Phóng viên BBC bị buộc phải ‘thú tội’ ở TQ

Phóng viên BBC bị buộc phải ‘thú tội’ ở TQ

BBC

Đoàn làm phim BBC bị tấn công ở Trung Quốc

Kế hoạch rất đơn giản.

Chúng tôi đã sắp xếp để gặp một người phụ nữ tại làng quê của bà, thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, rồi sau đó sẽ cùng bà đi xe lửa lên Bắc Kinh, và chúng tôi sẽ quay phim trong hành trình.

Nhưng chúng tôi đã không bao giờ gặp được người mình muốn phỏng vấn.

Và cách thức câu chuyện kết thúc lại cho thấy cách thực thi quyền lực một cách rõ ràng hơn bất kỳ cuộc phỏng vấn nào.

Đó là một sự việc liên quan tới bạo lực, hăm dọa và cả cưỡng bức thú tội – lần đầu tiên tôi buộc phải ‘thú tội’ trong suốt thời gian dài tường thuật tại Trung Quốc – tôi đã buộc phải xin lỗi vì đã “có hành xử gây ra hậu quả xấu” và vì đã tìm cách thực hiện một “cuộc phỏng vấn bất hợp pháp”.

Picture of BBC journalist John Sudworth being forced away from a Chinese village

Bà Dương Linh Hoa định đi tàu lên Bắc Kinh, bởi bà là ‘người khiếu kiện’ tại Trung Quốc.

Hàng năm, có hàng chục ngàn người Trung Quốc do cảm thấy không có công lý tại các tòa án địa phương do đảng Cộng sản điều hành đã tới thủ đô, đệ đơn khiếu nại lên Phòng Tiếp dân Nhà nước.

Các vụ tham nhũng, cướp đất, hành động phi pháp của chính quyền địa phương, chữa trị y tế cẩu thả, tình trạng bạo lực của cảnh sát, đuổi việc một cách bất công…, tất cả đều được trình bày trong hàng tập giấy tờ, trong các bộ đơn kiện, và họ mang theo người.

Cả hệ thống này cũng là do Đảng Cộng sản điều hành, tất nhiên, và cơ hội họ khiếu kiện thành công là rất nhỏ nhoi.

Nhưng với nhiều người thì đây là cơ hội duy nhất mà họ có, và họ thường tiếp tục đệ đơn trong vô vọng suốt nhiều năm.

Picture of Yang Qinghua, sister of Linghua
BBC đã phỏng vấn bà Dương Thanh Hoa, chị của bà Dương Linh Hoa, hồi ba năm trước

Tình trạng bạo lực

Cũng giống như gia đình Dương Linh Hoa.

BBC đã phỏng vấn người chị của bà, bà Dương Thanh Hoa, hồi ba năm trước khi bà trên đường tới Bắc Kinh đệ đơn.

Những người phụ nữ này cáo buộc là bản thân họ đã bị đánh cắp đất đai, và cha họ trong cuộc tranh chấp đã bị đánh đập tàn tệ khiến ông sau đó tử vong.

Nhưng vì một lý do nhất định, nên bà Dương tìm cách tới Bắc Kinh trong tuần này.

Vào Chủ Nhật, Trung Quốc bắt đầu khai mạc kỳ họp quốc hội thường niên, Đại hội Nhân dân Đại biểu (NPC).

Fish-eye lens view of the 12th National Committee of the Chinese People's Political Consultative Conference (CPPCC) in the Great Hall of the People in Beijing, China, 3 March 2016.
Bản quyền hình ảnhEPA
Đại hội Nhân dân Đại biểu (tức kỳ họp quốc hội) được tổ chức tại Đại Lễ đường ở Bắc Kinh

Sự kiện có sức hút mạnh mẽ đối với những người khiếu kiện, vốn trông chờ vào sự kiện trọng đại này để nêu vụ việc của mình.

Nhưng Bắc Kinh thì lại nghĩ khác.

Giới chức không muốn những đạo quân nhếch nhác xuất hiện tại thủ đô, cho nên các địa phương có nhiệm vụ phải chặn, không để những người khiếu kiện tới nơi.

Chúng tôi biết là chị và mẹ của bà Dương đã bị lệnh quản chế tại gia không chính thức.

Nhưng bởi bà chưa từng lên Bắc Kinh nộp đơn bao giờ, cho nên bà nghĩ bà có thể đi mà không bị nghi ngờ, và ít nhất là cũng có thể lên được tàu.

Bà đã lầm.

Ngay khi chúng tôi tới được làng quê của Dương Linh Hoa, thì rõ ràng là đã có người chờ đón chúng tôi.

Con đường tới nhà bà bị chặn bởi một đám đông, và chỉ trong vòng vài phút, họ tấn công chúng tôi và đập phá toàn bộ máy quay của chúng tôi.

Picture of some of the BBC's broken equipment returned to the crew
Thiết bị, máy móc của nhóm phóng viên BBC bị đập phá

Tuy việc ra tay bạo lực như vậy là điều các phóng viên nước ngoài có thể phải đối diện ở Trung Quốc, nhưng những gì diễn ra sau đó mới là bất thường.

Sau khi rời làng, chúng tôi bị đuổi theo, và xe chúng tôi bị một nhóm khoảng 20 kẻ côn đồ vây lại.

Sau đó, có một số nhân viên cảnh sát mặc thường phục và hai viên chức từ văn phòng Sở ngoại vụ tới cùng đám này. Và bị đe dọa phải hứng chịu thêm bạo lực, chúng tôi buộc phải xóa một số đoạn video đã ghi, và buộc phải ký vào bản thú tội.

Đó là một cuộc đàm phán một bên, nhưng ít nhất nó cũng giúp chúng tôi thoát ra.

Một đoạn video mà người chị của bà Dương Linh Hoa gửi cho chúng tôi cho thấy bà cũng đang bị bắt giữ bởi một số trong cùng đám người hăm dọa chúng tôi.

A close up shot of a Beijing resident's red armband, identifying her as security volunteer, in Beijing, China, 2 March 2017.
Bản quyền hình ảnhREUTERS
Nhân viên an ninh và các trật tự viên tình nguyện có mặt khắp nơi trong kỳ họp quốc hội ở Bắc Kinh

LINH MỤC NGUYỄN VĂN LÝ KÊU GỌI TỒNG BIỂU TÌNH NGÀY 05.03.201

From facebook:  TTim TTím‘s post.
Image may contain: 1 person, crowd and outdoor
TTim TTím with Ellen Nguyen.

LINH MỤC NGUYỄN VĂN LÝ KÊU GỌI TỒNG BIỂU TÌNH NGÀY 05.03.2017

SBTN- 2.3.2017 -Trong những ngày qua, Linh mục Tadeo Nguyễn Văn Lý- đại diện cho tổ chức Quốc Dân Việt- đã kêu gọi toàn thể người dân Việt Nam khắp ba miền xuống đường biểu tình trong ngày 05.03.2017 sắp tới.

Linh mục Nguyễn Văn Lý cho phóng viên SBTN biết lý do: “Nhìn vào tình hình đất nước Việt Nam hiện nay sẽ không còn thời gian để lập ra kế hoạch này, kế hoạch nọ để giải thể chế độ cộng sản độc tài. Muốn đập tan chế độ cộng sản độc tài cần có 4 giai đoạn: đồng lòng thay đổi nhận thức, đồng lòng lên tiếng, đồng lòng cầu nguyện và đồng lòng hành động. Hiện tại, người dân Việt Nam đã trải qua 3 giai đoạn đồng lòng rồi, và chỉ còn đồng lòng hành động để thay đổi. Nhìn vào tình hình hiện nay, Formosa đang gây ô nhiễm môi trường khắp nơi, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân. Và Trung Cộng thì đang âm mưu thôn tính Việt Nam. Chính vì vậy, thời điểm này là cơ hội để người dân hành động. Cuộc tổng biểu tình 05/03/2017 sắp tới là đợt tập duyệt để người dân quen dần. Tôi tha thiết kêu gọi mọi người cùng tham gia và bày tỏ tiếng nói của chính mình.”

Theo ghi nhận của phóng viên SBTN, hưởng ứng lời kêu gọi của Linh Mục Nguyễn Văn Lý, nhiều tổ chức, cá nhân và khắp ba miền Bắc – Trung – Nam đã có nhiều điểm tổ chức xuống đường biểu tình. Cụ thể:

– Hà Nội: 7h45 tại hồ Hoàn Kiếm
– Sài Gòn: 7h30 tại nhà thờ Đức Bà
– Vinh: 8h00 tại huyện Quỳnh Lưu
– Hà Tĩnh: 8h00 cổng vông ty Formosa
– Huế: 8h00 đường Nguyễn Huệ
– Đắc Lăk: 8h00 ngã năm nhà thờ Buôn Mê Thuột
– Cần Thơ: 7h30 quận Ninh Kiều
– Thái Bình: 8h45 bến xe Thái Bình ở đường Lý Bôn
– Nha Trang: 7h30 đường Nguyễn Huệ, Chợ Đầm
– Quảng Bình: 8h00 quốc lộ 1A đoạn qua Tx Ba Đồn
– Đồng Nai: 8h15 ngã ba Tam Hiệp
– An Giang: 8h00 đường Nguyễn Thái Học, tp Mỹ Tho
– Bình Dương: 7h30 siêu thị Sóng Thần.

Được biết, đồng bào tại hải ngoại cũng đã chuẩn bị những cuộc biểu tình để đồng hành cùng người trong nước.

Nguyên Nguyễn/SBTN
http://www.sbtn.tv/linh-muc-nguyen-van-ly-keu-goi-tong-bie…/

Kỷ luật vài người không cứu nổi muôn người


Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng. (Ảnh tư liệu)

Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng. (Ảnh tư liệu)

Tổng Bí thư đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) Nguyễn Phú Trọng lại tiếp tục gây xôn xao dư luận khi phát biểu tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác kiểm tra, giám sát của ĐCSVN năm 2016 vào ngày 24/2 vừa qua, đến nỗi mà các báo đều giật tít với tựa đề là câu nói này của ông. Nguyên văn câu nói của ông Trọng là:

“…Chúng ta rất nhân văn, nhân đạo, nhân ái, nhân tình; không thích thú gì khi phải kỷ luật đồng chí, đồng đội của mình; trái lại, rất khổ tâm, đau xót. Nhưng vì sự tiến bộ chung, vì để mong nhiều người không mắc sai phạm, chúng ta phải kỷ luật; kỷ luật một vài người để cứu muôn người!…”

Chỉ một câu nói này của ông Trọng thôi mà đã phơi bày gần như toàn bộ bản chất của chế độ chính trị Việt Nam hiện tại. Đó là chế độ đảng trị, chuyên chế, vì lợi ích ích kỷ của giới lãnh đạo đảng cầm quyền chứ hoàn toàn không phải là nhà nước pháp quyền “của dân, do dân và vì dân” như vẫn hô hào bấy lâu nay.

Nhân đạo, nhân ái với ai?

Hãy đọc vài dòng tâm sự đăng trên báo Tâm Sự Gia Đình của một đảng viên Cộng sản, ông Lê Kiên Thành, con trai của cố Tổng Bí thư Lê Duẩn:

“Tôi nhìn thấy sự tàn ác cả ở những vụ án tham ô, tham nhũng, cướp đất dân nghèo của những người có quyền lực. Tôi nhìn thấy sự tàn ác trong những vụ án oan mà những người đại diện pháp luật bằng sự lạnh lùng, vô tình, vô trách nhiệm của họ, đã vội vã đưa ra những kết luận điều tra vô lý nhất mà không cần quan tâm đến việc họ có thể đẩy một con người vô tội vào con đường chết.”

Thế là đã rõ, “đảng ta” rất nhân từ với “đồng chí”, “đồng đội” nhưng “tàn ác” với người dân. Chỉ là kỷ luật “khiển trách”, “cảnh cáo” trong nội bộ của đảng Cộng sản còn như vậy thì đừng mong gì các cơ quan bảo vệ pháp luật sẽ điều tra và xét xử nghiêm minh những quan chức sâu mọt, bán nước hại dân. Phải chăng vì thế mà Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị 15 cấm công an không được trinh sát đảng viên Cộng sản?

Kỷ luật một vài người là ai?

Vụ việc xem xét kỷ luật lớn nhất của ĐCSVN ở thời điểm hiện tại chính là kỷ luật các quan chức chịu trách nhiệm về thảm họa môi trường Formosa. Theo kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, ông Võ Kim Cự, cựu Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh (nhiệm kỳ 2011-2016) và ông Hồ Anh Tuấn, Trưởng Ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng (nhiệm kỳ 2010-2016) phải chịu “trách nhiệm chính”.

Điều này có công bằng không khi quyết định 145/2007/QĐ-TTg của nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành Thép Việt Nam giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025 gồm cả công trình tại Hà Tĩnh?

Sau khi thảm họa cá chết hàng loạt diễn ra vào tháng 4/2016 thì ngày 21-22/4/2016, chính ông Nguyễn Phú Trọng cũng đến thăm Hà Tĩnh và kiểm tra tiến độ của dự án Formosa nhưng ông cũng không hề nhắc đến chuyện cá chết đang làm người dân điêu đứng. Điều này chứng tỏ ông Trọng biết rất rõ và đồng thuận về dự án Formosa chứ không thể đổ vấy cho các quan chức cấp dưới.

‘Cứu muôn người’ là ai?

“Kỷ luật một vài người” rốt cuộc chỉ là thủ đoạn chính trị để thoát tội. Thế còn “cứu muôn người” là cứu ai?

Chúng ta không thể hiểu “cứu muôn người” ở đây là cứu muôn dân vì như ông Lê Kiên Thành đã nói, giới lãnh đạo “tàn ác” với dân. Chúng ta chỉ có thể hiểu “cứu muôn người” ở đây là cứu cái ghế của những người có chức, có quyền, có tiền trong đảng Cộng sản.

Tại sao phải “cứu muôn người”? “Muôn người” này có tội gì hay sao mà phải cứu? Chứng tỏ ông Trọng biết rất rõ tội của giới lãnh đạo Cộng sản là độc quyền nhà nước, áp đặt Hiến pháp, đứng trên pháp luật, tước đoạt quyền làm chủ của nhân dân, vi phạm điều 2 Hiến pháp khẳng định “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”.

Trong bài báo ra ngày 19/2 mới đây trên báo An Ninh Thế Giới, ông Lê Kiên Thành đã nhận định rằng lực lượng bảo thủ đang có tiền, có quyền lực chiếm khoảng 1/3 số đảng viên. Nếu quyền lực bất hợp pháp và bất công của lực lượng bảo thủ này được “cứu” thì sẽ là thảm họa cho cả dân tộc.

Dẫn chứng rất rõ ràng. Mới đây thôi, để bảo vệ cho các nhà tư bản nước ngoài lắm tiền cũng như các quan chức đã bảo kê cho họ, tòa án các cấp đã bác đơn kiện đòi Formosa bồi thường của các ngư dân. Đoàn người thuộc giáo xứ Song Ngọc, tỉnh Nghệ An phải đi bộ ra Hà Tĩnh để đưa đơn thì bị chặn phá, đánh đập dã man giữa đường, trong đó có cả linh mục Nguyễn Đình Thục.

Pháp luật của chế độ độc đảng chỉ để trang trí

Điều 183 và 185 của Bộ luật hình sự quy định rất rõ về tội gây ô nhiễm nguồn nước và tội nhập khẩu thiết bị không đảm bảo tiêu chuẩn bảo vệ môi trường. Thế nhưng các quan chức Formosa không hề bị truy tố theo quy định của pháp luật mà chỉ cần bỏ ra 500 triệu đôla Mỹ là tiếp tục hoạt động. Nhà cầm quyền cũng thản nhiên nhận số tiền này mà không cần đi điều tra xem thiệt hại của dân thực sự thế nào. Không ai biết con số 500 triệu đôla Mỹ từ đâu ra, căn cứ vào đâu.

Điều 285 Bộ luật hình sự cũng quy định rõ về việc truy tố những người “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Thế nhưng những quan chức chịu trách nhiệm chỉ bị “kỷ luật” trong nội bộ của một đảng là sao?

Dễ thấy là vụ việc Formosa đã gây bất bình sâu sắc trong người dân cả nước và cả trong hàng ngũ đảng viên Cộng sản. Nhà cầm quyền cũng biết điều đó nên phải tìm ra một vài “con dê tế thần” để xoa dịu người dân. Nhưng liệu cứ tìm một vài người để kỷ luật như thế thì có cứu nổi những lãnh đạo của đảng Cộng sản mãi không?

Pháp luật chuẩn mực mới là giải pháp ‘cứu muôn người’

Ở thời đại Internet ngày nay, nhà cầm quyền cần nhận thức rõ họ không thể cai trị theo kiểu lừa mị xưa cũ được nữa. Những giả trá, tàn ác sẽ nhanh chóng bị vạch trần trên mạng xã hội. Các giải pháp chắp vá mà giới lãnh đạo Cộng sản đưa ra sẽ không thể giải quyết được tận gốc vấn đề chính trị của Việt Nam là một đảng độc quyền nhà nước, đứng trên pháp luật gây bất công xã hội, gây chia rẽ dân tộc.

Thế thì giải pháp tổng thể đưa ra là phải hiện thực hóa quyền làm chủ của người dân trên nền tảng pháp luật chuẩn mực, bắt đầu từ bản Hiến pháp do toàn dân phúc quyết. Pháp luật chuẩn mực sẽ giúp người dân bầu ra những lãnh đạo có năng lực để giải quyết các khó khăn của đất nước, tránh bị lừa dối một lần nữa và ngăn ngừa những thảm họa tương tự trong tương lai.

Người dân chỉ có thể đoàn kết khi cùng nhau bảo vệ bản Hiến pháp chuẩn mực, bảo vệ nhà nước chính danh do dân bầu ra, bảo vệ đất nước chống ngoại xâm, bảo vệ công lý chống bất công, bảo vệ môi trường chống ô nhiễm. Đây không phải là thời phong kiến khi toàn dân đoàn kết xoay quanh một triều đại, một chế độ không do dân làm chủ.

Lực lượng để thực thi sứ mạng đó chính là những người Việt đoàn kết, yêu nước, nối vòng tay lớn với nhau để cùng nhau cất lên tiếng nói vang dội của đại thể công dân nước Việt. Lực lượng đó bao gồm cả các đảng viên Cộng sản, các sỹ quan công an, quân đội còn lương tri, còn nặng lòng với dân tộc. Lực lượng tiến bộ đó khi đã đủ lớn mạnh thì thế lực bảo thủ nào cũng phải chấp nhận “đổi mới 2”.

Nền tảng pháp luật chuẩn mực để bảo vệ quyền công dân cũng là bảo vệ các công dân là đảng viên Cộng sản. Đó là giải pháp để “cứu muôn người” chứ không phải chỉ là vá víu, kiếm vài người để kỷ luật như hiện nay. Giải pháp chắp vá đó chắc chắn không thể cứu nổi giới lãnh đạo Cộng sản trước sự phẫn uất đang ngày một tăng cao của người dân.

Vượt qua nỗi sợ

Ông Lê Kiên Thành đã nói “cuộc đổi mới năm 1986 về bản chất là vượt qua nỗi sợ hãi của chính chúng ta, để chúng ta dám làm những điều mà chúng ta vì sợ hãi mà đã ngăn cấm”. Bây giờ cũng thế, điều 25 Hiến pháp đã khẳng định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình…” Do đó, khi chưa có luật quy định cụ thể thì công dân cứ làm, không có gì phải sợ hãi hay xin phép ai. Luật phải tuân theo Hiến pháp chứ không phải để hạn chế quyền công dân, và những gì luật pháp không cấm thì công dân có quyền làm.

Cần lưu ý là quyền tự do lập hội cũng bao gồm quyền tự do lập đảng. Không có điều luật nào cấm dân lập đảng, và theo điều 16 Hiến pháp về quyền bình đẳng thì các công dân là đảng viên Cộng sản có quyền sinh hoạt đảng phái thì các công dân không Cộng sản cũng đương nhiên có quyền này.

Lần đầu tiên tổ chức thi tay nghề hoạn lợn

Chuyện khó tin nhưng có thật ở Việt Nam?

Lần đầu tiên  tổ chức thi tay nghề hoạn lợn

02/03/2016  16:40 GMT+7

Thiến, hoạn lợn con là một trong bốn nghề thuộc chuyên ngành nông nghiệp lần đầu tiên được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức thi.

Hội thi tay nghề cấp Bộ lần thứ 7 vừa được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn khai mạc tại Cao đẳng nghề Cơ điện – Xây dựng và Nông lâm Trung Bộ (Bình Định) ngày 1/3.

Tham gia Hội thi lần này có 150 thí sinh được tuyển chọn từ 23 trường cao đẳng, cao đẳng nghề, trung cấp nghề thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý. Các thí sinh sẽ dự thi 13 nghề “truyền thống” như: Nghề mộc mỹ nghệ, nghề mộc dân dụng, nghề hàn, nghề xây gạch, nghề lắp đặt điện, nghề điện lạnh, nghề sửa chữa ô tô…

Đặc biệt, năm nay lần đầu tiên Bộ tổ chức thi 4 nghề thuộc chuyên ngành nông nghiệp là: Nghề ghép nêm cây cà phê; nghề chiết ghép cây ăn quả; nghề tạo dáng và chăm sóc cây cảnh; và nghề thiến, hoạn lợn con.

Sếp dầu khí trốn đi nước ngoài: Hưởng lương thưởng gần 600 triệu

Sếp dầu khí trốn đi nước ngoài: Hưởng lương thưởng gần 600 triệu

 Ông Lê Chung Dũng, cựu Phó Tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực dầu khí Việt Nam đã bỏ trốn đi nước ngoài từ tháng 10/2016. Báo cáo mới nhất của DN này cập nhật mức thu nhập gần 600 triệu đồng của ông này năm 2015 đã được quyết toán chính thức.

Tổng công ty điện lực Dầu khí Việt Nam (PV-Power) vừa có Báo cáo Thực trạng quản trị và cơ cấu tổ chức năm 2016, trong đó có cập nhật tình hình lương thưởng của lãnh đạo công ty.

Theo đó, ông Lê Chung Dũng, cựu Phó Tổng giám đốc PV-Power cũng được liệt kê trong danh sách này. Cụ thể, ông Lê Chung Dũng có tổng thu nhập cả năm là 586 triệu đồng (bao gồm 495 triệu tiền lương và 91 triệu tiền thưởng và các chế độ khác).

 ông lê chung dũng, sếp dầu khí trốn đi nước ngoài,cán bộ trốn đi nước ngoài
Ông Lê Chung Dũng trốn đi nước ngoài từ tháng 10/2016

Mức lương, thưởng ông Dũng nhận được vẫn thuộc hàng cao nhất trong dàn lãnh đạo PV-Power. Tuy nhiên, đây là con số đã được quyết toán chính thức của 2015 khi ông Dũng làm đầy đủ 12 tháng tại DN.

Được biết, quyết toán tài chính 2016 đang được DN này thực hiện. Theo đó, việc quyết toán lương cho ông Dũng được tính mức tiền lương cơ bản theo Nghị định 52/2016/NĐ-CP ngày 13/6/2016 và thời gian làm việc thực tế của ông Dũng tại DN. Với mức lương 29 triệu/tháng của phó tổng giám đốc, thời gian làm việc chỉ hơn 9 tháng. Tính ra số tiền ông Dũng thực nhận chỉ xấp xỉ 280 triệu đồng trong năm 2016.

FORMOSA TIẾP TỤC HẠ ĐỘC BIỂN VIỆT NAM

From facebook:  Nguyễn Hoàng-Thanh Tâm‘s post.
Image may contain: text
Nguyễn Hoàng-Thanh TâmFollow

FORMOSA TIẾP TỤC HẠ ĐỘC BIỂN VIỆT NAM
Nhưng Bộ Tài-Môi Vẫn Bao Che

Báo Thanh Niên hôm nay, 1/3, cho hay kết quả phân tích nước biển tại khu vực nhà máy Formosa, Vũng Áng cho thấy nồng độ Phenol, một độc tố nguy hiểm, đã vượt xa mức độ cho phép đến 10,3 lần so với Quy Chuẩn Quốc Gia.

Ngoài ra, về Amonia cũng vượt 91,5 lần mức quy chuẩn. Đây là kết quả phân tích của Viện Công nghệ môi trường thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Cũng cùng bản tin, phóng viên trích lời Bộ Tài nguyên – Môi trường vẫn khăng khăng bao che cho Formosa và cho rằng vệt nước đỏ xuất hiện ở cảng Vũng Áng và Cảng Sơn Dương của Công ty Formosa là do hiện tượng TẢO NỞ HOA, hay còn gọi là THỦY TRIỀU ĐỎ.

Điều tra mổ cướp nội tạng ở Trung Quốc, nhà báo được đề cử giải Nobel Hòa Bình 2017

Điều tra mổ cướp nội tạng ở Trung Quốc, nhà báo được đề cử giải Nobel Hòa Bình 2017

Ông Ethan Gutmann, một nhà báo điều tra độc lập và là tác giả của cuốn “Đại thảm sát” (The Slaughter), vừa được đề cử giải Nobel Hòa Bình 2017 vì nỗ lực phơi bày tội ác thu hoạch nội tạng người tập Pháp Luân Công trên diện rộng trong các bệnh viện thuộc nhà nước Trung Quốc.

Ông Ethan Gutmann nói về việc chính quyền Trung Quốc thu hoạch nội tạng tại Washington. (Ảnh: Epoch Times)

Ông Ethan Gutmann nói về việc chính quyền Trung Quốc thu hoạch nội tạng tại Washington. (Ảnh: Epoch Times)

Ông Ethan Gutmann cùng với luật sư nhân quyền David Matas và cựu Quốc vụ khanh Canada ông David Kilgour đã công bố một báo cáo vào mùa hè năm ngoái có tựa đề “Thu hoạch đẫm máu/ Đại thảm sát: Bản cập nhật” (“Bloody Harvest/The Slaughter: an Update”), trong đó mở rộng cuộc điều tra đã công bố trong bản báo cáo năm 2006 của hai ông David Matas và David Kilgour mang tên “Thu hoạch đẫm máu” (Bloody harvest) và cuốn sách “Đại thảm sát” (The Slaughter) năm 2014 của ông Ethan Gutmann.

Bản báo cáo mới cho thấy có từ 60.000 đến 100.000 ca cấy ghép tạng được tiến hành hàng năm tại Trung Quốc trong suốt 15 năm qua, và số ca ghép tạng cao hơn từ 6 đến 10 lần so với công bố trước đó của chính quyền Trung Quốc.

Chính quyền nước này vẫn luôn phủ nhận cáo buộc giết tù nhân lương tâm để lấy nội tạng cung cấp cho ngành công nghiệp ghép tạng. Ông Gutmann tin rằng bản báo cáo năm 2016 đã tạo nên một sự khác biệt.

Năm 2008, ông Gutmann đã công bố một bản điều tra độc lập về hoạt động thu hoạch nội tạng của nhà nước Trung Quốc. Ông đã phỏng vấn hơn 100 bác sĩ, di dân, và những thành viên của ban hành pháp. Dự án này được mở rộng từ sự quan tâm đến cuộc đàn áp Pháp Luân Công mà ông bắt đầu viết về nó từ năm 2002, khoảng 3 năm trước khi Đảng Cộng sản Trung Quốc bắt đầu chiến dịch đàn áp.

“Đại thảm sát”, cuốn sách được xuất bản năm 2014, trong đó bao gồm những tường thuật của các bác sĩ biết hoặc tham gia vào hành động thu hoạch nội tạng từ những người tập Pháp Luân Công đang sống.

“Tôi nợ sự thật rằng có một câu chuyện đáng kể với thế giới vì những nhân chứng – những di dân đến từ các trại lao động, nhà tù và những bác sĩ như Enver Tohti và Ko Wen-je,” ông nói. Bác sĩ Ko đã giúp xây dựng hệ thống tình nguyện hiến tạng ở Đài Loan.

Trong cuốn “Đại thảm sát”, ông Gutmann tường thuật chi tiết việc bác sĩ Ko đến Trung Quốc và tình cờ phát hiện ra nguồn gốc nội tạng cấy ghép đến từ những người tập Pháp Luân Công bị bắt giam phi pháp.

“Tất cả những gì tôi phải làm là nói ra câu chuyện này, kiên trì, viết, và công bố nó,” ông Gutmann nói. “Tôi đã có một bản hợp đồng ngầm với những nhân chứng. Tôi đã hoàn thành nó. Đó là lý do tôi sẽ ngủ ngon, không chỉ vì tôi được đề cử cho giải thưởng.”

Tuyết Mai

Tưởng nhớ một người anh em: Đức cha Giuse Vũ Duy Thống

Tưởng nhớ một người anh em:

Đức cha Giuse Vũ Duy Thống

  1. Thứ Tư Lễ Tro, 1-3-2017, Hội Thánh phủ lên mình màu tím của sám hối và bắt đầu bước vào Mùa Chay thánh. Cũng ngày hôm ấy, Giáo phận Phan Thiết khoác lên mình màu trắng của khăn tang vì mất đi người cha chung của giáo phận. Hội đồng giám mục Việt Nam vừa tiễn đưa Đức Cố Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hòa đáng kính, nay lại càng đau buồn vì mất đi một thành viên luôn vui tươi, nhiều tài năng, giàu nhiệt huyết. Và bản thân tôi mất một người bạn. Dường như cả không gian đang phủ kín một màu tang tóc, u buồn.
  2. Nhưng chính thời điểm Mùa Chay thánh lại ban tặng ánh sáng và ý nghĩa mới. Bởi lẽ kết điểm của Mùa Chay không phải là sự buồn thảm của Thứ Sáu Tuần Thánh, nhưng là niềm vui chan chứa của Chúa nhật Phục Sinh. Mầu nhiệm Phục Sinh ban tặng ánh sáng mới để trong ánh sáng đó, người ta khám phá ý nghĩa mới và động lực mới cho cuộc đời: những cánh cửa đóng kín nay mở toang (x. Ga 20,19-23), những bước chân buồn thảm xuôi về Emmaus nay trở thành những bước chân vội vã quay lại Giêrusalem để loan báo tin vui (x. Lc 24,13-25).

Cũng ánh sáng ấy đã quật ngã một người trẻ có tên Saulê khỏi lưng ngựa và biến đổi toàn diện con người anh (x. Cv 9,1-19), để từ kẻ thù của ông Giêsu, anh trở thành người say mê Đức Kitô đến độ nói được rằng: “Sống, đối với tôi, là Đức Kitô, và chết là một mối lợi”, và “Tình yêu Chúa Kitô thúc bách chúng tôi… Đức Kitô đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống không còn sống cho chính mình nữa, nhưng sống cho Đấng đã chết và sống lại vì họ” (2Cr 5,14-15).

  1. Dọc suốt chiều dài lịch sử Hội Thánh, có hàng triệu người trẻ cũng được thúc bách như thế, dù âm thầm nhưng không kém mãnh liệt, và một trong những người trẻ đó có tên gọi Giuse Vũ Duy Thống. Được tình yêu thúc bách nên xin vào Tiểu chủng viện Têrêxa, Long Xuyên. Đã từng rời chủng viện để về đời nhưng rồi lại tiếp tục vào một nhà dòng vì dòng ấy rõ ra là dòng của Chúa Giêsu (Dòng Tên). Trong hoàn cảnh mới của xã hội, lại xin vào chủng viện và là sinh viên xuất sắc về nhiều mặt. Người trẻ đó cuối cùng hiến dâng đời mình trong sứ vụ linh mục và sau này là giám mục.

Cũng vì tình yêu thúc bách nên Đức cha Giuse vận dụng năng lực trí thức và năng khiếu nghệ thuật Chúa ban để loan báo Tin Mừng Đức Kitô. Những suy tư và cảm nghiệm sâu sắc về cuộc đời, những vũ điệu của ngôn từ và hình ảnh, những dòng nhạc mượt mà lắng đọng… tất cả chỉ vì tình yêu thúc bách. Dẫu có lúc chất nghệ sĩ dường như lấn át vai trò điều hành, thì tự thâm tâm vẫn luôn là ước mong theo chân Đức Kitô, từng bước một thôi, để rao giảng Tin Mừng gỡ rối cho đời như nút vòng xoay, để gieo yêu thương và hạnh phúc cho người như hạt nắng vô tư.

  1. Vậy thì, cùng với tiếng khóc than vì thương nhớ, hãy hân hoan đọc lại lời Kinh Thánh: “Và tôi thấy trời mới đất mới vì trời cũ đất cũ đã biến mất, và biển cũng không còn. Và tôi thấy Thành thánh là Giêrusalem mới, từ trời, từ nơi Thiên Chúa mà xuống, sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang. Rồi tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô to: Đây là Nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ ở với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,1-5). Những ai để cho tình yêu Đức Kitô chiếm hữu thì người ấy sẽ được tình yêu ban tặng sự sống mới và dẫn đưa vào thế giới mới, trời mới đất mới.
  2. Và làm sao có thể quên Đức Mẹ Tàpao? Vào giây phút cuối cùng của cuộc đời trần thế, Chúa Giêsu nhìn vào Mẹ Maria và nói với thánh Gioan: “Đây là Mẹ của con”. Và “kể từ giờ đó, người môn đệ rước bà về nhà mình” (Ga 19,27). Đức cha Giuse đã rước Đức Mẹ về ngôi nhà giáo phận Phan Thiết. Tiếp nối công trình của các vị tiền nhiệm, ngài đã dành biết bao năng lực và công sức để chỉnh trang, xây dựng Trung tâm Thánh Mẫu Tàpao thành trung tâm hành hương lớn nhất trong giáo tỉnh Sài Gòn, ở đó biết bao tín hữu Công giáo – và cả những anh chị em ngoài Công giáo – tìm lại được nghị lực trong yếu đuối, niềm vui khi đau khổ, và bình an trong cuộc sống cá nhân cũng như gia đình.

Đức cha Giuse đã “rước bà về nhà mình”, chắc chắn Mẹ Maria cũng đang đồng hành với ngài trên đường về quê: “Trên con đường về quê mà có bóng Mẹ, con vững tin cậy trông, bước trong bình an”.

Vâng, anh Thống, anh hãy đi bình an và xin nhớ đến người còn ở lại.

02/03/2017
Gm. Phêrô Nguyễn Văn Khảm

——-

Nguồn:  VÒNG TAY SONG NGUYỀN

Cậu bé tìm mua Thượng Đế với 1 đô la.

Cậu bé cầm 1 đô la đi mua Thượng đế, ông chủ tiệm nói 1 câu khiến cuộc đời cậu thay đổi mãi mãi…

MUA THUONG DE

Tình người, tình đồng loại chính là thứ tình cảm thiêng liêng, cao quý. Nó có thể vượt qua mọi khoảng cách, mọi mặc cảm thân phận. Lòng bao dung đó thậm chí có thể cứu vớt cả một sinh mệnh. Câu chuyện ý nghĩa sau đây sẽ khiến bạn phải suy ngẫm.

Một ngày nọ, có một cậu bé nhặt được 1 đô la. Cậu liền đến một cửa hàng bên cạnh đường hỏi: “Xin hỏi, ở đây bác có Thượng đế bán không ạ?”. Người chủ cửa hàng không nói gì, ngại cậu bé quấy rối nên đã mời cậu ra khỏi cửa hàng.

Trời đã sắp tối đen rồi, cậu bé lần lượt đi hết cửa hàng này đến cửa hàng sau. Không ngờ, đến cửa hàng thứ 29 thì cậu cũng được người chủ tiếp đón nhiệt tình. Ông chủ cửa hàng thứ 29 mà cậu bé vào hỏi là một ông lão hơn 60 tuổi, đầu tóc bạc phơ, vẻ mặt hiền từ. Ông nhìn cậu bé rồi hỏi: “Này cháu! Hãy nói cho ông biết, cháu mua Thượng đế để làm gì vậy?”. 

Cậu bé chảy nước mắt rồi nói với ông lão rằng: “Cháu tên là Bonnie. Cha mẹ của cháu đã mất từ khi cháu còn rất bé. Chú Rupp của cháu đã nuôi dưỡng cháu từ nhỏ đến bây giờ. Chú của cháu là một công nhân xây dựng, nhưng mới đây chú đã bị ngã từ trên cao xuống đất nên bị hôn mê bất tỉnh. Bác sĩ nói rằng, chỉ có Thượng đế mới cứu được chú của cháu mà thôi. Cháu biết rằng Thượng đế chắc phải là một thứ vô cùng kỳ diệu nên cháu muốn mua về để cho chú của cháu ăn. Như thế chú mới nhanh khỏi bệnh được ạ!”.

Ông lão đỏ hoe mắt hỏi: “Vậy cháu có bao nhiêu tiền nào?”. 

Cậu bé nhanh nhảu đáp: “Cháu có 1 đô la ạ!”. 

Ông lão vội nói: “Ôi thật may quá! Giá của Thượng đế đúng bằng 1 đô la đấy cháu ạ!”.

Nói xong, ông đi vào ngăn kéo và lấy một chiếc chai đồ uống có nhãn hiệu “Nụ hôn của Thượng đế” và đưa cho Bonnie. Ông nói: “Cầm lấy đi cháu! Chú của cháu uống hết chai này là sẽ khỏi bệnh rồi!”. Bonnie vô cùng mừng rỡ, ôm chai nước vào trong ngực rồi lập tức trở về bệnh viện. Vừa bước vào phòng bệnh, cậu vui vẻ nói to: “Chú ơi! Cháu đã đem Thượng đế đến rồi đây! Chú sẽ nhanh chóng khỏe lại thôi!”. 

Mấy ngày hôm sau, một nhóm các chuyên gia y học có trình độ cao nhất đã đến bệnh viện tiến hành hội chẩn cho chú Rupp của cậu bé Bonnie. Họ sử dụng kỹ thuật tiên tiến nhất trên thế giới để chữa bệnh và cuối cùng điều kỳ diệu đã xảy ra, chú Rupp của cậu bé đã hoàn toàn hồi phục. Khi chú của Bonnie ra viện, nhìn số tiền viện phí quá lớn được ghi trên hóa đơn, anh đã suýt ngất xỉu.

Tuy nhiên, phía bệnh viện đã nói với chú của Bonnie rằng: “Mấy hôm trước, có một ông lão đã đem tiền đến thanh toán hết tiền viện phí cho anh rồi. Ông lão ấy là một tỷ phú giàu có. Trước đây, ông ấy là chủ tịch của một tập đoàn đa quốc gia nhưng bây giờ đã về nghỉ ngơi và mở một cửa hàng tạp hóa bán qua ngày. Nhóm chuyên gia y học có trình độ cao kia cũng là do ông ấy đã bỏ ra một số tiền lớn để thuê đến đấy”. 

Anh Rupp sau khi nghe xong đã cảm kích vô cùng, lập tức cùng cháu trai của mình đến tạ ơn ông lão kia. Khi họ đến nơi, mới biết được ông lão đã đóng cửa tiệm tạp hóa và ra nước ngoài.

Sau này, anh Rupp đã nhận được một lá thư do ông lão kia gửi đến. Trong thư ông viết: “Anh bạn trẻ! Anh có người cháu trai Bonnie, thực sự là quá may mắn đấy! Vì cứu anh, cậu bé đã cầm 1 đô la đi khắp nơi để mua Thượng đế. Hãy cảm tạ Thượng đế! Là Thượng đế đã cứu tính mạng của anh!”. 

Nhiều năm sau, cậu bé năm nào đã trưởng thành và còn thi đỗ vào trường Y. Nhớ lại câu chuyện cũ và về ân nhân năm xưa, cậu đã cố gắng hết mình cứu chữa được rất nhiều bệnh nhân và trở thành một bác sĩ tốt. Bonnie đã đền đáp lại tình nghĩa của ân nhân cũ theo một cách không thể tuyệt vời hơn. Nếu không có câu chuyện cầm 1 đô la đi mua Thượng đế năm xưa và cuộc hội ngộ đầy bất ngờ với ông lão tỷ phú nọ, không thể nói trước rằng cuộc đời Bonnie đã rẽ sang hướng nào.

Câu chuyện khép lại ở đúng thời điểm đẹp nhất nhưng nó chưa kết thúc. Lòng bao dung, tình yêu thương sẽ còn lan tỏa mãi không ngừng. Ông lão tỷ phú đã cứu mạng người chú của Bonnie nhưng không chỉ vậy ông còn cứu vớt cả chính cậu bé. Ông gieo vào lòng cậu bé một đức tin về cái tốt, cái đẹp, đức tin vào Thượng đế. Đôi khi, một lời nói dối có thể mang đến hy vọng cho người khác. Nhất là khi lời nói dối ấy xuất phát từ lòng bao dung, thiện tâm.

Người xưa nói “Thiện ý một câu ấm ba đông“. Tình yêu thương đã gắn kết những tâm hồn vốn xa lạ. Cuộc sống không phải lúc nào cũng suôn sẻ, đời người chẳng phải lúc nào cũng đủ đầy, sướng vui. Trong những ngày bão tố, những hố sâu tuyệt vọng, chỉ một câu nói, một hành động yêu thương cũng như ngọn lửa thắp lên giữa đêm đông. Khi lòng tốt được nhân rộng, gieo trồng như thế, khắp thế gian này sẽ chỉ còn là tình yêu. Điều đó chẳng phải quá tuyệt vời ư?

Mai Trà – Hữu Bằng.

Anh trở lại con đường lên núi biếc,

Suy Tư Tin Mừng Trong tuần thứ Nhất mùa Chay năm A 05/3/2017

 

Tin Mừng: (Mt 4: 1-11)

 

Bấy giờ Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu quỷ cám dỗ. Ngài ăn chay ròng rã bốn mươi đêm ngày, và sau đó, Ngài thấy đói. Bấy giờ tên cám dỗ đến gần Ngài và nói: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì truyền cho những hòn đá này hoá bánh đi!” Nhưng Người đáp: “Đã có lời chép rằng: Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra.”

Sau đó, quỷ đem Người đến thành thánh, và đặt Ngài trên nóc đền thờ, rồi nói với Ngài: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, thì gieo mình xuống đi! Vì đã có lời chép rằng: Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá.”

Đức Giêsu đáp: “Nhưng cũng đã có lời chép rằng: Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi.”

Quỷ lại đem Ngài lên một ngọn núi rất cao, và chỉ cho Người thấy tất cả các nước thế gian, và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy, và bảo rằng: “Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi.”10 Đức Giêsu liền nói: “Xatan kia, xéo đi! Vì đã có lời chép rằng: Ngươi phải bái lạy Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi.”

Thế rồi quỷ bỏ Ngài mà đi, và có các sứ thần tiến đến hầu hạ Ngài.

                *    *     *      *

“Anh trở lại con đường lên núi biếc,

thương mây bay từ đó vẫn cô đơn.”

(dẫn từ thơ Đinh Hùng)

          Mai Tá lược dịch

Đường lên núi biếc, dù mây bay từ đó vẫn cô đơn. Cô đơn, với nỗi niềm Chúa cảm nghiệm cảnh tình người phàm khi Ngài vật vã với băn khoăn, rất thử thách.

Trình thuật tuần đầu Mùa Chay hôm nay, kể cho ta nghe tâm tình của Chúa khi Ngài bị thử thách/cám dỗ, đến như thế. Thử thách/cám dỗ, là những thử và thách suốt 40 ngày đêm nơi hoang vu, sa mạc. 40 ngày đêm, nói lên chuỗi ngày dài một đời, Chúa từng trải nhiều thử thách/cám dỗ mãi đến ngày Ngài kết tận hành trình nơi đồi cao chốn vắng, rất Calvary.

Chốn vắng Calvary xưa, có thử thách/cám dỗ đưa Chúa vào với mê say để Ngài không thực hiện được ý định Cha đưa ra. Mê say, còn là thử thách/cám dỗ đặt ra với Chúa, rất nhiều lần.

Thử thách/cám dỗ đặt ra, qua cung cách Cha muốn Ngài thực hiện vai trò của Đấng Mêsia có quyền uy trên cả hoàng đế La Mã, như thánh Mátthêu từng ghi. Thử thách/cám dỗ là thách đố khả năng giải quyết khó khăn do đế quốc La Mã đem lại. Thử thách/cám dỗ, còn là thách thức chức năng Chúa nhận từ Cha, hầu giúp con dân loài người sống yên hàn, lành lặn. Thử thách/cám dỗ, còn là thách đố và thử xem Chúa có nhắm mắt làm ngơ nỗi đau của mọi người, để rồi sẽ trao cho Cha giải quyết mọi việc.

Thử thách/cám dỗ cướp tay trên quyền uy của đế quốc, để rồi Ngài cũng sẽ hành xử hệt như thế. Thử thách/cám dỗ đặt ra với Đức Giêsu, là thách Ngài giành lại quyền uy của hoàng đế La Mã, rồi cũng sẽ ăn trên ngồi chốc, bức bách dân con lớp người ở dưới. Bởi, một khi đã có quyền hành là có quyền để hành người khác, hệt như vậy. Bởi thế nên, Đức Giêsu chối bỏ mọi lợi lộc dành cho kẻ có quyền. Ngài chối bỏ quyền đối xử với mọi người theo cung cách ấy. Ngài đả kích không chỉ giới cầm quyền La Mã thôi, nhưng Ngài còn chỉ trích chính những uy và quyền ấy nữa. Ngài chọn đường lối không quyền lực, nhưng vẫn sống. Sống với người không quyền, trong “Vương Quốc” của Ngài.

Thử thách/cám dỗ thứ hai, là thách đố khả năng giải quyết tình trạng nghèo đói trên thế giới. Thời của Chúa, có đến 95% người dân Galilê ở dưới mức tối thiểu, để sống còn. Dân lành thời đó, không đủ cơm bánh và cá, mà qua ngày. Họ cứ lần lượt rơi vào vòng lao lý, tật bệnh hoặc chết yểu. Một số trường hợp, do Hêrôđê tạo ra. Ông lập chương trình xây cất nhiều toà nhà đồ sộ. Lại đánh thuế cao khiến dân đen chịu không nổi đến độ không còn gì để ăn và để sống nữa.

Thử thách/cám dỗ cuối cùng đến với Đức Giêsu, là thách đố để xem Ngài có khả năng kích động dân đen, khiến họ căm phẫn quyết chống lại quyền uy của vua quan/lãnh chúa, thời ấy không? Thử thách/cám dỗ, là dỗ dành Chúa đòi lại cơm áo gạo tiền cho dân lành hèn hạ thấp cổ bé họng, ở bên dưới. Thử thách/cám dỗ đưa ra với Chúa, là xem Chúa có hành xử như vua quan mọi thời. Hoặc, Ngài sẽ còn đối xử tệ bạc hơn cả vua quan thời đó, khi có quyền. Nhưng, Đức Giêsu đã chối từ quan niệm coi mình như Đấng ban phát mọi thứ, hầu thoả mãn đòi hỏi của mọi người. Ngài chọn đường lối khác hẳn mọi vua quan/lãnh chúa, ngõ hầu trở nên Đấng Mêsia do Cha định đoạt. Ngài không chấp nhận đường lối của vua quan ở trần gian chỉ biết hưởng thụ, cho thoả thích.

Với Tin Mừng thánh Mátthêu, thử thách/cám dỗ lớn nhất đưa ra với Chúa, là chỉ lo chuyện lành thánh, cốt khuynh loát những điều do Cha định đoạt, mà chỉ theo ý mình. Khuynh loát, để Cha phải can thiệp mà giải quyết các khó khăn chốn gian trần. Và, buộc Cha Ngài phải làm thế, ngay tức thì. Thử thách/cám dỗ này nguy hiểm hơn thứ gì hết, vì đụng chạm đến đền đài thánh thiêng, lẫn nguyện đường, và cả cuộc sống ngoan hiền, ngõ hầu dẫn dụ Cha sửa đổi mọi chuyện để thuận theo ý Con, chứ không theo ý Cha.

Người đời thời của Chúa, vẫn muốn tuân theo đường lối giản đơn, rặt như thế. Họ là những người ở Qumran. Những kẻ từng dấn bước theo chân Gioan Tẩy Giả, cả vào lúc khó khăn, đầy bức bách. Và, thử thách/cám dỗ đây, là muốn chế ngự quyền uy thánh thiêng của Chúa. Là, kiểm soát lòng thương xót của Ngài. Thử thách/cám dỗ đây, là nghĩ rằng lòng đạo của mình còn lớn lao/cao cả hơn lòng xót thương của Cha. Và, Đức Giêsu nhận ra rằng: nếu thế thì Chúa Cha không là Thiên Chúa đích thực là Cha của Ngài. Ngài thực sự đã chọn đồng hành với Cha Ngài. Và kết cục, Ngài chọn thuận theo ý Cha, chứ không theo ý riêng của chính Ngài. Và, chọn lựa này mới thật là chọn lựa khác biệt.

Nếu Đức Giêsu không chọn quyền hành để đánh bạt đối thủ là đế quốc La Mã rất sừng xỏ, không chọn ban phát mọi sự hợp nhu cầu/đòi hỏi của mọi người, cũng chẳng cướp tay trên quyền uy có từ Cha, thì thử thách/cám dỗ đưa ra cho Ngài, là thách thức gì? Thử thách/cám dỗ ấy là sống đích thực đời người phàm. Đời, của những người con không có quyền cũng chẳng có uy. Những kẻ luôn thiếu thốn đủ mọi thứ. Chọn lựa của Ngài, là cùng chung số phận với những người nghèo hèn ấy. Ngài chọn lựa sống như họ, để rồi Ngài đi vào tương quan đích thực với dân đen, hèn kém, chẳng trông đợi vào ai.

Điều này, thoạt nghe chẳng có gì mới mẻ, hoặc hấp dẫn. Nhưng, mục tiêu Đức Giêsu nhắm đến là như thế. Là, thâu thập dân con mọi người vào với tình thương của Cha. Là, sẽ không một ai bị gạt ra ngoài nhóm hội/cộng đoàn thân thương để chung sống. Nhóm ấy, cộng đoàn ấy vẫn có Chúa, có Cha vào mọi lúc. Bởi, chính Cha đang ở ngay trong nhóm. Bởi, chính cộng đoàn là nhóm hội của Cha, đã có được tình thương yêu, hy vọng. Hy vọng, mọi người sẽ sống chung và sống cùng. Cùng sống, cùng lướt vượt mọi khó khăn, rất đồng đều. Đó chính là đường lối Chúa chọn sống.

Ngài lướt vượt mọi thử thách/cám dỗ Ngài theo đường khác. Cám dỗ ấy, Ngài thấy rất rõ, suốt đường đời Ngài từng trải. Và, nay Ngài trở về với những gì là căn bản của chính con người. Trở về với con người đích thực, trước/sau mọi thử thách/cám dỗ. Ngài trở về, cả vào lúc những người khó nghèo/bần hàn kia đã quay lưng chống lại Ngài. Vì thế, đế quốc mới giết hại Ngài. Vì thế, Chúa Cha mới không kịp nghe tiếng Ngài kêu cầu, nơi vườn cây Dầu.

Và đây chính là thông điệp gửi đến với Hội thánh, hôm nay. Thông thường, Hội thánh vẫn muốn thi đua với thế gian, ngoài đời. Vẫn muốn đấu tranh tạo phần thắng, hầu lấy lại quyền uy chính trị, từng luột mất. Lấy lại quyền, để tạo uy hùng dũng mãnh, trên chúng dân. Thông thường, Hội thánh vẫn muốn thi đua với các tổ chức bác ái, quyết lấy lại uy tín bằng việc ban phát các phẩm vật cho dân đen nghèo hèn. Thông thường, Hội thánh từng tìm cách tỏ ra mình những muốn sống đời lành thánh để kéo Chúa về cùng phe, để Ngài sẽ đi theo con đường mình đang thực hiện. Quả là, Hội thánh nay cũng gặp thử thách/cám dỗ như Đức Giêsu, ở thời hôm trước.

Bản thân ta cũng thế. Ta vẫn muốn trở thành nhân vật quan trọng có khả năng giải quyết mọi vấn đề; để rồi, sẽ lôi kéo Chúa vào phe mình, mỗi khi cần. Thông thường, ta cũng muốn chối bỏ những thử thách/cám dỗ, rất tương tự. Bởi thế nên, hãy đề cao cảnh giác cả vào khi ta đã khá giả và trở nên mạnh mẽ, cũng nên biết mình chỉ là kẻ hèn mọn, vẫn phải sống với những khó khăn không dứt bỏ. Bằng không, nhiều lúc ta vẫn cứ nghĩ mình là kẻ sở hữu cả Đức Chúa, chăm lo cho Chúa, rất nhiều điều. Vì nghĩ thế, nên ta cứ cho rằng mình đang theo Đức Giêsu và chính mình đang là Chúa, nữa không chừng?

Thật sự, hãy nhớ rằng mọi người cũng như ta, chỉ là những kẻ vô danh tiểu tốt trong đám đông quần chúng. Cũng chỉ là phận hèn loài người được Chúa đoái thương. Được Chúa ban phát đôi điều để có thể sống sót, sống còn với mọi người. Có thể những gì Chúa ban cho ta, không là bánh/là cá, như người Do thái khi xưa từng học biết. Nhưng, ta học biết để Chúa trở thành chính Chúa. Và, qua học hỏi, ta khám phá ra rằng ta được Chúa đi bước trước, là để Ngài vẫn thương ta, vẫn muốn ta về với Ngài

Hãy cảm tạ Cha đã để Đức Giêsu lướt thắng mọi thử thách/cám dỗ, được như thế. Hãy nguyện cầu, để Hội thánh của ta cũng được thế. Hãy chúc nhau có được cơ may lướt thắng được chính con người mình. Lướt thắng mọi thử thách/cám dỗ vẫn xảy đến với mình, vào mọi lúc. Có thế, ta mới an tâm bước vào Mùa Chay thánh. Có thế, ta mới thấy vui được Chúa dẫn đưa ta ra khỏi mọi thử thách/cám dỗ, rất trần gian.

Trong hân hoan dấn bước như thế, ta hãy cùng dân con ở đời ngâm nga đôi lời thơ ý nhị, rằng:

“Anh trở lại, con đường lên núi biếc,

Thương mây bay, từ đó vẫn cô đơn.

Những bông hoa, còn có nửa linh hồn,

Những lá cỏ, nghiêng vai tìm mộng ảo.”

(Đinh Hùng – Cánh Chim Dĩ Vãng)

Rất chí lý. Bông hoa kia, có khi chỉ còn nửa linh hồn vẫn cứ “nghiêng vai tìm mộng ảo”, thì tôi và anh sẽ chẳng tìm lối đi không thử thách. Để, sẽ thấy Chúa, thấy Cha ở phía trước đang giơ tay đón chờ. Chờ tôi, chờ anh bấy lâu nay ở mọi thời.

Lm Kevin O’Shea CSsR biên-soạn,

         Mai Tá lược dịch.

Ai nói yêu em đêm nay?

httpv://www.youtube.com/watch?v=GmsrjY54OR8

Ai nói yêu em đêm nay Tuấn Vũ & Ngoc Lan

Chuyện Phiệm Đọc Trong Tuần thứ I mùa Chay năm A 05/3/2017       

“Ai nói yêu em đêm nay?”
Ai nói yêu em đêm mai?
Ai sẽ yêu em sau này?
Son phấn nào giết ngây thơ?
Ánh đèn nào màu đơn côi?
Lệ sao nhiều hơn mưa lũ.”

(Y Vân – Ai Nói Yêu Em Đêm Nay)

(Mt 7: 24-28) 

Trần Ngọc Mười Hai

Sao anh lại cứ hát: yêu em mỗi đêm nay? Thêm nữa, nếu hiểu chữ “Em” đây là Hội thánh Nước Trời, thì sao đây? Và, sao chỉ nói yêu Em đêm nay chứ không phải “Yêu Anh đêm nay”, hoặc ngày mai? Yêu em hoặc yêu anh là yêu ai trong đời người thế?

Đó, là những câu hỏi vụt lên trong đầu bần đạo, vào một đêm không ngủ vốn nảy sinh trong đầu quá nhiều “dự án”, nhớ không hết. Thôi thì, bần đạo nhớ gì viết nấy, nghĩ sao làm vậy, thôi nhé.

Vâng. Viết phiếm tuần này, kể cũng hơi hơi khó. Khó, là bởi các chủ-đề nảy sinh trong đầu lâu nay, đều đã viết và đã phiếm hết cả rồi. Mà đã phiếm, thì phải phiếm những gì hơi hơi mới một chút, thiên-hạ mới chịu đọc. Chứ, viết đi viết lại mãi những chuyện Giáo hoàng với giáo tông, kinh với kệ thì có ai chịu mở sách ra đọc đâu. Nghĩ thế nên, bần đạo bèn nhắn nhủ bạn đọc rằng: nếu lần này bần đạo có viết những gì không hay cho lắm, thì xin bạn đọc bỏ qua cho, kẻo phiền.

Vậy, giờ đây mời bạn và tôi, ta đi vào vùng trời đầy những phiếm bằng truyện kể đầu như sau:

“Thuở xưa có một tên trộm. Một hôm sau một mẻ trộm, chưa được gì hết đã bị phát giác. Anh ta chạy thục mạng loanh quanh tìm chỗ trốn, bước đường cùng đến một đập nước đành nhẩy vội xuống bờ đập. Nhìn quanh quất không thấy có một lùm bụi nào để chui vào ẩn trốn, anh đành ngồi đại xuống đám cỏ đầy bùn. Xa xa đám người rượt theo tìm anh đang chạy tới. Bí quá, anh nhắm mắt lại không dám nhìn họ, cũng không dám nhúc nhích. Đám đông chạy tới nơi, ngạc nhiên thấy một người ngồi an nhiên giữa đám bùn.

Họ bảo nhau:

“Ông này là ai?” 

Một người thấy tư thế của ông giống như một thầy tu, nên nói với mấy người kia:

“Có thể ông ta đang ở trong thiền định!” 


Thế là mọi người đồng chắp tay kính cẩn chào và hỏi:

-Thưa thầy, chúng con xin phép làm rộn thầy. 


Từ nẫy giờ thầy có thấy một người nào chạy ngang qua đây không? Chúng con đang truy tìm một tên trộm.” Anh trả lời: “Ờ… tôi không để ý, không nghe thấy gì hết.” Thế là đám đông kéo nhau đi. Chừng một đoạn đường họ quay trở lại chỗ anh ngồi. Anh vẫn còn ở đó vì chưa biết đi đâu. Thấy anh im lặng, không nhúc nhích, họ rất kính nể, sụp xuống xá lậy và mời anh về trụ ngôi chùa làng đến bây giờ chưa có vị tăng nào về. Trong lúc ngặt nghèo như thế, anh chỉ biết nhận lời để chờ thời.

Tuy ở trong chùa, nhưng máu ăn trộm nơi anh vẫn mạnh. Anh định bụng chờ cơ hội thuận tiện, trộm một mẻ kha khá rồi trốn biệt qua tỉnh khác thật xa.

Sáng sớm hôm đó, anh vào chánh điện, tóm gọn cho vào tay nải nào lư hương, đèn đuốc… những món đồ thờ phụng cổ kính đắt giá, sửa soạn ra đi. Thình lình một Phật tử đến than khóc vì một người thân mới qua đời đêm qua. Ông ta đến chùa nhờ anh cầu siêu. Anh để vội tay nải xuống, lấy khăn lông lau lau chùi chùi mấy món đồ, làm như đang lau dọn bàn thờ. Anh an ủi ông Phật tử vài câu, ghi tên kẻ quá vãng vào tờ giấy và hứa sẽ đến nhà tụng kinh. Thế là mưu toan ăn trộm một lần nữa lại bất thành! Anh thở dài, ngao ngán. Xếp vội các món đồ thờ trở lại lên bàn, anh lót lòng đỡ mấy miếng bánh còn lại từ chiều hôm qua, xong chuẩn bị đến nhà Phật tử. Cũng may anh tìm được nghi thức tụng kinh cầu siêu trong tủ kinh sách, nên yên lòng khoác áo ra đi.

Và như thế ngày này qua ngày nọ, anh ẩn nhẫn trong chùa đợi thời cơ. Nhưng chẳng gặp được cơ hội thuận tiện. Rồi người thì hỏi đạo, kẻ thì thỉnh đi tụng đám, anh không có thì giờ tính kế mưu nữa, chỉ biết tìm tòi trong tủ kinh những sách Phật pháp đọc và học để trả lời câu hỏi của Phật tử. Rồi anh tập ngồi thiền, niệm Phật cho khỏi suy nghĩ lo lắng đến tương lai. Lâu ngày cuộc sống của anh “đạo tặc” bất đắc dĩ phải nương náu của chùa này cũng êm xuôi, dần dần anh cảm thấy an ổn hơn. Và thấm thoát đã hơn năm.

Thói quen mới của anh bây giờ là theo thời khóa của nếp sống nhà chùa, từ miếng ăn miếng ngủ đến lao động và công phu sáng chiều. Anh vui với công việc hàng ngày: quét dọn vệ sinh nhà cửa, trồng trọt chút rau chút bắp. Anh vui với những người nông dân chất phác chân lấm tay bùn, chia xẻ với họ từng niềm vui nỗi buồn, thúng nếp họ gặt, đám khoai anh trồng. Nghĩ lại thời gian qua anh đã sống quá tệ hại, không biết đến công lao cần cù khó nhọc của họ, mà nỡ trộm cướp thành quả dành dụm chắt chiu của họ. Thật tội lỗi biết bao! Anh cảm thấy hối hận vô vàn. Và từ đó anh dành nhiều thì giờ bái sám.

Kể từ đây dấu vết thói quen của cuộc đời một tên trộm thực sự tan biến. Anh bây giờ là một con người mới, con người hiền thiện và là chỗ nương tựa tâm linh cho dân làng.” (Truyện kể do bạn bè dịch từ Anh Ngữ có đầu đề là “The Buddha in mud”)

 Truyện kể ở trên, có phải duy nhất chỉ thấy ở nhà Phật chốn tụng niệm lễ bái ở chùa chiền? Thế còn, ở nhà Đạo chốn khổ tu/khắc kỷ có vị nào tương-tự như thế không? Trả lời câu hỏi này mà không am-tường lịch sử đạo-giáo há nào trả lời cho có, rất lấy lệ.

Thế nhưng, nếu xét chuyện dân gian thời Babylon hoặc truyện kể Trung Hoa, Ấn Độ thời nào đó, vẫn có những truyện khá giống nhau ở cốt truyện. Chỉ khác mỗi cung-cách viết lách và kể lể cho phù-hợp với văn-chương, văn hoá của người nghe hoặc với tâm-trạng và thời khắc lúc người kể viết ra trên giấy bút.

Lại nữa, có một truyện kể dân-gian chốn người phàm ở trời Đông, bên nước “Đại Cồ Việt” hoặc ở nước Trung Hoa người Đại Hán na ná cốt truyện và lối kể của Kinh Sách thời xưa/cổ, như bên dưới, xin nghe thử:

“Truyện rằng:

Một người phú hộ giàu có nọ, khi đến tuổi già yếu, biết mình đã gần đất xa trời, ông liền gọi những người mắc nợ đến để yêu cầu thanh toán nợ nần.

Ông phán bảo những con nợ rằng: nếu các ngươi không thể trả nợ cho ta ở đời này thì các ngươi phải cam kết thề hứa một cách trọng thể là sẽ hoàn trả các món nợ của các ngươi ở kiếp sau, ta sẽ đốt hết các tờ khế ước mà các ngươi đã ký kết với ta. Nghe vậy, người thứ nhất mắc nợ ông 10 lượng vàng đến quỳ gối thưa:

– Thưa ông, trong kiếp sau con hứa trả nợ cho ông bằng cách làm con ngựa để ông cưỡi lên và con sẽ đưa ông đi bất cứ nơi nào ông muốn.

Người thứ hai mắc nợ ông 100 lượng vàng cũng đến quỳ gối và thưa:

– Thưa ông, trong kiếp sau con xin chấp nhận làm trâu kéo cày, kéo xe chở đồ cho ông để hoàn trả

món nợ đời này.

Người phú hộ ưng nhận lời hứa của hai người này và bằng lòng đốt tờ khế ước xóa nợ cho họ.
Sau cùng, người thứ ba với món nợ cũng rất khổng lồ là 1000 lượng vàng cũng đến quỳ gối trước mặt ông và thưa:

-Thưa ông, để hoàn trả món nợ khổng lồ của con với ông từ trước đến nay, kiếp sau con sẽ làm cha của ông.

Nghe vậy, người phú hộ tức giận, ông truyền đem roi sắt đến đánh cho một trận nhừ tử vì tội vô lễ và bất kính, nhưng người này bình tĩnh giơ tay ngăn cản người phú hộ và xin được phân trần sự việc. Ông nói:

-Thưa ông, con vốn biết món nợ của con lớn lao lắm, cho dù kiếp sau con có làm thân trâu ngựa cũng không đủ trả nợ cho ông, nhưng con sẵn sàng làm cha của ông, vì chắc hẳn ông cũng quá rõ trách nhiệm nặng nề của cha mẹ đối với con cái mình. Con sẽ làm việc ngày đêm để lo cơm ăn áo mặc cho ông. Con sẽ che chở cho ông như cha mẹ che chở đứa con thơ và chăm sóc ông những khi ông đau ốm cho tới tuổi già. Con sẽ không ngại bao gian khó hy sinh nào, cho dù có phải hy sinh tính mạng để ông được no ấm và không thiếu thốn gì, và khi chết, con sẽ để lại cho ông tất cả gia tài mà con đã tích lũy được với sức lao động và mồ hôi nước mắt của con. Ông thử nghĩ xem đó có phải là cách đẹp nhất để con trả món nợ khổng lồ kia cho ông sao?

Người giàu có lim dim đôi mắt trầm tư lắng nghe. Một lúc sau ông gật gù mỉm cười rồi đứng dậy đốt bỏ khế ước, tha món nợ khổng lồ của hắn như đã tha cho hai người trước. (St sưu tâm)

 Đi từ sự thể ở cốt truyện rồi rút ra một kết luận để học-hỏi, xem ra có quá đáng không?

Nói gì thì nói, hỏi gì thì hỏi, hôm nay bần đạo nói và hỏi cũng hơi nhiều, cốt để nói lên một hiện-trạng xảy đến với nhà Đạo mình, rất nhiều năm, cả ở thời quá khứ, hiện-tại lẫn tương-lai. Hiện-trạng, là trạng-huống hiện-tại của nhiều vị khi nghiên-cứu Kinh Sách lại hay có thói-quen hơi “quá lời”, thường đưa ra nhiều kết-luận chưa được kiểm chứng.

Nói và hỏi, cùng kể lể câu chuyện hơi dài giòng, cũng chỉ để kể về hiện-trạng mà có lần bạn-bè trong chốn thân quen cứ là hay thắc mắc: tại sao Hội thánh kể lại nhiều truyện oái-oăm, kỳ-khú ở Cựu Ước, như: truyện vua Đavít cướp vợ người khác, hoặc những chuyện bê-bết của thành Sôđôma và Gômorê tệ là thế, mà kể xong người người lại cứ bảo: “Đó là Lời Chúa!” Câu hỏi đặt ra hôm nay cho nhiều vị, là: Phải chăng các lời kể trong Kinh Sách đều là “Lời Chúa” hết?

Để trả lời cho câu hỏi ở trên, hôm nay bần đạo lại sẽ dựa vào chứng-cứ do giáo-sư thần-học nổi tiếng đưa ra như sau:

 “Trong chương đầu của cuốn sách thứ 3 do tôi viết, tôi có nhấn mạnh lên tổng-hợp cơ-cấu hiểu biết về các kinh-nghiệm từng trải của con người. Tôi bàn nhiều về kinh-nghiệm niềm tin ở Kinh Sách được hiểu không như nền thần-học lời Chúa, bởi: lời của Chúa là lời con người nói về Thiên-Chúa. Tôi nói về chuyện ấy chỉ cốt bảo rằng: nếu ta cho rằng Kinh Sách là Lời Chúa, thì điều đó đơn-giản không phải là sự thật.

 Điều đó chỉ nói một cách gián-tiếp về Lời của Chúa, mà thôi. Mọi điều được viết trong Kinh Sách là những chứng-từ của con người đối với Thiên-Chúa, do những người từng sống trong lịch-sử và từng trải-nghiệm về Thiên-Chúa, thôi.

 Khi Kinh Sách viết: “Thiên-Chúa đã nói thế, Đức Kitô đã nói như vậy…” tức: không phải Thiên Chúa hoặc Đức Kitô là Đấng từng nói thế theo nghĩa tuyệt-đối/chính-xác, mà chính con người là phàm-nhân lâu nay nói về kinh-nghiệm của họ về Thiên-Chúa. Kinh-nghiệm của những người như thế đến từ Thần Khí và theo nghĩa chính xác này, ta có thể nói một cách không sai chạy rằng Kinh Sách là Bản-văn được thần-hứng, có Thần-Khí tạo nguồn hứng trong đó.

 Tuy nhiên, cùng lúc ta cũng nên nhớ đến sự trung-gian mang tính nhân-bản, lịch-sử, nhất-quán. Là phàm-nhân, con người chẳng bao giờ có được cuộc đối-đầu trực-tiếp với Thiên-Chúa hết. Đối hay giáp-mặt là cuộc chạm trán mặt-đối-mặt. Đối đầu/chạm trán này luôn xảy đến qua các trung-gian. Tất cả chỉ là người phàm mắt thịt nói về Thiên Chúa, mà thôi.

 Đây là điều cực kỳ quan-trọng khi ta nghiên-cứu thần-học và tìm-tòi để hiểu về sự tiến-hoá của các tín-lý/giáo-điều nhà Đạo. Không thể hiểu được thần-học mới nếu không hiểu ý-niệm này khi ta gặp được mặc-khải do lịch-sử là trung-gian/hoà-hợp nói về kinh-nghiệm diễn-giải của phàm-nhân. Khi con người chúng ta không chấp-nhận được sự trung-gian hoà-hợp này, chắc chắn ta sẽ không thể tránh khỏi được sự việc trượt té vào với chủ-nghĩa căn-bản, rất triệt-để.” (X. Lm Andrew Schillebeeckx, I Am a Happy Theologian, SCM Press Ltd 1994 tr. 41-43)

Cứ theo những điều được trích-dịch ở trên, thì giả như bần đạo là nghệ sĩ chuyên ca hát hoặc viết nhạc, hẳn sẽ phải tìm đến nhạc-bản vừa trích-dẫn để hát riêng cho mình, những ca-từ dễ thương khả dĩ áp-dụng vào nhiều trường-hợp, rất như sau:

 “Ai dìu bước em đêm nay?
Ai dìu bước em đêm mai
Ai dìu bước em tương lai?
Nhịp chân nào . . . đưa rã rời?
Ôi tiếng kèn nghẹn như tiếng khóc
Thương cho người một kiếp vô duyên
Rồi từng đêm . . . từng đêm
Qua biết tay . . . bao người
Một lần son . . . nhạt môi
Cay đắng thêm . . . trong đời
Tàn một . . . cơn mê
Bẽ bàng một . . . mình ai
Nghe như trong lòng
Giông tố . . . đang buốt sâu.”

(Y Vân – bđd)

Có hát hò hoặc lý-luận chuyện đạo-hạnh, tưởng đó cũng là cung-cách hoặc đường-lối suy-tư chuyện gì đó, thần-học hoặc học hỏi chuyện thần thiêng, đạo-đức rất lành thánh, hạnh đạo? Bạn cứ tự hỏi cho nhiều rồi tự tìm kiếm cho mình câu trả lời thật đích-đáng. Có như thế, mới nhớ dai, nhớ hoài, nhớ mãi mãi những chuyện cần thiết để nhớ cho riêng mình và cho người.

Nhớ hay quên, cũng đề nghị bạn/đề-nghị tôi, ta thử về với Kinh Sách có những giòng chảy khuyên nhủ hoặc kể lể thế nào đó, để hướng dẫn tâm-linh của riêng mình đi vào một suy-tư, biện-luận lành thánh, rất để đời. Về, là về với Lời của bậc lành thánh rất như sau:

“Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành,

thì ví được như người khôn xây nhà trên đá.

Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào,

nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá.

Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành,

thì ví được như người ngu dại xây nhà trên cát.

Gặp mưa sa, nước cuốn hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành”.
28 Khi Đức Giêsu giảng dạy những điều ấy xong,

dân chúng sửng sốt về lời giảng dạy của Người,

vì Người giảng dạy như một Đấng có thẩm quyền,

chứ không như các kinh sư của họ.”

(Mt 7: 24-28) 

Gọi những câu trên là Lời Chúa, nghe cũng được. Không có gì là quá đáng. Nhưng, hát những lời dưới đây, có ăn-nhập gì với đề tại mình đặt ra cho mọi người không chứ? Hát, là hát những lời nghe qua hơi “âu yếm”, nghe lại thấy thấy cũng êm-ả một đường-lối sống rất hạnh đạo, rằng:

Ai nói yêu em đêm nay?
Ai nói yêu em đêm mai?
Ai sẽ yêu em sau này?
Khi bóng chiều thẫn thờ rơi
Vũ trường chợt bừng cơn say
Ai nói yêu em đêm nay?
Đời chẳng mong . . . chờ ai
Sắp đến trong . . . tay người
Đời chẳng mong . . . chờ ai
Không vấn vương . . . tơ chùng
Tàn một . . . đêm sau
Qua một bàn . . . cờ vui
Tương lai tan thành
Sương kín . . . trong nửa khuya
Ai nói yêu em đêm nay?
Ai nói yêu em đêm mai?
Ai sẽ yêu em sau này?
Khi xế chiều phấn son phai
Rã rời cuộc đời buông say
Ai nói yêu em đêm nay?

(Y Vân – bđd)

“Tương-lai tan thành sương kín …trong nửa khuya”. Hoặc: “Rã rời cuộc đời buông say” đêm nay”, âu cũng chỉ là giòng chảy đầy ý-nghĩa của một cuộc sống có yêu, có thương rất nhiều “đêm”, mà thôi.

“Đời chẳng mong chờ ai!” “Không vấn vương tơ chùng”… âu cũng là những lời và lời của người đời. Chứ chẳng thể nào là “Lời Chúa” hết. Dù “lời” ấy có nói về tình-tự thương yêu, đằm thắm rất con người, chỉ thế thôi.

Xem thế thì, câu hát cứ mải miết hỏi rằng: “Ai nói yêu em đêm nay? Ai nói yêu em đêm mai? Ai sẽ yêu em sau này?” nếu cứ vang-vẳng mãi trong tai người nhà Đạo, hẳn sẽ làm người nghe chết khiếp đi được. Không chết, cũng sẽ ngồi lại mà suy-nghĩ, tư-lự thật nhiều rồi cũng sẽ quyết-định đi đến hành-động có những quyết-tâm, thật không nhỏ.

Thế đó, là hiệu-quả của việc phiếm hoài, phiếm mãi lai rai cả vào thời sau này, để rồi đạo-giáo của ta sẽ khá hơn thời trước và thời về sau, những là tương-lai/mai ngày nhiều hưng-phấn. Nghĩ thế rồi, mời bạn/mời tôi ta cứ thế trực chỉ về đằng trước mà ra đi. Đi, mà không ngoái lại về phía sau vì đã có câu trả lời ở trong bụng cho câu hỏi “Ai sẽ Yêu em đêm nay”, hoặc mai ngày rất vĩnh cửu.

Trần Ngọc Mười Hai

Chỉ dám hỏi mình/hỏi người

những câu hỏi

nhè nhẹ như thế,

mà thôi.