Chính phủ Mỹ: Khủng hoảng virus corona có thể kéo dài hơn 18 tháng

Bộ Y tế Hoa Kỳ hôm thứ Sáu (13/3) đã ban hành “Kế hoạch ứng phó COVID-19 của chính phủ Mỹ” dày hơn 100 trang, trong đó dự đoán cuộc khủng hoảng virus corona tại Mỹ có thể kéo dài 18 tháng hoặc lâu hơn.

Tờ New York Times đã đăng công khai “Kế hoạch ứng phó COVID-19 của chính phủ Mỹ” lên mạng trực tuyến. Mặc dù kế hoạch này không phải tài liệu mật, nhưng trong văn bản ghi rõ “Chỉ dành cho sử dụng chính thức//Không dành cho phân phối hoặc phát hành công khai”.

Trong phần các trường hợp giả định, kế hoạch cho biết: “Đại dịch sẽ kéo dài 18 tháng hoặc lâu hơn và có thể bao gồm nhiều đợt dịch bệnh”.

Sự lây lan và mức độ nghiêm trọng của COVID-19 sẽ khó dự đoán và phân biệt”, bản kế hoạch viết.

Bản kế hoạch đề nghị Tổng thống Donald Trump nên xem xét việc viện dẫn Đạo luật Sản xuất Quốc phòng để gia tăng sản xuất nhằm đảm bảo nguồn cung trang thiết bị y tế khi cuộc khủng hoảng kéo dài.

Khuyến nghị nêu trên đã được Tổng thống Trump hiện thực hóa vào thứ Tư (18/3). Tổng thống Trump cho biết ông sẽ kích hoạt Đạo luật Sản xuất Quốc phòng, một đạo luật thời chiến nhằm cho phép chính phủ tăng tốc sản xuất khẩu trang, mặt nạ phòng độc, máy trợ thở và các thiết bị cần thiết khác để chống lại kẻ thù vô hình là “virus Trung Quốc”.

>>TT Trump: Sẽ ký đạo luật thời chiến để chống kẻ thù “virus Trung Quốc”

Chúng ta sẽ chiến thắng kẻ thù vô hình này”, ông Trump. Ông cho hay ông sẽ ký Đạo luật Sản xuất Quốc phòng ngay trong ngày thứ Tư, và nói cuộc khủng hoảng này đã khiến ông trở thành một “tổng thống thời chiến”.

Chúng ta sẽ kích hoạt Đạo luật Sản xuất Quốc phòng để phòng trường hợp ta cần nó”, ông Trump nói.

“Kế hoạch ứng phó COVID-19 của chính phủ Mỹ” cũng đề xuất ba mục tiêu chiến lược: Thực hiện các biện pháp giảm thiểu dựa vào cộng đồng và chăm sóc sức khỏe rộng hơn; Tăng cường khả năng ứng phó dịch bệnh của giới chức bang và địa phương; Bảo vệ và giảm thiểu gián đoạn các dịch vụ công cộng và tư nhân quan trọng.

Tính đến hết ngày 18/3, theo thống kê của Đại học Johns Hopkins, Mỹ đã có 9.415 ca nhiễm virus corona (tăng thêm gần 3.000 ca mới sau một ngày) và 150 trường hợp tử vong (tăng thêm 41 ca).

Như Ngọc

Vietnam Airlines dừng tất cả các đường bay quốc tế đi/đến Việt Nam

Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) thông báo tạm dừng khai thác tất cả đường bay quốc tế trong mạng bay của hãng đến các nước đến hết tháng 4/2020. 

vietnam airlines, covid-19
Vietnam Airlines sẽ dừng tất cả các đường bay quốc tế đi/đến Việt Nam đến hết tháng 4/2020. (Ảnh minh họa: Vytautas Kielaitis/Shutterstock)

Cụ thể, các đường bay Đông Nam Á gồm Singapore, Thái Lan, Indonesia, Lào, Campuchia, Myanmar sẽ tạm dừng khai thác hai chiều từ ngày 21/3.

Đường bay Anh, Nhật Bản tạm dừng hai chiều từ ngày 23/3; trong khi đường bay Đức, Úc tạm dừng chiều Việt Nam đi từ ngày 24/3, chiều về Việt Nam từ ngày 25/3.

Trước đó, Vietnam Airlines đã tạm dừng khai thác các đường bay giữa Việt Nam với Trung Quốc, Hồng Kông, Ma Cao, Hàn Quốc, Pháp, Malaysia, Nga và Đài Loan.

Với các hành khách bị ảnh hưởng, Vietnam Airlines cho biết hãng sẽ miễn lệ phí và điều kiện thay đổi ngày bay, thay đổi hành trình trên vé cho tất cả hành khách bay quốc tế bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 xuất vé trước ngày 25/3.

Nguyễn Quân

Ý ĐÃ ĐỐI KHÁNG & GIẬN DỮ

Ý ĐÃ ĐỐI KHÁNG & GIẬN DỮ.

Tập Cận Bình và đảng cộng sản hãy chuẩn bị sẵn đi, sau cơn đại dịch này thì sẽ là cơn giận dữ của thế giới.

Vài ngày trước, ông Maurizio Gasparri, nghị sĩ của Thượng viện Ý và là cựu Bộ trưởng truyền thông, đã nghiêm khắc chỉ trích Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) tung tin đồn và những tuyên truyền dối trá, về việc Trung Quốc giúp đỡ miễn phí cho Ý và các nước Châu Âu khác. Ông cho biết các vật tư y tế hoàn toàn là do các nước này tự bỏ tiền ra mua.

Hiện tại Ý là quốc gia Châu Âu chịu ảnh hưởng của dịch virus Corona Vũ Hán nghiêm trọng nhất. Nghị sĩ Maurizio Gasparri cũng chỉ trích ĐCSTQ đã gây nguy hại cho toàn thế giới. Trung Quốc không chỉ là quốc gia có nguồn lây nhiễm dịch bệnh nghiêm trọng nhất, mà chính quyền nước này còn thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế thông qua các thủ đoạn không chính đáng, khiến các quốc gia đối tác rơi vào khủng hoảng kinh tế.

Lần này, ĐCSTQ thậm chí đã che dấu và báo cáo giả về tình hình dịch bệnh, lừa dối toàn thế giới, khiến các nước trên thế giới đều bị rơi vào thảm họa.

Cuối cùng, nghị sĩ nói rằng: “Trung Quốc cơ bản chính là virus trên thế giới”.

Video này của nghị sĩ Gasparri thu hút vô số lời hưởng ứng. Cư dân mạng Lesliechou đã tweet video này và sửa lại rằng chính ĐCSTQ là một khối u, chứ không phải Trung Quốc.

Nói về nghị sĩ Gasparri, người dùng mạng Charlse cho rằng: “Người như thế này phải là người đứng đầu lãnh đạo nước Ý!”

Ý hiện đang là ổ dịch lớn nhất ở châu Âu với số ca tử vong hàng ngày tăng vọt lên đến hàng trăm người. Tính đến ngày 17/3, số ca tử vong được báo cáo đã lên tới 2.158 ca, chỉ đứng sau Trung Quốc trên toàn thế giới, và tổng số ca đã được chẩn đoán nhiễm virus Corona Vũ Hán lên tới 27.980 ca.

Báo New York Times đã mô tả về tình hình bệnh dịch càn quét ở thành phố nhỏ Bergamom miền Bắc Ý: “nhà xác bị quá tải và hàng dãy quan tài xếp dài trong các nhà thờ”.

Mục bản tin buồn trên tờ báo địa phương L’Eco di Bergamo vốn có độ dài 1 trang, nay đã tăng lên đến 10 trang.

Nguồn: NTD

Image may contain: 8 people, text

Italy lập kỷ lục mới: Thêm 475 người chết trong 24h

Lm Trần Chính Trực
Italy lập kỷ lục mới: Thêm 475 người chết trong 24h

Cứ tưởng mấy ngày qua, Italy đã đạt tới đỉnh về số người chết, nhưng không ngờ, hôm nay lại lập kỷ lục mới, với 475 người chết trong vòng 24 giờ qua.

Trong 24h qua, số người nhiễm ở Italy cũng đã tăng mạnh, với 4.207 người nhiễm mới, nâng tổng số người nhiễm là 35.713. Những gì đang diễn ra bên Italy có thể thấy, tình hình dịch bệnh ở đây nghiêm trọng hơn ở Vũ Hán nhiều, hoặc là dữ liệu báo cáo của TQ có vấn đề.

Hình ảnh tại Italy các quan tài phải để trong nhà thờ đợi mang đi thiêu, vì tại bệnh viện đã ko còn chỗ chứa.

No photo description available.

Đây là số lượng người bị lây nhiễm và tử vong

Đây là số lượng người bị lây nhiễm và tử vong vì virus corona trên toàn thế giới mà BBC liên tục cập nhật theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới.

Bấm vào “Từng quốc gia cụ thể” để xem số liệu cụ thể của từng quốc gia.

Bản đồ virus corona trên toàn cầu: tính tới ngày 18 tháng 3, 2020

Bài này dựa vào dữ liệu của Johns Hopkins University, có thể chưa phản ứng thông tin mới nhất cho từng nước.

Tổng số ca được xác nhận Tổng số ca tử vong
212.657 8.760
Số ca bị lây nhiễm Số ca tử vong
Trung Quốc 81.102 3.241
Italy 35.713 2.978
Iran 17.361 1.135
Tây Ban Nha 13.910 623
Đức 11.973 28
Hàn Quốc 8.413 84
Pháp 7.652 148
Hoa Kỳ 7.316 115
Thụy Sĩ 3.028 28
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland 2.626 104
Hà Lan 2.051 58
Áo 1.646 4
Na Uy 1.550 6
Bỉ 1.486 14
Thụy Điển 1.279 10
Đan Mạch 1.057 4
Nhật Bản 889 29
Malaysia 790 2
Con tàu Diamond Princess 712 7
Canada 654 8
Úc 568 6
Cộng hòa Czech 464
Bồ Đào Nha 448 2
Qatar 442
Israel 433
Hy Lạp 418 5
Brazil 350 2
Phần Lan 336
Singapore 313
Ireland 292 2
Slovenia 275 1
Romania 260
Estonia 258
Pakistan 256
Bahrain 256 1
Ba Lan 251 5
Iceland 250 1
Chile 238
Indonesia 227 19
Thái Lan 212 1
Luxembourg 203 2
Philippines 202 19
Ai Cập 196 6
Saudi Arabia 171
Iraq 164 12
Ấn Độ 156 3
Nga 147
Peru 145
Kuwait 142
Lebanon 133 3
San Marino 119 11
Nam Phi 116
UAE 113
Ecuador 111 2
Slovakia 105 1
Đài Loan 100 1
Thổ Nhĩ Kỳ 98 1
Mexico 93
Colombia 93
Bulgaria 92 2
Panama 86 1
Armenia 84
Serbia 83
Croatia 81
Argentina 79 2
Việt Nam 75
Algeria 72 5
Latvia 71
Brunei Darussalam 68

Quốc gia bất nghĩa, dẫu mạnh cũng sẽ sụp đổ

Cổ nhân có câu: “Quốc vô nghĩa, tuy đại tất vong. Nhân vô thiện, tuy dũng tất thương”, một quốc gia nếu không có chính nghĩa thì cho dù rất mạnh, rất lớn cũng chắc chắn sẽ sụp đổ, còn một người nếu không có chí hướng tốt đẹp thì cho dù dũng mãnh, gan dạ cũng sẽ bị thương vong. Trong suốt chiều dài lịch sử từ thời cổ đại đến nay có rất nhiều trường hợp minh chứng cho đạo lý này.

La Mã Cổ Đại từng là đế quốc cường đại bậc nhất trong lịch sử thế giới. Trong quá trình tồn tại của mình từ năm 27 trước Công Nguyên, đế quốc La Mã đã chứng kiến quá nhiều thăng trầm. Sau hai thế kỷ đầu thịnh vượng là một giai đoạn bất ổn định và khủng hoảng, khiến đế quốc bị chia đôi. Sự tàn bạo của các vị hoàng đế La Mã trong khi đàn áp các tín đồ Cơ Đốc đã kéo tụt đạo đức toàn xã hội, khiến thiên tai nhân họa liên tiếp nổi lên.

Thời đó, bạo chúa Nero đã dùng khủng bố làm chính sách cai trị, lấy cớ hỏa hoạn La Mã để đàn áp tín đồ Cơ Đốc một cách tàn nhẫn nhất. Sau Nero, còn có nhiều hoàng đế La Mã khác đàn áp tín đồ Cơ Đốc, từ năm 64 sau CN đến đầu thế kỷ thứ 4, tổng cộng đã xảy ra hơn mười lần đàn áp như thế. Hình phạt dành cho các tín đồ có thể kể đến như: đóng đinh vào giá chữ thập, khoác da thú để ác thú cắn chết, đóng đinh họ vào cột làm đuốc dần dần thiêu chết… Các tín đồ Cơ Đốc hoặc là lựa chọn hối lỗi, hoặc lựa chọn cái chết. Rất nhiều tín đồ không từ bỏ đức tin bị giết. Chính từ sự đàn áp đối với tín đồ Cơ Đốc mà đế quốc La Mã bắt đầu liên tiếp phải chịu hậu quả từ thiên tai và dịch bệnh, tình hình kinh tế không ngừng xấu đi, đi đến bước đường suy vong. (Xem bài: Bệnh dịch đáng sợ khiến một La Mã không có đối thủ phải suy tàn)

Quốc gia bất nghĩa, dẫu mạnh cũng sẽ sụp đổ
Tín đồ Cơ Đốc bị treo lên làm “đuốc thịt” mua vui cho vua quan La Mã. (Tranh qua Pinterest)

Trong thế kỷ tồn tại thứ tư, sự xuất hiện của Constantine Đại Đế mở đầu cho sự nở rộ của Cơ Đốc giáo. Phần đế quốc La Mã (đế quốc Byzantine) mà Constantine Đại Đế (272-337 SCN) sùng đạo đặt định cơ sở tại Byzantium thì tiếp tục duy trì, trong khi phần đế quốc còn lại vốn đàn áp tàn khốc Cơ Đốc giáo thì đoản mệnh. Thế kỷ thứ năm, sau sự sụp đổ của Tây La Mã, đế quốc La Mã hợp nhất lại thành đế quốc Byzantine và trải qua 1000 năm cho đến khi hoàn toàn thất thủ trước Đế quốc Ottoman.

Đọc chuyện xưa ngẫm chuyện nay - Kỳ 10: Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên
Tùy Dạng Đế Dương Quảng. (Tranh qua Wikipedia)

Dương Quảng là một vị hoàng đế bất tài, nhưng ngay cả một vị hoàng đế có tài như Thương Trụ Vương cũng không thoát khỏi kiếp số. Ngay từ nhỏ, Trụ Vương đã thông minh, có tài ăn nói không ai biện luận bằng, có thể hành động nhanh nhẹn dứt khoát và có sức khỏe hơn người. Theo sử sách ghi chép, Trụ Vương có thể tay không vật lộn với mãnh thú. Nhưng ông lại vô cùng bảo thủ, không nghe lời khuyên can từ người khác, cho rằng người trong thiên hạ không ai có tài bằng mình. Sau khi kế vị, Trụ Vương tăng thuế cao đối với dân chúng, sưu tập rất nhiều vật lạ quý báu, xây dựng thêm nhiều cung thất, lầu gác, lâm viên để vui chơi ngắm cảnh, thỏa mãn nhục dục và nữ sắc. Ông ta cũng giết hại tàn nhẫn trung lương, đề ra các khổ hình ngày càng tàn nhẫn. Nhưng cuối cùng, dù quân đội đông và mạnh hơn, nhà Thương cũng bị mất dưới tay Chu Vũ Vương, Trụ Vương phải tự kết liễu đời mình.

Một trường hợp tương tự trong lịch sử thế giới hiện đại là Adolf Hitler (1889-1945). Hitler ngay từ nhỏ là người có đam mê hội họa. Tự tin với tài năng của mình, Hitler đã quyết định đăng ký dự thi vào Học viện Mỹ thuật danh tiếng ở Vienna. Nhưng khi biết mình nằm trong danh sách 85 thi sính bị trượt trong số 113 người dự thi, Hitler đã vô cùng thất vọng: “Nó như một tia chớp làm lóa mắt tôi” (Mein Kampf, Adolf Hitler).

Sau này, cùng với việc tham gia vào quân đội và chính trường Đức, mang theo nỗi uất hận của cuộc đời học sinh không như ý, Hitler bắt đầu nuôi dưỡng một lý niệm cuồng say rằng, dân tộc của mình mới là dân tộc ưu tú nhất trên thế giới. Hitler coi hết thảy các dân tộc khác đều là hạ đẳng hoặc là chủng tộc thấp hèn. Dưới sự thúc đẩy mạnh mẽ của lý niệm ấy, Hitler vươn tới quyền uy và cường đại. Loại khát vọng đáng sợ này đã trở thành một trong những nguyên nhân tạo thành cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Cuộc chiến tranh khiến máu chảy thành sông, hơn nữa người Do Thái dưới sự đàn áp của Đức Quốc xã suýt nữa rơi vào nguy cơ tận diệt, phải lưu vong khắp thế giới.

Tuy nhiên cuối cùng, kết quả của sự tàn bạo mà Hitler gieo rắc là Đức Quốc Xã sụp đổ.

Lịch sử là bánh xe luân chuyển, quốc gia bất nghĩa, dẫu mạnh cũng sẽ sụp đổ, dù nó có hùng cường đến đâu. Siêu cường Liên Xô chẳng phải cũng sụp đổ rồi hay sao?

Bức tường Berlin sụp đổ, trong hiệu ứng tan rã domino của Liên Xô và các nước Đông Âu.

Quốc gia, dân tộc có thiện niệm là phù hợp với Thiên đạo nên mới có được sự may mắn, lập thiện chí mới có thể kết được thiện quả. Quốc gia không có thiện chí, đơn thuần chỉ vì lợi ích của bản thân mà tranh mà đấu thì càng quẫy đạp, càng vùng vẫy, càng bị tổn hại, thương vong.

Quyền lực và kim tiền khiến bao kẻ bị mê mờ mà cuối cùng gặp phải kết cục bi thảm, tai ương ngập đầu. Một quốc gia, một đảng phái nếu chạy theo những giá trị ấy thì điều chờ đợi chính là sự đào thải của lịch sử.

An Hòa

Cổ nhân có câu: “Quốc vô nghĩa, tuy đại tất vong”, một quốc gia nếu không có chính nghĩa thì cho dù rất mạnh, rất lớn cũng chắc chắn sẽ sụp đổ,

Danh ca Thái Thanh từ trần

Image may contain: 1 person, closeup
Image may contain: 2 people, people smiling, people sitting
Image may contain: 3 people, people smiling, suit
No photo description available.
Huỳnh Duy Lộc

Danh ca Thái Thanh từ trần

Danh ca Thái Thanh đã từ trần vào lúc 11:50 AM, ngày thứ ba 17.3.2020 tạI Orange county, bang California.

Bản tin của VnExpress: https://vnexpress.net/…/danh-ca-thai-thanh-qua-doi-4070193.…

Thái Thanh và “Tình hoài hương”

Trong một chương trình nhạc Phạm Duy ở hải ngoại nhiều năm về trước, nhạc sĩ Phạm Duy có bày tỏ lòng tri ân đối với người em vợ của ông là nữ ca sĩ Thái Thanh: “Không có Thái Thanh thì sẽ không có ai biết đến Phạm Duy”. Câu nói của Phạm Duy không phải là một lời xưng tụng quá mức vì Thái Thanh thật sự là người đã thể hiện xuất sắc rất nhiều ca khúc do ông sáng tác.

Thái Thanh là thứ nữ của ông Phạm Đình Phụng với người vợ thứ hai. Người vợ đầu của ông Phạm Đình Phụng sinh được 2 người con là Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Người vợ thứ hai sinh ra Phạm Thị Quang Thái (tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy), nhạc sĩ Phạm Đình Chương và con gái út Phạm Thị Băng Thanh (tức ca sĩ Thái Thanh). Thái Thanh còn một người chị gái lớn, sinh trước ca sĩ Thái Hằng, nhưng không may đã trúng bom chết khi còn nhỏ. Thái Thanh sinh ngày 5 tháng 8 năm 1934 tại làng Bạch Mai, Hà Nội. Năm 1946, khi 12 tuổi, Thái Thanh theo các anh chị lên Sơn Tây tản cư. Người chị đầu của Thái Thanh đã bị trúng bom tử nạn nên cha mẹ cô lại đưa con chạy về xuôi, mở một quán phở đặt tên là Thăng Long. Thái Thanh bắt đầu hát từ năm 13, 14 tuổi nhưng từ nhỏ, cô không theo học nhạc ở trường lớp nào. Chị em Phạm Thị Quang Thái, Phạm Đình Chương và Phạm Thị Băng Thanh thường biểu diễn ngay tại quán Thăng Long. Đầu năm 1949, chị em họ Phạm gia nhập các ban văn nghệ quân đội của Liên khu IV. Quán Thăng Long dời về chợ Neo (Thanh Hóa).

Tuy nhiên giọng hát của Thái Thanh chỉ được mọi người biết tới khi cô theo gia đình rời vùng kháng chiến, về thành và vào miền Nam vào năm 1951. Từ đó, tên tuổi của cô gắn liền với ban nhạc Thăng Long và những nhạc phẩm của Phạm Đình Chương, anh trai cô, Phạm Duy, anh rể cô, và rất nhiều nhạc sĩ khác cùng thời.

Nhạc sĩ Phạm Duy đã ghi chép về khoảng thời gian thành lập ban hợp ca Thăng Long ở miền Nam: “Một buổi sáng tháng 6 năm 1951. Trên chuyến máy bay cất cánh từ Gia Lâm, lời chào tạm biệt Hà Nội chưa kịp tan trong lòng mọi người, gia đình họ Phạm đã tới Saigon vào một trưa hè sáng sủa và mát mẻ. Chúng tôi xuống sân bay Tân Sơn Nhứt với một lời chào khác: Saigon, chào em!

Để sinh sống trong cuộc đời đã đổi mới, chúng tôi tới hát tại Đài phát thanh Pháp-Á (Radio France- Asie), phòng thu thanh đặt ở đại lộ de La Somme (đường Hàm Nghi) gần chợ Bến Thành. Mấy anh em họ Phạm thành lập một ban hợp ca lấy tên là ban Thăng Long (tên này đã được dùng làm bảng hiệu cho quán phở gia đình ở Chợ Đại, Chợ Neo trước đây). Rồi cũng trong tâm trạng lưu luyến dĩ vãng rất gần, Phạm Đình Viêm lấy tên là Hoài Trung, Phạm Đình Chương lấy tên là Hoài Bắc. Về phần nhạc mục (répertoire), ban Thăng Long đã có một số bài rất ăn khách do tôi soạn từ trước như “Nương chiều”, “Gánh lúa” hay mới soạn như “Tình ca”, “Tình hoài hương”… Ngoài ra những bài như “Nhạc đường xa” của Phạm Duy Nhượng, “Đợi anh về” của Văn Chung, “Được mùa”, “Tiếng dân chài” của Phạm Đình Chương cũng được hát…
Băng Thanh, cô em út trong gia đình, đổi tên là Thái Thanh để đi đôi với tên chị Thái Hằng. Thái Thanh khởi sự làm mê hoặc lòng người bằng giọng hát hãy còn rất mỏng của cô bé 17 tuổi. Bước vào nghề hát vào tuổi dậy thì, dù chẳng theo học một lớp dạy hát nào. Thái Thanh có lối hát rất Việt Nam, nghĩa là nhấn giọng vào từng chữ, giống như lối hát dân ca, hát chèo, hát chầu văn. Những bài như “Tình ca”, “Tình hoài hương” với âm vực rất rộng lúc đó được tôi soạn ra cốt để cho Thái Thanh hát và chỉ có cô mới hát nổi những nốt rất trầm (nốt Sol dưới) hoặc rất cao (nốt Sol trên) của hai tác phẩm này. Từ đó trở đi, đa số ca khúc của tôi đều dựa vào khả năng của giọng hát Thái Thanh. Cho tới khi tôi có thêm giọng Duy Quang, Julie và Thái Hiền…” (Hồi ký Phạm Duy, chương 1, tập 3)

Nữ ca sĩ Quỳnh Giao cũng nhận định về giọng ca Thái Thanh: “Thái Thanh có giọng hát đẹp như Kim Tước hay Ánh Tuyết, Mộc Lan, Châu Hà. Nhưng Thái Thanh lại khác hẳn mọi người ở khả năng phát âm rất rõ lời. Thái Thanh có sự bén nhạy thiên phú để hát mạch lạc từng câu, từng chữ với âm sắc hoàn toàn Việt Nam…” (Thái Thanh, lời ru của mẹ – Tạp ghi, tr. 310-311)

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, các quan chức văn hóa đến kêu gọi cô hát các bài hát tuyên truyền cho chế độ mới, nhưng cô nhất quyết từ chối. Chính vì vậy, cô bị cấm trình diễn, cấm xuất hiện trên báo chí, truyền hình, phát thanh suốt 10 năm liền cho đến khi sang Mỹ định cư vào năm 1985. Trong những năm đầu tiên tại Mỹ, cô là một trong những ca sĩ được mời đi lưu diễn nhiều nhất và được mời thu âm cho nhiều chương trình ca nhạc của Trung tâm Diễm Xưa. Sau đó, cô mở lớp dạy hát tại nơi dạy nhạc của nhạc sĩ Nghiêm Phú Phi ở quận Cam, bang Cali. Năm 1999, ở tuổi 65, cô quyết định giải nghệ và việc này được đánh dấu bằng một đêm trình diễn đặc biệt của cô cùng với các con và các cháu.

Phạm Duy đã chia sẻ về tâm tình của ông và bối cảnh trong đó ông đã viết ca khúc “Tình hoài hương”, ca khúc được Thái Thanh thể hiện thành công hơn ai hết: ”Gần hai năm đã trôi qua, kể từ ngày tôi bỏ vùng quê vào Hà Nội, rời miền Bắc vào miền Nam, lo ổn định nơi ăn chốn ở và thu xếp công kia việc nọ tại Sàigòn, rồi đi hát chỗ gần chỗ xa… Khi bắt đầu sáng tác lại, tôi soạn bài “Tình hoài hương” (1952). Nó là một bài hát hoài cảm, là sự nhớ nhung của riêng tôi đối với một nửa mảnh đất quê hương mà tôi vừa phải xa lìa. Ngờ đâu nó sẽ là bài hát hoài hương của một triệu người di cư vào Nam 2 năm sau đó. Rồi khi một triệu người khác, trong một thời gian khác, nghĩa là sau ngày lịch sử 30 tháng 4 năm 1975, phải vượt trời, vượt biển ra khỏi bán đảo chữ S thì bài “Tình hoài hương” của 20 năm trước lại trở thành một bài hát rất hợp tình, hợp cảnh… Bài hát nói tới sự nhớ thương con sông đào xinh xắn, nhớ phiên chợ chiều xa tắp, nhớ vòm tre non và làn khói ấm hương thôn nơi đó, trong mảnh đời thơ ngây của tôi, có con trâu lành nằm mộng bên đàn em bé, có mẹ già yêu dấu ngồi nghe tiếng sáo chơi vơi… Chao ôi là nhớ nhung!”

Ca khúc “Tình hoài hương” với giọng ca Thái Thanh (hát live):
https://youtu.be/lXiY-j1JI4U

Ca khúc “Tình hoài hương” trên Paris By Night 19:
https://youtu.be/rw-8IWG9vxM

Ảnh: Nữ danh ca Thái Thanh với Hoài Trung, Hoài Bắc Phạm Đình Chương và nhạc phẩm “Tình hoài hương”

Vì sao gọi “VÀO (VÔ) NAM, RA BẮC”

Image may contain: mountain, sky, outdoor, nature and water

Image may contain: plant, tree, grass, bridge, outdoor and nature
Image may contain: sky, tree and outdoor

Nguyễn- Chương Mt is with Nguyễn Kiều Phương.

Vì sao gọi “VÀO (VÔ) NAM, RA BẮC” (mà không gọi “vào Bắc, ra Nam”)?
“Đàng” có nhiều nghĩa, NHƯNG riêng chữ “ĐÀNG” (Đàng Trong, Đàng Ngoài), NGHĨA ĐÚNG LÀ GÌ?

Ngôn ngữ là bằng chứng sinh động lưu lại SỰ THẬT LỊCH SỬ, không xóa được!

&1&
Người Việt nói “vào (vô) trong”, chớ không ai đi nói “vào (vô) ngoài” hết. Cũng vậy, nói “ra ngoài, ra bên ngoài”, chớ không ai nói “ra trong”. Nghe trớt hướt, trật lất.
Vậy, khi nói “vào (vô) Nam” – tức là miền Nam được xem là “TRONG” (bên trong); còn “ra Bắc” – tức là miền Bắc được xem là “NGOÀI” (bên ngoài).

Từ đâu, từ hồi nào mà miền Nam trở thành “TRONG” còn miền Bắc lại trở thành “NGOÀI”?

&2&
Tới đây ắt hẳn quí bạn đều nhớ tới cuộc phân ranh hai miền NAM / BẮC, với danh xưng “Đàng Trong” (để chỉ từ phía Nam sông Gianh thuộc Quảng Bình cho đến tận Cà Mau) và “Đàng Ngoài” (để chỉ từ phía Bắc sông Gianh cho đến biên giới Việt – Tàu), vào thế kỷ 17.

Tôi có hỏi một vài bạn trẻ sinh viên, “ĐÀNG, nghĩa là gì?”.
Có bạn trả lời từ nhỏ đến lớn đi học không được thầy cô giải nghĩa, chỉ nghe nói “Đàng Trong / Đàng Ngoài” rồi học thuộc, vậy thôi. Thiệt sự vậy sao, trời? Lại có bạn bèn tra Google, gõ Wikipedia là từ điển “mở” (kêu bằng “mở” tùm lum, loạn xạ có đúng có sai), được giải thích như sau:
“Đàng là road, Trong là inside, Ngoài là outside. Đàng Trong tức là con đường bên trong, Đàng Ngoài tức là con đường bên ngoài”.

Đàng Trong là “con đường bên trong (hoặc) bên trong con đường”, đọc lên thấy khó hiểu (thế nào là “trong con đường”?), mờ mịt ý nghĩa hết sức. Rồi, đó là con đường nào vậy, mà lạ lùng, đặc biệt tới mức “bên trong con đường” thì… gồm cả một cõi miền Nam mênh mông luôn?

&3&
“Đường”, nếu theo đúng âm Hán-Việt thì có khoảng 20 chữ Hán khác nhau lận, cũng đều đọc là “đường”. Và, không có chữ “đường” nào mang ý nghĩa là “con đường” (road, street) hết ráo!

Để hiểu là “con đường” (road, street, avenue…), trong chữ Hán gọi là 路: “lộ” (như đại lộ 大路), hoặc là 道: “đạo”…Thành thử nếu cho rằng “đàng trong/đàng ngoài” nghĩa là “trong/ngoài con đường” thì phải viết chữ Hán là “nội lộ/ngoại lộ” (nên nhớ: hồi thế kỷ 17, chúng ta vẫn còn viết bằng chữ Hán chớ không phải chữ Quốc ngữ).

&4&
Thành thử tra tự điển chữ Nôm. Hồi xửa hồi xưa, thế kỷ 17, người Việt vừa xài chữ Hán vừa xài chữ Nôm (tức cũng dựa trên chữ Hán mà có những cách cấu tạo đủ kiểu, phức tạp lắm đa).
Trong Từ điển chữ Nôm, có ghi phát âm “Đàng” theo hai ký tự khác nhau: 唐, và 塘 . Để coi “đàng” nghĩa là gì.
唐, đọc là “đàng” (cũng được đọc là “đường”): có nhiều nghĩa nhưng không dính gì tới “con đường”, trong đó có một nghĩa hơi gần chút xíu, là “lối đi trong đình viện (sân nhỏ)”. Ừm, “ĐÀNG” (tỉ như trong danh xưng “Đàng Ngoài”) mà hiểu là… lối đi trong sân, coi bộ không ổn rồi đa.

Còn chữ thứ hai, 塘 (đọc là “đàng”, cũng được đọc “đường”) có mấy nghĩa lận, là cái ao, cái đầm, cái nhà… Coi bộ không hạp gì ráo với danh xưng “Đàng Trong / Đàng Ngoài”.

Thời may, trong Từ điển Thiều Chửu, Từ điển Trần Văn Chánh có ghi chú cái nghĩa nữa của chữ 塘 (đàng/đường) này là: “con đê, bờ đê”!

&5&
Quí bạn hãy cùng ngược dòng lịch sử…
Năm 1630, để ngăn chặn những cuộc tấn công từ Bắc hà (phía bắc sông Gianh) do vua chúa triều đình Thăng Long phát động, Chúa Nguyễn mời cậy nhờ Đào Duy Từ xây hệ thống hào lũy. Đặc biệt là “Lũy Thầy” với tổng chiều dài khoảng 34km, bắt đầu từ núi Đầu Mâu tựa vào dãy Trường Sơn kéo ngang ra tới cửa biển Nhật Lệ. Bề mặt thành lũy như mặt đê rộng rãi cho người lẫn voi, ngựa có thể dễ dàng đi lại trên đó.

Phòng tuyến giăng ngang giữa hai đầu núi và biển đã bịt kín các lối ra vào và hoàn toàn khống chế các mũi tấn công từ phía Bắc, phía bên ngoài thành lũy. Từ đó Nam hà (phía Nam sông Gianh trở vào) của Chúa Nguyễn được giữ vững.

=> ĐÀNG TRONG 塘 là cõi bên trong thành lũy (bờ đê 塘 của Lũy Thầy), về phía Nam.
ĐÀNG NGOÀI 塘 外 là cõi bên ngoài thành lũy, về phía Bắc.

&6&
Danh xưng “Đàng Trong”/”Đàng Ngoài” được lưu trong sách vở còn được nhìn thấy, đầu tiên là trong “Từ điển Việt – Bồ – La” của Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) vào năm 1651. Như vậy, cách gọi Đàng Trong/Đàng Ngoài xuất hiện trong quãng thời gian sau năm 1630 (xây đắp Lũy Thầy) và trước năm 1651 (được ghi trong Từ điển).

Rõ rành cách gọi hai miền là “Đàng Trong/Đàng Ngoài” được lấy theo hệ qui chiếu của miền Nam (từ phía Nam sông Gianh trở vào, Chúa Nguyễn gọi là “TRONG” – để phân định khác với Chúa Trịnh là “NGOÀI”).
Và, theo dòng thời gian sau đó, người dân miền Bắc cũng đã chấp nhận hệ qui chiếu này để gọi mình là “Đàng Ngoài”.

&7&
Vì lẽ, theo các sử liệu, trong giai đoạn phân tranh thì Đàng Trong phát triển mạnh mẽ hơn, mở rộng lãnh thổ tới Cà Mau; đồng thời xác lập những chuẩn mực văn hóa đa dạng!
Về đại thể, sự chuyển dịch trọng tâm về phía Nam là có lợi cho sự phát triển của người Việt và nước Việt nói chung.

Nguyễn Huệ (Quang Trung hoàng đế) vào năm 1789 đánh tan quân Thanh, đồng thời đặt dấu chấm hết đối với triều đình Hậu Lê tại Thăng Long. Cần nhớ: Nguyễn Huệ dựng nghiệp tại Qui Nhơn thuộc Đàng Trong. Nguyễn Huệ là người Đàng Trong.

Nguyễn Ánh, sau nhiều thăng trầm, đánh tan Tây Sơn, thống nhứt giang sơn, lên ngôi Gia Long hoàng đế năm 1802. Cần nhớ: Nguyễn Ánh dựng nghiệp dựa vào Gia Định và vùng châu thổ sông Cửu Long, đều thuộc về Đàng Trong.

&8&
Thực tế lịch sử đã in dấu ấn không bao giờ phai trong ngôn ngữ của người Việt, cho đến hiện nay! Gọi “ngoài Bắc” là xuất phát từ chữ “Đàng Ngoài”; gọi “trong Nam” là xuất phát từ danh xưng “Đàng Trong”.

Đã “TRONG (Nam)”, thành thử phải gọi là “VÀO/VÔ (Nam)”.
Cũng vậy, đã “NGOÀI (Bắc)” thì phải là “RA (Bắc)” (không ai đi nói “vào Bắc” hết ráo).
————————————————————————-
* Thắc mắc còn lại: “ĐÀNG” 塘 là con đê/bờ đê, vậy “lên đàng” bấy lâu nay được hiểu là “lên đường”, đúng hay sai?
Rồi, “Đàng Thổ” hồi thế kỷ 17 dùng để chỉ vùng Sài Gòn, Bến Nghé, đâu có bờ đê/con đê nào mà vẫn gọi là “Đàng”?
Bài viết tới đây dài rồi, để dành cho kỳ 2 giải đáp, đặng có cái mà đọc.

Hình ảnh: Sông Gianh ở Quảng Bình.
Di tích Lũy Thầy: cổng thượng Võ Thắng quan.
Di tích Lũy Thầy: cổng hạ Quảng Bình quan.