Trò chuyện với tác giả đoạt giải nhất cuộc thi của tuần báo Saigon Nhỏ

Trò chuyện với tác giả đoạt giải nhất cuộc thi của tuần báo Saigon Nhỏ

May 13,  

Tuấn Khanh (ghi)

Tác giả Phạm Thị Mai Hương là một cô giáo, nguyên quán ở Đà Lạt. Cô có giọng nói nhỏ nhẹ và thân thiện. Cuộc trò chuyện với cô, người đoạt giải nhất trong đợt văn tuyển về Ký Ức 30 Tháng Tư “Như Chỉ Mới Hôm Qua,” làm chợt nhớ và thấy lại hình mẫu của người phụ nữ miền Nam cũ…

Tác giả Phạm Thị Mai Hương. (Hình: Nhân vật cung cấp)

Nhà báo Mạnh Kim đã viết về tác phẩm đoạt giải của cô Mai Hương: “Bài viết không chỉ có giá trị như một phóng sự báo chí mà còn thể hiện đậm chất văn học của một tác giả trưởng thành và được giáo dục trong một nền văn hóa miền Nam một thời rực rỡ. Tác giả nói lên tâm sự và cảm xúc cá nhân nhưng cùng lúc tác giả cũng lột tả được tâm trạng của hàng triệu người miền Nam vào những ngày mà không chỉ chính thể VNCH sụp đổ mà theo đó còn là sự tan nát và ly tán của vô số gia đình miền Nam…”

Đúng là lúc này, người Việt thế hệ trẻ cần những bài viết súc tích, hấp dẫn và tràn ngập sự kiện như vậy, để là một bài học giáo khoa về lịch sử hôm qua, để mọi thứ còn lại còn được giữ lại cho thế hệ mai sau.

Cuộc nói chuyện ngắn với cô tại Sài Gòn đã để lại một ấn tượng thật thú vị. Dưới đây là vài trao đổi của chúng tôi với cô.

Tác giả Phạm Thị Mai Hương, trước năm 1975. (Hình: Nhân vật cung cấp)

Phải bước qua mọi thứ, mới thanh thản để ghi lại…

*Tuấn Khanh: Nhiều người đọc đã nói chị viết như một nhà văn chuyên nghiệp, chứ không phải là người viết tham gia một cuộc thi mang tính ngẫu hứng…

-Tôi viết nhiều, nhưng chưa bao giờ xem mình làm việc như một nhà văn (cười). Thật ra tôi ghi chép lại mọi thứ chung quanh mà mình thấy, rồi chia sẻ với bạn bè thân, người nhà… Nói chung là vẫn khép kín. Tôi nghĩ là mình viết như một loại nhật ký, nhưng không riêng mình đọc, mà để cho những người gần mình có thể đọc, hiểu được suy nghĩ của mình.

*Tuấn Khanh: Chị cảm giác như thế nào, khi nghe tin bài viết của mình được xướng danh ở giải nhất?

-Tôi vốn dĩ là một người đã về hưu. Tôi dùng chữ nghĩa để kể lại chuyện quanh mình, chuyện của bạn bè, con cái… Tôi chỉ nghĩ rằng mọi thứ cho người thân đọc làm vui. Ngay cả bài viết mà tôi được báo cho biết mình đoạt giải cũng chỉ là những trang nhật ký viết lại của đời mình. Bạn tôi đọc được và “xúi” tôi gửi thi thử nên tôi cũng làm theo. Cảm giác đến với tôi là vui và bất ngờ, vì tôi cũng không nghĩ là mình có giải. Điều này lại kéo theo những ký ức trở về, nhớ về những điều thật nặng lòng.

Người chạy loạn trong bài viết, chính là cụ thân sinh của tôi, người làm ở Ty Thông Tin Chiêu Hồi ở Đà Lạt. Khi chạy đi, hai cha con để lại phía sau nhiều mất mát: nhà cửa, người thân… Tôi viết xong bài viết này và cất kín, chỉ mình đọc vì sợ ba tôi đọc được thì ông lại buồn. Mãi khi ông cụ mất, tôi mới lấy bài viết ra, đọc lại. Mọi thứ trong đó là có thật, cảm xúc thật.

Bài viết được đánh giá vậy khiến tôi vui lắm, vì tin rằng là mình có thể truyền tải được phần nào những điều đã xảy ra. Tôi xin cảm ơn tất cả mọi người.

*Tuấn Khanh: Như chị nói, chỉ chia sẻ những bài viết của mình với người thân, nhưng lần này vì sao chị lại chọn đúng câu chuyện “Bạc Tóc Tuổi Hai Mươi” để giới thiệu với mọi người?

-Thật ra đây là bài mà bạn tôi đọc và khen hay, nên tôi tựa vào đó mà lấy chút tự tin gửi đi. Còn trước đó, khi đưa ra trong gia đình đọc thì mọi người thấy có vẻ bình thường. Có thể là trong nhà với nhau nên không có gì để khen, hoặc là những ký ức dữ dội như vậy, ai nấy trong nhà đã trải qua nên cũng thấy… thường thôi.

*Tuấn Khanh: Chị ít đưa ra các bài viết – nhật ký của mình là do có áp lực nào không? Chẳng hạn như thời thế, nhạy cảm chính trị…?

-Sau năm 1975, gia đình tôi chọn cách sống lặng lẽ. Thậm chí sống khép kín để không ai dòm ngó. Chồng tôi là sĩ quan VNCH đi học tập về, ông cũng tránh tiếp xúc hoặc mở rộng giao tiếp với xã hội bên ngoài. Tôi rất tôn trọng cách chọn lựa sống như thế của chồng mình, nên cũng chọn yên lặng tương tự vậy. Có lẽ, không ai biết gì về mình là dễ sống hơn chăng (cười). Ngay cả khi có tin là được giải với “Bạc Tóc Tuổi Hai Mươi,” tôi cũng chưa nói gì cho chồng mình biết.

Gia đình của tác giả Mai Hương trước thời chạy loạn. (Hình: Nhân vật cung cấp)

*Tuấn Khanh: Chị viết như vậy đã bao nhiêu năm rồi?

-Tôi viết từ nhỏ, ngay từ khi tiểu học, tôi đã có thói quen viết. Còn nhớ là ngày xưa khi có tạp chí Thằng Bờm, tôi từng gửi bài và được đăng trên đó. Lúc đó tôi đang học Đệ Ngũ, tức lớp Tám bây giờ.

*Tuấn Khanh: Trong câu chuyện kể của chị, mọi thứ thật sống động. Liệu đến giờ này những ký ức đó còn đủ các cảm giác tuyệt vọng, tức giận, đau đớn… hay không?

-Trải qua rất nhiều năm tháng, tôi phải tập cho mình sự buông bỏ. Sống như thiền và bước qua mọi cảm giác, và có như vậy tôi mới thanh thản viết xuống được, chữ nghĩa mới có thể nhẹ nhàng, còn nếu không thì sẽ bị lôi kéo theo nhiều cảm giác lắm.

*Tuấn Khanh: “Bạc Tóc Tuổi Hai Mươi” chỉ là một trong các bài viết của chị, liệu tương lai chị có dự định đưa ra thêm tác phẩm nào khác?

-Tôi cũng còn viết, và hy vọng có lẽ có duyên đưa thêm những tác phẩm với chủ đề khác đến cùng mọi người.

Người Việt Nam dùng 1/4 thời gian trên điện thoại để ‘lướt Facebook’.

  Không còn tin tưởng “Báo chí lề đảng” trong nước, dân VN tìm đọc tin trên internet, facebook, youtube…Nhà nước Cộng sản Việt Nam tăng cường nỗ lực kiểm soát …

* Người Việt Nam dùng 1/4 thời gian trên điện thoại để ‘lướt Facebook’.

Một báo cáo mới được công bố cho biết người Việt Nam trung bình sử dụng 25% thời gian trên điện thoại thông minh để “lướt Facebook” và 12% thời gian để xem YouTube.

Theo báo cáo về “Thị trường ứng dụng di động 2021” do Appota, công ty cung cấp các giải pháp nền tảng và nội dung cho ngành công nghiệp giải trí số tại Việt Nam, phát hành, Việt Nam có khoảng 70% dân số sử dụng điện thoại di động, trong đó có 64% thuê bao kết nối 3G và 4G.

Tỷ lệ người dùng internet cũng chiếm 70%, với trung bình 6,5 giờ/ngày, trong đó, 95% dùng internet qua thiết bị di động với trung bình 3,3 giờ/ngày.

Nền tảng số chiếm nhiều thời gian của người Việt nhất vẫn là Facebook, với 25% thời gian, và kế đó là YouTube chiếm 12% thời gian dùng điện thoại của người Việt Nam. Tiếp theo là Zalo (7%), Messenger (6%) và TikTok (4%).

Việt Nam được xem là quốc gia có tỉ lệ dân số sử dụng internet cao trong khu vực và là thị trường đầy tiềm năng cho các nền tảng số, ngành công nghiệp quảng cáo, giải trí, thương mại số.

Vẫn theo báo cáo của Appota, năm 2020, TikTok trở thành ứng dụng phát triển mạnh nhất với 30% người dùng di động tại Việt Nam cài đặt ứng dụng, khiến TikTok trở thành mạng xã hội phổ biến thứ 4 tại Việt Nam, sau Facebook, Zalo và Instagram.

Lý giải cho sự bùng nổ này, báo cáo của Appota cho rằng tình trạng cách ly, giãn cách xã hội đã góp phần giúp TikTok trở thành ứng dụng giải trí phổ biến nhất với gần 2 triệu lượt tải mỗi tháng, với hầu hết người dùng là thuộc thế hệ Z, từ 16-24 tuổi.

Chính vì vậy, Nhà nước Cộng sản Việt Nam đã tăng cường nỗ lực kiểm soát Internet, kêu gọi kiểm soát chặt chẽ hơn các mạng xã hội và xóa bỏ các nội dung mà họ cho là nói xấu chế độ, chống lại những quan niệm trái ngược với đảng như là đa nguyên chính trị, tam quyền phân lập, dân chủ & tự do, xã hội dân sự…

Các lực lượng an ninh mạng của Việt Nam như Lực lượng 47 của quân đội hay bộ phận A68 của công an được thành lập và củng cố từ nhiều năm qua với nhiệm vụ “chống lại quan điểm ‘sai trái'” trên internet này trong bối cảnh “cuộc đàn áp những người chỉ trích nhà nước độc đảng ngày càng lan rộng”.

* Ở các nước tự do dân chủ “lực lượng an ninh mạng” được thành lập cho những mục đích bảo vệ an ninh quốc gia như chống tin tặc, chống các cuộc tấn công mạng đòi tiền chuộc (ransomware) bảo vệ kinh tế đất nước….

Còn ở VN thì An ninh mạng là để bảo vệ đảng CS và đàn áp đối lập?

TL VOA & BBC & RFA

May be an image of phone, screen and text

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Con Ở Miền Nam Ra Thăm Lăng Bác

Tưởng Năng Tiến

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Con Ở Miền Nam Ra Thăm Lăng Bác

May be an image of 2 people, people standing, outdoors and text

Trong quyển Lịch Sử Tây Nam Bộ 30 Năm Kháng Chiến có đoạn ghi rằng :

“Mùng 2 Tết Nguyên Đán năm Ất Mùi (1955), trong buổi chúc tết Bác Hồ tại Phủ Chủ tịch, đồng chí Nguyễn Văn Kỉnh thay mặt đồng bào Nam bộ dâng tặng Bác cây vú sữa.

Bác đã xúc động đến ngấn lệ khi biết đây là cây vú sữa của đồng bào vùng tận cùng của Tổ quốc. Cũng từ đó, cây vú sữa đã trở thành biểu tượng tấm lòng Bác Hồ đối với miền Nam và của miền Nam đối với Bác Hồ. Nhưng ai là người trực tiếp gửi tặng Bác cây vú sữa, nguồn gốc cây vú sữa là ở đâu?”

Chèng ơi, sao mà hỏi khó nhau dữ vậy? Hồi đó, miền Nam có cả đống người ái mộ Bác Hồ chớ đâu phải một hay hai. Làm sao mà biết chính xác “ai là người trực tiếp gửi tặng Bác cây vú sữa” cho được, mấy cha?

Khó như vậy mà hai phóng viên của báo Tuổi Trẻ (Hồ Văn Phương và Phương Nguyên) cũng đã thực hiện được kỳ tích đó. Hai người lặn lội tuốt xuống xã Trí Phải, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau để làm một thiên phóng sự (“Ai Gửi Tặng Bác Hồ Cây Vú Sữa Miền Nam”) tuy hơi hoang đường nhưng vô cùng hấp dẫn :

“Chúng tôi thuê tắc ráng xuôi kinh 10 tới thẳng nhà ông Nguyễn Văn Phận – một nhân chứng của những ngày tập kết lịch sử. Ngày trước ông là tổ trưởng tổ Đảng ấp 10, xã Trí Phải. Trong những ngày tháng tập kết đầy xúc động ấy, ông là người đón, đưa bộ đội về xã, về Vàm Chắc Băng chuẩn bị lên đường ra Bắc.”

“Ông kể: Khi lễ tiễn đưa sắp kết thúc, mẹ Tư hai tay ôm cây vú sữa nhỏ bước tới đưa cho anh Ba Kiên (khi đó là đại đội trưởng đại đội pháo của tiểu đoàn 307), nhắn gửi tặng Cụ Hồ. Ai nói gì thì nói, riêng tôi và nhiều người nữa ở xã này biết rõ cây vú sữa ấy là do mẹ Tư gửi tặng Bác Hồ. Nó được cô Bảy (con gái mẹ Tư, hiện còn sống ở kinh 9) bứng từ nhà ông Năm Đươn, cha nuôi của mẹ Tư hồi xưa.”

“Hồi đó, cô Bảy chỉ mới 14 tuổi. Cô kể: ‘Khi các chú với tía mang balô lên Vàm Chắc Băng tập kết, mẹ gọi tôi vào nói: Tụi nó đi mà không có gì gửi cho Cụ Hồ. Mày chạy xuống nhà ngoại bứng về cho má cây vú sữa gửi cho Cụ nhanh lên!”

“Chẳng ai trả lời được câu hỏi tại sao mẹ Tư lại tặng cây vú sữa mà không là cây khác.”

“Cô Bảy kể lại: “khi đã ở cái tuổi ‘gần đất xa trời,’ mẹ cô nói với con cháu rằng muốn được một lần ra thăm lăng Bác để coi lại cây vú sữa bà tặng Cụ Hồ bây giờ ra sao. Nhưng mong ước chưa thực hiện vì không có điều kiện thì mẹ đã ra đi mãi mãi. Bây giờ mộ mẹ nằm đó, bên cạnh mộ chồng.

Còn cô Bảy, khi kể chuyện thỉnh thoảng lại hỏi chúng tôi: ‘Đã ra thăm lăng Bác lần nào chưa? Kể cho cô nghe với. Lăng có đẹp không? Vô đó có nhìn thấy Bác không? Cây vú sữa có sai quả không?’ Cô hỏi mà chúng tôi không kịp trả lời, mà cũng chẳng trả lời nổi. Họ là vậy đó, vẫn một lòng hướng về với Bác, với đồng bào miền Bắc như cái thời đất nước còn chia cách!”

Ông Nguyễn Hữu Thành – phó ban tuyên giáo tỉnh Cà Mau – cho biết do có quá nhiều ý kiến xung quanh sự kiện “Cây vú sữa miền Nam” nên Tỉnh ủy và UBND tỉnh Cà Mau đã tổ chức cho thẩm tra, và kết luận :

“Cây vú sữa miền Nam gửi tặng Bác Hồ năm 1954 là do gia đình bà Lê Thị Sảnh (thường gọi là mẹ Tư) đại diện nhân dân miền Nam gửi tặng Bác Hồ’. UBND tỉnh cũng đã chấp thuận cho xây dựng bia kỷ niệm ‘Cây vú sữa miền Nam với Bác Hồ’ tại nhà bà Sảnh để kỷ niệm 50 năm những chuyến tàu tập kết.”

Thiệt đọc mà muốn ứa nước mắt. Câu chuyện dù khó tin nhưng vẫn (cứ) vô cùng cảm động. Trên suốt đoạn đường, đi ròng rã cả năm, từ Cà Mau ra Hà Nội, chắc anh Ba Kiên ăn không ngon ngủ không yên vì phải lo chăm sóc cây vú sữa.

Không chừng, có lúc, anh (dám) bỏ uống luôn để lấy nước nuôi cây. Chớ không lẽ cây vú sữa mà mẹ Tư đại diện nhân dân miền Nam dâng Bác mà lại tưới bằng nước đái.

Chỉ có cái quyết định của Ủy ban Nhân dân tỉnh Cà Mau (“cho xây bia tưởng niệm cây vú sữa miền Nam với Bác Hồ”) là có vẻ hơi nặng phần trình diễn. Tưởng gì chớ mộ bia, và bằng khen thì “những gia đình có công với cách mạng” – Bắc cũng như Nam – đâu có thiếu. Nhà nào mà sau vườn không ngổn ngang bia mộ liệt sĩ, và trên tường không treo (tá lả) cả đống bằng khen thưởng.

Thay vì xây bia, để tiền cho cô Bẩy ra ngoài Bắc chơi một chuyến có phải đã hơn không? Hồi 1954, cô Bẩy 14 tuổi. Nhân sinh thất thập cổ lai hy. Sợ rồi cô Bẩy (cũng như mẹ Tư) sẽ qua đời với ít nhiều ân hận là chưa được dịp đi tham quan lăng Bác, và (sẵn dịp) coi lại cây vú sữa năm xưa.

Lại thêm một lần 30 tháng Tư vừa trôi qua. Đất nước đã thống nhất lâu rồi, và đã vài chục năm qua kể từ khi Đảng cương quyết (và dũng cảm) có quyết tâm đổi mới để đưa đất nước đi lên, cho bằng với người ta. Chả lẽ Nhà nước ta không chi nổi một cái vé máy bay, hay vé tầu Thống Nhất, cho cô Bẩy để đền ơn đáp nghĩa sao?

Thôi bỏ đi Tiến à! Đừng có tưởng vậy. Tưởng vậy là tưởng năng thúi. Đảng ta không tạo cơ hội cho cô Bẩy ra Hà Nội đâu phải vì thiếu tiền mà chỉ vì sợ rằng – sau khi tham quan lăng Bác – con mẻ không chịu về thôi.

Chớ ở lại ngoài đó làm chi?

Tham gia biểu tình, đòi lại đất đã bị cướp chớ làm chi!

Úy Trời, có vụ đó nữa sao?

Chớ sao không, coi cái hình chần dần kìa – giữa vườn hoa Chí Linh, trước tượng Lenin – một người đang đi vòng vòng, tay cầm một tấm bảng nhỏ, ghi dòng chữ như sau: “KHA VĂN CHẦU, CÁN BỘ LÃO THÀNH, MỘT THƯƠNG BỆNH BINH, GIA ĐÌNH LIỆT SĨ CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG, KIỆN NHÀ NƯỚC CỘNG SẢN BA LẦN CƯỚP ĐẤT.”

Ủa, mà Kha Văn Chầu là cha nội nào vậy cà?

Ổng là người cùng quê, và cũng cùng thế hệ (chống Mỹ cứu nước) với cô Bẩy đó, chớ ai. Hồi đó, ông Kha Văn Chầu gia nhập Mặt trận Giải phóng miền Nam, được kết nạp vô Đảng vào đúng ngày sinh nhật của Bác (19 tháng 5 năm 63) tại chiến trường Cà Mau, thuộc quân khu IX.

Ổng được Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình trao tặng huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng III nữa nha. Vậy mà bây giờ ổng (nỡ lòng nào) tố giác Đảng và Nhà nước (ta) là đồ ăn cướp!

Mà không phải mình ên ông Kha Văn Chầu kỳ cục (dữ) như vậy đâu nha. Không tin, ghé qua vườn hoa Mai Xuân Thưởng mà coi. Từ nhiều năm nay, biết bao nhiêu người dân miền Nam kéo ra Hà Nội khiếu kiện theo kiểu đó. Trong số này thiếu gì những bà “Mẹ Việt Nam Anh Hùng” (như mẹ Tư) và những người thuộc diện “gia đình có công với cách mạng” (như cô Bẩy).

Trong quyển Lịch Sử Tây Nam Bộ 30 Năm Kháng Chiến có đoạn ghi rằng :

“Bác đã xúc động đến ngấn lệ khi biết đây là cây vú sữa của đồng bào vùng tận cùng của Tổ quốc. Cũng từ đó, cây vú sữa đã trở thành biểu tượng tấm lòng Bác Hồ đối với miền Nam và của miền Nam đối với Bác Hồ.”

Tình cảm của những đồng bào ở những “vùng tận cùng của tổ quốc” (rõ ràng) đã đổi. Cây vú sữa ở Phủ Chủ tịch – ngoài Hà Nội – không biết có còn sống hay không chớ tấm lòng của dân miền Nam đối với Bác, Đảng và Nhà nước thì đã chết – và chết từ lâu rồi.

Tưởng Năng Tiến – 02/ 2010

Nhà lãnh đạo Proud Boys bị buộc tội trong cuộc tấn công ở Capitol cảm thấy bị Trump phản bội: ‘Ông ta đã bỏ rơi chúng tôi’

Nhà lãnh đạo Proud Boys bị buộc tội trong cuộc tấn công ở Capitol cảm thấy bị Trump phản bội: ‘Ông ta đã bỏ rơi chúng tôi’

“Tôi đã ủng hộ ông ta trong suốt 4 năm và làm mọi thứ cho ông ta, nhưng giờ đây tôi mất tất cả” Proud Boy Ethan Nordean viết về cựu Tổng thống Donald Trump.

Một thủ lĩnh của Proud Boys bị buộc tội trong cuộc nổi dậy ở Capitol ngày 6 tháng 1 bày tỏ sự sốc khi cựu Tổng thống Donald Trump bỏ rơi anh ta và những kẻ bạo loạn khác.

“Được rồi, tôi sẽ nói. FUCK TRUMP, ”trung sĩ Ethan Nordean tự mô tả về vũ khí của đội Proud Boys nói trong một tin nhắn Telegram vào ngày 20 tháng 1.“ Đụ anh ta còn hơn cả Biden. Tôi đã theo dõi anh chàng này trong 4 năm và cho đi mọi thứ để rồi mất tất cả. ”

Nordean, 30 tuổi, đến từ bang Washington, đã viết đơn than phiền sau khi Joseph Biggs, người tổ chức Proud Boys Florida, 37 tuổi, bị bắt vì vai trò của anh ta trong vụ bạo lực xảy ra trong ngày khiến 5 người chết và 140 cảnh sát bị thương.

“Đúng vậy, ông ấy đã đánh thức chúng tôi, khích động khiến chúng tôi tin rằng công lý đang dành cho chúng tôi … và điều đó không bao giờ xảy ra,” Nordean viết về Trump trong thông điệp Telegram, được các công tố viên liên bang tiết lộ trong tuần này.

“Bây giờ tôi đã có một số người bạn tốt của mình và bản thân tôi đang phải đối mặt với án tù vì chúng tôi đã làm theo lời hướng dẫn của ông ta và không bao giờ thắc mắc.”

Nordean, người bị bắt một tuần sau khi đăng tin nhắn Telegram, dường như nhận ra Trump sẽ không ban hành lệnh ân xá cho anh ta và các thành viên trong băng đảng bạo lực Proud Boys.

Nordean viết: “Chúng tôi hiện đang và luôn luôn là chính mình, thật vui vì ông ấy đã có thể tha thứ cho một loạt những kẻ xấu xa, tồi bại như là động thái ban ơn cuối cùng cho phe đảng của anh ấy và đã bỏ rơi chúng tôi trên đường ra đi.

Nordean, người đã bị bỏ tù từ đầu tháng 2, bị buộc tội cố gắng cản trở chứng nhận của Quốc hội về chiến thắng của Đại cử tri đoàn của Joe Biden.

Nếu bị kết tội, anh ta phải đối mặt với án tù 20 năm. Anh ta cũng bị buộc tội trợ giúp và tiếp tay, cố ý xâm nhập vào & ở trong một nơi bị hạn chế, xâm nhập bạo lực và có hành vi gây mất trật tự, hỗn loạn trong khuôn viên Điện Capitol.

Ethan Nordean đã không nhận tội và chờ quan tòa phán xét….

Mời đọc tiếp & xem video clip trong đường link dưới đây:

https://www.huffpost.com/…/proud-boys-member-charged-in…

Đời người như cơn gió thoảng…VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC

Đời người như cơn gió thoảng…

VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC

Đây có lẽ lần đầu tiên tôi ý thức rõ ràng và thấm thía ý nghĩa thăm thẳm của sự tiếc nuối hụt hẫng và đau khổ đắng ngắt khi viết và nhẩm đọc 4 chữ: VÔ CÙNG THƯƠNG TIẾC.

Sáng nay tôi bị đánh thức bởi tiếng chuông điện thoại và bàng hoàng khi nghe tin thầy Ngữ đã chết. Tôi cầu mong đây chỉ là sự nhầm lẫn dù linh tính biết rằng đây là tin chính xác và chính thức.

Chẳng phải mình tôi bàng hoàng mà những ai quen biết thầy cũng đều ngỡ ngàng và tiếc thương. Tối qua ngày 11/5 khi đang đi dạo ở khu Manhattan, thành phố New York thì thầy bị tên lái xe say rượu tông phải. Có lẽ thầy đã chết ngay sau khi bị xe tông.

Thầy có biết đây là lần cuối cùng thầy di dạo phố? Thầy có biết đây là ngày cuối cùng thầy sống trên trần gian này? Thầy có biết đây là lần cuối cùng thầy cười nói cùng bạn bè, cùng với ai thầy gặp trong ngày hôm qua? Thầy có biết đây là lần cuối cùng thầy ngắm phố hoa lệ New York về đêm? Cái chết đến như kẻ trộm trong đêm. Không ai biết được. Nhưng mình tin chắc rằng sáng qua khi thức dậy thầy đã dâng ngày cho Chúa và nếu có dự lễ thầy đã đón nhận mình máu thánh Chúa như là của ăn đàng… rồi!

Thầy tên là Phê-rô Trần Quốc Ngữ, 29 tuổi, sinh trưởng ở An Giang. Gia đình thầy thuộc xứ đạo Năng Gù, Giáo-phận Long Xuyên. Thầy đến Mỹ vào tháng 8 năm 2017 và ở nhà dự tu của Giáo-phận Metuchen. Đầu năm 2018 thầy bắt đầu chương trình tiền thần học tại chủng viện thánh Vincentê, Latrobe, PA và mùa thu thầy tiếp tục học thần học tại chủng viện Vô Nhiễm Nguyên Tội, South Orange.

Khi mới đến Mỹ lúc còn ở nhà dự tu, thầy có đến dự lễ tại Cộng Đoàn Công Giáo VN, thuộc Giáo-phận Metuchen để ra mắt cộng đoàn. Sau thánh lễ, thầy ngỏ lời chào cộng đoàn và đã chiếm được cảm tình của rất nhiều người với bài giới thiệu về mình và những trải nghiệm của mấy tháng đầu tiên trên đến Mỹ. Người ta thấy ngay sự thân thiện, gần gũi, ăn nói lưu loát, khúc chiết… và óc khôi hài dí dỏm thật dễ thương của thầy. Nên không ngạc nhiên khi thấy rất nhiều người cảm thấy hụt hẫng và thương tiếc sự ra đi quá bất ngờ khi tuổi đời còn quá trẻ. Nhiều người đã biểu tả cảm xúc chân thành khi chia sẻ rằng chưa bao giờ họ có cảm giác thương tiếc ai như thương tiếc thầy Phê-rô.

Lại một lần nữa tôi suy gẫm Lời Chúa trong sách tiên tri Isaiah:

“Lạy Chúa, con như người thợ dệt,

đang mải dệt đời mình,

bỗng nhiên bị tay Chúa

cắt đứt ngay hàng chỉ.” (Is 38, 12)

Vẫn biết cuộc đời là vô thường. Vẫn biết cuộc đời chóng qua như cỏ, như bông hoa nở trong cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích. Vẫn biết nước sẽ theo nguồn chảy về biển lớn. Vẫn biết có sinh thì có diệt. Nhưng sao không khỏi đau lòng khi thấy một người trẻ bất ngờ ra đi.

Thầy Ngữ cũng đang mải mê dệt đời mình, mải mê vẽ tương lai, không phải tương lai cho riêng mình nhưng là tương lai của Giáo Hội, tương lai hiến dâng cả đời trong ơn gọi tận hiến phục vụ cho cánh đồng lúa mênh mông… mà thiếu thợ gặp. Vì yêu mến mà thầy bỏ cha mẹ, anh chị em, bạn bè, bỏ quê hương đến xứ lạnh để học ngôn ngữ mới, văn hoá mới, nếp sống mới và cả thức ăn không hợp khẩu vị. (Ngay trong lời chia sẻ với cộng đoàn lần đầu tiên sau mấy tháng ở Mỹ thầy đã thú thật là bị sụt mấy ký vì không quen thức ăn Mỹ.) Rồi miệt mài đèn sách, với chữ nghĩa… chỉ vì muốn thành người thợ gặt tốt cho cánh đồng lúa sau này. Đức cha hay khoe mỗi khi có dịp về thầy như là người thông minh và học giỏi. Nhưng nay tất cả mọi ước mơ đó đã khép lại… khi thầy bước qua ngưỡng cửa tử sinh để trở về với Đấng mà thầy tôn thờ từ thơ ấu. Thầy trở về với Thiên Chúa. Vì Ngài là cùng đích mà mọi người chúng ta rồi cũng sẽ phải đến.

Sáng nay sau khi nghe tin thầy mất, một chị đã đăng bức hình do thầy vẽ tặng chị mới đây. Bức tranh ấy thầy vẽ chiếc thuyền buồm mong manh nhỏ bé một mình trên biển cả. Xa xa là ngôi nhà như ngọn hải đăng soi lối cho thuyền không lạc lối. Trên bầu trời xanh cao bao la có những ngôi sao đang lấp lánh… ở dưới là chân trời với màu vàng sáng ánh lên niềm hy vọng.

Con thuyền ấy nay đã cặp bến bình an… thầy đã về yên nghỉ trong vòng tay yêu thương vô ngần của Thiên Chúa ở giữa những vì sao.

Thầy ra đi để lại thương tiếc cho bao nhiêu người. Ông bà cố, anh chị em, các bạn bè, các thầy cùng lớp và cùng địa phận, Đức cha, quý cha đang hướng dẫn thầy trên đường tu đức … và mọi người quen biết và yêu quý thầy. Chắc chắn ông bà cố đang thương khóc thầy và đau khổ khi không thể gần gũi và được nhìn thấy mặt con trong lúc này. Xin Chúa ban cho mọi sự thuận lợi để xác thầy được về với gia đình và nghỉ ngơi nơi trong lòng đất quê nhà.

Lạy Thiên Chúa giầu lòng xót thương xin tha thứ mọi tội lỗi và đón nhận linh hồn Phê-rô vào nước hằng sống. Xin ban ơn an ủi, bình an và lau khô mọi giọt lệ của cha mẹ, anh chị em và mọi người yêu mến và khóc thương thầy.

Vô cùng thương tiếc,

Lm. Hùng Cường, M.M.

https://diometuchen.org/…/a-letter-from-bishop-checchio…

Mái Nhà Xưa-TRUYỆN NGẮN

TRUYỆN NGẮN LƯỢM TRÊN MẠNG….

Mái Nhà Xưa

Tôi qua Mỹ theo Chương Trình HO đầu năm 1990. Tôi đến đây một mình vì chồng chết trong trại cải tạo và chúng tôi không có con cái. Tội nghiệp ảnh, chúng tôi mới ăn ở với nhau chưa đầy nửa tháng thì ảnh bị tập trung. Nếu cái ngày đen tối ấy trễ hơn chừng nửa tháng, có thể ảnh đã có người nối dõi.

Hội USCC, sau này là IOM, thuê cho tôi một cái nhà chứa xe được sửa lại để tá túc. “Cái nhà” này ở gần trường tiểu học Howard thuộc thành phố Glendale, California. Mỗi buổi chiều tôi hay lang thang trên lề của một con đường có trồng hai hàng phượng tím. Những cây phượng tím ra hoa, làm tím cả con đường vắng lặng, tím cả không gian chung quanh và tím cả lòng tôi. Tôi biết đến đây tôi sẽ buồn lắm và cô đơn thêm, nhưng nếu thu mình trong cái nhà chứa xe đó, tôi sẽ chán đến thế nào. Đối với tôi, thà buồn hơn chán. Buồn không làm ai tự tử, nhưng khi chán ta thường không muốn sống.

Một hôm tôi đi lang thang xa hơn thường lệ. Tôi đến gần một ngôi nhà nhỏ kiểu cổ, xinh xắn. Trước nhà trồng toàn một loại hoa hồng màu đỏ thắm. Một bà cụ từ trong nhà bước ra, tay cầm một bình tưới, đến bên những khóm hoa hồng. Bà cụ trông thấy tôi, gật đầu chào. Tôi lễ phép cúi đầu chào lại. Sau khi bước đi vài bước tôi có cảm tưởng như bà cụ đang nhìn theo tôi, nên quay đầu lại. Quả nhiên như vậy. Tôi mỉm cười tiến về phía bà, đưa mắt nhìn bà và lấy tay ra dấu, có ý nói cho tôi xin một đóa hoa hồng. Bà cụ gật đầu. Tôi ngắt một đoá hoa hồng trao cho bà. Bà mỉm cười nhận đoá hoa, đưa lên môi hôn.

Chiều hôm sau, khi đi ngang qua ngôi nhà đó tôi thấy bà cụ đang ngồi trên chiếc ghế mây cạnh mấy khóm hoa. Bây giờ tôi mới có dịp nhìn kỹ bà. Đó là một bà cụ người Mỹ trắng ngoài 80 tuổi, trông rất đẹp lão và hiền từ. Mặt bà cụ ửng hồng dưới mấy đoá hoa hồng đỏ thắm. Tôi nhớ đến bốn câu thơ rất nổi tiếng của Thôi Hộ mà chồng tôi thường ngâm nga:

Khứ niên kim nhật thử môn trung,

Nhân diện đào hoa tương ánh hồng.

Nhân diện bất tri hà xứ khứ,

Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

(Năm ngoái, ngày hôm nay tại cửa ngõ này,

Mặt người đẹp với hoa đào cùng một màu hồng.

Không biết mặt người đẹp bây giờ ở nơi đâu,

Mà hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ)

Tôi bật cười vì đã ví bà cụ với một cô gái đẹp; nhưng tôi lại nghĩ biết đâu sang năm đi ngang đây tôi sẽ không thấy bà cụ nữa. Bà cụ đã ngoài 80 rồi mà.

– “Cô ơi! Biết nói tiếng Anh không””*

Nghe tiếng bà cụ, tôi quay lui, đến gần bà:

– “Dạ biết. Con từng làm cho một hảng thầu Mỹ ở Việt Nam.”

– “Cô người Việt Nam hả” Thật là thú vị!”

Bà nói bà không thể nào phân biệt được người Việt Nam với người Tàu, Nhật hay Thái Lan v.v… Bà mời tôi vào xem căn nhà và khu vườn sau.

– “Cái nhà này đã chứa đựng biết bao nhiêu nhiêu kỷ niệm của ông nhà tôi, David Carter. Cô xem đây! Sàn nhà là cả một công trình của ổng trong suốt mấy năm. Ổng lụm cụm cưa gọt từng khúc gỗ, rồi sơn phết và ráp lại thành cái sàn nhà này. Mấy con thú giả phía sau vườn nữa, cô không tưởng tượng nổi đâu, chính ông nhà tôi đã nặn ra đó. Còn cây sồi sau vườn nữa. Hồi chúng tôi còn nằm chung một giường cho đến khi nằm riêng, nó vẫn y như vậy. Ước gì mình sống mãi với nó. Một ngày nào đó mình sẽ bỏ nó mà đi. Với tôi, chuyện ấy chẳng xa xôi gì”

– “Bà còn khoẻ quá mà. Cái nhà đẹp ghê, lại sạch sẽ ngăn nắp nữa. Bà tự mình săn sóc hả””

– “Tôi tự săn sóc. Thỉnh thoảng cũng có người giúp.”

– “Bà không sợ con là ăn cướp sao mà dám đưa con vào nhà như thế này.”* Tôi cười nói.

– “Vậy chớ cô không sợ tôi là mụ phù thủy ác độc sao mà dám vào đây.”* Bà cười, hàm răng trắng tinh như hàm răng của một cô gái biết chăm sóc sắc đẹp.

– “Ở Mỹ chỉ có trẻ con với người già là dễ thương và không nguy hiểm.”*Tôi nói đùa.

– “Không đâu, thanh niên cũng dễ thương lắm. Cô xem này.”

Bà đến kéo cái hộc tủ nhỏ ra nhưng nó đã bị khoá. Bà vào trong phòng ngủ nhưng rồi đi ra:

– “Tôi định cho cô xem hình con trai tôi nhưng tìm không ra chìa khoá. Nó mất tích ở Việt Nam. Tôi già cả lẩm cẩm mất rồi. Thời gian trôi qua nhanh thật. Mới là một cô gái, mà nay đã thành một bà già. Tôi thấy bà chị Jennifer của tôi mà sợ quá. Chị ấy nằm một chỗ suốt hai năm như vậy. Cô y tá phải nghiền đồ ăn bơm qua lỗ mũi; hạ bộ chị ấy luôn luôn ướt vì phân và nước tiểu, vài chục phút phải thay một cái tã lót, dù đã có cái quạt nhỏ hong khô từ dưới giường.

Hồi xưa chị ấy là một ca sĩ nổi tiếng. Khi chị đứng trên sân khấu hát, chắc không có chàng trai nào tưởng tượng nổi chị sẽ phải bị thay tã lót thường xuyên. Chị mất cách đây 3 năm. Làm sao bây giờ cô” Tôi không muốn giống chị tôi, nhưng tôi còn yêu đời lắm, không muốn chết trẻ đâu. Phải chi đến một lúc nào đó mình quá già và khoẻ mà Chúa gọi mình đi. Cái giây phút đó phải không đau đớn mới được. Nhưng mà tôi cũng không muốn chết đâu, dù bằng cách nào.”

– “Con nghĩ trong trường hợp bà thì Chúa chưa gọi bà đâu.”

– “Nhưng Chúa cũng sẽ gọi chứ! Mình sống trên đời biết bao năm, gắn bó với nào là người thân, bạn bè, khung trời rộng, hoa cỏ xanh tươi, căn nhà ấm cúng&Vậy rồi mình rời bỏ tất cả. Thật vô lý quá!”

– “Bà hãy nghĩ đến những người sắp chết còn khổ hơn những người như Jennifer; chẳng hạn như những tử tội chờ bị hành hình, họ đau khổ cả tâm hồn lẩn thể xác, nằm trong ngục thấp thỏm, không biết lúc nào ra pháp trường, và khi bị hành hình, bộ không đau đớn sao.”

– “Họ có tội, còn mình có tội gì đâu.”

– “Có khi họ bị oan. Còn tử tội chính trị ở một vài nước như nước con, liệu họ có tội thật không. Mà bà là con chiên của Chúa mà, sao lại sợ Chúa gọi””

– “Thiên Đàng hay Địa Ngục gì tôi cũng không muốn đến, khi chưa có tin tức chính xác về con tôi.”

– “Đến một trong hai nơi đó chắc chắn bà biết chính xác.”

– “Ừ, phải.”

Thấy chuyện trò như vậy cũng tạm đủ, tôi xin phép ra về. Bà nói lần sau bà sẽ cho xem ảnh con bà. Tôi cũng hứa sẽ đem hình chồng tôi cho bà xem.

Vì bận chút việc, ba hôm sau tôi mới qua nhà bà, tay cầm theo một tập ảnh. Mới trông thấy tôi, bà đã vào phòng trong đem ra một tập ảnh lớn:

– *”Hình nó chụp lúc học mẫu giáo nè. Còn đây là hình chụp lúc tốt nghiệp trung học. Đây là hình chụp lúc đi lính. Đây là hình chụp khi ở Việt Nam. Nó có cả bạn gái Việt Nam nữa đó. Phải chi nó có một đứa con.”

Bà trưng ra nhiều hình quá, tôi xem không kịp . Sau cùng bà đưa cho tôi xem một tấm hình con bà mặc quân phục tác chiến, đầu đội mũ lưỡi trai, mang súng trường:

– *”Đây là hình mới nhất của nó. Có khi nào cô gặp một người như vậy không”* Nó tên John Carter, cái tên rất dễ nhớ.”

Tôi nhìn John trong hình: cao lớn, khoẻ mạnh, đẹp trai, có hơi ngổ ngáo. Tôi đã gặp biết bao nhiêu quân nhân Mỹ như vậy ở Việt Nam. Hầu như họ đều giống nhau; hầu như họ chỉ là một người được phân ra thành nhiều người, dù đen, trắng, vàng hay đỏ. Tôi nói:

*- “Thật tình con không nhớ nổi.”

– “Có khi nào nó lấy vợ, có con rồi ẩn mình ở đâu bên đó không, như một truyện phiêu lưu tôi đã đọc. Có khi nào nó điên điên, khùng khùng trốn trong rừng rậm không” Nó điên khùng hay gì cũng được, miễn là còn sống.”*

Bà buồn bã nói tiếp:

*- “Tôi khô nước mắt rồi cô ơi, không khóc được nữa.”

Tôi lấy hình Thuận-chồng tôi- ra cho bà xem. Bà nói:

– “Họ mặc đồ giống nhau quá hả. Chồng cô đâu””

– “Chồng con chết trong trại cải tạo.”

– “Tôi có nghe nói đến những trại tù đó. Con tôi cũng có thể ở trong những trại như vậy. Cực nhọc, đói khát. À, cô có biết một món ăn gọi là “phở” không” Con tôi viết thư nói nó thích ăn phở lắm. Tôi có đi ăn mấy lần rồi. Hôm nào chúng ta đi ăn nghe. Tôi đãi cô.”

Lần thứ ba tôi đến, bà nói:

– “Gặp nhau nhiều lần mà tôi quên nói tên tôi cho cô biết. Tên hồi còn con gái của tôi là Julia. Cô tên gì””

– “Con tên Oanh”

– “Ồ, cái tên hơi khó gọi. Gọi là One được không””

– “Dạ được. One, number one.” Tôi cười nói.*

Sau đó tôi đưa bà qua thăm nơi ở của tôi. Vừa bước chân vào nhà, bà đã nói:

– “Đạm bạc quá. Cô có muốn qua ở với tôi không””

– “Xin cám ơn bà. Thật tình, con muốn tự do. Dù sao, bà với con cũng là hai người, không phải một.”

– “Nhưng cô cứ qua nhà tôi chơi, muốn ở lại, ngủ lại bao lâu cũng được.”

– “Dạ vâng, để hôm nào tiện.”

Thế rồi sau đó tôi qua nhà bà thường xuyên. Chúng tôi kể cho nhau nghe đủ thứ chuyện về gia đình, bạn bè và chuyện Việt Nam trước cũng như sau 30-4-1975. Bà cho biết thân nhân gần nhất của bà hiện nay chỉ còn một người em gái tên là Cindy thua bà 10 tuổi và đứa con trai của bà ấy tên Richard, nhưng rất ít khi họ gặp nhau. Lần gặp nhau mới nhất cách đây chừng hai năm; còn thân nhân của ông cụ thì ở tận Tô Cách Lan, hầu như bặt tin. Tôi cũng nói hoàn cảnh tôi không khác gì bà.

Chúng tôi cùng ăn với nhau, cùng xem TV. Khi mỏi mệt tôi nằm trên sô-pha ngủ một cách tự nhiên thoải mái như trong nhà mình. Trong vòng sáu tháng như vậy, ngoại trừ nhà bà Julia, tôi không hề đi đâu cả.

Một hôm tôi nghe có tiếng xe cứu thương réo inh ỏi. Linh cảm cho tôi biết đang có chuyện chẳng lành xảy ra cho bà Julia. Tôi chạy vội qua nhà bà. Tôi đến nơi vừa lúc người ta dìu bà lên cáng để khiêng ra xe cứu thương. Mặt bà nhợt nhạt, miệng há ra, mắt lờ đờ. Tôi đến bên bà nhưng mấy người khiêng cáng ngăn tôi lại. Bà khoát tay ra dấu phản đối rồi chỉ tôi, nói thều thào:

– “Người…quen…của…tôi”

Một người khiên cáng nói:

– “Chị coi giùm nhà. Liên lạc Glendale Medical Center sau.”

Tôi vào nhà bà, thu dọn sơ qua, kiểm soát bếp núc, phòng tắm. Mãi đến chiều tối tôi mới được vào thăm bà. Bà nằm trong bệnh viện nguyên một tuần. Tôi nghỉ việc để săn sóc bà. Tôi làm tại một tiệm móng tay, người chủ ưu tiên cho tôi muốn nghỉ hay làm lúc nào cũng được, miễn là thông báo trước.

Đến ngày thứ tám bà được xuất viện nhưng phải ngồi trên xe lăn. Tôi đem theo một ít áo quần và vật dụng qua nhà bà ở. Nhìn bà nằm trên giường, mắt nhắm nghiền, hơi thở mệt nhọc, tôi thấy bà giống mẹ tôi một cách lạ kỳ, giống hồi mẹ tôi nằm trên giường bệnh trước khi mất. Rõ ràng bà khác mẹ tôi về vóc dáng, nước da, khuôn mặt…nhưng vẫn có cái gì đó mà tôi không thể đặt tên được, rất giống mẹ tôi. Không biết cái nhìn của tôi có gì khác thường không mà tôi thấy có một số người Mỹ, dù đen, trắng, vàng hay đỏ lại giống một số người Việt nào đó, thí dụ như giống cái liếc nhìn, nụ cười hay tính cách.

Hầu như tôi săn sóc bà từ A đến Z. Tôi dìu bà đi tiểu, đi tiêu, đi tắm rửa. Tôi nấu ăn, giặt quần áo, làm vệ sinh nhà cửa. Có lần bà nói muốn ăn phở. Tôi vội vàng lái xe đi mua một tô phở nhỏ chia làm hai, bà một nửa, tôi một nửa. Bà vừa ăn vừa nói:

– “Biết đâu thằng John đang ăn phở bên Việt Nam.”

Ăn xong bà viết một chi phiếu đưa cho tôi:

– “Con nghỉ làm thì tiền đâu mà tiêu. Cầm cái này đi.”

Thấy tờ chi phiếu 300 đô, tôi trả lui cho bà:

– “Cám ơn bà. Con không nhận đâu.”

Bà lắc đầu bảo tôi phải nhận. Tôi từ chối mãi không được, bèn cầm lấy chi phiếu.

Sau đó vài ngày bà Julia khỏe dần nhưng không ra ngồi ngoài hiên như trước. Tôi đi làm trở lại, nhưng tối nào cũng qua nhà bà ngủ. Vài tháng sau, vào một buổi tối, bỗng nhiên bà cụ nắm tay tôi nói:

– “Gọi tao bằng mẹ đi.”*

Tôi cảm động gọi:

– “Mẹ!”*

Bà cụ Julia ôm tôi khóc thút thít như một đứa trẻ.

Mùa đông năm đó bà cụ Julia lại bệnh giống y như lần trước và phải nằm bệnh viện. Tôi được biết, có thể má sẽ nằm đây cho đến khi không cần phải nằm nữa, nghĩa là cho đến khi nhắm mắt lìa đời. Cái gì đến với bà Jennifer trước đây thì nay lại đến với má: – Má không thể tự mình ăn uống và tắm rửa được, cô y tá hay tôi phải thường xuyên thay tã lót cho má. Má thều thào nói với tôi:

– “Cái đó thật sự đã đến với mẹ.”

Tôi rơm rớm nước mắt hỏi:

– “Mẹ thấy trong người thế nào”

– “Người mẹ như đúc toàn bằng xi-măng, nhưng không đau đớn lắm, có lẽ nhờ thuốc. Dù sao tâm hồn mẹ thanh thản lắm.”

– “Mẹ có nghĩ ngợi gì không”

– “Mẹ nghĩ đến Chúa, nghĩ đến thằng John. Con nói phải, đến một trong hai nơi đó mẹ sẽ biết tin nó chính xác hơn. Nghĩ đến đây mẹ cảm thấy vui. Ôi chao, phải chi con là vợ thằng John thì mẹ sung sướng biết bao nhiêu. Con có muốn làm vợ nó không””*

Tôi nói cho má vui lòng:

– “Dạ muốn.”

– “Vậy con ở bên này chờ nó; còn mẹ qua bên kia…”

Má vừa nói vừa tháo chiếc nhẫn từ một ngón tay ra đưa cho tôi.

– “Nếu mẹ có thể giao cái nhà cho con thì mẹ cũng giao.. Giao nhà cho con thì mẹ an tâm hơn nhiều. Nhưng mà không được. Thôi, mẹ cho con chiếc nhẫn này. Đây là chiếc nhẫn mẹ sắm cho John cưới vợ. Thôi, con về ngủ kẻo khuya.”

Vì mỏi mệt, tôi về nhà ngủ mê man cho đến khi nghe tiếng chuông cửa reo liên tiếp, sau đó là mấy tiếng gõ cửa lớn. Tôi đến nhòm vào cái “lỗ an toàn” trên cửa. Một thanh niên chừng 25 tuổi đang đứng bên ngoài. Tôi hỏi anh ta là ai, anh ta nói là cháu của bà Julia. Sau khi vào nhà, anh ta tự nhiên đi tới đi lui khắp nhà, nhìn chỗ này một chút, chỗ kia một chút. Cuối cùng anh thanh niên nói:

– “Việc của chị đến đây là xong. Chị có thể nghỉ việc. Dì Julia của tôi còn thiếu của chị tiền công gì không” Tôi là Richard Carpenter, cháu gọi Julia bằng dì ruột.”

– “Anh gặp bà Julia chưa”” *Tôi bực mình nhưng vẫn thản nhiên hỏi.

– “Dì tôi đã mất lúc 2 giờ sáng hôm nay.”*

Tôi oà khóc và bảo anh ta lái xe đưa tôi đến bệnh viện.

– “Không cần đâu. Đã có bệnh viện và nhà quàng lo. Tôi cũng sẽ lo mọi việc còn lại.” Anh thanh niên nói.

Tôi vội vàng lái xe đến bệnh viện. Người ta cho tôi vào gặp má Julia một cách dễ dàng. Lát sau Richard cũng đến. Anh ta yêu cầu tôi đến lấy những áo quần và vật dụng còn để tại nhà má Julia, để anh ta thuê người chuyên môn về vệ sinh dọn dẹp, tẩy uế. Nhìn vẻ mặt Richard tôi lại thấy anh ta giống một người Việt Nam nào đó nơi quê nhà mà tôi không ưa. Tôi hôn má Julia và ra về.

Tôi bỏ ra ba ngày tìm mộ của má Julia nhưng không ai biết cả. Tôi đến ngôi nhà của má Julia tìm Richard nhưng không có anh ta ở đó. Tôi cảm thấy buồn và chán, muốn rời nơi đây để đi đâu đó thật xa.

Một hôm có người bạn rủ tôi qua Missouri mở tiệm nail.

– “Ở bên đó làm nail kiếm ăn dễ lắm.”

Tôi nói tôi không có tiền. Người bạn ngập ngừng một lát rồi nói:

– “Chị giao chiếc nhẫn cho tôi, xem như… cầm. Tôi với chị thì sao cũng được, nhưng còn chồng tôi nữa “

Tôi thật thà nói:

– “Nó đâu đáng giá bao nhiêu”

– “Hột xoàn thiệt mà. Theo tôi nghĩ, nó vừa đủ cho giá sang nửa cái tiệm nail.” Chị bạn cũng thật thà nói vậy.

– “Đây là vật kỷ niệm của tôi. Tuyệt đối không làm thất lạc. Với bất cứ giá nào, tôi cũng chuộc lại.”

Vậy là tôi theo người bạn qua Missouri. Nơi đây thấy có nhiều ngôi nhà kiểu cổ xinh xắn giống như nhà má Julia, tôi càng nhớ má hơn nữa.

Ở Missouri trong vòng 10 năm, chúng tôi lần lượt mở được 8 tiệm nail rải rác khắp tiểu bang và kiếm được một số tiền tương đối lớn. Tôi đã chuộc lại chiếc nhẫn từ lâu và luôn luôn đeo nó trên ngón tay áp út.

Qua năm thứ 11 ở Missouri tôi thấy mình có đủ điều kiện vật chất để an hưởng tuổi đời còn lại. Lúc ấy tôi vừa 46 tuổi. Tôi không có con cái, nên thấy mình không cần phải bon chen cực nhọc làm việc để lo tương lai cho chúng. Tôi nghĩ tôi nên trở về nơi tôi đã từng ở, khi mới vừa chân ướt chân ráo đến Mỹ bằng hai bàn tay trắng, nơi từng có má Julia thương yêu tôi và nhận tôi làm con dâu. Thế nên tôi bán ngôi nhà, cho bạn bè tất cả đồ đạc, sang lại cơ sở làm ăn , bán chiếc xe hơi và trở lại Cali.

Đến đây tôi thuê tạm một căn nhà nhỏ loại single để ở và mua ngay một chiếc xe hơi khác. Chiều nào tôi cũng lái xe đến đậu gần trường tiểu học Howard, rồi lang thang thả bộ trên lề con đường có hai hàng phượng tím. Không có gì thay đổi. Vẫn hai hàng phượng tím buồn, vẫn những ngôi nhà kiểu cổ xinh xắn.

Tôi đi như vậy để được nhìn lại cảnh vật từng lưu lại trong tôi nhiều kỷ niệm với má Julia. Tôi đi tới đi lui và tôi ước gì mua được một ngôi nhà nằm trong khu vực này. Thế rồi chân tôi tiến về phía ngôi nhà của má Julia lúc nào không hay. Ngôi nhà không có một dấu hiệu nào thay đổi, vẫn màu sơn đó, vẫn cây sồi lá xanh ngắt nhô lên ở phía sau, vẫn những khóm hoa hồng màu đỏ thắm. Và… tôi có hoa mắt không, má Julia từ trong nhà bước ra, tay cầm một bình tưới. Má chỉ tưới vài gốc hồng, rồi mệt mỏi, ngồi lên trên chiếc ghế gần đó. Nước mắt rưng rưng, tôi tiến về phía má, đưa hai tay ra, rồi lại bỏ tay xuống và ngắt một đoá hoa hồng trao cho má.

Tôi mơ hồ nghe tiếng nói:

– “Sao lại ngắt hoa như thế”.

– “Con là Oanh đây mà.”

– “Oanh hả” Tới đây làm gì vậy”

– “Con muốn thăm mẹ và hỏi thăm có ai bán nhà gần đây không.”

– “Nhà ở đây đắt lắm.”

– “Như cái nhà này thì bao nhiêu””

– “Đâu có bán mà nói bao nhiêu”*

Tôi lẩm bẩm:

– “Má Julia chưa chết và trở thành lú lẩn như thế này. Người ta đã lừa tôi.”

Tôi ôm bà cụ, khóc nức nở. Bà cụ cũng ôm lấy tôi:

– “Đã lâu rồi ta chưa được ai ôm như vậy. Phải chi ta có một đứa con gái hay con dâu hiếu thảo như thế này. Ta có một thằng con trai đi lính, rồi đào ngũ, bài bạc, hoang đàng. Thật vô phúc.”

Ngay lúc đó một người đàn ông từ trong nhà bước ra. Chính là Richard. Anh ta nói:

– “Chị muốn mua nhà hả” Mẹ tôi không bán đâu.”

Thì ra bà cụ này là dì Cindy, em của má Julia.

– “Mẹ tôi nói dì Julia không cho phép bán nhà. Mẹ tôi bây giờ lú lẫn lắm. Tôi không có cách gì thuyết phục mẹ tôi bán được, trừ phi… trừ phi mẹ tôi chết. Cô đợi được không” Tôi nghĩ cũng không lâu”

Anh ta lè nhè nói, mặt đỏ gay vì rượu. Anh ta không nhận ra tôi. Tôi sợ hãi chào anh ta và bà cụ, rồi bước nhanh ra xe.

Tối hôm ấy tôi nằm mơ thấy má Julia. Tôi nói đủ thứ chuyện với má, nào là chuyện chiếc nhẫn má cho, chuyện làm ăn, chuyện mua nhà. Sau cùng tôi hỏi:

“Sao mẹ không cho phép dì Cindy bán nhà cho con””

Má Julia cười nói:

– “Mẹ bảo đừng bán cho người khác, chứ không phải đừng bán cho con. Con cứ tới mua đi.”

Tôi cho đó chỉ là giấc mơ vớ vẩn nên không đế ý đến.

Một buổi sáng tôi lái xe ngang ngôi nhà của má Julia. Tôi định đi luôn, nhưng rồi như có một mãnh lực nào đó bảo tôi dừng lại. Tôi đã dừng lại và tiến về phía ngôi nhà.

– “Tôi đã thuyết phục được mẹ tôi bán nhà” Richard nói, nhìn tôi soi mói, nhưng vẫn không nhận ra tôi.

Thế là sau khi nhờ chồng của một người bạn rành về bất động sản trả giá và lo mọi thủ tục, tôi đã mua được ngôi nhà đó.

– “Tôi không ngờ chỉ trả có một tiếng là họ bán liền. Rẻ như cho.” Người chồng của bạn tôi nói.

Mấy tháng sau tôi dọn vào. Ngôi nhà hoàn toàn không được sửa sang tu bổ, mười năm trước thế nào thì nay nó cũng y như thế. Tôi kéo cái hộc tủ ra. Những tấm ảnh gia đình bụi bặm mà có lẽ 10 năm nay không có ai xem. Tôi cho sửa sang, tu bổ lại ngôi nhà, nhưng vẫn giữ nguyên kiểu cách ban đầu.

Theo phong tục Việt Nam, tôi lập một bàn thờ, trên đó đặt các tấm hình của ông bà nội tôi, ba má tôi, ông cụ David, má Julia, chồng tôi và John. Tôi phóng lớn một tấm hình của chồng và một tấm hình của John treo trên tường. Ai hỏi hai người đó là ai, tôi đều nói là chồng tôi, đời chồng trước và đời chồng sau. Tôi đã thay thế má Julia làm chủ ngôi nhà.

Nhưng rồi sẽ được bao lâu như vậy. Một ngày nào đó tôi cũng sẽ theo má Julia. Thế nên tôi thường bắc ghế ra ngồi ngoài hiên, mong có người đến ngắt tặng tôi một đoá hoa hồng.

May be an image of flower, tree and outdoors

HÃY LƯU LẠI: Người xưa đã từng răn dạy!

HÃY LƯU LẠI: Người xưa đã từng răn dạy!

1, Ăn no không gội đầu, đói không tắm. Rửa mặt nước lạnh, vừa đẹp vừa khỏe. Mồ hôi chưa khô, đừng tắm nước lạnh. Đánh răng nước ấm, chống ê chắc răng.

2, Ăn gạo có trấu, thức ăn có chất xơ. Nam không thể thiếu rau hẹ, nữ không thể thiếu ngó sen. Củ cải trắng, sống không tốt nhưng chín thì bổ. Ăn không quá no, no không nên nằm.

3, Dưỡng sinh là động, dưỡng tâm là tĩnh. Tâm không thanh tịnh, ưu tư vọng tưởng dễ nảy sinh. Tâm thần an bình, bệnh sao đến được. Nhắm mắt dưỡng thần, tĩnh tâm ích trí.

4, Dược bổ thực bổ, đừng quên tâm bổ. Coi tiền như cỏ, coi thân như bảo. khói hun cháy lửa, tốt nhất không ăn. Chiên dầu ngâm ướp, ít ăn thì tốt.

5, Cá thối tôm rữa, lấy mạng oan gia. Ăn mặc giữ ấm, nhất thân là xuân. Lạnh chớ chạm răng, nóng chớ chạm môi. Đồ chín mới ăn, nước chín mới uống.

6, Ăn nhiều rau quả, ít ăn đồ thịt. Ăn uống chừng mực, ngủ dậy đúng giờ. Đầu nên để lạnh, chân nên giữ ấm. Vui chơi biết đủ, không cầu an dật.

7, Dưỡng sinh là cần cù, dưỡng tâm là tĩnh tại.

8, Người đến tuổi già, thì phải rèn luyện, đi bộ chạy chậm, luyện công múa kiếm; đừng sợ giá lạnh, quét sạch sân nhà, hội họa thêm vui, tấm lòng rộng mở.

9, Nghe tiếng gà gáy, đừng cố nằm thêm, trồng hoa nuôi chim, đọc sách ngâm thơ; chơi cờ hát kịch, không ham phòng the, việc tư không nhớ, không chiếm lợi riêng.

10, Ẩm thực không tham, bữa tối ăn ít, khi ăn không nói, không nên hút thuốc; ít muối ít đường, không ăn quá mặn, ít ăn chất béo, cơm không quá nhiều;

11, Mỗi ngày ba bữa, thức ăn phù hợp, rau xanh hoa quả, ăn nhiều không sợ; đúng giờ đi ngủ, đến giờ thì dậy, nằm dậy nhẹ nhàng, không gấp không vội;

12, Uống rượu có độ, danh lợi chớ tham, chuyện thường không giận, tấm lòng phải rộng.

13, Tâm không bệnh, nên phòng trước, tâm lý tốt thân thể khỏe mạnh; tâm cân bằng, phải hiểu biết, cảm xúc ổn định bệnh tật ít;

14, Luyện thân thể, động cùng tĩnh, cuộc sống hài hòa tâm khỏe mạnh; phải thực dưỡng, no tám phần, tạng phủ nhẹ nhõm tự khai thông;

15, Người nóng giận, dễ già yếu, thổ lộ thích hợp người người vui; thưởng thức thư họa, bên suối thả câu, lựa chọn sở thích tự do chơi;

16, Dùng đầu óc, không mệt nhọc, bớt lo dưỡng tâm ít náo nhiệt; có quy luật, sức khỏe tốt, cuộc sống thường ngày phải hài hòa;

17, Tay vận động, tốt cho não, phòng ngừa bị lạnh và cảm cúm.

18, Mùa hè không ngủ trên đá, mùa thu không ngủ trên phản. Mùa xuân không hở rốn, mùa đông không che đầu. Ban ngày hoạt động, tối ngủ ít mơ.

19, Tối ngủ rửa chân, hơn uống thuốc bổ. Buổi tối mở cửa, hễ ngủ là say. Tham mát không chăn, không bệnh mới lạ.

20, Ngủ sớm dậy sớm, tinh thần sảng khoái, tham ngủ tham lạc, thêm bệnh giảm thọ. Tranh cãi buổi tối, ruột như sát muối.

21, Một ngày ăn một đầu heo, không bằng nằm ngủ ngáy trên giường.

22, Ba ngày ăn một con dê, không bằng rửa chân rồi mới lên giường.

23, Gối đầu chọn không đúng, càng ngủ người càng mệt. Tâm ngủ trước, người ngủ sau, ngủ vậy sẽ thành mỹ nhân.

24, Đầu hướng gió thổi, ấm áp dễ chịu, chân hướng gió thổi, hãy mời thầy lang.

25, Không ngủ nơi ngõ hẻm, độc nhất khi gió lùa.

26, Đi ngủ không thắp đèn, sáng dậy không chóng mặt.

27, Muốn ngủ để tấm thân nhẹ nhõm, chân không hướng tây đầu không hướng đông

Nguồn: St

From: Nguyen Phi Phuong

Hơn 150 đảng viên Cộng hòa khởi động phong trào chính trị mới, đặt câu hỏi về vai trò của Trump trong đảng Cộng hòa

Hơn 150 đảng viên Cộng hòa khởi động phong trào chính trị mới, đặt câu hỏi về vai trò của Trump trong đảng Cộng hòa

Bởi  AdminTD

CNN

Tác giả: Daniella Diaz

Dịch giả: Dương Lệ Chi

13-5-2021

(CNN) Một nhóm gồm hơn 150 đảng viên đảng Cộng hòa, dẫn đầu bởi những người chỉ trích Donald Trump là Evan McMullin và Miles Taylor, tuyên bố một phong trào chính trị mới nhắm vào việc cựu Tổng thống Mỹ Donald Trump giữ vai trò trong đảng Cộng hòa, và kêu gọi cải tổ đảng.

Nỗ lực này diễn ra chỉ vài giờ sau khi dân biểu Liz Cheney, từ tiểu bang Wyoming, bị các đồng đảng trong Hạ viện truất khỏi vị trí lãnh đạo đảng Cộng hòa vì bà thẳng thắn chỉ trích Trump nói dối, rằng cuộc bầu cử của ông ta đã bị đánh cắp, một lần nữa nhấn mạnh sự kềm kẹp của cựu tổng thống đối với đảng Cộng hòa và sự thách thức đối với những người trong nhóm, qua việc tìm cách định hình lại đảng Cộng hòa.

McMullin là người từng tranh cử tổng thống trong vai trò ứng cử viên độc lập hồi năm 2016 và Taylor, là người nổi tiếng, từng viết một cuốn sách ẩn danh lên án chính quyền Trump, đã tổ chức nỗ lực này và đề ra một bộ nguyên tắc hành động trên báo Deseret News hôm thứ Năm [13/5/2021].

Taylor nói trong chương trình New Day của CNN hôm qua: “Đã quá đủ rồi và chúng ta cần đưa ra một liên minh chung cho đất nước này, cũng như một tầm nhìn thống nhất hơn để thay thế những gì chúng ta đang thấy từ đảng Cộng hòa hiện tại, bây giờ trở nên thối nát với những cuộc tấn công dai dẳng vào nền dân chủ của chúng ta. Cho nên, thông điệp của chúng tôi là, đã đến lúc cải tổ hoặc hủy bỏ đảng Cộng hòa”.

Trong bộ nguyên tắc hành động, nhóm viết rằng, họ “hình dung lại một đảng phục vụ những lý tưởng sáng lập của chúng tôi, hoặc nếu không thì đẩy nhanh việc tạo ra một sự thay thế tương tự như thế”.

Họ đã viết trong tuyên bố về các nguyên tắc của mình: “Chúng tôi tìm kiếm sự bảo tồn và cải thiện nền cộng hòa dân chủ và sự bền vững cho chính phủ tự trị của chúng tôi, không bị can thiệp và bảo vệ chống lại mọi kẻ thù, trong và ngoài nước. Chúng tôi phản đối việc sử dụng các biện pháp gây sợ hãi, thuyết âm mưu và sự giả dối; thay vào đó, chúng tôi ủng hộ việc hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng và lời nói trung thực”.

LS George Conway, chồng của bà Kellyanne Conway, cựu cố vấn tòa Bạch Ốc và cũng là một thành viên trong nhóm, nói rằng, đây không phải là một đảng thứ ba, mà là một phong trào.

Ông Conway nói với phóng vien Anderson Cooper của đài CNN tối thứ Tư [12/5/2021]: “Tôi không nghĩ rằng tôi mô tả nó như một đảng thứ ba với tư cách là một liên minh. Tôi không nghĩ rằng một đảng thứ ba nhất thiết phải hoạt động theo kiểu hệ thống chính trị mà chúng tôi có, với quận hạt có một dân biểu. Nhưng cần có những người có quan điểm từ bảo thủ đến quan điểm trung bình, muốn tin vào pháp quyền và họ cần một nơi để đến và một nơi mà họ có thể tổ chức và hỗ trợ những ứng cử viên phù hợp với điều đó”.

Danh sách các đảng viên Cộng hòa ký tên, gồm Bill Weld, cựu Thống đốc bang Massachusetts và Mark Sanford, cựu Thống đốc bang South Carolina, cũng như 27 cựu dân biểu Hạ viện Hoa Kỳ, gồm Barbara Comstock, Charlie Dent, Paul Mitchell; và cựu Thượng nghị sĩ David Durenberger.

Các đảng viên khác của nhóm, gồm Anthony Scaramucci, cựu giám đốc truyền thông tòa Bạch Ốc; Elizabeth Neumann, cựu quan chức Bộ Nội an; và John Mitnick, cựu cố vấn Bộ Nội an.

Bé Ký, nữ họa sĩ nổi danh trong hội họa Việt Nam, qua đời

Bé Ký, nữ họa sĩ nổi danh trong hội họa Việt Nam, qua đời

WESTMINSTER, California (NV) – Nữ họa sĩ Bé Ký, một tên tuổi gắn liền với hội họa của người Việt Nam, qua đời vào chiều Thứ Tư, 12 Tháng Năm, tại nhà ở Westminster, hưởng thọ 83 tuổi.

Tin này được ông Hồ Thành Cung, con trai của họa sĩ Bé Ký, xác nhận với nhật báo Người Việt.

Nữ họa sĩ Bé Ký. (Hình: Gia đình cung cấp)

Ông Cung kể: “Mẹ mất vào khoảng 2 giờ đến 6 giờ chiều. Tôi về nhà thì thấy bà mất trong lúc ngủ và đang nắm tay ba. Mẹ tôi không chỉ là một người mẹ bình thường, và còn là một họa sĩ thành công với nhiều tác phẩm đầy tình mẹ con.”

Theo ông, bà sống với cha mẹ nuôi khi vào miền Nam, sau đó tìm lại được cha mẹ ruột sau năm 1975, nhưng họ đã qua đời.

Về phần hội họa, bà tự học vẽ từ nhỏ và được các họa sĩ như Trần Đắc, Trần Văn Thọ và Văn Đen chỉ dạy.

Họa sĩ Bé Ký lúc còn trẻ. (Hình: Gia đình cung cấp)

Từ năm 1957 đến 1975, họa sĩ Bé Ký có đến 16 cuộc triển lãm ở Sài Gòn.

Sau khi đến Hoa Kỳ vào năm 1989, bà cùng chồng là họa sĩ Hồ Thành Đức và gia đình sống ở thành phố Westminster, California. Các tác phẩm của bà cũng được trưng bày tại nhiều cuộc triển lãm tại nhiều tiểu bang, và còn được trưng bày tại Học Viện Smithsonian.

Họa sĩ Nguyên Khai, người cùng thời với họa sĩ Bé Ký, cho hay sự ra đi của nữ họa sĩ Bé Ký là một mất mát lớn đối với hội họa của người Việt Nam vì bà có rất nhiều cống hiến.

Ông nói với nhật báo Người Việt: “Họa sĩ Bé Ký là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên theo con đường hội họa này, và có nét vẽ theo đường lối mới rất đặc biệt. Bà tự học vẽ từ nhỏ và bắt đầu vẽ tranh từ lúc còn rất trẻ.”

Theo ông, những tác phẩm của họa sĩ Bé Ký rất phóng khoáng và đầy tinh thần dân tộc, thể hiện được nhiều mặt của xã hội.

Vài tác phẩm của họa sĩ Bé Ký tại tòa soạn nhật báo Người Việt. (Hình: Thiện Lê/Người Việt)

“Tranh của bà có đề tài rất xã hội vì vẽ người bán hàng ngoài đường, hớt tóc, ráy tai, nên ai cũng thích. Từ lúc trẻ, bà được báo chí Pháp ca tụng rất nhiều,” ông chia sẻ.

Cuối cùng, họa sĩ Nguyên Khai nói: “Sự ra đi của bà là mất mát lớn của hội họa Việt Nam, nhất là đối với phái nữ vì bà là đại diện cho họ trong nhiều chục năm.” (Thiện Lê) [qd]

Xem thêm:

Bé Ký – Nữ Họa Sĩ Của Vỉa Hè Đô Thành – qua đời

Ấn Độ – Thiên đường và địa ngục

Ấn Độ – Thiên đường và địa ngục

Nhiều người từng đến Ấn Độ chắc đều có chung một cảm giác là đã đến một đất nước với hai thái cực, vừa là địa ngục vừa là thiên đường. Bẩn thỉu và thánh thiện, ồn ào và lười nhác, xảo trá và chính trực. Sự biến đổi ở đây là không thể lường trước được, nhưng lại không thể cưỡng lại được. Sáu nghìn năm văn hiến đã khiến cho Ấn Độ toát lên khí chất mạnh mẽ giữa thần tiên và ma mị, đồng thời cũng khiến tâm trạng một du khách như lão PP thăng trầm như chiếc xe vượt núi băng đèo trong suốt cuộc hành trình.

Hơn 20 năm trước, lão lần đầu tiên đến sân bay Delhi, cảm thấy không khác gì những sân bay quốc tế khác. Nhìn thấy quầy taxi, lão bước đến trả tiền trước cho một chiếc xe, vừa bước ra khỏi sảnh một mùi ẩm nóng phả vào mặt mang theo đủ vị, xăng, dầu, mồ hôi, cứt chó, cứt bò, mùi hoa, mùi nước hoa, mùi gia vị…hỗn độn khó tả. Đang loay hoay tìm phương hướng đi về bãi đậu taxi thì một tia chớp loé sáng, chiếc xe Hindustan Ambassador cũ kỹ tưởng chui ra từ đống rác đỗ xịch trước chân, một chiếc đầu xù tóc, khuôn mặt đen xì với đôi mắt chỉ lòng trắng thò ra bên ngoài xe (Ấn Độ vô lăng bên phải) “Sir, you book a car?” (Thưa ngài, ngài đặt xe chứ?). Lão hơi ngần ngại nhìn chiếc xe như đồ chơi nhưng vì là một tay lão luyện từng trôi nổi giang hồ nên rất dễ thích nghi mọi điều, lão “Yes” xong thì mở cửa xe định chui vào ngồi ghế bên tay trái lái xe thì trên ghế đầy rác rưởi, nào là vỏ hộp đồ ăn nhanh, vỏ chai, thuốc lá, giấy, khăn…Tay lái xe chỉ tay ra hàng ghế sau, lão chui vào chưa yên vị thì hắn đã rồ ga phun khói lao đi.

Cậu ta tăng ga lạng lách trên đường, vượt qua nhiều ô tô có vết đâm xước lồi lõm, xe nào cũng muốn tranh lao đi trước, chạm nhau là chuyện thường tình. Nhiều người chắc sẽ hoảng hồn về kiểu lái như một thằng điên cầm lái này, nhưng đối với lão quen trò mạo hiểm nên không hề lo lắng về điều này, dường như tốc độ điên cuồng của chiếc xe đã mang lại cho lão một cảm giác cực kỳ thú vị, lão luôn miệng cổ vũ “Hey, very good, try faster!” ( Này, được lắm, thử đi nhanh hơn). Một phần cũng để răn đe hắn rằng, bố mày đến từ New York, dọa bố mày đéo được đâu, và đừng giở những trò gì khác.

Không khí nóng ẩm phả mạnh vào mặt, nhìn xung quanh, dọc đường có rất nhiều cây xanh khiến lão hơi ngạc nhiên. Bỗng tay tài xế phanh gấp, một thằng cha khoác một chiếc bị hơi to đứng bên đường. Xe đậu lại, hắn tự nhiên như ruồi mở cửa chui lên xe ngồi cạnh lão, hắn chào lão cũng rất tự nhiên. Cậu lái xe cũng rất thản nhiên bắn cho lão hai câu cộc lốc “My friend “ ( bạn tôi). Lão chưa kịp hoàn hồn thì chiếc xe lại lao đi như bay rồi dừng lại ở một khu chợ ven đường, tay bạn đi nhờ xe lao xuống nhưng cũng không quên quay đầu vẫy tay chào lão “Thank you sir!” (Cảm ơn ông). Lão bị cứng lưỡi sau khi tay này lên ngồi cạnh và hít đủ mùi cà ri và mồ hôi của hắn. Lão chỉ kịp bật ra câu “Địt mẹ, chuối thật!”.

Điểm đến của lão là khách sạn 5 sao “The Park New Delhi” nhưng một người bạn từ Hồng Kông đến trước hẹn gặp lão tại sảnh nhà ga xe lửa New Delhi. Tay lái xe đậu xe trên một con đường bẩn thỉu và nói với lão rằng đây là chợ Main Bazaar đi bộ xuyên vào bên trong là ga xe lửa, hỏi sao không đưa tớ đến tận cửa, hắn nói phải về đi lễ với vợ, nếu đi đến cửa lại phải vòng hơi xa. Thôi đành vậy, tức giận cũng chẳng giải quyết được gì. Lão lê bước trên một con đường gập ghềnh đầy bùn đất và rác thải, không khí nồng nặc mùi phân bò, hai bên là những tòa nhà cũ nát tưởng chừng như sắp đổ sập, những cửa hàng nhỏ bày bán đầy quần áo, khăn quàng, thảm đủ màu sắc, dân tình đi lại nháo nhào, tiếng rao hàng, tiếng hét tìm người, tiếng đọc kinh kệ, tiếng chó sủa, tiếng còi xe cũng kinh thiên động địa.

Đến sảnh ga thì đã thấy thằng bạn đứng đấy bên cạnh là một chiếc xe Tuktuk. Cậu ta làm ăn ở đây nên rất thông thạo New Delhi. Cậu ta giải thích, giờ này đi Tuktuk sẽ nhanh hơn taxi vì tắc đường trầm trọng. Thế là lại ngồi lên Tuktuk, rồi như một cơn lốc, xe luồn lách lao đi như một con chó điên xổng chuồng khiến người ngồi trên rớt tim nếu như chưa từng trải. Một hồi rồi cũng đến được khách sạn.

Bước vào khách sạn là thiên đường, là một thế giới hoàn toàn khác chỉ cách một bức tường với bên ngoài. Kẻ hầu người hạ giúp xách hành lý, đưa tận tay những chiếc khăn, đồ uống mát lạnh. Mọi tiện nghi từ nhà hàng, quầy bar, mát xa, bể bơi cho đến phục vụ đều tiêu chuẩn thế giới. Tắm rửa thay đồ xong, hai thằng xuống sảnh khách sạn. Một chiếc xe Mercedes-Benz đen mới cứng từ từ lăn bánh vào trước sảnh, một cậu lái xe ăn mặc áo trắng quần Tây đen là lượt phẳng phiu nhẩy xuống mở cửa xe mời hai vị lên. Ngồi trong xe mát lạnh thơm tho nên cũng không cảm thấy đường dài sau đấy đến một dinh thự ở khu người giàu Sunder Nagar bên cạnh là dòng sông Sunder Nagar tuyệt đẹp. Chủ nhân là một cặp vợ chồng trẻ thuộc giới thượng lưu Ấn Độ kinh doanh trong ngành công nghiệp phim ảnh Ấn Độ Bollywood. Mỗi năm họ làm vài chục bộ phim và thu nhập vài trăm tỷ VNĐ như chơi.

Đừng hình dung biệt thự 40 nghìn mét vuông của hai vợ chồng này như biệt thự Ecopark Việt Nam hay thậm chí như biệt thự bình thường ở Beverly Hills, Los Angeles, California, Mỹ. Nó kinh tởm hơn nhiều, nó rộng và chiếm cả một quả đồi. Hai vợ chồng hai đứa con có hơn 50 người hầu hạ. Lão cũng không muốn tả lại căn biệt thự này làm chi, bởi nói như vậy là đủ. Riêng căn phòng làm rạp chiếu phim của họ thì lão thực sự ngưởng mộ. Màn hình rộng, ghế ngồi như ghế máy bay hạng thương gia năm sao cho khoảng 30 người, mỗi người một tủ lạnh một bàn đủ đồ uống, rượu và đồ ăn vặt. Âm thanh nổi, sự phân giải màu sắc thì tuyệt đỉnh. Lão đã từng tự hào về căn phòng xem duyệt phim của hãng phim Gia Hoà, Hồng Kông và cứ đinh ninh là nhất châu Á, khi nhìn thấy căn rạp mini thượng lưu này mới cảm thấy hổ thẹn.

Chiều hôm ấy được hai vợ chồng chiêu đãi một bữa ăn nửa Âu nửa Á do một đầu bếp thuê từ Hồng Kông. Suốt bữa ăn, lão được nghe chủ nhân kể về sự khác biệt trong xã hội Ấn Độ và ngành điện ảnh mà họ đang kinh doanh. Nói tóm lại, họ đã giải thích trước những cái mà lão sẽ được chiêm nghiệm vào vài ngày tới.

3 giờ sáng hôm sau vợ chồng này cho lái xe đến đón lão tại khách sạn đi 3 tiếng đồng hồ thì đến Taj Mahal để vừa kịp ngắm bình minh ở đây. Taj Mahal là một trong bảy kỳ quan thế giới và còn được biết đến như một đài tưởng niệm tình yêu tuyệt đẹp do Hoàng đế Shah Jahan xây dựng cho vợ mình là Mumtaz Mahal. Đây là một kỳ quan kiến ​​trúc được làm bằng đá cẩm thạch trắng và khảm 33 loại đá quý khác, các nghệ nhân đã mất gần 22 năm để xây dựng lăng mộ kỳ diệu này. Nếu để chiêm ngưỡng kỹ càng lăng mộ này thì cần khoảng vài ngày. Nhưng cưỡi ngựa xem hoa thì cũng nhìn ra một mối tình đáng ca tụng đến muôn thuở. Lão nhớ khi bước vào cổng Taj Mahal, có một dòng chữ viết như sau: “O Soul, thou art at rest. Return to the Lord at peace with Him, and He at peace with you.” ( Này linh hồn, ngươi đã yên nghỉ. Hãy trở về bên Thượng đế, bình yên với Ngài, và Ngài sẽ bình yên với bạn.)

Mấy ngày sau, lão muốn tự mình đi khám phá New Delhi và lang thang hết hang cùng ngõ hẻm. Từ New Delhi hiện đại đến Old Delhi cũ kỹ rách nát. Ghé thăm Chandni Chowk, Jama Masjid, Kinari Bazaar, Silver Market và Chợ Gia vị lớn nhất Châu Á. Rồi đi thăm Cổng Ấn Độ, Tòa nhà Tổng thống, Quốc hội Ấn Độ và Quảng trường Connaught.

Những con đường nhỏ hẹp, quanh co và lề đường của Delhi cũ là minh chứng cho sự cai trị của Mughal trước đây. Old Delhi có một trong những khu chợ lâu đời nhất và sầm uất nhất của đất nước – Chandni Chowk (Moonlight Square). Ở đây bạn có thể chiêm nghiệm những món ăn dân gian của Ấn Độ. Đây cũng là một con phố khác thường, một địa điểm tôn giáo nổi tiếng mà các tôn giáo khác nhau cùng tồn tại. Ở đây có Đền Tianyi Sect Jain, Đền Gaoli Sankha của Ấn Độ giáo, Nhà thờ Christian Central Baptist, nhà thờ Đạo Sikh, Nhà thờ Hồi giáo vàng Islam, Nhà thờ Hồi giáo Islam Fatehpur. Nhà thờ Hồi giáo nổi tiếng nhất ở Delhi, Jama Masjid, cũng nằm gần đó và được xây dựng vào năm 1650.

Đi bộ trên đường phố New Delhi, thủ đô của Ấn Độ, những khác biệt rất lớn ở thành phố này thật đáng ngạc nhiên. Bên cạnh những khu ổ chuột đổ nát là những khu dân cư cao cấp, với những con chim cùng con người kiếm ăn trên bãi rác, những con khỉ trên dây điện trong khu phố cổ … Sự nghèo đói và giàu sang được bộc lộ quá ư là sắc nét.

Lão đi vào khu ổ chuột Tughlakabad, không khí nồng nặc đầy mùi nước tiểu. Ngoài ra, nhiều con đường ngập rác và chất thải không rõ nguồn gốc, nhiều lúc không biết đặt chân vào đâu, phân trẻ em chỗ nào cũng có, lão thấy vài bà mẹ bế con để chúng ỉa ngay trên đường. Lão len lõi vào một chiếc hẻm, có đoạn chỉ rộng bằng một người đi vào để theo chân một anh bạn lái xe Tuktuk vào thăm nhà anh ta ở đây. Căn nhà có 5 mét vuông kê 2 giường tầng ở đến 6 người. Tuy họ nghèo khổ nhưng họ vẫn vui vẻ nhiệt tình và không hề ái ngại với người bạn mới quen.

Ngược lại ở New Delhi, đặc biệt là trong khu vực trung tâm thành phố, cây cối rậm rạp, sạch sẽ và thoáng rộng, trong khi tình trạng lộn xộn ở Old Delhi thật sự gây sốc, hai cảnh tượng chỉ ngăn cách nhau bởi một bức tường cổ.

Khoảng cách giàu nghèo ở Ấn Độ lớn như thế nào? 5 mét vuông nhà cho người nghèo và 40 nghìn mét vuông dinh thự cho người giàu. Nói vậy dễ hình dung hơn.

Ấn Độ luôn được biết đến là nghèo đói trong mắt người nước ngoài. Nhưng điều mà nhiều người không biết là đất nước bị người khác chê nghèo, nhưng số lượng tỷ phú lại đứng thứ ba thế giới, chỉ sau Hoa Kỳ và Trung Quốc. Lấy ví dụ như người đàn ông giàu nhất Ấn Độ, Mukesh Ambani. Thu nhập hàng ngày của ông có thể đạt 10,7 tỷ Rupee. Ông đã vượt qua người giàu nhất Trung Quốc Jack Ma trước khi trở thành người giàu nhất châu Á và đứng thứ 16 trong danh sách người giàu toàn cầu.

Ở đất nước này, những khu nhà giàu và khu ổ chuột thường được ngăn cách chỉ một bức tường, nhưng những người giàu lại ngoảnh mặt làm ngơ trước những đồng bào đang chật vật với cơm ăn áo mặc, và cảm thấy không cần thiết phải giúp họ thoát nghèo. Ở phía đông và phía tây của một bức tường, phía đông là thiên đường tráng lệ trên trái đất, phía tây là địa ngục kinh hoàng của trần gian.

Những người giàu sống trong biệt thự, lái những chiếc xe hơi sang trọng và được kẻ thấp hèn hầu hạ. Họ sống như đế vương. Khi màn đêm buông xuống, họ lái những chiếc xe thể thao đắt giá gầm rú trên đường phố và ngõ hẻm. Họ có thể vung phí tiền kể cả ở Paris và hô phong hoán vũ bắt những người da trắng hầu hạ dưới ma lực của đồng tiền.

Còn những người “hàng xóm” của họ sống như chuột cống, tiền sinh hoạt hàng ngày thường chỉ vẻn vẹn một Đô La, họ phải sống trong những căn nhà dột nát, tối tăm ẩm thấp với bốn bức tường, suốt ngày quanh quẩn ở bãi rác tìm kiếm thức ăn có thể nuôi sống bản thân.

Hiện thực là vậy, một trong số ít họ đang đứng trên đỉnh của kim tự tháp và nhiều người còn lại đang quỳ dưới đáy của kim tự tháp, sự khác biệt là không thể tránh khỏi. Nhưng tuy vậy, tầng lớp dưới đáy sống rất vừa lòng với thực trạng, với số mệnh an bài và họ lại rất lãng mạn yêu đời. Bất cứ ở đâu, các bạn đều thấy nụ cười và ánh mắt chan chứa tình cảm của họ. Họ thích múa, thích hát, thích pha trò, chỉ cần đốt lửa và âm nhạc nổi lên, cho dù họ đang bận tay làm gì cũng vứt đấy ra tụ tập nhẩy múa hát hò đã. Mọi người đều không vì nghèo đói mà mất đi sự nhiệt tình và trung thực, một sự thành kính với tôn giáo tuy đơn giản nhưng vững vàng như đá hoa cương không hề suy suyển trước gió mưa, tháng ngày.

Không còn nghi ngờ gì nữa, Ấn Độ là đất nước huyền diệu và lãng mạn, là cõi Cực Lạc mà Đường Tam Tạng đã trải qua muôn vàn gian nan đi đến để thỉnh kinh. Ấn Độ cũng là một đất nước đầy mâu thuẫn, đầy tranh cãi, nhưng lại đầy hấp dẫn. Một số người khi đã bước chân đến đây đều không khỏi yêu nó đến say đắm và khó có thể rời xa, coi nó như thiên đường, nhưng một số người lại chế nhạo Ấn Độ, mô tả nó như một khu chợ ồn ào, bẩn thỉu, nghèo nàn và lạc hậu, và coi nó như địa ngục. Nhà văn Mỹ Mark Twain đã từng nói rằng “vì sự phức tạp của Ấn Độ nên bất kỳ sự đánh giá nào cũng đều đúng”. Bản thân Ấn Độ là nơi giao thoa giữa thực tế và mộng cảnh. Câu trả lời nằm trong trái tim mỗi người, ngay trong mắt bạn. Bạn hy vọng nhìn thấy điều gì? Bạn muốn ngăn chặn điều gì? Chỉ bạn mới có thể giải thích Ấn Độ.

Ấn Độ là đất Phật, tuy rằng nó lộn xộn bẩn thỉu phản ảnh lên muôn kiếp nhân sinh trong cõi ta bà. Nhưng nếu bạn đến đây với một tấm lòng hành hương để trải nghiệm, thì ngoại cảnh không cần thiết. Bạn nhìn thấy dấu ấn của Phật, chạm tay vào cổ tích, đấy là thiên đường. Bạn nhìn thấy và chứng kiến hiện thực, đấy là địa ngục.

Lão đã chứng kiến những cảnh tượng không thể hiểu nổi này mà rơm rớm nước mắt, khi đã ngộ ra thấu hiểu mới cảm thấy sự ngu dốt và tầm thường của chính mình. Điều kỳ diệu của Ấn Độ là trong sự hoang tàn và hỗn loạn vẫn tỏa sáng trí tuệ của nền văn minh triết học cổ đại. Nếu nhìn nó bằng bộ óc văn minh hiện đại, bạn sẽ không hiểu hết Ấn Độ. Chúng ta chỉ nhìn thấy sự bất công của chế độ đẳng cấp và sự mê muội vào nhiều vị thần, nhưng chúng ta không thể cảm nhận được sự cân bằng của việc chấp nhận luân hồi ở mỗi người nơi đây, bởi vì tất cả những điều này có thể bị cho là mê tín.

Mặc dù Ấn Độ là một quốc gia, nhưng có hai thế giới cực đoan. Mặc dù họ cực đoan chia rẽ, nhưng lại khăng khít với nhau. Tầng lớp trên bóp cổ tầng lớp dưới, tầng lớp giàu sụ thành công là nhờ sự bóc lột tầng lớp dưới. Vậy trong thế kỷ 21, tại sao Ấn Độ vẫn chưa thay đổi được tình trạng này?

Thứ nhất, chế độ đẳng cấp phân tầng xã hội đã được lưu truyền hàng nghìn năm. Xã hội Ấn Độ được chia thành bốn đẳng cấp, Bà la môn, Kshatriya, Vaisha và Sudra. Theo quan điểm của họ, Bà La Môn là cửa miệng của người nguyên thủy và thuộc tầng lớp cao nhất của xã hội. Họ thuộc hàng tăng lữ và có quyền giải thích mọi kinh điển. Kshatriya là cánh tay của người nguyên thủy, do Bà-la-môn trực tiếp điều khiển, phụ trách quyền lực quân sự và chính trị. Vaisha là đùi của người nguyên thủy, là những người bình thường bao gồm nông dân, người chăn nuôi và thương gia. Sudra là chân của người nguyên thủy, thuộc về thấp nhất. Những người thuộc đẳng cấp này bao gồm những người hầu, thợ thủ công, bồi bàn và đầu bếp. Đây là giai cấp đông dân nhất. Những người thuộc dạng Bà La Môn sẽ không hề coi người thuộc dạng Sudra là “người”, không chạm tay vào họ thậm chí nếu đang đi trên đường mà chiếc bóng của họ bị chiếc bóng của người Sudra đè lên cũng lập tức về ngay để tắm rửa sạch sẽ.

Những người ở khúc cuối thấp nhất của kim tự tháp cam chịu phục tùng và không bao giờ cảm thấy rằng có bất kỳ vấn đề gì. Theo quan điểm của họ, ngay từ khi sinh ra, họ đã có một định mệnh bi thảm, nếu không phục tùng tầng lớp thượng lưu, họ sẽ vi phạm ý trời và bị ông trời trừng phạt.

Chế độ đẳng cấp ban đầu chỉ là lời nói xảo quyệt được tạo ra bởi những người ở cấp cao để hưởng sự thịnh vượng và giàu có vĩnh viễn, nhưng lời xảo quyệt này đã được lưu truyền trong 3000 năm và mọi người đều biết bộ mặt thực sự của nó. Người Anh khi thống trị nước này cũng đã từng nghĩ đến việc xóa bỏ chế độ này nhưng cũng không thành.

Ấn Độ đã độc lập trong nhiều năm và chưa bao giờ cảm thấy rằng chế độ đẳng cấp là một tệ hại. Chừng nào nó còn tồn tại, giai cấp xã hội sẽ tiếp tục cố định theo cách này, những người ở dưới đáy sẽ không bao giờ có cơ hội đứng lên và nắm quyền kiểm soát, và khoảng cách giàu nghèo sẽ tiếp tục được nới rộng.

Thứ hai, những mặt hạn chế của Ấn Độ giáo. Tôn giáo này cho rằng phụ nữ là hiện thân của cái ác. Họ được sinh ra để làm mê hoặc thế giới, họ chỉ là kẻ hầu của đàn ông, họ không xứng đáng với bất kỳ phẩm giá nào, và họ không có nhân quyền nào cả. Chừng nào sự nguyên thuỷ và hạn chế của Ấn Độ giáo không bị phá vỡ, thì phụ nữ Ấn Độ sẽ không bao giờ có thể phá vỡ gông cùm. Sự bất công bằng giữa nam và nữ của Ấn Độ khiến các vụ hiếp dâm vẫn sẽ tiếp tục cho đến khi đất nước suy sụp.

Cả chế độ đẳng cấp và Ấn Độ giáo đều đã ăn sâu vào đất nước này và không thể xóa bỏ nó. Bởi vì một khi chạm đến những điều này thì đụng chạm đến lợi ích của tầng lớp trên khi tầng lớp này dù chỉ có 1% dân số nhưng nắm giữ đến hơn 70% tài sản cả nước. Và làm sao họ có thể chịu đựng được chiếc bánh của mình bị kẻ khác chia cắt?

Lần bùng phát thứ hai của đại dịch ở Ấn Độ là hình ảnh thu nhỏ cho những khiếm khuyết của Ấn Độ. Trước hết, họ biết rằng dịch bệnh vẫn chưa qua đi nhưng vẫn tổ chức các nghi lễ tôn giáo hoành tráng và tụ tập tranh cử. Thứ hai, họ tin tưởng một cách mù quáng, mê tín rằng với sự phù hộ của thần linh, họ có thể vượt qua dịch bệnh.

Dịch bệnh bùng phát, người chết như rạ, những người giàu đã đáp máy bay riêng trốn sang châu Âu để hưởng thụ tiếp, để lại những người nghèo vật lộn với dịch bệnh ở vùng đất thảm họa này.

Cầu nguyện cho họ, cầu nguyện cho một đất nước đáng yêu, đáng nhớ và huyền bí.

Bài viết của Peter Pho

 

CON ƠI! NHỚ LỜI CHA DẶN…

GÓC SUY GẪM…

CON ƠI! NHỚ LỜI CHA DẶN…

– Có ai khen con đẹp, con hãy cảm ơn và quên đi lời khen ấy.

– Có ai bảo con ngoan, hãy cảm ơn và nhớ ngoan hiền hơn nữa.

– Với người òa khóc vì nỗi đau mà họ đang mang, con hãy để bờ vai của mình thấm những giọt nước mắt ấy.

– Với người đang oằn lưng vì nỗi khổ, con hãy đến bên và kề vai gánh giúp.

– Người chìa tay và xin con một đồng. Lần thứ nhất con hãy tặng họ hai đồng. Lần thứ hai hãy biếu họ một đồng. Lần thứ ba con phải biết lắc đầu. Và đến lần thứ tư con hãy im lặng, bước đi.

– Con hãy biết khen. Nhưng đừng vung vãi lời khen như những cậu ấm cô chiêu vung tiền qua cửa sổ.

– Lời chê bai con hãy giữ riêng mình.

– Nụ cười cho người. Con hãy học cách hào phóng của mặt trời khi tỏa nắng ấm.

– Nỗi đau. Con hãy nén vào trong.

– Nỗi buồn. Hãy biết chia cho những người đồng cảm.

– Đừng khóc than, quỵ lụy, van nài. Khi con biết ngày mai rồi sẽ đến. Có bầu trời, gió lộng thênh thang.

– Con hãy đưa tay. Khi thấy người vấp ngã.

– Cần lánh xa. Kẻ thích quan quyền.

– Bạn. Là người biết đau hơn nỗi đau mà con đang có.

– Thù. Là người quặn đau với niềm vui mà con đang có.

– Chọn bạn sai. Cả đời trả giá.

– Bạn hóa thù. Tai họa một đời.

– Con hãy cho. Và quên ngay.

– Đừng bao giờ mượn. Dù chỉ một que tăm, sợi chỉ.

– Chớ thấy vui khi mình thanh thản trước điều cần nghĩ. Sự thanh thản chỉ có ở người vô tâm.

– Đừng sợ bóng đêm. Đêm cũng là ngày của những người thiếu đi đôi mắt.

– Đừng vui quá. Sẽ đến lúc buồn.

– Đừng quá buồn. Sẽ có lúc vui.

– Tiến bước mà đánh mất mình. Con ơi, dừng lại.

– Lùi bước để hiểu mình. Con cứ lùi thêm nhiều bước nữa. Chẳng sao.

– Hãy ngước nhìn lên cao để thấy mình còn thấp.

– Nhìn xuống thấp. Để biết mình chưa cao.

– Con hãy nghĩ về tương lai. Nhưng đừng quên quá khứ.

– Hy vọng vào ngày mai. Nhưng đừng buông xuôi hôm nay.

– May rủi là chuyện cuộc đời. Nhưng cuộc đời nào chỉ chuyện rủi may.

– Hãy nói thật ít. Để làm được nhiều – những điều có nghĩa của trái tim.

– Nếu cần, con hãy đi thật xa. Để mang về những hạt giống mới. Rồi dâng tặng cho đời. Dù chẳng được trả công.

– Những điều cha viết cho con – được lấy từ trái tim chân thật. Từ những tháng năm lao khổ cuộc đời. Từ bao đêm chơi vơi giữa sóng cồn. Từ bao ngày vất vưởng long đong.

– Cha viết cho con từ chính cuộc đời cha. Những bài học một đời cay đắng.

– Cha gởi cho con chút nắng. Hãy giữ giữa lòng con. Để khi con cất bước vào cuộc hành trình đầy gai và cạm bẫy. Con sẽ bớt thấy đau và đỡ phải tủi hờn.

– Đừng hơn thua làm gì với cuộc đời, con ạ.

– Hãy để chị, để anh giành lấy phần họ muốn.

– Con hãy chậm bước dù là người đến muộn.

– Dù phần con chẳng ai nhớ để dành!

– Hãy vui lên trước điều nhân nghĩa.

– Hãy buồn với chuyện bất nhân.

– Và hãy tin vào điều có thật:

“CON NGƯỜI SỐNG ĐỂ YÊU THƯƠNG”.

May be an image of child, flower and outdoors

 Dân biểu Liz Cheney: “Sự tự do của chúng ta chỉ tồn tại nếu chúng ta bảo vệ nó”

 Dân biểu Liz Cheney: “Sự tự do của chúng ta chỉ tồn tại nếu chúng ta bảo vệ nó”

Bởi  AdminTD

 Genie Nguyễn Thị Ngọc Giao, lược dịch

11-5-2021

“Thưa bà Chủ tịch Hạ Viện, tối nay tôi đứng lên để thảo luận về quyền tự do và nghĩa vụ bảo vệ nó theo hiến pháp của chúng ta.

“Tôi đã được đặc ân để tận mắt chứng kiến quyền tự do mạnh mẽ và mong manh như thế nào. 28 năm trước, tôi đứng bên ngoài một điểm bỏ phiếu, một ngôi trường ở miền tây Kenya. Binh lính đã xua đuổi những người xếp hàng bỏ phiếu. Vài giờ sau, mọi người bắt đầu quay trở lại, mạo hiểm tấn công thêm, không hề nản lòng về quyết tâm thực hiện quyền bầu cử của họ.

“Năm 1992, tôi ngồi đối diện với một thị trưởng trẻ tuổi ở TP Nizhny Novgorod, Nga và nghe ông ấy nói về ước mơ giải phóng dân tộc khỏi chủ nghĩa cộng sản. Nhiều năm sau, vì sự cống hiến của mình cho sự nghiệp tự do, Boris Nemtsov đã bị những tên côn đồ của Vladimir Putin ám sát.

“Ở Warsaw, năm 1990, tôi nghe một phụ nữ Ba Lan trẻ tuổi nói với tôi rằng, nỗi sợ hãi lớn nhất của cô ấy là mọi người sẽ quên cuộc sống dưới sự thống trị của cộng sản như thế nào, rằng họ sẽ quên đi cái giá của tự do.

“Ba người đàn ông – một người nhập cư đã thoát khỏi chế độ toàn trị của Castro; một chàng trai trẻ lớn lên sau bức màn sắt và trở thành bộ trưởng quốc phòng của đất nước mình; và một nhà bất đồng chính kiến từng nhiều năm sống trong đất nước Xô Viết, đều đã nói với tôi rằng, chính điều kỳ diệu của nước Mỹ được ghi lại theo lời của Tổng thống Ronald Reagan đã truyền cảm hứng cho họ tìm kiếm tự do.

“Tôi đã thấy sức mạnh của niềm tin và tự do. Tôi đã nghe Giáo hoàng John Paul II nói chuyện với hàng ngàn người ở Nairobi vào năm 1985, và 19 năm sau, tôi đã chứng kiến vị giáo hoàng đó nắm lấy tay cha tôi, nhìn vào mắt ông và nói: ‘Chúa phù hộ cho nước Mỹ’.

“Chúa đã ban phước cho nước Mỹ, nhưng tự do của chúng ta chỉ tồn tại nếu chúng ta bảo vệ nó, nếu chúng ta tôn trọng lời thề của mình, thực hiện trước Chúa trong căn phòng này, để ủng hộ và bảo vệ Hiến pháp, nếu chúng ta nhận ra các mối đe dọa đối với tự do khi chúng xuất hiện.

“Hôm nay chúng ta phải đối mặt với một mối đe dọa mà Mỹ chưa từng thấy trước đây. Một cựu tổng thống, người đã kích động một cuộc tấn công bạo lực vào Điện Capitol này trong nỗ lực đánh cắp cuộc bầu cử, đã tiếp tục nỗ lực tích cực của mình để thuyết phục người Mỹ, rằng cuộc bầu cử đã bị đánh cắp khỏi tay ông ta. Ông ta có thể kích động thêm bạo lực và tạo thêm nguy hiểm cho đất nước này.

“Hàng triệu người Mỹ đã bị cựu Tổng thống lừa dối. Họ chỉ nghe thấy những lời nói của ông ta, chứ không nghe thấy sự thật, khi ông ta tiếp tục phá hoại quá trình dân chủ của chúng ta, gieo mầm nghi ngờ về việc liệu dân chủ có thực sự hoạt động hay không.

“Tôi là một người theo đảng Cộng hòa bảo thủ và người bảo thủ nhất trong các nguyên tắc bảo thủ là tôn trọng pháp quyền. Cử tri đoàn đã bỏ phiếu. Hơn sáu mươi tòa án liên bang và tiểu bang, bao gồm nhiều thẩm phán do ông bổ nhiệm, đã bác bỏ các tuyên bố của cựu tổng thống. Bộ Tư pháp trong chính quyền của ông đã điều tra các tuyên bố của cựu tổng thống về hành vi gian lận trên diện rộng và không tìm thấy bằng chứng nào chứng minh cho chúng. Cuộc bầu cử kết thúc. Đó là quy định của pháp luật. Đó là quy trình lập hiến của chúng ta.

“Những người từ chối chấp nhận các phán quyết của tòa án của chúng ta đang đánh nhau với Hiến pháp Hoa Kỳ.

“Nhiệm vụ của chúng ta rất rõ ràng. Mỗi người trong chúng ta, những người đã tuyên thệ phải hành động để ngăn chặn sự phá vỡ nền dân chủ của chúng ta. Đây không phải là về chính sách. Đây không phải là về đảng phái. Đây là nghĩa vụ của chúng ta với tư cách là người Mỹ. Giữ im lặng, và phớt lờ lời nói dối, chỉ giúp tăng sức mạnh của kẻ nói dối.

“Tôi sẽ không tham gia vào việc đó. Tôi sẽ không ngồi yên và quan sát trong im lặng khi những người khác dẫn dắt đảng của chúng ta đi theo con đường từ bỏ pháp quyền và tham gia vào cuộc thập tự chinh của cựu tổng thống để phá hoại nền dân chủ của chúng ta.

“Với tư cách là đảng của Reagan, những người Cộng hòa đã đi đầu về dân chủ, chiến thắng trong Chiến tranh Lạnh và đánh bại những người Cộng sản Liên Xô. Như chúng ta đã nói, Mỹ đang ở trên đỉnh của một cuộc Chiến tranh Lạnh khác – lần này là với Trung Quốc cộng sản. Các cuộc tấn công chống lại tiến trình dân chủ của chúng ta và nhà nước pháp quyền đã trao quyền cho kẻ thù của chúng ta và đưa ra tuyên truyền của Cộng sản rằng nền dân chủ của Mỹ là một thất bại. Chúng ta phải nói sự thật. Cuộc bầu cử của chúng ta không bị đánh cắp, và nước Mỹ đã không thất bại.

“Tuần trước, tôi nhận được một tin nhắn từ một người cha của Sao Vàng (*), người này nói rằng ‘Đứng lên vì sự thật, tôn vinh tất cả những ai đã cống hiến hết lòng’. Tất cả chúng ta phải cố gắng để xứng đáng với sự hy sinh của những người đã chết vì tự do của chúng ta. Họ là những người yêu nước mà Katherine Lee Bates đã mô tả trong những lời của America the Beautiful: ‘Ôi thật đẹp cho những anh hùng đã được chứng minh trong cuộc xung đột giải phóng, những người hơn cả đất nước của họ yêu thương và thương xót hơn cuộc sống’.

“Hơn tất cả, đây là trọng tâm của những gì mà lời thề của chúng ta yêu cầu – rằng chúng ta yêu đất nước của mình hơn. Rằng chúng ta yêu tổ quốc này rất nhiều, chúng ta sẽ đứng trên chính trị để bảo vệ tổ quốc. Rằng chúng ta sẽ làm mọi thứ trong khả năng của mình để bảo vệ hiến pháp và sự tự do của chúng ta – đã được trả giá bằng xương máu của rất nhiều người.

“Chúng ta phải yêu đất nước này rất nhiều, chúng ta sẽ không bao giờ nhượng bộ trong sự bảo vệ tổ quốc.

“Đó là nhiệm vụ của chúng ta”.

Nguồn: https://cheney.house.gov/2021/05/11/cheney-our-freedom-only-survives-if-we-protect-it/

______

(*) Người cha có con tử trận trong cuộc chiến, khi đang phục vụ trong lực lượng vũ trang.