại giao chẳng còn lạ gì cái gọi là “Hội chứng Havana” (Havana Syndrome – nói về việc giới chức ngoại giao Mỹ bị tấn công bằng những phương tiện kỹ thuật bí ẩn).

“Hội chứng Havana” đã xảy ra tại Việt Nam trước chuyến đi Hà Nội năm 2021 của Phó Tổng thống Kamala Harris.

Giờ đây, bằng chứng mới cho thấy Nga có thể liên quan. Quan trọng hơn, điều tra cho thấy có thể chính Hà Nội đã được cung cấp công nghệ để tấn công người Mỹ – theo tiết lộ của CBS News ngày 31 Tháng Ba 2024.

Đài BBC

Vào thời điểm đó, Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội đã ra thông cáo rằng nguyên nhân là do “một trường hợp y tế có thể là bất thường mới phát sinh tại Hà Nội, Việt Nam. Sau khi đánh giá một cách cẩn trọng, quyết định được đưa ra là chuyến thăm sẽ tiếp tục.”

Trong lễ ký thỏa thuận về địa điểm đại sứ quán mới giữa Mỹ và Việt Nam, diễn ra ở Hà Nội một ngày sau đó (25/8/2021), khi được hỏi về sự cố y tế “Hội chứng Havana”, Phó tổng thống Mỹ chỉ cảm ơn các nhân viên đại sứ quán và không đề cập về trường hợp y tế bất thường trước đó.

Theo thông tin của cuộc điều tra, có 11 quan chức Mỹ bị thương trong cuộc tấn công theo kiểu được cho là “Hội chứng Havana” trước chuyến đi của bà Kamala Harris đến Hà Nội.

Báo Saigon Nhỏ

Khi điều tra vụ việc ở Hà Nội, nhà báo điều tra Christo Grozev – hiện làm việc cho The Insider, người nổi tiếng với cuộc điều tra vụ đầu độc nhân vật chính trị đối lập Alexey Navalny của Nga – đã tìm thấy một tài liệu cho thấy giả thuyết trên có thể đúng.

Năm tháng trước chuyến kinh lý Hà Nội của Kamala Harris, một email được gửi tới Hội đồng An ninh Nga, cho thấy tình báo Nga đã vận động và được Tổng thống Vladimir Putin bật đèn xanh, về việc cung cấp công nghệ nào đó cho các cơ quan an ninh Việt Nam. 

Trong số danh sách những công nghệ được đề xuất, có “bộ phát sóng âm LRAD” (“LRAD acoustic emitters”) và “thiết bị sóng ngắn quét cơ thể người” (“short-wave equipment for scanning the human body”).

 

 

Khi để ở mức âm lượng cao nhất, một số hệ thống LRAD có thể tạo ra mức áp suất âm thanh (sound pressure) là 162 decibel, trong khi ngưỡng chịu đau của con người là khoảng 130 decibel. Dựa trên nghiên cứu của mình, Christo Grozev cho biết ông nghi người Nga gửi công nghệ vũ khí này cho các chính phủ nước ngoài để được sử dụng trong các cuộc tấn công theo kiểu “Hội chứng Havana”.

Long Range Acoustic Device (LRAD Corporation) - Design and Violence

Christo Grozev nói với 60 Minutes: “Tôi tin rằng Nga đang hỗ trợ các chính phủ khác thực hiện một số hoạt động mà bản thân những chính phủ đó cũng muốn thực hiện; nhằm tạo dựng lòng trung thành với Nga, đối với các hoạt động trong tương lai mà Nga có thể cần trên lãnh thổ của họ”. Trung tá hưu Greg Edgreen thuộc quân đội Hoa Kỳ – người tổ chức cuộc điều tra cho Cơ quan Tình báo Quốc phòng về các sự cố sức khỏe bất thường – nói với 60 Minutes rằng ông cũng tin người Nga có liên quan vụ tấn công năm 2021 ở Việt Nam.

Căn bệnh bí ẩn được gọi là “Hội chứng Havana” bắt đầu tấn công nhiều nhà ngoại giao và nhân viên tình báo Hoa Kỳ ở thủ đô Havana (Cuba) vào cuối năm 2016. Nạn nhân cho biết triệu chứng khởi phát đột ngột gồm đau đầu, buồn nôn, khó chịu và cực kỳ nhạy cảm trước âm thanh, cùng với hiện tượng mất trí nhớ và loạt triệu chứng rối loạn nhận thức khác.

Massachusetts federal lawmakers call on Biden to remove Cuba from list ...

Trong bài báo năm 2023, The Washington Post cho biết có 200 vụ việc được báo cáo trong số quân nhân Hoa Kỳ làm việc tại Nga, Trung Quốc, Colombia, Uzbekistan và thậm chí ở Mỹ. Những trường hợp đầu tiên được biết đến là các nhân viên Mỹ và Canada ở Cuba vào cuối năm 2016. Các viên chức CIA đóng tại Đại sứ quán Mỹ ở Havana cho biết họ đột ngột cảm thấy mệt mỏi dữ dội, buồn nôn và áp lực dồn dập khiến đầu họ muốn nổ tung. Kết quả quét não sau đó cho thấy họ bị tổn thương mô nghiêm trọng, vốn chỉ thấy ở những bệnh nhân bị chấn động sau một vụ nổ bom hoặc tai nạn xe hơi.

MôtMLRAD Corporation – Defesa Aérea & Naval

Một mẫu máy LRAD của defesaaereanaval.com

Theo BBC ngày 1 Tháng Tư 2024, mới đây, Ngũ Giác Đài cho biết một quan chức cấp cao của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ dự Hội nghị thượng đỉnh NATO năm 2023 ở Lithuania cũng trải qua các triệu chứng tương tự “Hội chứng Havana”. Tính đến nay, hơn 1,000 báo cáo về căn bệnh bí ẩn đã được ghi nhận, trong đó có hàng chục trường hợp chính thức được coi là không thể giải thích được.

Thủ phạm: Đơn vị 29155 của Nga

Theo The Insider, cái gọi là “Hội chứng Havana” có thể không phải bắt đầu ở thủ đô Cuba vào năm 2016 như nhiều người kết luận mà có khả năng đã xảy ra hai năm trước đó ở Frankfurt, Đức, khi một nhân viên chính phủ Mỹ đóng tại lãnh sự quán ở đó bị bất tỉnh bởi “thứ gì đó” giống như một chùm năng lượng mạnh. Nạn nhân sau đó được chẩn đoán bị chấn thương não.

Như đã nói, điều tra của The Insider, 60 Minutes và Der Spiegel phát hiện tài liệu bằng chứng cho thấy Đơn vị 29155 của GRU (tình báo Nga) là thủ phạm. Đơn vị 29155 vốn khét tiếng trong cộng đồng tình báo Hoa Kỳ cũng như thế giới. Một cựu quan chức cấp cao CIA có chuyên môn về các vấn đề ở Nga nói với The Insider: “Phạm vi của họ (Đơn vị 29155) là toàn cầu. Họ tiến hành các hoạt động gây chết người và thực hiện những hành vi phá hoại. Nhiệm vụ của họ là tìm kiếm cách thức và hoàn thiện các phương pháp, tất cả đều nhằm hỗ trợ cho giấc mơ đế quốc của Vladimir Putin.”

Một kiểu máy LRAD của hãng Defensa Bồ Đào Nha, ảnh minh họa của defesaaereanaval.com

Ban đầu được hình thành như một đơn vị đào tạo trong GRU, Đơn vị 29155 được tổ chức lại và mở rộng vào năm 2008 với tư cách là một nhóm hoạt động chuyên thực hiện các chiến dịch ám sát, phá hoại và gây bất ổn chính trị trên khắp thế giới.

Ba nhân vật của đơn vị này, Đại tá Alexander Mishkin, Đại tá Anatoliy Chepiga và Thiếu tướng Denis Sergeev, chính là những kẻ lập kế hoạch đầu độc điệp viên hai mang người Anh Sergei Skripal và cô con gái Yulia của ông bằng chất độc thần kinh Novichok ở Salisbury (Anh) vào năm 2018. Năm 2015, Denis Sergeev và các thành viên khác trong Đơn vị 29155 hai lần đầu độc tay buôn vũ khí người Bulgaria Emilian Gebrev bằng organophosphate. Emilian Gebrev bị xử vì công ty EMCO của ông lúc đó bán đạn dược cho Georgia và Ukraine, hai quốc gia thù địch của Nga.

…Và cũng chính Đơn vị 29155 là nơi được triển khai thực hiện các chiến dịch phá hoại ở Ukraine trong những ngày trước khi Nga thực hiện cuộc xâm lược toàn diện vào nước này (Tháng Hai 2022).

 

Bình luận của Kẻ Đi Tìm

  • Chơi với Cộng Sản thì luôn phải đề phòng, hy vọng Ông Đại Sứ Mỹ Marc E. Knapper có thể hiểu rõ điều này, đừng có mơ tưởng có thể cảm hóa được người Cộng Sản trở nên tử tế.
  • Cộng Sản Việt Nam sẽ phải trả lời cho Tòa Đại Sứ Mỹ chúng ta chờ nghe câu trả lời.
  • Cộng Sản Việt Nam giống như một đứa bé hư được nuông chiều quá lố. Họ sẽ hy vọng chính quyền Biden chỉ phản ứng cho có chừng giống như các lần lấn sân trước đây.
  • Điều đó sẽ còn đúng được bao lâu nữa? 
    Tuy nhiên chơi với Ma thì cũng dễ có ngày phải mặc áo giấy.

Tổng Thống mới của Nam Dương sẽ tiếp tục củng cố an ninh vùng biển quốc gia

Kẻ đi tìm tổng hợp báo chí quốc tế

JAKARTA, Indonesia (AP) – Các nhà lãnh đạo nước ngoài chúc mừng Bộ trưởng Quốc phòng Prabowo Subianto về chiến thắng rõ ràng của ông trong cuộc bầu cử tổng thống Indonesia, trong khi các nhà hoạt động nhân quyền gọi ông là một mối đe dọa. Nhưng cách ông ấy sẽ cai trị vẫn chưa chắc chắn sau một chiến dịch tranh cử mà trong đó ông ấy đưa ra rất ít lời hứa cụ thể bên cạnh việc tiếp tục làm việc với vị tổng thống sắp mãn nhiệm được nhiều người yêu mến.

Cựu tướng 72 tuổi chưa bao giờ giữ chức vụ dân cử. Ông sẽ lãnh đạo một quốc đảo rộng lớn, đa dạng, có nền kinh tế bùng nổ trong bối cảnh nhu cầu toàn cầu mạnh mẽ về tài nguyên thiên nhiên, nhưng ông sẽ phải đối mặt với khó khăn kinh tế toàn cầu và căng thẳng khu vực ở châu Á, nơi xung đột lãnh thổ và sự cạnh tranh Mỹ-Trung đang rình rập lớn.

Subianto, người đã bị trục xuất khỏi quân đội Indonesia vì cáo buộc người của ông tra tấn những người bất đồng chính kiến ​​và bị cấm đi du lịch đến Hoa Kỳ và Úc trong nhiều năm.

Nhận xét của Đài Á Châu Tự Do

Các chính sách đối ngoại và quốc phòng của Prabowo Subianto đã trở thành tâm điểm chú ý sau khi cựu tướng quân đội và đương kim bộ trưởng quốc phòng tuyên bố chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống Indonesia trong tuần này.

Chính sách Biển Đông của Jakarta dưới thời Prabowo sẽ đi đến đâu?Ứng cử viên tổng thống Prabowo Subianto chào đón những người ủng hộ trong một cuộc vận động tranh cử ở Medan, Bắc Sumatra, Indonesia, ngày 13 tháng 1 năm 2024. Ảnh AP/Binsar Bakkara

Indonesia không phải là một bên trong tranh chấp Biển Đông nhưng nước này có lợi ích kinh tế và chiến lược trong việc duy trì hòa bình và ổn định ở đó khi vùng đặc quyền kinh tế của nước này chồng chéo với một số nước láng giềng, cũng như với cái gọi là đường chín đoạn mà Bắc Kinh đưa ra. nhằm đòi chủ quyền lịch sử của Trung Quốc đối với phần lớn vùng biển.

Các tài liệu tranh cử của Prabowo nêu rõ rằng Indonesia cần chuẩn bị cho những xung đột trong tương lai và lên kế hoạch làm thế nào để giảm thiểu những rủi ro tiềm ẩn.

phản đối (1).JPGNgười dân biểu tình bên ngoài đại sứ quán Trung Quốc ở Jakarta vào ngày 8 tháng 12 năm 2021 sau khi có thông tin cho rằng Trung Quốc đã xâm phạm khu vực hàng hải của Indonesia ở Biển Đông. (Reuters)

Aristyo Rizka Darmawan cho biết Prabowo có thể sẽ tập trung vào việc xây dựng lực lượng hải quân như một lực lượng răn đe ở vùng biển xung quanh quần đảo Natuna, nơi các hoạt động xâm lấn và tuần tra của tàu cá Trung Quốc đã trở nên thường xuyên.

Nhà nghiên cứu cấp cao của Đại học Indonesia cho biết: “Khả năng phòng thủ và hàng hải của hải quân Indonesia rất quan trọng. Với chiến lược như vậy, Prabowo rất có thể sẽ thực hiện một chính sách quyết đoán hơn ở Biển Bắc Natuna”.

Tàu Trung Quốc.JPG
Một tàu Cảnh sát biển Trung Quốc được nhìn thấy từ một tàu Hải quân Indonesia trong quá trình tuần tra tại Vùng đặc quyền kinh tế của Indonesia ở phía bắc đảo Natuna, Indonesia, vào ngày 11/1/2020. (Antara Foto/M Risyal Hidayat/via Reuters)

Quá trình hiện đại hóa quân sự của Trung Quốc dự kiến ​​sẽ hoàn thành vào năm 2027 và nhiều người dự đoán rằng khi đó Bắc Kinh sẽ đủ tự tin để tiến hành một cuộc xung đột mở trong khu vực và Mỹ sẽ phải can thiệp để hỗ trợ các đồng minh của mình.

Trong khi đó, Zulfikar từ NUS cho biết lập trường của Prabowo về Trung Quốc và chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Mỹ có thể không đơn giản.

Zulfikar nói: “Trong khi bày tỏ sự quan tâm đến việc xây dựng mối quan hệ chặt chẽ hơn với Trung Quốc, đặc biệt là về hợp tác kinh tế, Prabowo cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì chủ quyền và độc lập của Indonesia trong chính sách đối ngoại của mình”.

Điều đó có thể cho thấy Prabowo “đang tìm cách tăng cường hợp tác khu vực với các nước ASEAN và các cường quốc khu vực khác để giải quyết các thách thức an ninh”.

Prabowo có thể áp dụng cách tiếp cận thực dụng, tìm cách cân bằng mối quan hệ của Indonesia với cả Trung Quốc và Mỹ để tối đa hóa lợi ích của chính mình”.

“Về chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của Hoa Kỳ và nhóm AUKUS [giữa Úc, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ], ông tổng thống mới có thể tiếp cận họ một cách thận trọng, nhấn mạnh lập trường không liên kết của Indonesia trong khi khám phá những lợi ích và rủi ro tiềm ẩn liên quan đến việc tăng cường tham gia vào các sáng kiến ​​này, ”, nhà nghiên cứu của NUS nói thêm.

Đài VOA đưa tin

Ông Prabowo Subianto (trái) trong cuộc gặp với Thủ tướng Nhật Kishida.
Ông Prabowo Subianto (trái) trong cuộc gặp với Thủ tướng Nhật Kishida.

Tổng thống đắc cử của Indonesia Prabowo Subianto hôm 3/4 nói với Thủ tướng Nhật Bản Fumio Kishida rằng ông muốn hợp tác kinh tế và an ninh sâu sắc hơn, chỉ hai ngày sau khi nói với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình rằng ông mong muốn có mối quan hệ chặt chẽ.

“Chúng ta đã gây dựng một mối quan hệ hợp tác và trong tương lai tôi muốn củng cố điều đó”, ông Prabowo nói với ông Kishida tại một cuộc họp ở Tokyo.