Chúng ta càng cảm tạ Thiên Chúa về những gì Ngài đã làm cho chúng ta thì chúng ta càng có điều kiện để nhận được nhiều phúc lành hơn nữa.
Adolfo Affatato là một trong những người con tinh thần cuối cùng còn sống của Thánh Padre Pio (Pio Năm Dấu). Ở tuổi 82, ông vẫn tiếp tục nói và viết về Thánh Pio. Phần dưới đây được phỏng tạo theo cuốn “Thánh Padre Pio và Tôi” của ông.
Adolfo thường nói rằng lòng biết ơn rất quan trọng đối với Thánh Padre Pio. Một buổi tối, Adolfo hỏi ngài rằng liệu Chúa có tha thứ mọi tội lỗi hay không. Ngài trả lời: “Này con trai, Thiên Chúa là Cha nhân lành, và Ngài đã tha thứ cho mọi người. Tuy nhiên, có một tội mà Ngài khó tha thứ, đó là SỰ VÔ ƠN của con người.” Rồi ngài nói thêm: “Nhưng Thiên Chúa biết cách chờ đợi.”
Ở đây nổi lên một trong những sứ mệnh được Chúa giao cho Thánh Padre Pio: đưa những con chiên lạc trở lại bầy. Một hôm, Adolfo đi cùng với một chính trị gia đến thăm cha Pio. Họ gặp nhau tại ga xe lửa ở Foggia.
Trong bữa ăn trưa, người bạn mới đã nói theo cách khiến Adolfo đầy phỏng đoán. Ông ấy cảm thấy có thể làm bất cứ điều gì mình muốn. Ông ấy tiếp tục nói rằng trong đời mình, ông ấy đã ba lần thề nguyện, nhưng lần nào cũng thất bại. Khi nghe nói về cha Pio, ông ấy muốn gặp vị thánh dòng Capuchin và theo hướng dẫn ngài.
Khi họ đến nhà ga ở San Giovanni Rotondo, Adolfo và chính trị gia lên lầu đợi cha Pio. Khi đi xuống để giải tội cho họ, cha Pio nói theo thói quen như vẫn nói với các tu sĩ trong dòng: “Hãy chúc tụng Chúa Giêsu Kitô.” Quay sang Adolfo, ngài nói: “Hôm nay anh là ai?” Adolfo trả lời: “Thưa cha, những người này muốn cha phúc lành.”
Thánh Padre Pio nói: “Thật tuyệt khi bạn đem tôi đến đây. Hãy nói với ông ấy rằng ông ấy đã thề hứa ba lần và ba lần ông ấy đã thất bại. Đây là cơ hội cuối cùng mà Thiên Chúa ban cho ông ấy. Ông ấy nên đến trước Thánh Thể và cầu xin tha tội cho mình.” Không chào ông chính trị gia, ngài đi xuống cầu thang để nghe lời thú tội. Adolfo đã bị tấn công. Đó là một trong nhiều tình tiết khác, trong đó ông ấy đã trực tiếp trải nghiệm những món quà siêu nhiên của Thánh Pio.
Mặc dù Adolfo thường trải nghiệm sự quý mến, phương diện phụ tử của Thánh Pio, nhưng đây là mặt khác của ngài – vị linh mục nghiêm khắc đối với những người đã phạm tội với Chúa và bỏ bê bổn phận của họ là một tín nhân. Thánh Pio đã phải chịu đựng rất nhiều trước những biểu hiện của sự vô ơn bạc nghĩa như vậy.
Không ai ngoại trừ chính chính trị gia và Thánh Pio biết chính xác ông ấy đã phạm tội gì và đã vi phạm những lời thề nào. Có khả năng đọc được tâm hồn của người khác, Thánh Pio có thể nhìn thấy những gì người khác không thể thấy. Adolfo cảm nhận được sự trống trải băng giá bao trùm lấy chính trị gia lúc đó. Ông ấy đã bật khóc, một cơn khủng hoảng của sự chuộc lỗi.
Sau đó, cha Onorato nói với Adolfo rằng tối hôm đó ngài đã hỏi Thánh Pio rằng liệu có quá gay gắt với chính trị gia kia hay không. Thánh Pio trả lời ngay: “Nếu cha có thể xem xét kỹ lưỡng các linh hồn, cha sẽ thấy trong lòng người đó không chỉ có bảy tội nặng, mà là bảy mươi tội.”
Chỉ vào cốc nước trên bàn gần chiếc giường, ngài nói tiếp: “Hãy nhìn chiếc ly đầy nước kia. Nếu người ta không làm sạch nó và đổ đầy nó bằng tình yêu thương của Thiên Chúa thì sẽ không bao giờ có bình an.” Adolfo nghe nói rằng sau cuộc gặp gỡ đó, chính trị gia bắt đầu hoàn toàn đổi đời. Qua Thánh Pio, quyền năng Thiên Chúa đã mở cánh cửa trái tim của ông, dù đã bị khóa bởi sự kiêu hãnh, và lấp đầy nó bằng lòng bác ái.
Thời giờ đã đến. Thánh Pio nói: “Chúa biết cách chờ đợi.” Qua Thánh Pio, Adolfo hiểu rằng lòng biết ơn là một đức tính vĩnh cửu. Chúng ta càng cảm tạ Thiên Chúa về những gì Ngài đã làm cho chúng ta thì chúng ta càng có điều kiện để nhận được nhiều phúc lành hơn nữa. Thiên Chúa không muốn gì hơn nữa, và đến lượt chúng ta, chúng ta nên giống như những thiên thần sẵn sàng giúp đỡ những người gặp khó khăn.
Năm 1991, Đài Loan có cuộc bầu cử dân chủ đầu tiên sau 45 năm chịu sự kiểm soát toàn diện của Quốc dân Đảng (KMT). Cạnh tranh giữa các đảng phái bắt đầu xuất hiện.
Một trong những cuộc cạnh tranh quan trọng nhất là về chính sách bảo hiểm y tế. Để giành chiến thắng, các đảng phải đưa ra chính sách sao cho ngày càng có nhiều người dân được hưởng phúc lợi hơn.
Sự cạnh tranh còn tạo động lực để các vấn nạn thể chế như tham nhũng được đưa ra ánh sáng, bóc tách và sửa chữa. Dưới áp lực cạnh tranh, các đảng phái cũng buộc phải tự sửa mình.
Trong thời kỳ độc tài, một danh tính Trung Hoa chung được áp đặt lên người Đài Loan. Chỉ đến khi các đảng phái khác xuất hiện, người dân mới bắt đầu lên tiếng đấu tranh cho một căn tính khác của riêng mình.
Công trình nghiên cứu của Dafydd Fell trong quyển “Party Politics in Taiwan” cung cấp bằng chứng cho các thay đổi tích cực mà cạnh tranh đảng phái góp phần tạo ra ở Đài Loan.
Vào năm 1987, khi chính phủ Đài Loan tuyên bố chấm dứt tình trạng thiết quân luật, nước này đã xác lập một kỷ lục không hay ho gì: là quốc gia có tình trạng thiết quân luật lâu nhất trên thế giới tính đến thời điểm đó (kéo dài gần bốn thập niên).
Dưới chế độ độc tài của Quốc dân Đảng, người Đài Loan không có tự do ngôn luận, không được tự do lập hội, và không có quyền bầu ra những lãnh đạo của đất nước. Những tiếng nói đối lập đều bị thẳng tay đàn áp, bỏ tù hoặc giết hại.
Tranh minh họa thời kỳ thiết quân luật tại Đài Loan. Nguồn: Taiwan Times.
Ngày nay, chỉ ba thập niên sau khi bức màn kiểm soát quân sự bị xé bỏ, Đài Loan lột xác trở thành một trong những quốc gia dân chủ tự do nhất thế giới. Thể chế dân chủ của nước này được đánh giá là số một ở châu Á, vượt qua cả Nhật Bản lẫn Hàn Quốc.
Những quả ngọt của quá trình dân chủ hóa tại Đài Loan đến rất nhanh và rất sớm. Ngay trong những năm đầu tiên kể từ khi cải cách, người dân đã chứng kiến các thay đổi thực tế trong hầu hết các vấn đề, từ quốc kế dân sinh đến chủ nghĩa dân tộc.
Các thay đổi này có thể được tìm thấy trong quyển sách “Party Politics in Taiwan” của Dafydd Fell, một nhà khoa học chính trị chuyên nghiên cứu về Đài Loan. Ông là giảng viên Khoa Chính trị và Quan hệ quốc tế thuộc Đại học London, Anh. Cuốn sách là công trình nghiên cứu của tác giả về sự thay đổi của các đảng phái và quá trình dân chủ hóa tại Đài Loan từ năm 1991 đến 2004.
Thông qua phân tích các thông điệp tuyên truyền bầu cử, phỏng vấn trực tiếp quan chức cấp cao của các đảng, thu thập ý kiến từ những chuyên gia, tác giả kết luận rằng việc cạnh tranh trong bầu cử đem lại một môi trường tích cực cho toàn bộ xã hội Đài Loan.
Các đảng phái nâng cao năng lực quản trị, người dân có được những đại diện thực chất giúp giải quyết các vấn đề của mình, còn các vấn đề xung đột dần đạt được đồng thuận thông qua tranh luận cởi mở và công khai.
Nghiên cứu của Dafydd Fell tập trung vào ba vấn đề lớn: đưa ra chính sách trợ cấp xã hội, xử lý nạn tham nhũng và xác định danh tính dân tộc.
Trợ cấp xã hội: hướng đến công bằng cho tất cả
Trước thập niên 1990, ngoài tầng lớp lãnh đạo, tại Đài Loan có một nhóm người được hưởng đặc quyền đặc lợi. Nhóm này được gọi là “quân công giáo” (jungongjiao), viết tắt từ quân đội, công chức và những người làm việc trong ngành giáo dục. Đa phần họ đều là đảng viên Quốc dân Đảng, vốn là điều kiện tiên quyết để thăng tiến trong sự nghiệp.
Họ ủng hộ nhiệt thành các chính sách của Quốc dân Đảng, đổi lại nhận được trợ cấp xã hội hậu hĩnh. Trong khi đó, người dân thuộc các ngành nghề khác được hưởng rất ít, hoặc không có được bất kỳ trợ cấp nào từ chính quyền.
Theo thống kê, vào năm 1991, trong số chi tiêu trợ cấp của chính phủ, nhóm “quân công giáo” hưởng đến 74%.
Lịch sử phức tạp của Đài Loan góp phần tạo nên sự thiên lệch này.
Vào năm 1949, khi Quốc dân Đảng thất trận tại đại lục, họ chạy sang Đài Loan, đem theo bộ máy chính quyền cũ và những quân nhân công chức trong hệ thống đó. Những người này được gọi là “người đại lục” (Mainlanders) để phân biệt với “người Đài Loan” (Taiwanese), sinh ra và lớn lên tại đảo quốc. Nhóm người đại lục chỉ chiếm thiểu số, nhưng nắm độc quyền và hưởng đặc lợi. Sự bất bình đẳng này gây ra nhiều mâu thuẫn sắc tộc.
Dưới chế độ thiết quân luật, chính quyền đàn áp đẫm máu những ai dám lên tiếng phản đối. Các mâu thuẫn bị đè nén, không được bàn luận công khai. Chỉ tới khi những đảng phái khác xuất hiện, các chính sách bất công này mới bị thách thức.
Đảng Dân tiến (DPP) là một trong những đảng đầu tiên nêu ra vấn đề cải cách trợ cấp xã hội, với việc yêu cầu phải có chính sách y tế và lương hưu công bằng cho mọi người dân.
Tuy mới thành lập, không có thực quyền, nhưng những yêu cầu của Đảng Dân tiến nhận được nhiều sự ủng hộ từ cử tri.
Nắm bắt được xu thế đó, Quốc dân Đảng nhanh chóng “cướp diễn đàn”, giành quyền ban hành chính sách bảo hiểm y tế. Với lợi thế nắm đa số tại Quốc hội, vào năm 1994, họ nhanh chóng thông qua luật về Bảo hiểm y tế toàn dân (National Health Insurance – NHI). Chính sách này thành công lớn, nhận được hơn 70% sự ủng hộ từ người dân. Trong các cuộc bầu cử sau này, Quốc dân Đảng vẫn thường nhắc lại NHI như một lá bài ghi điểm quan trọng.
Tranh cổ động tham gia chương trình Bảo hiểm y tế toàn dân (NHI) của Đài Loan. Nguồn: nhi.gov.tw.
Đây là trường hợp hiếm hoi một đảng phái “cướp” thành công diễn ngôn của phe đối lập và biến nó thành lợi thế riêng.
Về phần mình, Đảng Dân tiến không từ bỏ cuộc chiến. Họ đưa yêu cầu cải cách về lương hưu, một vấn đề lớn khác của trợ cấp xã hội.
Giống như trường hợp bảo hiểm y tế, Quốc dân Đảng cố gắng đưa ra đề xuất cải cách lương hưu của riêng họ để đáp trả. Tuy nhiên, do các xung đột nội bộ liên quan đến lợi ích nhóm, Quốc dân Đảng không ra được quyết sách nào về vấn đề này.
Đổi lại, khi Đảng Dân tiến nắm quyền vào năm 2002, họ đã thông qua các luật cải cách về chế độ lương hưu cho người dân như lời hứa.
Sự cạnh tranh của các đảng phái ngày càng giúp nhiều người dân Đài Loan được hưởng lợi ích công bằng từ chế độ phúc lợi xã hội.
Tham nhũng thể chế: Từ trắng sang đen và bị xóa bỏ
Trước thập niên 1990, nhiều hình thức tham nhũng tại Đài Loan được thể chế hóa, hay hoàn toàn hợp pháp mà không ai dám lên tiếng thách thức. Nhiều người còn không nghĩ rằng đó là chuyện xấu cần phải loại bỏ.
Đây cũng là một vấn đề có căn nguyên lịch sử.
Khi chính quyền Quốc dân Đảng bỏ chạy sang Đài Loan, họ là những kẻ mới tới. Để thiết lập được bộ máy cai trị hiệu quả, Quốc dân Đảng cần đến sự hợp tác của các nhóm người có quyền lực tại địa phương (local factions). Một mối quan hệ cộng sinh được thiết lập.
Chính quyền trung ương tạo điều kiện cho các nhóm lợi ích địa phương thiết lập hoạt động kinh tế độc quyền, cho tiếp cận với nguồn vốn trung ương và giao cho họ các hợp đồng nhà nước béo bở. Các hoạt động làm ăn phi pháp như cờ bạc hay vũ trường cũng được nhắm mắt bỏ qua. Đổi lại là sự ủng hộ tuyệt đối của các băng nhóm địa phương này cho Quốc dân Đảng.
Trong nhiều thập niên, đây là hình thức “tham nhũng trắng” (white corruption), hoàn toàn hợp pháp và không ai dám thách thức sự tồn tại của nó, cho đến khi các đảng phái khác xuất hiện và lên tiếng.
Khảo sát top 10 vấn đề được các đảng lớn nêu ra trong các quảng cáo tranh cử từ năm 1991 đến 2000. Tham nhũng (political corruption) là một trong những vấn đề hàng đầu. Nguồn: Sách “Party Politics in Taiwan”.
Trong cuộc bầu cử tự do đầu tiên của Quốc hội mới vào năm 1992, Đảng Dân tiến đặt chống tham nhũng là vấn đề trọng tâm, với các khẩu hiệu và chiến dịch quảng cáo trên truyền thông chỉ trích trực diện Quốc dân Đảng đang nắm quyền lúc đó.
Lần đầu tiên các ứng viên giàu có của Quốc dân Đảng bị phe đối lập đặt cho cái tên “bò vàng” (kim ngưu), với cáo buộc họ có nguồn tiền vô hạn, không minh bạch, sẵn sàng chi tiêu xả láng cho việc tranh cử, thậm chí là mua phiếu bầu.
Các “bò vàng” gây ra bất mãn cao trong xã hội, khiến ngay cả nội bộ Quốc dân Đảng cũng lên tiếng phản đối việc đề cử những nhân vật tai tiếng này.
Năm 1993, những người có xu hướng chống tham nhũng trong Quốc dân Đảng liên kết với Đảng Dân tiến cùng thông qua một đạo luật chống tham nhũng, bắt buộc các quan chức cấp cao phải công khai tài sản và nộp vào trong một quỹ quản lý.
Trong cuộc bầu cử Quốc hội năm 1995, Đảng Dân tiến tung ra một quảng cáo truyền hình trong đó nhấn mạnh 67,77% số ứng viên của Quốc dân Đảng là những người có quan hệ với các băng nhóm tội phạm hoặc nhóm lợi ích địa phương.
Ngoài ra, tại một cuộc họp báo vào năm 1995, một nhà lập pháp thuộc Đảng Dân tiến công bố số tài sản công mà Quốc dân Đảng tích lũy qua nhiều thập niên cai trị đất nước lên tới 150 tỷ Đài tệ (hơn 5 tỷ USD theo giá trị hiện tại).
Đối diện với các cáo buộc này, Quốc dân Đảng hầu như im lặng.
Tuy vậy, trước sức ép của công luận và phe đối lập, các lãnh đạo của đảng cầm quyền cũng phải lên tiếng.
Bộ trưởng Tư pháp Mã Anh Cửu vào năm 1995 hứa với công luận sẽ “đá bay tệ nạn mua phiếu bầu ra khỏi Đài Loan”.
Năm 1996, tại một Hội nghị phát triển dân tộc, Quốc dân Đảng lần đầu tiên đồng ý sẽ thay đổi các chính sách về tài sản của đảng (theo cáo buộc của phe đối lập là tài sản công), đồng thời cải cách các cuộc bầu cử tham nhũng tại địa phương.
Năm 2000, khi vận động cho cuộc bầu cử tổng thống, ứng cử viên Liên Chiến và cũng là Chủ tịch của Quốc dân Đảng đã hứa sẽ chấm dứt các hoạt động làm ăn kinh doanh của đảng, nộp các tài sản của đảng vào công quỹ và cắt bỏ liên hệ với những ứng viên có dính dáng đến nguồn tiền không minh bạch.
Tại Đài Loan, chống tham nhũng dường như không có vùng cấm. Cả hai cựu tổng thống Lý Đăng Huy (trái) và Trần Thủy Biển đều từng bị truy tố về tội tham nhũng. Ảnh: UDN.
Vấn đề tham nhũng thể chế, hay “tham nhũng trắng”, từ việc được xem là bình thường, sau khi bị dư luận và các đảng phái đối lập nêu ra chỉ trích, đã dần bị đặt lại đúng vị trí “tham nhũng đen”, trở thành mục tiêu mà các chính đảng đều quyết tâm loại bỏ để lấy lòng cử tri.
Danh tính dân tộc: Từ gốc gác Trung Quốc đến căn tính Đài Loan
Trong nhiều thập niên kể từ khi thất trận phải chạy về Đài Loan, chính quyền Quốc dân Đảng của Tưởng Giới Thạch vẫn luôn nuôi mộng quay về “giải phóng đại lục”.
Họ thiết lập các chính sách kinh tế, giáo dục, văn hóa với mục tiêu một ngày nào đó quay lại phản công quân đội cộng sản. Tiếng phổ thông (Mandarin) là ngôn ngữ duy nhất được sử dụng chính thức. Các tiếng địa phương đều bị cấm. Một căn tính Trung Hoa chung được áp đặt cho toàn bộ người Đài Loan.
Đến khi các đảng phái khác xuất hiện, người dân mới bắt đầu lên tiếng đấu tranh cho một căn tính khác của riêng mình.
Đảng Dân tiến đi đầu trong việc cổ vũ cho một danh tính riêng biệt của người Đài Loan, độc lập hoàn toàn với Trung Quốc đại lục.
Việc có một căn tính khác biệt có liên hệ mật thiết với yêu cầu dân chủ hóa đất nước.
Quốc dân Đảng cho tới cuối thập niên 1980 vẫn từ chối tổ chức bầu cử tự do cho các vị trí trong Quốc dân Đại hội (National Assembly) và Quốc hội (Legislative Yuan). Những thành viên trong các cơ quan này đa số vẫn là những người đã được bầu vào thập niên 1940 tại đại lục, sau đó theo chân Tưởng Giới Thạch chạy sang Đài Loan.
Quốc dân Đảng xem mình là đại diện hợp pháp duy nhất cho toàn bộ đất nước Trung Quốc. Dưới chế độ Quốc dân Đảng, Đài Loan vẫn là một phần của Trung Quốc, nằm trong danh tính chung của toàn bộ đất nước Trung Hoa. Nếu để người Đài Loan bầu ra chính quyền và lãnh đạo mới, các cơ quan này sẽ không còn đại diện được cho “tất cả người dân Trung Quốc”.
Nói cách khác, dưới danh tính (là một phần của) Trung Hoa, người Đài Loan không thể có dân chủ.
Bãi bỏ thứ danh tính cũ này, tạo ra một căn tính độc lập vì vậy là một phần của yêu cầu cải cách dân chủ.
Không chỉ có Đảng Dân tiến, ngay cả Quốc dân Đảng và các đảng phái khác cũng tham gia sôi nổi vào quá trình thảo luận và đề xuất lựa chọn ra một hướng đi riêng cho đất nước.
Người Đài Loan biểu tình với khẩu hiệu “Đài Loan không phải là Trung Quốc, Đài Loan là Đài Loan”. Nguồn: Taiwan News.
Cùng với việc mở rộng cửa đón nhận người bản địa Đài Loan gia nhập đảng, Quốc dân Đảng bắt đầu nói nhiều hơn về một “Đài Loan mới” với những đặc điểm riêng biệt. Họ cũng không còn nhắc lại nhu cầu phải “giải phóng Trung Quốc”. Thậm chí theo thời gian, Quốc dân Đảng tự xây dựng hình ảnh tương đối trung lập trong vấn đề này, chống lại chủ trương “thống nhất sớm” với Trung Quốc của các đảng cực hữu lẫn đường lối “độc lập ngay” của các nhóm cực tả.
Về phần mình, Đảng Dân tiến cũng tự biết điều chỉnh. Khi chủ trương tuyên bố độc lập khiến họ nhận thất bại nặng nề trong các cuộc bầu cử năm 1991 và 1996, các lãnh đạo đảng đã giảm bớt mức độ cực đoan. Họ đưa ra các đường lối phù hợp hơn với số đông, như nhấn mạnh đến nguyên tắc “tự chủ” (self-determination) thay vì giương cao ngọn cờ “độc lập” (independence), vốn bị chỉ trích là có thể gây ra chiến tranh với Trung Quốc.
***
Các cuộc thảo luận công khai của những đảng phái giúp người dân có được nhiều lựa chọn. Và bằng lá phiếu của mình, người dân giúp các chính đảng thay đổi để đến gần nhất với nguyện vọng của cử tri.
Ngay cả khi thắng trong một cuộc bầu cử, đảng phái cũng phải tính đến lá phiếu trong tương lai của người dân để thay đổi. Như trường hợp của Quốc dân Đảng, dù chiến thắng cuộc bầu cử năm 1996, nhưng họ vẫn phải đưa ra cam kết thay đổi để chống tham nhũng như chủ trương của phe đối lập.
Hoặc trường hợp của Đảng Dân tiến, khi nhận ra đường lối độc lập của mình không được lòng cử tri, họ bắt buộc phải đổi tông, đồng thời tìm ra các vấn đề dân sinh khác (như trợ cấp xã hội, chống tham nhũng) để giành được sự ủng hộ của người dân.
Thông qua chế độ cạnh tranh công khai và công bằng, tất cả thành phần trong xã hội đều được lợi.
Năm 2006, Nguyễn Thiện Nhân được giao nắm giữ trọng trách Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Báo chí thường gọi là Tư lệnh Mặt trận giáo dục, bởi ở thời điểm đó cho đến hết nhiệm kỳ Phạm Vũ Luận, người kế nhiệm của ông Nhân, giáo dục được xem là “trận đánh”.
Cũng năm ấy, một chiến sỹ tiên phong là Đỗ Việt Khoa, chưa có lệnh đã tự phát xông lên tấn công vào hang ổ giặc ngay tại điểm thi tốt nghiệp phổ thông trung học ở Vân Tảo. Tư lệnh mặt trận đích thân đến nhà trao Bằng khen, tương đương như là Huân chương chiến công, kèm phần thưởng là quyển sách dạy đạo đức làm người. Đỗ Việt Khoa trở thành người hùng, VTV làm luôn cả một chương trình “Người đương thời” vinh danh cả hai: Nguyễn Thiện Nhân – Đỗ Việt Khoa.
Chiến dịch “Nói không với bệnh thành tích”, “Nói không với tiêu cực trong thi cử” bắt đầu mở màn, sôi động và đầy hào khí, hơn cả trận Xích Bích thời Tam quốc. Cả nước hưởng ứng, đi đâu cũng thấy giăng khẩu hiệu đỏ rực tinh thần cách mạng.
Năm sau đó, 2007, một cuộc thi tốt nghiệp trung học phổ thông diễn ra nghiêm túc. Kết quả, chỉ 60% đỗ tốt nghiệp, có nơi chỉ 40%, thậm chí 20%! Vậy là khoảng 40% quân Tào coi như bị hoả công của quân Đông Ngô thiêu cháy hoặc cho chết đuối khi vượt vũ môn Trường Giang???
Khí thế chống học giả, thi giả, nhân tài giả đang lên cao trào. Tướng tiên phong Đỗ Việt Khoa lại lập chiến công mới ở Đồi Ngô. Nhưng bất ngờ, Tư lệnh Mặt trận ra lệnh cho tổ chức thi lại lần hai, đồng thời lại ra lệnh cho các giáo viên trong vòng một tháng phải dạy phụ đạo sao cho số 40% té nước ấy phải đậu, nếu không sẽ bị kỷ luật!
Kế sách này nhân đạo gấp vạn lần Nguyễn Trãi cho 20 vạn binh Vương Thông giong cờ mở trống về nước. Nhưng thật là gây khó cho đội ngũ giáo viên: dạy học cách nào chỉ trong vòng một tháng mà có được trình độ vượt vũ môn như cá có được chân để leo cây? Cái sự khó ấy còn khó hơn Chu Du lệnh cho Khổng Minh trong vòng 3 ngày phải có được 10 vạn tên trước khi vào trận Xích Bích, nếu không sẽ bị mất đầu?
Ông Thuyết, ông Thống chê trình độ giáo viên phổ thông kém, cần tập huấn, bồi dưỡng đủ loại chương trình, từ các loại chứng chỉ lặt vặt đến học modul, nhưng sự thực lịch sử đã chứng minh mỗi giáo viên đã là một Khổng Minh tái thế. Mỗi giáo viên tự làm thuyền cỏ bơi giữa sương mù để mượn tên quân Tào, người hùng Đỗ Việt Khoa có mắt thánh cũng không thể nhận ra. Kết quả là cuộc thi lần hai, hơn 40% học sinh đã vượt vũ môn một cách dễ dàng. Vậy là tổng cộng hai cuộc thi, gần 100% học sinh đã đỗ tốt nghiệp trung học phổ thông một cách mỹ mãn. Nếu mỗi giáo viên là một Khổng Minh thì mỗi học sinh cũng là một Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Tử Long… Tất cả đều tiến lên toàn thắng ắt về ta!
Nhân tài thật là đấy chứ đâu?
Với bài học lịch sử ấy, ai không tin chứ tôi thì tin sâu sắc rằng chiến dịch “Học thật, Thi thật, Nhân tài thật” hiện nay sẽ thực hiện thành công vang dội hơn xưa!
Ngày xưa có ba ông thầy : một thầy xem tướng, một thầy tính số, và một thầy phong thủy cùng nhau đi chu du khắp nơi. Một ngày, các thầy tới thăm một nông trại.
Lúc đó trời đã tối nên cả ba xin được tá túc qua đêm. Thế là, ba ông thầy tướng số theo chân gia nhân vào trong nhà. Cả ba người được chủ nhà chào đón rất chân tình. Chủ nhà sai người dâng trà rồi lại làm cơm thịnh soạn thiết đãi. Sau đó, ba thầy được sắp xếp nghỉ ngơi trong một phòng khách bài trí hài hòa, đồ đạc giản dị, gọn gàng ngăn nắp.
Trước khi đi ngủ, thầy tướng nói với hai thầy còn lại: “Hai huynh đệ, tôi thấy vị chủ nhà này ngũ quan phá tướng không tốt chút nào. Trán hẹp, lệch, tướng yểu, nghèo khổ”.
Thầy xem số bàn thêm: “Ông này mệnh triệt, thân tuần. Ba cung tam hợp mệnh, tài, quan đều không tốt, lại có số không giữ được tiền của.”
Ông thầy phong thủy tổng kết: “Vậy là tướng không tốt, số cũng chẳng lành. Kỳ lạ thật, tại sao ông ta lại có thể giàu có được nhỉ ? Tôi thấy người gác cổng kia còn có tướng làm ông chủ hơn đấy. Phải chăng nhờ mồ mả gia tiên ở nơi âm trạch tốt nên ông ta mới được như vậy?”. Ba thầy nằm thao thức mãi không ngủ được, mong trời mau sáng.
Sáng hôm sau, ba thầy cùng ngỏ ý muốn đi xem âm trạch. Chủ nhà vui vẻ đồng ý và đích thân dẫn ba thầy đi xem phần mộ.
Đường đi khá vòng vèo và xa xôi lại còn phải đi qua suối. Nhưng khi quay về, chủ nhà lại dắt họ đi một đường khác. Đường về thì ngược lại rất gần, chẳng vòng vèo như lúc đi.
Ba thầy hỏi: “Sao khi đi ông không đi đường này mà đi vòng chi cho xa ?”.
Chủ nhà từ tốn đáp: “Khi dẫn ba thầy ra tới cổng, tôi thấy người hàng xóm đang cắt trộm lúa của tôi. Nếu tôi đi qua đó, thấy tôi họ sẽ bỏ lúa mà chạy. Tôi biết vì đói nên họ mới làm vậy chứ bản tính không phải phường trộm cắp, nên muốn đi đường vòng để tránh không làm họ tủi thân.”
Cả ba thầy đều gật đầu nói rằng: “Ồ, vậy Ngài được chữ ĐỨC, chính ĐỨC đã thay đổi vận mệnh của Ngài. Chính Tâm hành thiện của Ngài đã tích được ĐỨC!
Hai mươi ngày sau khi Trịnh Bá Tư tuyệt thực trong tù, chị Cấn Thị Thêu mới biết tin. Chị khóc. Hai giọt nước mắt nhỏ xuống mà chị gọi đó là “hai giọt máu”. Câu chuyện được luật sư Lê Văn Luân kể lại trong lần anh vào tù gặp chị Thêu- thân chủ của mình trong vụ án được thế lực tà ác dựng lên với tên gọi “tuyên truyền chống nhà nước”. Tôi ám ảnh mãi về câu chuyện Người Mẹ này. Lúc nghe tin Trịnh Bá Phương bị đưa từ nhà tù đến trại tâm thần, tôi rùng mình. Lạ thật, người đầu tiên tôi nghĩ đến khi ấy, không phải Phương, mà là chị Thêu. Tôi xót xa với câu hỏi cứ quẩn quanh trong đầu: “nếu chị Thêu biết chuyện, chị có chịu đựng nổi không?” Tôi bần thần suốt mấy ngày đó, đôi mắt lúc nào cũng như chực khóc.
Sau khi phiên toà kết án chị Thêu và Tư kết thúc, tôi được nghe kể lại rằng, chị Thêu đã tuyên bố với luật sư của mình (đại ý) rằng, chị “sẵn sàng chết” và chuẩn bị tinh thần cho những tình huống xấu nhất. Nếu họ có giết cả nhà chị thì đành chịu, nhưng còn một người cũng chống đến cùng. Những gì hai mẹ con chị thể hiện trước toà là minh chứng cho những điều chị tuyên bố.
Hôm nay ngày Hiền Mẫu, tôi nhớ đến Người Mẹ này. Người đã sinh ra và nuôi dưỡng những đứa con ngoan hiền, hiếu thảo và kiên cường đến ngạc nhiên. Người Mẹ đã nhỏ xuống hai giọt máu vì xót thương con mình với lòng yêu mến, kính trọng đến mức, cần phải dành hai chữ Người Mẹ viết hoa để dành cho chị: Hiền Mẫu Cấn Thị Thêu.
(Vợ chồng anh chị Khiêm -Thêu cùng 3 con khi còn nhỏ. Hình trên trang fb của Trịnh Thị Thảo)
Mấy tuần trước đây, tôi được xem một bài báo Mỹ nói về những người homeless tại một khu phố Bắc Dallas. Người ta than phiền tại nơi đây nay đang xuất hiện thêm nhiều người vô gia cư hôi hám, ăn mặc lôi thôi lếch thếch, họ la cà vào các cửa hiệu hay ngồi tụm năm tụm ba tại các công viên. Các cửa hiệu, nhà buôn than phiền vì bọn nàyï làm cho khách hàng e ngại sợ sệt khi vào mua đồ. Bài báo khiến tôi nhớ lại trước đây khá lâu, tôi hay suy nghĩ về những người homeless, về những con chim không tổ, những người đã đánh mất mái ấm gia đình, lang thang theo kiếp sống đầu đường xó chợ, những kẻ cùng đường đã từ bỏ cuộc sống định cư để chuyển sang đời du mục… . . Tôi nhớ hồi đầu năm 1981 tại Sài Gòn, khi được thả về từ trại giam, y như trên cung trăng rơi xuống, cái gì cũng thấy khác lạ. Ðiều làm tôi ngạc nhiên là Sài Gòn bây giờ sao quá nhiều người ở lề đường: tha ma nghĩa địa, gầm cầu, vỉa hè, công viên. . . chỗ nào cũng có. Có điều là, trước năm1975 tôi không hề thấy bóng một người vô gia cư nào ở Thủ đô hoa lệ này. Có hôm tôi thấy một gia đình ba bốn người, vợ chồng con cái quây quần bên nồi cơm nóng trên manh chiếu tại một vỉa hè đường Võ Tánh, có lần thấy một bà mẹ đang nấu cơm bên chiếc ghế đá công viên, để đứa con độ một tuổi nằm tênh hênh trên chiếu. Tôi được biết họ đa số là những người đi kinh tế mới trốn về, chẳng thà sống ở tha ma, gầm cầu còn hơn tại những nơi sơn lam, chướng khí. Tôi cũng nghe nói trong số ấy nhiều người trước kia là dân sang, có nhà mặt đường, đi vượt biên bị lấy nhà, nay phải kéo lê cái thân tàn ma dại trong cảnh màn trời chiếu đất. Hồi mới vào trại cải tạo được một năm, chúng tôi đọc báo thấy nhân dân nô nức lên xe đò đi xây dựng vùng kinh tế mới. Nhà nước thi hành chính sách dãn dân, hồi ấy nhiều người sợ quá bán tống táng đồ đạc, nhà cửa để hưởng ứng chính sách rồi đi cho nhanh. Họ được đưa lên những vùng đồi núi, đất đai khô cằn như sỏi đá, cầy cuốc bao năm cũng chỉ được vài bao khoai sắn, họ ăn vào vốn, dần dần cho đến khi kiệt quệ, bèn đánh liều trốn về thành phố. Kẻ chiến bại phải chấp nhận cái thân phận của mình, họ đã bị đẩy xuống tận cùng đáy xã hội. Tự cổ chí kim bao giờ cũng thế, kẻ chiến thắng lấy đi tất cả: nhà lầu, biệt thự, xe ngựa xênh xang. Tôi nhìn đám vô gia cư này bằng chút ái ngại nhưng không thấy xúc động xót thương gì nhiều cho lắm vì tôi phải thương cho chính cái thân tôi như trăm nghìn người khác, cuộc đời tôi cũng chỉ là một vở kịch bi đát não nùng. Anh hùng mạt lộ, giang san tiêu điều… Ở tù về, ông thì chẳng ra ông, thằng cũng chẳng ra thằng, đi làm không ai mướn, trong đầu lúc nào cũng vấn vương cái mối lo ghê gớm “không biết nó sẽ bắt lại lúc nào”, và nhất là hình ảnh của những hàng rào kẽm gai đêm đêm lại hiện lên trong trí y như cơn ác mộng… cái giá mà kẻ bại trận phải trả. Họ ở lề đường, màn trời chiếu đất nhưng lại không phải đeo cái mối lo ghê gớm như tôi. Tôi có cảm tưởng như xã hội lúc bấy giờ hoàn toàn không còn có tình thương, con người chỉ thương cho chính cái bản thân của mình. Họ lo sợ, chán chường, đâu đâu cũng chỉ nghe thấy toàn là những tiếng thở dài. Không ai làm gì hơn được. Khoảng hơn một năm sau, vì số người vượt biên chết chìm ngoài biển đầy cả ra, Liên Hiệp Quốc và nhiều tổ chức nhân đạo khác đã thực hiện được chương trình ra đi trong trật tự. Tôi vội vã nộp đơn ngay, nhưng diện anh em ưu tiên thấp lắm, nó chỉ cho mình một chút hy vọng mong manh, nhưng có cũng còn hơn không. Tôi theo dõi hồ sơ hết tháng này sang tháng khác, năm nọ đến năm kia, chừng mấy năm sau tôi làm đơn khiếu nại được biết hồ sơ đã nằm ở phố Hàng Bài Hà Nội. Thế rồi một buổi chiều… thật y như một phép lạ, khi sắp bước sang thập niên 90, tôi nhận được giấy của Sở Ngoại Vụ mời đi sơ vấn, phỏng vấn. Khi ấy mới biết là hai bên đã thỏa thuận thực hiện chương trình ra đi chính thức dành cho người cải tạo và những người có thân nhân bảo lãnh được ưu tiên đi trước. Thế là tôi được đi ngay trong đợt đầu, toàn bộ danh sách kỳ này vào khoảng trên 3000 người. Hầu hết những người có tên trong danh sách này có thân nhân bảo lãnh, họ đã nộp đơn xin đoàn tụ trước đây, chỉ có một số rất ít không có thân nhân tại Mỹ. Khi chuẩn bị ra đi, một ông cải tạo không có thân nhân đến nhà chơi bảo tôi: -Tôi chắc là được cấp nhà, vì tôi không có thân nhân, tôi biết ở đâu? Anh có thân nhân, anh ở nhà người thân. Ông ấy lý luận dài dòng văn tự, tôi lấy làm lạ hồi xưa ông ấy đã là sĩ quan cao cấp mà sao có thể dễ tin như thế. Những tin đồn về việc cấp nhà đã loan truyền từ lâu, nhiều người lạc quan tin tưởng nhưng cũng có nhiều người đả phá kịch liệt những tin vịt cồ. Có người nói: -Mấy ông này được voi đòi tiên, đã không mất đồng xu nào, được đi cả gia đình, ngồi máy bay đánh vù một cái ngon lành, người ta đi vượt biên mất bao nhiêu tiền, chết chìm chết bắn cả đám mà còn chưa tới nơi được. Ðược đi máy bay sướng như tiên mà còn đòi cấp nhà nữa! Ối giời đất ơi! Khi sang Bangkok Thái Lan, trong những ngày tạm cư chờ vào Mỹ, sở USCC và sở di trú đã cho các cô nhân viên người Việt hướng dẫn chúng tôi những điều cần biết khi vào Mỹ, có một ông cải tạo hỏi về việc cấp nhà, ông nghe nói diện cải tạo được cấp nhà, cô nhân viên đáp: -Thưa Bác, chắc là không có đâu, vì cái nhà nó to tát lắm. Vợ chồng cháu qua Mỹ đã lâu vẫn chưa mua được nhà! Chắc không có đâu bác ạ! Tôi vào Mỹ đúng vào ngày mùng bốn Tết Nguyên Ðán, đầu thập niên 90. Hôm sau tôi hỏi người nhà: -Nghe mấy ông cải tạo ở Việt Nam cứ đồn sang đây có một số được cấp nhà… Tôi chưa nói dứt câu thì thân nhân tôi gạt đi ngay: -Ối giời ơi! Mỹ mà còn ở lề đường đầy cả ra, bữa nào đưa ông lên Dallas xem, trắng có, đen có. . . Nhà ở đâu mà cấp cho các ông? Rồi người nhà tôi kể dông dài thêm: -Vào những ngày lễ lớn, nhà thờ làm đồ ăn cho người nghèo, dân vô gia cư, ở đây gọi là homeless xếp hàng chờ dài dài, trắng có đen có nhưng không thấy có người mình. Tôi lấy làm lạ: một đất nước giàu có sung túc nhất thế gian, đã tiêu thụ một phần ba nhiên liệu trên thế giới, một nước đã có số xe hơi bằng số xe của tất cả các nước trên thế giới cộng lại. . . thế mà vẫn còn có người ở đầu đường xó chợ, thế mới biết trên thế gian này, ở bất cứ xã hội nào đâu đâu cũng có những kẻ cùng đinh khố rách. Tôi bèn viết thư về cho bạn bè ở Việt Nam để nói cho họ biết rằng Mỹ trắng, Mỹ đen còn ở lề đường đầy cả ra, con ruột người ta mà họ chưa lo được huống hồ chúng mình. Có người viết thư sang cám ơn đã cho họ biết những điều kỳ thú, họ nói chưa thấy ai nói đến cái thế giới của những người cùng đinh khố rách ấy. Hồi ấy, tôi hay tò mò tìm hiểu về những người homeless. Tôi lấy làm lạ, ở cái xứ thời tiết khắc nghiệt như thế này mà sao họ có thể sống ngoài đường. Tình cờ, tôi đọc được một bài trong tờ tập san Mỹ cho biết, họ ước lượng có vào khoảng từ 1 cho tới 3 triệu người vô gia cư, đa số tập trung tại những thành phố lớn, riêng tại Nữu Ước có tới gần một trăm ngàn ăn mày homeless. Phần nhiều họ bị mất việc, hết tiền, khánh tận, cũng có nhiều người lười biếng không chịu đi làm. Họ có phỏng vấn một ông homeless, ông ta nói mới đầu ông chỉ tưởng ở lề đường vài tháng thế mà thời gian cứ vô tình lững lờ trôi đến nay đã được ba năm. Cũng có giả thuyết nói họ là những người có tiền án hình sự trộm cướp, nay đi làm không ai mướn, ở đây người ta kỵ nhất tội phạm, một xã hội trông rất là đầy tình người nhưng kỷ luật lại cứng rắn như sắt thép. Tôi nghĩ nếu như vậy lại càng đẩy người ta vào chỗ cùng đường, kẻ đã cùng đường lại dễ sa chân phạm tội. Họ được nhà thờ, hội từ thiện cho quần áo, thỉnh thoảng cho ăn, vào những đêm đông giá lạnh họ được vào nhà trú shelter của tòa tỉnh, bần hàn nhưng được cái tự do, mặc kệ cho cuộc đời trôi theo dòng nước. Họ cũng có thể là những người mang tâm hồn thi sĩ, triết gia, nhìn cuộc đời phù du mong manh như cơn gió thoảng: Cuộc đời là cái quán trọ, người chỉ là khách qua đường, nhân sinh thiên địa gian nhất nghịch lữ… Khoảng gần một năm sau, lần đầu tiên tôi thấy một người homeless tại một ngã tư có nhiều xe qua lại, đó là một cô Mỹ trắng, trông có vẻ cũng đàng hoàng, ăn mặc tươm tất, tay cầm cái bảng “hungry, need help”, tôi đói, giúp tôi với. Rồi một thời gian sau, tôi gặp một đôi vợ chồng Mỹ trắng tại cửa thư viện, trông họ cũng đàng hoàng, người vợ chạy lại xin tôi bảo: “I’m so hungry! Tôi đói quá!” Người Mỹ ít khi cho tiền người nghèo hay homeless, chắc họ cho là bọn này lười biếng. Tôi thì không bao giờ từ chối, gặp họ xin tôi đều cho vì nghĩ rằng cực chẳng đã chứ ai muốn làm cái nghề bị xúc phạm nặng nề đến nhân phẩm như thế, vả lại họ cũng phải cần sống, cần được giúp đỡ. Mỗi lần cho tiền, đều được nghe họ cầu chúc God bless you, cầu Chúa ban ơn phước cho ông, họ còn biết tin Thượng Ðế, chắc là những người tốt còn có lương tâm. Tôi ngày càng được biết nhiều hơn về cái thế giới của những người homeless. Có lần theo dõi chương trình trên TV được biết những chuyện thật ghê rợn của kiếp sống du mục này. Hôm ấy họ nói về những người sống dưới đường hầm xe điện ngầm và đặt tên cho bọn này là mole, chuột cống, vì sống y như chuột. Họ phỏng vấn một một người mole đã sống ở đường hầm bẩy năm, anh ta nói nhiều người tối ngủ say lăn ra đường rầy bị xe điện cán chết. Cách đây khoảng bốn, năm năm lần đầu tiên tôi thấy cuộc đời của một người homeless được đưa lên trang nhất của một tờ báo Mỹ tại địa phương, hôm ấy tôi vào chợ thực phẩm Mỹ mua đồ ăn và tự nhiên chú ý đến bài báo. Ðây là một vụ án mạng tại tỉnh Grand Prairie ở gần đây, nạn nhân là một người đàn bà da trắng, 38 tuổi, homeless, gái mãi dâm bị đâm chết tại một nhà kho bỏ hoang gần đường Abram. Nạn nhân từ nhiều năm nay sống vất vưởng trong khu vực này. Một cái chết thê thảm của một người đàn bà đầu đường xó chợ, nghiện ngập, được coi như cặn bã xã hội, nhưng kẻ nạn nhân khốn cùng ấy vẫn còn may mắn hơn hàng trăm nghìn nạn nhân khác ở cái xứ nghèo đói lạc hậu bên nước tôi vì bà ta còn được nhắc tới trong khi hàng nghìn người khác cũng đã chết thê thảm như thế mà không được ai biết tới. Người ta đăng cả hình ảnh của nạn nhân, khuôn mặt đầy phong sương nhưng vẫn còn giữ được những dáng nét của một dân tộc văn minh. Ðôi mắt trông mất hết vẻ tinh anh, đôi mắt người đà bà đau khổ thật chẳng khác nào một vùng đất khô cằn như sỏi đá. Mái tóc hung vàng chờm xuống trán, gò má cao, thoáng trông người ta cũng thấy được bao nhiêu năm tháng ê chề chồng chất. Ðây là một bài báo dài, người ký giả kể lể khá đầy đủ về lai lịch kẻ xấu số. Vì có lẽ đây là một vụ án mạng và nhất là cuộc đời thật bi thảm của một con người tại một xứ sở văn minh sung túc, cũng có thể họ coi đó là một trường hợp hy hữu. Một bài viết rất khách quan nhưng không kém phần ý nghĩa về cuộc sống xã hội và định mệnh con người. Ông ký giả biết được cả tên tuổi, lý lịch nạn nhân: Nàng sinh ra trong một gia đình Mỹ trắng có cha mẹ đàng hoàng, được đi học, rồi trưởng thành, có công ăn việc làm, có bạn trai… rồi một mối tình chớm nở, nàng có chồng, hai con. Người ký giả nói đó là điều lý tưởng của nhiều người Mỹ. Rồi không hiểu vì sao gia đình đổ vỡ, chuyện này tại Mỹ xảy ra như cơm bữa vậy. Chồng đem hai con đi một nơi, vợ một nẻo, một hai năm sau bị đuổi ra khỏi nhà, không rõ lý do, tôi chắc bà ta mất job không có tiền trả tiền nhà. Ở cái xứ tiền trao cháo múc này, không có tiền là a lê hấp đi chỗ khác chơi! không như bên mình thuê nhà rồi chiếm nhà luôn. Người đàn bà lang thang ngoài hè phố, có lẽ nàng tưởng rằng chỉ sống bên lề đường vài tháng và một ngày nào sẽ tạo dựng lại được mái ấm gia đình, có lẽ nàng cũng nghĩ rằng mình sẽ được hưởng hạnh phúc của đời người. Nhưng đến một lúc nào con người sẽ không còn khả năng để lái cuộc đời theo ý mình và đành buông xuôi cho định mệnh, có dè đâu nạn nhân ngày càng kéo dài cuộc đời vô gia cư, lâm vào cảnh nghiện hút, rồi mãi dâm, ăn mày để kiếm sống, và ngày càng lún sâu trong vũng bùn lầy nhơ bẩn, và cứ mặc cho đời lạnh lùng trôi theo dòng nước mắt… …Nạn nhân hay lui tới trong mấy con đường ở phía tây thành phố từ bao lâu nay và rồi bị đâm chết tại một nhà kho, hai nhát ở cổ, một nhát ở lưng, chắc cũng lại do phường cặn bã xã hội gây nên và có lẽ người ta cũng chẳng cần điều tra cái chết của những người cùng đinh vô tích sự. Bà ta cũng đã từng có một mái ấm gia đình, có hạnh phúc lứa đôi nhưng . . . ngày ấy đã xa lắm rồi, cái thời ấy nay còn đâu? Nghe nói trước đó mấy năm nạn nhân có gặp một bà cô, bà thím gì đấy, còn chồng con thì biệt tăm biệt tích. Tôi thường nghe nói điện ảnh Mỹ hết đề tài, họ quay lại những đề tài cũ, đây cũng là một đề tài hiếm có thuộc loại drama bi thảm hiện thực, nhưng điện ảnh Mỹ lại không chú ý đến những đề tài hiện thực xã hội như điện ảnh Ý mà chỉ quay những phim hoạt động “action” như trinh thám, bắn giết. Người đàn bà đã một thời là con người tốt của xã hội, có gia đình hạnh phúc, nay chết thê thảm, tứ cố vô thân, trên không rễ dưới không chằng. .. . Và rồi người ký giả lạnh lùng kết luận: BURNED BEYOND RECOGNIZATION
Hỏa thiêu vô thừa nhận…
Quá Khứ Dù Tốt Cũng Đã Qua, Tương Lai Có Gian Nan Vẫn Phải Tiến Tới
Thời gian đã trôi qua thì không thể nào níu giữ được. Chuyện vui buồn ngày hôm này, ngày mai sẽ trở thành quá khứ. Đừng đắn đo, đừng tiếc nuối, hãy trân quý hiện tại, sẵn sàng đối mặt với tương lai.
Không ai có thể làm bạn phiền muộn, trừ khi bạn lấy lời nói và hành động của người khác rồi tự làm mình buồn. Trên đời này không có gì không thể bỏ, trừ khi bạn không muốn buông bỏ mà thôi!
Thời gian sẽ trôi đi theo tâm trạng, cuộc sống cần một chút bản lĩnh để đương đầu. Gặp chuyện thì không loạn, chuyện lớn không lo sợ, chuyện nhỏ không chần chừ.
Thăng trầm, ngọt bùi cay đắng của cuộc đời, đều ở tại tâm. Tâm thái tốt, vực sâu núi thẳm nào cũng có thể qua. Làm việc với tâm trạng thỏa mái, dù có khó khăn đến mấy cũng sẽ hoàn thành.
Sinh mệnh, dù ngắn hay dài, mỗi người chỉ có một lần. Cuộc sống, dẫu buồn hay vui, mọi người vẫn đang tiếp tục. Đường đời, lúc lên lúc xuống, nhưng ai cũng phải bước đi trên cuộc hành trình đầy gian nan này.
Gặp tiểu nhân, không cần thiết phải so đo, so đo sẽ phiền não. Gặp rắc rối, chẳng cần quá để ý lưu tâm, bởi quá lưu tâm sẽ càng thêm mệt mỏi.
Thế gian rộng lớn, lòng người phức tạp, không thể tránh gặp tiểu nhân. Cõi trần thâm hiểm, nhân thế phù hoa, làm sao mới có thể không phiền não?
Đơn giản hóa một chút, xem nhẹ một chút. Chịu oan khuất, trẫm tĩnh im lặng, bị hiểu lầm mỉm cười bỏ qua.
Không có ánh mặt trời, thì nghe gió thổi, nhìn mưa rơi. Không có hoa tươi, thì ngửi hương thơm của cỏ cây, bùn đất. Không có tiếng vỗ tay, thì hưởng thụ sự thanh tĩnh yên bình. Giữ được tâm trạng tốt, bước đi sẽ vững vàng.
Trân quý niềm hạnh phúc hiện tại, hưởng thụ những khoảnh khắc đẹp nhất này. Thời gian luôn xoay chuyển, tuổi đời sẽ qua đi, đừng phàn nàn, than khổ; đừng ưu tư, chùn bước.
Đối mặt với chính mình, tấm lòng rộng mở, tha thứ lỗi lầm, sống thật thản nhiên. Tu thành người độ lượng, tích được cả một đời hạnh phúc!
Nói thì dễ… nhựng liệu có thực hành được & nếu thực hành được đó là điều đáng qúy…