VN: NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA VÀ HỘI CHỨNG BỎ VIỆC

VN: NGUYÊN KHÍ QUỐC GIA VÀ HỘI CHỨNG BỎ VIỆC

  Câu chuyện Bạch Mai có hơn 200 nhân viên bỏ việc chưa kịp chìm xuống thì hơn 600 y bác sĩ xin nghỉ …

Câu chuyện Bạch Mai có hơn 200 nhân viên bỏ việc chưa kịp chìm xuống thì hơn 600 y bác sĩ xin nghỉ việc tại một bệnh viện ở TP HCM phải khiến chúng ta đặt ra những câu hỏi về cách thức sử dụng nguồn lực con người trong xã hội VN hiện nay.

Người Việt vốn ưu “ổn định”, ổn định là một trong những cái đích quan trọng nhất của những người làm công ăn lương, đặc biệt là ở hệ thống công. Nhưng khi tôi nghỉ việc thì đồng thời có 2 người nữa cùng tổ chuyên môn cũng đã rời đi ngay sau đó. Tại một trường học thuộc loại VIP nhất (trường chuyên) của hệ thống trung học mà mỗi năm có hàng chục người bỏ việc thì phải thấy rằng đó là một hiện tượng bất thường.

Tình trạng này ngày càng phổ biến trong hệ thống công lập. Nhưng đó chưa phải là vấn đề lớn nhất. Một nhà báo là bạn thân của tôi nói, chỉ ước có một công việc hay nguồn thu nhập gì khác đủ nuôi con là lập tức bỏ việc ngay. Cũng theo người ấy, dường như không có mấy đồng nghiệp của anh ta còn mặn mà với báo chí nữa. Tâm trạng chán nghề đang bao trùm lên xã hội.

Tại sao thế? Tôi nghĩ, vấn đề lương hay thu nhập là một trong những nguyên nhân quan trọng, nhưng không phải là quan trọng nhất. Đồng nghiệp tôi, nhiều người đang loay hoay tìm cách đổi nghề, họ tỏ rõ sự chán chường và mỏi mệt trong chính cái nghề mà họ đã đèn sách theo đuổi hàng chục năm trời. Cái cung cách quản lý mang tính chuyên chế, môi trường làm việc không có dân chủ, cùng với hàng tá những việc “tẹp nhẹp vô nghĩa lý” đè nặng mỗi ngày. Người lao động, mà lại là lao động trí óc, ngày nay dường như chỉ còn là những công cụ trong tay thủ trưởng, họ hoàn toàn bị phụ thuộc về mọi mặt. Một người giáo viên mà đến chuyên môn còn không có quyền tự chủ thì thử hỏi sẽ tìm niềm vui ở đâu trong nghề nghiệp của mình? Không những bị tước đoạt đi năng lực sáng tạo và sự tự tôn nghề nghiệp, họ còn bị đè ép bới bao nhiêu quy đinh nhiêu khê phiền hà, và lúc nào cũng có thể trở thành nạn nhân bởi sự vui buồn của người đứng đầu. 

Người trí thức bị xúc phạm, thậm chí bị nhục mạ, bị coi khinh, bị tước đi niềm vui trong những tìm tòi và lao động sáng tạo. Thân phận người lao động nói chung và người trí thức nói riêng chưa bao giờ bị rẻ rúng đến thế. Không những không được lao động đúng nghĩa mà còn phải làm những vô nghĩa; không những không được phát tiết trí tuệ mà còn phải làm cả những việc sai trái. Nó là một thảm trạng.

Thử hỏi ai có thể chịu đựng kéo lê mãi một cuộc đời như thế ? Thế mà có đấy, không những có mà còn có nhiều. Bên cạnh những người bỏ việc (thiểu số) là những người tồn tại bằng những cách tiêu cực. Một bộ phận nhân lực thuộc giới “tinh hoa” của xã hội đã buộc phải hạ thấp mục tiêu, tự mài mòn cá tính, và thỏa hiệp để tồn tại. Một tình trạng “làm việc cầm chừng” đang trùm phủ lên xã hội. Không những chỉ cầm chừng, mà tai hại hơn, đối phó – đối phó đang trở thành phương cách làm việc của họ. Đó là con đường của sự tha hóa.

Nguồn tài nguyên vô giá của quốc gia đang bị hủy diệt bởi cung cách quản trị sai lầm, Đó không chỉ là một sự “lãng phí” mà ghê gớm hơn, là một tội ác. Nó không chỉ chặn đứng tương lai đất nước mà quan trọng hơn là, phá hủy con người.

Nguồn nguyên khí thiêng liêng của quốc gia không thể tiếp tục bị hủy hoại nữa. Không thể tiếp tục duy trì một bộ máy với cách thức vận hành phản khoa học như thế nữa. Muốn đất nước phồn thịnh và nhân dân hạnh phúc, không có con đường nào khác ngoài việc cải cách thể chế.

Thái Hạo

From:TU-PHUNG

Những điều cần biết để không về hưu trong nghèo khó

Những điều cần biết để không về hưu trong nghèo khó
 

Bạn cần tuân thủ 5 quy tắc sau đây để có thể nghỉ hưu trong sự sung túc, hoặc ít nhất là có đủ tiền để đảm bảo nhu cầu cơ bản, tận hưởng cuộc sống.

Đừng tiêu nhiều hơn số tiền kiếm được

Việc có được thu nhập cao không đảm bảo bạn sẽ giàu có khi về hưu. Ngược lại, có thu nhập thấp không đồng nghĩa với việc về già bạn sẽ phải vất vả. Yếu tố ảnh hưởng đến sự an toàn tài chính nằm ở việc bạn chi tiêu bao nhiêu.

Nếu bạn luôn tiêu hết số tiền lương của mình – hoặc tệ hơn – chi tiêu nhiều hơn số tiền kiếm được và luôn nợ nần, bạn sẽ không bao giờ trở nên giàu có. Theo các chuyên gia tài chính cá nhân, mỗi tháng nên tiết kiệm ít nhất 20% thu nhập của bạn.

Trích một phần tài sản để đầu tư

Tiết kiệm khó giúp bạn giàu lên nếu không đầu tư số tiền mình tiết kiệm được. Ví dụ, giả sử bạn định nghĩa: Giàu là có 1 triệu USD (23 tỷ đồng) và hiện bạn 30 tuổi, thì trong 30 năm, mỗi tháng bạn phải tiết kiệm hơn 2.500 USD. Đây là điều không dễ nếu chỉ dựa vào một nguồn thu duy nhất là lương. Tuy nhiên, nếu bạn đầu tư số tiền mình có vào các kênh khác nhau và kiếm lợi nhuận trung bình 8% mỗi năm, mục tiêu tiết kiệm hàng tháng của bạn sẽ giảm xuống chỉ còn hơn 735 USD.

Đương nhiên, bạn không nên “bỏ tất cả trứng vào cùng một giỏ”. Cần đầu tư đa dạng và bỏ tiền vào những gì mà bạn thực sự hiểu rõ. Đầu tư quá nhiều vào bất cứ đâu cũng có thể khiến bạn bị thua lỗ nặng.

Cắt giảm chi phí

Bạn thích đi du lịch, trải nghiệm những điều mới mẻ trong cuộc sống. Tuy nhiên, nên giới hạn các chuyến đi đó trong mức độ, rồi sử dụng số tiền dư ra cho việc tiết kiệm. Bạn nên giảm chi bằng cách rà soát các hóa đơn, sau đó cắt giảm nhưng khoản không cần thiết.

Ngoài ra, hãy so sánh giá cả của các cửa hàng để tìm giá tốt nhất cho các chi phí định kỳ, ví dụ như bảo hiểm xe hơi.

Đa dạng hóa thu nhập

Việc tìm ra cách để có thêm thu nhập rất quan trọng. Bạn có thể bắt đầu bằng cách cho thuê một căn phòng trong nhà của mình, chọn một công việc làm thêm, đầu tư cổ phiếu… Đa dạng hóa thu nhập cá nhân sẽ giúp bạn không phải lo lắng nhiều về việc một trong những nguồn thu nhập của mình mất đi.

Nên có quỹ dự phòng khẩn cấp

Việc có một quỹ khẩn cấp rất hữu ích, bởi bạn sẽ chủ động trước mọ sự cố về sức khỏe, hay ví dụ như đại dịch Covid-19 khiến công việc của bạn bị ảnh hưởng.

Các chuyên gia cho rằng nên tiết kiệm ít nhất 3-6 tháng chi phí trong quỹ khẩn cấp.

TRẦM CẢM DO ẢNH HƯỞNG CỦA COVID

 TRẦM CẢM DO ẢNH HƯỞNG CỦA COVID

Trần Mỹ Duyệt

Nhiều ít trong cuộc sống, đôi lúc chúng ta gặp những biến cố đặc biệt mà khi đối mặt với chúng, chúng ta thường cảm thấy mình khó chịu, càu nhàu, bực bội, cô đơn, buồn bã, mất ăn, mất ngủ, và mệt mỏi cả tinh thần lẫn thân xác. Đôi khi trong những khó khăn dồn nén đó, chúng ta có những ý nghĩ chán đời, buông thả, rút kín, cô lập, và không muốn sống nữa. Tâm lý học gọi đó là những triệu chứng của trầm cảm.    

Sau hơn một năm tác oai tác quái trên trái đất, Covid-19 (dịch Vũ Hán) đã để lại không biết bao nhiêu hậu quả tiêu cực bao gồm từ lãnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, chính trị, và tôn giáo. Riêng trong lãnh vực tâm thần và tâm bệnh, nó đã và đang tạo ra một hậu chấn tâm lý gây hoang mang, sợ hãi và bất ổn.

Nhiều gia đình trở nên mất vui, bầu khí gia đình biến thành lạnh lẽo, buồn tẻ. Ngôi nhà hạnh phúc nay biến thành địa ngục. Vợ chồng xào xáo, dẫn đến gây lộn, hành hung, ly thân và ly dị vì một người hoặc cả hai bị trầm cảm.

Hậu quả dễ thấy nhất trong những gia đình này đến từ người chồng quen thói lười biếng, ươn lười viện dẫn lý do công ăn việc làm bị hạn chế, hoặc các hãng xưởng giới hạn công nhân do ảnh hưởng của Covid, cộng thêm đam mê cờ bạc, rượu, nghiện hút, games, và phim ảnh khiêu dâm trên internet…Hoặc người vợ không việc gì làm “nhàn cư vi bất thiện,” tối ngày shop trên online, đặt mua những món hàng mà chẳng bao giờ dùng tới, gây thiếu hụt ngân qũy gia đình.

Con cái vì không đến trường ở nhà tự học, hoặc giờ học không nhất định đã tạo nên sự lười biếng, điểm học xuống cấp. Cha mẹ la mắng, con cái cãi lại, hỗn hào, anh chị em hục hoặc khiến bầu khí gia đình trở thành căng thẳng. Tin tức về các trẻ em, thanh thiếu niên tự tử vì chán nản không được đến trường, không được tiếp xúc với bạn bè, gò bó trong môi trường gia đình, thiếu thông cảm giữa cha mẹ, anh chị em đã tạo ra mối quan tâm và lo lắng cho giới phụ huynh.  

Tóm lại, hậu quả của trầm cảm gây ra do ảnh hưởng của Covid là một mối đe dọa cho đời sống và sự phát triển của tâm lý hiện nay. Nó đang bao trùm khắp thế giới.

TRẦM CẢM (DEPRESSION) VÀ CĂNG THẲNG (STRESS)

Một điều quan trọng mà nhiều người ít để ý và quan tâm tới là những hội chứng tâm lý cần được chữa trị. Họ nghĩ những cái đó là do tính nết sẵn có, do hoàn cảnh khó khăn, do người khác hiểu lầm, hoặc do xã hội gây nên. Lạc quan một tí thì cố gắng chịu đựng cho qua, hy vọng “ngày mai sẽ sáng!” Bi quan hơn thì nổi nóng, cáu giận, bực tức người này, người khác, hoặc chán nản, buông xuôi để mặc cho định mệnh. Và cùng quẫn, hoang mang, tự ty quá thì tìm cách kết thúc cuộc đời!!!  

Sau đây là một số triệu chứng thông thường liên quan đến trầm cảm dưới cái nhìn của tâm bệnh: 

Những triệu chứng thông thường của stress:

 -Trầm mặc hoặc cáu gắt.

-Bực bội, tức giận hoặc bất an.

-Cảm thấy chán nản, bần thần, hoặc lơ là.

-Mất ngủ hoặc ngủ vùi cả ngày.

-Nghĩ ngợi lung tung hoặc quá lo lắng.

-Suy giảm trí nhớ hoặc khả năng chú tâm.

-Có những quyết định sai lầm. 

Những triệu chứng trên lúc ẩn, lúc hiện, lúc mạnh lúc yếu, và thông thường chỉ làm ta khó chịu ở bước đầu. Nhưng nếu không tìm cách vượt qua, từ từ chúng sẽ biến thành những triệu chứng dẫn đến trầm cảm.

Triệu chứng của trầm cảm:

 -Cảm thấy buồn bã, trống  rỗng, vô vọng và hay khóc.

-Cáu giận, bực tức, hoặc khó chịu mặc dù chỉ là những chuyện nhỏ mọn.

-Mất hứng thú, cảm xúc trong tất cả những sinh hoạt thường ngày, kể cả như nhu cầu sinh lý vợ chồng, hoặc những thú vui, sở thích.

-Mất ngủ hoặc ngủ vùi.

-Mệt mã, mất nhiệt huyết khi làm những việc dù nhỏ mọn.

-Mất cảm giác và ăn uống mất ngon.

-Cáu giận, khó chịu và hay gây gỗ.

-Suy nghĩ, nói năng chậm chạp, hoặc di chuyển khó khăn.

-Thấy mình vô dụng hoặc tội lỗi và tự phàn nàn về mình, về những lỗi lầm quá khứ.

-Có vấn đề về suy nghĩ, chủ tâm, quyết tâm hoặc trí nhớ.

-Thường xuyên hay nghĩ đến chết, có tư tưởng tự tử hoặc muốn đi tìm cái chết.

-Có những vấn đề về thể lý không giải thích được, thí dụ, đau lưng, nhức đầu.

Đối với nhiều người những triệu chứng trên không nghiêm trọng (severe) đủ khiến họ phải lưu ý trong những công việc thường ngày như việc làm, học hành, những hoạt động xã hội hoặc những giao tiếp xã hội. Cũng có những người tự nhiên thấy mình cảm thấy như bất hạnh, đáng thương, và chán nản mà không hiểu tại sao.     

Có nhiều loại trầm cảm, nhưng điều quan trọng là khi có những dấu hiệu trên một hoặc hai tuần, ta cần phải tìm sự chữa trị của bác sỹ tâm lý (psychologist) và bác sỹ tâm thần (psychiatrist). Tránh để rơi vào tình trạng trầm cảm ở giai đoạn nghiêm trọng (major depression) mà không có sự giúp đỡ của các bác sỹ tâm lý và tâm thần.   

ĐỐI DIỆN VỚI TRẦM CẢM  

Vì là hội chứng thuộc tâm lý và tâm thần, nên không bao giờ để mình hoặc người thân rơi vào tình trạng trầm cảm nặng. Thí dụ, mất nghị lực, mất hứng thú và tự cô lập, mất ngủ hoặc ngủ vùi triền miên, hoang mang, bi quan, vô vọng, chán sống, và có ý định tự tử.

Dưới đây là một số hướng dẫn tạm gọi là chuyên môn có thể giúp cho những ai đang cảm thấy mình bị ảnh hưởng nhẹ hoặc mới có những triệu chứng trầm cảm. Những gợi ý bao gồm:

1: Cởi mở và trao đổi với bạn bè.  

2: Làm những gì mà mình cảm thấy thích thú.

3: Hoạt động và không ngồi một chỗ. 

4: Ăn uống điều độ và kiểm soát chế độ ăn uống. 

5: Bắt đầu bằng một ngày mới với những sinh hoạt ngoài trời.

6: Thay đổi những tư tưởng bi quan thành những tư tưởng lạc quan. 

Ứng dụng thực hành, về phía người đang mang những dấu hiệu của trầm cảm, cách tốt nhất là chia sẻ những khó khăn, những uẩn khúc của hiện tại với những ai mà mình tin tưởng để tìm sự đồng cảm, khích lệ, và những hướng dẫn tích cực. Trong hoàn cảnh hiện nay là những ảnh hưởng của Covid mà mình hoặc người thân đang gặp phải.  

Tiếp đến là tìm một việc gì thích hợp để giải trí lành mạnh trong những điều kiện có thể. Những sinh hoạt không bị giới hạn do khoảng cách xã hội, hoặc những đòi hỏi về mặt y tế, xã hội. Thí dụ, những sinh hoạt ngoài trời ở những nơi mà gia đình có thể tổ chức picnic, câu cá, đi dạo, hoặc leo núi…

Nhất là thay đổi, chuyển hướng những tư tưởng bi quan thành những tư tưởng lạc quan.  Chỉ có những tư tưởng lạc quan, tích cực mới giúp xua tan những lo lắng tiêu cực gây ra do trầm cảm. Kinh nghiệm thực tế cho biết, tự thay đổi, và thay đổi theo chiều hướng tích cực là một việc khó làm nhất. Như những người nghiện rượu rất ít khi nhận mình là người nghiện, người mang những triệu chứng tâm lý cũng hầu như không bao giờ nhận mình là người đang gặp những khó khăn về mặt tâm lý và cần được giúp đỡ. Do đó, những người có trách nhiệm như cha mẹ, vợ chồng, anh chị em là phải tìm cách nào vừa tế nhị, vừa khôn ngoan, vừa hợp lý để giúp người có bệnh chấp nhận tìm gặp những bác sỹ chuyên môn cũng như chịu uống thuốc.

Sau cùng, với kinh nghiệm nghề nghiệp, theo tôi không gì mau chóng và đem lại kết quả tốt cho chính mình hoặc một người trong gia đình khi gặp những triệu chứng về tâm lý hoặc tâm thần là:

*Sự giúp đỡ và khích lệ của gia đình, người thân:  

Những sự giúp đỡ của cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, ông bà là những giúp đỡ rất cần thiết và hiệu nghiệm để nâng đỡ tinh thần một người khi gặp những khó khăn về mặt tình cảm, tâm lý, hoặc tâm thần.  

Điều này bao gồm những quan tâm, sự cảm thông, chia sẻ, những nụ cười, những lời khích lệ. Đặc biệt tránh dùng những lời lẽ nặng nề, chê trách hoặc chỉ trích người thân, con cháu, hoặc vợ chồng trong những trường hợp này. Nên nhớ, người bệnh rất nhậy cảm và rất dễ tự ty về những lời nói hoặc nhận xét tiêu cực!  

*Cầu nguyện và tinh thần: 

Lời cầu nguyện của người thân cũng như của chính người bệnh là phương thuốc tuyệt vời nhất cho những bệnh nhân tâm thần – cũng như thể xác. Đối với Phật Giáo, phương pháp ngồi thiền, yoga cũng là một cách cầu nguyện, giữ tâm hồn yên tĩnh. Trong những trường hợp này, thật ra không ai ngoài Thượng Đế là người có quyền năng tác động và thay đổi tâm hồn của bệnh nhân, và thổi vào đó niềm tin tưởng, lạc quan. Tôi đã có kinh nghiệm về những lời cầu này trong thời gian giúp các bệnh nhân tâm lý cũng như tâm thần. Giá trị của nó hiệu nghiệm, vượt trên mọi thứ thuốc tâm thần, những phương pháp trị liệu, cũng như những lời khuyên dù rất nhiệt tình và tha thiết của bất cứ ai.

Trong hoàn cảnh hiện nay của cơn đại dịch, không những chúng ta cần phải cầu nguyện cho người thân, vợ chồng, con cháu mà còn cầu nguyện cho thế giới, cho những nạn nhân đang phải đối đầu với những thử thách do dịch bệnh gây ra. Lời cầu nguyện là liều thuốc vạn năng có khả năng giúp chữa lành mọi tật bệnh tâm hồn và thể xác. “Không có gì mà Thiên Chúa không làm được.” (Lc 1:37)

Trần Mỹ Duyệt

 From: Le Ngoc Bich & KimBang Nguyen

CON NGƯỜI VĨ ĐẠI

CON NGƯỜI VĨ ĐẠI

Trong hầu hết các lãnh vực của cuộc sống, ta thường đọc và

nghe thấy hai từ “vĩ đại” để nói về cá nhân nào đó.

Newton, Einstein, Hawking… là những nhà vật lý vĩ đại.

Micheal Faraday, Mendeleev, Lomonosov là những nhà hóa học vĩ đại.

Plato, Kant, Khổng Tử… là các triết gia vĩ đại.

Lịch sử một dân tộc nào đấy cũng không ngoại lệ, cũng có

những con người mà sự nghiệp và công lao của họ là rất vĩ đại.

Bài viết này này nhằm chia sẻ suy nghĩ của cá nhân tôi về hai chữ “vĩ đại” trong lịch sử một dân tộc. Và rất mong nhận được sự phản hồi của quý vị.

Xin bàn về hai nhân vật tôi ngưỡng mộ.

* * *

Nhân vật thứ nhất là George Washington (1732-1799). Ông là người lãnh đạo dân Mỹ trong cuộc đấu tranh cách mạng chống lại thực dân Anh. Có thể xem ông là cha đẻ của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ. Nhân dân Mỹ gọi ông là Cha. (1)

Cuộc đời và sự nghiệp của ông, mọi người có thể dễ dàng tìm thấy trên mạng. Nhưng với tôi, ông trở nên vĩ đại hơn những người khác không phải vì ông chỉ huy đánh nhau giỏi, càng không phải ông là tổng thống có năng lực. Ông vĩ đại vì ông chỉ làm tổng thống có 2 nhiệm kỳ.

Sau đó, ông không chỉ định con hay cháu ông lên thay thế, mà để dân Mỹ tự do bầu ra tổng thống mới. Chuyện gì sẽ xảy ra khi ông Washington, dựa vào việc dân Mỹ coi ông như Cha, để rồi :

* Giành toàn bộ công lao của cuộc cách mạng,

* Nắm quyền lực tuyệt đối trong tay,

* Làm tổng thống trọn đời,

* Truyền ngôi cho con hoặc em của mình,

* Thực hiện những chính sách hoàn toàn sai lệch về kinh tế,

* Bỏ ngoài tai mọi phản biện, thậm chí sử dụng công an, quân đội đàn áp bất đồng chính kiến,

* …

Lúc đó, có lẽ đời sống dân Mỹ sẽ không khác đời sống dân Bắc Triều Tiên hiện nay. Có lẽ nước Mỹ cũng có mức tăng trưởng kinh tế cỡ như Cuba hiện nay. Dân Mỹ cũng sẽ chết đói vài chục triệu người như dân Trung Quốc thời kỳ “đại nhảy vọt”. Và ông sẽ bị nhân dân Mỹ đứng lên đánh đuổi, và chịu hậu quả như là Ceausescu đã chịu ở Rumani.

Nhưng ông không làm như thế. Ông trở thành vĩ đại cũng vì thế và nhân dân Mỹ vẫn mãi gọi ông là Cha cũng vì thế. Ông nhân danh tự do để tập hợp dân Mỹ tiến hành cách mạng và ông giữ đúng tinh thần tự do sau khi cách mạng thành công.

* * *

Người thứ hai đáng ngưỡng mộ thì gần với thế hệ chúng ta hơn. Ông năm nay 91 tuổi, còn mạnh khỏe (bài viết tháng 03/2010).

Ông đã từng bị bắt và ở tù 27 năm vì bị cho là “phá hoại đất nước”. Ông là người Nam Phi da đen đã chống lại chủ nghĩa Apartheid. Khi ra tù, ông trở thành tổng thống của nước Nam Phi tự do, dân chủ, bình đẳng chủng tộc. Ông là Nelson Mandela.

Nhưng với tôi, ông trở nên vĩ đại hơn những người khác không phải vì ông can đảm hơn người, cũng không phải chuyện ông đã có phương pháp đấu tranh hợp lý, trở thành Tổng Thống da đen đầu tiên của Nam Phi. Ông vĩ đại bởi vì sau bao năm tù đày, ông không hề thù oán chế độ cũ.

Và khi đã có quyền lực trong tay, ông lập tức thực hiện ước nguyện xây dựng nước Nam Phi tự do, dân chủ của mình. Ông được so với Mahatma Gandhi. Có thể xem ông như vị Thánh, là Cha đẻ của nước Nam Phi hậu Apartheid.

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như ông quyết định đền bù cho 27 năm tù đày của mình bằng cách:

* Coi đất nước Nam Phi là của riêng mình,

* Bắt bỏ tù người của chế độ cũ,

* Bắt hoặc thủ tiêu tất cả những người đối lập.

* Đưa anh, em, con, cháu, họ hàng nắm toàn bộ các ngành trọng yếu như Tư Pháp, Quốc Phòng, Ngân Hàng, Công An…,

* Ký hợp đồng khai thác Kim Cương với Trung Quốc không thông qua Quốc hội, bất chấp sự phản đối của nhân dân Nam Phi.

* Làm tổng thống đến hết đời và truyền ngôi cho con hoặc em của mình,

– …

Khi đó, nhân dân Nam Phi sẽ sống trong chế độ toàn trị. Từ việc làm, con cái đi học, cư trú, phát ngôn, đi lại, y tế đều bị kiểm soát bởi nhà độc tài Nelson Mandela. Cả nước Nam Phi sẽ chỉ có một tư tưởng là tư tưởng Nelson Mandela. Mọi thông tin chỉ một chiều, ai có quan điểm trái chiều sẽ bị quy là phản động. Nhẹ thì bị mất việc, bị cắt điện thoại. Nặng thì bị quản chế, nặng hơn là bị bắt giam.

Và hậu quả là cuộc sống của nhân dân Nam Phi còn tồi tàn hơn ở chế độ cũ. Liệu rằng nhân dân Nam Phi có tôn trọng ông hay không, có coi ông như ân nhân hay không? Hay là họ sẽ rơi vào trạng thái “trong héo ngoài tươi”.

Không! Ông đã không làm thế. Rất may mắn cho dân tộc Nam Phi có người con như ông. Ông trở nên vĩ đại là vì thế.

* * *

Tôi không biết 2 nhân vật vĩ đại trên có nghiên cứu Triết học hay không, nhưng hành động của họ lại hết sức biện chứng. Trong triết học, cặp phạm trù “tất nhiên” và “ngẫu nhiên” đi liền với nhau.

Mỗi một đất nước, ở một giai đoạn nhất định, “tất nhiên” sẽ có cách mạng và “tất nhiên” sẽ có lãnh tụ. Nhưng ai sẽ lãnh đạo cuộc cách mạng và trở thành lãnh tụ thì mang tính ngẫu nhiên (hiểu theo nghĩa không có anh thì sẽ phải có người khác).

Cách mạng Mỹ chống thực dân Anh là tất nhiên, nhưng ông Washington làm lãnh tụ là ngẫu nhiên. Chủ nghĩa Apartheid phản động sụp đổ là chuyện tất nhiên, hành động của ông Nelson Mandela là ngẫu nhiên.

Do đó, việc hai ông không tự cho mình là vĩ đại, không giành hết công lao của lịch sử, không biến mình thành kẻ độc tài là thuận theo phép biện chứng. Hai ông đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, tôn trọng tự do và quyền lựa chọn của nhân dân mình. Hai ông không tự xưng, cũng không ép nhân dân gọi mình là Vĩ Đại. Hai ông vĩ đại bởi vì thế. (2)

Để làm rõ hơn ý “vĩ đại” trong bài viết này, ngược dòng lịch sử, đã có những nhân vật “xém nữa vĩ đại”. Có nghĩa là họ đã có những công lao nhất định với dân tộc, với nhân dân họ. Nhưng do tham quyền cố vị, độc tài, thực hiện chính sách lạc hậu, lỗi thời, họ chỉ là người có công chứ không là người vĩ đại. Thậm chí, đôi lúc họ còn trở thành có tội đối với dân tộc họ.

Trường hợp Tần Thủy Hoàng là một ví dụ. Ông có công thống nhất Trung Hoa, nhưng chính sử không coi ông là anh hùng dân tộc. Nếu sau khi thống nhất đất nước, ông tôn trọng quyền tự do tư tưởng, không khủng bố trí thức thì nhà Tần sẽ vững mạnh, chắc chắn địa vị của ông trong lịch sử sẽ khác.

Đằng này, ông độc tài tàn bạo, đốt sách, chôn học trò, đòi trường sinh bất lão. Ông lại tham vọng truyền ngôi cho con cháu là Nhị Thế (hai đời), Tam Thế (ba đời),… cho đến Vạn Thế (muôn đời !).

Kết quả nhà Tần như thế nào thì ai cũng biết.

Gần đây, giữa thế kỷ 20, các nhân vật nổi đình nổi đám như Stalin, Mao Trạch Đông có được coi là vĩ đại hay không? Stalin thắng Đức phát xít, đưa Liên Xô lên hàng siêu cường, Mao đánh Nhật, đuổi Tưởng, xây dựng nên nước Cộng Hòa Nhân Dân Trunh Hoa.

Công lao của hai ông lớn lắm chứ, nhưng tiếc hai ông chỉ là những nhân vật “xém vĩ đại thôi”. Vì sự nghiệp của họ sau đó có vấn đề, lịch sử còn đang xem xét. Thậm chí người ta còn đòi luận rõ công và tội. Vậy thì nhất định chưa thể xem là Vĩ Đại được. Cho đến khi lịch sử – vị giám sát công bằng nhất – trả lời.

Để kết thúc bài viết, xin mời quý vị cùng đọc bài báo, với những câu văn tâm huyết và sâu sắc:

“Ngày đó, sau 27 năm sống trong ngục tù, Mandela đã được trả tự do. Và ngay sau phút giây đầu tiên được ngắm nhìn bầu trời bao la ấy, Mandela bắt tay vào công cuộc xây dựng tự do, hàn gắn những chia cắt trong lòng dân tộc.”

“Giờ đây, khi được trả tự do, có thể ông sẽ báo thù. Cái lối tư duy này thậm chí đã đẩy không ít người vào quyết định rời khỏi Nam Phi. “

“Nụ cười không chứa đựng hận thù. Nụ cười của cuộc đấu tranh vì tự do vẫn tiếp diễn. Nụ cười của niềm tin mãnh liệt vào một tương lai, nơi mà dân tộc Nam Phi hòa chung một khối, bỏ quá khứ Apartheid đen tối lại phía sau.”

“Và ông đã cùng nhân dân tiếp tục cuộc đấu tranh, nhưng không phải bằng con đường bạo lực đẫm máu, để đưa đất nước tươi đẹp này thoát khỏi đêm trường Apartheid.”

“Trong hoàn cảnh ngục tù đằng đẵng, ông vẫn luôn giữ được khí tiết của một chiến sĩ dám dấn thân vì đại nghĩa. Mandela từng nhiều lần từ chối các điều kiện trả tự do của nhà cầm quyền.

Chính vì vậy mà uy tín của ông ngày một lớn trong lòng người dân Nam Phi, bất chấp chính quyền Apartheid đã sử dụng mọi biện pháp để ngăn cấm việc truyền bá hình ảnh, tài liệu về ông.

Rốt cuộc, bản án khắc nghiệt của nhà cầm quyền nhằm triệt tiêu ý chí chiến đấu của ông, cũng là của người dân Nam Phi bị áp bức, đã trở nên vô hiệu.”

“Rốt cuộc, chế độ Apartheid bị bãi bỏ. Mandela trở thành Tổng thống Nam Phi vào năm 1994. Đó là cuộc bầu cử đầu tiên với những ý nghĩa dân chủ thực sự.”

Nelson Mandela, dù đã cùng đám đông hô vang “Chính quyền thuộc về chúng ta” khi ở Cape Town trong buổi tối tự do đầu tiên sau 27 năm tù đày, đã chọn cách bước lên nắm chính quyền bằng việc tuân thủ đầy đủ nguyên tắc của một nền chính trị dân chủ lành mạnh.”

“Và ông cũng chỉ làm tổng thống trong một giai đoạn ngắn – từ 1994 đến 1999 – sau đó rời chính trường và trao quyền chọn người kế nhiệm vào tay cử tri Nam Phi.”

“Mandela vĩ đại không chỉ bởi quá trình đấu tranh, những năm tháng bất khuất trong chốn lao tù, hành trình xóa bỏ chế độ Apartheid hay nỗ lực hòa giải dân tộc. Ông còn bất tử bởi đã xây dựng những nền móng vững chắc cho nền dân chủ ở Nam Phi. Công lao xóa bỏ chế độ Apartheid của ông sẽ trở nên vô nghĩa nếu rốt cuộc ông không xây dựng được một nền dân chủ lành mạnh cho đất nước này.”

Nguyễn Đại – 25 tháng 3/2010

________________

  1. Lấy ý câu “nhân dân ta gọi Người là Bác” của Tố Hữu.
  2. Vĩ Đại thật sự là do lịch sử đánh giá, không thể “tự xưng” được.

“XỨ ĐÔNG DƯƠNG” QUA “MẮT XANH” VƯƠNG HỒNG SỂN…

 No photo description available.

“XỨ ĐÔNG DƯƠNG” QUA “MẮT XANH” VƯƠNG HỒNG SỂN…

Tháng 6/2016, Báo Lâm Đồng Cuối tuần có đăng trong chuyên mục “Hồ sơ – Tư liệu” bài viết “Xứ Đông Dương – Một tài liệu tham khảo rất đáng quý” giới thiệu tập hồi ký “Xứ Đông Dương” của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (1897-1902), Tổng thống Pháp (1931-1932) xuất bản lần đầu năm 1905 được dịch từ nguyên bản tiếng Pháp L’Indochine Frangcaise (Souvenirs). Tập hồi ký do NXB Thế giới phát hành ra mắt độc giả Việt Nam tháng 3/2016.

Tôi đã tìm mua được “Xứ Đông Dương” và say mê đọc bởi bị phong cách văn chương của Toàn quyền Paul Doumer quyến rũ trước nhiều sự kiện đầu thế kỷ XX ở Việt Nam. Một lần lục lọi kho sách tư gia, bất chợt thấy cuốn “Dỡ mắm” (di cảo, NXB Trẻ tái bản lần thứ nhất 2015) của học giả Vương Hồng Sển có lời tựa “Ngồi buồn dỡ mắm nhau ra/ Mắm ông thì thúi, mắm bà chẳng thơm”. Thấy lý thú nên tò mò lần dở mới hay nhà nghiên cứu văn hóa nổi tiếng, học giả Vương Hồng Sển từng đọc hồi ký “Xứ Đông Dương” bằng tiếng Pháp khi phát hành vào thập niên đầu thế kỷ XX.

Nhận xét về tập hồi ký “Xứ Đông Dương”, học giả Vương Hồng Sển trần tình: “… Viết về ông Doumer, tôi đã sửa ngòi bút, suy nghĩ thật nhiều: viết sai thì hổ với lương tâm, bằng bốc thơm ông lại ngại tiếng gièm pha còn mến tiếc Tây đầm. Nhưng ở Hà Nội cầu Long Biên còn đó, ai giẫm chơn lên phải nhớ người xây dựng, mới không thẹn sao “uống nước nỡ quên nguồn”! Ở Huế, cầu Tràng Tiền đổi tên mấy lượt, nhưng vẫn còn sờ sờ, ở Sài Gòn này, cầu Bình Lợi cũng là kỳ công bất hủ của ông Doumer, chớ mấy ai khác. Vậy tôi biết gì, cứ nói.

Doumer qua Việt Nam khi tuổi chưa đầy 40. Người khỏe mạnh, làm việc bằng mười, thêm tài ba xuất chúng. Những kỳ công của ông là:

– Ông thấy xa, lập trường Viễn Đông Bác Cổ, để bảo vệ cổ tích, đền chùa khỏi bị phá phách cắp gỡ, tu bổ cổ tích còn lại. (Doumer từng than tiếc cổ tích Chàm ở Đà Nẵng bị cạy gỡ mất mát nhiều nên năm 1899, ký sắc lịnh cho lập trường Viễn Đông Bác Cổ).

– Ông lập trường cao đẳng ở Hà Nội, để tiện cho học sanh bên Trung Quốc qua học, thêm học trò miền Nam, con cháu điền chủ có tiền, dễ ra học hơn mở trường cao đẳng ở Sài Gòn, học trò Tàu chê xa, và học trò xứ Bắc xứ Trung, phần đông đều con ông đồ ông bảng thanh bạch, giàu chữ hơn giàu tiền làm sao gởi con vào Nam học được nhiều.

– Chính ông năm 1901 đã đến tại chỗ, chọn Đà Lạt thay vì Dankia và đốc thúc, tài trợ cho bác sĩ Yersin thành lập nơi nghỉ mát Đà Lạt như ngày nay đã thấy. Ba cây cầu sắt ông để lại, thật là kỳ công bất hủ:

– Ở Hà Nội, có cầu Long Biên, trước mang tên ông là Pont Doumer: hãng Daydé et Pillé de Creil (Oise) trúng thầu, đặt viên đá đầu tiên tháng 9/1898; cầu dài trên 2.500 m, khúc vào thành (hữu ngạn) trên đất liền, dài 800 thước, khúc giữa trên sông Hồng nối hai bờ, dài 1.680 m, gồm 19 nhịp, toàn sắt thép trứ danh Cantilever; 19 nhịp nằm trên 20 cột chống xây đá, móng cầu cừ đóng và trụ cây phải thọc sâu tới khi đụng đất nạc đất cứng, phải sâu hơn 30 m, từ mặt nước thấp nhất của Hồng hà và phía trên khỏi mặt nước là 13 m 50 nữa, tức cột đo 43 m 50. Một cầu dài nhất ở Á Đông, một kỳ công của kỹ sư thợ cái Pháp và của nhơn công người Việt, đáng mặt để đời. Cũng có thợ hồ, thợ sắt Tàu trợ lực. Khi đặt đá khánh thành, mọi người dự kiến đều hoài nghi sự thành công, nhứt là người An Nam đều cho là còn khó hơn chuyện vá trời, và khi cây cầu làm xong, lại le lưỡi nói: “Việc gì Tây muốn, họ đều làm được”; cầu ăn lễ lạc – thanh tháng 2/1902, một lượt với đoạn đường sắt xuyên Đông Dương sau này (đường sắt Hà Nội xuống Hải Phòng, dài độ 100 km, ông vui lòng được mắt thấy trước khi xuống tàu về Pháp), 5 năm nhiệm vụ đã tròn. (Phí tổn 6.000.000 quan Pháp, ăn 2fr50 mỗi 1$ (bạc 27gr).

– Ở Huế, ông để kỷ niệm lại cầu Tràng Tiền, bắc ngang sông Hương, nối liền xóm Tây qua xóm Việt và Thành nội và đưa đường xuống Đà Nẵng, cầu dài 400 m, cột cầu đóng xuống sâu 20 m, do hãng Pháp Creusot lãnh thầu và xây cất, chính ông làm lễ khánh thành và nhường vua Thành Thái cắt dây tượng trưng cho sự thông thương cho dân và ngày nay xe ô tô, thiết giáp đi (không có đường cho tàu hỏa). Không thấy ghi chi xuất bao nhiêu…

– Ở Sài Gòn, ông giúp cho một cầu sắt nối liền lên Biên Hòa, ấy là cầu Bình Lợi. Ông dự định cầu chịu nổi đường sắt xe lửa xuyên Đông Dương về tương lai, cột cầu dưới mặt nước thấp nhất đo được 31 m và do hãng Levallois-Perret thầu và xây cất, ăn lễ khánh thành vào tháng 2/1902. Cầu có 6 nhịp, một nhịp nơi giữa, dài đến 40 m, vẫn xây mở được để tàu thuyền thông thương.

Ngoài ra Doumer còn để lại nhiều công-tác cầu kỳ (tuy không quan trọng bằng ba cây cầu vĩ đại kia), thành tựu từ 1897 đến 1902, có thể gọi là thời kỳ mở mang Đông Dương, thời kỳ sắt và cầu sắt, đáng kể hơn là ở Bắc, cầu ở Hải Phòng, Hải Dương, Việt Trì, Lào Cai, miền Trung có cầu Thanh Hóa do hãng Daydé et Pillé xây cất, cầu này dài 160 m vòng cầu liên lạc một mạch nối hai bờ sông, không có nhịp ở giữa và khi ráp nối, trải ván rất cam go.

Riêng miền Nam, ông còn có thêm: năm 1901, con lộ đá Sài Gòn đi Tây Ninh để sau này thông thương với Cao Miên, và năm 1903, con lộ đá Sài Gòn đi Bà Rịa, mở thông lên Tánh Linh xứ gỗ súc, sau này sẽ thông thương với miền Trung. Ông còn dự định thiết lập một con đường sắt cho xe lửa chạy, nối liền Sài Gòn lên Nam Vang, nhưng việc này thời đại sau ông bỏ dở, tiếc thay”…

Với nhận xét sắc sảo, công tâm như vậy chứng tỏ người Việt mình rất có đôi “mắt xanh” khi đánh giá chính khách nước ngoài. Rất tiếc độc giả Việt Nam và cũng không mấy người phương Tây có trong tay và đọc “Dỡ mắm”!

NGUYỄN THANH

ĐỊA NGỤC GIÁO DỤC?…

ĐỊA NGỤC GIÁO DỤC?…

Đau xé lòng trước vụ em học sinh Trường Nguyễn Khuyến (TP. HCM) nhảy lầu tự vẫn vì áp lực học hành. Không biết bức thư tuyệt mệnh này có đúng là của em không, nhưng ít nhất đúng như tôi nghĩ lâu nay.

Không dưới một lần, tôi khẳng định triết lý “giáo dục toàn diện” là sai lầm tận gốc. Từ cái gốc này kéo theo Chương trình, Sách giáo khoa và cách đánh giá đã sai lầm một cách toàn diện, gây áp lực nặng nề cho con em chúng ta.

Đây không là vụ duy nhất học sinh tự vẫn. Những trường hợp không tự vẫn, theo tôi, tâm thần đều có dấu hiệu khủng hoảng nặng. Hãy cùng nhau lên tiếng, vì con tôi và con các bạn đều đang là nạn nhân của cách giáo dục này, nếu chúng ta còn chút lương tâm!

Một ngày kia phải ghi tội ác những kẻ làm chương trình và sách giáo khoa vào các trang sử.

CHU MỘNG LONG

————-

Nội dung bức thư:

“Kính thưa các bác lãnh đạo, các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo!

Con xin được trút hết nỗi lòng đã giấu diếm suốt bấy lâu nay và con, cũng như nhiều bạn học sinh khác mong chờ sẽ nhận được những lời chia sẻ, cũng như ý kiến của các bác lãnh đạo, các phụ huynh và các thầy cô.

Đã nhiều năm nay, hầu như cuộc đời của học sinh chúng con chỉ là thức dậy, đi học trên trường, đi học thêm, về nhà và lặp lại. Qua nhiều năm, niềm đam mê học tập của con dần mất đi.

Con bắt đầu kiệt sức, chán nản và tuyệt vọng khi nghe đến chữ HỌC.

Không biết tự bao giờ, thời gian chúng con đi học còn nhiều hơn khoảng thời gian chúng con được ngủ. Đối với con, càng học cao hơn, kiến thức càng trở nên vô nghĩa.

Con biết nói ra điều này thật vô ơn. Để có được những kiến thức hôm nay là công sức đầy gian lao của những người đi trước.

Nhưng con tự nghĩ, vì sao giáo viên chỉ có thể dạy một bộ môn nhưng bản thân một học sinh phải học những mười mấy môn?

Không chỉ vậy, chúng con còn chịu áp lực nặng nề từ thầy cô, phụ huynh và cả xã hội. Một lớp học phải có từ 40 học sinh đạt Giỏi, Khá và không được có học sinh Trung bình.

Đã đi học thì các môn tổng kết cả năm phải từ 8 điểm trở lên, thậm chí là cao hơn. Tỉ lệ tốt nghiệp của trường sau một năm phải đạt 90% trở lên, có trường phải giữ vững mục tiêu là 100%.

Con đã nhiều lần suy nghĩ về những gì chúng con đang được học. Càng nghĩ,con càng cảm thấy nản hơn khi con nhận ra mình gần như không thể tiếp nhận những kiến thức nhà trường dạy.

Bộ não của một người trưởng thành chỉ nặng gần 1400 gam nhưng những người của thế hệ đi trước lại mong chờ chúng con học đều, học tốt lượng kiến thức khổng lồ từ hơn mười môn học khác nhau.

Con sợ lắm! Con sợ mỗi khi ông mặt trời lại lên báo hiệu một ngày đi học nữa lại đến. Con sợ khi điều đầu tiên thầy cô làm khi bước vào lớp là khảo bài, kiểm tra một núi bài tập họ giao cho chúng con.

Con sợ khi tiếng trống giờ về không đồng nghĩa với việc chúng con được về nhà nghỉ ngơi mà nó chỉ đơn thuần là giờ ra chơi giữa giờ học chính khóa và giờ học thêm.

Con sợ khi nhìn các bạn đồng trang lứa ăn vội vàng cái bánh bao và ánh mắt họ đờ đẫn, xa xăm, vô hồn ngồi trên chiếc xe máy giữa dòng người kẹt xe lúc 5h chiều.

Thưa các bác, các bác phụ huynh, các thầy cô!

Còn biết bao nhiêu câu chuyện chưa được kể về những áp lực vô hình mà mọi người đang vô tình đặt lên vai chúng con.

“Mỗi ngày đến trường là một ngày vui” – Đó là điều đầu tiên con học được khi bước vào lớp 1. Và cho đến giờ, khi đang ở độ tuổi 18, con căm ghét cái câu nói này kinh khủng.

Con xin lỗi khi nói ra những điều này, con biết việc này sẽ khiến cho những người đi trước khó chịu nhưng cho phép con được nói lên nỗi lòng mình: Con ghét đi học.

Con ghét cái cảm giác bước qua cổng trường, mở cuốn SGK, chép từng trang vở. Con cảm giác mình lạc hướng… Từng ngày đi học, chúng con quay cuồng với việc học bài, kiểm tra.

Những năm tháng dần trôi qua một cách vô nghĩa dưới áp lực của việc học hành, của thầy cô, của gia đình.

Chương trình học hiện tại không cho phép học sinh chúng con có quyền sáng tạo. Tất cả bị bó buộc vào những quy luật nhất định và chúng con – những người học sinh bắt buộc phải làm theo chứ không được thay đổi.

Chính bản thân chúng con còn không hiểu mình đang học vì cái gì, vì ai!

Học vì kì vọng của mọi người xung quanh, học vì điểm số, học để qua được một kì kiểm tra ư? Xong rồi sao nữa?

Cuối cùng sau hơn 20 năm học tập miệt mài, căng thẳng chúng con còn phải sống một cuộc đời rất dài và tới lúc đó, chúng con sẽ phải áp dụng những kiến thức đã học được vào cuộc sống.

Nhưng con đã nhiều lần tự hỏi, con có thể sử dụng “Chuyển động tròn đều”, “Chiều tăng giảm của hàm số” hay Vecto trong cuộc đời thật như thế nào?

Chúng con cứ học rồi lại quên, thầy cô thì cứ lao đầu vào giảng, giao bài tập về nhà nhưng họ chưa bao giờ nói cho chúng con nghe ứng dụng của những kiến thức này trong cuộc sống.

Từ một lúc nào đó, mọi người lại đánh giá nhau thông qua những con điểm.

Chì vì những con điểm vô giá trị mà đã đẩy biết bao số phận học sinh vào bước đường cùng, đã khiến cho mối quan hệ giữa cha mẹ – con cái và giáo viên – học sinh trở nên căng thẳng, ngột ngạt.

Cuộc sống của những học sinh giờ đây gần như chỉ xoay quanh HỌC. Chúng con không biết đến khái niệm nghỉ ngơi, thư giãn.

Chúng con gần như không còn hiểu được giá trị của những bữa ăn bên gia đình vì gần như suốt một tuần chúng cháu chỉ gần như học thêm đến khi trời tối mịt.

Người bạn ngồi kế con, bạn ấy học rất giỏi và các thầy cô đều rất yêu quý bạn ấy. Nhưng bạn ấy khổ lắm. Nhà bạn ấy ở Quận 12 và bạn ấy phải đi xe buýt tới Quận 1 để học thêm mỗi ngày.

Từng ngày đi học của bạn ấy bắt đầu từ 5h30 sáng cho tới 11h đêm. Bạn ấy đã kiệt sức rồi, con biết điều đấy. Khuôn mặt bạn phờ phạc, ánh mắt bạn bơ phờ, bạn bị thiếu ngủ và đau dạ dày.

Những người như bạn con không thiếu ngay tại chính TP.HCM này.

Học sinh chúng con sống thờ ơ, lãnh đạm, vô cảm và không có kĩ năng sống. Chúng con không biết phải làm gì nếu có động đất, sóng thần hay gặp một người bị đột quỵ ngay giữa đường.

Người lớn thất vọng vì cách ứng xử của thế hệ trẻ trong khi thế hệ trẻ chúng con lại thất vọng vì đang được giáo dục không có định hướng.

Thưa các bác, là một học sinh, con đã vô cùng xúc động khi nghe chủ trương không dạy thêm. Cái cảm giác vui mừng chợt chạy qua người con khi nghĩ đến cảnh chúng con không còn phải còng lưng ra học bài lúc 11h đêm nữa.

Nhưng hiện thực tàn khốc của việc học đã không cho con được vui mừng lâu.

Trước cảnh mỗi năm đề thi Đại học lại đổi mới một kiểu, trước cảnh cô giáo viên dạy Toán của chúng con quảng cáo về lớp dạy thêm của cô một cách bí mật, con nhận ra mọi chuyện sẽ không hề tốt lên được, sẽ không bao giờ tốt lên được.

Rồi sau tất cả, khi chúng con rời ghế nhà trường, đối diện với cuộc sống thật, chúng con lại lơ ngơ, hoang mang vì hoàn toàn không có những kĩ năng sống cần thiết.

Con cầu xin các bác, các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo: Xin hãy cho chúng con được SỐNG. Xin cho phép chúng con được sống trong những tháng năm tuổi học trò một cách trọn vẹn nhất có thể.

Xin đừng quá kỳ vọng vào tụi con để rồi chính những kì vọng ấy khiến cho mọi người thất vọng. Xin đừng chỉ trích chúng con khi bọn con bị điểm kém.

Xin hãy hiểu rằng mỗi người chỉ có những khả năng nhất định và bọn con không phải là thiên tài.

Cuối cùng, con xin mọi người hãy hiểu: “HỌC SINH CŨNG CHỈ LÀ CON NGƯỜI, KHÔNG PHẢI MÁY MÓC”.

May be an image of text that says 'tuöitre online f THỜI SỰ Nam sinh trường Nguyễn Khuyến viết thư tuyệt mệnh rồi nhảy lầu tự tử 11/04/2018 17:28 GMT+7 TTo Trước khi tự tử, nam học sinh để lại thư tuyệt mệnh với nội dung do áp lực học tập, điểm số và áp lực từ gia đình muốn con mình được học lớp đứng đầu khối.'
You and 163 others
50 Shares
Sad
Sad

 

Comment
Share

Navalny, người chỉ trích Putin có thể ‘chết trong vài ngày tới’? – BBC News Tiếng Việt

 

Các bác sĩ săn sóc cho Alexei Navalny, nhà hoạt động đối lập Nga đang bị giam cầm, nói ông “sẽ chết trong vài ngày tới” nếu không được chăm sóc y tế đứng mức.

Các bác sĩ nói kết quả xét nghiệm máu gần đây cho thấy tim ông có thể bị ngừng đập hoặc bị suy thận bất cứ lúc nào.

Navalny đã tuyệt thực trong 18 ngày, để yêu cầu được điều trị thích hợp cho chứng đau lưng cấp tính và tê chân.

Là một nhà chỉ trích Tổng thống Vladimir Putin nổi tiếng, ông Navalny bị bỏ tù vào tháng Hai vì những cáo buộc tội tham ô cũ.

Bốn bác sĩ, trong đó có Anastasia Vasilyeva, bác sĩ riêng của Nalvalny, đã viết thư cho các quan chức tại nhà tù để xin phép được khám bệnh khẩn cấp cho ông.

  MỘT BÀI HỌC TỪ BIẾN CỐ 30-4-1975 (Nguyễn Gia Kiểng)

May be a black-and-white image of child, standing and outdoors
 

  MỘT BÀI HỌC TỪ BIẾN CỐ 30-4-1975 (Nguyễn Gia Kiểng)

Ông chủ nhiệm báo Việt Luận hỏi tôi chúng ta có thể rút bài học nào từ biến cố 30-4-1975? Câu hỏi thực là khó. Có rất nhiều bài học lịch sử mà chúng ta có thể rút từ cuộc chiến tranh kết thúc ngày 30 tháng 4-1975. Tất cả đều là những bài học lớn cho cuộc vận động dân chủ hiện nay.

Nhưng trước hết xin có vài lời về những bài học lịch sử: phải rất thận trọng và khiêm tốn vì chúng thường sai. Tại sao ? Lịch sử rất quan trọng bởi vì cuộc sống của một quốc gia, cũng như cuộc sống của một người, chủ yếu là thực nghiệm. Tuy vậy chúng ta lại không thể thí nghiệm. Chúng ta không thể thử nghiệm sự sụp đổ hay sự phá sản của một quốc gia. Chúng ta không thể thử nghiệm trên đời sống của một dân tộc để xem cái gì sẽ xảy ra nếu thực hiện chủ nghĩa này hay chính sách nọ, như thế là vô trách nhiệm và cũng có thể là tội ác. Đó là sai lầm to lớn của các chế độ cộng sản. Họ đã đem số phận của các dân tộc để thử nghiệm một chủ nghĩa mà sau này thực tế chứng minh là rất sai.

Lịch sử giúp chúng ta bù lại phần nào sự kiện không thể làm thí nghiệm, một thiếu sót nghiệt ngã trong cố gắng rút ra những kết luận cho tương lai. Cần nhấn mạnh là một phần nào thôi vì các biến cố lịch sử chỉ xảy ra một lần trong khi chúng ta không thể kết luận sau chỉ một lần quan sát. Vả lại các biến cố lịch sử cũng được nhìn và cảm nhận một cách khác nhau ở từng con người tùy góc độ quan sát và kinh nghiệm cá nhân. Như vậy muốn rút ra một bài học lịch sử thì phải cố gắng vượt ra khỏi chính mình để nhìn các biến cố lịch sử dưới nhiều góc khác nhau, so sánh với những biến cố tương tự đã xảy ra trong những điều kiện tương tự tại các nước khác. Và cũng phải phối hợp với những kiến thức mà sự chính xác đã được chứng minh qua thời gian. Rút ra những bài học lịch sử là điều không giản dị chút nào.

Sau sự dè dặt đó và trở lại với câu hỏi được đặt ra, bài học mà tôi chọn để rút ra là một bài học mà đáng lẽ ra chúng ta phải biết mà không cần có biến cố 30 tháng 4-1975 bởi vì nó là một kết luận của tất cả mọi khảo cứu chính trị học, xã hội học và tâm lý học và cũng đã được kinh nghiệm của mọi dân tộc chứng minh. Chúng ta chỉ đã không biết một điều bắt buộc phải biết. Một lý do khác khiến tôi chọn bài học lịch sử này trong rất nhiều bài học lịch sử quan trọng khác là vì, theo nhận xét của tôi, đó là bài học lịch sử mà sau 33 năm chúng ta vẫn chưa hiểu. Đó là đấu tranh chính trị bắt buộc phải có một tư tưởng chính trị và một đội ngũ chính trị. Cuộc chiến vừa qua trước hết là một cuộc đấu tranh chính trị. Nó cũng là lần đầu tiên mà người Việt Nam tàn sát nhau không phải chỉ để tranh giành quyền lực mà còn vì ý thức hệ. Tuyên truyền đã quan trọng hơn các trận đánh, lời nói đã có tác dụng hơn súng đạn.

*

Những năm cuối cùng của tôi ở Paris trước khi về nước cũng là những năm diễn ra hội đàm Paris để giải quyết chiến tranh Việt Nam. Lúc đó tôi lãnh đạo phong trào sinh viên và trí thức Việt Nam ủng hộ chính thể Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Ở cương vị này tôi đã được tiếp xúc thường xuyên và một cách thân mật với các yếu nhân VNCH sang tham gia hoặc quan sát hòa đàm Paris. Nói chung họ là những người hiểu biết nhất về chính trị của chế độ này. Khi về Việt Nam phục vụ, ít lâu sau hiệp định Paris, tôi cũng có điều kiện thuận lợi để tiếp xúc và tìm hiểu môi trường chính trị VNCH. Nhận xét rất rõ rệt của tôi là những người cầm vận mệnh miền Nam lúc đó không biết ngay cả những kiến thức cơ bản nhất của đấu tranh chính trị và cũng không thấy cần phải học hỏi gì cả. Họ không phải là một đội ngũ và trong tuyệt đại đa số không phải là những người đấu tranh chính trị dù họ có thể giữ những vai trò chính trị rất quan trọng.

Họ sống co cụm trong một môi trường nhỏ hẹp cách biệt với quần chúng, đa số chỉ có một hiểu biết rất sơ sài về lịch sử và văn hóa Việt Nam, thậm chí ngôn ngữ Việt Nam. (Điều này không có nghĩa là họ nắm vững văn hóa và ngôn ngữ Pháp hoặc Mỹ). Tất cả đều là những người mà sự may mắn hoặc hoàn cảnh tình cờ đặt vào địa vị lãnh đạo trong một thời gian ngắn, tương tự như những nhân viên tạm thời, và không ý thức được rằng mình không thể là một người lãnh đạo. Làm chính trị đối với họ chỉ là quen biết và giao tế. Họ hãnh diện, có khi huênh hoang, tuyên bố là không thuộc đảng nào và không làm chính trị. Kiến thức chính trị của họ, khi có, chỉ là những kiến thức rất đại cương và một vài bài báo. Không một ai có suy tư chiến lược về sự sống còn của chế độ. Tôi cũng không gặp một người nào thực sự tin tưởng vào dân chủ. Chính quyền VNCH là một chính quyền không có nhân sự chính trị, trong khi đó là lý do hiện hữu và điều kiện tồn tại của mọi quốc gia. Tình trạng này đưa tới những yếu kém khó tưởng tượng.

Hãy thử lấy một thí dụ. Tất cả mọi cấp lãnh đạo, dân sự cũng như quân sự, mà tôi có dịp trao đổi đều phục sát đất phe cộng sản là tổ chức tiếp vận giỏi. Họ nói Mỹ dội bom B52 như thế mà “nó” vẫn vận chuyển được đầy đủ vũ khí và lương thực từ hàng ngàn cây số cho một đạo quân đông tới mấy trăm ngàn người. Sự thực thì đảng cộng sản chỉ tiếp vận vũ khí cho lực lượng của họ ở phía Nam mà thôi; còn lương thực, khó vận chuyển gấp nhiều lần so với vũ khí, thì họ mua ngay tại chỗ và bằng vàng. Miền Nam không có mỏ vàng, cũng không ai đem vàng vào Việt Nam mà chỉ có những người đem vàng ra nước ngoài. Vậy mà miền Nam vẫn có rất nhiều vàng và giá vàng thấp hẳn so với thế giới. Vậy ai đem vàng vào Việt Nam nếu không phải lực lượng cộng sản? Đó là một cách tiếp liệu rất thoải mái. Một kilô vàng có thể nuôi một tiểu đoàn đầy đủ quân số trong một tháng. Liên Xô, nước đỡ đầu cho quân đội cộng sản cũng là nước sản xuất vàng số 1 trên thế giới vượt rất xa các nước khác. Khi tôi lý luận như vậy thì mọi người, hành chính cũng như quân sự, đều thấy là rất có lý. Nhưng họ nghe để biết rồi thôi. Đó không phải là việc của họ, dù họ có thể là tướng lãnh hay bộ trưởng. Họ chỉ như những công chức và chỉ lo công việc của họ. Nếu các chính quyền miền Nam ý thức được điều này và có biện pháp đối phó thì chắc chắn quân đội cộng sản đã rất khốn khổ.

Một thí dụ khác là cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân. Quân cộng sản đồng loạt tấn công trên khắp lãnh thổ nhưng chính quyền Sài Gòn bị bất ngờ hoàn toàn, tổng thống, phó tổng thống, thủ tướng, các bộ trưởng và các tướng tá đang vui tết. Thế giới có lý do để khinh thường chế độ VNCH. Chính tôi lúc đó chỉ là một du học sinh tại Paris mà cũng thấy rất xấu hổ.

Đó chỉ là hai thí dụ trong hàng ngàn thí dụ khác. Sở dĩ có những sơ hở kinh khủng như vậy là vì những kết luận chiến lược, và những biện pháp cụ thể để thực hiện chúng, chỉ có thể có được nếu có một đội ngũ lãnh đạo ổn định, gắn bó và quyết tâm để cùng nhau theo dõi các chuyển động, thu thập và phân tích những dữ kiện và rút ra những kết luận. Nhưng VNCH đã chỉ có một lãnh đạo ô hợp không được sàng lọc, không thành đội ngũ, không gắn bó với nhau và do đó không có quyết tâm chung. Trái với một huyền thoại phe cộng sản tuyên truyền rất dở và tổ chức rất luộm thuộm, tình báo của họ cũng rất kém. Nhưng họ là một đội ngũ chính trị và trước mặt họ không có một đội ngũ chính trị nào.

Không phải là những người lãnh đạo VNCH kém. Nếu xét từng cá nhân thì có rất nhiều người giỏi. Trình độ văn hóa nói chung của họ cao hơn hẳn các cấp lãnh đạo cộng sản. Đại đa số trong đời thường cũng là những người lương thiện. Vấn đề là họ chỉ là những cá nhân, không gắn bó trong một tổ chức. Hậu quả là mỗi người lo lấy mình, là chủ nghĩa luồn lách trong đó mỗi người, hay mỗi nhóm bè bạn nhỏ, cố gắng để khôn hơn những người khác, mỗi người chống tất cả, tất cả chống mỗi người. Trong trò chơi không ai có thể tin ai này người tốt cũng thành gian. Và thực tế đã như thế. Nếu miền Nam có một đảng cầm quyền thì tình thế sẽ rất khác. Những người “không làm chính trị” sẽ chỉ có những trách nhiệm chuyên môn, quyền lực chính trị sẽ ở trong tay một đội ngũ của những người gắn bó với nhau trong một số phận và một quyết tâm chung, lấy dân tộc và đất nước làm lý tưởng, coi sự sống còn của VNCH như cuộc chiến đấu của đời mình. Và họ sẽ có bản lĩnh chính trị cao.

Tổ chức là môi trường hội nhập và là sức mạnh, nhưng cũng là một môi trường học hỏi và đào tạo, là nơi sản xuất và sàng lọc ý kiến. Nó cũng tạo điều kiện cho những quyết định và hành động mạnh bạo. Miền Nam không thiếu những người có thể và muốn là thành phần của một đội ngũ như thế, trong đó có những người đã có thể trở thành những cấp lãnh đạo xuất chúng, nhưng họ không có điều kiện để kết hợp với nhau. Kết quả là mặc dù có một khối lượng khổng lồ những người có tiềm năng, kể cả vô số bằng cấp đại học, với những kinh nghiệm để học hỏi hằng ngày, miền Nam vẫn thiếu nhân tài. Các cấp lãnh đạo tài giỏi chỉ có thể đào tạo được trong sinh hoạt tổ chức.

*

Một đặc điểm của các chính quyền quốc gia là không có đảng cầm quyền. Tình trạng này rất không bình thường vì phản ứng tự nhiên trong sinh hoạt chính trị là phải có chính đảng. Ngay trong những thập niên đầu thế kỷ 20 việc đầu tiên của những người muốn đấu tranh giành độc lập là thành lập các đảng. Tại sao lại có tình trạng này? Đó là do một đặc tính bẩm sinh của chính quyền Quốc Gia Việt Nam, sau đổi thành Việt Nam Cộng Hòa. Chính quyền này không do đấu tranh mà có mà chỉ là một bộ máy thuộc địa do người Pháp để lại, và khi để lại họ chuyển giao quyền hành cho những cộng sự viên thân tín và đắc lực nhất của họ, nghĩa là những người không những không quan tâm tới chính trị mà còn thiếu cả ý thức quốc gia dân tộc. Họ không hề biết đến những vấn đề đặt ra cho một quốc gia và cứ tiếp tục làm việc như thường lệ, kể cả coi những người yêu nước như kẻ thù hay ít nhất như những phần tử phải phòng ngừa. Kết quả là họ ngăn cản sự ra đời và phát triển của các chính đảng.

Mẫu người tốt trong các chính quyền quốc gia là mẫu người không có đảng phái và không quan tâm tới chính trị, có bằng cấp cao là tốt, có cha ông làm quan thời Pháp thuộc lại càng đáng tin cậy hơn. Dần dần hình thành một văn hóa chính quyền kỳ lạ trong đó lớp người cầm quyền không bận tâm tới đất nước. Họ cầm quyền như những quan chức ngoại quốc. Một thí dụ: tất cả các bộ trưởng giáo dục đều cho con cái đi học các trường tiểu học và trung học Pháp thay vì trường Việt mà không hề thấy ngượng. Ngô Đình Diệm không hề thay đổi tình trạng này. Ông là người do Pháp đưa lên cầm quyền để tiếp tục một chính quyền do Pháp để lại. Thái độ chống Pháp bề ngoài của ông chỉ là một sự dàn cảnh. Việc đầu tiên ông làm là truy lùng các đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt. Sau khi người Mỹ lật đổ ông Diệm, họ đưa lên chính quyền những tướng tá chẳng có một văn hóa nào, chưa nói văn hóa chính trị, phần lớn xuất phát từ quân đội Pháp. Trong một chế độ dân chủ, sinh hoạt chính đảng là cốt lõi. VNCH được tổ chức như một nước dân chủ nhưng lại không có sinh hoạt chính đảng.

Không phải là miền Nam không có đảng phái, ít ra trong mười năm cuối hoạt động đảng phái không bị cấm, nhưng mười năm là một thời gian quá ngắn và bối cảnh cũng không thuận lợi. Hơn nữa các đảng phái cũ đều đã quá suy yếu và lỗi thời vì không đổi mới tư tưởng chính trị, trong khi các chính đảng mới cũng không phát triển được vì cùng một lý do: không có tư tưởng chính trị. Một ngộ nhận vẫn còn kéo dài cho đến ngày nay trong phe đối lập là người ta cứ đinh ninh rằng có thể thành lập được một chính đảng mà không cần phải có một chủ thuyết chính trị, nghĩa là những định hướng lớn cho đất nước và các chiến lược để thực hiện chúng trong bối cảnh văn hóa, xã hội và lịch sử của mỗi quốc gia. Một chủ thuyết như vậy chỉ có thể là thành quả của một công trình nghiên cứu và suy tư tập thể lâu dài và nhức nhối. Người ta thấy chỉ cần một “chương trình hành động”, và trong hầu hết mọi trường hợp chương trình hành động không khác bao nhiêu so với một bản danh mục rao hàng.

Những người cầm quyền trong phe quốc gia là những người được đưa lên cầm quyền chứ không phải đã giành được chính quyền. Họ đều không có tổ chức. Sau khi đã cầm quyền họ mới khám phá ra sự cần thiết của một đảng cầm quyền. Ông Nhu lập ra đảng Cần Lao, ông Thiệu lập ra đảng Dân Chủ, nhưng đều thất bại. Các chính đảng đúng nghĩa chỉ có thể thành lập được trong đấu tranh khó khăn cho một lý tưởng. Không ai có thể thành lập được một chính đảng đúng nghĩa sau khi đã có chính quyền. Cả ông Nhu lẫn ông Thiệu đã bỏ rơi các đảng vô tích sự mà họ lập ra – để cầm quyền với anh em, họ hàng và bè bạn – trước khi bị đánh đổ. Trước sau các chính quyền quốc gia vẫn có chung một đặc điểm ít được nhấn mạnh dù có thể là độc nhất trên thế giới: đó là những chính quyền không có đảng cầm quyền.

*

Sự kiện những người không thuộc một chính đảng nào được đưa lên cầm quyền và chọn những người không đảng phái làm bộ trưởng là một một điều quái đản xuất phát từ một tật nguyền bẩm sinh của các chính quyền quốc gia. Nó gây tại họa cho đất nước mà họ cai trị và đem lại thất bại cho chính họ, có khi thất bại bi thảm như trường hợp hai ông Diệm và Nhu. Nhưng với thời gian nó đã tạo ra cả một triết lý và một tập quán hoạt động chính trị: chủ nghĩa nhân sĩ. Đó là cách làm chính trị mà không tham gia một chính đảng nào, chỉ cố tạo uy tín cho mình để được biết đến, kể cả cầu cạnh các thế lực ngoại bang, và hy vọng sẽ có lúc thời vận đưa mình lên nắm chính quyền hoặc sẽ có ngày được mời tham chính. Các nhân sĩ cũng có thể không có bất cứ một hoạt động chính trị và một kiến thức chính trị nào nhưng vẫn mong có ngày được làm bộ trưởng, dân biểu, nghị sĩ. Nếu có một di sản của chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà ta phải vứt bỏ một cách không nể nang thì chính là cái chủ nghĩa nhân sĩ này. Tiếc rằng chủ nghĩa nhân sĩ đã ăn rễ quá sâu. Có những người theo chủ nghĩa nhân sĩ mà không ý thức được. Rất nhiều người, trong cũng như ngoài nước, có học thức, có lòng với đất nước, có thiện chí, suy nghĩ lành mạnh và cũng rất muốn dấn thân nhưng không hề thấy nhu cầu phải tham gia một tổ chức chính trị nào cả.

Chủ nghĩa nhân sĩ vẫn còn tiếp tục cho đến nay trong môi trường Việt Nam hải ngoại và là lý do chính giải thích tại sao sau 33 năm chúng ta vẫn chưa có được một tổ chức dân chủ mạnh. Ngoài di sản VNCH cũng còn một lý do quan trọng khác. Đó là sự thiếu văn hóa tổ chức mà những người dân chủ trong nước cũng chia sẻ do hậu quả của một chế độ chuyên chính trong đó mọi kết hợp bị cấm đoán. Nhiều người cũng đã cố gắng thành lập tổ chức (đã có lúc người ta than phiền là có quá nhiều tổ chức chính trị) nhưng rồi đều khám phá ra những khó khăn không ngờ nên hầu như tất cả đều bỏ cuộc và triệt thoái trở lại tập quán nhân sĩ. Thực ra những khó khăn này chỉ không ngờ bởi vì chúng ta thiếu văn hóa chính trị và văn hóa tổ chức mà thôi, chúng chỉ là những vấn đề cổ điển của mọi tổ chức chính trị, hay chính đảng, đã được nghiên cứu kỹ và được trình bày trong nhiều tác phẩm. Thành lập một tổ chức chính trị có bao giờ dễ dàng đâu !

Phân tích các chính đảng không phải là mục đích của bài này. Chỉ xin tóm lược: đấu tranh chính trị bắt buộc phải có một tổ chức mạnh mới có hy vọng thành công; một chính đảng bắt buộc phải được xây dựng trên một tư tưởng chính trị và phải bắt đầu bằng một đội ngũ nòng cốt gắn bó và có bản lĩnh; trong những điều kiện lý tưởng nhất xây dựng một chính đảng cũng đòi hỏi ít nhất một hai thập niên. Xây dựng một chính đảng rất khó nhưng là điều kiện bắt buộc, nếu không thì hoạt động chính trị chỉ là vô ích, có thể còn có hại.

Theo tôi đó là bài học quan trọng nhất cần được rút ra từ biến cố 30 tháng 4-1975, một bài học mà đáng lẽ chúng ta đã phải biết mà không cần có biến cố này vì đó chỉ là một kiến thức cơ bản phải có ngay trong phản xạ của những người hoạt động chính trị. Ngày 30 tháng 4 đã chỉ nhắc lại sự thực hiển nhiên này, một cách rất tàn nhẫn. Những nạn nhân oan ức nhất chính là những quân nhân, công chức và cán bộ của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Trong đại đa số họ là những người yêu nước, dũng cảm và đầy khả năng, một số đông đảo có tiềm năng lớn. Nỗi oan nghiệt của họ là đã không có được một lãnh đạo đúng nghĩa. Họ không đáng phải chịu số phận mà ngày 30-4-1975 đã dành cho họ.

Cũng xin được chia sẻ một bài học cá nhân bởi vì nó cũng là một bài học nhỏ trong bài học lớn này. Cho tới ngày 30-4-1975 tôi là một viên chức khá cao cấp của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Tôi đã chứng kiến đoàn quân cộng sản chiến thắng tràn vào Sài Gòn. Sự hân hoan và hãnh diện của họ chỉ có thể so sánh được với thất vọng và tủi nhục của tôi. Tôi nghe như có tiếng nói từ trong lòng mình: “thà làm lính trong một đạo quân chiến thắng còn hơn làm tướng trong một đạo quân chiến bại”. Tôi vẫn hiểu và hành động như thế, nhưng lúc đó tôi hiểu một cách thấm thía lạ lùng. Hình như vẫn còn rất nhiều người chưa hiểu như thế, thậm chí còn nghĩ ngược lại.

*

Chế độ Việt Nam Cộng Hòa, nếu kể cả tiền thân của nó là Quốc Gia Việt Nam của Bảo Đại, cũng đã chỉ tồn tại được 27 năm và đã sụp đổ từ 33 năm rồi. Trong suốt cuộc sống ngắn ngủi đó, dù đã có rất nhiều người yêu nước và dũng cảm bỏ mình dưới lá cờ của nó, nó chưa bao giờ là một nhà nước Việt Nam đúng nghĩa. Nó do Pháp lập ra và cáo chung khi bị Mỹ bỏ rơi. Nó chưa bao giờ kiểm soát được cả lãnh thổ Việt Nam và cũng chưa bao giờ có được một lãnh đạo đúng nghĩa. Nó cũng là một chế độ rất tham nhũng, dù không tham nhũng bằng chế độ cộng sản hiện nay. Những người dân chủ và yêu nước không có lý do gì để thương tiếc chế độ này, càng không có lý do để lấy nó làm biểu tượng của cuộc đấu tranh vì dân chủ. Trong một giai đoạn, từ 1948 đến 1975, nó đã là một chọn lựa bất đắc dĩ để ngăn chặn sự thiết lập một chế độ cộng sản tại Việt Nam. Đó là một hợp đồng. Hợp đồng đó là tạm thời chịu đựng cái tồi dở để ngăn chặn cái độc hại. Nhưng cái tồi dở đã quá tồi dở và chúng ta đã không ngăn chặn được cái độc hại. Như vậy hợp đồng VNCH đã hoàn toàn chấm dứt. Cuộc vận động dân chủ hiện này là một cuộc đấu tranh hoàn toàn khác. Rút ra những bài học từ kinh nghiệm VNCH chỉ có ý nghĩa nếu có ích cho cuộc đấu tranh mới này. Bài học mà tôi đã chọn vẫn còn rất thời sự. Đáng buồn.

Nguyễn Gia Kiểng (30-4-2008)

TÂM TƯ C ỦA NGƯỜI GIÀ LẺ BÓNG

TÂM TƯ C ỦA NGƯỜI GIÀ LẺ BÓNG

Tuổi già lẻ bóng, cô đơn và khát khao tìm tri kỷ và cảm giác cô đơn, trống rỗng khi bạn đời ‘ra đi’…

“Tôi là một phụ nữ ngoài 60 tuổi, chồng qua đời 10 năm, lẻ loi, không có tài sản, có Medical, không bị các bệnh truyền nhiễm, tự chăm sóc bản thân được, biết lái xe, muốn tìm nơi nương tựa cuối đời. Xin liên lạc về email…”.

Thế nhưng, đọc thêm một lần, rồi một lần nữa, có thể nghe ra được nỗi gì cô độc đến não nề. Ngồi xuống nghe tâm tư của những người gần bước đến tuổi 70 hoặc hơn nữa, cả đàn ông lẫn phụ nữ, những người hiện đang lẻ bóng, bởi người phối ngẫu qua đời hoặc ly dị đã lâu, chợt hiểu thêm thật nhiều về nỗi cô đơn cũng như khao khát tìm được người bạn tâm giao, tri kỷ để tìm vui, để nương tựa trong những năm tháng cuối, ray rứt và da diết đến mức nào.

Cảm giác cô đơn, trống rỗng

Một nghiên cứu theo dõi hơn 2,000 người trên 50 tuổi trong vòng 6 năm và kết quả nhận được cho thấy nỗi cô đơn làm nguy cơ tử vong tăng lên gấp 2 lần và có nguy cơ chết sớm cao hơn 14% so với người không cô đơn.

Một nghiên cứu khác lại cho thấy 43.2% trong số 1,600 người trên 70 tuổi cho rằng họ cảm thấy cô đơn và thường thiếu bạn tâm giao. Một nửa trong số những người tham gia khảo sát nói nỗi cô đơn của họ càng hiển hiện rõ hơn vào cuối tuần và ba phần tư trong số đó phải chịu đựng nỗi cô độc khi đêm về.

Bà Mai Phương, 69 tuổi, hiện sống một mình ở Anaheim cũng là người mang trong lòng nỗi trống trải, cô đơn kể từ khi chồng qua đời cách đây hơn 2 năm. Nhìn cách bà đi làm, tham gia những sinh hoạt hội nhóm, bạn bè, khó ai có thể nghĩ được trong bà lại có một góc cô đơn hun hút đến vậy.

“Thời gian ổng mới mất, trong tôi hoàn toàn trống rỗng.” Bà bắt đầu câu chuyện bằng giọng nói buồn và nhẹ hơn bình thường. Không còn những đêm mất ngủ vì lo lắng cho bệnh tật của chồng. Không còn những thấp thỏm mỗi khi đưa ông vào bệnh viện.

Không còn phải suy nghĩ đến chuyện lo hôm nay nấu món gì, ngày mai đổi món nào. Nhưng lấp đầy cho những cái “không còn” đó lại là một khoảng trống đến rợn người.

“Tôi không dám ở nhà một mình, tôi cứ bám víu vào thằng con út khi đó còn ở chung nhà. Nó đi đâu tôi theo đó, nó đi ăn sushi ở hướng Nam, tôi đi theo hướng Nam. Nó lái xe ngược hướng Bắc đi uống boba, tôi cũng ngồi xe theo hướng Bắc. Có lúc ngồi trong xe cũng chỉ ngủ gà ngủ gật nhưng mà vẫn cứ leo lên xe con mỗi khi nhìn thấy nó đi đâu, cho dù nó có muốn hay không muốn mang mình theo.” Người đàn bà có đôi môi luôn cười nhưng ánh mắt lại rười rượi, nhớ lại.

Bà biết con bà không thích như thế. Bà biết bà không nên bám theo con như thế. “Nhưng mà… biết làm sao.” Bà Phương cười buồn. Người phụ nữ có gương mặt phúc hậu này chậm rãi nói tiếp, “Tôi thấy rõ ràng mình mất một chỗ tựa, như thiếu một cây gậy để chống mà đi kể từ lúc ổng mất. Cô đơn lắm!”

Nỗi cô đơn, trống vắng không chỉ ở chỗ thiếu đi một bóng hình, một người hằng ngày ra vào mình trông thấy, nhìn thấy, chuyện trò, mà ngay cả, như bà Phương tâm sự, nhìn những hàng cây khô héo, nhìn bụi vương trong nhà, lại chợt nhớ ra có người đã từng làm thay mình những việc như thế. Đó là chưa kể những lúc ngồi lần hồi giải quyết từng cái hóa đơn điện, nước, gas, rác… lại nhớ bao lâu rồi mình không phải làm những việc này.

“Nhiều lúc đang ở sở làm mà nỗi buồn cũng ập đến, tôi phải đi vào trong restroom đứng khóc một mình,” bà kể. Với bà Kim Lan, 70 tuổi, chồng qua đời đã 16 năm, khi bà mới 52 tuổi, thì nỗi cô đơn, trống trải càng về những năm sau này càng mãnh liệt hơn so với thời gian đầu khi người bạn đời của bà ra đi, bởi “khi đó tôi không có thời gian và tinh thần để nghĩ đến nó. Tôi phải bận rộn trong việc đi làm hai ‘job’ để kiếm tiền nuôi con, trả tiền nhà.”

Mặc dù không nhận ra nỗi trống vắng, cô đơn vào thời gian ấy, nhưng bà Kim Lan lại gần như bị rơi vào tình trạng “trầm cảm.” Bà nhớ lại, “Tôi đi làm gần như câm lặng, chỉ có hai câu ‘Hi’ khi đến và ‘Bye’ khi về. Trong lòng lúc nào cũng như buồn bực, ray rứt.”. “Tôi cảm thấy như tôi giận chồng tôi rất nhiều. Bởi vì chúng tôi đều thích sống ở miền quê, cả hai hẹn nhau khi nào con ra trường thì sẽ tìm nơi vắng vẻ, thanh tịnh để ở. Vậy mà chưa chi ổng đã bỏ tôi ra đi. Tôi cứ cố nghĩ đến những tính xấu của ông để mà giận thêm. Và tôi trút sự tức giận đó lên các con tôi, như một người điên sẵn sàng la hét cho dù chỉ là một điều nhỏ nhặt.” Bà Lan tiếp tục kể bằng giọng tâm tình khi đêm xuống mỗi lúc một sậm màu hơn.

Rồi thì thời gian đó cũng qua khi bà được bạn bè rủ đi tập Taichi, nghe tiếng người ta trò chuyện, nhìn người ta cười giỡn với nhau, bà Lan tìm lại được nụ cười và tiếng nói của chính mình. Về hưu ở tuổi 63, bà Lan lại tiếp tục giúp con nuôi cháu. Những niềm vui giản dị này không cho bà có thời gian buồn, sự bận rộn với các cháu khiến bà không thấy lẻ loi.

Tuy nhiên, khi các cháu lớn dần, bà ngoại không còn là người để chúng gần gũi, quyến luyến, và như một lẽ thường tình “càng về già càng thấy hụt hẫng,” bà Lan cảm nhận. “Nhiều lúc thấy mình bơ vơ, trống vắng, hay có cảm tưởng như mình bị bỏ rơi. Những lúc đau ốm, yếu trong người là lúc cảm thấy cô độc nhất, sợ hãi nhất. Bạn bè đến thăm thì vui, nhưng họ bước chân ra về là mình thấy chơi vơi.” Người phụ nữ có giọng nói của người Hà Nội xưa nói như trải lòng.

Cảm giác lẻ loi, trống trải đến nao lòng đó không chỉ là cảm nhận của riêng phụ nữ mà đàn ông vẫn không làm sao thoát được những lúc nỗi cô đơn ùa đến, bủa vây. “Một sự trống vắng lạ lùng lắm, cứ như mình bị rớt vào khoảng không nào đó, chới với” là điều mà ông Vương Văn Chương cảm nhận được từ khi vợ ông qua đời, cách đây “3 năm 9 tháng.”

Ông Chương năm nay 72 tuổi, hiện ở Garden Grove, sống cùng con cháu kể từ khi vợ mất, bởi “sống trong ngôi nhà cũ, nhìn đâu cũng thấy bóng hình vợ tôi, buồn lắm, chịu không được.”. Ông Chương kể, “Vợ tôi đi làm suốt 29 năm, khi vừa về hưu được hai tháng, đang lên kế hoạch đi du lịch đây đó thì phát hiện bị ung thư bao tử giai đoạn cuối. Năm tháng sau thì vợ tôi mất.”

Sự ra đi của người bạn đời đã đồng hành cùng ông suốt 42 năm, người cùng ông trải qua chuyến vượt biển thập tử nhất sinh vào năm 1977 với 27 ngày trôi trên biển cho đến khi được tàu cứu vớt, rồi sang Mỹ vui buồn, sướng khổ có nhau, để lại trong lòng người đàn ông này một khoảng trống mênh mông.

Ông Chương dọn về ở với gia đình con trai, như một sự trốn chạy những kỷ niệm, dù vậy, ông vẫn cảm thấy “rất cô đơn, nhất là khi đêm về, lúc con cháu đi vắng, tất cả đều im ắng.”

“Đó là nỗi cô đơn của sự thiếu một vòng tay, một giọng nói, một cái hôn, mà ở người đàn ông thì họ lại thích có những cái vuốt ve mơn trớn, giờ thiếu hết tất cả. Thiếu nhiều lắm, một sự trống vắng lạ lùng lắm, cứ như mình bị rớt vào khoảng không nào đó, chới với.” Ông Chương mô tả.

Trong cuốn “Loneliness (Nỗi cô đơn)”, ông John Cacioppo, nhà tâm thần học của trường Đại Học Chicago, nói rằng, “Nỗi đau của sự cô đơn cũng giống như nỗi đau thể xác vậy.”. Nghiên cứu của trường Đại học UC San Francisco cũng đưa đến những ngạc nhiên bất ngờ khi biết rằng không chỉ ở một mình người ta mới thấy cô đơn.

Trong số 43% người già cho rằng mình cô đơn thì chỉ có 18% sống một mình.

Với người lớn tuổi, cảm giác lẻ loi có thể hủy hoại tinh thần, sức khỏe nhiều gấp đôi so với chứng bệnh béo phì. Chính vì điều này mà người già lẻ bóng vẫn luôn khao khát tìm được một người bạn tâm giao, tri kỷ để nương tựa khi tuổi về chiều.

 Người & Đất Sài Gòn

 Người & Đất Sài Gòn

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến (Danlambao) – Tôi sinh ra ở Sài Gòn, nơi vẫn được mệnh danh là Hòn Ngọc Viễn Ðông. Chỉ tiếc có điều là ngay tại chỗ tôi mở mắt chào đời (Xóm Chiếu, Khánh Hội) thì lại không được danh giá hay ngọc ngà gì cho lắm. Đây thường là nơi ngụ cư của những tay anh chị, những cô gái ăn sương, những đứa trẻ bụi đời, những phu phen bốc vác ở kho Năm, hay đám “đào kép cải lương say tứ chiếng” – theo như lời của nhà thơ Cao Đông Khánh:

sàigòn, chợ lớn như mưa chớp

nát cả trùng dương một khắc thôi

chim én bay ngang về xóm chiếu

nước ròng ngọt át giọng hàng rong

hỡi ơi con bạn hàng xuôi ngược

trái cây quốc cấm giấu trong lòng

hỏi thăm cho biết đường ra biển

nước lớn khi nào tới cửa sông

sàigòn khánh hội gió trai lơ

khi ấy còn tơ gái núi về

đào kép cải lương say tứ chiếng

ngã tư quốc tế đứng xàng xê

Dù “xàng xê” và “cải lương” tới bến nhưng khi “cách mạng về” là dân Khánh Hội đều “hết say tứ chiến” cấp kỳ. Tui, tất nhiên, cũng tỉnh táo liền. Tỉnh rồi mới bắt đầu hớt hải “hỏi thăm cho biết đường ra biển,” và cuống quýt đâm xầm vào giữa đại dương, bỏ lại S.G – như cắn răng cắt bỏ một phần thân thể của chính mình.

Tuy thoát thân nhưng không ít đêm, những đêm khó ngủ, tôi vẫn lò dò trở về chốn cũ. Có khi, tôi đứng ngẩn ngơ nhìn chiếc bong bóng vừa mua đã (lỡ) tuột khỏi tay – lơ lửng bay giữa những hàng cây, vào một buổi chiều Sài Gòn vừa tắt nắng – mà muốn ứa nước mắt vì tiếc và buồn.

Cũng có khi tôi ngồi trước một xe bán bò viên, chăm chăm nhìn thùng nước lèo vừa mở nắp, và tưởng chừng như không gian (của cả Sài Gòn hoa lệ) bỗng ngạt ngào hương vị. Chút nước thánh này – sau khi đã nhai thiệt chậm miếng thịt pha gân vừa ròn, vừa ngậy – hoà nhẹ với chút xíu tương đỏ, tương đen, cùng ớt xa tế ngọt ngọt cay cay làm cho thằng bé xuýt xoa … cho đến lúc cuối đời.

Nhiều khi, tôi ngồi chò hỏ trước nhà (mặt buồn thiu) vì không được bố mẹ nhẹ nhàng đặt vào tay năm cắc hay tờ giấy bạc một đồng – như thường lệ. Chỉ cần năm cắc thôi là đủ khiến chú Chệt vội vã ngừng xe, mở ngay nắp bình móp, lấy miếng kem đầy đặn – xắn một phần vuông vắn, cắm phập vào que tre – trịnh trọng trao hàng với nụ cười hiền lành và tươi tắn. Cắn một miếng ngập răng, đậu xanh ngọt bùi, thấm lạnh dần qua miệng lưỡi, rồi tan từ từ… suốt cả thời thơ ấu.

Năm cắc là giá của nửa ổ bánh mì tai heo, nửa má xoài tượng, một xâu tầm ruột ướp nước đường, một cuốn bò bía, một trái bắp vườn, một ly đậu xanh đậu đỏ bánh lọt, một dĩa gỏi đu đủ bò khô, một khúc mía hấp, năm cái bánh bò nước dừa xanh đỏ, hay mười viên cái bi ròn ròn cái bi ngon ngon nho nhỏ…

Một một đồng thì (ôi thôi) là cả bầu một trời, và một thời, hạnh phúc! Một đồng mới mua được quả bóng bay. Chiều Sài Gòn mà không có bong bóng (cầm tay) để tung tăng e sẽ là một buổi chiều… tẻ nhạt. Những chùm bóng đủ mầu sẽ rực rỡ hơn khi phố đã lên đèn, và sẽ rực rỡ mãi trong trong ký ức của một kẻ tha hương – cho mãi đến khi tóc đã điểm sương.

Dù một trời, và một thời, hạnh phúc xa xưa đã vuột khỏi tay – như quả bóng bay, không may, chiều nào, vào thưở ấu thời – tôi vẫn “sẵn sàng” nổi nóng nếu ai vô ý đặt chân đến cái phần thiên đường đã mất của mình.

Có bữa, bên bàn nhậu, Lê Diễn Đức bỗng nói khơi khơi:

– Tôi là dân Sài Gòn mà.

Tôi trợn trừng mắt:

– Đừng có nói giỡn cha!

– Thiệt mà, tôi sống ở Sài Gòn gần hai chục năm chớ đâu phải ít.

Tới lúc đó tôi mới chợt nhớ ra là mình đã bỏ đi từ quá lâu rồi, còn tư cách gì để mà giữ S.G (mãi mãi) nữa nên đành xuôi xị:

– Bộ lâu dữ vậy sao?

Sau Lê Diễn Đức, tôi còn biết thêm nhiều nhân vật khác, cũng đã chọn S.G làm quê hương chỉ vì nó quá… dễ thương – theo mắt nhìn của họ:

– Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh: “Một đêm, chạy xe máy về nhà (ông cậu), tới ngã tư đèn đỏ, ngó hai bên đường vắng hoe, hắn rồ ga tính vọt thẳng. Bất ngờ nghe bên tai tiếng thắng xe cái rẹc, liếc qua thấy ông lão với chiếc xích lô trống không.

Quê quá, phải dừng theo! Nhiều năm sau, ở Hà Nội, những ngã tư đông đúc như Tràng Tiền-Hàng Bài, ngoài một chú cảnh sát đứng bục, thường phải thêm có 4 chú cầm gậy chặn bốn phía, lùa, đuổi mà cũng không xuể.

Lên xe bus, xe đò trong Nam luôn cho hắn những cảm giác thích thú để quan sát. Đủ các hạng người, mà sao không chen lấn, cãi vã. Khách nhường ghế cho nhau, thăm hỏi, chỉ đường tận tình (những thứ mà cho đến hôm nay, trên xe bus Hà Nội, người ta phải ghi lên tấm biển to đùng, thành “Nội quy”). Lơ xe lăng xăng xách, buộc chằng đồ cẩn thận cho khách, nhảy lên mui, đeo bên thành xe la nhắc người dưới đường cẩn thận.”

– Nguyễn Quang Lập: “Kì nghỉ hè năm sau, tháng 8 năm 1976, tôi mới được vào Sài Gòn… Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy giành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời.

Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lí…

Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Captain, tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính.

Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt.”

Tôi cũng “sửng sốt” không kém khi nhìn thấy bức hình của một người S.G (nữa) giữa phố Nguyễn Huệ – vào chiều chủ nhật, 15 tháng 5 năm 2016 vừa qua – trên trang RFA:

Bức ảnh người đàn ông toạ kháng một mình trên phố đi bộ Nguyễn Huệ chiều 15 tháng 5 được chụp bởi một người chơi ảnh tên Bùi Dzũ nhanh chóng được lan truyền rộng rãi trên các trang mạng xã hội. Không lâu sau đó, cư dân mạng biết tìm ra đó chính là nhà báo/blogger Huỳnh Ngọc Chênh, người đã phát động phong trào toạ kháng để đòi sự minh bạch về thảm hoạ môi trường. Tấm ảnh được chính người chụp gọi tên là “Người đàn ông cô đơn”.

Tôi không biết rõ Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Quang Lập, Huỳnh Ngọc Chênh… nguyên quán nơi đâu nhưng biết chắc là họ đã sống hết lòng (qua từng hơi thở, từng dòng chữ, từng bước chân) để cố giữ lại được cho S.G – phần nào – nhân phẩm và đạo lý.

Bao giờ mà ở những góc đường vẫn có những bình trà đá, những thùng bánh mì, những quán cơm, những nơi vá xe (miễn phí) và bao giờ mà vẫn còn qúi vị thức giả sẵn sàng đối diện với cường quyền thì S.G vẫn chưa thể mất. Tôi không mất S.G đâu nhưng thành phố này đã mất tôi, và mất tự lâu rồi. Cái thứ đồ bỏ chạy (mất dép) trong cơn quốc biến, và cúi mặt đi luôn như tôi thì dù có mất luôn (phỏng) có gì đáng để bận tâm.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

danlambaovn.blogspot.com

THIÊN NHIÊN MINH CHỨNG: CÓ SỐNG LẠI

QUÀ TẶNG TIN MỪNG:

Chúa Nhật thứ 3 Phục Sinh

THIÊN NHIÊN MINH CHỨNG: CÓ SỐNG LẠI

Lm Anphong Nguyễn Công Minh,

Dòng Anh Em Hèn Mọn Việt Nam.

 Kính mời xem video tại đây:

https://bit.ly/3glny0X

 Khi một người đi du lịch ở nước ngoài về, họ kể cho chúng ta nghe tháp Eiffel cao thế nào, sắt sơn màu gì, dòng sông Seine nước chảy ra sao. Chúng ta tin có như vậy. Đó là tin bởi nghe. Rồi khi họ cho ta xem những tấm hình kỷ niệm họ đứng bên bảo tàng viện Louvre. Ta càng tin họ hơn về những gì đã nghe. Đó là tin bởi thấy. Tin bởi thấy (bằng mắt) thì dễ hơn tin bởi nghe (bằng tai). Trăm nghe không bằng một thấy.

Thường thì cho nghe trước, xem sau. Trình tự này cũng giống như bài Tin Mừng hôm nay.

Khởi đầu: 2 môn đệ đi Emmau về thuật lại họ đã gặp Chúa như thế nào lúc đi đường và bẻ bánh. Mọi người bàn tán. Đó là tin bởi nghe. Rồi Chúa hiện ra,  Ngài đưa tay chân (có vết thương) cho họ xem. Và đó là tin bởi thấy.

Các Tông đồ tin bởi thấy, nhưng truyền lại cho chúng ta thì chỉ bằng lời. Vì thế chúng ta chỉ còn một cách để tin: Tin bởi nghe. Các Tông đồ không có máy ảnh,  để ghi lại một bức hình khi Chúa hiện ra. Không có video để quay cảnh Chúa giơ tay chân, ăn bánh trước mặt các Tông đồ như thế nào. Iphone di động càng không có. Vì thế chúng ta không có cơ hội tin bởi thấy, mà hoàn toàn tin bởi nghe.

Nhưng không phải cứ nghe gì là tin cái đó. Không phải cứ thấy cái gì là tin liền ngay. Một con người chưa bước ra khỏi nhà mà ba hoa nói về những chuyện ở tận bên Tây bên Tàu, ta nghe đó nhưng đâu có tin.

Một con người đưa tấm hình rõ ràng họ chụp đứng trên toà nhà chọc trời Nữu Ước. Ta thấy đó – nhưng đâu có tin, nhất là gần đây, nhìn những Album, có cảnh cô dâu chú rể chui vào ly rượu, chui vào TV, chụp hình, ta thấy đó, nhưng đâu có tin thật như vậy. Vì ta biết rõ, chẳng qua là ghép hình, là photoshop.

Vậy từ nghe đến tin và từ thấy đến tin còn cần đến bộ óc phán đoán, nhận xét. Đó mới là cái chính. (ở đây, chúng ta tạm thời không bàn tới tin là ơn nhưng không Chúa ban).

Vậy nếu chúng ta, những kể hậu sinh của các Tông đồ, chúng ta chỉ được nghe mà không được thấy về Chúa sống lại, thì điều đó cũng không thiệt hại gì cho chúng ta, vì chúng ta còn bộ óc để suy xét nữa, và bộ óc sẽ cho chúng ta thấy nhiều khi cả những điều mà các Tông đồ thời xưa không thấy.

Nếu thiên nhiên mặc khải có Thiên Chúa, (như nhìn thiên nhiên, vũ trụ với trật tự lạ lùng, liền biết có Chúa là Đấng tạo thành), thì thiên nhiên cũng mặc khải – cho ta thấy- có sự sống lại. Ta sẽ điểm 4 hình ảnh thiên nhiên cũng minh chứng sự sống lại:

  1. Hạt lúa:nếu phơi khô – ướp lạnh – cất kỹ – vẫn là hạt lúa. Nhưng nếu ngâm nước, chôn dưới đất, sinh ra cây lúa.

Hình ảnh này chính Chúa đã dùng . Và thánh Phaolô đã nói tới khi trả lời cho dân Corinto. Họ hỏi Phaolô khi sống lại, lấy xác nào mà trở về ? Phaolô đã trả lời– Bạn gieo vật gì thì vật ấy phải chết đi mới sống lại được chứ. Vật bạn gieo không phải là thân cây tương lai, song chỉ là hạt. Từ hạt, Chúa làm nảy nở cây riêng biệt. Đó là hình ảnh kỳ diệu – cho chúng ta hiểu được phần nào việc sống lại – việc đi từ thế giới này chuyển qua thế giới bên kia.

  1. Con bướm:khi nhìn một con bướm ngày đẹp đẽ, có ai lại nghĩ rằng nó thoát xác từ một con sâu róm lông lá xấu xí, phải bò chui dưới lá cây đất đá. Sâu nào ra bướm đó. Có cái liên tục và có cái cách quãng. Nhìn vào đây, chúng ta có thể suy ra: từ thân xác hay chết, thuộc về cát bụi, sẽ trở thành thân xác vinh quang thuộc thần thiêng, đi từ trạng thái này sang trạng thái khác.
  2. Bảo tồn xác:Tại sao phải chôn cất con người đàng hoàng? Tại sao khi con người chết, khác hẳn với con vật. Tôn trọng, thì người ta làm lăng tẩm để giữ xác, hoặc chôn cất với quan tài gỗ quí để giữ xác được lâu; hoặc nữa, có hoả thiêu cũng giữ lại tro cốt. Tất  cả sự quí trọng đối với thân xác đó như muốn cho ta thấy, cho ta hiểu xác loài người sẽ có một ngày trở nên như thế nào đó chứ chẳng lẽ chết là hết?Đức tin Kitô giáo gọi là sống lại.
  3. Vật quí giá:Hình ảnh này tôi học được nơi một linh mục trong Dòng, nay đã chết. Điều chúng ta tưởng khó tin nhất là xác loài người sống lại, lại không khó tin lắm theo lý luận này.Trong một bữa ăn, linh mục này nói, chứng minh xác sống lại dễ lắm. Và cha lý luận: Nếu chúng ta có 1 radio cổ lỗ sĩ, dùng đèn, ta bỏ đi cũng không tiếc, nhưng nếu ta có Tivi video, đa hệ, tự động tối tân, ta bỏ đi ta có tiếc không? Nếu ta có máy vi tính thông minh, ta vất đi, ta có tiếc không. Thân xác chúng ta còn giá trị, qúi báu  gấp bội cái đầu video, cái máy vi tính cực kỳ tối tân. Đầu óc, con tim, cánh tay… bất cứ cái gì cũng vô giá. Đến nỗi lúc tạo dựng xong con người, Chúa nói “tốt quá sức”. Vậy lẽ nào Chúa lại để cho cái tốt đẹp quá sức đó phải hư nát?

Ngay cả khi thân xác ta già nua, bệnh hoạn, tật nguyền, thì thân xác đó vẫn mang hình ảnh của Chúa: Nào Ta dựng nên con người giống hình ảnh Ta. Làm sao Chúa Tạo Hoá lại để nó hư nát được?

Thánh Phêrô trong bài giảng chứng minh Chúa Giêsu sống lại, đã dùng đến Tv 15: “Chúa sẽ không để mạng tôi chôn vùi trong âm phủ”. Vậy là ta đã thử dùng 4 hình ảnh thiên nhiên cung cấp để minh chứng có sự sống lại của thân xác là: Hạt lúa, con bướm, tôn trọng xác người, và vật thể quí giá.

Tin Chúa Giêsu chết và sống lại thì dễ hơn là tin chúng ta sẽ sống lại. Ngài là Chúa, Ngài sống lại cũng dễ thôi, cũng như chúng ta dễ dàng tin Tổng Thống quyền lực vô song, Vua kia giàu có … nhưng từ cái giàu có, quyền lực của Tổng Thống, của vua kia mà chúng ta cũng được lây hưởng, đó mới là điều khó. Thì, Đức Kitô chết và sống lại, có mục tiêu là để chúng ta cũng được sống lại như Ngài. Đó chính là TIN MỪNG. Đúng là tin vui mừng thật.

Khi con người đón nhận cái Tin Mừng đó, thì cơ may không còn hiểm nghèo nữa, hy sinh không còn khó chịu nữa, già lão không phải là thảm hoạ, cuộc sống không là ngục tù và cái chết không phải là tử thù.

Xin cho mọi người Kitô hữu biết sống trọn Tin Mừng này bằng cách luôn hát Alleluia trong mọi lúc, luôn biết qúi trọng thân xác mình và tha nhân vì một ngày kia xác loài người sẽ sống lại.

Lm Anphong Nguyễn Công Minh, ofm

Hẹn gặp lại