Anh vuốt tóc em, anh vuốt tóc em,

Một Lần Cuối – Khánh Ly

httpv://www.youtube.com/watch?v=Oq7LWMIM_kA

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ 3 mùa Vọng Năm A 11/12/2016

 “Anh vuốt tóc em, anh vuốt tóc em,”

một lần cuối, một lần cuối cùng, rồi thôi….
Anh hốt trăng thanh, trên áo em xanh,

một lần cuối, như những lần đó xa xôi….
Anh nắm tay em,

anh nắm tay em,

một lần cuối, một lần cuối,

một lần cuối cùng,

để còn thấy đời êm lần cuối.
Một lần cuối cùng, thôi em ơi!”

(Hoàng Thi Thơ – Một Lần Cuối!)

 (1Cor 14: 14-16)

 Trần Ngọc Mười Hai

Vuốt tóc em, chỉ một hay nhiều lần, thì đã sao! Hà cớ gì, anh lại cứ phải bảo đấy “lần cuối, lần cuối cùng thôi em ơi” để làm gì? Thôi thì, anh muốn bảo: lần đó là lần thứ mấy cũng được, miễn là anh đừng hù doạ như các “ông thần/bà thánh” ở nhà Đạo cứ giở Tin Vui/Tin Mừng ngày của Chúa ra mà doạ đám “trẻ người non dạ”, nay không còn hợp thời nữa.

Không tin ư? Thì đây, mời bạn nghe tiếp lời bàn của đấng bậc Đức Thày “lờ mờ” ở Sydney hẳn sẽ rõ. Nhưng, trước khi nghe lời “đức ngài” phán, ta hãy nghe thêm câu ca rất “héo hắt” như sau:

“Thế là héo hắt cho nhau!
Thế là nước mắt đêm thâu!
Thế là mãi mãi, và mãi mãi tình sầu
Thế là tiếng khóc thiên thâu!
Thế là mãi mãi thương đau!
Thế là mãi mãi, và mãi mãi xa nhau

Anh hát cho em nghe, anh hát cho em nghe,

một lần cuối, một lần cuối cùng, rồi thôi.
Anh chết trong mắt em!
Anh chết trong mắt em, một lần cuối! như những lần đó … xa xôi.
Anh khóc trên vai em, anh khóc trên vai em, một lần cuối,

một lần cuối, một lần cuối cùng, để còn thấy lòng run lần cuối.

Một lần cuối cùng thôi, em ơi !

Anh khóc trên vai em, anh khóc trên vai em,

một lần cuối, một lần cuối, một lần cuối cùng,

để nhìn thấy tình yêu lần cuối.
Một lần cuối cùng thôi, em ơi
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !

(Hoàng Thi Thơ ­- bđd)

Đấy thấy chưa, hỡi bạn và tôi là các cụ thân thương, trìu mến! Người ngoài đời có hát gì thì cứ việc hát, nhưng sao lại ỷ ôi, mềm ngọt như đấng bậc nhà Đạo cứ rao-truyền những câu hỏi/đáp rất “phán bảo” ở bên dưới:

“Thưa Cha. Con đây vẫn luôn thắc mắc chuyện của Giáo-hội thời tiên-khởi lần đầu tiên thiết-lập luật Đạo buộc con dân phải đến nhà thờ dự thánh-lễ mỗi ngày Chúa Nhật. Câu hỏi của con hôm nay, là: có chuyện ấy vào năm tháng ngày giờ ở thế-kỷ đầu-tiên không?”

 Lại một câu hỏi về giáo-luật và giáo-sử, được chuyển đến Tuần Báo Công giáo Sydney , đã có lời đáp như sau:

“Đây là câu hỏi rất hay khiến tôi phải trả lời ngay rằng: Không! Hội thánh Chúa khi xưa chưa có luật buộc đi lễ nhà thờ vào mỗi Chúa Nhật, ở các thế kỷ đầu có bao giờ cần như thế hết. Kitô-hữu thời đầu từng coi Thánh lễ ngày Chúa Nhật là việc hệ-trọng, nên họ vẫn quyết-tâm tham-dự dù đôi lúc cũng kéo theo nhiều hiểm-nguy, hệ-luỵ.

 Tưởng cũng nên nhớ rằng: vào các thế-kỷ đầu đời, ngày Chúa Nhật ở đế quốc La Mã không hề là ngày nghỉ ngơi bao giờ, thế nên các Kitô-hữu vào thế kỷ đầu đã phải dậy thật rất sớm, để đi Lễ.

 Ta biết được điều này là nhờ bức thư của Pliny Người Trẻ Tuổi là viên thống-đốc người La Mã đã trị vì vùng Pontus-Bithynia, viết vào năm 112 cho hoàng đế Trajan xin ý-kiến về việc bách-hại người theo Đạo Chúa. Ông viết thư bảo rằng: người đi Đạo thường gặp nhau vào một ngày nhất-định trước khi mặt trời mọc…”

 Ông còn nói: sau khi tụ tập gặp nhau vào sáng sớm, những người đi Đạo nói ở đây đã tản mác ngay lập tức, sau đó mới quay trở lại cùng san sẻ hưởng thụ phần thức ăn bình thường trong ngày”, có lẽ ông đề-cập đến Tiệc Lòng Mến Agapè, là bữa ăn thân-thiện được mọi tín-hữu thời đó san-sẻ cho nhau vào thế kỷ đầu.

 Dù có bị theo dõi, bách-hại đến thế nào đi nữa, các Kitô-hữu lúc ấy vẫn gia-tăng lòng đạo và con số các vị này cũng tăng đều. Thống-đốc Pliny Người Trẻ Tuổi còn viết thêm, rằng: “dân-chúng thuộc đủ mọi thành-phần, mọi lứa tuổi, trai hoặc gái đều đã và sẽ can dự vào cuộc lùng bắt rất cần-thiết. Bởi lẽ, lối dị-đoan mê tín này rất lây lan không chỉ tại các thành-phố lớn mà thôi, nhưng còn lan rộng sang các làng mạc và quận huyện ở vùng quê nữa…”

 Lời chứng về lòng tin và việc hiến-tế hy-sinh của các tín-hữu quyết tham-dự thánh lễ Ngày Chúa Nhật xảy đến trong cuộc bách-hại do hoàng-đế Diocletian lập vào năm 303. Tại Abitene thuộc Tunisia khi ấy có một nhóm tín-hữu gồm 49 người đã tụ tập tại nhà riêng của người trong nhóm vào mỗi Chúa Nhật để dự thánh-lễ cho đến một ngày kia họ bị bắt giữ và giải cho vị Phó Lãnh Sự là người La Mã.

 Khi một trong các vị này hỏi các vị này rằng: tại sao họ để cho tín-hữu Đạo Chúa đến nhà mình để dự thánh-lễ, thì ông trả lời: “Chúng tôi không thể sống, mà không có thánh-lễ.” Sách Công vụ Các Thánh Tử Đạo có viết:

 “Ôi khùng điên, ôi khờ dại là những câu hỏi của quan án! Cứ như thể tín-hữu Đức Kitô lại có thể sống mà không có Thánh-lễ ngày Chúa Nhật được sao? Hoặc, thánh lễ Chúa Nhật mà lại không có giáo-dân tham-dự sao có thể cử-hành được. Kìa Satan loài quỷ dữ, người không biết rằng: chính thánh-lễ Ngày Chúa Nhật làm nên Kitô-hữu và Kitô-hữu là những người làm nên thánh-lễ sao? Bởi thế nên, người ta không thể sống được mà lại không có thánh-lễ ngày của Chúa, được.”

Hội thánh không ra luật lệ bắt buộc mọi người phải tham-dự thánh-lễ vào thời đó. Đó là thành-phần cuộc sống của tín-hữu Đức Kitô mặc dù họ bị nguy-cơ sống chết gì cũng không sợ.

Trong Tông-thư Dies Domini (Ngày của Chúa), Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II có bình-luận: “Hội-thánh ta, dù thời-gian đầu không coi việc này là cần-thiết đi nữa, Hội-thánh vẫn không ngừng xác-nhận rằng đây là sự bó buộc của lương-tâm dấy lên từ nhu-cầu nội-tâm của các tín-hữu vào các thế-kỷ đầu tiên, là như thế.

 Mãi sau này, khi thấy tín-hữu của ta bắt đầu lơ-là hoặc ít hăng-say như trước, Hội-thánh mới nói rõ bổn phận phải tham-dự thánh lễ Chúa Nhật. Thường thì, đây là sự khích-lệ hơn là bắt buộc; nhưng, vào những lúc khiến Hội-thánh phải tiến đến các lý-lẽ mang tính cách giáo-luật đặc-biệt.

 Đây là trường-hợp của các công-hội địa phương có từ thế kỷ thứ tư  trở về sau. Đặc biệt là Công-hội Elvira vào năm 300 khi đó có nói đến luật buộc dự lễ nhưng không đề-cập đến việc đền tội sau khi bỏ lễ những ba lần.

 Đặc biệt hơn cả, là từ thế-kỷ thứ 6 trở đi (như ở Công-hội Agde vào năm 506) quyết-định của các Công-hội như thế đã dẫn đến việc thực-hành trên toàn thế-giới, và tính bó buộc đã trở-thành chuyện bình thường mà thôi.” (X. Dies Domini đoạn 47)

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã giải-thích rằng: trong Điều luật trong Giáo-luật năm 1917 có nói là Hội-thánh lần đầu tiên ban hành việc bó buộc dự lễ ngày Chúa Nhật theo hình-thức một điều luật. Và Giáo luật hiện-hành đã ban hành từ năm 1983 lặp lại cũng một luật buộc như thế vẫn bảo rằng: Vào ngày Chúa Nhật và và các ngày lễ khác, mọi tín-hữu đều được yêu-cầu đến dự thánh-lễ như một luật buộc.” (Giáo luật số 1247 và Tông Thư Dies Domini đoạn 47)

Hỏi rằng mọi tín-hữu ngày nay có được lòng tin như các Kitô-hữu thời tiên-khởi và có tham-dự thánh-lễ ngày Chúa Nhật do động-lực của tình thương-yêu thúc đẩy hay không, đôi khi còn kèm theo một vài sự hy-sinh nữa không đấy? Đó là câu hỏi đặt ra cho mỗi người và mọi người chúng ta.” (X. Lm John Flader, Did the early Church have a law about Mass on Sunday? The Catholic Weekley 08/5/2016 tr. 22)

Thật ra, “Đức ngài” có phán và có bảo cũng vẫn là những lời bảo ban và chuyện phán bảo “xưa rồi Diễm” ở giáo-triều nhiều triết-học, triết-lý rất nhân duyên.

Quả thật, anh cứ “vuốt tóc em” rồi em lại “vuốt tóc anh” như thế mãi rồi lại hỏi những câu/những điều như thế về thánh-lễ rất “Misa”, nghe cũng hơi lạ. Lạ hơn nữa, là khi đức thày còn bảo rằng: chuyện lễ lạy nhà thờ vẫn có luật và lệ đấy chứ!

Thật ra thì, luật và lệ là những điều/những chuyện làm nức lòng người nghe và chịu đi lễ để khỏi thắc mắc những tháng ngày còn lại trong đời, rất rối bời chuyện đạo đức.

Thật ra thì, suy tư đến thế nào đi nữa, giờ đây vẫn xin mời bạn/mời tôi, ta tiến lên thêm bước nữa vào chốn dân-gian Lời Vàng có những điều vẫn được đấng thánh-hiền nhắc nhở rằng:

“Thật vậy, nếu tôi cầu nguyện bằng tiếng lạ

thì lòng tôi cầu nguyện,

nhưng trí tôi chẳng thu được kết quả gì.

Vậy, phải làm sao?

Tôi sẽ cầu nguyện với tấm lòng,

nhưng cũng cầu nguyện với trí khôn nữa.

Tôi sẽ ca hát với tấm lòng,

nhưng cũng ca hát với trí khôn nữa.

Quả thế, nếu bạn chỉ chúc tụng với tấm lòng thôi,

thì làm sao hạng người ngoài cuộc có thể thưa “A-men”

lúc bạn dâng lời tạ ơn,

vì người đó không biết bạn nói gì?”

(1Cor 14: 14-16)

Thật sự, thì nếu suy tư/tụng niệm nhiều hơn nữa về thánh-lễ Misa hay Tiệc Lòng Mến  ở nhà Đạo, ta cũng thấy nảy ra nhiều ý-tưởng từng nghe biết từ các đấng bậc khác, rất như sau:

“Những ai cho rằng mình là kẻ bước theo chân Chúa, vẫn tham dự đều Tiệc Thánh, một cách năng động hay thụ động, mà lại không tha thiết làm thành viên cộng đoàn tình thương của Chúa, ắt chỉ hưởng lợi ích của Bí tích Thánh Thể, rất ít.

 Tham dự Tiệc Thánh, còn là hành vi cảm tạ. Bởi, nếu tầm nguyên ngôn ngữ, ta sẽ thấy cụm từ “Thánh Thể” có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, mang ý nghĩa của một cảm tạ. Nên nhớ là, trong mọi việc, Thiên Chúa thể hiện tình thương cho ta qua sự sống của Đức Giê-su, và Lời Ngài dạy. Qua nỗi đau, cái chết và sự sống lại của Ngài, mà thôi.

 Bởi thế nên, khi tham dự Tiệc Thánh, ta nhớ đến Đức Chúa của Tình Yêu. Nhớ, để cảm tạ. Nhớ, để yêu thương. Cảm tạ, vì ta đã được Tình yêu Chúa đánh động, và đi vào cuộc sống của ta. Đánh động, qua kinh nghiệm bản thân, của mỗi người. Dự Tiệc Thánh, là đi vào với chiêm ngắm và cảm tạ mọi phúc lành, Ngài ban cho sự sống.

 Dự Tiệc Thánh, còn là cử hành sự kiện mình trở nên thành viên đích thực của cộng đoàn. Vì thế, ta sẽ cử hành trong vui tươi, đậm nét thân thương tình bằng hữu. Vui tươi, vì Tiệc Thánh Thể, tự bản chất, không tạo ra cộng đoàn.

 Nhưng, khi dự Tiệc Thánh, ta biết rõ ràng cộng đoàn có mặt ở đó, đang quây quần tề tựu, rất tươi và rất vui. Tham dự Tiệc Thánh, không chỉ có nghĩa là “xem lễ”, bước đến nhà thờ để “đi lễ”, rất cá thể. Dự Tiệc Thánh, cũng chẳng cốt để giữ điều răn Hội thánh, là: “Hãy giữ ngày Chúa Nhật”.  Dự Tiệc Thánh, hay giữ ngày Chúa Nhật, không thể là như đi xem hát/diễn kịch, để giải trí. Không phải để ta lãnh nhận điều gì có lợi, dù vật chất hay tinh thần. Nhưng tham dự Tiệc, là cho đi. Cho rất nhiều. Cho toàn bộ con người mình, hầu liên kết hiệp thông.

 Tiệc Thánh là một Bí tích, điều này có ý nghĩa còn lớn hơn cả ý nghĩa đến dự chỉ để dâng lên đồ cúng kiến, tế thần. Tiệc Thánh, là thước đo chất lượng của tình bằng hữu, nơi cộng đoàn. Đo, là đo cả bản chất và tình trạng của cộng đoàn, nữa. Cộng đoàn nào sinh động, ắt không thể cử hành Tiệc Thánh theo cách lê thê, đáng chán. Nơi nào, không có tinh thần cộng đoàn theo đúng cách thì nơi ấy không thể có Tiệc theo đúng nghĩa. Dù nguyện đường có hoành tráng. Phẩm phục có uy nghi. Ban hợp xướng có tiếng hát thanh trong thiên thần đi nữa, thì Tiệc Thánh ta dự vẫn không mang ý nghĩa đích thực được.

 Có giáo-dân nọ đến dự Tiệc Thánh rất thường nhưng vẫn tự hỏi: sao ta cứ phải “đi lễ”, mà không thể cầu-nguyện ở nhà được nhỉ? Đúng thế. Ai cũng có thể ở tại nhà, mà nguyện cầu. Nhiều khi, nhà là chốn ấm nguyện cầu, rất tốt.

 Nhưng, Tiệc Thánh đâu chỉ là thời gian để nguyện cầu. Thánh lễ chính là Bữa Tiệc. Là, mảng thời gian để ta vui mừng với cộng đoàn thân thương, ta lui tới. Và tiệc vui thánh, không thể thực hiện một cách riêng lẻ, ở tại nhà. Mà, chỉ có thể thực hiện trong chung vui, với nhau. Chung cộng đoàn. Cùng cộng đoàn…”(X. Lm Frank Doyle, Suy Niệm Lời Ngài Chúa Nhật Lễ Mình Máu Chúa, nxb Tôn Giáo 2013 tr. 107-108)

Thật ra thì, nhiều người-đi-Đạo sống trong đời, đôi lúc vẫn lẫn lộn sự Đạo với chuyện đời đến độ họ-và-tôi không nắm bắt được cốt cách cùng ý chính việc tham-dự Tiệc Lòng Mến/Thánh Thể còn mang nặng ý-nghĩa chính-yếu của những tương-quan mật thiết giữa người với người, như đấng bậc ở trên còn nói tiếp:

“Bởi thế, những gì ta cử hành khi tham dự Tiệc Thánh, vẫn nói lên kinh nghiệm sẻ san, cùng đem cho nhau tư cách vui tươi, của cộng đoàn. Và khi bắt đầu phần rước Chúa vào lòng, cộng đoàn ta cùng nhau dâng lên lời nguyện cầu mà Đức Giê-su đã chỉ dạy. Đó chính là lúc, ta ngỏ lời với vị Cha Chung của ta ở trên cao, chứ không phải với người cha riêng của một ai. Qua ngỏ lời, ta cầu Chúa ban cho mọi người có đủ cơm bánh hằng ngày.

 Cầu mong cho nhau, được ơn tha thứ, biết làm hoà. Làm hoà, bằng cử chỉ tay trong tay nắm thành vòng. Và làm hoà, bằng lời chúc bình an cho nhau. Tức, cử chỉ của sự thân thương tình bằng hữu. Của tình an hoà biết thứ tha hết mọi người, trước khi bước lên bàn thánh đón Chúa vào ngự trong cung lòng của chúng ta.     

 Thực hiện động tác an bình hài hoà, tất cả chúng ta sẽ nhớ lại Lời Ngài ở Núi thánh: “Vậy, khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ người anh em đang có chuyện bất bình với anh, hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh/em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình. (Mt 5: 23-24).

 Nói cho cùng, nếu không chuẩn bị, ta không thể có được tình an hoà bằng hữu, khi đến với cộng đoàn, ở nhà thờ. Đến dự Tiệc, là ta đã sẵn sàng mang niềm vui tặng trao mọi người. Giáo xứ nào, nếu chỉ lo tổ chức thánh lễ rềnh rang cho có mà chẳng thiết tha gì chuyện buồn/vui xảy đến, với người xứ mình.

 Thì nơi ấy, sẽ trở thành giáo xứ khô cằn, rẫy chết. Tiệc Thánh lúc đó, chỉ là thói quen nhàm chán, đáng từ bỏ. Tiệc Thánh, phải là Tiệc sinh động của cộng đoàn. Cho cộng đoàn. Và do cộng đoàn thực hiện.

 Giáo xứ năng động, không chỉ là toà kiến trúc, nguy nga có thánh lễ, có bài giảng và có đàn hát, rất hăng say. Nhưng, là cộng đoàn tươi vui, biết dựng xây tình yêu thương con cái Chúa, trong hiệp nhất.

 Và, Tiệc Thánh, là dấu chỉ của cộng đoàn vui tươi sinh động, ở giáo xứ . Ở nơi đây, Đức Kitô đang hiện diện sống động trong mọi người. Qua mọi người. Ngài hiện diện, như một tổng thể có Thân Mình rất Thánh, hiệp thông. Liên kết. Hiểu được ý nghĩa đích thực của Tiệc, ta sẽ nhận ra Lời Ngài vẫn chờ và vẫn đợi mọi người. Cả vào lễ Mình Máu Chúa, rất hôm nay.” (X. Lm Frank Doyle, sj sđd tr. 109)

 Thế mới biết, nhiều lúc bầy tôi đây hay bạn bè đó vẫn hay quên sót hoặc hiều lầm ý-nghĩa của Bữa Tiệc Lòng Mến của nhà Đạo, đến độ cứ “đi và làm” như cỗ máy. Chứ, chẳng hiểu rõ mục đích của “đi-và-làm” theo hiệu-lệnh của Đức-Chúa-Tình-Yêu của tôi và của bạn, muôn đời là thế.

Thế mới hiểu, rằng: nhà thơ nọ bị tiếng là “ngớ-ngẩn” hoặc “lẩn-thẩn” sao đó, nhưng vẫn có những nhận-định rất ư là “trải-nghiệm đời” về nhiều thứ như bài thơ “Đừng Tưởng” sau đây:

“Đừng tưởng cứ núi là cao.. Cứ sông là chảy, cứ ao là tù,

Đừng tưởng cứ dưới là ngu.. Cứ trên là sáng cứ tu là hiền,

Đừng tưởng cứ đẹp là tiên.. Cứ nhiều là được cứ tiền là xong,

Đừng tưởng không nói là câm.. Không nghe là điếc không trông là mù.

Đừng tưởng cứ trọc là sư.. Cứ vâng là chịu cứ ừ là ngoan
Đừng tưởng có của đã sang.. Cứ im lặng tưởng là vàng nguyên cây
Đừng tưởng cứ uống là say.. Cứ chân là bước cứ tay là sờ
Đừng tưởng cứ đợi là chờ.. Cứ âm là nhạc cứ thơ là vần.

Đừng tưởng cứ mới là tân.. Cứ hứa là chắc cứ ân là tình
Đừng tưởng cứ thấp là khinh.. Cứ chùa là tĩnh cứ đình là to
Đừng tưởng cứ quyết là nên.. Cứ mạnh là thắng cứ mềm là thua
Đừng tưởng cứ lớn là khôn… Cứ bé là dại, cứ hôn… là chồng

Đừng tưởng giàu hết cô đơn.. Cao sang hết ốm, tham gian hết nghèo
Đừng tưởng cứ gió là mưa.. Bao nhiêu khô khát trong trưa nắng hè
Đừng tưởng cứ hạ là ve.. Sân trường vắng quá ai khe khẽ buồn…
Đừng tưởng thu lá sẽ tuôn.. Bao nhiêu khao khát con đường tình yêu.

Đừng tưởng cứ thích là yêu.. Nhiều khi nhầm tưởng bao điều chẳng hay
Đừng tưởng vua là anh minh.. Nhiều thằng khốn nạn, dân tình lầm than.
Đừng tưởng đời mãi êm đềm.. Nhiều khi dậy sóng, khó kềm bản thân.
Đừng tưởng cười nói ân cần.. Nhiều khi hiểm độc, dần người tan xương.

Đừng tưởng trong lưỡi có đường.. Nói lời ngon ngọt mười phương chết người
Đừng tưởng cứ chọc là cười.. Nhiều khi nói móc biết cười làm sao
Đừng tưởng khó nhọc gian lao.. Vượt qua thử thách tự hào lắm thay
Đừng tưởng cứ giỏi là hay.. Nhiều khi thất bại đắng cay muôn phần

Đừng tưởng nắng gió êm đềm.. Là đời tươi sáng hóa ra đường cùng
Đừng tưởng góp sức là chung.. Chỉ là lợi dụng lòng tin của người
Đừng tưởng cứ tiến là lên.. Cứ lui là xuống, cứ yên là nằm
Đừng tưởng rằm sẽ có trăng.. Trời giăng mây xám mà lên đỉnh đầu

Đừng tưởng cứ khóc là sầu.. Nhiều khi nhỏ lệ mà vui trong lòng
Đừng tưởng cứ nghèo là hèn.. Cứ sang là trọng, cứ tiền là xong.
Đừng tưởng quan chức là rồng
Đừng tưởng dân chúng là không biết gì.

Đời người lúc thịnh, lúc suy
Lúc khỏe, lúc yếu, lúc đi, lúc dừng.
Bên nhau chua ngọt đã từng
Gừng cay, muối mặn, xin đừng quên nhau.

 Ở đời nhân nghĩa làm đầu
Thủy chung sau trước, tình sâu, nghĩa bền.
Ai ơi nhớ lấy đừng quên…!”

(Thơ Đừng Tưởng của Bùi Giáng nhận được từ điện-thư vi-tính, mới vừa đây)

Đừng tưởng” hay “cứ tưởng rằng ” cuộc đời có tương-quan giữa người người, là như thế. Đừng tưởng rằng: đời người đi Đạo đôi khi cũng như thế. Như thế, tức mãi mãi tưởng lầm chuyện nhà thờ/nhà thánh chỉ là chuyên-chăm kinh-kệ, mới đáng sống.

Đời người có đáng sống hay không, đâu chỉ vì chuyện “Đừng tưởng” của nhà thơ mà làm mục-tiêu ta của sự sống đi tới. Mục tiêu sự sống hay mục đích của cuộc-đời-người, vẫn là kiếm tìm một hạnh-phúc cũng rất cần nhưng hay tưởng lầm, như nhận định của ai đó đã phóng đi được bầy tôi đây dùng làm kết-đoạn cho câu chuyện phiếm sau đây:

“Đến hôm nay, khi đã thành đạt, vợ đẹp, con ngoan. Cuộc sống hối hả, vô thường vô tận. Nó cũng chẳng bao giờ đóai hoài đến cái đầu, hay miếng xương con cá. Vì những thứ đó đã được vợ nó bỏ đi, chỉ mang phần thịt lên mâm cơm.

Cha mẹ nó lớn tuổi mới cưới nhau. Hồi đó, gia đình nghèo khó. Mẹ mất sớm, cha tần tảo nuôi 3 anh em nó nên người. Nhà gần sông, nhưng cha đau yếu, ít khi có được con cá mà ăn, mà có được bữa cá đã là thịnh soạn lắm với anh em nó rồi. Nó còn nhớ, mỗi lúc ăn cá, cha thường bảo: -Để tao ăn đầu và xương.

Nó nhanh nhẩu hỏi:

-Tại sao thế hả cha?

Cha nó nói vẻ mặt nghiêm nghị, kiểu răn dạy:

-Vì cha già rồi, hay đau đầu, nên ăn đầu thì nó sẽ bớt đau – cái này gọi là ăn óc bổ óc, hiểu không? Xương yếu, ăn xương thì sẽ cứng cáp hơn. Có vậy mà cũng không hiểu hả?”

Tâm hồn trẻ con, nó và hai đứa em đinh ninh là cha nói thật. Mỗi lúc đến bữa ăn, nó còn nhanh nhẩu sẻ ra từng phần. Bỏ đầu và xương qua cho cha nó. Ba anh em tranh nhau phần thịt. Có những lúc nó cũng phân vân, những khi như thế, cha nó lại bảo: “Hồi nhỏ, ông bà nội cho tao ăn thịt suốt, giờ nhìn thịt là cha thấy ớn quá, sau này lớn các con cũng như cha thôi.”

Thấm thoắt thoi đưa, anh em nó lớn lên, và cha nó già đi. Sau này, khi nó đủ hiểu biết mới nhận ra những lời cha nó nói trước đây là nói dối, thì cũng là lúc đời sống của gia đình nó khấm khá hơn. Anh em nó có thể thay cha đi đò, đi sông, mò cua, thả cá.

 Vì thế mà cha nó cũng thỉnh thoảng ăn thịt, hay ăn thường xuyên nó cũng chẳng nhớ. Vì tuổi trẻ bồng bột, không dám – không ngẫm nghĩ nhiều về yêu thương, hay vì cha nó cố tìm cách cho “lời nói dối” được anh em nó chấp nhận hơn, nó cũng chẳng còn nhớ.

Để đến hôm nay, khi đã thành đạt, vợ đẹp, con ngoan. Cuộc sống hối hả, vô thường vô tận. Nó cũng chẳng bao giờ đóai hoài đến cái đầu, hay miếng xương con cá. Vì những thứ đó đã được vợ nó bỏ đi, chỉ mang phần thịt lên mâm cơm.

Hôm nay là ngày giỗ lần thứ 10 của cha nó. Nhìn di ảnh ba gầy còm, nhưng nở một nụ cười tươi sáng. Nhìn con cá chiên to đùng, lấp lánh mỡ mà vợ đặt lên bàn thờ, nó chợt bất giác rơi lệ. Một cơn đau từ đâu hiện về nhói lòng vô tận. Nó phải quay mặt đi để lau hàng lệ, để giấu vợ con. Nhưng nó không thể xóa đi được hình dáng cha già còm cõi, xiêu vẹo bước đi bên sông, “cha đi thả cá mùa nước nổi”.

 Rồi sau đó là những trận thương hàn triền miên hành hạ ông. Nó không thể xóa đi được cái ý nghĩ “nếu cha ăn nhiều thịt hơn, thì đã không già yếu như thế”. Vừa khấn vái, nó lại bất giác kêu lên những tiếng “cha” từ trong cổ họng.

Đến lúc ra bàn ăn. Nhìn vợ đang xẻ thịt con cá, để bỏ đi phần đầu và xương. Nó giữ tay vợ lại: -Em, để anh ăn đầu, đừng bỏ đi”.

Vợ hiểu. Vợ nó bỏ đầu cá qua cho chồng. Chỉ có cô con gái nhỏ là thắc mắc:

-Sao hôm nay ba lại ăn đầu, nó lắm xương, nó sẽ làm đau ba đấy?

Nó xoa đầu con gái, nuốt tiếng nấc đang chầu chực nơi cổ họng vào trong, rồi bảo:

-Dạo này ba hay đau đầu, nên ăn đầu sẽ hết đau con gái à, cái này gọi là ăn đầu bổ đầu đấy con yêu”.

 Nó vừa ăn vừa cố cho những giọt nước mắt không tràn xuống bát cơm.” (truyện ngắn do Cù Lú kể)

 Nghe kể rồi, nay mời bạn và mời tôi, ta cứ hãnh tiến hước về phía trước mà ra đi miệng ngâm nga những lời hát “vuốt tóc em” tuy buồn bã nhưng vẫn cứ hát “một lần cuối”, rằng:

“Anh hát cho em nghe,

anh hát cho em nghe,

một lần cuối, một lần cuối cùng, rồi thôi.
Anh chết trong mắt em!
Anh chết trong mắt em,

một lần cuối! như những lần đó … xa xôi.

Anh khóc trên vai em,

anh khóc trên vai em, một lần cuối,

một lần cuối, một lần cuối cùng,

để còn thấy lòng run lần cuối.

Một lần cuối cùng thôi, em ơi !

Anh khóc trên vai em,

anh khóc trên vai em,

một lần cuối, một lần cuối,

một lần cuối cùng,

để nhìn thấy tình yêu lần cuối.
Một lần cuối cùng thôi, em ơi
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !
Một lần cuối cùng thôi, em ơi !

(Hoàng Thi Thơ ­- bđd)

Cứ hát và cứ khóc “trên vai em” một lần cuối đến như thế, anh và em rồi sẽ “nhìn thấy tình-yêu lần cuối”, dù Tình-yêu ấy, dù người đời ở đây, hôm nay vẫn cảm-nghiệm một cuộc đời cũng rất “người”, nơi mọi người. Ở muôn nơi.

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng là người

như mọi người

Nên không thể không có

những cảm xúc

đến như thế. 

Gió lùa ánh sáng vô trong bãi

 Suy Tư Tin Mừng Tuần thứ 3 mùa Vọng năm A 11/12/2016

Tin Mừng (Mt  11: 2-11)

Ông Gioan lúc ấy đang ngồi tù, nghe biết những việc Đức Kitô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?” Đức Giêsu trả lời: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.”

Họ đi rồi, Đức Giêsu bắt đầu nói với đám đông về ông Gioan rằng: “Anh em ra xem gì trong hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng? Thế thì anh em ra xem gì? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua. Thế thì anh em ra xem gì? Một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến.

“Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông.”

  •      *      *      *      *

 “Gió lùa ánh sáng vô trong bãi”

Trăng ngậm đầy song, chảy láng lai.

Buồm trắng phất phơ như cuống lá,

Lòng tôi bát ngát rộng bằng hai.”

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Mai Tá lược dịch

Trình thuật mùa đợi chờ hôm nay, làm phấn chấn hết mọi người. Người người hôm nay, được dặn dò: Hãy vui lên!. Vui, không vì “Nắng tươi đẹp, khung trời rồi rực sáng”. Mà vì, Đức Chúa Quang Lâm nay gần đến, sao vẫn buồn?

Với phụng vụ thời xưa, Mùa Vọng là mùa đền tội, khá nghiêm ngặt. Theo đó, con dân nhà Đạo tuần này được khuyên nên giữ chay lòng, khiết tịnh ít nhất ba ngày. Với Công Đồng Vatican II, Phụng vụ đã bắt đầu cho sử dụng mầu Hồng cho áo lễ. Mầu phấn khởi, nhắc nhở về lời khuyên của ngôn sứ Isaia:

“Vui lên đi, này đồng hoang cỏ cháy.” (Is 35: 1).

Hãy cứ vui, mà chào đón Đấng Nhân danh Chúa ngự đến” (Is 35: 2).

Ngài ngự đến, cứu chuộc hết anh em.” (Is 35: 4).

 Cứu rỗi hay cứu chuộc, là ơn chữa lành. Là, những trọn vẹn – lành thánh, đến với cuộc đời mỗi người và mọi người. Mọi người tuy được cứu rỗi, cũng đừng nên coi việc chữa lành đây mang tính xác phàm, thôi. Nhưng, còn mang cảm tính, ý nghĩa xã hội và tâm linh, nữa. Quả là, ta chỉ được kiến tạo thành người trọn vẹn, khi hạnh phúc hài hoà tuôn chảy vào chính con người mình, thôi.

Tin Mừng hôm nay, còn minh xác thêm một điều, là: ta tìm ra chính mình ngay trong cuộc đời của Đức Kitô. Điều này, được thánh Gio-an Tiền Hô công bố qua việc thánh nhân sai môn đệ mình đến hỏi Chúa:

“Thầy có thật là Đấng phải đến hay không?” (Mt 11: 3).

Câu hỏi, bao hàm hai việc: bản thân thánh nhân muốn biết về Đức Kitô; hoặc, chính thánh nhân muốn cho môn đệ mình hiểu về Chúa. Điều này hạ hồi sẽ rõ. Nhưng sau đó, thánh nhân lại đã công bố:

“Đấng đến sau tôi, quyền thế hơn tôi…

Ngài sẽ thanh tẩy anh em trong Thánh Thần và lửa” (Mt 3: 11).

Và lúc đó, câu trả lời của Đức Chúa nói lên tính cách Thiên Sai của Ngài:

“Hãy về mà thuật lại với Gioan,

những điều mắt thấy tai nghe…” 

Câu trả lời của Đức Giê-su, ăn khớp với ý nghĩa bài đọc thứ nhất: công nhận Đức Kitô là Đấng Thiên Sai. Đấng “đến cứu anh em” (Is 35:4).

Tin mừng thánh Mátthêu lại cũng thực sự nói lên tính Thiên sai của Chúa. Và như thế, lời xác minh này ăn khớp với tinh thần của Mùa Vọng, mùa chờ đợi. Ta chờ ngày Chúa đến lại. Ngài đến lại, là đến một cách đầy đặn, trọn vẹn cho cuộc sống của ta. Như Kinh Nhập Lễ vừa nói rõ, ta vẫn cần “kinh nghiệm sống về niềm hân hoan Đấng cứu chuộc.”

 Cần ở đây, là cần Chúa mang đến cho mỗi người ơn cứu chữa rất trọn vẹn, lành thánh. Và, đây chính là điều mỗi người chúng ta cần làm. Cần, là làm sao để mỗi người đều có kinh nghiệm trở nên toàn vẹn trong Đức Kitô. Cần là bởi, nhiều người trong chúng ta vẫn chưa thực sự biến đổi chính mình, để trở thành “một Kitô” khác. Một Kitô đích thực, như Ngài muốn. Và, thời gian cứ kéo dài. Cứ chờ đợi ta.

Nhằm giúp ta làm được như thế, bài đọc thứ hai trích dẫn lời của thánh Gia-cô-bê, khuyên bảo:

 “Hãy kiên nhẫn, như nhà nông chờ đất trổ sinh hoa mầu.

Chờ cơn mưa đầu mùa. Mưa cuối vụ.”

(Gc 5: 8).

Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu cũng giới thiệu thánh Gioan Tiền Hô như vị thánh lớn, chưa từng thấy. Và, thánh nhân còn được thêm ưu điểm là được sinh ra cùng thời với Đức Chúa. Ưu điểm này, Đức Kitô cũng đã ban cho mỗi một người,chúng ta. Được ưu điểm ấy, ta cố gắng làm sao để Đức Kitô trở nên thành phần trong cuộc sống của mỗi người.

Thật ra, thánh Gioan Tiền Hô là nhân vật dũng mãnh, vẹn toàn. Thánh nhân không giàu có. Cũng chẳng tiếng tăm. Lại không là bậc siêu sao, thượng thặng. Nhưng, mọi người vẫn bước theo chân mềm của thánh nhân bước vào chốn hoang vu vắng lặng nơi sỏi đá khô cằn, để được nghe thánh nhân những giảng và dạy. Lời dạy rất thách-thức để đổi thay.

Cũng một kiểu tương tự, lời mời gọi vào chốn hoang vu, nay được gửi đến mỗi kẻ tin vào Đức Kitô, từ nhiều năm. Vẫn từ bao giờ, tín đồ của Chúa được kêu mời hãy dọn đường, và cũng dọn lòng, để Chúa đến với tâm can mỗi người. Hãy sửa soạn con tim của mọi người. Để rồi, mỗi người và mọi người đều hân hạnh có kinh nghiệm về “niềm vui cứu rỗi”. Niềm vui được ơn chữa lành, rất lành thánh, trọn vẹn. Có như thế, cuộc sống của chúng ta mới có ý nghĩa và đáng sống.

Giáng Sinh là thời của ân huệ/quà tặng, của hành động cho đi lẫn tiếp nhận. Hãy đảm bảo là các quà tặng ta trao nhau, bao gồm cả niềm vui đi Đạo, mọi người đang nhận lãnh. 

Lm Frank Doyle sj biên-soạn

Mai Tá lược dịch

Trích Hồi Ký Tống Văn Công: CUỘC TRANH LUẬN VỀ TƯ PHÁP TRÊN BÁO SỰ THẬT

Trích Hồi Ký Tống Văn Công: CUỘC TRANH LUẬN VỀ TƯ PHÁP TRÊN BÁO SỰ THẬT

Viet-studies

9-12-2016

tong-v-cong
Ảnh bìa, Hồi ký Tống Văn Công. Nguồn: Người Việt Books
Tôi gởi đơn xin tòng quân, nhưng được phân công về Phòng Bình dân Học vụ, Nha Giáo dục Nam Bộ, do thạc sĩ Hoàng Xuân Nhị làm giám đốc. Phòng này mới thành lập do nhà giáo Nguyễn Hậu Lạc làm trưởng phòng. Đã có một vài người tới trước tôi như Ca Lê con cả của giáo sư Ca văn Thỉnh, Đặng Minh Trang con giáo sư Đặng Minh Trứ… Chưa có công việc gì làm, chúng tôi thường đến hai nơi: một là, văn phòng của Nha Giáo dục để gửi thư và nhận thư; hai là tới Thư viện đọc sách báo.

Thư viện của Nha Giáo dục có khá nhiều sách. Ở đây tôi được đọc hai bộ sách lớn củả chủ nghĩa cộng sản: “Lịch sử Đảng cộng sản Liên xô” và “Những nguyên lý chủ nghĩa Lê Nin của Stalin”. Cũng ở đây tôi đọc quyển “Sửa đổi lề lối làm việc” của X.Y.Z. Giám đốc Hoàng Xuân Nhị giới thiệu “quyển này là một tác phẩm lớn của Hồ Chủ tịch”. Quyển sách khiến tôi tha thiết mong muốn được trở thành đảng viên cộng sản bởi câu này: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng”. Trong sách này, Cụ Hồ cảnh báo cán bộ đảng viên chớ có làm “quan cách mạng”, cậy quyền, cậy thế, hũ hóa, tư túi, chia rẽ, kiêu ngạo… Bài “ Nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, đẩy mạnh phê bình tự phê bình” của Cụ Hồ tôi đọc như nuốt từng lời đã góp phần cho tôi được… “ngu lâu”.

Đặc biệt tại thư viện của Nha Giáo dục, tôi được đọc về cuộc tranh luận hồi năm 1948 trên báo Sự Thật của Đảng cộng sản Đông Dương (với danh nghĩa Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác) và báo Độc lập của Đảng Dân Chủ “Về vai trò của Tư pháp trong Nhà nước cách mạng Việt Nam”. Một bên là Quang Đạm biên tập viên của báo Sự Thật do Trường Chinh làm Tổng biên tập và bên kia là luật gia Vũ Trọng Khánh nguyên Bộ trưởng Tư pháp đầu tiên của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa với sự hỗ trợ của luật gia Vũ Đình Hòe đương kim Bộ trưởng Tư pháp. Dù rất ham đọc, tôi không hiểu bao nhiêu. Tuy nhiên vấn đề gai góc đó buộc tôi tiếp tục tìm hiểu mãi. Còn hồi đó khi biết Cụ Hồ có quan điểm giống như Quang Đạm thì tôi ngờ rằng Vũ Trọng Khánh đã bị lý thuyết của bọn thực dân phương Tây đầu độc!

Quang Đạm viết “Tư pháp với Nhà nước” trên số báo 91 ngày 15–4–1948, sau đó bài “Tính chất chuyên môn trong Tư pháp” trên số báo 93 ra ngày 19–5–1948. Ông cho rằng: Trong xã hội có giai cấp không có gì nằm trên cuộc đấu tranh giai cấp. Tư pháp là mộtbộ phận của nhà nước được phân công vận hành để cùng với chính quyền phục vụ lợi ích giai cấp. Độc lập Tư pháp, Tam quyền Phân lập chỉ là huyền thoại nhằm che đậy bản chất áp bức của chế độ tư bản. Ở nước ta trước đây, chính quyền thực dân cũng đưa ra huyền thoại đó, nhưng tòa án của nó chưa bao giờ mang lại công lý cho nhân dân ta. Ông kêu gọi Tư pháp không nên “độc lập” mà nên “kết hợp” với chính quyền và phối hợp với tập quyền. Tức là Tư pháp phụ trách về chuyên môn, nhưng chịu sự lãnh đạo chung.(Hồi đó chưa nói là chịu sự lãnh đạo của Đảng). Ông cho rằng Tư pháp độc lập dễ trở thành đối lập.

Vũ Trọng Khánh, nhân danh một số “anh em có trách nhiệm về Tư pháp” trả lời Quang Đạm. Ông cho rằng luật cao hơn đấu tranh giai cấp. Luật không chỉ là công cụ của giai cấp thống trị mà còn là công cụ bảo vệ kẻ yếu chống lại kẻ mạnh và kẻ có quyền lực. Ông đặt câu hỏi cho Quang Đạm: “Khi điều 712 Dân luật bắt kẻ nào làm thiệt hại đến người khác thì phải bồi thường cho người ấy, và bộ Hình luật làm tội những kẻ đánh nhau hay giết người không vì cớ chính trị thì đó là bảo vệ ai và đàn áp giai cấp nào”?

Trả lời Quang Đạm về “Trạng thái độc lập Tư pháp sẽ chuyển thành đối lập”, ông Vũ Trọng Khánh viết: “Khi một người nào đó ra lệnh cho Tòa án phải xử thế này thế khác mà Tòa án không nghe theo thì chúng tôi cho rằng đấy là giữ quyền độc lập. Nếu ông Quang Đạm cho như thế là đối lập thì tôi muốn hỏi ông, khi các thẩm phán can thiệp vào việc hành chính hay chính trị thì các ủy ban hành chính sẽ cư xử thế nào để cho khỏi thành ra ‘đối lập’”? Ông Quang Đạm khuyên rằng: “Tư pháp phải kết hợp với nhà nước mà đối lập với các lực lượng phá hoại chính quyền. Không một bộ phận nào được tách mình ra khỏi khối đoàn kết”. Đáp lại những lời kỳ quặc ấy, tôi chỉ hỏi: “Các thẩm phán đứng trong hàng ngũ kháng chiến từ trước tới nay thì gọi là ở trong hay ở ngoài khối đoàn kết? Khi Tư pháp trừng trị kẻ bắt người trái phép, tha bổng cho những kẻ bị bắt vô chứng cứ thì đó là phá hoại chính quyền hay củng cố chính quyền”?

Ông Vũ Đình Hòe kế nhiệm ông Vũ Trọng Khánh làm Bộ trưởng Bộ Tư pháp đã viết bài “Tư pháp trong chế độ dân chủ mới” (báo Độc lập tháng 7 năm 1948) cho rằng, nước ta từ thời cổ đại cho tới thời thuộc địa chưa bao giờ có nền Tư pháp độc lập. Chính Cách mạng Tháng Tám, có Hiến pháp 1946, nhân dân ta mới được hưởng hệ thống luật tiến bộ này. Ông nhắc rằng Tam quyền phân lập, Tư pháp độc lập đang là thể chế hiện tồn của nhà nước cách mạng chúng ta”.

Trong thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc hồi tháng 2 năm 1948, tức là 2 tháng trước khi xảy ra cuộc tranh luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tư pháp làmột cơ quan trọng yếu của chính quyền, cho nên càng phải đoàn kết, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan khác, để tránh mối xích mích lẫn nhau, nó có thể vì quyền lợi nhỏ và riêng mà hại đến quyền lợi to và chung cho cả tư pháp và hành chính”. Như vậy là từ năm 1948, Cụ Hồ đã dứt khoát đặt “đoàn kết, hợp tác” lên trên “độc lập tư pháp”! Hai năm sau, trong thư gửi Hội nghị Học tập của cán bộ ngành Tư pháp (từ ngày 2 tháng 5 đến 23 tháng 7 năm 1950) để cải cách tư pháp phục vụ tình hình mới, Cụ Hồ lại viết hoàn toàn giống những điều Quang Đạm đã viết trong cuộc tranh luận hồi năm 1948: “ Luật pháp là vũ khí của một giai cấp thống trị, dùng để trừng trị giai cấp chống lại mình; luật pháp cũ là ý chí của thực dân Pháp, không phải là ý chí chung của nhân dân ta. Luật pháp cũ đặt ra để giữ gìn trật tự xã hội thật, nhưng trật tự xã hội ấy chỉ có lợi cho thực dân phong kiến, không phải có lợi cho toàn thể nhân dân đâu. Luật pháp đặt ra trước hết là để trừng trị áp bức. Phong kiến đặt ra luật pháp để trị nông dân. Tư bản đặtra luật pháp để trị công nhân và nhân dân lao động. Luật pháp của ta hiện nay là ý chí của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng. Một điều nữa các chú cần nhớ là giai cấp thống trị sử dụng luật pháp kết hợp với những cái khác. Luật pháp của các giai cấp bóc lột đặt ra để áp bức các giai cấp bị bóc lột. Nếu nó đứng một mình thì bộ mặt áp bức của nó lộ rõ quá. Cho nên giai cấp phong kiến cho nó dựa vào cái khác. Cái ấy là cái gì? – Phong kiến cho luậtpháp dựa vào đạo đức của nó. Đạo đức phong kiến chủ yếu là cương thường: Tôn vua, kính thầy, yêu cha…”

Mặc dù luật gia Vũ Đình Hòe vẫn là Bộ trưởng Tư pháp, nhưng cuộc học tập rất quan trọng nói trên lại do ông Trần Công Tường, Thứ trưởng, bí thư Đảng đoàn Đảng cộng sản trực tiếp lãnh đạo! Đến năm 1960 nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa xóa bỏ Bộ Tư pháp và các Trường luật. Từ đây, công dân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa sống trong thể chế Đảng công khai đứng trên pháp luật. Ông Vũ Đình Hòe khôn ngoan đã lùi dần để sinh tồn, đến cuối đời ông viết quyển sách có tựa đề “Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh” đề ra 5 yếu tố: 1– Yếu tố pháp quyền dân tộc và ảnh hưởng Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ; 2– Yếu tố pháp quyền quân chủ lập hiến của Vương quốc Anh qua các cuộc cách mạng dân chủ; 3– Yếu tố pháp quyền của Cách mạng Pháp dưới lá cờ Tự do, Bình đẳng, Bác ái; 4– Yếu tố pháp quyền công nông của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, với chuyên chính vô sản, dân chủ xã hội chủ nghĩa; 5– Yếu tố pháp quyền dân tộc dân chủ của cách mạng Trung Hoa trải qua hai lần Quốc Cộng hợp tác.

Bị tha hóa tệ hại, Vũ Đình Hòe nhìn chế độ toàn trị là chế độ pháp quyền nhân nghĩa và tìm cho nó “5 yếu tố” hết sức oái oăm! Ông Vũ Trọng Khánh là người dũng cảm bảo vệ những điều mình tin là đúng, ông đã bị dìm năm này sang năm khác, từ Bộ trưởng Bộ Tư pháp, xuống Chưởng lý tòa Thượng thẩm, Giám đốc tư pháp Liên khu 10, Trưởng ban nghiên cứu pháp lý, Phó chủ tịch Ủy ban Nhân dân TP Hải Phòng, rồi Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Hải Phòng, cuối cùng là chuyên viên trong một phòng thuộc cấp Sở, của thành phố Hải Phòng.

Không chấp nhận tư pháp độc lập, quyết liệt chống nhà nước pháp quyền với tam quyền phân lập từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Quang Đạm cho đến Đại hội 12 của Đảng cộng sản năm 2016 là nhằm bảo vệ Đảng đứng trên nhân dân, đứng trên Hiến pháp và luật pháp.

Việt Nam: Nếu chịu dở dang thì sinh hoạt tôn giáo rất ‘tự do’!

 Việt Nam: Nếu chịu dở dang thì sinh hoạt tôn giáo rất ‘tự do’!

Nguoi-viet.com

Công trình xây dựng nhà thờ Tam Tòa chụp khi có lệnh tạm ngưng vì thiếu phần sau của giấy phép. (Hình: http://dcctvn.org/)

VIỆT NAM – Giáo xứ Tam Tòa vừa được lệnh tạm ngưng xây dựng nhà thờ để chờ… phần sau của giấy phép xây dựng. Hồ sơ xin phép xây dựng công trình này mới chỉ được duyệt… phần móng.

Ðể tăng “hiệu lực thực thi” lệnh tạm ngưng xây dựng, chính quyền tỉnh Quảng Bình đã yêu cầu công ty điện lực, công ty cấp nước cắt toàn bộ điện, nước và công an thì đã rải người, chặn tất cả các phương tiện vận chuyển vật liệu đến nhà thờ Tam Tòa.

Có nhiều dấu hiệu cho thấy chính quyền Việt Nam lại khiêu khích giáo phận Vinh thông qua câu chuyện về nhà thờ Tam Tòa.

Nhà thờ Tam Tòa tọa lạc tại thành phố Ðồng Hới, tỉnh Quảng Bình. Ngôi nhà thờ này nổi tiếng vì nằm trong nhóm rất nhỏ những nhà thờ cổ kính và đẹp nhất Việt Nam (xây dựng năm 1886 theo kiến trúc của Bồ Ðào Nha).

Giáo xứ Tam Tòa là một trong những xứ đạo đầu tiên của Công Giáo Việt Nam (1631). Sau Hiệp Ðịnh Geneve (1954), giáo dân Tam Tòa di cư vào Nam. Nhà thờ Tam Tòa bị chiếm dụng rồi trở thành nơi đồn trú của một đơn vị phòng không của quân đội CSVN. Ðó cũng là lý do, trong chiến tranh Việt Nam (1954-1975), nhà thờ trúng bom của không lực Hoa Kỳ (1965), chỉ còn lại tháp chuông và trở thành phế tích.

Sau Tháng Tư năm 1975, chính quyền Việt Nam không cho xây dựng lại nhà thờ Tam Tòa với lý do đó là “di tích lịch sử cấp tỉnh,” một “chứng tích tội ác chiến tranh.” Ðể chứng tỏ thiện chí, Công giáo Việt Nam đồng ý sẽ đổi thửa đất có nhà thờ Tam Tòa lấy một mảnh đất khác để xây dựng lại nhà thờ Tam Tòa. Thỏa thuận này giữa giáo phận Vinh với chính quyền tỉnh Quảng Bình được lập từ 2008 nhưng chính quyền tỉnh Quảng Bình không giao đất.

Giáo xứ Tam Tòa trở thành một xứ đạo không có nhà thờ trong nhiều thập niên. Tháng Bảy năm 2009, khoảng 200 giáo dân Giáo xứ Tam Tòa đổ đến khuôn viên nhà thờ Tam Tòa để dựng một cái lán để có nơi sinh hoạt tôn giáo. Lực lượng vũ trang (gồm cả quân đội lẫn công an) đổ đến giật sập cái lán này. Có 19 người bị bắt.

Tuần sau, hàng trăm ngàn giáo dân của Giáo phận Vinh đổ về các nhà thờ trong giáo hạt của họ, thắp nến cầu nguyện cho công lý trong vụ nhà thờ Tam Tòa. Những buổi thắp nến cầu nguyện như thế hun nóng không khí ở khu vực phía Bắc miền Trung.

Ngày 14 Tháng Tám năm 2009, 200,000 giáo dân của Giáo phận Vinh đổ về nhà thờ Xã Ðoài (nhà thờ chính tòa của giáo phận Vinh) tiếp tục cầu nguyện cho công lý trong vụ nhà thờ Tam Tòa. Chính quyền Việt Nam nhượng bộ bằng cách phóng thích 12/19 người đã bị bắt. Khởi tố bảy người còn lại vì “gây rối trật tự công cộng” và hứa sẽ đẩy nhanh việc cấp đất để giáo dân Tam Tòa xây nhà thờ của họ. Tuy nhiên bốn năm sau (2013), Giáo xứ Tam Tòa mới nhận được đất, mảnh đất để xây nhà thờ mới nằm cách thửa đất có nhà thờ cũ gần ba cây số, song cây chuyện về nhà thờ Tam Tòa chưa kết thúc. Giáo dân Tam Tòa vẫn phải dự lễ và tham dự các sinh hoạt của xứ đạo tại tư gia một số đồng đạo của mình vì muốn xây dựng nhà thờ mới phải có giấy phép xây dựng mà hồ sơ xin phép xây dựng nhà thờ Tam Tòa mới thì lại được chính quyền tỉnh Quảng Bình xem là rất quan trọng.

Thêm vài năm chờ đợi hồ sơ xin phép xây dựng nhà thờ Tam Tòa mới được phê duyệt, cuối cùng giáo xứ Tam Tòa cũng nhận được quyết định cho phép làm… móng và tầng hầm của nhà thờ!

Tại sao lại chỉ mới cho phép làm… móng và tầng hầm của nhà thờ thì chính quyền chưa thèm giải thích. Khi giáo xứ Tam Tòa hoàn tất móng và tầng hầm rồi tiếp tục xây dựng phần phía trên theo hồ sơ và thiết kế đã nộp thì họ nhận được quyết định phạt 30 triệu đồng vì “vi phạm các qui định về xây dựng.” Mới nhất là lệnh tạm ngưng thi công. Lệnh này có thể là sự khởi đầu của một đợt xung đột mới giữa giáo phận Vinh với chính quyền Việt Nam và chắc chắn hàng giáo phẩm của giáo phận này sẽ bị cáo buộc thêm một lần nữa vì “thiếu thiện chí,” “kích động gây rối”! (G.Ð)

Tin từ Việt Nam

Bắt ông Trần Phương Bình – cựu lãnh đạo ngân hàng Đông Á

Báo Tuổi trẻ V.N.

TTO – Ngày 10-12, Ngân hàng Đông Á ra thông tin báo chí về việc cơ quan cảnh sát điều tra (Bộ Công an) bắt giữ các cựu lãnh đạo ngân hàng, trong đó có ông Trần Phương Bình – nguyên Tổng giám đốc DongA Bank.

 Bắt ông Trần Phương Bình - cựu lãnh đạo ngân hàng Đông Á
Ông Trần Phương Bình – Ảnh tư liệu

Thông tin đăng tải trên website chính thức của Ngân hàng Đông Á cho hay:

“Vừa qua, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Bộ Công An (C46) đã tiến hành khởi tố vụ án và khởi tố bị can đối với một số cán bộ nguyên là lãnh đạo của Ngân hàng TMCP Đông Á do vi phạm các quy định của pháp luật trong hoạt động tiền tệ ngân hàng, trong đó có ông Trần Phương Bình – nguyên Tổng giám đốc DongA

TP.HCM vay hơn 6.300 tỉ đồng để trả nợ

TTO – Bội chi ngân sách địa phương năm 2017 là 2.900 tỉ đồng. Tổng mức vay của TP là 9.278,61 tỉ đồng để bù đắp bội chi ngân sách, còn lại 6.378,61 tỉ đồng sẽ dùng trả nợ gốc.

Đà Nẵng: Có hay không cán bộ công an liên hệ với xã hội đen, băng nhóm?

Bí thư Thành ủy, Chủ tịch HĐND TP Đà Nẵng Nguyễn Xuân Anh đặt vấn đề: “Có hay không việc lực lượng công an mặc dù có nhiều cố gắng nhưng trách nhiệm vẫn chưa hết, thậm chí một bộ phận cán bộ công an có liên hệ với các thế lực xã hội đen, băng nhóm bên ngoài?”

Trung tâm y tế huyện nghèo chi “tiếp khách” 4 tháng hết 300 triệu đồng?

(NLĐO)- Chỉ trong vòng 4 tháng nhưng Trung tâm Y tế dự phòng huyện Tuyên Hóa (Quảng Bình) đã chi đến gần 300 triệu đồng cho khoản tiếp khách khiến dư luận huyện này tỏ thái độ hoài nghi và về khoản “hậu đãi” lạ kỳ này.

Ngày 10-12, Trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông Cao Sỹ Phượng – Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng huyện Tuyên Hóa (một huyện xếp vào loại nghèo tỉnh Quảng Bình) xác nhận có sự việc như trên nên thời điểm này Trung tâm đang gặp khó khăn vì thiếu kinh phí hoạt động.

Bình Định thêm 2 học sinh bị lũ cuốn chết (Báo Tuổi Trẻ VN)

TTO – Sáng 8-12, sau khi học xong hai tiết, hai em Trần Đức Thắng và Nguyễn Minh Tài, cùng 13 tuổi, học sinh lớp 8A2 Trường THCS Nhơn An, xã Nhơn An, thị xã An Nhơn, Bình Định về nhà thì bị lũ cuốn.

 tuoi-tre
Người dân và lực lượng dân quân cứu một thanh niên cùng chiếc xe máy suýt bị lũ cuốn khi cố qua đập tràn Tân Thuận trưa 7-12 – Ảnh: Duy Thanh

Theo ông Nguyễn Tấn Đức – chủ tịch UBND xã Nhơn An – nhóm học sinh có ba em, khi đi qua tràn Bờ Dọn ở thôn Thuận Thái thì Thắng và Tài bị dòng nước lũ chảy xiết cuốn trôi, em còn lại thoát nạn.

BẤT HẠNH

From facebook: Suong Quynh and 3 others shared Huynh Ngoc Chenh‘s post.
Image may contain: 3 people , people standing and child
Huynh Ngoc ChenhFollow

Nhìn thấy cảnh đám trẻ Việt Nam khóc lóc thảm thiết khi đón sao Hàn nhiều người ngán ngẫm thở dài hoặc phẫn nộ buông lời miệt thị.
Một ông bạn đồng nghiệp già của tui cũng lên phây than: “Thật bất hạnh cho dân tộc nào sản sinh ra những thanh niên khùng điên như thế này!”

Tui lại thấy khác: Thật bất hạnh cho đất nước chúng ta đã không sản sinh ra được những ngôi sao giải trí xuất chúng như Hàn Quốc để cho tuổi trẻ sung sướng khóc than mỗi khi được gặp mặt.

Tại sao tuổi trẻ VN không được vô tư, hồn nhiên tôn sùng, ngưỡng mộ những thần tượng mà mình yêu thích như tuổi trẻ các nước khác? Qua phim ảnh tui đã thấy đám đông thanh niên Âu Mỹ đã điên cuồng lên như thế nào trước The Beatles, trước Michael Jackson…

Không sánh được với Âu Mỹ thì ít ra chúng ta cũng sánh được với Hàn Quốc chứ. Tại sao chúng ta không sản sinh ra được những ngôi sao như Hàn Quốc?

Đây là trách nhiệm của tui, của ông bạn đồng nghiệp già của tui, của thế hệ 4x, 5x, 6x chúng tui đã để cho đất nước đi theo con đường lụn bại…để đến thế kỷ 21 rồi mà cũng không làm được chuyện dễ nhất là sản sinh ra một ngôi sao giải trí nội địa có tầm như Hàn Quốc cho thế hệ trẻ ngưỡng mộ, và quan trọng là không tạo dựng ra được một đất nước phồn vinh, một môi trường sống an toàn để tuổi trẻ được vô tư ăn học, cống hiến và vui chơi như tuổi trẻ các nước.

Vô cùng xin lỗi các cháu.

Tổng Bí thư: Đảng suy thoái nhưng cấm bôi bẩn

Tổng Bí thư: Đảng suy thoái nhưng cấm bôi bẩn

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2016-12-09
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị chỉnh Đảng ở Hội trường Diên Hồng tòa nhà Quốc hội ngày 9/12/2016.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị chỉnh Đảng ở Hội trường Diên Hồng tòa nhà Quốc hội ngày 9/12/2016.

Courtesy quochoi.vn

Thông điệp răn đe

Phát biểu tại Hội nghị chỉnh Đảng tại Hội trường Diên Hồng tòa nhà Quốc hội ngày 9/12/2016, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xác định sẽ không đóng cửa để chỉnh đốn Đảng và sẽ diệt tận gốc nạn tự diễn biến tự chuyển hóa trong nội bộ Đảng.

Ông Nguyễn Phú Trọng, trong tư cách người đứng đầu Đảng Cộng sản đã gởi một thông điệp răn đe đến những kẻ thù vô hình không có danh tính. Những người ông gọi là lợi dụng việc đấu tranh khắc phục khuyết điểm, tiêu cực để bôi nhọ, kích động chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam và sự nghiệp cách mạng của nhân dân.

Đối với những ngươi dân bình thường đang chịu sự cai trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, thì có vẻ có điều gì không ổn vì một đảng xấu thì sẽ bị phê bình bêu riếu, không thể xem đó là lợi dụng để chống phá được.

Những nhà lý luận tuyên giáo, người ta thường xuyên lập luận như thế và người ta không thấy có những cái trái khoáy như vậy.
-Ông Nguyễn Đăng Quang

Ông Nguyễn Đăng Quang, cựu Đại tá Công an hiện nghỉ hưu ở Hà Nội nhận định:

“Những nhà lý luận tuyên giáo, người ta thường xuyên lập luận như thế và người ta không thấy có những cái trái khoáy như vậy. Nói như thể là kiểu nói lấy được, những câu nói nói có được dư luận đồng tình hay không thì bản thân người nói cũng thừa biết là như thế nào rồi. Nhưng người ta nói thì cứ nói thôi, nó chẳng có giá trị lớn lao gì, chẳng có giá trị thực tiễn nào hết.”

Hội nghị ngày 9/12/2016 ở Hà Nội mang tên Hội nghị cán bộ toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đương nhiệm về tăng cường chỉnh đốn Đảng.

Chỉ đạo tại Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng hàm ý vận mệnh của Đảng và chế độ đang chao đảo. Theo lời ông Tổng Bí thư, toàn Đảng cần nhận rõ rằng, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là cuộc chiến đầy cam go, nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến vận mệnh của Đảng và chế độ.

Cẩm nang nhận diện “tự diễn biến”

Bóng ma “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng là gì mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho là đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ cầm quyền ở Việt Nam. Ngay khi Hội nghị Trung ương 4 khai mạc vào ngày  9/10/2016 vừa qua với cảnh báo về biểu hiện vì những biểu hiện gọi là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, TS Hà Sĩ Phu một nhà phản biện chính trị độc lập thuộc thế hệ tiên phong đã từ Đà Lạt nhận định:

dien-hong-622
Hội nghị chỉnh Đảng tại Hội trường Diên Hồng tòa nhà Quốc hội ngày 9/12/2016. Courtesy quochoi.vn

“Bản thân Đảng của các ông ấy nó chuyển biến theo hướng bất lợi cho Đảng. Trước đây chuyện tự diễn biến, tự phân hóa được hiểu theo  nghĩa, các đảng viên ngày càng thấy rằng, con đường đi độc tài chuyên chế của Đảng là phi khoa học là không đúng, mà phải tiến dần sang phía dân chủ pháp trị theo ý kiến nhân dân. Trước đây cụm từ ấy chỉ có nghĩa như vậy thôi, nhưng gần đây cụm từ ấy có thêm một nghĩa mới là, bộc lộ sự mâu thuẫn trong nội bộ đảng về mặt nhân sự, chẳng những về mặt tư tưởng mà con về mặt nhân sự có thể dẫn đến lật đổ nhau, như ở Đại hội Đảng lần thứ 12 và thậm chí như vụ ở Yên Bái và đến vụ Trịnh Xuân Thanh nữa…”

Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII được xem là một Nghị quyết cập nhật về vấn đề chỉnh Đảng, làm rõ hơn bóng ma suy thoái trong Đảng và đề ra biện pháp đối phó. Nghị Quyết Trung ương 4 đưa ra một cẩm nang 27 điểm để nhận diện những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và vấn đề tự diễn biến, tự chuyển hóa.

Đặc biệt, biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ được nhận diện bằng việc phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, hay đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”.

Tư tưởng bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ, sử dụng phương tiện truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng…cũng được cho là một trong các biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa.

Các đảng viên ngày càng thấy rằng, con đường đi độc tài chuyên chế của Đảng là phi khoa học là không đúng, mà phải tiến dần sang phía dân chủ pháp trị theo ý kiến nhân dân.
-TS Hà Sĩ Phu

Một điểm quan trọng được Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII quy kết cho hiện tượng tự diễn biến tự chuyển hóa cho thấy tình hình khác nghiêm trọng. Đó là sự phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học – nghệ thuật. Tác động lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ súy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, hoặc điều gọi là bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng.

Tình trạng tham ô, nhũng nhiễu ở Việt Nam từ cấp thấp nhất lên tới cấp lãnh đạo được xem như một sự thật không thể chối cãi. Có thể nói người dân Việt Nam đã quen sống chung với tham nhũng. Nghị quyết chỉnh Đảng cũng bày tỏ quyết tâm chống tham nhũng và làm trong sạch Đảng. Nhưng những nỗ lực này trong mấy nhiệm kỳ đã tỏ ra chưa đạt kết quả bao nhiêu. Cựu Đại tá Công an Nguyễn Đăng Quang từ Hà Nội nhận định:

“Cá nhân tôi cho rằng có một một nghịch lý rất lớn, lãnh đạo Đảng càng hô hào chống tham nhũng, càng ra nhiều nghị quyết, chỉ thị chống tham nhũng, thì tham nhũng này lại càng khỏe ra càng mạnh lên. Thế cho nên tôi cho rằng trong lĩnh vực này đánh tham nhũng chống tham nhũng chẳng qua chỉ là đánh trận giả bắn chỉ thiên là chính thôi, chứ thực chất không phải chống tham nhũng thực sự.”

Liên quan đến vận mạng của chế độ, Đảng Cộng sản Việt Nam đang thực hiện một chiến dịch chỉnh Đảng toàn diện như lời ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu tại Hội nghị cán bộ toàn quốc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đương nhiệm về tăng cường chỉnh đốn Đảng.

Luật sư Trần Quốc Thuận nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội trong phát biểu gần đây với chúng tôi có nói rằng, nếu tình trạng tha hóa tham ô tràn làn không ngăn chặn được, thì Đảng và chế độ sẽ mất niềm tin người dân không ủng hộ nữa. Trong hoàn cảnh như thế thì cơ sở tồn tại của Nhà nước sẽ rất thấp.

40 năm chăm sóc bệnh nhân lao phổi nghèo ở Ấn độ của Cha Antonio Grugni

 40 năm chăm sóc bệnh nhân lao phổi nghèo ở Ấn độ của Cha Antonio Grugni

Hồng Thủy

Cha Antonio Grugni sinh tại Legnano, Italia, là một thừa sai thuộc Hội truyền giáo Giáo hoàng hải ngoại, gọi tắt là Pime. Cha năm nay 75 tuổi nhưng đã phục vụ các bệnh nhân và người nghèo ở Ấn độ từ 40 năm qua. Ngay từ khi còn là một trẻ nhỏ, cậu bé Grugni đã luôn quan tâm đến việc chăm sóc bệnh nhân. Dần dần cậu nhận ra đời sống Kitô hữu của mình ngày càng hướng đến ước mơ dâng hiến toàn đời mình để phục vụ. Sau khi hành nghề bác sĩ tim mạch 8 năm tại bệnh viện ở quê nhà Legnano, gần Milano, bác sĩ Grugni cảm thấy mình không thể tiếp tục cuộc sống như hiện tại dù có một cuộc sống tiện nghi với công việc ổn định và được trả lương cao. Khi được yêu cầu đến Ấn độ lam việc, bác sĩ Grugni cảm thấy như nghe một tiếng chuông, một tiếng gọi và đồng ý ngay lập tức. Năm 1976, bác sĩ Grugni đến Ấn độ và vào năm 1989, sau khi trải qua thời gian phân định ơn gọi, bác sĩ được thụ phong Linh mục trong Hội truyền giáo Pime.

Hiện nay cha Grugni sống ở Warangal, Telangana. Năm 2005, cha đã thành lập tại Warangal một hiệp hội chăm sóc các bệnh nhân lao phổi, phong cùi và bệnh nhân nhiễm virus HIV, được gọi là “Hội tình yêu phổ quát”. Hiệp hội có 13 nhân viên: gồm 2 bác sĩ, 7 y tá, một chuyên gia y tế, một thợ giày chuyên làm giày dép đặc biệt cho bệnh nhân cùi, một tài xế và một người giúp việc. Chính quyền cũng như dân chúng đa phần theo Ấn độ giáo nhìn nhận giá trị công việc của cha Grugni và đội ngũ của cha. Ở một đất nước mà việc cải đạo không những là không tốt mà còn không thể chấp nhận, thì cách thế tốt nhất là làm chứng bằng tình yêu, giúp đỡ người nghèo, những người đau khổ, những người thấp bé nhất trong xã hội. Cha Grugni chia sẻ: “Các bệnh nhân bị đánh động khi chúng tôi đến thăm, giúp đỡ họ, cho họ thức ăn, trong khi xã hội gạt họ ra bên lề. Chính họ hỏi chúng tôi: ‘Tại sao các bạn làm tất cả những điều này cho chúng tôi?’ Họ ngưỡng mộ công việc mà chúng tôi làm với tinh yêu vô vị lợi. Họ nhận ra có điều đặc biệt trong cách chúng tôi tiếp cận họ. Đó là chứng tá Kitô giáo. Nhiệm vụ của chúng tôi là gieo những hạt giống rồi chính Chúa  sẽ làm cho hạt giống mọc lên trong tâm hồn họ. Chúng tôi giống như những người thợ gieo hạt giống trên đất và đất sẽ sinh hoa trái.”

Cha Grugni nhớ lại điều Mahatma Gandhi đã nói về vai trò của Kitô hữu ở Ấn độ. “Tôi cầu chúc cuộc sống của các bạn như hoa hồng. Hoa hồng không cần những lời nói nhưng chỉ cần tỏa hương thơm. Ngay cả một người mù cũng cảm nhận được sự hiện diện của hoa hồng bởi vì anh ta có thể ngửi được mùi hương. Đó là điều tôi mong ước nơi các bạn: tỏa hương thơm sứ điệp của Kitô giáo, sứ điệp tôn trọng tự do.” Cha Grugni tin là nếu Chúa Kitô ở Ấn độ thì Người cũng làm như vậy. Người sẽ chăm sóc bệnh nhân, ở với dân chúng. Cha nói: “Chúng tôi cố gắng làm cách tốt nhất có thể những gì mà Chúa Giêsu làm.” Nói về vai trò của các thừa sai ở Á châu, cha Grugni nhận xét rằng: “một nửa nhân loại sống ở Ấn độ và Trung quốc và phần lớn họ không phải là Kitô hữu. Công việc của chúng tôi là ở giữa dân chúng với tình yêu và lòng thương xót. Tình yêu thì tự do; nó được trao ban cách nhưng không, không có động cơ hay mục đích riêng.”

Hội tình yêu của cha Grugni cộng tác với cơ quan y tế của chính phủ và chính phủ tin tưởng là các nhà nhân viên của hội sẽ làm việc cho đến cùng. Các nhân viên thăm viếng các trung tâm sức khỏe và gia đình các bệnh nhân để bảo đảm các bệnh nhân sẽ uống thuốc đều đặn. Nhờ sự chăm sóc và dấn thân của các nhân viên, tỉ lệ bệnh nhân bị lao được lành bệnh lên đến hơn 90%. Trong trường hợp các bệnh nhân bị cùi, các nhân viên ý tế thăm các bệnh viện về da, rồi kiểm tra thân thể của bệnh nhân để có thể khám phá các trường hợp bị cùi, một căn bệnh vẫn còn bị kỳ thị ghê sợ. Bên cạnh việc chăm sóc cho các bệnh nhân, Hội tình yêu còn quan tâm đến gia đình các bệnh nhân như, giúp tiền để con cái họ có thể đến trường và một số tiền hưu nho nhỏ cho người già. Hội xây nhà, cung cấp thực phẩm trong vài tháng đầu trị liệu để giúp các bệnh nhân lấy lại sức khỏe. Người dân ở đây toàn là những người nghèo, những lao động bình dân cần được giúp đỡ. Cha Grugni chia sẻ: “Khi các bệnh nhân thấy chúng tôi đến, họ chạy đến với chúng tôi, vui mừng vì biết là chúng tôi sẽ giúp đỡ họ, biết là chúng tôi ở đó là vì họ.” (Asia News 17/11/2014)

Hồng Thủy

 

 

DÂNG MÌNH VÀ PHÓ THÁC MÌNH CHO ĐỨC MẸ

DÂNG MÌNH VÀ PHÓ THÁC MÌNH CHO ĐỨC MẸ

Dâng mình cho Đức Mẹ là một cách phó thác mình cho Đức Mẹ. Khi phó thác mình cho Đức Mẹ, tôi có thể trình bày nỗi lòng mình cho Mẹ. Tôi nói với Mẹ, như để vơi đi nỗi lòng người con thơ dại, nhưng sau cùng là để Mẹ ủi an và dẫn dắt theo như Mẹ muốn.

  1. Ngày mồng 8 tháng 12 là lễ kính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Dịp này, Chúa thôi thúc tôi hãy dâng mình và phó thác mình cho Đức Mẹ một cách khẩn thiết và sốt sắng, trong tâm tình hiệp thông với toàn thể Hội Thánh toàn cầu nói chung và Hội Thánh tại Việt Nam nói riêng.
  2. Lý do là tại nhiều nơi, tình hình đang lâm nguy, hoặc sắp lâm nguy. Lâm nguy đó sẽ lan rộng. Cứu tình hình đó là cứu chính mình.

Trước viễn cảnh đó, Đức Mẹ được Chúa giới thiệu là Đấng mà mọi con cái Chúa có thể và nên phó thác.

  1. Dâng mình cho Đức Mẹ là một cách phó thác mình cho Đức Mẹ.

Khi phó thác mình cho Đức Mẹ, tôi có thể trình bày nỗi lòng mình cho Mẹ. Tôi nói với Mẹ, như để vơi đi nỗi lòng người con thơ dại, nhưng sau cùng là để Mẹ ủi an và dẫn dắt theo như Mẹ muốn.

  1. Đức mẹ luôn muốn những gì Chúa muốn .Thánh ý Chúa lại thường rất khác ý muốn của con người chúng ta.

Chính vì thế, mà phó thác mình cho Mẹ đòi tôi phải sẵn sàng từ bỏ ý riêng mình, để vâng phục thánh ý Chúa.

  1. Theo kinh nghiệm đời tu, tôi thấy việc phó thác nhấn mạnh đến từ bỏ cái tôi, để thuận theo ý Chúa, luôn là một cuộc chiến nội tâm gay gắt.
  2. Thường thì tôi cũng như nhiều người phó thác, chẳng bao giờ dám có ý chống lại thánh ý Chúa. Nhưng chỉ tìm cách dối mình, coi ý mình cũng hợp ý Chúa.Dối mình bằng những ảo tưởng khoác áo đạo đức bề ngoài, nhưng bên trong vẫn nặng cái tôi ích kỷ.

Đôi khi cái tôi đó cũng không đến nỗi phải gọi là ích kỷ, nhưng thiếu thận trọng. Ở đây, tôi nhớ lại lời khuyên chân thành mà cha linh hồn của Charles de Foucauld đã gửi cho Charles: “Hãy coi chừng lòng nhiệt thành của Cha, hãy rất thận trọng”. Đúng là lòng nhiệt thành, khi không được thận trọng dưới ơn khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, sẽ trở thành kẻ phá phách chương trình cứu độ của Chúa.

  1. Để việc phó thác được thực hiện đúng hướng, tôi thường cầu nguyện. Chúa dạy tôi hãy nhìn vào gương Đức Mẹ và gương Chúa Giêsu.
  2. Gương Đức Mẹ phó thácđược nổi bật ở biến cố Mẹ được báo tin Chúa chọn làm mẹ Đấng Cứu Thế, Mẹ thưa: “Này con là nữ tỳ của Chúa, con Xin Vâng” (Lc 1,38).

Với lời Xin Vâng đó, Mẹ đã phó thác mình trọn vẹn cho Chúa suốt đời.

Phó thác của Mẹ là để chìm mình trong khiêm nhường tuyệt đối, âm thầm ca ngợi Chúa. Và chôn vùi mình vào thinh lặng, nghèo khó để lắng nghe Chúa trên đường phục vụ.

Phó thác của Mẹ là chia sẻ con đường thương khó của Chúa Giêsu.

Phó thác của Mẹ là khiêm tốn ở lại bên môn đệ Gioan, để lặng lẽ chia sẻ với Hội Thánh sơ khai.

Nhìn gương phó thác của Mẹ Maria, tôi thấy khiêm nhường cùng với niềm tin vào quyền năng và lòng thương xót Chúa chính là những điều quan trọng làm nên phó thác.

  1. Gương phó thác của Chúa Giêsuđược nổi bật ở giờ phút Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá, đã nói với Chúa Cha: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 13,16).

Chúa Giêsu phó thác mình trong tay Chúa Cha, ở giờ phút thê thảm nhất. Bị sỉ nhục, bị đau đớn, bị loại trừ, bị kết án, chính trong hoàn cảnh bi đát ấy, Chúa Giêsu nói lên lời phó thác nơi Chúa Cha. Chứng tỏ rằng: Phó thác đẹp nhất là ở chỗ: Cho dù tất cả đều đổ vỡ, lòng tin vào Thiên Chúa vẫn vững bền.

  1. Gương phó thác của Chúa Giêsu và của Mẹ Maria đã giúp tôi rất nhiều. Chúa dùng hai gương sáng để đào tạo tôi.

Việc đào tạo Chúa dành cho tôi về phó thác là thường xuyên, từng ngày, từng giờ. Rất nhiều khi, việc đào tạo đó được tôi cảm nghiệm như còn dài, còn mãi, chẳng bao giờ cùng.

Ngay trong những ngày này, tôi thấy mình mệt mỏi, cạn kiệt về sức khỏe thể xác và tâm hồn, tôi chỉ còn phó thác và xin ơn phó thác.

  1. Tôi xin ơn phó thác. Bởi vì tôi sợ tôi không biết phó thác. Tôi xin ơn phó thác một cách rất đơn sơ. Tôi chỉ lập đi lặp lại lời cầu:“Con đuối lắm rồi. Con xin phó thác con trong tình yêu của Cha, vì Cha là cha của con”. Thế thôi.
  2. Thế rồi, kết quả là tuyệt vời. Chúa dẫn đưa tôi vào con đường mà thánh ý Chúa muốn. Chứ không phải con đường, mà tôi muốn.

Chúa dẫn đưa một cách mạnh mẽ, nhưng nhẹ nhàng. Tôi cảm được điều đó.

  1. Với kinh nghiệm trên đây về phó thác, tôi có một lời khuyên tha thiết gửi đến anh chị em, đó là hãy phó thác mình cho Chúa luôn luôn và trong mọi hoàn cảnh. Đừng bao giờ phó thác mình cho quỷ Satan, cho dù chỉ một phút một giây.
  2. Tôi nói như vậy, vì tôi biết đang có phong trào thờ quỷ Satan, và phó thác mình cho quỷ Satan, để nhờ quỷ Satan mà được của cải, địa vị, thắng thế về những lợi ích trần gian.

Hồi tôi còn học ở Cộng Hòa Liên Bang Đức, một vị giám mục tại đó đã nói với tôi về phong trào thờ Satan, dâng mình cho Satan, nhờ Satan mà kiếm lợi. Phong trào đó hoạt động ngay trong giáo phận của Ngài, với những lễ nghi và cam kết trước mặt Satan hiện hình. Phong trào đó đã lan rộng ra nhiều nơi dưới nhiều hình thức.

  1. Trước đây, khi còn tại chức, mỗi năm tôi thường được gặp Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

Lần nào cũng vậy, Đức Thánh Giáo Hoàng đều chúc tôi một lời: “Hãy can đảm”, đồng thời ban tặng tôi một tràng hạt Đức Mẹ Mân Côi. Tôi hiểu Ngài muốn tôi hãy phó thác mình cho Đức Mẹ, qua việc lần chuỗi mân côi. Tôi vẫn thực thi lời dạy của Ngài.

Thực thi lời dạy của Đức Thánh Giáo Hoàng, lòng tôi mở ra về bổn phận phải đổi mới chính mình, bắt đầu ngay từ việc dâng mình và phó thác mình cho Đức Mẹ và Chúa mỗi ngày.

  1. Xét mình về phó thác, nhiều khi tôi thấy tôi cần bỏ đi nhiều ảo tưởng và nhiều tham vọng, mà tôi tự coi là đạo đức, đó là những hành trang làm cho hành trình ơn gọi trở thành nặng nề. Tôi cần tập trung nhiều hơn vào niềm tin ở Đức Mẹ và Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, trong tinh thần tỉnh thức và cầu nguyện.

Được dâng mình và phó thác mình cho Đức Mẹ và cho Thiên Chúa, tôi cảm thấy mình được hạnh phúc lạ lùng. Hạnh phúc lạ lùng này đang uốn nắn hồn tôi, theo lời khuyên của thánh Gioan Tiền Hô. Với hạnh phúc đó, tôi nhớ về mọi đồng bào yêu dấu của tôi.

Long Xuyên, ngày 29.11.2016.

+ Gm. GB BÙI TUẦN

——-

VÒNG TAY SONG NGUYỀN gởi

THIÊN CHÚA TÌM KIẾM CON NGƯỜI

THIÊN CHÚA TÌM KIẾM CON NGƯỜI

thien-chua

Chuyện kể rằng, có hai người bạn chia tay nhau đi tìm điều qúy giá nhất trên đời. Họ hẹn sẽ gặp lại sau khi đã tìm thấy.

Người thứ nhất đi tìm viên ngọc qúy. Bất cứ nơi nào bán đá qúy, anh đều tìm đến. Cuối cùng, anh cũng mãn nguyện vì đã tìm được viên ngọc qúy, anh trở lại quê hương chờ bạn.

Người thứ hai đi tìm Chúa. Anh đi khắp nơi thọ giáo các bậc thánh hiền, cặm cụi đọc sách, nghiền ngẫm, nhưng vẫn không tìm được Chúa.

Nhiều năm trôi qua, đang lúc tuyệt vọng, anh nhìn dòng sông lững lờ: một đàn vịt con đang bơi lội tung tăng. Trong khi vịt mẹ tìm con, thì bày con lại cứ muốn rời mẹ đi tìm ăn riêng. Vịt mẹ chẳng hề tỏ vẻ giận dữ, cứ lẽo đẽo theo bày con và gom chúng lại. Thấy cảnh vịt mẹ mải mê tìm con như thế, anh mỉm cười trở về quê hương.

Khi người bạn hỏi điều qúy mà anh đã tìm được là gì mà khiến gương mặt anh rạng rỡ như thế. Lúc đó, con người trở về với hai bàn tay trắng, nhưng tâm hồn tràn ngập niềm vui mới thốt lên:

– Điều qúy giá mà tôi đã tìm thấy, đó là trong khi tôi đi tìm Chúa, thì chính Người đã đi tìm tôi.

***

“Ngôi Lời đã nhập thể, và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). Nhiều khi chúng ta tưởng mình đi tìm Chúa, nhưng thật sự là chính Chúa đi tìm chúng ta trước.

Ngay khi con người sa ngã phạm tội, Thiên Chúa đã lên kế hoạch cứu chuộc.

Ngay khi con người phản bội bất trung, Thiên Chúa đã mở lối cho họ quay bước trở về.

Ngay khi con người vô phương cứu lấy chính mình, Thiên Chúa đã sai Con Một đem thân cứu độ

Đêm nay là đêm giao duyên đất trời, đêm hội hoa đăng, đêm đầy ánh sáng, đêm Thiên Chúa viếng thăm con người. Đúng như thông điệp chứa chan hy vọng của tiên tri Isaia: “Một Hài Nhi đã sinh ra cho chúng ta và một Người Con đã được ban tặng cho chúng ta” (Is 9,5).

Con người không thể lên tới Thiên Chúa, nên Thiên Chúa đã xuống với con người. Chúa xuống trần gian để cho trần gian biết đường về trời. Chúa mặc lấy bản tính con người để cho con người trở nên con cái Chúa, thánh Gioan viết: “Những ai tin ở Người thì Người ban cho quyền được làm con Thiên Chúa” (Ga 1,12).

Giáng sinh là mùa tặng quà: “Đức Giêsu là quà tặng qúy giá nhất Thiên Chúa trao gởi cho con người (x Ga 3,16). Đến lượt mình, chúng ta cũng hãy trao tặng cho anh em những gì họ cần thiết nhất, với tất cả lòng yêu qúy, trân trọng như chúng ta đang dâng tặng cho chính Hài Nhi Giêsu. Những kẻ nhỏ bé nhất, những người cô độc nhất, những kẻ chịu nhiều đau khổ nhất lại chính là những con người cần được tặng quà nhất. Chúng ta cần chứng tỏ rằng họ đáng kể đối với chúng ta, rằng tên họ chiếm một vị trí trong quả tim chúng ta. Đó chính là quà tặng mà Hài Nhi Giêsu đang mong đợi.

Một cách nào đó, khi tặng quà, chúng ta muốn trao ban vô vị lợi, trao ban không tính toán, trao ban trọn vẹn. Mẹ Têrêsa Calcutta định nghĩa: “Kitô hữu là người trao ban chính bản thân mình”.

***

Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa đã tìm kiếm chúng con, đã cứu chuộc chúng con, và đã cho chúng con được làm con Chúa. Xin cho chúng con mau mắn đáp lại tình yêu bao la của Chúa bằng cách yêu thương anh em với tất cả trái tim nồng cháy của chúng con. Amen!

Thiên Phúc

Đại Hội Kiều Bào, Địa Đạo Củ Chi & Em Lê Văn Tám

Đại Hội Kiều Bào, Địa Đạo Củ Chi & Em Lê Văn Tám

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Ảnh của tuongnangtien

Tuongnangtien

RFA

Nhà thơ Lê Giang Trần vừa có bài viết giới thiệu một cuốn sách mới (Sử Tính và Ý Thức) của luật sư Nguyễn Hữu Liêm – với “tinh thần cởi mở chân tình đứng về phía tác giả, để biết lắng nghe những gì trình bày” – trên tờ Việt Báo, phát hành từ California vào hôm 07 tháng 11 năm 2016.

Độc giả của trang báo thượng dẫn, tiếc thay, không ai có tinh thần “cởi mở” và “chân tình” tương tự. Cũng chả ai bận tâm gì đến nội dung tác phẩm của L.S Liêm.

Coi:

  • Đặng Huy Phong:Đừng mất thời gian và tiền bạc để đọc Nguyễn Hữu Liêm!
  • Trần Vinh:Khỏi đọc bài chủ vì tôi đã biết Nguyễn hữu Liêm là ai. Nguyễn hữu Liêm là một trong số những người từ Mỹ bay về Hà Nội tham dự “Đại hội người Việt ở nước ngoài” do Cộng Sản Hà Nội tổ chức năm 2009. Sau đó, Nguyễn Hữu Liêm viết bài “Nơi giữa Đại Hội Việt Kiều: Một nỗi bình an”của mình “. Nguyễn hữu Liêm viết: “Trong hai mươi năm qua, tôi đã bao nhiêu lần về lại Việt Nam…” 

Và rằng “Ngày thứ ba của Đại hội, ở cuối phần bế mạc, tôi cùng đứng dậy chào cờ. Bài “Tiến quân ca” được vang cao trong cả hội trường. Tôi nhìn qua các thân hữu Việt kiều từ Mỹ, và ngạc nhiên khi thấy hầu hết – kể cả những người mà tôi không ngờ – đang vỗ tay hào hứng la to, Việt Nam! Hồ Chí Minh! Cả hội trường, và tôi, cùng hân hoan trong tất cả (vẫn là) cái hồn nhiên mà dân tộc ta đã bước vào từ hồi thế kỷ trước. Tôi thầm cảm thấy mình thật sự bình an khi đất nước này đã mở rộng vòng tay đón tôi trở về …” 

Niềm “hân hoan” cũng như sự “hào hứng” hồi năm 2009, như lời của L.S Nguyễn Hữu Liêm, buồn thay, nay không còn nữa. Tin tức về ngày khai mạc, cũng như bế mạc (“Hội Nghị Người Việt Nam Ở Nước Ngoài”) vào tháng 11 vừa qua – xem ra – có hơi tẻ nhạt. Không còn tiếng xe còi hụ và “vỗ tay hào hứng la to, Việt Nam! Hồ Chí Minh!” – theo tường trình của báo Quân Đội Nhân Dân:

Hôm nay (12-11), Hội nghị người Việt Nam ở nước ngoài năm 2016 sẽ khai mạc tại TP Hồ Chí Minh với chủ đề: “Kiều bào chung sức xây dựng TP Hồ Chí Minh phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế”.

Hội nghị dự kiến có sự tham dự của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành Trung ương, lãnh đạo một số địa phương cùng hơn 500 đại biểu kiều bào của gần 40 quốc gia và lãnh thổ. Hội nghị sẽ diễn ra trong hai ngày 12 và 13-11 với các phiên thảo luận theo chuyên đề…

Trao đổi với lãnh đạo thành phố, các kiều bào bày tỏ sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề giáo dục trong nước, trong bối cảnh thế giới đang bước vào cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật mới. Các đại biểu đề nghị lãnh đạo thành phố cần chú trọng đầu tư lâu dài vào giáo dục, lấy trọng tâm là con người để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, chuẩn bị cho những cơ hội mới trong hội nhập quốc tế…

 Sáng cùng ngày, các kiều bào về tham dự hội nghị được đi tham quan, giao lưu theo các chuyên đề tại: Huyện Cần Giờ, Khu Công nghiệp công nghệ cao, Công viên phần mềm Quang Trung, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Khu đô thị mới Thủ Thiêm, hầm vượt sông Sài Gòn…

Ảnh: vietnamnet

Ủa! Có tới 500 đại biểu kiều bào của gần 40 quốc gia và lãnh thổ sao không thấy ai “quan tâm đặc biệt” đến chuyện ngập lụt ở thành phố Hồ Chí Minh – vậy cà?

Không đô thị nào có thể “phát triển nhanh, bền vững và hội nhập quốc tế” trong tình trạng thường xuyên chìm trong bể nước. Thành phố Hồ Chí Minh Quang Vinh, tất nhiên, cũng không ngoại lệ.

Vậy mà cũng chả có đoàn kiều bào nào đến “tham quan, giao lưu” với Củ Chi để tìm hiểu cách thoát nước của hệ thống địa đạo nổi tiếng ở địa phương này. Đây là một sự thiếu sót vô cùng đáng tiếc, nếu không muốn nói là đáng trách.

Wikipedia tiếng Việt, giọng Hà Nội, ghi rõ:

Địa đạo Củ Chi là một hệ thống phòng thủ trong lòng đất ở huyện Củ Chi, cách Thành phố Hồ Chí Minh 70 km về hướng tây-bắc. Hệ thống này được Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đào trong thời kỳ Chiến tranh Đông Dương Chiến tranh Việt Nam. Hệ thống địa đạo bao gồm bệnh xá, nhiều phòng ở, nhà bếp, kho chứa, phòng làm việc, hệ thống đường ngầm dưới lòng đất.

Hệ thống địa đạo dài khoảng 200 km và có các hệ thống thông hơi vào các các tầng hầm được bố trí bằng các nắp hầm bí mật. Bên trên nguỵ trang kín đáo, nhìn như những ụ mối đùn, dọc đường hầm có lỗ thông hơi. Liên hoàn vị trí các bụi cây… tầng cuối cùng cách mặt đất 8-10m. Ðường lên xuống giữa với địa đạo có các hầm rộng để nghỉ ngơi, có nơi dự trữ vũ khí, lương thực, có giếng nước, có bếp Hoàng Cầm, có hầm chỉ huy, hầm giải phẫu… Còn có cả hầm lớn, mái lợp thoáng mát, nguỵ trang khéo léo để xem phim, văn nghệ.

Hồi thế kỷ trước mà Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam có thể làm được cả một hệ thống địa địa đạo dài 200 cây số – sâu cả chục mét – có hí viện để xem văn nghệ, và bệnh viện với phòng giải phẫu thì cớ sao nay lại để cho cái sân bay Tân Sơn Nhất cứ bị chìm đắm trong mưa (và trở nên bất khiển dụng) hoài vậy – mấy cha? Mà Củ Chi cách Tân Sơn Nhất đâu có bao xa, đúng không?

Phi trường Tân Sơn Nhất. Ảnh: Khánh Bằng

Sự tân kỳ (rất đáng nể) của Hệ Thống Địa Đạo Củ Chi khiến tôi chợt nhớ đến lòng dũng cảm (vô cùng đáng ngại) của … em Lê Văn Tám, cùng với một tiếng thở dài – cố nén. Từ đất đến người, suốt suồn suột đều chỉ là chuyện bịp!

Cái Nghị Quyết của Bộ Chính Trị, về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, cũng không ngoại lệ. Cũng rặt những lời lẽ bịp bợm và giả trá:

Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, yên tâm làm ăn sinh sống, hội nhập vào đời sống xã hội nước sở tại, đồng thời duy trì quan hệ gắn bó với quê hương, đất nước. 

Thông qua các hoạt động ngoại giao tích cực vận động chính quyền nước sở tại tạo thuận lợi cho kiều bào có điều kiện làm ăn sinh sống bình thường; chủ động tiến hành đàm phán và ký kết các thỏa thuận cần thiết với các nước, trong đó có các hiệp định lãnh sự, hiệp định tư pháp, bảo vệ lợi ích chính đáng của bà con, chống các biểu hiện kỳ thị, các hành động chống lại người Việt Nam ở nước ngoài.

Tích cực đầu tư cho chương trình dạy và học tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là cho thế hệ trẻ. Xây dựng và hoàn chỉnh sách giáo khoa tiếng Việt cho kiều bào, cải tiến các chương trình dạy tiếng Việt trên vô tuyến truyền hình, đài phát thanh và qua mạng Internet. Cử giáo viên dạy tiếng Việt tới những nơi có thể để giúp bà con học tiếng Việt. Tổ chức trại hè nói tiếng Việt cho thanh, thiếu niên người Việt Nam ở nước ngoài.

N.Q. 36 gồm 3.824 chữ, đều một giọng khoác lác như trên, và không một chữ nào đề cập đến nguyên do khiến mấy triệu nguời Việt phải lưu lạc và tứ tán khắp năm Châu. Cứ y như thể là khi khổng khi không (cái) có mấy triệu con dân Việt, từ trên trời, rơi rớt tá lả xuống khắp mặt địa cầu. Đảng chỉ tiện tay gom thành đống, và vo lại thành cục – y như cục bột – rồi muốn nặn tròn hay bóp méo thế nào thì tuỳ thích!

Đời đâu có dễ sống dữ vậy, mấy cha? Đâu có bịp thiên hạ hoài được! Cái thời Lê Văn Tám, và Địa Đạo Củ Chi đã qua rồi. Những màn múa rối, kiểu Đại Hội Việt Kiều (e) cũng không nên tiếp tục. Càng dài nó lại càng dở, và càng thêm lố bịch thôi.

Tổng thống Nam Hàn bị Quốc Hội bỏ phiếu bãi nhiệm

Tổng thống Nam Hàn bị Quốc Hội bỏ phiếu bãi nhiệm

Nguoi-viet.com

Tổng Thống Park Geun-hye (giữa) của Nam Hàn phát biểu tại cuộc họp khẩn cấp nội các, sau khi bà bị Quốc Hội bãi nhiệm. Người ngồi bên phải bà là Thủ Tướng Hwang Kyo-ahn, sẽ là tổng thống lâm thời thay thế bà. (Hình: Baek Sung-ryul/Yonhap via AP)

SEOUL, Nam Hàn (AP) – Quốc Hội Nam Hàn hôm Thứ Sáu bỏ phiếu bãi nhiệm bà Park Geun-hye, một kết cục đen tối và xảy ra nhanh chóng cho sự nghiệp chính trị của nữ tổng thống đầu tiên của Nam Hàn, sau khi có hàng triệu người dân kéo ra đường giận dữ phản đối đòi bà phải từ chức.

Sau cuộc bỏ phiếu, các giới chức quốc hội giao tận tay các văn kiện chính thức cho dinh tổng thống để thông báo bà Park Geun-hye bị mất quyền lãnh đạo và cho phép nhân vật đứng hàng thứ nhì trong chính phủ là Thủ Tướng Hwang Kyo-ahn được tạm thời nhận trách nhiệm điều hành đất nước cho tới khi Tòa Hiến Pháp Nam Hàn có phán quyết liệu bà Park có phải rời khỏi chức vụ hay không.

Tòa này có sáu tháng để đưa ra quyết định.

Bà Park cho hay trong cuộc họp nội các sau khi có cuộc bỏ phiếu của Quốc Hội rằng bà “rất có lỗi với dân chúng vì đất nước phải trải qua cuộc khủng hoảng vì sự bất cẩn của tôi, trong lúc có nhiều khó khăn về an ninh và kinh tế cho đất nước.”

Có khoảng 10,000 người tụ tập trước Quốc Hội Nam Hàn để đòi hỏi thông qua quyết định giải nhiệm bà Park.

Có một số người ngủ qua đêm ngay tại đây sau khi từ các thành phố trong nước đến.

Việc chuyển giao quyền lực cũng khiến thủ tướng Nam Hàn ra lệnh cho quân đội phải đặt trong tình trạng báo động cao nhất để có thể kịp thời đối phó với các hành động khiêu khích của Bắc Hàn.

Chủ tịch Quốc Hội, ông Chung Sye-kyun, cho hay quyết định giải nhiệm được thông qua với 234 phiếu thuận và 56 phiếu chống, hơn con số 2/3 tại Quốc Hội gồm 300 ghế này.

Kết quả thăm dò dư luận trước ngày bỏ phiếu cho thấy chỉ có 4% ủng hộ bà Park, con số thấp nhất của một nhân vật lãnh đạo từ khi Nam Hàn thật sự có dân chủ từ cuối thập niên 1980 tới nay.

Quốc Hội Nam Hàn trước đây từng bỏ phiếu bãi nhiệm cố Tổng Thống Roh Moo-hyun vào năm 2004. Tuy nhiên, tòa án sau đó ra phán quyết nói rằng những lỗi lầm của ông Roh không đủ nặng để giải nhiệm ông. (V.Giang)